1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

học thuyết ngũ hành và ý nghĩa của nó đối với y học cổ truyền phương đông

24 764 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 351 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nguyên lý cơ bản của Ngũ hành đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến các lĩnh vực của đời sống xãhội ở Trung Quốc và ở một số quốc gia và vùng lãnh thổ xung quanh như: ViệtNam, Nhật Bản, Hàn Quốc,

Trang 1

MỞ ĐẦU

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Suốt mấy nghìn năm qua, kể từ khi ra đời, học thuyết Ngũ hành là mộttrong những học thuyết quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến triết học TrungQuốc nói riêng, triết học và văn hóa phương Đông nói chung Không bao lâusau khi ra đời, nó đã chiếm vị trí nổi bật, chứng tỏ đó là một học thuyết nhấtquán, hoàn chỉnh không chỉ giải thích nguồn gốc và cơ cấu của vũ trụ, mà còngóp phần vào giải thích những hiện tượng trong cuộc sống của con người

Là một học thuyết phát triển mạnh ở phương Đông và tồn tại hàngnghìn năm trong lịch sử, Ngũ hành phát triển vượt ra ngoài phạm vi triết học

và đặt dấu ấn đến nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Các nguyên lý

cơ bản của Ngũ hành đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến các lĩnh vực của đời sống xãhội ở Trung Quốc và ở một số quốc gia và vùng lãnh thổ xung quanh như: ViệtNam, Nhật Bản, Hàn Quốc, Triều Tiên, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore Trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, văn hoá, hônnhân, gia đình, âm nhạc, hội hoạ, kiến trúc, quân sự, y học cổ truyền, v.v ).Nghiên cứu học thuyết Ngũ hành để không chỉ khám phá một lý luậnđộc đáo khi luận bàn về bản nguyên và cấu trúc của vũ trụ, mà còn thấy đượctính ứng dụng cao của nó trong nhiều lĩnh vực xã hội, thậm chí có lĩnh vựctrừu tượng, huyền bí như: thiên văn, lịch số, phong thuỷ…trong đó đặc sắc vàhữu dụng nhất, phải kể đến y học cổ truyền phương Đông vốn đã tồn tại hàngnghìn năm nay

Trong lĩnh vực y học, các quy luật của Ngũ hành đã đặt dấu ấn ởphương pháp quan sát, quy nạp, tìm sự tương quan của hoạt động sinh lý, bệnh

lý các tạng phủ để chẩn đoán bệnh tật, tìm tính năng, tác dụng của thuốc và

tiến hành hoạt động bào chế thuốc Kể từ khi xuất hiện Hoàng đế Nội kinh tố

vấn và với ảnh hưởng mạnh mẽ của tác phẩm này, nền y học Trung Quốc và

nhiều nước phương Đông khác có những bước tiến đáng khâm phục

Học thuyết Ngũ hành vào Việt Nam từ rất sớm Các nhà tư tưởng ViệtNam tích cực tiếp nhận và vận dụng học thuyết này một cách sáng tạo trongnhiều lĩnh vực, nhất là phát triển nền y học dân tộc cổ truyền cả trên phươngdiện lý luận và thực tiễn lâm sàng Một trong những tấm gương tiêu biểu là đạidanh y, nhà lý luận y học Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác với tác phẩm y

học đồ sộ Hải Thượng Y tông tâm lĩnh Y học cổ truyền Việt Nam được hình

thành ngay từ buổi đầu dựng nước và ngày càng phát triển trong cuộc đấutranh chống bệnh tật, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ con người Cũng như y học

cổ truyền Trung Quốc, cơ sở để xây dựng lý luận y học cổ truyền Việt Namkhông tách rời thuyết Ngũ hành

“Ngũ hành là chỉ vào thế lực tự nhiên, vì luôn luôn động nên gọi làhành và phản chiếu vào tinh thần người ta thành ra có những biến thái, độngtác tâm lý, sinh lý” (Nguyễn Đăng Thục), nó đã giải thích từ sự hình thành vũ

1

Trang 2

trụ đến những vấn đề liên quan tới con người Thiên Hồng Phạm đã mở đầu:

Sơ nhất viết Ngũ hành Thứ nhị viết kính dụng Ngũ sự để khẳng định một

nguyên lý căn bản: Ở vũ trụ chỉ có Ngũ hành, ở con người chỉ có Ngũ sự; Ngũ

sự hoà với Ngũ hành, tức Thiên - Nhân hợp nhất Đấy là Vạn vật nhất thể Tư

tưởng này đã tồn tại mấy nghìn năm và Ngũ hành vẫn sừng sững bằng sự hiệuquả trong thực tiễn từ hàng thiên niên kỷ

Hơn nữa, ở Việt Nam việc chữa bệnh bằng y học cổ truyền đã có hiệuquả rõ rệt và được quần chúng nhân dân ngày càng tin dùng Xuất phát từ nhucầu thực tế đó, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất mạnh vai trò của việc kết hợp yhọc cổ truyền với y học hiện đại Có thể nói đó là một trong những quan điểm

cơ bản về y tế của Đảng Tuy nhiên, ở Việt Nam vẫn còn một số nhận thức sailệch khi cho rằng, y học cổ truyền chỉ là tập hợp những kinh nghiệm dân dã vềmột số bài thuốc và vị thuốc thông thường; rằng y học này chưa có cơ sở lýluận rõ ràng, vì vậy hiệu quả chữa bệnh còn hạn chế; hoặc là quan niệm thổiphồng vai trò của Ngũ hành và y học cổ truyền, cho rằng với sự chỉ dẫn củaNgũ hành, y học cổ truyền có thể “chữa bách bệnh” Rõ ràng là, quan điểm kếthợp y học cổ truyền với y học hiện đại của Đảng và Nhà nước ta chưa đượcnhận thức đầy đủ, chưa được vận dụng một cách nhuần nhuyễn và có hiệu quả

Để thực hiện chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước, đáp ứng nhucầu của nhân dân về chữa bệnh bằng y học cổ truyền, đồng thời góp phầnkhẳng định y học cổ truyền là một khoa học với các phương pháp phòng vàchữa bệnh có hiệu quả, thì việc nghiên cứu cơ sở triết học của nó, mà trước hết

là nghiên cứu học thuyết Âm dương - Ngũ hành, là rất cần thiết Vì chính họcthuyết Âm dương - Ngũ hành là cơ sở lý luận để giải thích nguyên nhân, cơchế phát sinh bệnh học, điều trị học và phòng bệnh của y học cổ truyền

Đề tài luận án Học thuyết Ngũ hành và ý nghĩa của nó đối với y học cổ

truyền phương Đông góp phần nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện học

thuyết Ngũ hành và vai trò của nó đối với y học cổ truyền phương Đông, qua

đó làm sáng tỏ mối quan hệ hữu cơ giữa việc bảo tồn và phát triển bằng cáchứng dụng các tri thức y học cổ truyền trong việc phòng bệnh, chữa bệnh

2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Từ thời cổ đại đến nay, với ý nghĩa thực tiễn khá sâu sắc của học thuyếtNgũ hành và sự vận chuyển của nó để giải thích những hiện tượng tự nhiên, xãhội và con người đã được nhiều nhà nghiên cứu phương Đông – trong đó cóTrung Quốc và Việt Nam quan tâm và đã thu được những kết quả to lớn chocuộc sống, đặc biệt là những kết quả nghiên cứu về học thuyết Âm dương –Ngũ hành với y học cổ truyền phương Đông Nội dung trên đã được thể hiệntrong khối lượng tài liệu to lớn của nhiều tác giả theo hai hướng: hướng triếthọc và hướng y học

Một là, theo hướng thứ nhất, có các công trình tiêu biểu: Đại cương

triết học Trung Quốc; Lịch sử triết học Trung Quốc của Hồng Tiềm - Nhiệm

Hoa - Uông Tử Tung (Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1957); Đạo của Trương

2

Trang 3

Lập Văn chủ biên, Hồ Châu - Tạ Phúc Chinh - Nguyễn Văn Đức dịch (Nhà

xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998) Triết giáo Đông phương của Dương

Ngọc Dũng - Lê Anh Minh (Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh,

2003); Lịch sử triết học Trung Quốc của Phùng Hữu Lan, Lê Anh Minh dịch (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006); Trung Quốc triết học sử đại

cương của Hồ Thích, Huỳnh Minh Đức dịch (Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin,

Hà Nội, 2004) Khi trình bày nội dung nghiên cứu này, các tác giả kể trên đềukhẳng định Âm dương và Ngũ hành là những phạm trù triết học quan trọngtrong thế giới quan của người Trung Quốc Đó là những khái niệm trừu tượngđầu tiên của người xưa đối với sự sản sinh và biến hóa của vũ trụ, là cội nguồncủa các quan điểm duy vật và biện chứng trong các tư tưởng triết học mang

màu sắc Trung Quốc Chẳng hạn tác giả Ngô Vinh Chính đánh giá: “Việc sử

dụng các phạm trù Âm dương và Ngũ hành đánh dấu bước tư duy khoa học đầu tiên nhằm thoát khỏi sự khống chế về tư tưởng của các khái niệm thượng

đế, quỷ thần truyền thống Đó là cội nguồn duy vật và biện chứng trong tư tưởng triết học của người Trung Quốc”[17,43].

Ngược dòng lịch sử quá trình nghiên cứu, chúng ta thấy việc đánh giá

và vận dụng học thuyết Âm dương – Ngũ hành đã từng được đề cập rộng rãitrong các tác phẩm của người Trung Quốc cổ xưa Từ đời Hán trở đi, nhiều tácgiả như Lưu Biểu, Quảng Lô, Vương Bật, Phí Trực (đời Hán); Trịnh Huyền(đời Hán); Chu Đôn Di, Thiệu Ung, Trình Hạo, Trình Di (đời Tống); HoàngTôn Hy, Tôn Viêm, Mao Kỳ Linh, Hồ Vi, Huệ Đống, Trương Huệ Ngôn, Lý

Quang Địa (đời Thanh)… đều khẳng định tư tưởng chủ đạo trong Kinh Dịch là

tư tưởng về mối quan hệ giữa âm và dương Trong những năm gần đây mộtloạt các công trình nghiên cứu xuất bản ở Hồng Kông và Đài Bắc (Đài Loan)

như Chu Dịch tân giải của Tào Thăng; Chu Dịch cổ kinh kim chú của Cao Hanh; Dịch học tân luận của Nghiêm Linh Phong… đều bàn về lẽ biến hóa của Âm dương trong Kinh Dịch.

Kinh Dịch là sách nói về Âm dương, còn Kinh Thư là tác phẩm đầu tiên

của người Trung Quốc cổ đại đề cập tới khái niệm Ngũ hành, nghiên cứu và

dịch thuật về Kinh Thư ở Việt Nam đã được Thẩm Quỳnh biên dịch từ năm

1965 và là cơ sở cho nhiều tác giả Việt Nam tiếp tục nghiên cứu và bàn luận

về thuyết Âm dương – Ngũ hành

Bên cạnh việc tập trung nghiên cứu riêng rẽ về các tác phẩm của người

Trung Quốc cổ đại xưa, khi đề cập về thuyết Âm dương – Ngũ hành như Kinh

Thư, Kinh Dịch các tác giả Việt Nam cũng đề cập về thuyết Âm dương –Ngũ

hành từ góc độ nghiên cứu lịch sử triết học Trung Quốc và phương Đông nóichung Có thể kể ra một số tác giả và công trình nghiên cứu tiêu biểu những

năm gần đây như: Nguyễn Đăng Thục với Lịch sử triết học phương Đông (Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn 1961); Nguyễn Tài Thư (chủ biên) với Lịch sử tư

tưởng Việt Nam (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993); Cao Xuân

Huy với Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu (Nhà xuất

3

Trang 4

bản Văn học – Hà Nội, 1995); Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc do Doãn Chính (chủ biên) (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997); Triết

lý phương Đông - Giá trị và bài học lịch sử của Doãn Chính (Nhà xuất bản

Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006); Lịch sử triết học Trung Quốc của Hà Thúc Minh (Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1988, tập 1; 1999 tập 2)[67]; Từ

điển triết học Trung Quốc của Doãn Chính (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia,

Hà Nội, 2009),v.v…Trong những tác phẩm kể trên, các tác giả đánh giá caovai trò và ý nghĩa của học thuyết Âm dương – Ngũ hành trong lịch sử pháttriển các tư tưởng triết học phương Đông, đồng thời coi nó là một trong cácdòng triết học quan trọng có từ thời kỳ “Bách gia chư tử”

Hai là, theo hướng thứ hai, có những công trình nghiên cứu đề cập học

thuyết Âm dương – Ngũ hành trong mối quan hệ gắn bó với sự phát triển củacác khoa học và đời sống xã hội và con người như thiên văn học, dự đoán học,nông học v.v… Trong lĩnh vực y học, học thuyết Âm dương - Ngũ hành đãđược các nhà tư tưởng và danh y nghiên cứu xưa nay đề cập hết sức rộng rãi

và sâu sắc Từ đời Hán, ở Trung Quốc đã xuất hiện các bộ sách nổi tiếng như

Hoàng đế Nội kinh (chưa rõ tác giả); Thương hàn tạp bệnh luận; Kim Quỹ yếu lược (của Trương Trọng Cảnh); Nạn kinh (của Tần Việt Nhận) Đây là những

tác phẩm lý luận y học đầu tiên của nền y học Trung Quốc cổ đại đã biết lấy lýluận duy vật thô sơ là học thuyết Âm dương - Ngũ hành làm hệ thống lý luậncủa y học Dùng lý thuyết ấy để giải thích về mối quan hệ giữa con người với

tự nhiên, quan hệ lẫn nhau giữa các tạng phủ trong thân thể và theo nguyên tắccủa quan niệm chỉnh thể đã phát minh được những vấn đề có quan hệ đến yhọc như bệnh lý, chẩn đoán, phòng bệnh, chữa bệnh v.v…

Ở Việt Nam, những công trình vận dụng học thuyết Âm dương - Ngũhành vào y học đã xuất hiện ngay từ thời Trần Các tác phẩm và tác giả tiêu

biểu phải kể tới Chu An với Y học giản yếu, Tuệ Tĩnh với Nam dược thần hiệu

và Hồng nghĩa giác tư y thư Đến thế kỷ XVIII, xuất hiện nhà tư tưởng, nhà y học nổi tiếng Lê Hữu Trác, với bộ sách Hải Thượng Lãn Ông Y tông tâm lĩnh

nổi tiếng (Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 1993), trong đó ông đã vận dụng họcthuyết Âm dương - Ngũ hành để giải thích đời sống xã hội, và phương phápbảo vệ sức khỏe cho con người Sang nửa cuối thế kỷ XIX, nhà tư tưởng cũngđồng thời là nhà y học Nguyễn Đình Chiểu cũng đã vận dụng học thuyết Âmdương – Ngũ hành để diễn giải các vấn đề về lý luận y học trong tác phẩm

Ngư tiều y thuật vấn đáp.

Từ sau cách mạng tháng tám năm 1945 đã có nhiều tác giả, nhiều côngtrình nghiên cứu về học thuyết Âm dương - Ngũ hành trong lý luận y học cổtruyền phương Đông Chẳng hạn Lê Trần Đức với các công trình nghiên cứu

về Tuệ Tĩnh, Lê Hữu Trác, Nguyễn Đình Chiểu…Hoàng Tuất [117-118] với

các công trình Học thuyết Âm dương và phương dược cổ truyền; Học thuyết

Tâm - Thận trong y học cổ truyền; Phó Đức Thảo [106] với Học thuyết Thủy hỏa và mệnh môn trong y học cổ truyền; Lê Khánh Trai với Khảo cứu về tiền

đề Âm dương - Ngũ hành từ Kinh Dịch và mô hình kinh mạch trong cơ thể người; Hoàng Phương [74] với Tích hợp đa văn hóa Đông Tây cho một chiến

4

Trang 5

lược giáo dục tương lai; Trần Thúy [98] với Nội kinh v.v Tất cả các tác giả

này đều khẳng định Âm dương – Ngũ hành là lý luận không thể thiếu đối với yhọc cổ truyền

Những năm gần đây, một số tác giả và các công trình nghiên cứu có xuhướng đi sâu nghiên cứu tác phẩm của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, vànhững bình luận, đánh giá học thuyết Âm dương – Ngũ hành dưới nhiều góc

độ khác nhau Trong đó, đáng chú ý là các công trình nghiên cứu của Nguyễn

Tài Thư với Lê Hữu Trác, nhà tư tưởng lớn trưởng thành từ nghiệp y (in trong cuốn: Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập I, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993); Nguyễn Đức Sự với Cơ sở triết học của bộ Lãn Ông tâm lĩnh và hiện thực lịch

sử nước ta thế kỷ XVIII (Tạp chí Triết học số 1-1974) và Bước đầu tìm hiểu y

lý của Hải Thượng Lãn Ông qua tập: “Ngoại cảm thông trị” (Tạp chí Đông y,

số 110 -111, 1970); Trần Sĩ Nghi với Học thuyết thủy hỏa của Đại y tôn Hải

Thượng Lãn Ông (Tạp chí Đông y số 1, năm 1971); Nguyễn Văn Thọ với Quan niệm về thận của Hải Thượng Lãn Ông đối chiếu với Tây y (tạp chí

Phương Đông, số 17, năm 1952); Trần Văn Giàu với Sự phát triển của tư

tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng tháng 8 (Tập 1, Nxb Khoa học

xã hội, Hà Nội, 1973); Nguyễn Đình Phủ với các công trình: Tìm hiểu và ứng

dụng triết lý Âm dương, Nxb VHDT, Hà Nội, 1998, và Tìm hiểu và ứng dụng học thuyết Ngũ hành, Nxb VHDT, Hà Nội, 2001 v.v Trong các tác phẩm và

các công trình nghiên cứu kể trên, các tác giả đã đề cập đến học thuyết Âmdương – Ngũ hành và đều cho rằng: học thuyết Âm dương – Ngũ hành là mộttrong những cơ sở triết học quan trọng để hình thành thế giới quan duy vậtphương Đông, đồng thời cũng là cơ sở triết học chủ yếu để xây dựng lý luận y

học cổ truyền phương Đông Chẳng hạn, Trần Văn Giàu viết: “Nước ta ở thế

kỷ XIX từ triều đình cho tới thứ dân, qua các tầng lớp Nho sĩ, từ trong sách vở cho tới những phong tục tập quán, đâu đấu cũng thấy dấu vết ảnh hưởng của thuyết Âm dương – Ngũ hành”[ 34,tr.212], hoặc Đỗ Tất Lợi viết: “Nghề làm thuốc không thể vượt ra ngoài nguyên lý Âm dương – Ngũ hành… Việc điều trị bệnh tật là sự lặp lại cân bằng Âm dương trong con người, giữa con người với trời đất” [54, tr.16]; Trần Văn Thụy trong bộ Hải Thượng Y tông tâm lĩnh với

sự vận dụng những tư tưởng triết học thời cổ (Luận án Tiến sĩ Triết học 1996)

đã đề cập tới học thuyết Âm dương – Ngũ hành và coi đó là một trong những

tư tưởng triết học quan trọng của bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh; Phạm Công Nhất trong Tư tưởng triết học về con người qua tác phẩm y học của Hải

Thượng Lãn Ông (Luận án Tiến sĩ triết học – 2001); Trần Thị Huyên với Thuyết âm dương – ngũ hành với tác phẩm Hoàng đế Nội kinh và Hải Thượng

Y tông tâm lĩnh (Luận án Tiến sĩ 2002); Nguyễn Thị Hồng Mai với Tư tưởng triết học của Lê Hữu Trác trong tác phẩm Hải Thượng Y tông tâm lĩnh (Luận

án Tiến sĩ 2012) Với sự vận dụng học thuyết Âm dương - Ngũ hành vào y học

cổ truyền Việt Nam, đặc biệt học thuyết Thủy hỏa của danh y Lê Hữu Trác

trong tác phẩm Hải Thượng Lãn Ông Y tông tâm lĩnh.

Nhìn chung, các tác giả và công trình nghiên cứu nói trên đều nói lênmối quan hệ giữa Âm dương - Ngũ hành với các hoạt động sống của con người

5

Trang 6

và khẳng định lý thuyết này là cơ sở triết học chủ yếu cho việc hình thành vàphát triển lý luận và thực tiễn của nền y học cổ truyền phương Đông từ xưa tớinay Tuy vậy, các quan niệm trên còn rời rạc, tản mạn, chưa thành hệ thốngnhất quán Có thể nói, cho đến nay, chưa có tác phẩm nào nghiên cứu một cáchtập trung và có hệ thống về sự hình thành và phát triển học thuyết Ngũ hành

trong y học cổ truyền phương Đông, đề tài “Học thuyết Ngũ hành với ý nghĩa

của nó đối với y học cổ truyền phương Đông” góp phần làm sáng tỏ những

vấn đề trên.

3 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

3.1 Mục đích nghiên cứu của luận án

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ lịch sử phát triển, nội dung

cơ bản của học thuyết Ngũ hành, và ý nghĩa của chúng đối với sự phát triển yhọc cổ truyền của phương Đông

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Để đạt được mục đích trên, luận án triển khai thực hiện các nhiệm vụ nhưsau:

Một là, phân tích nguồn gốc và lịch sử hình thành của học thuyết Ngũ

hành và những nội dung cơ bản của học thuyết Ngũ hành;

Hai là, trình bày và phân tích việc vận dụng học thuyết Ngũ hành vào quá

trình giải thích các chức năng sinh lý của cơ thể con người theo Học thuyết Tạngtượng;

Ba là, phân tích, rút ra ý nghĩa của học thuyết Ngũ hành trong lịch sử

triết học và trong quá trình phát triển của y học cổ truyền phương Đông

3.3 Phạm vi nghiên cứu của luận án

Phạm vi nghiên cứu của luận án là nguồn gốc và nội dung cơ bản củathuyết Ngũ hành; sự vận dụng học thuyết Ngũ hành vào y học cổ truyền TrungQuốc và Việt Nam; không đi sâu nghiên cứu Ngũ hành với Thiên can, Địa chi,tức ngũ vận lục khí và những lĩnh vực khác

4 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

4.1 Cơ sở lý luận của luận án

Luận án được thực hiện dựa trên thế giới quan và phương pháp luậncủa Chủ nghĩa Mác - Lênin, nhất là những nguyên lý về lịch sử Triết học, vềphép biện chứng duy vật; đồng thời sử dụng lý luận Triết học phương Đông vềNgũ hành và lý luận y học cổ truyền phương Đông để hoàn thành mục tiêu vànhiệm vụ của luận án

4.2 Phương pháp nghiên cứu của luận án

Phương pháp luận chung

Vấn đề học thuyết Ngũ hành và sự ứng dụng nó trong y học cổ truyềnphương Đông được nghiên cứu theo phương pháp triết học lịch sử Các nguyêntắc phương pháp luận được quán triệt là quan điểm toàn diện, lịch sử - cụ thể

và phát triển Với phương pháp luận này cho phép nắm bắt và nhận thức cáckhái niệm, phạm trù của học thuyết Ngũ hành được trình bày tương đối toàn

6

Trang 7

diện, chuẩn xác, như nó vốn có; việc khai thác tài liệu, thông tin phải thực hiệnphân tích phê phán một cách biện chứng, thấy được sự thống nhất và khác biệtcủa luận đề mà các nhà triết học thời cổ đại Trung Quốc đặt ra và điều chỉnh,

bổ sung trong suốt quá trình phát triển của xã hội Trung Quốc; thấy được tínhkhông đồng nhất về giá trị của học thuyết đó trong những những lĩnh vực khácnhau

Các phương pháp cụ thể

Vấn đề nghiên cứu được tiếp cận và phân tích trên cơ sở phương pháp

lôgic và lịch sử kết hợp với phân tích và tổng hợp, khái quát hoá và hệ thống hoá để thấy được nguyên lý Ngũ hành và những vấn đề y học cổ truyền có liên

quan và mang tính độc lập tương đối trong sự phát triển, có lôgic nội tại vàđược hình thành, phát triển từ những điều kiện lịch sử nhất định của xã hộiTrung Quốc từ thời thượng cổ

Việc thu thập và xử lí thông tin được thực hiện thông qua phương pháp

nghiên cứu lí thuyết nhằm làm rõ một số khái niệm, phạm trù có liên quan và

nghiên cứu, khai thác tư liệu, văn bản; phương pháp so sánh cho thấy được sự

tương đồng và khác biệt khi trình bày sự biến đổi của Ngũ hành qua các thời

kỳ lịch sử; phương pháp thống kê số liệu thực tiễn từ 500 bệnh án góp phần

thực hiện những yêu cầu của nhiệm vụ luận án

5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Nội dung và bản chất của Học thuyết Ngũ hành được phân tích qua cácđặc điểm, sự biến hoá của năm hành chất và quy luật vận động của chúng;tương quan Ngũ hành với những biểu hiện của tạng tượng trong cơ thể sinh lýcon người

Kết quả nghiên cứu của luận án có nhiều ý nghĩa:

Ý nghĩa khoa học:

Luận án đưa đến một cách tiếp cận mới, một phương pháp nhận thứcmới về các nguyên lý của học thuyết Ngũ hành, về đặc điểm các hành chất cơbản của Ngũ hành trong triết học phương Đông biểu hiện ra các mặt tự nhiên,

xã hội và con người, nơi tạng tượng, nơi sinh lý cơ thể người Đem tới mộthiểu biết tương đối có hệ thống về mối quan hệ giữa một vấn đề triết học vớimột vấn đề thuộc về khoa học lý luận và thực hành y học cổ truyền phươngĐông trong lịch sử và hiện nay

7

Trang 8

Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảngdạy môn lịch sử triết học phương Đông, môn y đức và đặc biệt là việc chẩnđoán và hướng điều trị cũng như phòng bệnh, nâng cao sức khỏe con người

6 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI

Luận án hệ thống hoá và có luận giải mới về sự ra đời và phát triển, đặctrưng và nội dung của học thuyết Ngũ hành trong đời sống xã hội, trong y học

cổ truyền phương Đông; về những tư tưởng, quan niệm mà học thuyết kế thừathể hiện dưới các phạm trù, nguyên lý Ngũ hành; quan niệm về tạng tượng, cấutạo y sinh học cơ thể người; về sự tương quan giữa các yếu tố vật chất với cấutrúc cơ thể người

Luận án luận chứng tương đối đầy đủ về sự vận dụng sáng tạo họcthuyết Ngũ hành để phát triển tư duy triết học và phép dưỡng sinh, cuối cùng

là phương pháp chẩn đoán, điều trị theo y học cổ truyền theo nguyên lý Ngũhành, ở phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng Trên cơ sở đó, luận ánlàm sâu sắc hơn ý nghĩa của việc phòng bệnh, chữa bệnh nâng cao thể chất vàsức khỏe con người, góp phần kéo dài tuổi thọ một cách tích cực và cải tạogiống nòi

7 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN

Ngoài Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục (đóngriêng), luận án có 3 Chương, 10 tiết

Chương 1

NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH 1.1 NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH

Xuất phát từ điều kiện kinh tế, chính trị xã hội, văn hóa Trung Quốc cổđại đã hình thành và phát triển tư tưởng duy vật thô sơ với năm yếu tố KimMộc Thủy Hỏa Thổ và tính biện chứng sơ khai với các quy luật của học thuyếtNgũ hành

Tiến trình lịch sử Trung Quốc cổ đại đó bắt đầu từ thời Hạ,

Thương-Ân, Chu, Xuân thu – Chiến quốc, nhà Tần

Giai đoạn nhà Hạ (thời kỳ đồ đá): Vào khoảng gần cuối thiên niên kỷthứ ba tr.CN, ở Trung Quốc xuất hiện triều đại nhà Hạ, mở đầu cho chế độchiếm hữu nô lệ Trước đó, lịch sử Trung Quốc đã trải qua thời kỳ xã hộinguyên thủy với các truyền thuyết về thời thượng cổ như Bàn Cổ, Tam hoàng,Ngũ đế

Giai đoạn nhà Thương (thời kỳ đồ đồng): Khoảng nửa đầu thế kỷ XVIItr.CN, Thành Thang, vua một nước nhỏ (vốn thuộc Hạ) ở vùng hạ lưu sôngHoàng Hà, vì nhà Hạ vô đạo nên nhà Thương hội quân chư hầu đã lật đổ triềuvua cuối cùng của nhà Hạ, lập nên nhà Thương đặt đô tại đất Bạc (thuộc tỉnh

8

Trang 9

Hà Nam ngày nay) Đến thế kỷ XIV tr.CN vua tiếp theo của nhà Thương làBàn Canh đã dời đô đến đất Ân (thuộc thành phố An Dương tỉnh Hà Namngày nay) Vì thế, nhà Thương còn được gọi là nhà Ân.

Giai đoạn nhà Tây Chu (thời kỳ đồ sắt): Khoảng thế kỷ XI tr.CN, concủa vua Chu Văn Vương là Chu Vũ Vương đã nổi dậy diệt vua Trụ nhà ÂnThương lập ra nhà Chu, đóng đô ở Hạo Kinh (phía tây thành Tây An ngàynay) Lịch sử gọi là Tây Chu

Tư tưởng triết học Trung Quốc có mầm mống từ thời tiền sử, nhưng đếnthời Xuân thu – Chiến quốc mới thực sự trở thành một hệ thống Xuân thu –Chiến quốc, về niên đại, được xem là bắt đầu từ năm 770 và kết thúc vào năm

221 tr.CN Thời kỳ Đông Chu còn gọi là thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc (770 –

221 tr.CN), là giai đoạn giao thời giữa hình thái kinh tế - xã hội chiếm hữu nô

lệ suy tàn và hình thái kinh tế - xã hội phong kiến sơ kỳ Thời kỳ Xuân thu –Chiến quốc được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn Xuân thu và giai đoạnChiến quốc

Chính từ các điều kiện lịch sử, chính trị - xã hội, vũ trụ, nhân sinh, đạođức con người đã đặt ra như trên đã làm xuất hiện một loạt các nhà tư tưởng,các trường phái Nho, Lão, Mạc, Danh gia, trong đó có trường phái Âm dươnggia với học thuyết Ngũ hành đã góp phần xây dựng thế giới quan mới, đưa racách giải thích mới về xã hội, con người

1.2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH

Học thuyết Ngũ hành nguyên thủy có từ bao giờ? Nội dung xưa nhấtcủa nó là gì? Hai câu hỏi này có thể trả lời như sau:

Thời nguyên thủy: tư liệu tối cổ có ghi chép về Ngũ hành có lẽ là sách

Thượng Thư (hay Thư Kinh), nơi hai thiên: Cam thệ và Hồng phạm

Thời Xuân thu: Học thuyết Ngũ hành thời Xuân thu

Một là, Ngũ hành chỉ là năm loại vật chất thiết yếu trong sinh hoạt và

lao động của con người, như Hồng phạm đã viết Quan điểm này được lập lại trong Tả Truyện Hai là, khi có thuyết ngũ hành tương khắc rồi, tất nhiên có

thuyết ngũ hành tương sinh Nói chung, về thời đại của thuyết tương sinh,

phần đông học giả đều căn cứ thiên Thập Nhị Kỷ của sách Lã thị Xuân Thu và thiên Nguyệt lệnh của sách Lễ ký Ba là, vào thời Xuân thu, ngũ hành được kết

hợp thiên văn và lịch phổ để giải thích ảnh hưởng qua lại giữa thiên đạo và

nhân sự Bốn là, sự phối hợp giữa ngũ hành, tứ phương, tứ thời, ngũ âm, 12

tháng, 12 luật, thiên can, địa chi và các con số để tạo thành một hệ thống vũtrụ

Thời Chiến quốc và đời Tần Hán: Học thuyết Ngũ hành tiếp tục

phát triển ở thời Chiến Quốc (475 221 trước Công nguyên), đời Tần (221

-206 trước Công nguyên), đời Hán (-206 trước Công nguyên - 23);

9

Trang 10

Thời Hậu Hán: Sự phát triển học thuyết Ngũ hành ở các ngành đời

Hậu Hán thể hiện các ngành sấm vĩ học, Nhân tướng học, Mệnh lý học y học

mà đặc biệt là bộ Hoàng đế nội kinh.

Sự phát triển của học thuyết Ngũ hành ở các ngành đời Hậu Hán, đờiLưỡng Tấn (220 – 420), đời Tùy Đường (581-907), đời Tống (966-1127), đờiNguyên (1271-1362), đời Minh (1368-1644), đời Thanh (1616-1912) Mỗi đờiđều có các nhà mệnh lý học, các nhà y học, các nhà tư tưởng duy vật có liênquan đến tư tưởng duy vật của ngũ hành Kết cục các ngành ra đời được vậndụng trong cuộc sống thực tiễn của người dân

Kết luận chương 1

Từ những vấn đề trình bày trên, ta có thể rút ra kết luận chương 1 là: Họcthuyết Ngũ hành là học thuyết lớn, phát hiện sớm về triết học thời kỳ cổ đại Sựxuất hiện học thuyết Ngũ hành không phải là sự ngẫu nhiên, mà là sự xuất hiện do

sự phản ánh đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội từ thời cổ đại Trung Quóc Đặcđiểm lịch sử là sự biến chuyển của xã hội băng hoại, trật tự lễ nghĩa đảo lộn Sựxuất hiện của học thuyết Ngũ hành chỉ là nhu cầu giải thích thế giới mới xuất phát

từ sự bắt buộc khoa học ít ỏi của xã hội Trung Quốc cổ đại, của kinh nghiệm sảnxuất của người Trung Quốc cổ đại đã hình thành những yếu tố vật chất đầu tiên:Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ Cùng với sự phát triển lịch sử xã hội Trung Quốc cổđại, đặc biệt sự phát triển sản xuất và nhận thức, học thuyết Ngũ hành đã trải qua

một quá trình hình thành và phát triển bất đầu từ thiên Hồng phạm, thiên Cam thệ trong Thượng thư, Tả truyện, Lễ ký, Lã thị xuân thu, Xuân thu phồn lộ Sự hình

thành và phát triển học thuyết Ngũ hành khởi đầu từ thời cổ đại, trải qua các thời

kỳ Xuân thu – chiến quốc, thời kỳ Tần Hán và thời kỳ Hậu Hán, nổi bật các đờiTống Minh và người dân đã vận dụng vào nhiều ngành khác nhau trong cuộc sốngthực tiễn

Về y học, học thuyết Ngũ hành đã được các nhà y thuật Trung Quốcđều vận dụng qua các thời kỳ lịch sử Trung Quốc để lại nền triết học (tức là yhọc với lý luận Âm dương – Ngũ hành) một di sản đồ sộ nhiều tác phẩm khácnhau vẫn còn giá trị mãi theo thời gian cho đến ngày nay

Chương 2

NỘI DUNG CƠ BẢN VÀ NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH

2.1 Nội dung cơ bản của học thuyết Ngũ hành

2.1.1 Những yếu tố cơ bản tạo nên học thuyết Ngũ hành

Trước hết, cần có cái nhìn về ý nghĩa thuật ngữ “Ngũ hành”

“Ngũ hành khái niệm triết học Trung Quốc cổ đại chỉ năm yếu tố cơbản của vũ trụ, trên cơ sở năm vật thể thân cận nhất với con người, mộc (gỗ,cây, cối), hỏa (lửa), thổ (đất), kim (vàng, kim loại), thủy (nước).”

10

Trang 11

Ngũ hành là 5 biểu tượng, 5 giai đoạn, 5 vật chính, 5 khí, 5 đức, 5 trạngthái của sự vận động phát triển.

Hành Kim: có tính chất thô cứng, hình thành mùa thu, khô khan, có

gió, lá rụng, là phương Tây và màu trắng Hành này biểu hiện bên ngoài nhưnhững quá trình thu gom tích lũy, năng lượng, tiền bạc, tài năng, đức độ, sứcmạnh, khối lượng, vật chất… Trong thời đại ngày nay Kim là sự học tập khôngngừng Trong Phật học, Kim là “tinh tiến” Tất cả các vòng Ngũ hành đều bắtđầu từ tích Kim

Hành Thủy: có tính chất giá lạnh, tượng trưng cho nước, tạo nên mùa

đông, là phương Bắc, có màu đen Hành này biểu hiện bên ngoài như nhữngquá trình lan tỏa cái tinh túy thu góp mà giai đoạn Kim đã thực hiện được Nólặng lẽ, từ tốn, thấm sâu, thử sai và sửa chữa

Hành Mộc: tượng trưng cho thực vật, có tính sinh trưởng, hình thành

mùa Xuân, là phương Đông, với màu xanh Hành này là sự sáng tạo ra cái mới,hoặc là một mô hình, một đối tượng, một quần thể, một tổ chức…Tính chấtcủa Mộc vô cùng mạnh mẽ và cứng rắn, đôi khi cũng rất mềm dẻo và uyểnchuyển

Hành Hỏa: có tính chất nón, tượng trưng cho lửa, hình thành mùa hạ,

chủ phương Nam và màu đỏ Hành này có biểu hiện bên ngoài ở độ cao về sốlượng, mạnh về cường độ, ít sáng tạo, nhiều sao chép, thu nạp năng lượng từbên ngoài ít khắt khe Biểu hiện ào ào, mãnh liệt, biến đổi nhanh về lượng

Hành Thổ: là hành chính của Ngũ hành, giúp cho các hành và các mùa

biến chuyển, nên nó được coi là vị trí trọng tâm của bốn mùa, hành mạnh vàokhoảng giữa mùa hạ và mùa thu, màu vàng Hành này là quá trình lụi tàn củaHỏa, sự xuống dốc, suy kiệt Biểu hiện ra bên ngoài là nặng nề, chậm biến đổi,cam chịu, chấp nhận…

Năm hành ấy nối tiếp nhau, xoay vòng vô tận, không ngừng không nghỉ, lúc nhanh lúc chậm, lúc sinh lúc khắc

2.1.2 Những quy luật cơ bản của Ngũ hành

Trong học thuyết Ngũ hành, các hành chất không thụ động, tĩnh tạigiữa các hành chất mà chúng còn tác động lẫn nhau, đó là yếu tố biện chứngtrong học thuyết Ngũ hành bởi chữ “hành” có nghĩa là vận động Sự tương tácvận động của Ngũ hành được biểu hiện thành quy luật nhất định Có 7 quy luậttương tác vận động của Ngũ hành nhưng bắt đầu là 2 quy luật căn bản: Ngũhành tương sinh và Ngũ hành tương khắc Ngoài ra, do tính phong phú của vạn

11

Trang 12

vật trong vũ trụ và trong cuộc sống, quy luật Ngũ hành còn có quy luật khácnhư: Ngũ hành tương thừa, Ngũ hành tương vũ, Ngũ hành phản sinh, Ngũhành phản khắc, hỗn mang của Ngũ hành Sau đây, là sự trình bày các quy luậtcủa Ngũ hành.

QUY LUẬT NGŨ HÀNH TƯƠNG SINH “Tương” là quan hệ, tương tác, liên

hệ với nhau, tác động qua lại “Sinh” 生 có nghĩa là hàm ý nuôi dưỡng, giúp

đỡ, sinh ra, là sống, là dựa vào nhau mà tồn tại Tương sinh là quan hệ giúp đỡlẫn nhau, sinh ra, dựa vào nhau mà tồn tại Quy luật Ngũ hành tương sinh làquá trình các yếu tố của ngũ hành liên hệ, tác động, chuyển hóa, sinh thành lẫnnhau giữa các hành chất, tức Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kimsinh Thủy, Thủy sinh Mộc; khẳng định một điều là mọi vật trong tự nhiênkhông tự sinh ra và không tự mất đi, chúng được chuyển từ dạng này sangdạng khác Vì thế quy luật Ngũ hành đặc trưng cho sự chuyển hóa vật chấttrong vũ trụ Bằng trực quan, cổ nhân đã đúc kết quy luật tương sinh như sau:Nước (Thủy) là môi trường sinh ra sự sống (Mộc) Cây cối được sinh

từ nước (Thủy) tồn tại và phát triển tạo ra năng lượng (Hỏa) Đến lượt mìnhlửa (Hỏa) sẽ đốt cháy mọi thứ thành đất (Thổ) Trong đất có đá (Thạch – Kim)nên Thổ sinh Kim Kim loại nấu chảy thành chất lỏng (thủy), do đó Kim sinhThủy

QUY LUẬT NGŨ HÀNH TƯƠNG KHẮC Nếu mọi sự vật cứ tương sinh hoàithì các sự vật tăng trưởng mãi đến một lúc nào sẽ bị phá hủy Như vậy, mọi sựvật cần có sự kềm chế để tạo sự quân bình Đó là quy luật tương khắc tất yếutồn tại trong mọi sự vật

“Tương” là quan hệ, tác động qua lại

“Khắc” 克 có nghĩa là hàm ý ức chế, đối lập, bài xích, chế ước với nhau,ngăn trở [Còn gọi là “thắng”, đồng nghĩa với “khắc” 克 trong quy luật tươngkhắc]

Ngũ hành tương khắc (tương thắng) là quá trình các yếu tố của ngũhành chế ước, bài xích, khắc chế lẫn nhau; hay là sự bài xích, chế ước, triệttiêu lẫn nhau giữa các hành chất Trong đó Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim,Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy

Ngũ hành tương sinh, bên Ngũ hành tương khắc,

trong có lồng tương khắc bao vòng ngoài tương sinh

12

Ngày đăng: 07/11/2014, 17:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w