Vì thế, với những kết quả nghiên cứu về CTTT trên cứ liệu tiếng Anh, luận án muốn tìm hiểu về CTTT và vấn đề TĐ trong tiếng Việt trên nền tảng là câu dưới ảnh hưởng của những yếu tố ngôn
Trang 1Vì thế, với những kết quả nghiên cứu về CTTT trên cứ liệu tiếng Anh, luận án muốn tìm hiểu về CTTT và vấn đề TĐ trong tiếng Việt trên nền tảng là câu dưới ảnh hưởng của những yếu tố ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp, đối sánh với tiếng Anh
0.2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án là tìm hiểu mối quan hệ giữa CTTT, sự phân bố
TĐ và CTTĐ với hình thức cú pháp của câu, khảo sát CTTĐ của câu ở dạng điển thể và biến thể dưới tác động của các yếu tố ngôn ngữ như ngữ pháp, ngữ âm, từ vựng-ngữ nghĩa
0.3 Đối tượng nghiên cứu
Trọng tâm nghiên cứu của luận án là nhận diện, miêu tả và phân tích các
kiểu CTTĐ trong một số loại câu có những tổ chức cú pháp và cơ cấu
thông tin khác nhau, cũng như sự biến đổi về trạng thái, tính chất và qui
mô TĐ do những tác động của các phương tiện ngôn ngữ khác nhau
trong tiếng Việt và tiếng Anh
0.4 Phạm vi nghiên cứu
a) Dựa trên những tiền đề lý thuyết về CTTT nói chung và mô hình các
kiểu CTTĐ của K.Lambrecth 1994, luận án khảo sát cơ cấu thông tin trong câu tiếng Việt ở những kiểu câu đơn, đồng thời quan sát sự biến đổi về tính chất TĐ và qui mô CTTĐ trong một số biến thể cú pháp tình
Trang 2thái như (i) câu có trật tự từ đảo, (ii) câu có cấu trúc Đề-Thuyết với Đề tương phản, (iii) câu có các vế triển khai dưới ảnh hưởng và tác động của các yếu tố ngôn ngữ có sự tham gia của các yếu tố khác ngoài ngôn ngữ
b) Khi so sánh, luận án chú ý thích đáng đến loại hình ngôn ngữ của
tiếng Việt và tiếng Anh làm cơ sở để chỉ ra những tương đồng, dị biệt của những phương tiện ngôn ngữ trong vai trò chỉ xuất và đánh dấu TĐ, cũng như chỉ ra những sự chênh biệt tất yếu về cấu trúc cú pháp, cơ cấu
từ vựng, qui mô CTTĐ và những phương tiện thay thế khi thực hiện đối dịch giữa hai ngôn ngữ này
0.5 Lịch sử vấn đề
Ở thời kỳ sơ khởi, CTTT được đề cập qua lý thuyết Phân đoạn thực tại
câu của V Mathesius (1929) - trường phái Prague - và các học trò của
ông, với những khái niệm cái đã biết (known) và cái chưa biết (unknown), cái chưa biết là hạt nhân/tiêu điểm (nuclear/focus ứng với
hai thành phần chức năng Chủ Đề (Theme) và Thuật Đề (Rheme) của
câu M.A.K.Halliday 1967 dựa trên cơ sở quan điểm chức năng của
trường phái Prague tiếp tục nghiên cứu về CTTT Từ đó đến nay, CTTT
đã được tiếp cận từ nhiều bình diện ngôn ngữ khác nhau, từ ngữ âm, ngữ pháp, đến từ vựng- ngữ nghĩa, v.v trong mối quan hệ với nhiều yếu tố ngoài ngôn ngữ như ngữ cảnh, tiền giả định, kiến thức nền, tâm lý, văn hóa …, hình thành nên một hệ thống các khái niệm với nhiều cách lý
giải khác nhau, ví dụ: Tiền giả định-Tiêu điểm (Presupposition-Focus), Chủ đề-Tiêu điểm (Topic-Focus), Tiền đề-Tiêu điểm (background- Focus), v.v, trong đó TĐ là trọng tâm nghiên cứu
Nghiên cứu về CTTĐ là sự nghiên cứu về cách thức tổ chức và phân bố TĐ trong câu trong những ngữ cảnh giao tiếp khác nhau Bên cạnh việc xây dựng một bộ máy khái niệm dựa vào sự lưỡng phân đơn
vị thông tin trong CTTT, các nhà ngôn ngữ học còn quan tâm đến sự
biến thiên về độ lớn, kích cỡ của TĐ và lấy đó làm tiêu chí xác định qui
mô và kiểu loại CTTĐ
Trang 3K.Lambrecht 1994 đã mô hình hóa CTTĐ bằng các kiểu cấu trúc
khác nhau dựa vào nhiệm vụ giao tiếp và qui mô thông tin TĐ Các kiểu
cấu trúc TĐ của Lambrecht là cơ sở lý thuyết để luận án áp dụng khảo
sát và đối sánh CTTĐ giữa tiếng Việt và tiếng Anh
0.6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
0.6.1 Phương pháp nghiên cứu
a) Cách tiếp cận của luận án dựa vào hai phương pháp chính:
- Phương pháp phân tích ngữ cảnh: bao gồm ngữ cảnh hẹp có sự tương
tác giữa thông tin và các yếu tố ngôn ngữ và ngữ cảnh rộng liên quan đến tình huống bên ngoài
- Phương pháp so sánh-đối chiếu: dựa vào các yếu tố hình thức cùng cấp
độ ngữ cảnh và những đặc trưng loại hình ngôn ngữ để tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt về hình thức biểu hiện và nội dung ngữ nghĩa, đặc biệt là nội dung tình thái
b) Sau mỗi phân tích ngữ liệu, những kết luận sơ bộ được đưa ra và
được mô hình hóa bằng những sơ đồ, bảng biểu Sau một loạt phân tích
sẽ đi đến tổng kết cho một mô hình chung nhất
0.6.2 Nguồn ngữ liệu
Ngữ liệu được sưu tập từ các nguồn ngôn ngữ trong hành chức, bao gồm: lời nói trong sinh hoạt hàng ngày; trích dẫn từ các tác phẩm văn học, các loại từ điển, các tài liệu khảo cứu, tiếng Việt, tiếng Anh Tất cả các dẫn chứng được luận án đánh số theo từng chương và có dẫn nguồn
cụ thể
0.7 Ý nghĩa khoa học của đề tài
0.7.1 Ý nghĩa khoa học
Về mặt lý thuyết, luận án bước đầu xác lập được một đối tượng nghiên
cứu mới cho bộ môn Dụng học Việt ngữ - nghiên cứu về CTTT và TĐ thông tin, đối tượng vốn còn tương đối xa lạ với nhiều người Luận án một mặt khẳng định được tính chất phổ niệm về CTTĐ thông tin từ một
số tiền đề lý thuyết mà các nhà ngôn ngữ học châu Âu đã xác lập, mặt khác cũng đã chỉ ra được tính chất đặc thù của tiếng Việt
Trang 40.7.2 Ý nghĩa thực tiễn
CTTT vốn thuộc lĩnh vực ngữ nghĩa - ngữ dụng nên việc nghiên cứu vấn
đề này rất hữu ích trong thực tế giảng dạy và học tiếng Việt cũng như tiếng Anh; cho những người công tác trong lĩnh vực báo chí, truyền thông và dịch thuật
0.8 Bố cục luận án
Ngoài phần Dẫn luận, Kết luận, và 5 Phụ lục, phần chính văn của luận
án có tất cả 4 chương: Chương 1 : Tổng quan về cấu trúc thông tin, tiêu điểm và cấu trúc tiêu điểm; Chương 2 và 3: Cấu trúc tiêu điểm và ngữ pháp, ngữ âm, từ vựng-ngữ nghĩa trong việc chỉ xuất, đánh dấu tiêu điểm trong câu tiếng Việt và tiếng Anh; Chương 4: So sánh cấu trúc tiêu điểm dưới tác động của ngữ pháp, ngữ âm, từ vựng-ngữ nghĩa trong câu tiếng Việt và tiếng Anh
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC THÔNG TIN, TIÊU ĐIỂM VÀ CẤU TRÚC TIÊU ĐIỂM
1.1 Cấu trúc thông tin, các thành tố của đơn vị thông tin và những yếu tố tác động đến tình trạng thông tin
1.1.1 CTTT là sự mã hóa các bộ phận cú pháp của câu thành những
thành tố thông tin theo một tổ chức nhất định dùng trong những bối cảnh
giao tiếp cụ thể
1.1.2 Thông tin cũ- thông tin mới là hai thành tố tạo nên một đơn vị
thông tin liên hệ với nhau theo một tổ chức nhất định tạo nên CTTT Theo cách hiểu truyền thống, thông tin cũ (TTC) là điều người nói và người nghe cùng biết do sự hiện hữu của đối tượng hoặc được tri nhận thông qua ngữ cảnh, hoặc đã được đề cập đến trong ngôn cảnh-văn cảnh; thông tin mới (TTM) là điều mà người nói cho là người nghe chưa biết, hoặc là không khôi phục lại được từ ngữ cảnh Trật tự kinh điển trong một đơn vị thông tin là: TTC đứng trước, TTM đứng sau, với TTM là
Trang 5TĐ thông báo Trật tự cũ-mới này thường được cho là trùng hợp với trật
tự của cấu trúc chức năng Đề-Thuyết của câu
1.1.3 Ngữ cảnh, tiền giả định, kiến thức nền và tình trạng thông tin
Tình trạng cũ, mới của thông tin chịu ảnh hưởng rất lớn từ ngữ cảnh,
tiền giả định (TGĐ), kiến thức nền và tâm lý người giao tiếp Do đó tính chất cũ, mới của thông tin chỉ mang tính tương đối Cần phân biệt tính chất cũ, mới của thông tin (i) trong bản thân diễn ngôn (từ phía người
nói) và (ii) trong sự tương tác giữa thông tin với sự hiểu biết chung và
tâm lý người nghe Người nói có thể ấn định thông tin cũ và mới, nhưng
trong ngữ cảnh cụ thể, việc xử lý thông tin lại tùy thuộc người nghe Hiện tượng tâm lý này làm xuất hiện một lớp thông tin phái sinh, trong
đó câu hoặc chỉ còn toàn TTM, ranh giới cũ-mới bị triệt tiêu; hoặc nảy sinh một lớp thông tin mang tính luận suy gọi là thông tin hàm ẩn
Rõ ràng, nhiều khi cái mới là cả một câu, ranh giới cũ-mới không
phải lúc nào cũng trùng với ranh giới Đề-Thuyết
1.2 Vấn đề tiêu điểm thông tin
1.2.1 Tiêu điểm
Bất kể thông tin nào dù là mới hay cũ, nếu quan trọng thì đều mang tính
TĐ, một khi mang tính TĐ thì thông tin đó được coi là mới
TĐ là yếu tố được nêu bật lên bằng một hay vài phương thức ngôn ngữ nhất định, đối lập nó với những yếu tố có thể thay thế nó trên trục đối vị trong biểu thức ngôn ngữ đang dùng, trong một ngữ cảnh giao tiếp
cụ thể TĐ có thể là một yếu tố đơn lẻ, có thể là một ngữ đoạn, một cú đoạn, hay rộng hơn, có thể là cả một câu TĐ có thể xác định qua con đường hỏi-đáp hoặc qua phân đoạn thực tại của câu dựa vào ngữ cảnh giao tiếp hay văn cảnh trong diễn ngôn
1.2.2 Các loại tiêu điểm: tiêu điểm thông tin mới và tiêu điểm tương phản
Căn cứ vào tính chất và mục đích thông báo, TĐ có thể lược qui về hai loại: Tiêu điểm thông tin mới (TĐTTM) và Tiêu điểm tương phản (TĐTP) TĐTTM mang thông báo mới nằm trên phần TTM; TĐTP là
Trang 6thông tin có tính đối lập tương phản với một yếu tố khác trong văn bản,
hay ở đâu đó ngoài văn bản, được nêu bật lên bằng một phương thức
ngôn ngữ nhất định TĐTP có thể nằm trên bất kỳ phần nào của câu, trên
TTC cũng như trên TTM TĐTTM có thể mang cả TĐTP
1.3 Cấu trúc tiêu điểm thông tin
1.3.1 Các kiểu CTTĐ của K.Lambrecht và hệ thuật ngữ
Dựa trên tiêu chí qui mô của vùng TĐ gắn với chức năng giao tiếp cụ
thể, K.Lambrecht 1994 đã đề xuất ba kiểu CTTĐ: (i) Vị ngữ-tiêu điểm
(Predicate focus) dùng thuyết minh chủ đề; (ii) Câu-tiêu điểm (Sentence
focus) mô tả sự kiện hay qui chiếu diễn ngôn mới; và (iii) Tham tố-tiêu
điểm (Argument focus) xác định rõ đối tượng qui chiếu Hai kiểu cấu
trúc đầu thuộc loại CTTĐ rộng, còn kiểu Tham tố-Tiêu điểm (TTTĐ)
thuộc loại CTTĐ hẹp và luận án đề nghị thay dùng bằng thuật ngữ Tiêu
điểm bộ phận (TĐBP) cho phù hợp với đối tượng khảo sát
Thông tin TĐ nằm trong vùng TĐ Mỗi vùng TĐ được giới hạn
trong một vùng cú pháp nhất định của câu trong đó gồm thành tố TĐ
thực và những đơn vị có quan hệ ngữ pháp với nó Trong mỗi kiểu cấu
trúc, sự phân bố TĐ rất khác nhau
Bảng 1.1: Sơ đồ phân bố TĐ của Lambrecht trong các kiểu CTTĐ
1.3.2 Quan điểm của luận án
Luận án đề nghị thay thuật ngữ Tham tố-tiêu điểm bằng thuật ngữ Tiêu
điểm bộ phận (TĐBP) để tiện cho việc mô tả: (i) làm rõ tính đối lập giữa
TĐ rộng và TĐ hẹp, giữa TĐ tập hợp và TĐ bộ phận; (ii) để mở rộng
đối tượng khảo sát đến TĐ mang tính chất nhấn mạnh, tương phản,
chẳng hạn như TĐTP “hôm nay” trong ví dụ: “Hôm qua là 2-9 – Đâu
có, hôm nay mới là 2-9”; (iii) và sự chuyển vị lâm thời TĐ sang phụ từ,
Trang 7hư từ khi chúng mang trọng âm tương phản hoặc gánh nặng thông tin
tình thái, như từ “vẫn” trong ví dụ: “Cậu vẫn còn học à? – Vẫn đâu mà
vẫn” Trong khi đó K.Lambrecht lại gạt bỏ những hiện tượng này ra
khỏi khảo sát, hoặc do ông không xét tới hiện tượng này trong cấu trúc
câu, hoặc do ông quan niệm đây là “hàm ý hội thoại” thể hiện ở hoạt
biến trọng âm
1.4 Về CTTĐ trong câu đơn tiếng Việt
Trong mục này, luận án khảo sát các kiểu CTTĐ trong khuôn khổ câu đơn của tiếng Việt trên hai phương diện: cơ cấu thông tin trong CTTĐ
và vấn đề trọng âm trong ngôn bản có hình thức là câu đơn Mỗi kiểu CTTĐ ngoài sự khác biệt về cơ cấu thông tin, còn có sự tác động của trọng âm TĐ Trong ba kiểu cấu trúc, vai trò của trọng âm trong cấu trúc TĐBP có phần rõ ràng hơn cả do phạm vi cấu trúc nhỏ gọn, khó xảy ra hiện tượng chuyển vị như ở hai kiểu cấu trúc CâuTĐ và VnTĐ Dưới
đây là mô hình các kiểu CTTĐ cơ bản trong tiếng Việt (LA: bảng 1.3, 1.4, 1.5), những từ gạch dưới là những yếu tố mang trọng âm TĐ:
Cô ấy trông thế nào? Cô ấy rất xinh đẹp
Cô ấy Tao
rất xinh đẹp
cấm mày đến đó
Sao thế? Cái xe của tôi bị hỏng
Cái xe của tôi Nhà sạch
Trang 81.5 Việc đánh dấu TĐ và CTTĐ
Việc đánh dấu TĐ trong câu tạo nên thế đối lập giữa trạng thái tĩnh và động của thông tin, mang đến một ý nghĩa ngữ dụng nào đó cho phát ngôn Khi được đánh dấu, tính chất và qui mô của TĐ sẽ có sự thay đổi: một TĐTTM, nếu có đánh dấu, nó sẽ vừa mang tính chất của TĐTTM,
vừa mang cả đặc tính của TĐTP, hoặc sẽ trở thành TĐTP; TTC khi
được đánh dấu đều mang TĐTP Với hai TĐ trên hai vế, qui mô CTTĐ
của câu sẽ là CâuTĐ
Phương tiện dùng để đánh dấu TĐ bao gồm: (i) ngôn điệu (ngữ điệu và trọng âm cường điệu), (ii) cú pháp (trật tự từ, cấu trúc Đề- Thuyết có Đề tương phản, cấu trúc triển khai, …), và (iii) từ ngữ tình
thái
CHƯƠNG 2 CẤU TRÚC TIÊU ĐIỂM VÀ NGỮ PHÁP, NGỮ ÂM,
TỪ VỰNG - NGỮ NGHĨA TRONG VIỆC CHỈ XUẤT,
ĐÁNH DẤU TIÊU ĐIỂM TRONG CÂU TIẾNG VIỆT
2.1 CTTĐ trong một số biến thể cú pháp tiếng Việt
2.1.1 CTTT và hình thức câu
Hình thức ngữ pháp của câu được coi là phương tiện để định vị thông tin cũng như là cơ sở hiển minh hóa TĐ thông tin và CTTĐ Tùy từng hoàn cảnh và tâm thế người giao tiếp sẽ có những cơ cấu cú pháp thích hợp được lựa chọn
Về quan hệ giữa hình thức câu và CTTT, Lambrecht 1994 xác
định: “Cấu trúc thông tin là bộ phận cấu thành của ngữ pháp câu Ở
đó, các mệnh đề biểu thị các sự tình được kết đôi với các cấu trúc từ vựng ngữ pháp, thể hiện các trạng thái tâm lý của những người đối thoại - những người sử dụng và thể hiện những cấu trúc này như những đơn vị thông tin, trong những ngữ cảnh diễn ngôn nhất định”
[Lambrecht, 1994:5]
Để tìm hiểu mối quan hệ và tác động của cú pháp đến CTTT, luận
án đã khảo sát CTTĐ trong một số kết cấu cú pháp tình thái điển hình
Trang 9của tiếng Việt như (i) câu có trật tự từ ngữ đảo; (ii) câu có quan hệ Thuyết có Đề tương phản (Đề TP) và (ii) các cấu trúc triển khai
2.1.2 CTTĐ trong câu có trật tự từ đảo và câu có cấu trúc
Đề-Thuyết với Đề tương phản
2.1.2.1 CTTĐ trong câu có trật tự từ đảo
Bất cứ sự thay đổi trật tự nào của các thành phần cú pháp câu cũng dẫn đến sự thay đổi một khía cạnh tình thái nào đó của nội dung thông báo, khiến cho tính chất và qui mô của CTTĐ có những thay đổi nhất định
Chẳng hạn, trong tiếng Việt, trật tự đảo Vị ngữ-Chủ ngữ (V-C)/
Thuyết-Đề (T-Đ) điển hình như: “Chết mất ba con gà; Đẹp biết bao những lời
chân thực ấy” không làm thay đổi ý nghĩa cũng như thành phần câu nhưng màu sắc tình thái đã không còn như cũ
Khi đảo vị, các thành phần cú pháp được đánh dấu bất thường, đều mang TĐTP Với hai TĐ trên hai vế, câu sẽ có cấu trúc CâuTĐ
2.1.2.2 CTTĐ ở câu Đề-Thuyết với Đề tương phản trong tiếng Việt
Trong cấu trúc Đề-Thuyết, khi Đề được đánh dấu, nó mang TĐTP trở thành Đề TP Đề TP liên quan đến trật tự từ đảo là Bổ đề và Trạng Đề Câu có Đề TP luôn luôn có cấu trúc CâuTĐ
a) Bổ đề TP là loại Đề được đánh dấu do bổ tố của vị từ hay giới từ (xét
theo quan hệ nghĩa sâu) được đưa lên đầu câu, vị trí được coi là đánh dấu đối với bộ phận này Với hai TĐ trên hai vế Đề và Thuyết, loại câu
này luôn có cấu trúc câuTĐ Ví dụ: “Thư tôi đã viết/ Nhà bà ấy có hàng
dãy ở khắp các phố”
b) Trạng đề TP được giới hạn xét trong luận án bao gồm:
- Khung đề trong câu có trật tự Đ-T cố định, mang tính đặc thù của tiếng
Việt, kiểu: “Mai tôi đi”; Ở đây mát lắm; Cá quả mà nấu với khế thì rất
ngon; Ghét của nào trời trao của ấy,…”
- Khung đề được tạo thành từ một số Trạng ngữ có khả năng đảo vị,
như: “Chúng tôi đi được một đoạn đường dài trong ba ngày; Trong ba
ngày, chúng tôi đi được một đoạn đường dài”;
Trang 10- Khung đề làm thành từ những ngữ đoạn, cú đoạn Trạng ngữ điều kiện, thời gian, địa điểm, cách thức, nhượng bộ,… Ví dụ: “Làm người, ta phải biết phân biệt đúng sai; Khi nào nó đến anh nhớ bảo tôi” …
Những ngữ đoạn, cú đoạn Trạng ngữ có trật tự linh hoạt khi được đưa lên đầu câu hay xuống cuối câu, tuy không làm nghĩa cơ bản của câu thay đổi nhưng đều khiến cơ cấu thông tin ngữ dụng (TTC-TTM/ TGĐ-TĐ) thay đổi
2.1.3 CTTĐ ở câu có cấu trúc triển khai trong tiếng Việt
Triển khai là việc phát triển cấu trúc về hướng bên phải hay bên trái của câu Biểu thức triển khai có tác dụng khoanh vùng xác định cho một bộ phận cụ thể của câu với mục đích nhấn mạnh hay tạo thế đối lập cho bộ phận này Nếu phần chứa bộ phận được triển khai trên phần Đề, thì đó là
triển khai trái, có tác dụng TĐ hóa thông tin trên phần Đề và làm cho
Đề đó trở thành Đề TP Nếu phần được triển khai đứng sau vị từ, trên
phần Thuyết, thì đó là triển khai phải, có tác dụng đánh dấu khu biệt,
làm tăng tính tương phản cho TĐTTM Câu có triển khai phần Đề luôn
có cấu trúc câuTĐ do có hai TĐ trên cả Đề và Thuyết
Phần triển khai có thể là một (i) ngữ đoạn hay một cú đoạn định
ngữ, ví dụ “Điều anh lo sợ là hai đứa con anh rất quí cu Linh”; (ii) cấu trúc có các chỉ tố hồi chỉ, ví dụ:“Một người vừa vào Đấy là một người
trạc 50 tuổi”; hoặc (iii) những bậc đề-thuyết con, vốn rất đặc trưng trong
khẩu ngữ tiếng Việt, ví dụ (dấu // , / và ( ) dùng để phân đoạn các bậc
Đ-T và đ-t: “Tôi // (thì) dạo này ( ) con cái đi làm cả / phải thổi cơm lấy
2.2.1 Trọng âm có cả chức năng ngữ pháp và ngữ dụng Trọng âm ngữ
dụng là loại trọng âm cường điệu (hay trọng âm logic, trọng âm TĐ)
Trang 11Trọng âm cường điệu mang tính chất tâm lý, chủ quan của người nói nên
có tính tự do, đối lập với loại trọng âm khách quan, ổn định (trọng âm ngữ đoạn, trọng âm câu) vốn có tính ngôn luật của ngữ pháp-ngữ âm học Trong câu, trọng âm cường điệu có thể trùng hợp với trọng âm ngữ đoạn hay trọng âm câu Yếu tố nào mang TĐTTM đồng thời là TĐTP thường cùng một lúc nhận ba loại trọng âm này
Những thành tố nào nhận trọng âm cường điệu luôn mang TĐTP Trọng âm cường điệu có tính hoạt biến, báo hiệu sự thay đổi TĐ, kéo theo sự thay đổi nhất định về ý nghĩa thông báo Nếu việc đánh dấu TĐ được thực hiện chỉ duy nhất bằng phương tiện trọng âm thì CTTĐ hầu như không có sự thay đổi nào về qui mô (rộng, hẹp)
2.2.2 Ngữ điệu luôn đi kèm với trọng âm, vừa có chức năng ngữ pháp
vừa có chức năng ngữ dụng
Chức năng ngữ dụng của ngữ điệu-trọng âm là (i) đóng gói thông tin
(bằng cách nhóm thông tin thành khúc đoạn khác nhau), ví dụ: “…//Tôi
cũng sợ /người ta nói ra / nói vào chứ.// Mình nói một,/ người ta nói
hai,/ nói ba//” ; (ii) TĐ hóa thông tin (bằng trọng âm cường điệu), ví
dụ: “Hôm nay mẹ mua áo cho Minh (Chứ không phải Nam)/ Hôm nay
mẹ mua áo cho Minh (Chứ không phải cặp sách)”; (iii) cung cấp thông
tin hàm ẩn bằng ngữ điệu tình thái đặc biệt với sự kết hợp của trọng âm
cường điệu và nét điệu đay, thông tin có thể được giải mã theo chiều tích cực hoặc tiêu cực tùy vào ngữ cảnh thái độ và cử chỉ của người nói, ví
dụ: “ Cái này mà tám mươi ngàn đồng” (CâuTĐ)
Hiện tượng chuyển vị trọng âm được gọi là việc “nhấn mạnh mặc định do hoạt biến diễn ngôn”, xảy ra khi trọng âm không rơi vào thành tố
TĐ mà lại rơi vào những yếu tố khác bên ngoài TĐ Sự chuyển vị trọng
âm sang những yếu tố phụ bên cạnh TĐ cũng là một hình thức báo hiệu
TĐ, đồng thời liên quan đến ý nghĩa ngữ dụng nhất thời, không ảnh
hưởng đến yếu tố TĐ, ví dụ: “Vẫn còn học à? Vẫn (học) đâu mà vẫn
(học)”
Hiện tượng nhấn giọng và đay giọng ở những tiểu từ tình thái dứt
câu hoàn toàn độc lập với trọng âm TĐ Trọng âm TĐ vẫn rơi vào các
Trang 12yếu tố thực từ, còn việc đay giọng (i) là sự hiện thực hóa ngữ điệu biểu thị tính tình thái của phát ngôn, phản ánh khía cạnh tình cảm của người nói, và (ii) là kết quả của qui luật năng lượng âm thanh dồn cuối: sự dồn
âm thanh khởi phát từ thành tố TĐ lan ra và tăng cường ở cuối câu
2.3 Vai trò của từ vựng-ngữ nghĩa trong chỉ xuất và đánh dấu TĐ trong câu tiếng Việt
2.3.1 Về việc đánh dấu TĐ bằng từ ngữ tình thái trong tiếng Việt
Từ ngữ tình thái (TNTT) đóng vai trò phụ tố ngữ pháp và kiến tạo nghĩa ngữ dụng, có tác dụng nhấn mạnh, xác lập tính chủ đích của người nói hướng đến bộ phận cụ thể của câu, tạo ra thế tương phản giữa các yếu tố thông tin, định hướng thông tin cho người nghe TNTT chia ra hai nhóm đánh dấu TĐ: nhóm đánh dấu TĐ đơn và nhóm đánh dấu TĐ phức
2.3.2 Các đơn vị từ ngữ tình thái đánh dấu TĐ đơn
Nhóm TNTT đánh dấu TĐ đơn, với số lượng tạm thống kê vào khoảng
gần 90 đơn vị, bao gồm các tiểu từ, trợ từ tình thái đi một mình, như rất,
cả, còn, cũng, vẫn, cứ, chỉ, … hoặc một nhóm từ kế tiếp nhau, như cũng vẫn, cũng vẫn cứ, … Các đơn vị từ ngữ này có thể kết hợp với nhiều từ
loại khác nhau như danh từ, đại từ, động từ, tính từ Do, tầm ảnh hưởng của của các TNTT đối với những yếu tố từ ngữ đứng xung quanh chúng không giống nhau, do đó qui mô CTTĐ của câu cũng không giống nhau: nếu TNTT có ảnh hưởng rộng (tới cả bộ phận đứng trước lẫn đứng sau
nó), câu sẽ có cấu trúc CâuTĐ, ví dụ: “Một thằng cũng dạy (CâuTĐ)”;
nếu TNTT có tầm ảnh hưởng hẹp (chỉ tác động tới thành tố mà nói đi
kèm), thì CTTĐ của câu sẽ là VnTĐ hoặc TĐBP, ví dụ: “Em rất đẹp
(VnTĐ/TĐBP)
2.3.3 Các đơn vị từ ngữ tình thái đánh dấu TĐ phức
Đó là nhóm TNTT đi cặp đôi hoặc cặp ba (chỉ-mới, lẫn, ngay cũng; đến- cũng; cả-cũng; cả-đều; đến-còn, có-thì-mới,…) Những đơn
cả-vị này có tác dụng đánh dấu song song các yếu tố trong nội bộ một ngữ; giữa ngữ đoạn với ngữ đoạn; hoặc giữa cú đoạn với cú đoạn Trong các câu có TNTT phức, TĐ dù nằm ở phần nào của câu cũng đều mang