Trong những năm gần đây, sản xuất nông lâm nghiệp của huyện Chợ Mới , tỉnh Bắc Kạn đã và đang có những bước phát triển mới theo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ sản xu
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ THU VÂN
GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG LÂM NGHIỆP THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ Ở HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ THU VÂN
GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
KINH TẾ NÔNG LÂM NGHIỆP THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ Ở HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 04 10
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN ĐÌNH LONG
THÁI NGUYÊN - 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng , số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và mọi thông tin trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Vân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Đào t ạo Sau Đại học , các thầy , cô giáo , cán bộ nhân viên trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn PGS TS Nguyễn Đình Long ,
người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ , lãnh đạo Huyện uỷ, UBND huyện, Phòng Nông nghiệp & PTNT, Phòng Thống kê, Phòng Tài nguyên và Môi trường, cán bộ và nhân dân các xã Tân Sơn, Nông Hạ, Yên Bình và Yên Hân thuộc huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi khi điều tra, thu thập các tài liệu và số liệu thực hiện đề tài luận văn
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn cơ quan , gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện và động viên , giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Thái Nguyên, ngày tháng 12 năm 2012
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Vân
Trang 5CNH : Công nghiệp hoá
HĐH : Hiện đại hoá
HTX : Hợp tác xã
KHKT : Khoa học kỹ thuật
KTQD : Kinh tế quốc dân
NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
UBND : Uỷ ban nhân dân
VAC : Vườn ao chuồng
VACR : Vườn ao chuồng ruộng
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
MỤC LỤC vi
DANH MỤC CÁC BẢNG x
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ xi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài 4
5 Bố cục của đề tài 5
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA 6
1.1 Một số vấn đề lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa 6
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 6
1.1.2 Nội dung của cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn và sự chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 7
1.1.3 Đặc trung của cơ cấu nông nghiệp, nông thôn 9
1.1.4 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn 10
1.1.5 Yêu cầu phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa 16
1.2 Một số vấn đề lý luận về sản xuất nông sản hàng hóa 19
1.2.1 Một số khái niệm về cơ bản 19
Trang 71.2.2 Điều kiện để sản xuất hàng hóa 19
1.2.3 Hai đặc trưng của sản xuất hàng hóa 21
1.2.4 Những ưu thế và hạn chế của sản xuất nông sản hàng hóa nước ta 22
1.3 Kinh nghiệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn của một số nước trên thế giới và ở Việt Nam 23
1.3.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới 23
1.3.2 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước 27
1.4 Một số bài học kinh nghiệm rút ra từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn 33
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 34
1.1 Câu hỏi nghiên cứu 34
1.2 Các phương pháp nghiên cứu 34
1.2.1 Phương pháp tiếp cận 34
1.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 35
1.2.2 Phương pháp xử lý thông tin 36
1.2.3 Phương pháp phân tích, đánh giá 36
1.2.4 Phương pháp chuyên gia 37
1.2.5 Phương pháp phân tích SWOT 37
1.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 37
Chương 3: THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG LÂM NGHIỆP THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA Ở HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN 39
3.1 Tình hình cơ bản của huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn 39
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 39
3.1.2 Tình hình kinh tế xã hội 41
3.1.3 Một số đánh giá chung về đặc điểm địa bàn huyện Chợ Mới có ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội 43
Trang 83.2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp theo hướng sản
xuất hàng hóa ở huyện Chợ Mới 46
3.2.1 Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp chung toàn huyện 46 3.2.2 Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trồng trọt 47
Bảng 3.5 Diện tích và sản lượng cây lương thực chủ yếu huyện Chợ Mới 48
3.2.3 Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành chăn nuôi, thủy sản 55
3.2.4 Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành lâm nghiệp của huyện 59
3.3 Đánh giá về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp huyện Chợ Mới giai đoạn 2009 - 2011 62
3.3.1 Đánh giá qua ý kiến điều tra 62
3.3.2 Đánh giá về những thành công và nguyên nhân thành công 67
3.3.3 Đánh giá về những tồn tại và nguyên nhân tồn tại 70
Chương 4: GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM ĐẨY MẠNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG LÂM NGHIỆP THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA Ở HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH BẮC KẠN 76 4.1 Quan điểm, định hướng, mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn từ nay đến năm 2020 76
4.1.1 Bối cảnh 76
4.1.2 Các quan điểm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp ở Chợ Mới trong giai đoạn tới 76
4.1.3 Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa 77
4.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Chợ Mới 81
4.2.1 Triển khai việc thực hiện công tác quy hoạch phù hợp với điều kiện mới 81
Trang 94.2.2 Quy hoạch sản xuất hàng hoá gắn liền với chuyên môn hóa, đa dạng hóa nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng
sản xuất hàng hoá 83
4.2.3 Hỗ trợ phát triển về số lượng và quy mô trang trại sản xuất hàng hóa 84 4.2.4 Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp để năng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật, tổ chức sản xuất nông nghiệp hàng hoá 86
4.2.5 Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và bảo vệ môi trường nông thôn 87
4.2.6 Tăng cường nguồn vốn tín dụng đầu tư cho sản xuất hàng hóa 88
4.2.7 Giải pháp về thị trường đầu vào và đầu ra của sản phẩm 88
4.2.8 Xây dựng vùng sản xuất an toàn, phát triển thương hiệu nông sản hàng hóa đối với thị trường trong và ngoài nước 89
4.3 Một số kiến nghị 90
KẾT LUẬN 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHIẾU PHỎNG VẤN 96
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Tình hình đất đai của huyện Chợ Mới 3 năm 2009-2011 40
Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động huyện Chợ Mới 41
Bảng 3.3 Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp huyện Chợ Mới 42
Bảng 3.4 Cơ cấu giá trị sản xuất nông lâm nghiệp huyện Chợ Mới 46
Bảng 3.5 Diện tích và sản lượng cây lương thực chủ yếu huyện Chợ Mới 48
Bảng 3.6 Diện tích, sản lượng một số cây công nghiệp hàng năm 50
Bảng 3.7 Diện tích, sản lượng một số cây công nghiệp lâu năm 53
Bảng 3.8 Diện tích, sản lượng một số cây ăn quả của huyện Chợ Mới 54
Bảng 3.9 Số lượng gia súc, gia cầm qua các năm 56
Bảng 3.10 Sản lượng thịt hơi xuất chuồng qua các năm 56
Bảng 3.11 Sản lượng thủy sản chủ yếu của huyện Chợ Mới 57
Bảng 3.12 Giá trị sản xuất ngành thủy sản của huyện Chợ Mới 58
Bảng 3.13 Các loại sản phẩm lâm nghiệp chủ yếu 59
Bảng 3.14 Giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp trên địa bàn 60
Bảng 3.15 Cơ cấu giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp huyện Chợ Mới 61
Bảng 3.16 Đánh giá mức độ chuyển dịch cơ cấu theo ngành sản xuất 62
Bảng 3.17 Đánh giá về mức độ chuyển dịch cơ cấu ngành trồng trọt 63
Bảng 3.18 Đánh giá về mức độ chuyển dịch cơ cấu ngành chăn nuôi 64
Bảng 3.19 Đánh giá về mức độ chuyển dịch cơ cấu ngành lâm nghiệp 64
Bảng 3.20 Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành sản xuất 65
Bảng 3.21 Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong ngành trồng trọt 66 Bảng 3.22 Định hướng chuyển dịch cơ cấu trong ngành chăn nuôi 66
Bảng 3.23 Định hướng chuyển dịch cơ cấu trong ngành lâm nghiệp 67
Trang 11
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp huyện Chợ Mới 3
năm 2009 - 2011 43
Biểu đồ 3.2 Cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp 47
Biểu đồ 3.4 Cơ cấu giá trị sản xuất ngành thủy sản huyện Chợ Mới 3 năm
2009-2011 58
Biểu đồ 3.4 Cơ cấu giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp huyện Chợ Mới 3 năm
2009 -2011 61
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Sản xuất nông nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng đối với xã hội, là ngành sản xuất để cung cấp nhu cầu tối cần thiết về lương thực, thực phẩm cho toàn xã hội; cung cấp nguyên liệu để phát triển công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế biến; cung cấp hàng hoá xuất khẩu; cung cấp lao động và một phần vốn để công nghiệp hoá Nông nghiệp - nông thôn là thị trường quan trọng của các ngành công nghiệp, dịch vụ; là cơ sở để ổn định kinh tế, chính trị, xã hội; giữ gìn, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010, đã chỉ rõ định hướng phát triển ngành nông nghiệp như sau: “Hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân vẫn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng Thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp
và kinh tế nông thôn, chuyển mạnh sang sản xuất các sản phẩm có thị trường
và hiệu quả kinh tế cao… Xây dựng các vùng sản xuất hàng hoá tập trung, gắn với việc chuyển giao công nghệ sản xuất và chế biến, khắc phục tình trạng sản xuất manh mún, tự phát” [3]
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng đang là vấn đề được quan tâm hiện nay của nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước đang phát triển như Việt Nam Đảng và Nhà nước ta đã đưa
ra những hành động cụ thể, thiết thực để thay đổi tỷ lệ lượng, chất trong cơ cấu kinh tế nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập, đưa nền kinh tế từng bước phát triển bền vững Trong phát triển nông nghiệp thì chuyển dịch cơ cấu theo hướng sản xuất hàng hoá là một nội dung không thể thiếu vì nước ta
có trên 70% dân số sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp Để thực hiện tốt
Trang 13chủ trương này trong cả nước thì các địa phương cần căn cứ vào điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội cụ thể xây dựng các phương án khai thác tiềm năng, phát huy thế mạnh hiện có nhằm phát triển một số ngành nghề mũi nhọn, trên
cơ sở đó sẽ làm thay đổi nhịp độ phát triển các ngành nghề và sẽ xây dựng được một cơ cấu kinh tế hợp lý
Chợ Mới là huyện miền núi nằm ở khu vực phía Nam của tỉnh Bắc Kạn gồm 15 xã và 1 thị trấn, có tuyến Quốc lộ 3 chạy qua trung tâm huyện Trong những năm gần đây, sản xuất nông lâm nghiệp của huyện Chợ Mới , tỉnh Bắc Kạn đã và đang có những bước phát triển mới theo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ sản xuất manh mún, phân tán sang sản xuất hàng hoá Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển và tiềm năng , lợi thế của huyện thì quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp của huyện những năm qua còn chậm, chưa tạo ra sức bật mới để phát triển sản xuất hàng hoá trong bối cảnh CNH, HĐH, kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế Thực trạng hiện nay, đời sống của nhân dân còn gặp rất nhiều khó kh ăn, chủ yếu dựa vào sản xuất nông - lâm nghiệp theo hướng tự cung tự cấp là chính, cây trồng chủ yếu là các loại cây l ương thực như: Lúa, ngô, đậu tương Đặc biệt các xã ở vùng cao thuần nông, đường giao thông rất khó kh ăn nên các ngành nghề và dịch vụ không có, các sản phẩm mang tính hàng hoá không đáng kể, chỉ là sản phẩm khai thác từ rừ ng V× vËy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ, trước hết là công nghệ sinh học, đưa thiết bị kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của nông sản hàng hoá trên thị trường là mục tiêu mà Đảng bộ và nhân dân huyện Chợ Mới , tỉnh Bắc Kạn đang quyết tâm thực hiện Huyện Chợ Mới cần phải chuyển dịch nhanh CCKT nông lâm nghiệp
Trang 14đáp ứng những yêu cầu chung của tỉnh Bắc Kạn và yêu cầu riêng của huyện trong phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng nông thôn mới Vì vậy việc nghiên
cứu đề tài “Giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm
nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá ở huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn”
nhằm tìm ra các giải pháp cho việc chuyển dịch CCKT nông, lâm nghiệp của huyện có hiệu quả và bền vững là yêu cầu cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn
2 Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu chung:
Đánh giá thực trạng từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo sản xuất hàng hóa tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn từ nay đến 2020
- Đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa cho huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn từ nay đến 2020
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Là những vấn đề liên quan đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
Trang 153.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Việc nghiên cứu đề tài được thực hiện trên địa bàn huyện Chợ Mới - tỉnh Bắc Kạn
- Về thời gian: Đánh giá thực trạng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Chợ Mới - tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2008 - 2010 Định hướng và giải pháp về chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Chợ Mới - tỉnh Bắc Kạn giai đoạn từ nay đến năm 2020
- Về nội dung: Phân tích thực trạng kinh tế, các tiềm năng, thế mạnh trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp của huyện Chợ Mới giai đoạn 2008-2010, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa cho huyện đến năm 2020
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Kết quả nghiên cứu đề tài có ý nghĩa như sau:
- Góp phần cung cấp các luận cứ về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, đề xuất những giải pháp mới sát với thực tế, nâng cao khả năng áp dụng vào thực tiễn
- Đối với kinh tế: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá trong điều kiện CNH - HĐH có tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế kết hợp áp dụng những tiến bộ KHKT mới với việc định hướng phát triển sản xuất “nông lâm nghiệp
đa chức năng” (gồm các chức năng cơ bản: chức năng an ninh lương thực thực phẩm, chức năng kinh tế - xã hội, chức năng môi trường và chức năng văn hoá) ở Chợ Mới sẽ góp phần tăng thu nhập cho người sản xuất và đồng nghĩa với tăng thu cho ngân sách củahuyện, góp phần thúc đẩy kinh tế của huyện phát triển
- Đối với xã hội: Góp phần giải quyết vấn đề lao động có việc làm trong nông nghiệp, nông thôn của tỉnh Người lao động có việc làm, thu nhập tăng,
Trang 16thực hiện xoá đói giảm nghèo, cải thiện đời sống, giảm tệ nạn xã hội, an toàn trật tự xã hội , bảo vệ an ninh quốc phòng, xây dựng nông thôn mới
- Đối với môi trường: Chuyển dịch CCKT nông lâm nghiệp, cung cấp hàng loạt các chức năng môi trường như phòng chống lũ lụt, lưu trữ nước, bảo tồn đất, chống xói mòn và đa dạng sinh học Các vấn đề sản xuất nông nghiệp sạch, an toàn vệ sinh thực phẩm,…
- Các vấn đề khác: Các kết quả nghiên cứu được công bố là các tài liệu giúp cho các nghiên cứu khác có liên quan ở trong và ngoài nước Là tài liệu phục vụ cho nghiên cứu và giảng dạy trong nhà trường
5 Bố cục của đề tài
Chương 1: Cơ sở khoa học về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
theo hướng sản xuất hàng hóa
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu đề tài
Chương 3: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp theo
hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
Chương 4: Định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm đẩy chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
Trang 171.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế là một phạm trù kinh tế bao gồm nhiều bộ phận có mối
quan hệ biện chứng với nhau hợp thành cấu trúc bên trong của nền kinh tế và được sắp xếp theo một tỷ lệ nhất định trong một không gian và thời gian cụ thể Cơ cấu kinh tế không cố định mà luôn vận động và phát triển [5]
1.1.1.2 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là khái niệm chỉ tổng thể các hoạt động kinh
tế trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, thể hiện bằng tỷ lệ nhất định về mặt định tính và định lượng của các ngành trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp trong một không gian và thời gian cụ thể [5]
1.1.1.3 Cơ cấu kinh tế nông thôn
Cơ cấu kinh tế nông thôn là một khái niệm biểu thị tổng thể các hoạt động kinh tế - xã hội diễn ra trên địa bàn nông thôn trong một không gian và thời gian nhất định Cơ cấu kinh tế nông thôn bao gồm cả nông – lâm - ngư nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ [2], [5]
1.1.1.4 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp
Công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá qui mô lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ, trước hết là công nghệ sinh
Trang 18học, đưa thiết bị, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của nông sản hàng hoá trên thị trường (NQ hội nghị TW5, khoá IX) [3]
1.1.1.5 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp , nông thôn là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, qui hoạch phát triển nông nghiệp , nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái, tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất cho phù hợp; xây dựng nông nghiệp, nông thôn dân chủ, công bằng, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân ở nông thôn (NQ hội nghị TW5, khoá IX) [3]
1.1.2 Nội dung của cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn và sự chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn bao gồm cơ cấu ngành và nội bộ ngành, cơ cấu vùng lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế
1.1.2.1 Về cơ cấu ngành và nội bộ ngành
Cơ cấu kinh tế ngành và nội bộ ngành trong nông nghiệp gồm trồng trọt
và chăn nuôi, hoặc nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp Trong đó ngành trồng trọt bao gồm cây lương thực, cây công nghiệp, cây thực phẩm, cây lấy
gỗ và bảo vệ rừng, cây dược liệu….Trong ngành chăn nuôi bao gồm: đại gia súc, gia súc, gia cầm, vật nuôi thuỷ sản
Cơ cấu kinh tế phân theo ngành của nền kinh tế nông thôn bao gồm 3 nhóm lớn: Nông – lâm – ngư nghiệp Công nghiệp nông thôn (bao gồm công nghiệp khai thác, chế biến, sản xuất vật liệu xây dựng, tiểu thủ công nghiệp,
Trang 19ngành nghề truyền thống) Dịch vụ nông thôn (bao gồm cả dịch vụ đời sống
và dịch vụ sản xuất) Trong từng nhóm lại được phân chia nhỏ hơn
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, cơ cấu ngành nông nghiệp dịch chuyển theo hướng giảm dần tỷ trọng giá trị sản phẩm trồng trọt và tăng giá trị sản phẩm chăn nuôi; giảm tỷ trọng lao động trồng trọt, tăng tỷ trọng lao động chăn nuôi Trong nội bộ ngành trồng trọt cũng như chăn nuôi đều cần phải dịch chuyển theo hướng tăng giá trị sản phẩm của các loại cây trồng và vật nuôi có năng suất, chất lượng và giá trị kinh tế cao, có giá trị xuất khẩu và
có lợi thế cạnh tranh trên thị trường Sự dịch chuyển của cơ cấu ngành nông thôn là theo hướng giảm tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động nông nghiệp, tăng tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động của các ngành công nghiệp và dịch
vụ Trong đó chú trọng công nghiệp chế biến phục vụ cho xuất khẩu, và thức
ăn gia súc, công nghiệp sản xuất vật liệu tiêu dùng cho cư dân và xây dựng cơ
sở hạ tầng cho nông thôn [5]
1.1.2.2 Về cơ cấu và vùng lãnh thổ
Sự phân công lao động theo ngành thường diễn ra trong một vùng lãnh thổ nhất định Theo đó, các ngành được bố trí theo không gian cụ thể Tiền đề của cơ cấu vùng là lợi thế so sánh về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ theo hướng chuyên môn hoá, tập trung hoá sản xuất và dịch vụ, hình thành những vùng sản xuất tập trung có hiệu quả cao Trong từng vùng lãnh thổ cần coi trọng chuyên môn hoá với phát triển tổng hợp, đa dạng Song so với cơ cấu ngành, cơ cấu vùng kinh tế
có sức ỳ lớn, cho nên việc xây dựng các vùng chuyên môn hoá cần được xem xét, nghiên cứu cụ thể, thận trọng, nếu vi phạm sai lầm sẽ khó khắc phục, chịu tổn thất lớn
Sự hình thành cơ cấu vùng có 2 nhóm nhân tố: Một là yêu cầu của thị trường có tác động đến cơ cấu vùng; Hai là khả năng, điều kiện riêng của
Trang 20từng vùng, nhằm tìm kiếm những lợi thế so sánh trong sản xuất kinh doanh để thoả mãn nhu cầu của thị trường với chi phí ít nhất, tạo ra lợi nhuận cao [5]
1.1.2.3 Về cơ cấu thành phần kinh tế
Từ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI đã xác định chuyển nền kinh tế nước ta từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN Các thành phần kinh tế như: Nhà nước, tập thể, tư nhân, tư bản, liên doanh có vị địa vị pháp lý như nhau, cùng bình đẳng sản xuất kinh doanh theo pháp luật
Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn, các thành phần kinh tế nổi lên xu thế như sau: Kinh tế nhà nước còn tồn tại và phát triển ở một số ngành dịch vụ nông nghiệp như: Thuỷ nông, vật tư, giống và thú y; Kinh tế HTX theo kiểu mới hiện nay đang từng bước hình thành; Kinh tế hộ nông dân là đơn vị sản xuất tự chủ ra đời đã tỏ ra phù hợp với giai đoạn hiện nay Trong quá trình đó đang diễn ra xu hướng chuyển biến kinh tế hộ tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hoá Xu thế phát triển của kinh tế hộ từ khi có Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (5/4/1988) Đặc biệt, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai sửa đổi năm 1998 và năm 2003, ruộng đất được tích tụ với qui
mô phù hợp đã và đang thực sự khuyến khích phát triển kinh tế trang trại, doanh nghiệp nông nghiệp với đặc trưng là sản xuất hàng hoá Tỷ trọng kinh
tế nhà nước trong nông nghiệp và nông thôn theo xu thế giảm mạnh, tỷ trọng các thành phần kinh tế khác có xu thế tăng lên rõ rệt [7], [9]
1.1.3 Đặc trung của cơ cấu nông nghiệp, nông thôn
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn có 6 đặc trưng cơ bản [2], [5]:
- Một là, cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn mang tính khách quan,
không phụ thuộc ý muốn chủ quan của con người nhưng ít nhiều đều có sự tác động, chi phối của con người thông qua các quyết định sản xuất, kinh doanh
Trang 21- Hai là, cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn mang tính lịch sử, xã
hội gắn liền với đặc điểm kinh tế-xã hội của từng vùng sinh thái
- Ba là, cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn không ngừng vận động,
biến đổi theo xu hướng ngày càng hoàn thiện, hợp lý hoá và có hiệu quả
- Bốn là, cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn là một cơ cấu kinh tế
mở, luôn gắn liền với quá trình hợp tác và phân công lao động với bên ngoài
- Năm là, trong thời kỳ đầu cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn (đặc
biệt các nước chậm phát triển) ngành nông nghiệp chiếm ưu thế trong đó trồng trọt lại là chủ yếu, ngành công nghiệp chưa phát triển (chủ yếu là nghề truyền thống, tiểu thủ công nghiệp), ngành dịch vụ cũng kém phát triển (chủ yếu về dịch vụ đời sống với chất lượng thấp)
- Sáu là, cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn vận động, phát triển
trên một địa bàn rộng lớn
1.1.4 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp, nông thôn
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn chịu ảnh hưởng của các nhóm nhân tố sau đây [5]:
1.1.4.1 Nhóm các nhân tố về điều kiện tự nhiên
a) Vị trí địa lý
Mỗi vùng, mỗi địa phương đều có những lợi thế và hạn chế riêng về vị trí địa lý Những vùng gần thị trường tiêu thụ, thuận lợi về giao thông, thuận lợi về các dịch vụ đầu vào và đầu ra cho sản xuất sẽ có thuận lợi hơn trong việc dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển sản xuất hàng hoá gắn sản xuất với chế biến và thị trường Ngược lại, những vùng khó khăn về điều kiện địa lý sẽ gặp nhiều khó khăn, bất cập trong quá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất để dịch chuyển cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng tiến bộ
Trang 22b) Điều kiện sinh thái
Cây trồng, vật nuôi là những cơ thể sống có quan hệ mật thiết với điều kiện tự nhiên của từng vùng nhất định Bởi vậy, người sản xuất không thể đem những cây trồng, vật nuôi, có nguồn gốc vùng ôn đới, hàn đới chuyển sang nuôi, trồng ở vùng nhiệt đới hoặc làm ngược lại Người ta cũng không thể đem toàn bộ cây trồng thuộc vụ xuân sang trồng ở vụ mùa, không thể đem cây trồng trên cạn xuống trồng ở vùng ngập nước, không thể đem cây thuộc vùng đất thịt nặng sang trồng ở vùng đất cát pha, không thể đem cây ở vùng đất có độ chua trung tính chuyển tới trồng ở vùng đất chua mặn, không thể đưa giống thủy sản vùng nước mặn vào nuôi trong hồ nước ngọt
Trong bố trí cơ cấu sản xuất nông nghiệp, người sản xuất cũng không thể không tính đến việc né tránh và chống đỡ những tác hại của úng lụt, khô hạn, giông bão, sương muối cũng như sự phát sinh của sâu bệnh phá hoại cây trồng, vật nuôi
Ngày nay, nhờ sự phát triển mạnh của Khoa học-Kỹ thuật và công nghệ
và việc ứng dụng những thành tựu khoa học-kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất, con người đã cải tạo thiên nhiên, cải thiện được điều kiện sinh thái cho cây trồng vật nuôi Tuy nhiên, khả năng khống chế điều kiện sinh thái là
có giới hạn Đồng thời, việc đầu tư để đối phó với những tác hại của thiên nhiên nhằm bảo vệ sản xuất còn phải tính đến hiệu quả kinh tế, bởi vậy trong mối quan hệ đối với thiên nhiên, xu hướng hành động chủ yếu của con người
là phải biết hòa hợp với thiên nhiên, lợi dụng những mặt tính cực cũng như biết né tránh những tác hại của thiên nhiên để bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý nhằm đạt được kết quả và hiệu quả cao nhất
c) Các nguồn tài nguyên (nguồn nước, rừng, biển, khoáng sản)
Các nguồn tài nguyên được xem như là các lợi thế của từng vùng và từng tiểu vùng trong phát triển sản xuất và dịch chuyển cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Trang 23Tuy nhiên, các nguồn tài nguyên ngày càng khan hiếm dần, đòi hỏi việc sắp xếp, bố trí cơ cấu sản xuất phải theo hướng tiết kiệm và bảo vệ nguồn tài nguyên để phát triển bền vững
1.1.4.2 Nhóm các nhân tố về điều kiện kinh tế - xã hội
a) Nhân tố thị trường
Thị trường là nhân tố ảnh hưởng rất quan trọng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp bởi vì trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu của người sản xuất là tối đa hoá lợi nhuận Để đạt hiệu quả kinh tế cao, người
sản xuất phải nắm vững và trả lời được 3 câu hỏi: Sản xuất cái gì? Sản xuất
như thế nào? và Sản xuất cho ai? [16]
Thị trường chịu ảnh hưởng của 3 quy luật kinh tế cơ bản: Quy luật về quan hệ cung cầu; Quy luật giá trị và Quy luật cạnh tranh Ba quy luật này luôn chi phối mọi hoạt động kinh tế-xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường
b) Nhân tố về chất lượng nguồn nhân lực
Hiệu quả của quá trình sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất lớn vào phương thức kết hợp giữa yếu tố lao động sống và yếu tố về lao động vật hoá trong quá trình tổ chức sản xuất Chất lượng nguồn nhân lực có vai trò đặc biệt quan trọng đối với tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Vai trò quan trọng đó thể hiện trên các mặt [16]:
- Nhận thức và trình độ ra quyết định sản xuất của người lao động trong nền kinh tế thị trường
- Kỹ năng ứng dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất để nâng cao năng suất của các yếu tố sản xuất trong nông nghiệp
c) Quyết định của người sản xuất
Người sản xuất bố trí trồng những cây gì, nuôi những con gì, chủ yếu là nhằm đem lại lợi ích kinh tế cho bản thân và gia đình họ
Trong nền sản xuất nhỏ, cơ cấu sản xuất nông nghiệp có tính phổ biến
Trang 24của người nông dân là tập trung sản xuất các loại sản phẩm tiếp giải quyết vấn
đề lương thực, thực phẩm tại chỗ cho gia đình mình Trong trường hợp không thể sản xuất những sản phẩm đáp ứng nhu cầu thiết yếu tại chỗ thì người nông dân sẽ sản xuất những loại sản phẩm nào mà họ cho là thuận lợi nhất, có giá trị cao để bán hoặc đổi lấy lương thực, thực phẩm
Khi nền sản xuất hàng hóa đã hình thành và phát triển, đồng thời nhu cầu đời sống của con người ngày càng tăng lên cả về số lượng và chất lượng, người nông dân không thể tồn tại được khi vẫn duy trì tái sản xuất giản đơn, thực hiện tự cung, tự cấp khép kín, người nông dân bắt buộc phải hướng ra thị trường, bố trí cơ cấu sản xuất của mình sao cho đáp ứng được những nhu cầu tiêu dùng nông sản của thị trường, từ đó thu được nhiều tiền hơn
Như vậy, cùng với sự phát triển kinh tế-xã hội, sự quyết định bố trí cơ cấu sản xuất nông nghiệp của người nông dân từ chỗ bị động trong việc khai thác điều kiện tự nhiên, hoàn toàn phụ thuộc điều kiện tự nhiên và chỉ đơn thuần nhằm thỏa mãn trực tiếp nhu cầu lương thực, thực phẩm của gia đình mình sẽ chuyển sang chủ động hơn trong việc khai thác hợp lý điều kiện tự nhiên nhờ áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm tạo ra lượng nông sản hàng hóa ngày càng nhiều hơn, có chất lượng cao hơn để đáp ứng nhu cầu của thị trường và qua đó giành được lợi nhuận cao hơn [8], [16]
d) Trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng
Tính hoàn thiện của hệ thống cơ sở hạ tầng nói chung và hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp nói riêng cũng có ảnh hưởng nhất định đến giá thành nông sản
Hệ thống giao thông và thuỷ lợi hiện đại là điều kiện quan trọng để hiện đại hoá ngành nông nghiệp, chuyển nông nghiệp từ sản xuất nhỏ manh mún sang sản xuất hàng hoá với quy mô lớn Chính vì thế, mặc dù chi phí đầu
Trang 25tư ban đầu lớn nhưng chi phí đó sẽ được giảm dần do sự gia tăng của khối lượng sản phẩm, và về lâu dài thì giá thành nông sản sẽ hạ thấp
Ngoài giao thông, thuỷ lợi thì hệ thống chợ, trung tâm thương mại để giao dịch, buôn bán nông sản cũng ảnh hưởng đến giá thành Sự thiếu hụt của
hệ thống chợ đầu mối trong buôn bán nông sản đã khiến cho chi phí vận chuyển nông sản từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ rất cao vì hai lý do: Một là quãng đường vận chuyển xa, hai là nông sản là sản phẩm dễ hư hỏng, khó bảo quản nên việc vận chuyển trong một thời gian dài trên quãng đường xa sẽ làm tăng tỷ lệ chi phí hao hụt
1.1.4.3 Nhân tố về khoa học và công nghệ
Khoa học và công nghệ ngày nay phát triển rất mạnh và đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Đối với ngành nông nghiệp trước tiên nó làm tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tạo ra năng suất lao động cao, từ đó dẫn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Khoa học - kỹ thuật và công nghệ trong nông nghiệp đã tạo ra nhiều giống cây con có nhiều ưu thế trong việc mở rộng địa bàn thích ứng, khả năng chống chịu những bất lợi của tự nhiên thời tiết, khí hậu cũng như khả năng chống chịu sâu, bệnh cao hơn Những cây, con này còn có ưu thế trong việc rút ngắn thời gian sinh trưởng, phát triển, tạo khả năng mở rộng không gian diện tích sản xuất trong một thời gian nhất định Và quan trọng hơn cả là các giống mới có ưu thế về năng suất và chất lượng cao, tạo nên giá trị lớn trong kết quả cuối cùng của quá trình sản xuất
Cũng nhờ sự phát triển không ngừng của khoa học-kỹ thuật mà hàng loạt các loại vật tư kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp được tạo ra như phân bón vô cơ, thuốc phòng trừ sâu, bệnh, chất kích thích sinh trưởng phát triển, thức ăn chăn nuôi sản xuất theo phương thức công nghiệp ; Nhiều máy móc, trang thiết bị kỹ thuật như nhà lưới, nhà kính, bể thủy canh, lò ấp trứng cùng
Trang 26với hệ thống thủy nông, thủy lợi ngày càng được xây dựng với quy mô rộng lớn và được hoàn thiện hơn đã góp phần rất lớn khắc phục và hạn chế những bất lợi của điều kiện tự nhiên; đồng thời tăng thêm những thuận lợi cho môi trường sinh trưởng, phát triển của cây trồng, vật nuôi, gia tăng địa bàn thích nghi cho cây trồng, vật nuôi cả về mặt không gian và thời gian, tạo điều kiện
bố trí hệ thống cây trồng, vật nuôi phong phú hơn về chủng loại và về thời vụ Tuy nhiên, việc đưa được những tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất còn phụ thuộc vào trình độ quản lý sản xuất và lượng vốn của người nông dân cũng như tình trạng quản lý mặt bằng sản xuất, trước hết là về đất đai, nguồn
nước trên một địa bàn không bị phân tán [8], [16]
1.1.4.4 Nhân tố về cơ chế chính sách
Người sản xuất không phải bao giờ cũng có toàn quyền quyết định việc
bố trí cơ cấu sản xuất nông nghiệp Trước thời kỳ đổi mới cơ chế quản lý kinh
tế, người nông dân thực tế chỉ có quyền quyết định bố trí cơ cấu sản xuất nông nghiệp trên đất 5% và khu vực đất ở của gia đình Hiện tại, quyền sử dụng ruộng đất và quyền chủ động bố trí sản xuất của nông dân đã được mở rộng, hầu hết những quy định ngăn cấm của Nhà nước liên quan tới sản xuất nông nghiệp còn lại đều rất cần thiết nhằm bảo vệ lợi ích kinh tế, xã hội cho toàn đất nước Có thể thấy được điều này trong việc Nhà nước nghiêm cấm trồng cây thuốc phiện và những cây gây nghiện khác, nghiêm cấm việc chuyển đất lâm nghiệp sang thành đất canh tác (nhằm bảo đảm nguồn nước, chống xói mòn đất, bảo vệ môi trường sinh thái)
Tùy theo tình hình thực tế, Nhà nước các cấp có thể có những quy định
cụ thể trong việc định hướng cho nông dân bố trí cơ cấu sản xuất nhằm bảo đảm lợi ích chung, bảo đảm cả lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài
Trang 27Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là khái niệm chỉ tổng thể các hoạt động kinh
tế trong nông nghiệp, được thể hiện bằng tỷ lệ nhất định về mặt định tính và định lượng của các ngành trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp trong một không gian và thời gian cụ thể Nếu nghiên cứu mở rộng đến cơ cấu kinh
tế nông thôn thì bao gồm cả nông-lâm-ngư nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ Cùng với các nghiên cứu ngoài nước, có rất nhiều các nhà khoa học và lãnh đạo các cấp cũng rất quan tâm nghiên cứu đến vấn đề chuyển dịch CCKT vì tất yếu phải chuyển dịch CCKT theo hướng xây dựng nền nông nghiệp chất lượng cao, giá trị cao Đó cũng là xu hướng của thế giới ngày nay CNH, HĐH nông nghiệp không nên hiểu chỉ là áp dụng các tiến bộ của công nghệ sinh học, tự động hóa vào chăn nuôi, trồng trọt; hơn thế, còn
là thay đổi bản thân quy trình và công nghệ, các quy luật sinh học, tạo ra các giống cây con ngắn ngày, cho năng suất, chất lượng cao, có khả năng chống chịu thời tiết khắc nghiệt và kháng bệnh Như vậy, một nền nông nghiệp chất lượng cao, giá trị cao cũng đồng nghĩa với nền nông nghiệp công nghệ cao - nền nông nghiệp ứng dụng phổ biến các thành tựu KHCN trong thâm canh sản xuất; bảo đảm sức cạnh tranh, thân thiện với môi trường và phát triển bền vững Nếu không áp dụng công nghệ cao thì không thể có những cánh đồng
cà chua, rau sạch nuôi trồng thậm chí không cần đất, cho năng suất 300 tấn -
Trang 28400 tấn/ha/năm Nền nông nghiệp chất lượng cao, giá trị cao được đánh giá không thua kém so với nền công nghiệp công nghệ cao Các nước I-xra-en, Đức, Nhật Bản là những thí dụ như vậy
Thường, người ta hiểu sự thay đổi về cơ cấu là các sự thay đổi về cơ cấu kinh tế và các thể chế cần thiết cho sự tăng trưởng GDP Các bộ phận trong
cơ cấu kinh tế gắn bó và tương tác chặt chẽ với nhau biểu hiện ở các quan hệ
tỷ lệ về số lượng, tương quan về chất lượng trong những không gian và thời gian nhất định, phù hợp với những điều kiện kinh tế - xã hội nào đó, nhằm đạt được hiệu quả kinh tế xã hội cao Đặc điểm của cơ cấu là không cố định mà luôn vận động biến đổi Sự tồn tại của nó mang tính khách quan phụ thuộc vào trình độ phát triển sản xuất và phân công lao động xã hội Xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội và thể chế
ở mỗi nơi và mỗi giai đoạn cụ thể Quá trình công nghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá (HĐH) ở các nước đang phát triển là quá trình phát triển mạnh của lực lượng sản xuất, sự tạo ra những kỹ thuật mới, công nghệ mới làm tăng năng suất lao động và thúc đẩy sự tăng trưởng Vì thế CNH, HĐH là trung tâm của việc chuyển dịch CCKT Mối quan hệ của quá trình chuyển dịch CCKT và CNH, HĐH mang tính nhân quả không tách rời nhau Vì vậy, chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH là yêu cầu khách quan của quá trình phát triển kinh tế của đất nước nói chung, của từng khu vực và từng địa phương nói riêng, bởi nhiều lý do [5], [10], [15], [16]:
1 Do thực trạng yếu kém bất hợp lý của CCKT hiện nay Kể từ sau cải cách kinh tế, mặc dù CCKT đã có nhiều chuyển biến tích cực nhưng còn khá chậm
2 Do chính nhiệm vụ và yêu cầu của quá trình CNH, HĐH đất nước đặt
ra Nông nghiệp nông thôn với tư cách là bộ phận quan trọng cấu thành nên nền kinh tế, cần phải chuyển dịch nhanh CCKT để đạt mục tiêu chung là đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020
Trang 293 Chuyển dịch nhanh CCKT là đòi hỏi xuất phát từ yêu cầu về thị
trường, yêu cầu toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế Sự hội nhập vào AFTA và
WTO đã đòi hỏi nông nghiệp phải có bước phát triển mới để đáp ứng được
nhu cầu của thị trường trong nước và nước ngoài cả về số lượng và chất
lượng Hiện nay tính hành hoá trong sản xuất nông nghiệp chưa cao, nhất là ở
khu vực trung du, miền núi do đó hiệu quả kinh tế chưa cao tương xứng với
tiềm năng Về căn bản, cơ cấu nông nghiệp nước ta chưa có thay đổi về chất
Chủ yếu chúng ta vẫn xuất nông sản dưới dạng thô hoặc sơ chế, hàm lượng
dinh dưỡng thấp, giá trị hàng hóa so với các sản phẩm cùng loại trên thị
trường thế giới luôn bị thua thiệt Giá gạo của ta thường thấp, thua với gạo
Thái Lan, giá cà-phê cũng thấp hơn so với cà phê Bra-xin
4 Xuất phát từ yêu cầu của nền kinh tế phát triển có hiệu quả, phát huy
lợi thế so sánh của từng vùng, từng địa phương nhưng phải khai thác tài
nguyên tiết kiệm, quản lý, bảo vệ tài nguyên gắn với việc bảo vệ môi trường
sinh thái, cảnh quan và xã hội nông thôn, phát triển du lịch nông nghiệp nông thôn
5 Cần chuyển dịch CCKT theo thành phần kinh tế và hình thức tổ chức
sản xuất là do yêu cầu của định hướng XHCN trong phát triển nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ
mô của nhà nước
Trong định hướng Chiến lược phát triển phát triển kinh tế xã hội
2011-2015 và nhiệm vụ trọng tâm 2011 của Đảng đã nêu rõ : “Đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng nhanh tỷ
trọng công nghiệp và dịch vụ trong tổng sản phẩm quốc dân Mặt khác, phải
hết sức coi trọng vai trò có ý nghĩa chiến lược lâu dài của nông nghiệp trong
việc ổn định xã hội, bảo đảm an ninh lương thực và cải thiện đời sống nông dân”
Trang 301.2 Một số vấn đề lý luận về sản xuất nông sản hàng hóa
1.2.1 Một số khái niệm về cơ bản
1.2.1.1 Khái niệm về sản xuất hàng hóa và phân loại
Sản xuất hàng hóa là quá trình sản xuất ra sản phẩm để bán, trao đổi với người khác, với xã hội nhằm mục đích lợi nhuận Điều đó có nghĩa là dùng để chỉ về kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm sản xuất ra không nhằm đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của chính người sản xuất ra nó mà để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi mua bán Hay nói cách khác, sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà sản phẩm sản xuất ra là để bán [16]
1.2.1.2 Phân loại sản xuất hàng hóa
Sản xuất sản phẩm hàng hóa được chia thành hai loại căn cứ vào trình
độ, qui mô, tính chất như sau [16]:
- Sản xuất hàng hóa giản đơn: Là quá trình sản xuất hàng hóa ở trình độ thấp với trình độ kỹ thuật sản xuất lạc hậu, sự phân công lao động thấp, sản phẩm trở thành hàng hóa chỉ là ngẫu nhiên và được tiến hành bởi những hộ nông dân sản xuất nhỏ thuần nông với đất đai mạnh mún, phân tán
Trong tình hình hiện nay sản xuất nông lâm nghiệp về cơ bản vẫn trong tình trạng sản xuất hàng hóa giản đơn
- Sản xuất hàng hóa lớn: Là hình thức sản xuất hàng hóa ở trình độ cao, thể hiện mục đích cuối cùng là sản xuất hàng hóa nhằm đem lại lợi nhuận cao, với một trình độ ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, gắn với thị trường tiêu thụ hiện nay ở nước ta là thể hiện hình thúc sản xuất hàng hóa lớn
1.2.2 Điều kiện để sản xuất hàng hóa
Sản xuất hàng hóa nói chung và trong nông lâm nghiệp nói riêng, chỉ
có thể tồn tại được trên 2 điều kiện là phân công lao động xã hội và sự tách biệt về kinh tế [16]:
Trang 31- Điều kiện thứ nhất : Phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hóa
sản xuất, là sự phân chia lao động ra thành các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau, mỗi người chỉ sản xuất ra một hoặc vài sản phẩm nhất định trên cơ
sở trao đổi với người khác để đem về sản phẩm khác đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của mình Phân công lao động xã hội, chuyên môn hóa sản xuất làm cho năng suất lao động tăng lên, sản phẩm thặng dư càng nhiều nên càng thúc đẩy trao đổi sản phẩm
Sự phân công lao động trong khu vực nông lâm nghiệp hiện nay ngày càng sâu sắc với việc hình thành nhiều ngành lớn (trồng trọt, chăn nuôi) từ ngành lớn lại chia nhỏ thành những tiểu ngành chuyên môn hóa Ngành trồng trọt từ sản xuất tổng hợp trong một hộ gia đình sau đó phân hóa thành các tiểu ngành chuyên môn hóa như sau: trồng cây công nghiệp lâu năm, trồng cây ăn quả và hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung Tương tự ngành chăn nuôi cũng vậy, từ chỗ chăn nuôi hỗn hợp trong hộ gia đình đã đần dần phân hóa thành các tiểu ngành chuyên môn hóa sâu như: chăn nuôi trâu bò, chăn nuôi lợn thịt, chăn nuôi lợn nái, chăn nuôi gia cầm vv Chính từ sự chuyên môn sâu đó để hình thành nên các trang trại, gia trại để sản xuất hàng hóa tập trung qui mô lớn hơn và quay lại nó lạc tác động thúc đẩy sản xuất hàng hóa với hiệu quả kinh tế ngày càng cao
- Điều kiện thứ hai: Là sự tách biệt kinh tế là sự tách biệt tương đối về
mặt kinh tế giữa những người sản xuất, tức là những người sản xuất trở thành những chủ thể có sự độc lập nhất định với nhau Do đó sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu của các chủ thể kinh tế, người này muốn tiêu dùng sản phẩm lao động của người khác cần phải thông qua trao đổi, mua bán hàng hóa Ngày nay trong điều kiện của nền kinh tế đa thành phần với sự ra đời của nhiều hình thức sở hữu thì sự tách bạch ngày càng sâu sắc Trong khu vực nông lâm nghiệp đã hình thành các chủ trang trại, gia trại, các công ty Nhà nước, các
Trang 32công ty tư nhân, các hộ kinh tế tự chủ, đó là chủ thể trong nền kinh tế hàng hóa
Hai điều kiện có mối quan hệ qua lại lẫn nhau, nhưng lại mâu thuẩn với
nhau Phân công lao động xã hội làm cho người sản xuất phụ thuộc lẫn nhau,
còn sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất lại chia
rẽ hộ Đây là một mâu thuẩn, mâu thuẩn này giải quyết thông qua trao đổi,
mua bán sản phẩm của nhau Cả hai điều kiện đó không thiếu một điều kiện
nào, thiếu một trong hai điều kiện đó sẽ không có sản xuất hàng hóa
1.2.3 Hai đặc trưng của sản xuất hàng hóa
Sản xuất hàng hóa có 2 đặc trưng cơ bản là [16]:
- Sản xuất hàng hóa là sản xuất để trao đổi, buôn bán: lịch sử nhân loại
tồn tại tồn tại hai kiểu tổ chức kinh tế khác nhau là sản xuất tự cung, tự cấp và
sản xuất hàng hóa Sản xuất tự cung, tự cấp là kiểu tổ chức kinh tế mà trong
đó sản phẩm sản xuất ra dung để tiêu dùng là chủ yếu, trong khi đó sản xuất
hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế trong sản phẩm sản xuất ra để bán, chứ
không phải để đáp ứng tiêu dùng của người sản xuất
- Lao động của người sản xuất hàng hóa vừa mang tính chất tư nhân, vừa
mang tính chất xã hội Điều đó có nghĩa là sản phẩm hàng hóa của người trực
tiếp sản xuất để phục vụ xã hội, đáp ứng nhu cầu của người khác trong xã hội
Nhưng với sự tách bạch về kinh tế, thì lao động của người sản xuất hàng hóa
đồng thời mang tính chất tư nhân, việc sản xuất cái gì, cây con gì, sản xuất
như thế nào là công việc riêng của mỗi người Tính chất tự nhiên đó có thể
phù hợp hoặc không phù hợp với tính chất xã hội Vì vậy trong điều kiện đó
sản xuất hàng hóa gì, sản xuất như trế nào, sản xuất bao nhiêu, người sản xuất
phải căn cứ vào nhu cầu xã hội, nói rộng ra là sản xuất phải gắn với thị trường
tiêu thụ sản phẩm đó
Trang 331.2.4 Những ưu thế và hạn chế của sản xuất nông sản hàng hóa nước ta
Lịch sử phát triển nông nghiệp nước ta đi từ nền nông nghiệp tự túc, tự cấp với kỹ thuật canh tác lạc hậu, đất đai manh mún, chưa có sự phân công lao động, năng suất cây trồng, vật nuôi và năng suất lao động thấp, nền hình thành nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa trên cơ sở phân công lại lao động xã hội trong nông nghiệp, nông thôn, thực hiện chuyên môn hóa sâu sắc, hình thành các vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa tập trung qui mô lớn, hình thành đa dạng đa dạng các cơ sở sản xuất hàng hóa như: doanh nghiệp nông nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư các trang trại, gia trại và các hộ kinh tế tự chủ
So với sản xuất tự cung, tự cấp sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp có
ưu thế hơn hẳn, cụ thể như sau [4], [6], [7], [8]:
- Phá vỡ tính tự cung tự cấp, bảo thủ, trì trệ, lạc hậu của mỗi ngành, mỗi địa phương làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng, nhu cầu của xã hội về nông sản hàng hóa được đáp ứng đầy đủ hơn
- Khai thác về hiệu quả có lợi thế tự nhiên, kinh tế - xã hội, kỹ thuật sản xuất của từng người, từng cơ sở sản xuất, cũng như từng vùng, từng địa phương vào sản xuất
- Sản xuất hàng hóa nông sản phát triển cho phép chúng ta mở rộng khả năng trao đổi hàng hóa với các quốc gia khác, giúp cho sản xuất của nước ta học tập được nhiều kinh nghiệm từ các đối tác nước ngoài
- Sản xuất hàng hóa nói chung và nông sản hàng hóa nói riêng, không bị giới hạn bởi nhu cầu nguồn lực ( vốn, đất đai, lao động vv.), vốn bị hạn hẹp của mỗi cá nhân, hộ gia đình, mỗi cơ sở, mỗi vùng, mỗi địa phương mà nó được mở rộng dựa trên cơ sở nhu cầu và nguồn lực của xã hội Điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng những tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, thức đẩy sản xuất phát triển
Trang 34- Trong nền sản xuất hàng hóa, sự tác động của qui luật giá trị, qui luật cung - cầu, qui luật cạnh tranh buộc người sản xuất hàng hóa phải luôn năng động, nhậy bén, biết tính toán, tăng cường cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất từ đó nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế, cũng như cải tiến hình thức, qui cách từng loại sản xuất hàng hóa để giảm chi phí sản xuất
và trên hết là đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng ngày càng cao
- Trong nền sản xuất hàng hóa do sự phát triển sản xuất, do sự mở rộng
và giao lưu kinh tế giữa các cá nhân, giữa các vùng, giữa các địa phương, giữa các nước không chỉ làm cho đời sống vật chất không ngừng nâng cao mà
cả đời sống tinh thần cũng được nâng cao, phong phú hơn
Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, sản xuất hàng hóa có những mặt trái như: phân hóa giàu nghèo, tiềm ẩn những khả năng khủng hoảng, phá hoại môi trường hệ sinh thái và đời sống xã hội
1.3 Kinh nghiệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn của một số nước trên thế giới và ở Việt Nam
Kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn phụ thuộc rất lớn vào kết quả chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp Dưới đây xin tóm tắt một số kinh nghiệm của một số nước và một số địa phương trong nước về chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp nhằm thúc đẩy dịch chuyển cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa , phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.3.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới
1.3.1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trong sản xuất nông nghiệp, Trung Quốc chú trọng đặc biệt tới sản
xuất lương thực với quan điểm "phi lương bất ổn" Do vậy Trung Quốc đặt
sản xuất lương thực lên hàng đầu và tập trung mọi nguồn lực để sản xuất lương thực tăng trưởng nhanh và ổn định
Trang 35Sau khi đảm bảo lương thực vững chắc, Trung Quốc tiến hành điều chỉnh
cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng đa dạng hoá sản phẩm, trong đó chú trọng phát triển cây công nghiệp và phát triển nghề rừng, khai thác và nuôi trồng thuỷ sản, đẩy mạnh công nghiệp chế biến và dịch vụ nông nghiệp
Trung Quốc có sự đầu tư khá bài bản và chu đáo cho công tác khoa
học-kỹ thuật và công nghệ trong nông nghiệp, đặc biệt là công tác lai tạo giống cây trồng, vật nuôi Chính vì vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, năng suất cây trồng, vật nuôi của Trung Quốc tăng lên rất nhanh
Để khai thác thế mạnh của từng địa phương, Trung Quốc đã thành lập
các "Xí nghiệp hương trấn" Các xí nghiệp hương trấn bao gồm nhiều thành
phần kinh tế Xí nghiệp Hương trấn được coi là Quốc sách để xây dựng cơ cấu kinh tế nông thôn trong thời kỳ cải cách Nó vừa là động lực vừa là mục tiêu thúc đẩy quá trình phân công lại lao động trong nông nghiệp, nông thôn
theo quan điểm: "Ly nông, bất ly hương, nhập xưởng bất nhập thành" [6]
1.3.1.2 Kinh nghiệm của Đài Loan
Nông nghiệp của Đài Loan được phát triển ngay từ đầu thập kỷ 50 của thế kỷ XX với 3 chính sách lớn: Cải cách ruộng đất, cải tiến kỹ thuật sản xuất nông nghiệp và kiến thiết xã hội nông thôn
Chính sách cải cách ruộng đất ở Đài Loan là nhân tố có tính quyết định làm thay đổi cơ cấu kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng Đài Loan sớm thừa nhận thị trường chuyển nhượng và cho thuê quyền sử dụng đất, do vậy sự tích tụ, tập trung ruộng đất để hình thành các trang trại nông nghiệp qui mô lớn phát triển khá nhanh
Đài Loan đặc biệt quan tâm đầu tư cho công tác khoa học-kỹ thuật và công nghệ trong nông nghiệp, đặc biệt là công nghệ chọn tạo giống và công nghệ vi sinh Đến nay, Đài Loan có nhiều giống cây trồng, vật nuôi có năng suất chất lượng cao như: Lúa, mía, vải, các loại rau, lợn nạc, gà
Trang 36Từ năm 1973, Đài Loan thực hiện cơ giới hoá nông nghiệp, Chính phủ
đã chi 2 tỷ NTD (New Taiwan Dolas) đầu tư cho các công trình hạ tầng, cải thiện điều kiện vận chuyển tiêu thụ sản phẩm
Về chính sách tín dụng, Đài Loan cải thiện điều kiện vay vốn tín dụng Đài Loan chú trọng xây dựng các tổ chức tín dụng của các Hiệp hội nông dân (Farmers Association) Thông qua các Hiệp hội nông dân, các chủ trang trại
và nông dân vay vốn phát triển sản xuất và tiêu thụ nông sản rất thuận lợi
Về chính sách thị trường, Đài Loan không chủ trương xuất khẩu sản phẩm thô mà chú trọng phát triển công nghiệp chế biến để nâng cao giá trị nông sản xuất khẩu Tại thị trường nội địa, Đài Loan xây dựng các chợ đấu giá nông sản, qua đó nông dân nắm bắt thông tin kịp thời, chính xác về nhu cầu của thị trường và giá cả các mặt hàng nông sản [6]
1.3.1.3 Kinh nghiệm của Nhật Bản
Nhật Bản có điều kiện tự nhiên và kinh tế, xã hội lúc xuất phát khá giống nước ta: Đất đai manh mún, bình quân ruộng đất trên đầu người thấp, 2/3 dân
số sống dựa vào nông nghiệp Ngày nay, Nhật Bản là một trong những nước phát triển hàng đầu về nông nghiệp Kinh nghiệm về phát triển và chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp ở Nhật Bản là:
- Chính sách an ninh lương thực: Ngay sau chiến tranh thế giới thứ II, Nhật Bản đã coi sản xuất nông nghiệp và công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng
là quan trọng hàng đầu, đặc biệt là phải giải quyết cơ bản vấn đề lương thực Thực hiện chính sách an ninh lương thực, Nhật Bản đã tập trung đầu tư cho chương trình cải tạo 1,55 triệu ha đất để phát triển sản xuất lương thực và thực hiện định cư cho 1 triệu hộ nông dân Sau 5 năm thực hiện chính sách, từ năm 1949 trở đi Nhật Bản đã cơ bản giải quyết được vấn đề lương thực
- Chính sách cải cách ruộng đất: Trong cải cách ruộng đất, Nhật Bản ban hành chính sách buộc các điền chủ có diện tích trên 1 ha phải bán lại cho
Trang 37nông dân Thực hiện chính sách này, Nhật Bản đã xoá bỏ được quyền chiếm dụng đất bất hợp lý và thiết lập quyền sở hữu ruộng đất cho những nông dân không có đất canh tác
- Nhật Bản là một trong những nước đi đầu thế giới về phát triển khoa học-kỹ thuật nông nghiệp Được sự đầu tư đủ mạnh của Chính phủ, các cơ sở nghiên cứu đã đưa ra hàng loạt giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao đứng hàng nhất, nhì thế giới
- Trong điều kiện đất đai canh tác hạn hẹp, Nhật Bản ban hành chính sách trợ giá gạo và tiến hành chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng phát huy lợi thế để sản xuất hàng hoá đổi lấy lương thực, đẩy mạnh phát triển chăn nuôi gắn với công nghiệp chế biến công nghệ cao [6]
1.3.1.4 Kinh nghiệm của Thái Lan
Nông nghiệp Thái Lan trong những năm gần đây là tốc độ tăng trưởng cao gắn liền với đa dạng hoá nông nghiệp, Thái Lan thực hiện chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng đa dạng hoá như sau [6]:
- Tăng nhanh diện tích trồng trọt và sản lượng các loại cây trồng "mới"
như: Lúa miến, sắn, mía đường và các loại ngũ cốc khác ngoài lúa gạo
- Đẩy mạnh phát triển ngoài trồng trọt như chăn nuôi, đánh cá và phát triển lâm nghiệp
- Để phát triển sản xuất nông nghiệp hướng ra xuất khẩu, Thái Lan đã thực hiện các chính sách kích thích bằng lợi ích kinh tế như: Tài trợ đầu vào, thực hiện ưu đãi về thuế và tín dụng đối với những mặt hàng mới để giảm rủi
ro khi tham gia thị trường trong nước và thế giới
- Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng để khuyến khích phát triển sản xuất đã dạng hoá sản phẩm, ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho sự phát triển của các loại sản phẩm mới và các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn
- Tập trung triển khai các công trình nghiên cứu, ứng dụng rộng rãi
Trang 38những thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến vào trồng trọt, chăn nuôi và công nghiệp chế biến
1.3.2 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước
Kinh nghiệm về chuyển dịch cơ cấu ở một số địa phương trong nước như sau:
1.3.2.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp ở tỉnh Lào Cai
Lào Cai là tỉnh miền núi, có diện tích đất tự nhiên hơn 600 nghìn ha, bao gồm nhiều tiểu vùng khí hậu, thích hợp cho phát triển đa dạng các loại cây trồng, vật nuôi; trong đó vùng cao Sa Pa, Bắc Hà, Mường Khương, Si Ma Cai
có thể phát triển các loại cây trồng ôn đới và nuôi cá nước lạnh (cá hồi, cá tầm) có giá trị kinh tế cao Tuy nhiên sản xuất nông nghiệp ở Lào Cai cũng gặp nhiều khó khăn do địa hình bị chia cắt mạnh, diện tích đất dành cho sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 12,5% so với diện tích tự nhiên, trình độ sản xuất
và khả năng đầu tư cho sản xuất của nhân dân còn hạn chế do tỷ lệ đói nghèo
ở khu vực nông thôn còn khá cao Ðể khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế đất đai, khí hậu, tỉnh Lào Cai đã xây dựng chương trình và các đề án thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, chủ động sản xuất và cung ứng giống tốt, tăng nhanh giá trị thu nhập trên một đơn
vị canh tác Theo đó, tập trung khai thác triệt để tiềm năng về đất đai, khí hậu, nhu cầu của thị trường, thực hiện 'liên kết 4 nhà' để nâng cao hiệu quả sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp Phát triển mạnh các loại cây trồng vật nuôi tạo ra vùng tập trung khối lượng nguyên liệu lớn, phát triển công nghiệp chế biến để tạo nhiều sản phẩm hàng hóa có chất lượng mang thương hiệu Lào Cai, có sức cạnh tranh cao trên thị trường Những loại cây trồng, vật nuôi cần tập trung phát triển đó là: chè, thuốc lá, cao-su và rau sạch, hoa cao cấp mang đặc trưng vùng khí hậu ôn đới [14], [22]
Về cây chè , hiện toàn tỉnh có hơn 4.000 ha chè, chủ yếu là chè đặc sản Tuyết San và chè giống mới chất lượng cao như Bát Tiên , Ô Long , Ngọc
Trang 39Thúy , hiện đã xuất khẩu sản phẩm chè sang thị trường các nước Trung Ðông, với tổng sản lượng gần 10.000 tấn sản phẩm Nhờ trồng giống mới chất lượng cao, đổi mới công nghệ chế biến, xây dựng thương hiệu đặc trưng nên ngành sản xuất và chế biến chè Lào Cai đã đứng vững và phát triển, giúp người nông dân vùng cao có thu nhập ổn định và làm giàu
Tỉnh Lào Cai đề ra mục tiêu phát triển 2.000 ha cây thuốc lá vào năm
2011, đồng thời mở rộng diện tích, bảo đảm đủ lượng nguyên liệu để xây dựng nhà máy sơ chế thuốc lá tại địa phương, nhằm nâng cao giá trị kinh tế của loại cây này Hiện toàn tỉnh đã có hơn 1.000 ha, đã giải quyết việc làm và tạo nguồn thu cho hàng nghìn hộ đồng bào dân tộc thiểu số
Lào Cai có lợi thế để phát triển mạnh cây cao-su, đã hợp tác với Tập đoàn Cao-su Việt Nam để tiến hành trồng, xây dựng nhà máy chế biến cao-su Với quy mô trồng hơn 11.500 ha trong ba năm, từ 2011 - 2013, để có đủ vùng nguyên liệu xây dựng nhà máy chế biến cao-su
Các loại cây ăn quả ôn đới cũng là thế mạnh của Lào Cai vì có lợi thế về khí hậu, đất đai ở vùng cao như Sa Pa, Bắc Hà Mường Khương Ngành nông nghiệp đã khảo nghiệm thành công nhiều loại giống cây ăn quả có chất lượng,
có giá trị kinh tế cao, thích nghi với đất dốc, như lê Tai Nung (Ðài Loan), đào chín sớm và nho Pháp Hiện ở Sa Pa và Bắc Hà, nông dân đã trồng đại trà và cho sản phẩm ra thị trường, đạt giá trị cao gấp 4 - 5 lần giống cũ Trong 5 năm tới, sẽ phát triển thêm khoảng 1.000 ha cây ăn quả ở vùng cao có chất lượng tốt, chín sớm, có khả năng cạnh tranh với sản phẩm của nước ngoài và khoảng 2.000 - 2.500 ha cây ăn quả ở vùng thấp, chủ yếu là các cây chuối, dứa để bán cho thị trường của Trung Quốc Rau an toàn và hoa cao cấp là loại cây trồng đang đem lại giá trị kinh tế cao Hiện đang có hàng chục Công ty của Ðài Loan (Trung Quốc) và doanh nghiệp trong nước đầu tư trồng các loại rau, quả trái vụ và hoa cao cấp như hoa ly, hoa hồng, phong lan tại Sa Pa Tỉnh Lào
Trang 40Cai đã tạo cơ chế, chính sách cho thuê đất ruộng của nông dân, chuyển đổi đất
dự án trồng rừng kém hiệu quả sang trồng rau, hoa cao cấp để thu hút đầu tư, tăng hiệu quả kinh tế sản xuất nông nghiệp Riêng ở Sa Pa hiện có gần 400 ha rau chất lượng cao, trong đó 80% cho xuất khẩu, còn lại cung cấp cho các siêu thị trong nước
Bên cạnh đó, Lào Cai tập trung phát triển chăn nuôi đại gia súc ở địa bàn vùng cao Tiếp tục cải tạo tập quán chăn nuôi lạc hậu ở vùng cao; cải tạo chất lượng đàn gia súc để có sản phẩm hàng hóa tốt như đàn trâu, bò Khôi phục đàn ngựa để phát triển sản phẩm hàng hóa (vì thịt ngựa dễ bán và đàn ngựa ít bị dịch bệnh và chết rét) Phát triển mạnh các mô hình sản xuất gia súc, gia cầm công nghiệp và bán công nghiệp như mô hình nuôi gà lạnh, mô hình sản xuất lợn thịt công nghiệp Tiến hành khảo sát và mở rộng sản xuất cá nước lạnh (cá hồi, cá tầm) ở vùng cao
Trong những năm gần đây , Lào Cai đã chuyển đổi mạnh cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang sản xuất các ngành nghề khác, thông qua các chương trình phát triển hàng hóa cây trồng, vật nuôi gắn với việc xây dựng các cơ sở chế biến sẽ tạo ra rất nhiều công việc để giúp cho nông dân chuyển
từ sản xuất nông nghiệp sang các lĩnh vực khác Mặt khác, khuyến khích mạnh hơn việc phát triển các ngành, nghề truyền thống hoặc nghề mới như làm du lịch cộng đồng , để dần từng bước chuyển một phần số lao động nông nghiệp truyền thống sang làm các ngành nghề khác, hoặc thu nhập của các hộ gia đình nông dân từ các ngành nghề khác chiếm hơn 55% thu nhập của gia đình, đáp ứng về chuyển đổi cơ cấu lao động nông nghiệp Hình thành các vùng sản xuất lớn gắn với cơ sở chế biến hoặc mở rộng các ngành nghề khác trong nông thôn cũng là cơ hội để cho người lao động được đào tạo nghề, tham gia các hoạt động sản xuất các ngành nghề này Lào Cai cũng chú trọng đẩy mạnh xây dựng các hình thức tổ chức sản xuất