Cấu tạo chung của kết cấu áo đường: Sơ đồ phân bố các tầng lớp áo đường từ trên xuống Lớp bảo vệ Việc tính toán để đưa đến thiết kế một kết cấu áo đường là tính toán về mặt cường độ để
Trang 1-š&› -
ngô quý đức
Nghiên cứu sử dụng kết cấu mặt đường
Hợp lý cho khu vực điện biên
Chuyên nghành : Xây dựng đường ô tô và đường thành phố Mã số : 60.58.30
Phần Phụ lục Luận án thạc sỹ khoa học kỹ thuật
Người hướng dẫn khoa học:
Ts Lã văn chăm
Hà nội - 2007
Trang 2Lời cảm ơn
Sau một thời gian được học tập và nghiên cứu tại
Trường Đại Học Giao Thông Vận Tải Hà Nội đến nay
em đã hoàn thành chương trình đào tạo thạc sỹ khoa học
kỹ thuật chuyên nghành Xây dựng Đường ôtô và Đường
thành phố khoá 12 Nhân dịp này cho phép em được gửi
đến lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo trong Ban
giám hiệu, các thầy cô trong bộ môn, các khoa và các
phòng ban khác đã tạo điều kiện và giúp đỡ em trong suốt
quá trình học tập tại trường Đặc biệt, em xin gửi lời cám
ơn chân thành và sâu sắc đến thầy TS Lã Văn Chăm đã
trực tiếp tận tình hướng dẫn và chỉ bảo để em hoàn thành
được đề tài này
Một lần nữa em xin cám ơn và kính chúc các thầy cô
luôn luôn dồi dào sức khoẻ và hạnh phúc!
Hà Nội, ngày 6 tháng 11 năm 2007
Học viên
Ngô Quý Đức
Trang 3Mở đầu
1 Đặt vấn đề nghiên cứu:
Điện Biên là một tỉnh miền núi vùng cao biên giới phía Bắc nước ta, với
địa hình miền núi cao như vậy nên có khá nhiều nguồn vật liệu tự nhiên khai
thác được như cát, đá sỏi, cấp phối thiên nhiên và gần đây là nguồn xi măng ở
địa phương đã đưa vào khai thác sử dụng
Để phát huy tiềm năng thế mạnh của Điện Biên, đẩy nhanh tốc độ tăng
trưởng của nền kinh tế trong tỉnh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì
vấn đề đặt ra là phải phát triển nhanh cơ sở hạ tầng của nền kinh tế trong đó
giao thông vận tải đóng vai trò cực kỳ quan trọng Phát triển giao thông vận tải
là xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật tạo tiền đề, động lực cho các
ngành kinh tế khác phát triển, nâng cao lợi thế cạnh tranh của hàng hoá trên
thị trường
Tuy nhiên, chi phí để xây dựng công trình giao thông rất lớn, trong đó
chi phí về vật liệu chiếm một tỉ trọng cao trong toàn bộ giá thành xây dựng
Hiện nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật rất mạnh mẽ trong
nhiều lĩnh vực thì vật liệu xây dựng là một định hướng có tính chiến lược
trong sự vận dụng tối đa nguyên vật liệu tại chỗ, lựa chọn kết cấu mặt đường
phù hợp với điều kiện sử dụng của địa phương
Để tiết kiệm nguồn vốn ngân sách, nâng cao hiệu quả vốn đầu tư trong
xây dựng đường thì vấn đề đặt ra là phải tiến hành nghiên cứu, xác định và lựa
chọn kết cấu mặt đường với chiều dày hợp lý để tận dụng được vật liệu địa
phương và phù hợp với điều kiện tự nhiên thì việc ra đời “Nghiên cứu sử
dụng kết cấu mặt đường hợp lý cho khu vực Điện Biên” nhằm đáp ứng
được các yêu cầu trên Đồng thời cũng trong khuôn khổ của đề tài, tác giả
mạnh dạn đề xuất bộ Catalo áo đường cho Điện Biên
2 Nội dung nghiên cứu:
a Tổng quan về các phương pháp thiết kế mặt đường ô tô hiện tại ở trong nước
và nước ngoài
b Nghiên cứu hiện trạng hệ thống đường giao thông của tỉnh Điện Biên bao
gồm: Phân loại đường giao thông trong tỉnh; Nghiên cứu đánh giá chất lượng
Trang 4đường; Xác định các nguyên nhân gây hư hỏng kết cấu mặt đường
c Một số đặc trưng về các thông số tính toán kết cấu áo đường ở khu vực Điện Biên
d Tính toán kết cấu áo đường cho đường giao thông của Điện Biên, xây dựng
Catalo kết cấu áo đường phù hợp và phạm vi sử dụng
e Nhận xét và kiến nghị
3 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết kết hợp với điều tra, thu thập số liệu,
tham khảo tài liệu của các cơ quan liên quan đến chuyên nghành Từ đó, tác
giả tính toán theo các quy trình hiện hành để có được kết luận theo mục tiêu,
nội dung nghiên cứu
4 Mục tiêu cần đạt được của đề tài:
a Đưa ra được một số kết cấu mặt đường định hình, ứng dụng cho các loại
đường trong tỉnh tuỳ thuộc vào cấp hạng đất nền, cấp hạng tải trọng và cấp
hạng đường
b Góp phần làm sáng tỏ những cơ sở khoa học thuộc lĩnh vực chuyên nghành
đường ô tô khi áp dụng vào tỉnh Điện Biên
c Góp phần hướng dẫn và định hướng cho các công ty tư vấn, cơ quan phê
duyệt cũng như các đơn vị duy tu, bảo dưỡng trong Tỉnh dễ dàng trong việc sử
dụng, quản lý hợp lý nhất hệ thống giao thông đường bộ
5 Quy mô của đề tài:
Đề tài bao gồm 4 chương, 70 trang và các bảng biểu, hình vẽ
Chương I: Tổng quan về các phương pháp thiết kế kết cấu áo đường ở Việt
Nam và trên thế giới
Chương II: Hiện trạng hệ thống mặt đường – ưu, nhược điểm kết cấu đang
được sử dụng ở Điện Biên
Chương III: Đề xuất các kết cấu mặt đường hợp lý cho khu vực Điện Biên
Chương IV: Kết luận – kiến nghị
Phần phụ lục: Bao gồm các kết quả thu thập và tính toán
Trang 5Chương I Tổng quan về các phương pháp thiết kế kết cấu áo
đường ở Việt Nam và trên thế giới
1 Cơ sở lý thuyết tính toán kết cấu áo đường:
1.1 Định nghĩa áo đường:
áo đường là công trình được xây dựng trên nền đường bằng nhiều tầng, lớp
vật liệu có cường độ và độ cứng lớn hơn so với đất nền đường để phục vụ cho
xe chạy, trực tiếp chịu tác dụng phá hoại thường xuyên của các phương tiện
giao thông lưu hành trên đường và của các nhân tố thiên nhiên (mưa, gió, sự
thay đổi nhiệt độ )
1.2 Cấu tạo chung của kết cấu áo đường:
Sơ đồ phân bố các tầng lớp áo đường từ trên xuống Lớp bảo vệ
Việc tính toán để đưa đến thiết kế một kết cấu áo đường là tính toán về mặt
cường độ để đảm bảo kết cấu đó chịu được tác dụng của tải trọng xe
a) Đối với áo đường mềm:
• Nguyên lý tính toán:
Dưới tác dụng của tải trọng xe chạy, khi đạt đến cường độ giới hạn
trong kết cấu áo đường mềm sẽ xảy ra các hiện tượng theo mô tả ở (H.vẽ) Do
vậy, để đảm bảo các yêu cầu về mặt tính toán cường độ thì phải đảm bảo các
điều kiện khi tính toán sau:
Trang 6* ứng suất cắt ở mọi điểm trong nền đất dưới áo đường và trong các lớp
áo đường do tải trọng xe chạy tính toán gây ra tại các vị trí đó không được
vượt qua trị số ứng suất cắt giới hạn của đất hoặc vật liệu – Tiêu chuẩn chịu
cắt trượt trong nền đất và các lớp vật liệu kém dính kết:
Các hiện tượng phá hoại áo đường mềm ở trạng thái giới hạn dưới tác dụng của
Trong đó: Tax – ứng suất cắt hoạt động lớn nhất do tải trọng bánh xe tính toán
gây ra trong nền đất hoặc trong lớp vật liệu kém dính kết (MPa)
Tav - ứng suất cắt hoạt động do trọng lượng bản thân các lớp vật
liệu nằm trên nó gây ra tại điểm đang xét (MPa)
tr cd
cậy thiết kế
Ctt – Lực dính tính toán của đất nền hoặc vật liệu kém dính (MPa) ở trạng thái độ ẩm , độ chặt tính toán
* ứng suất kéo uốn lớn nhất phát sinh ở đáy áo đường hoặc ở đáy các lớp vật
liệu tầng mặt do tải trọng xe tính toán gây ra σku không được vượt quá trị số
tt
R của vật liệu liền khối tại các vị trí đó
Kéo
Kẽ nứt Cắt
Nén Kéo
Trồi Truyền áp lực lên đất
( đất bị nén) Lún
Trang 7– Tiêu chuẩn chịu kéo uốn trong các lớp vật liệu liền khối:
ku
σ ku
cd
ku tt
K – hệ số cường độ về chịu kéo khi uốn được chọn tuỳ theo độ tin cậy thiết kế
* Độ võng đàn hồi (biến dạng thẳng đứng) của cả kết cấu áo đường dưới tác dụng
của tải trọng xe chạy tính toán (động và trùng phục) lđh không được vượt quá độ
võng đàn hồi giới hạn cho phép lgh – Tiêu chuẩn độ võng đàn hồi cho phép:
cậy mong muốn
võng lđh
trọng xe chạy tác dụng cả kết cấu sẽ chỉ phát sinh độ võng bằng độ võng đàn
hồi giới hạn cho phép lđh
Do vậy, nguyên lý để tính toán áo đường mềm chính là xét 3 điều kiện
trên hay 3 trạng thái giới hạn mà kết cấu áo đường cần phải đạt được để chịu
đựng được tải trọng và cường độ xe chạy tính toán, bảo đảm được các yêu cầu
sử dụng trong quá trình khai thác
•Trình tự tính toán:
* Tính toán cường độ áo đường mềm theo tiêu chuẩn độ võng đàn hồi giới hạn:
- Xác định số trục xe tính toán trên một làn xe của phần xe chạy sau
khi quy đổi về trục tiêu chuẩn tính toán, tính số trục xe tính toán tiêu chuẩn
trên một làn xe tương ứng với năm tính toán
- Từ số trục xe tính toán tiêu chuẩn trên một làn xe xác định trị số Eyc
theo bảng 3 – 4, 3 – 5 [3]
Trang 8- Dự kiến cấu tạo các lớp áo đường theo các nguyên tắc thiết kế kết cấu
nền áo đường [3]
- áp dụng cách đổi tầng để đưa hệ nhiều lớp về hệ 2 lớp (hoặc hệ 3 lớp)
rồi áp dụng toán đồ hình 3– 1 để tính ra Ech của cả kết cấu [3]
cd
K được lựa chọn theo Bảng 3-2, 3-3 [3]
- So sánh, kiểm tra theo điều kiện (1 – 4) nếu đạt là được
* Tính toán cường độ áo đường mềm theo điều kiện cân bằng giới hạn về
trượt trong nền đất và các lớp kém dính kết:
- Dự kiến cấu tạo các lớp áo đường (bề dày và trị số mô đun đàn hồi
tính toán của các lớp theo loại vật liệu cấu tạo như theo tính toán của trạng
thái giới hạn trên)
- Đổi hệ nhiều lớp về hệ hai lớp như cách đổi trên Trị số mô đun đàn
hồi tính toán của các lớp trên được quy đổi thành trị số mô đun đàn hồi trung
bình với bề dày của các lớp:
h
h E
1
. (1 – 5) Nếu kiểm tra ở lớp móng áo đường thì lớp móng và nền đất được quy đổi
thành một lớp bán không gian ở phía dưới theo toán đồ Kogan ở hình 3 – 1 [3]
- Sau khi đưa về hệ 2 lớp, tính toán được Tax theo hình 3 – 2 (hoặc 3 -
3) và Tav theo hình 3- 4 [3]
- Xác định Ctt theo công thức:
Ctt = C K1 K2 K3 (1 – 6)
Trong đó: C - lực dính của đất nền hoặc vật liệu kém dính (Mpa)
vật liệu kém dính chịu tải trọng động và gây dao động
theo Bảng 3 – 8 [3]
K3 – hệ số xét đến sự gia tăng sức chống cắt trượt của đất hoặc vật
liệu kém dính khi điều kiện làm việc của kết cấu khác với mẫu thử
Trang 9- Thay các giá trị và kiểm tra nếu thoả mãn điều kiện (1-1) là đạt
* Tính toán cường độ áo đường mềm theo điều kiện chịu kéo khi uốn:
- Sau khi dự kiến cấu tạo các lớp áo đường với các đặc trưng của nó (h,
E, Rku) thì đối với các lớp phía dưới lớp mặt cần kiểm tra phải đổi về một bán
không gian vô hạn bằng cách đổi hai lớp một từ dưới lên (kể cả nền đất) theo
toán đồ Kogan hình 3 – 1, tính được trị số Ech.m (đưa hệ nhiều lớp về hệ hai
lớp có lớp mặt kiểm tra là lớp trên cùng) [3]
- Tra toán đồ, tính σ kuở đáy các lớp cần kiểm tra theo công thức:
b ku
ku σ .p k
σ = (1 –7) Trong đó: p - áp lực bánh của tải trọng trục tính toán
đường dưới tác dụng của tải trọng tính toán là bánh đôi hoặc bánh
đơn
ku
σ - ứng suất kéo uốn đơn vị, xác định theo toán đồ hình 3-5 (3- 6) [3]
tt
R :
ku tt
R = k1 k2 Rku (1 – 8) Trong đó: Rku – cường độ chịu kéo uốn giới hạn ở nhiệt độ tính toán và ở tuổi
mẫu tính toán (Mpa)
k1 - hệ số xét đến sự suy giảm cường độ do vật liệu bị mỏi dưới tác
dụng của tải trọng trùng phục, phụ thuộc vào các loại vật liệu của
kết cấu
k2 - hệ số xét đến sự suy giảm cường độ theo thời gian so với các
tác nhân về khí hậu, thời tiết, phụ thuộc loại vật liệu của kết cấu
- Thay các giá trị và kiểm tra theo điều kiện (1 – 2)
b) Đối với áo đường cứng:
Do đặc điểm cấu tạo của áo đường cứng - chủ yếu là tấm bê tông xi
măng (BTXM) được làm lớp mặt hay lớp móng - khác với áo đường mềm về
đặc điểm chịu lực nên nguyên lý tính toán và phương pháp thiết kế là hoàn
toàn khác nhau Dưới tác dụng của tải trọng xe chạy, tấm BTXM của áo
Trang 10đường cứng làm việc trong điều kiện chịu uốn cùng với sự tác dụng của sự
biến đổi nhiệt độ theo mùa và theo chu kỳ ngày đêm Việc tính toán thiết kế
kết cấu áo đường cứng đảm bảo không bị phá hoại trong thời kỳ tính toán quy
định chính là thoả mãn các điều kiện sau:
* Đối với tấm BTXM:
ku
ku ≤k R
σ (1 – 9)
trọng xe, biến đổi nhiệt độ gây ra
Rku- cường độ giới hạn chịu kéo uốn của BTXM ở tuổi 28 ngày (kG/cm2)
k – hệ số tổng hợp chiết giảm cường độ, xét đến mỏi và các yếu tố
khác
* Đối với tầng móng của kết cấu áo đường cứng:
Để đảm bảo không xuất hiện biến dạng dẻo (dẫn đến tích luỹ biến
dạng) thì cũng phải thoả mãn điều kiện như ở kết cấu áo đường mềm:
Trong đó: Tax – ứng suất cắt hoạt động lớn nhất do tải trọng bánh xe tính toán
gây ra trong nền đất hoặc trong lớp vật liệu kém dính kết (MPa)
Tav - ứng suất cắt hoạt động do trọng lượng bản thân các lớp vật
liệu nằm trên nó gây ra tại điểm đang xét (MPa)
tr cd
cậy thiết kế
Ctt – Lực dính tính toán của đất nền hoặc vật liệu kém dính (MPa) ở trạng thái độ ẩm , độ chặt tính toán
Đặc điểm chịu lực của mặt đường cứng khác nhiều so với mặt đường
mềm nên lý thuyết tính toán và phương pháp thiết kế cũng hoàn toàn khác
nhau Tấm BTXM có bề dày thường không quá 1/10 bề rộng và độ võng dưới
tác dụng của bánh xe rất nhỏ nên có thể xem là tấm mỏng: Tấm không trọng
lượng, đồng nhất , đẳng hướng, chuyển vị thẳng đứng không thay đổi theo bề
Trang 11dày của tấm Dưới tác dụng của tải trọng, tấm mặt đường bê tông xi măng
biến dạng rất ít nên có thể xem tấm bê tông là tấm đàn hồi Mặt khác, trên
thực tế tấm có thể phát sinh một số biến dạng dẻo theo thời gian (từ biến)
nhưng do rất nhỏ và thay đổi chậm nên có thể bỏ qua Dưới áp lực của tải
trọng xe chạy, do có độ cứng khi uốn của các tấm bê tông rất lớn nên phản lực
xuất hiện dưới tấm giảm xuống 4-5 lần và độ lún đàn hồi thẳng đứng cho phép
của mặt đường nhỏ hơn độ lún tương ứng so với mặt đường mềm từ 3-4 lần
Vì vậy, có thể giả thiết nền đất biến dạng tuyến tính và xem nền đất là bán
không gian vô hạn đàn hồi và có thể dùng lý thuyết “ Tấm mỏng trên nền đàn
hồi” để tính chiều dày của tấm bê tông mặt đường thông qua trị số σ ku
Do Westergard đề xuất lần đầu tiên vào năm 1926, dùng mô hình hệ số
nền K – mô hình nền Winkler - là mô hình xem độ lún tại một điểm bất kỳ
của nền móng dưới tấm bê tông tỉ lệ thuận với áp lực tác dụng lên điểm đó với
điều kiện biên là tổng lực cắt và mô men uốn ở các cạnh tấm bằng 0 (xem như
cạnh biên tự do) và ông đã tìm được các công thức tính toán ứng suất kéo -
uốn lớn nhất cho ba trường hợp tác dụng tải trọng điển hình có thể xảy ra trên
mặt đường:
I Tải trọng tác dụng ở giữa tấm ứng suất kéo lớn nhất sinh ra ở mặt đáy của
tấm ngay dưới vị trí tác dụng tải trọng:
II Tải trọng tác dụng ở cạnh tấm: ứng suất kéo lớn nhất sinh ra ở mặt đáy của
tấm ngay dưới vị trí tác dụng tải trọng:
lg 4
3 2
KR
Eh h
III Tải trọng tác dụng ở góc tấm: ứng suất kéo lớn nhất sinh ra ở mặt trên của
tấm và nằm trên đường phân giác của góc tấm đó:
3
2
2 1
12
Eh K
Trang 12Trong đó:
P – tải trọng bánh sau của ôtô tính toán (đã nhân với hệ số xung kích),
KG
R – bán kính của vệt bánh xe tính toán, cm
h – chiều dày tấm bê tông mặt đường, cm
à - hệ số Possion của bê tông mặt đường; à = 0,15
K – hệ số nền của nền đất, kG/cm3
Trong công thức của Westergard có nhược điểm lớn là giả thiết hệ số
nền mà nó dùng làm căn cứ không phản ánh được hiện tượng vật lý phức tạp
xảy ra trong thực tế khi tấm chịu uốn dưới tác dụng của tải trọng: nền móng
không chỉ bị lún trong phạm vi của một khu vực chịu nén mà xung quanh khu
vực này một phạm vi nhất định cũng xuất hiện một độ lún nhất định
Do đó, mô hình nền bán vô hạn (đặc trưng là phương pháp của Shekter)
[8] với các điều kiện biên tương tự (cạnh tấm xem là tự do) đã tính được mô
men pháp (MF) và mô men tiếp (MT) trên đơn vị chiều rộng của tấm:
- Dưới tác dụng của tải trọng phân bố đều trên một diện tích hình tròn
) 1 (
Ptt – tải trọng tập trung (kG)
Trang 13à - hệ số poisson của bê tông
C – hệ số có giá trị thay đổi theo aR
A, B – hệ số có giá trị thay đổi theo ar
2 0
1 (
) 1 ( 6 1
E0 – mô đun đàn hồi của nền
h – chiều dày tấm
cách mép tấm đủ xa (trường hợp tác dụng ở giữa tấm) còn khi tác dụng ở góc
và cạnh tấm thì không xác định được Vì vậy, I.A Mednicov [8] đã kết hợp cả
hai mô hình trên: giả định mô men uốn xác định theo Shekter bằng mô men
uốn trong trường hợp tải trọng tác dụng giữa tấm xác định theo Westergard để
tìm mối quan hệ giữa hệ số nền và mô đun đàn hồi của móng nền và từ đó xác
định công thức tính mô men và bề dày tấm khi tải trọng tác dụng ở góc và
cạnh tấm theo E0, à0 của mô hình nền bán vô hạn đàn hồi
Các giá trị α1,α2,α3 được lập thành bảng, tuỳ thuộc tỉ số Eb/E0 và h/δ
với Eb là mô đun đàn hồi của bê tông; E0 là mô đun đàn hồi chung của cả lớp
Trang 14móng dưới tấm BTXM và nền đất Đây cũng là phương pháp được dùng chính
thức trong quy trình Việt Nam 22 TCN 223-95 [5]
2 Các phương pháp thiết kế mặt đường trên thế giới:
Hiện nay trên thế giới có hơn 50 phương pháp thiết kế mặt đường nhưng
chủ yếu là theo hai nhóm chính sau:
Cách tính toán thông thường là xác định ứng suất do xe chạy gây ra
trong các lớp mặt đường bằng lý thuyết và so sánh các ứng suất này với cường
độ cho phép của vật liệu làm đường (thường lấy theo kinh nghiệm)
Thuộc nhóm này có một số phương pháp:
a Phương pháp tính toán của Trung Quốc (trong quy trình JTJ014-86) [7]
* Nội dung:
- Phương pháp tính: Dựa trên lời giải lý thuyết hệ nhiều lớp đặt trên nền
bán không gian vô hạn đàn hồi với các giả thiết:
+ Mỗi lớp đều do một loại vật liệu đồng nhất, đẳng hướng, đàn hồi và
xem như không có trọng lượng tạo ra Các thông số là: mô đun đàn hồi (Ei), hệ
số Poisson(à i)
+ Tầng dưới cùng là tầng bán không gian vô hạn và kéo dài vô hạn theo
phương ngang Các lớp phía trên kéo dài vô hạn theo phương dọc và phương
ngang và có chiều dày hữu hạn hi theo phương thẳng đứng
+ Tại mặt phân giới giữa các lớp có ứng suất và chuyển vị hoàn toàn
liên tục hoặc chỉ có ứng suất và chuyển vị theo phương thẳng đứng là liên tục
còn lực cản trở do ma sát giữa các lớp bằng không (hệ chuyển dịch tự do)
Trang 15+ Tại độ sâu vô hạn ở lớp dưới cùng, ứng suất và chuyển vị đều bằng không
- Từ các giả thiết trên, giải và lập các toán đồ xác định độ võng đàn hồi
và các hệ số ứng suất của mặt đường dưới tác dụng của tải trọng bánh xe đơn
hoặc kép được quy về một hay hai vòng tròn diện tích tương đương có bán
kính δcho hệ hai lớp và ba lớp Trong trường hợp hệ nhiều hơn ba lớp thì quy
đổi về hệ ba lớp theo hiệu ứng tương đương
* Trình tự tính toán:
- Dựa vào yêu cầu và nhiệm vụ thiết kế, xác định cấp hạng mặt đường
và loại lớp mặt, tính toán số lần tích luỹ trục xe tương đương trên một làn xe
trong thời hạn thiết kế và tính toán trị số độ võng cho phép trên bề mặt mặt
đường Nếu mặt đường phải tiến hành nghiệm toán ứng suất kéo – uốn thì
cần tính toán trị số ứng suất kéo – uốn cho phép
- Dựa vào loại đất và chế độ thuỷ nhiệt của nền đường, chia đường thiết
kế ra làm một số đoạn (từ 500 –1000m) để xác định trị số mô đun đàn hồi
(MĐĐH) của nền đất cho từng đoạn
- Dự kiến một số phương án bố trí kết cấu và chiều dày áo đường khả
thi, xác định trị số MĐĐH của vật liệu các lớp
- Xác định bề dày áo đường dựa theo độ võng cho phép
- Nghiệm toán ứng suất kéo – uốn trong các lớp bê tông nhựa, các lớp
móng bằng vật liệu có tính toàn khối đảm bảo nhỏ hơn ứng suất kéo – uốn
cho phép của vật liệu đó
- Nghiệm toán ứng suất cắt trong các lớp mặt nhựa đường để không
vượt quá ứng suất cắt cho phép của vật liệu
- Đối với mặt đường ở những vùng đóng băng theo mùa thì cần nghiệm
toán bề dày lớp phòng chống đóng băng xem có phù hợp với yêu cầu không
b Chương trình Alizé 5 của Pháp [19]:
- Chương trình Alizé 5 – version 5.02-6/1991 của Viện nghiên cứu cầu
đường trung tâm (LCPC) là một phần mềm để giải chính xác bài toán bán
không gian nhiều lớp đàn hồi của Burmister bằng máy tính Sử dụng chương
Trang 16trình có thể tính ứng suất và chuyển vị cho kết cấu có tối đa 10 lớp , số lượng
kiểu tải trọng tối đa đặt lên kết cấu là 15, số lượng vị trí đặt trục quan sát tối
đa trên mặt là 20, cho mỗi lớp tối đa tới 4 vị trí quan sát
- Đây là phương pháp giải đúng bài toán tính kết cấu mặt đường nhiều
lớp, kết hợp với sự phân tích lý thuyết, các thí nghiệm và thực nghiệm sử dụng
vật liệu để tính toán kết cấu áo đường
- Sử dụng chương trình cho phép tính toán ứng suất và biến dạng phát
sinh trong các lớp khác nhau của mặt đường dưới tác dụng của tải trọng
- Các lớp kết cấu được đặc trưng bằng bề dày h, mô đun đàn hồi E, hệ
số Poisson à điều kiện liên kết giữa các lớp có thể trượt hoặc không trượt
hoàn toàn hoặc từng phần
+ Tính cho các tải trọng khác do người sử dụng nhập vào (có thể giống
hoặc không giống nhau) Các tải trọng có thể là phân bố trên cả diện tròn, chu
tuyến tròn hoặc tác dụng tại tâm, cũng có thể là tải trọng tác dụng ngang
- Sử dụng chương trình cho nhiều kết quả:
+ Biến dạng và ứng suất ngang: ε T, σ Tvà thẳng đứng: ε Z, σ Z tại các
lớp kết cấu
+ Độ võng D và bán kính cong R tại bề mặt kết cấu ở các điểm quan sát
+ Các ứng suất chính: σ1, σ2,
2.2 Nhóm các phương pháp kinh nghiệm - thực nghiệm:
Các phương pháp này được thành lập trên cơ sở là dựa trên các kinh
nghiệm thu được trên các đoạn đường thực nghiệm hoặc trên mạng lưới đường
đang khai thác
Thuộc nhóm này có một số phương pháp:
Trang 17a Phương pháp theo hướng dẫn của AASHTO [6]:
- Phương trình cơ bản để tính toán và thiết kế áo đường mềm:
Phương trình này có dạng giải tích và dạng toán đồ
Phương trình cơ bản:
W18 = f (SN, MR, ∆PSI, ZR,So) (1- 21)
Với SN = a1D1+a2D2m2+a3D3m3 (1- 22)
Trong đó:
W18 – số lần tác dụng của ESAL 18 kip trên một làn (lần/làn xe)
SN – chỉ số kết cấu hay chỉ số cấu tạo (Strutural Number) là một chỉ
số đặc trưng cho cường độ cơ học của lớp mặt đường Nếu áo đường gồm 3
lớp: lớp mặt (1), lớp móng trên (2), lớp móng dưới (3) thì SN được xác định
theo công thức trên, trong đó D1, D2, D3 lần lượt là bề dày các lớp với a1, a2, a3
lần lượt là các hệ số tương đương các lớp đó Còn m2, m3 là các hệ số xét đến
điều kiện môi trường
đưa vào sử dụng cho đến khi đã chịu đựng được W18 lần tác dụng của tải trọng
ESAL18 kip Các tổn thất này do xe cộ và do cả điều kiện chế độ thuỷ nhiệt
gây ra
∆PSI = po - pt (1- 23)
Với po (hoặc PSIo) là chỉ số phục vụ chất lượng phục vụ) của mặt đường
lúc đưa vào sử dụng; pt (PSIt) là chỉ số phục vụ ở thời điểm t sau khi mặt
đường chịu được W18 lần tải trọng trục thông qua
MR – mô đun đàn hồi hữu hiệu của nền đất (psi)
Như vậy, phương trình thể hiện mối quan hệ giữa chất lượng phục vụ
của mặt đường với các yếu tố cấu tạo kết cấu như bề dày các lớp, loại vật liệu
các lớp đã sử dụng, điều kiện chế độ thuỷ nhiệt, cường độ nền đất
Khi vận dụng phương trình trên để tính toán kết cấu mặt đường thì mục
tiêu lúc này là: trên cơ sở một nền đất đã biết MR, xác định được một chỉ số
kết cấu yêu cầu đạt được SNyc để chịu được số lần tác dụng tải trọng trục W18
dự kiến sẽ thông qua trong thời kỳ tính toán, sao cho ở cuối thời kỳ tính toán
Trang 18đó chỉ số phục vụ pt của mặt đường chỉ giảm đến một trị số chấp nhận được
Từ trị số SNyc này theo công thức trên sẽ xác định được bề dày các lớp bằng
cách giả thiết chúng rồi nghiệm lại trong điều kiện đã biết m2, m3 và a1, a2, a3
Sai số tiêu chuẩn tổng hợp S0 và độ lệch tiêu chuẩn ZR được đưa vào để
xét đến việc dự báo số trục xe, xác định các thông số và đánh giá chất lượng
mặt đường khác với thực tế Độ lệch tiêu chuẩn ZR phụ thuộc vào độ tin cậy R
Khi áp dụng khái niệm độ lệch tiêu chuẩn và độ tin cậy như trên thì các
thông số tính toán khác đều phải dùng trị số trung bình chứ không phải trị số
bất lợi nhất
Tiêu chuẩn trạng thái giới hạn: là chỉ số phục vụ PSI đặc trưng cho chất
lượng khai thác sử dụng của mặt đường PSI là một chỉ tiêu tổng hợp xác định
qua thử nghiệm AASHTO phụ thuộc vào độ bằng phẳng, tỷ lệ khe nứt, tỷ lệ
diện tích phải vá chữa trên mặt đường
b Phương pháp CBR [11]:
Phương pháp CBR do OJ Porter ở Viện đường bộ bang California đề
xuất năm 1938 Sau 14 năm tiến hành thí nghiệm trên các đường của bang này
đã tìm được mối quan hệ thực nghiệm giữa chỉ số CBR của đất (xác định bằng
thí nghiệm nén CBR quy định) với chiều dày tối thiểu của mặt đường bảo đảm
không bị phá hoại do sinh ra biến dạng dẻo trong đất đó
Đã lập được toán đồ tìm chiều dày cần thiết của móng đường cho hai
cấp giao thông trung bình - nặng (tương đương với bánh xe 5,4T) và giao
+
+
CBR
P (1- 24) Trong đó: e - chiều dày mặt đường (cm)
P - trọng lượng bánh xe (T)
CBR - tính bằng %
c Phương pháp của Viện nghiên cứu đường Anh [11]:
Trang 19Cho đến năm 1960 ở Anh vẫn sử dụng toán đồ của Corps of engineers
(Hiệp hội kỹ sư quân đội Mỹ) nhưng có tăng thêm 20% trọng lượng bánh xe
lớn nhất thiết kế để xét đến sự lặp lại của tải trọng
Sau những thí nghiệm tiến hành trên các đường ôtô ở Anh, Viện nghiên
cứu đường Anh (TRRL) đã công bố các toán đồ mới, so với phương pháp CBR
có những cải tiến:
- Xem tác dụng của sự lặp lại tải trọng đối với chiều dày tuân theo quy
luật logarit
- Bỏ qua tác dụng của các xe có tổng trọng lượng dưới 3T Phương pháp
này tính mặt đường với tuổi thọ khoảng 20 năm Để hạn chế chiều sâu vệt hằn
bánh xe tối đa là 2cm, phương pháp này cố định chiều dày lớp mặt và lớp
móng trên và xác định chất lượng vật liệu của các lớp này Chỉ có chiều dày
của lớp móng dưới thay đổi theo CBR của lớp trên nền đường
- Phương pháp này còn chưa xét đến sự tương đương giữa các trục bánh
xe, tuy nhiên đã xét đến sự lặp lại của tải trọng
- Về chất lượng vật liệu: nếu lớp móng trên làm bằng hỗn hợp đá trộn
nhựa thay cho vật liệu không gia cố thì cho phép giảm đi 40% chiều dày Các
điều kiện của thí nghiệm CBR ngâm nước được cho là quá nghiêm khắc nên
việc nén lún được tiến hành ở độ ẩm gần với độ ẩm tốt nhất của Proctor khi
mực nước ngầm nằm dưới cao độ nền đường trên 1m
- Trong lần xuất bản thứ ba (1971), các toán đồ này đã có nhiều cải tiến
so với hai lần trước (1960 và 1966) ở các điểm:
+ Lượng giao thông được đánh giá theo số tương đương của trục bánh
Trang 20- Phương pháp của Viện công trình Mỹ
- Phương pháp của Viện Asphalt Mỹ
- Phương pháp SHELL
3 Quy trình thiết kế mặt đường mềm 22TCN 211- 06, mặt đường cứng
22TCN 223-95 và những vấn đề cần chú ý khi xây dựng kết cấu mặt đường:
3.1 Quy trình thiết kế mặt đường mềm 22TCN 211- 06 [3]:
Đây là phương pháp thiết kế theo nhóm “ Phương pháp lý thuyết –
thực nghiệm” hiện nay đang được sử dụng hiện hành ở nước ta
Nội dung:
Việc thiết kế cấu tạo kết cấu áo đường mềm gồm các lớp móng và các
lớp mặt (và cả lớp đất trên cùng của nền đường) được dựa trên lý thuyết phân
bố tải trọng xe theo chiều sâu từ trên xuống, từ đó đưa ra các phương án cấu
tạo kết cấu nền áo đường Sau đó, yêu cầu của việc tính toán là kiểm tra xem
các phương án, cấu tạo đã đề xuất cùng với điều kiện nền đã biết có đủ cường
độ không, đồng thời tính toán xác định lại bề dày cần thiết của mỗi lớp kết cấu
và có thể phải điều chỉnh lại bề dày của mỗi lớp theo kết quả tính toán
Điều kiện cần đạt được khi tính toán theo phương pháp này là: Kết cấu
áo đường mềm được xem là đủ cường độ nếu như trong suốt thời hạn thiết kế
quy định dưới tác dụng của ôtô nặng nhất và của toàn bộ dòng xe, trong bất kỳ
lớp nào (kể cả nền đất) cũng không phát sinh biến dạng dẻo, tính liên tục của
các lớp liền khối không bị phá vỡ và độ võng đàn hồi của kết cấu áo đường
không vượt quá trị số cho phép
Do vậy, việc tính toán kết cấu áo đường mềm chính là tính toán kiểm tra
ba tiêu chuẩn cường độ khi biết trước tải trọng và trọng lượng trục xe thiết kế:
- Kiểm toán ứng suất cắt ở trong nền đất và các lớp vật liệu chịu cắt
trượt kém so với trị số giới hạn cho phép để đảm bảo trong chúng không xảy
ra biến dạng dẻo (hoặc hạn chế sự phát sinh biến dạng dẻo)
- Kiểm toán ứng suất kéo uốn phát sinh ở đáy các lớp vật liệu liền khối
nhằm khống chế không cho phép nứt ở các lớp đó
Trang 21- Kiểm toán độ võng đàn hồi thông qua khả năng chống biến dạng, biểu
thị bằng trị số mô đun đàn hồi Ech của cả kết cấu nền áo đường so với trị số
mô đun đàn hồi yêu cầu Eyc Tiêu chuẩn này nhằm đảm bảo hạn chế được sự
phát triển của hiện tượng mỏi trong vật liệu các lớp kết cấu dưới tác dụng
trùng phục của dòng xe, do đó đảm bảo duy trì được khả năng phục vụ của kết
cấu đến hết thời hạn thiết kế
Cơ sở của phương pháp tính toán theo 3 tiêu chuẩn trạng thái giới hạn
nói trên là lời giải của bài toán hệ bán không gian đàn hồi nhiều lớp có điều
kiện tiếp xúc giữa các lớp là hoàn toàn liên tục dưới tác dụng của tải trọng
bánh xe (được mô hình hoá là tải trọng phân bố đều hình tròn tương đương với
diện tích tiếp xúc của bánh xe trên mặt đường), kết hợp với kinh nghiệm sử
dụng và khai thác áo đường tích luỹ được trong nhiều năm để đưa ra các quy
định về các tiêu chuẩn trạng thái giới hạn cho phép
* Các thông số tính toán cường độ và bề dày áo đường mềm:
•Tải trọng trục tính toán và số trục xe tính toán:
a Tải trọng trục tính toán:
- Tải trọng trục tính toán tiêu chuẩn: được quy định là trục đơn của ôtô
có trọng lượng 100 kN Nếu trên đường ô tô các cấp (hoặc đường cao tốc) có
các trục đơn nặng trên 120 kN và dưới 144 kN với số lượng chiếm dưới 5%
tổng số trục xe tải và xe buýt chạy trên đường thì tải trọng trục tính toán là
120 kN Còn nếu có các loại trục xe nặng khác biệt nhiều so với trục tiêu
chuẩn thì kết cấu áo đường phải được tính theo tải trọng trục đơn nặng nhất có
Trang 22Lm – khoảng cách giữa các trục ngoài cùng của cụm trục (m)
a, b, c – các hệ số cho theo bảng A – 3[3]
Sơ đồ tải trọng tính toán: là sơ đồ một vòng tròn có diện tích tương
đương D (cm) và áp lực tính toán lên mặt đường p (Mpa)
b Số trục xe tính toán trên một làn xe:
Số trục xe tính toán là tổng số trục xe đã được quy đổi về trục xe tính
toán tiêu chuẩn (hoặc trục xe nặng nhất tính toán) sẽ thông qua mặt cắt ngang
đoạn đường thiết kế trong một ngày đêm trên làn xe chịu đựng lớn nhất vào
thời kỳ bất lợi nhất ở cuối thời hạn thiết kế qui định, tuỳ thuộc loại tầng mặt
dự kiến, theo công thức sau:
Ntt = Ntk fl (trục/làn.ngày đêm) (1- 27)
Trong đó: Nkt – tổng số trục xe quy đổi từ k loại trục xe khác nhau về trục
xe tính toán trong một ngày đêm trên cả hai chiều xe chạy ở năm cuối của thời hạn thiết kế (trục/ngày đêm.2 chiều)
fl – hệ số phân phối số trục xe tính toán trên mỗi làn xe, tuỳ thuộc
vào số làn xe và dải phân cách
• Các thông số tính toán của đất nền đường: Mô đun đàn hồi E, lực
nhất về chế độ thuỷ nhiệt Việc xác định các thông số này được tiến hành qua
các thí nghiệm
đàn hồi E, lực dính C, góc nội ma sát ϕ và cường độ chịu kéo uốn của các lớp
vật liệu Tương tự như với nền đất, các thông số của vật liệu làm áo đường
được xác định thông qua các thí nghiệm phù hợp trong điều kiện bất lợi nhất
* Một số nhận xét về phương pháp thiết kế mặt đường mềm theo quy
trình 22TCN 211- 06:
Đây là quy trình mới được Bộ GTVT đưa ra thay thế cho quy trình
22TCN 211 – 93 và là phương pháp hầu hết đang được sử dụng trong thiết kế
kết cấu áo đường mềm ở nước ta Qua thời gian áp dụng và rút kinh nghiệm từ
Trang 23thực tế đã đạt được hiệu quả nhất định trong việc lựa chọn kết cấu và chiều
dày các lớp áo đường Với cơ sở lý thuyết về mặt tính toán vững chắc, dễ áp
dụng, cho các kết quả trên thực tế khi thiết kế các kết cấu áo đường mềm theo
phương pháp này trong việc xây dựng trên mạng lưới đường ở nước ta là chưa
bộc lộ những nhược điểm lớn Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả hơn nữa khi sử
dụng phương pháp này thì cần chú ý đến một số vấn đề sau:
Tuy đã đưa ra các thông số đầu vào thay đổi và phù hợp hơn với thực tế
khi kết cấu chịu lực: số trục xe, tải trọng trục, tải trọng trục tích luỹ, hệ số độ
tin cậy, các đặc trưng tính toán của đất nền đường và vật liệu làm áo đường đã
rõ ràng, chi tiết hơn nhưng phương pháp tính toán cường độ và chiều dày các
lớp kết cấu áo đường mềm trên cơ sở của 3 tiêu chuẩn trạng thái giới hạn, trên
cơ sở lời giải tìm ứng suất và biến dạng của lý thuyết đàn hồi và trên cơ sở các
thông số thực nghiệm và kinh nghiệm thì kết quả tính là phụ thuộc vào các
tham số đầu vào rất lớn mà việc xác định chúng đòi hỏi phải được tiến hành
nghiêm túc, có sự thống nhất và cụ thể với các loại đất nền, vật liệu đó Đây sẽ
là vấn đề rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp kết quả tính toán cũng như hiệu
quả kinh tế
Phương pháp được dùng với cơ sở lý thuyết của bài toán là hệ đàn hồi
đặt trên bán không gian đàn hồi nhiều lớp nhưng thực tế nền đất và vật liệu kết
cấu áo đường không phải là vật liệu đàn hồi đồng nhất, đẳng hướng mà là vật
liệu có tính đàn hồi – dẻo – nhớt Do đó, khi lấy kết quả tính toán được chỉ
là gần đúng với sự làm việc thực tế của kết cấu áo đường, trạng thái làm việc
của kết cấu mặt đường vẫn có thể ở vào một trong hai trạng thái: đàn hồi - dẻo
và đàn hồi
Các toán đồ được lập với hệ kết cấu hai lớp, nếu hệ có nhiều hơn hai lớp
thì phải dùng công thức tính đổi lớp trên nguyên tắc độ cứng tương đương và
trị số mô đunđàn hồi sau khi được tính đổi với hệ số điều chỉnh β thêm vào chỉ
là gần đúng Trên thực tế hiện nay, một số quy trình (Trung Quốc, Liên Xô)
và các sách đã có kết quả giải hệ đàn hồi ba lớp Đồng thời, với sự phát triển
Trang 24của máy tính có các chương trình tính toán : Chương trình Alizé 5 của Pháp
thì việc giải chính xác bài toán hệ đàn hồi lớn hơn hai lớp không là vấn đề khó
khăn, phức tạp nữa
Chưa có cách tính toán trực tiếp cường độ và độ ổn định của tầng mặt
áo đường dưới tác dụng của lực ngang và chưa có cách tính bề dày các lớp áo
đường dưới tác dụng của nhiệt độ và chế độ thay đổi nhiệt độ
Khi kiểm toán theo điều kiện cân bằng giới hạn về trượt trong nền đất
và các lớp kém dính kết, việc xác định ứng suất và áp dụng toán đồ với đất có
tính dính hoặc kém dính chưa chính xác vì kết cấu trong thực tế lại là thường
có trị số trung gian giữa hai giới hạn trên
3.2 Quy trình thiết kế mặt đường cứng 22TCN 223-95 [5]:
áo đường cứng được thiết kế với lớp mặt là bê tông xi măng (BTXM)
toàn khối (đổ tại chỗ có hoặc không có cốt thép) hay lắp ghép dựa vào việc
chọn lựa cấu tạo và bố trí hợp lý kích thước tấm, các khe và liên kết giữa các
khe tấm, chọn vật liệu lớp móng, vật liệu chèn khe, vật liệu lớp tạo phẳng và
bố trí mặt cắt ngang của kết cấu áo đường cùng với việc đưa ra các biện pháp
để tăng cường độ và ổn định cường độ của nền đất dưới lớp móng Sau đó, tính
toán, kiểm tra cường độ (bề dày) của tấm xi măng và lớp móng dưới tác dụng
của tải trọng và dưới tác dụng của nhiệt độ rồi lựa chọn lại kết cấu cho phù
hợp hơn
áo đường cứng với đặc trưng là tấm BTXM khi làm việc trong điều
kiện chịu uốn dưới tác dụng của tải trọng xe chạy và tác dụng của nhiệt độ
(biến đổi theo mùa và theo chu kỳ ngày đêm) sẽ bị xem là phá hoại nếu như
trong thời kỳ tính toán quy định (20 năm) tấm bị nứt, vì như vậy kết cấu áo
đường cứng khi đó sẽ mất đi tính toàn khối ban đầu khiến cho năng lực chịu
tải của nó giảm xuống dưới mức yêu cầu và đó cũng chính là trạng thái giới
hạn của kết cấu áo đường cứng
Do đó, khi tính toán thiết kế áo đường cứng để trạng thái giới hạn đó không
xảy ra trong suốt thời kỳ tính toán quy định thì phải đạt các tiêu chuẩn sau:
- Đối với tấm BTXM:
Trang 25ku
σ k.Rku (1- 28)
tải trọng xe, do biến đổi nhiệt độ
Rku- Cường độ giới hạn chịu kéo uốn của BTXM ở tuổi 28 ngày (kG/cm2)
K – hệ số tổng hợp chiết giảm cường độ , xét đến mỏi và các yếu
tố ảnh hưởng khác (chất lượng bê tông không đồng nhất )
- Đối với tầng móng của kết cấu áo đường cứng: để đảm bảo không xuất hiện
biến dạng dẻo (dẫn đến tích luỹ biến dạng) tầng móng cũng phải thoả mãn
điều kiện:
≤ +
= a m ab
τ .max . K’.c (1 - 29) Trong đó: τ a.max - ứng suất cắt hoạt động lớn nhất của nền đất và các lớp dưới
m
τ - ứng suất cắt hoạt động lớn nhất do tải trọng bánh xe tính toán gây ra
b a.
τ - ứng suất cắt hoạt động do khối lượng bản thân của các lớp
trên gây ra
c – lực dính của đất móng áo đường
K’ – hệ số tổng hợp
- Ngoài ra, khi xét đến tác dụng đồng thời của hoạt tải và của ứng suất nhiệt
thì sẽ phải áp dụng điều kiện kiểm tra dưới đây:
ku t
xe +σ ≤ ( 0 , 85 ữ 0 , 90 )R
Trong đó: σ xe - ứng suất kéo uốn do hoạt tải
t
dưới của tấm
(kG/cm2)
* Các thông số tính toán cường độ và bề dày áo đường cứng:
•Tải trọng trục tính toán và số trục xe tính toán:
- Cũng được thống nhất theo quy định của “Tiêu chuẩn thiết kế áo
đường mềm 22TCN 211 - 06 ” và khi tính toán tải trọng bánh xe được nhân
thêm với hệ số xung kích
Trang 26- Sau khi đã tính toán với tải trọng trục tiêu chuẩn, phải kiểm toán lại
với xe nặng nhất có thể chạy trên đường, kiểm toán với xe nhiều bánh 80 tấn,
xe xích T60
•Hệ số chiết giảm cường độ n:
Khi tính toán cường độ kết cấu áo đường cứng, cường độ chịu uốn cho
phép của BTXM được xác định bằng cường độ chịu uốn giới hạn nhân với hệ số
chiết giảm cường độ n được qui định tuỳ thuộc vào tổ hợp tải trọng tính toán
•Sơ đồ tải trọng trục tính toán:
- Là sơ đồ một vòng tròn có diện tích tương đương D (cm) và áp lực tác
dụng xuống mặt đường p (Mpa) đối với tải trọng phân bố đều trong một diện tích
hình tròn hoặc tải trọng tập trung các điểm tác dụng tải trọng một khoảng cách
- Khi tải trọng phân bố trên diện tích rộng (xe nặng cá biệt) thì chia vệt
bánh lớn thành một số diện tích nhỏ và tải trọng tác dụng trên mỗi diện tích
nhỏ được thay bằng một tải trọng phân bố trên vòng tròn diện tích tương
đương hoặc bằng tải trọng tập trung tác dụng tại trọng tâm
* Một số nhận xét về phương pháp thiết kế mặt đường cứng theo quy
trình 22TCN 223 -95:
Cho dù hiện nay trên nước ta, mặt đường cứng – bê tông xi măng –
cũng chưa được xây dựng nhiều, chủ yếu với các tuyến đường ngắn có tính
chất địa chất phức tạp, nhiệt độ và độ ẩm thay đổi lớn, phục vụ cho mục đích
riêng: đường sân bay, đường vận chuyển trong các khu công nghiệp nhưng
việc sử dụng quy trình 22TCN 223-95 trong xây dựng mặt đường cứng đã định
hình hoá, thống nhất phương pháp thiết kế và có hiệu quả nhất định trong thực
tế Tuy vậy, cũng có một số vấn đề đặt ra khi áp dụng như sau:
Do lấy các chỉ số theo phương pháp thiết kế mặt đường mềm 22TCN
211- 06 nên kết quả tính toán phụ thuộc rất lớn vào các yếu tố đầu vào như: lưu
lượng xe tính toán, các thông số tính toán đối với nền đất (hoặc với kết cấu mặt
đường cũ), tính toán với chế độ thuỷ nhiệt bất lợi nhất cùng với việc sử dụng
các bảng tra sẵn có được áp dụng chung sẽ dẫn đến các sai số, giá trị lấy tính
toán không phù hợp, kết quả sẽ không sát với thực tế, thiếu hụt hoặc lãng phí
Trang 27lớn Mặt khác, sơ đồ với mô hình tính toán tải trọng tác dụng một vòng tròn tiếp
xúc chưa phù hợp với thực tế tác dụng lực và dòng xe lưu thông trên đường
Chưa đề cập đến những hiện tượng phá hoại do chất lượng vật liệu và
công nghệ thi công, đặc biệt là hiện tượng nứt do co ngót bê tông lúc mới đổ
xong chưa kịp bảo dưỡng khi thi công mặt đường xi măng đổ tại chỗ
Việc sử dụng một hệ số chiết giảm tổng hợp K tuy dễ vận dụng trong
tính toán, thiết kế nhưng lại không xét được lượng giao thông tích luỹ (tổng số
lần tác dụng của tải trọng xe tính toán) trong suốt thời kỳ phục vụ của kết cấu
áo đường
Đối với tầng móng của kết cấu áo đường cứng, kiểm tra điều kiện đảm
bảo không xuất hiện biến dạng dẻo chỉ có ý nghĩa về mặt lý thuyết vì thực tế
ứng suất cắt do tải trọng xe chạy truyền xuống tầng móng là rất nhỏ (tầng mặt
BTXM có độ cứng rất lớn) mà qua khai thác thực tế áo đường cứng, tầng
móng có ảnh hưởng rất quan trọng đến tuổi thọ và mức độ bền vững của toàn
kết cấu Do vậy, đối với tầng móng ngoài yêu cầu kiểm tra theo điều kiện tính
toán trên thì thường phải kèm theo các yêu cầu bắt buộc về mặt cấu tạo như:
Có chất liên kết, ổn định nước, không tích luỹ biến dạng dẻo, ngăn được nước
thấm xuống nền đất, tiếp xúc tốt với đáy tấm BTXM, không để có nước giữa
đáy tấm và mặt móng hay giữa thành tấm và lề đường
ch
nền đất) theo quy trình của Trung Quốc là khi tính có thể áp dụng như áo
đường mềm (với các thông số của lớp móng và nền đất được lấy như khi tính
ch
nghiệm n- hệ số tăng mô đun – xét đến sự gia tăng tương đối trị số mô đun
đàn hồi khi vật liệu móng nằm dưới tầng mặt cứng BTXM so với khi vật liệu
đó nằm dưới tầng mặt của áo đường mềm Có sự gia tăng này là do áp lực và
biến dạng thẳng đứng truyền xuống móng dưới tấm BTXM đều nhỏ hơn khi
vật liệu đó nằm dưới tầng mặt áo đường mềm trong điều kiện thực tế các lớp
vật liệu móng và nền đất không phải là vật liệu hoàn toàn đàn hồi Hệ số n
Trang 28được xác định tuỳ thuộc bề dày tấm BTXM ở trên (h), tuỳ thuộc bản thân trị
b
E
E h
α (1- 31)
Ngoài cách bố trí chung của các tấm BTXM: tấm chữ nhật kích thước
cố định, các khe ngang thẳng hàng và vuông góc với khe dọc nên chăng có
thể thay đổi (Quy trình của Nga mới đây đã khuyên dùng):
- Chiều dài tấm BTXM cho thay đổi lần lượt 4,0;4,5;5,5 và 6,0m để
tránh xe bị xóc theo một quy luật
- Khe ngang không vuông góc mà giao chéo với khe dọc một góc
việc hai bánh của một trục xe đồng thời chạy qua khe (vừa giảm xóc vừa tạo
thuận lợi cho sự làm việc của cạnh tấm)
- Tại các chỗ đường cong, chỗ bề rộng phần xe chạy thay đổi và tại các
chỗ giao nhau thì việc phân tấm phải theo hướng tuyến, có chú ý đến điều kiện
thoát nước mặt đường, bảo đảm mỹ quan và thi công thuận lợi Các góc tấm
không nên nhỏ hơn 800 (nên ≥900) và các góc nhọn này nên bố trí ít xe chạy
qua, khi cần thiết phải tăng cường cốt thép tại các góc đó
3.3 Những vấn đề cần chú ý khi xây dựng kết cấu mặt đường:
3.3.1 Cấu tạo kết cấu mặt đường:
Khi thiết kế và xây dựng áo đường nhằm tạo ra một kết cấu cho xe chạy
an toàn, êm thuận, có lợi nhất về mặt kinh tế nhưng vẫn bảo đảm về các yếu tố
kỹ thuật, bảo đảm các chỉ tiêu khai thác – vận doanh có hiệu quả nhất thì kết
cấu đó phải đạt được các yêu cầu cơ bản như: Đủ cường độ và ổn định; Đạt
được độ bằng phẳng nhất định; Bề mặt phải có đủ độ nhám và khi chạy xe sản
sinh càng ít bụi càng tốt Do đó, yêu cầu là phải chọn đúng và bố trí đúng các
tầng, lớp vật liệu sao cho phù hợp với nhiệm vụ chức năng của chúng, bảo
đảm cả kết cấu thỏa mãn các yêu cầu trên đồng thời thoả mãn được các điều
Trang 29kiện về khả năng cung ứng vật liệu, công nghệ thi công, khả năng khai thác,
duy tu, sửa chữa sau này
Trừ trường hợp bố trí kết cấu ngược đối với mặt đường mềm, nên bố trí
mô đun và cường độ các lớp vật liệu trong kết cấu từ trên xuống dưới giảm
dần để phù hợp với trạng thái phân bố ứng suất Đồng thời, nên bố trí chiều
dày của các lớp tăng dần để giảm giá thành xây dựng, không nên bố trí quá
nhiều lớp vật liệu để tránh gây phức tạp, khó khăn cho việc triển khai công
nghệ thi công
a Chọn loại tầng mặt áo đường:
Chất lượng khi sử dụng của mặt đường phụ thuộc rất nhiều vào tính chất
và tình trạng của tầng mặt Tầng mặt áo đường ngoài việc thể hiện rõ nhất chất
lượng phục vụ của tuyến còn góp phần đảm bảo độ bền vững của toàn kết cấu
Khi lựa chọn tầng mặt phải xét đến các nhóm mục tiêu dưới đây:
- Lớp mặt trên cùng phải bằng phẳng, có sức bám tốt, có thể thoát nước
nhanh, đảm bảo an toàn và thuận tiện trong quá trình xe chạy trên đường
- Duy trì tính toàn vẹn của kết cấu và bảo vệ các lớp móng không bị
thấm nước mưa và nước từ cống rãnh chảy tràn trên đường
- Giảm được tác động đến môi trường như không phát sinh tiếng ồn,
không gây ô nhiễm nước mưa hoặc không toả ra khí độc hay hơi độc
- Khả năng bảo dưỡng đơn giản với giá thành duy tu bảo dưỡng nhỏ và
phù hợp với trình độ công nghệ
b Tầng móng:
Gồm nhiều lớp được chọn tuỳ theo điều kiện nền đường, địa chất, thuỷ
văn, thổ chất và tình hình vật liệu tại chỗ sẵn có Các lớp vật liệu tầng móng
có độ cứng giảm dần và có thể thay đổi trên từng đoạn ngắn để phù hợp với
yêu cầu chịu lực Lớp móng còn thường thay đổi cả bề dày để đảm bảo cường
độ chung của cả kết cấu áo đường khi cường độ nền đất thay đổi Do không
chịu tác dụng phá hoại bề mặt (như tầng phủ) nên vật liệu tầng móng có thể
dùng cả các loại kết cấu có cấu trúc rời rạc, kích cỡ lớn, chịu bào mòn kém
nhưng phải có độ cứng và độ chặt nhất định và phải cơ giới hoá được trong
Trang 30quá trình thi công Lớp đáy áo đường hoặc lớp móng dưới sát với nền đất nên
bố trí lớp vật liệu kín, đất đầm nén chặt để không thấm hơi hay nước dưới đáy
áo đường, đảm bảo cường độ nền đất ở dưới được ổn định
đường phải luôn nắm vững quan điểm thiết kế tổng thể nền mặt đường và
nguyên tắc tạo một kết cấu kín nhằm hạn chế sự thâm nhập của mọi nguồn ẩm
vào áo đường và khu vực tác dụng của nền đường từ mọi phía bằng các biện
pháp cải thiện chế độ thuỷ nhiệt của nền đường, tăng cường độ nền đường
bằng cách đầm nén chặt đất nền đường, nâng cao đáy áo đường so với mực
nước ngầm, tăng bề rộng lề đường để mép áo đường đủ xa nước ngập hai bên,
làm các lớp cách nước, cách hơi hoặc thay bằng các loại vật liệu khác có
cường độ và ổn định cao hơn
đến các đặc trưng nhiệt lí của các lớp vật liệu và quy luật phân bố biến đổi
nhiệt độ trong các lớp áo đường hàng ngày, hàng mùa, hàng năm Bố trí các
lớp vật liệu kề nhau không quá chênh lệch về độ cứng, về các đặc trưng nhiệt
lí: hệ số dẫn nhiệt, hệ số truyền nhiệt độ để tránh áo đường bị nứt
Tóm lại, để đảm bảo kết cấu áo đường đủ cường độ, đạt yêu cầu về tính
ổn định nước và ổn định nhiệt cũng như các phẩm chất sử dụng khác, khi thiết
kế cấu tạo cần nắm vững nhiệm vụ, chức năng của mỗi tầng, lớp kết cấu đồng
thời phải nắm vững các điều kiện thực tế cụ thể về khí hậu, địa chất, thuỷ văn,
vật liệu xây dựng, thời gian bất lợi và trạng thái bất lợi về ẩm và nhiệt đối với
nền, mặt đường Khi thiết kế cấu tạo áo đường cũng phải chú trọng các quan
điểm thiết kế tổng thể nền mặt đường, quan điểm phân kỳ đầu tư để nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn, quan điểm tận dụng vật liệu tại chỗ để giảm chi phí vận
chuyển và giảm mức sử dụng ngoại tệ, quan điểm tạo thuận lợi cho thi công và
duy tu, sửa chữa, cải tạo tăng cường áo đường trong quá trình khai thác sau này
3.3.2 So sánh kinh tế khi thiết kế, xây dựng mặt đường:
Như đã biết, áo đường là bộ phận đắt tiền nhất của đường ôtô, chi phí cho
xây dựng và duy tu, bảo dưỡng trong quá trình khai thác chiếm một tỉ lệ rất lớn
nên việc nghiên cứu, tính toán để so sánh các kết cấu áo đường có ý nghĩa rất
Trang 31quan trọng, ngoài việc đảm bảo các yêu cầu về kỹ thuật thì đòi hỏi các kết cấu
áo đường đề xuất phải có giá thành xây dựng chấp nhận được không vượt quá
giá thành của các kết cấu truyền thống, phù hợp với mức đầu tư khi xây dựng và
có chi phí cho duy tu, bảo dưỡng nhỏ khi đưa vào vận hành
3.3.3 Công nghệ xây dựng mặt đường:
Ngoài việc chú ý khi thiết kế kết cấu áo đường thì công nghệ xây dựng
mặt đường cũng phải được cân nhắc cho phù hợp với từng vùng, từng địa
phương: lưu lượng và mật độ xe chạy, tính chất giao thông Mặt khác, trong
quá trình thi công phải không gây ô nhiễm môi trường, phá vỡ môi trường tự
nhiên Ngoài ra, các kết cấu được chọn lựa phải phù hợp với công nghệ thi
công và khả năng cung cấp vật liệu, tận dụng tối đa nguồn vật liệu sẵn có ở
địa phương
4 Một vài kết cấu đã được sử dụng ở trên thế giới và Việt Nam
ở các nước, việc lập ra các mẫu Catalo kết cấu mặt đường với kết quả
tuỳ thuộc vào điều kiện địa chất, khí hậu, lưu lượng xe, trình độ công nghệ
xây dựng, vật liệu là một công việc được tiến hành thường xuyên, liên tục
nhằm đưa ra các kết cấu phù hợp hơn, chất lượng tốt hơn Các bảng Catalo
định hình kết cấu mặt đường khi đưa ra có mục đích làm giảm bớt khối lượng
tính toán, tận dụng được kết cấu hợp lý, thống nhất trong việc sản xuất vật liệu
xây dựng, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, phù hợp với công nghệ thi
công hiện đại, tăng hiệu quả đầu tư, đưa ra được quy định chung trong việc
thiết kế, khai thác sử dụng và duy tu bảo dưỡng đường
Catalo là một cách đơn giản trình bày chính sách đầu tư kỹ thuật, sự lựa
chọn các phương án áo đường đã được chấp nhận, sự lựa chọn một quan điểm
chiến lược về áo đường dựa trên nguyên tắc tồn tại lâu dài về chất lượng của
kết cấu áo đường Đồng thời, việc trình bày dưới dạng Catalo các kết cấu tính
sẵn tránh được việc tính toán bằng số phức tạp, tránh được nhầm lẫn do các
đại lượng đầu vào thiếu chính xác, không thống nhất
Mỗi định hình kết cấu mặt đường được soạn thảo chỉ phù hợp với một
giai đoạn kỹ thuật, công nghệ trong một kỳ hạn nhất định, do vậy đòi hỏi phải
Trang 32được hiện đại hoá kịp thời một cách định kỳ
4.1 Kết cấu định hình (Catalo 1977) của Pháp [18]:
Nguyên tắc chính để xây dựng: Đưa ra các cấu trúc tuỳ thuộc vào hai
thông số chính: cấp hạng lưu lượng xe cộ Pi và cấp hạng áo đường PFj Sau khi
đã xác định giá trị của hai thông số trên sẽ có một số các cấu trúc phù hợp
Người thiết kế chọn trong số các kết cấu đó một kết cấu thích hợp với các điều
kiện của địa phương, điều kiện kinh tế và điều kiện bắt buộc về chất lượng vật
liệu, kiểm toán lại khả năng chịu lực và điều kiện làm việc của kết cấu đã chọn
a Cấp hạng lưu lượng P i :
Cấp hạng lưu lượng được xác định dựa trên lưu lượng bình quân xe
năm khai thác (với hệ số tăng trưởng dự tính 7%) Cấp hạng lưu lượng được
chia theo bảng sau:
Bảng 1.1: Cấp hạng lưu lượng theo Catalo 1977 Pháp
Cấp hạng nền đường đựoc xác định căn cứ vào cấp hạng nền đất và bản
chất, chiều dày lớp nền Cấp hạng nền đường được phân thành 3 cấp theo thứ
tự tăng dần khả năng chịu tải: PF1, PF2, PF3
c Bảng kết cấu mẫu (xem ở phụ lục 7)
Sơ đồ cấu trúc áp dụng rất giản đơn, gồm 3 lớp: lớp mặt, lớp móng trên,
lớp móng dưới Lớp móng trên và lớp móng dưới chủ yếu được làm bằng vật
liệu sỏi sạn, cấp phối hay cát có hoặc không có chất gia cố chất liên kết thuỷ
hoá Lớp mặt chủ yếu là bê tông nhựa Có 17 bản kết cấu trong Catalo 1997
4.2 Kết cấu định hình do trung tâm thiết kế nhà ở và công trình Pháp
(CEBTP) kiến nghị cho các nước nhiệt đới [21]:
Đưa ra được các Catalo kết cấu áo đường phụ thuộc vào cấp hạng lưu
lượng và cấp hạng nền đường
Trang 33Vật liệu được sử dụng làm lớp mặt chủ yếu là các lớp bê tông nhựa hay
đá trộn nhựa Các lớp móng bằng cấp phối tự nhiên, cấp phối đá nghiền,
cát có hoặc không có gia cố chất liên kết vô cơ
a Sức chịu tải của nền đường: Nền đường được chia thành 5 loại như sau:
S1 : CBR < 5; S2 : 5 < CBR < 10; S3 : 10 < CBR < 15
S4 : 15 < CBR < 30 ; S5 : CBR > 30
b Tải trọng tính toán:
Các kết cấu mặt đường do CEBTP kiến nghị đều được tính với trục đơn
có tải trọng lớn nhất là 13T với tỉ lệ vượt tải không quá 10%
Lưu lượng xe có thể được xác định theo một trong các cách:
- Lưu lượng xe ngày: Đó là lưu lượng xe trung bình trong ngày với thời
gian khoảng 15 năm bao gồm tất cả các loại xe trong đó có khoảng 30% & xe
nặng (xe có tổng trọng lượng cả hàng trên 3T) Lưu lượng xe chia thành 5 cấp:
T1 < 300; T2: 300 – 1000 ; T3: 1000 – 3000; T4: 3000 – 6000; T5: 6000 –
12000
lý do không phải kinh tế; T5 ứng với đường cao tốc 4 hoặc 6 làn xe
- Lưu lượng tích luỹ của các xe nặng: cách phân cấp này gần giống với
cách trên nếu mặt đường có tuổi thọ là 15 năm và tỷ lệ xe nặng khoảng 30%
thì phân cấp như sau:
T1 < 5.105; 5.105 < T2 < 1,5.106; 1,5.106 < T3 < 4.106
4.106 < T4 < 107; 107 < T5 < 2.107
c Lập được các bảng giới thiệu các kết cấu có thể áp dụng tuỳ theo tình hình
của địa phương như vật liêu xây dựng, lưu lượng xe và sức chịu tải của đất nền
4.3 Kết cấu định hình của Cộng hoà Liên Bang Đức [22]:
Catalo kết cấu áo đường được xây dựng theo các thông số và nguyên tắc sau:
Tải trọng trục được quy về tải trọng tiêu chuẩn 10T, có các cấp lưu lượng
Bảng 1.2: Cấp hạng lưu lượng xe/ngày đêm ở năm tính toán
Trang 34> 3200 1800– 3200 900 – 1800 300 – 900 60 – 300 10 – 60 <10
Kết cấu có lớp móng cố định để đảm bảo đạt mô đun đàn hồi 150 hoặc
180 MN/m2, thay đổi lớp mặt phụ thuộc vào loại tải trọng
Điều kiện bất lợi của nền và móng mặt đường là thời gian đóng băng
trong năm và chiều dày lớp chống đóng băng
4.4 Kết cấu định hình của Anh [20]:
Viện nghiên cứu đường bộ Anh (TRRL) đưa ra bảng kết cấu định hình
Road Note31 – Hướng dẫn thiết kế kết cấu mặt đường nhựa ở các nước nhiệt
đới và cận nhiệt đới
- Cường độ vận chuyển được chia thành 8 cấp:
Bảng kết cấu định hình có 8 loại kết cấu với lớp mặt chủ yếu là bê tông
nhựa hay hỗn hợp đá nhựa Lớp móng là các loại cấp phối hay đất đá thiên
nhiên có hoặc không có gia cố chất liên kết (Xem phụ lục 6)
4.5 Kết cấu định hình xây dựng ở Việt Nam:
loại vật liệu điển hình sau:
- Lớp mặt: Bê tông nhựa, đá dăm đen hoặc thấm nhập nhựa, láng nhựa
(áp dụng với những đường cấp thấp) và bê tông xi măng
- Lớp móng trên: Láng nhựa, thấm nhập nhựa, cấp phối đá dăm loại 1 có
gia cố hoặc không gia cố xi măng, đất hoặc cát gia cố xi măng, đá dăm nước
Trang 35- Lớp móng dưới: Cấp phối đá dăm loại 2, cấp phối đồi, cấp phối sỏi
cuội, đất gia cố xi măng, đá hộc, đá dăm kích cỡ mở rộng
5):
- Phân loại lưu lượng xe:
Trang 36vụ T15 (xe/ngày đêm)
Mô đun
đàn hồi yêu cầu Eyc(daN/cm2)
- Phân loại cấp nền đường: được chia như sau:
Bảng 1.6 : Phân loại cấp hạng nền đất
Chỉ số CBR (%) 5 8 10 15
Dùng các trị số mô đun đàn hồi E0 bằng 320, 420, 500, ≥600 tương ứng
với các cấp nền đường N1-1, N1-2, N2, N3, riêng đối với nền đất có mô đun đàn
cao (E0 = 800, 1000, daN/cm2) thì có các nghiên cứu riêng
- Vật liệu và thông số tính toán vật liệu:
+ Vật liệu lớp mặt: dùng hai lớp bê tông nhựa: hạt mịn và hạt trung
+ Vật liệu lớp móng trên : Cấp phối đá dăm loại 1; Đá dăm đen; Đá gia
cố xi măng 5%; Đất gia cố xi măng 8 – 10%;
+ Vật liệu lớp móng dưới : Cấp phối đá dăm loại 2, cuội sỏi; Cát vàng
gia cố 6 – 8% xi măng; Cát đen, á cát gia cố 6% xi măng; Đất sét, á sét gia
cố 8 – 12% vôi; Cấp phối đồi > 30% cỡ hạt > 5mm
Trang 37+ Lớp lót nền ( có hoặc không có) : Cát đen, á cát gia cố 6% xi măng;
Đất sét, á sét gia cố 8 – 12% vôi; Cuội sỏi < 10% cỡ hạt < 0.5mm; > 60% cỡ
hạt > 2mm; Cấp phối đồi > 30% cỡ hạt > 5mm
Thông số tính toán của các lớp vật liệu dựa vào :
+ Kết quả theo dõi sử dụng quy trình thiết kế 22TCN 211-93 theo
hướng lấy các giá trị cận trên (trị số lớn) để xét đến năng lực trang thiết bị của
các đơn vị thi công hiện nay đã được cải thiện rất nhiều so với thời điểm quy
trình ban hành
+ Xét đến các kinh nghiệm, các số liệu thu thập được trong phòng thí
nghiệm và thực tế thiết kế xây dựng ở các công trình: Quốc lộ 5, các dự án
thành phần của Quốc lộ 5, Quốc lộ 10,
5 Kết luận:
Thiết kế kết cấu áo đường là công việc đòi hỏi phải tiến hành lựa chọn,
bố trí các tầng lớp kết cấu một cách hợp lý nhất, vừa bảo đảm đúng chức năng
của mỗi lớp đạt yêu cầu về chịu tác dụng của xe chạy và các tác động của môi
trường, đồng thời lại phải bảo đảm được tính kinh tế, hiệu quả trong đầu tư
xây dựng và trong duy tu sửa chữa khi đưa đường vào khai thác Vì lẽ đó nên
việc nắm vững tổng thể của kết cấu về mặt chịu lực với sự bố trí các lớp vật
liệu có các tính chất riêng biệt và sự ảnh hưởng lẫn nhau của chúng là rất quan
trọng Một tổ hợp kết cấu không được bố trí hợp lý thì bề dầy lớn hay vật liệu
đạt yêu cầu cũng chưa hẳn đã là tốt Đó phải là sự thấu hiểu về vai trò rất quan
trọng của nền đất dưới đáy áo đường: cường độ, độ ổn định, chế độ thuỷ
nhiệt hoặc là tầng mặt với độ bằng phẳng, thoát nước tốt Đó là việc căn cứ
vào chức năng của mỗi lớp để lựa chọn vật liệu và sự tận dụng tối đa về vật
liệu sẵn có phù hợp với công nghệ thi công khi thiết kế, xây dựng Ngoài ra,
xuất phát từ ý nghĩa, cấp hạng kỹ thuật, lưu lượng xe chạy thiết kế, phương
pháp tính toán kiểm tra mà áp dụng một cách linh hoạt, sáng tạo các kết cấu
áo đường thích hợp, thoả mãn ở các mức độ khác nhau các yêu cầu đạt ra
nhằm tạo được một kết cấu bền vững Đó chính là mục đích chính khi nghiên
cứu vấn đề này
Trang 38Chương II Hiện trạng hệ thống mặt đường ưu, nhược điểm
kết cấu đang được sử dụng ở điện biên
1 Đặc điểm về tự nhiên:
1.1 Vị trí địa lý:
Điện Biên là một tỉnh biên giới miền núi Tây Bắc, được thành lập trên
cơ sở chia tách tỉnh Lai Châu (cũ) thành hai tỉnh Điện Biên và Lai Châu từ
năm 2003 Tỉnh có toạ độ địa lý từ 20o54’đến 22o33’ vĩ độ Bắc và từ 102o10’
Đông Bắc giáp tỉnh Sơn La; phía Tây Bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc);
phía Tây và Tây Nam giáp hai tỉnh Luông Pha Băng và Phong Sa Lỳ nước
cộng hoà dân chủ nhân dân Lào
Toàn tỉnh có 8 đơn vị hành chính bao gồm: Thành phố Điện Biên Phủ,
thị xã Mường Lay và 6 huyện: Mường Nhé, Điện Biện, Điên Biên Đông, Tuần
Giáo, Tủa Chùa, Mường Chà với tổng diện tích tự nhiên 954.228,90 ha và dân
số trung bình (2004) là 444.866 người, chiếm 2,8% diện tích tự nhiên và
0,54% dân số cả nước Điện Biên là tỉnh vùng núi cao, dân cư thưa thớt, chủ
yếu là dân tộc ít người Thành phố Điện Biên Phủ là trung tâm kinh tế – văn
hoá - chính trị của tỉnh Điện Biên, cách thủ đô Hà Nội 502 km
1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo:
Địa hình của Điện Biên có những đặc điểm rất riêng biệt so với các khu
khác ở Tây Bắc, đó là sự kết hợp nhiều kiểu địa hình khác nhau, phổ biến là
địa hình núi cao được tạo bởi những dãy núi chạy dài theo hướng Tây Bắc -
Đông Nam, độ cao biến đổi từ 200 đến 1800m
Địa hình có xu hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam và nghiêng dần từ
Tây sang Đông ở phía Bắc có đỉnh cao trên 2000m nằm trong dãy Pu Tu
Lum (thuộc Mường Nhé) phân chia biên giới Việt - Trung Phía Tây có đỉnh
cao 1860m và dãy điểm cao từ Mường Phăng kéo xuống Tuần Giáo Xen lẫn
các dãy núi cao là các thung lũng, sông suối nhỏ hẹp và dốc phân bố khắp nơi
Trang 39trên địa bàn tỉnh, trong đó đáng kể là thung lũng Mường Thanh rộng hơn
15.000 ha là cánh đồng lớn nổi tiếng nhất của tỉnh và toàn vùng Tây Bắc
Núi cao ở đây bị bào mòn mạnh tạo nên những bình nguyên khá rộng
như bình nguyên A Pa Chải (huyện Mường Nhé), bình nguyên Tả Phình (Tủa
Chùa) Ngoài ra còn có các địa hình thung lũng, sông suối, thềm, bãi bồi, sườn
tích, hang động castơ, mô sụt võng phân bố rộng khắp với diện tích nhỏ
Nhìn chung, địa hình ở Điện Biên không bằng phẳng, địa hình có độ
dốc trên 25o chiếm khoảng 70% diện tích tự nhiên, trừ khu vực lòng chảo Điện
Biên và các bình nguyên nhỏ trên còn hầu hết là địa hình đồi núi hiểm trở và
chia cắt mạnh nên gặp rất nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế – xã hội,
đặc biệt là giao thông và tổ chức dân cư xã hội
1.3 Đặc điểm về địa chất:
Điện Biên cũng như vùng Tây Bắc thuộc hệ uốn nếp Tây Việt Nam gồm
nhiều đới kiến tạo khác nhau Phía Nam Điện Biên thuộc kiến trúc uốn nếp
Hecxini muộn còn các đới khác thuộc kiến trúc Indoxini Với đặc điểm cấu
tạo địa chất phức tạp, những đá phát triển trong vùng phần lớn là đá trầm tích
phún xuất biến chất và một ít là đá mắc ma xâm nhập, loại này xuất hiện
nhiều ở phía Bắc và Đông Bắc với những khối núi đồ sộ được cấu tạo bằng đá
Granit cứng nhọn và có nhiều khe nứt Nham thạch chủ yếu thuộc trầm tích hệ
Triát thống trung bậc Nerirettyđiệp suối bàng (T3n r)Sb Ngoài ra, còn có trầm
tích hệ Triát thống trung bậc Canxi (T3k) phân bố thành dải hẹp được giới hạn
bới đứt gãy phía Bắc thung lũng Điện Biên Thành phần chủ yếu của trầm tích
là cát kết, bột kết, sét kết, đá phiến sét có xen các lớp vôi, các thấu kính hoặc
vỉa than mỏng, dưới cùng là lớp cuội kết, sạn kết, cát sét Cabonat Đất đá đệ tứ
ở khu vực có bề dày trung bình 40cm với thành phần chủ yếu là sét pha lẫn
cuội, sỏi, sét pha lẫn dăm sạn Với cấu tạo địa chất cùng với địa hình phức tạp
làm cho các sườn dốc đất đá dễ bị phong hoá làm cho các mái dốc thường bị
trượt cộng với ảnh hưởng của nước mưa, nước ngầm đã làm cho độ chặt, cường
độ lực dính C, góc ma sát trong ϕ thay đổi rất lớn, nền đường dễ bị phá hoại
1.4 Đặc điểm khí hậu:
Khí hậu Điện Biên nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm,
Trang 40mùa nóng mưa nhiều, mùa khô lạnh và ít mưa, cuối mùa khô, đầu mùa mưa
chịu ảnh hưởng của gió Lào nên khô hanh Điện Biên được phân hoá thành hai
tiểu vùng khí hậu rõ rệt là: Tiểu vùng khí hậu Mường Chà và tiểu vùng khí hậu
trên cao nguyên Sơn La – thượng nguồn sông Mã:
Lượng mưa trung bình nhiều năm (thời đoạn 1963-2002) tại trạm Điện
Biên là 1602 mm/ năm Lượng mưa năm lớn nhất đạt 2240 mm (1994) lớn gấp
3,06 lần lượng mưa năm nhỏ nhất 731,8 mm (1965) và phân bố không đều
theo không gian và thời gian Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 9 với
tổng lượng mưa trung bình nhiều năm là 1265 mm chiếm 78,9% tổng lượng
mưa toàn năm Mùa khô bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, tổng lượng
mưa nhỏ, chỉ chiếm 22,1% lượng mưa cả năm Trong đó tháng 10 và tháng 4
là hai tháng chuyển tiếp mùa nên lượng mưa còn khá lớn, năm tháng còn lại là
Độ ẩm tương đối lớn, độ ẩm trung bình nhiều năm tại Điện Biên là
84% Thời kỳ mùa mưa, độ ẩm cao đạt 88%, mùa khô độ ẩm giảm xuống có