KT-DG kết quả học tập của HS bằng TNKQ, đặc biệt là hình thức TNKQ nhiều lựa chọn ra đời khắc phục được những yếu điểm của PP kiểm tra luận đề.. Một số đề tài nghiên cứu về xây dựng hệ t
Trang 1BO GIAO DUC VA DAO TAO TRUONG DAI HQC SU PHAM TP HO CHi MINH
Nguyễn Thi Tong
AY DUNG HE THONG CAU HOI VA BAI TOAN HOA HOC
CO PHUONG PHAP GIAI NHANH LAM CAU TRAC
NGHIỆM KHÁCH QUAN NHIÊU LỰA CHỌN
Hóa học 10 — chương trình nâng cao
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học môn Hóa học
Mã số: 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS.TRANG THỊ LÂN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2008
Trang 2LOT CAM ON
ệỀ tài ựoàn thành nhờ sự giúp đồ thiệt tình của quắ thầy cô Khoa héa trong Bai Hoc Su Pham TP :#ồ chắ Minh, đặc Biệt là nhờ Sự giúp
đồ nhiệt tình của TS Trang Thị Cân
đồi xịn 6ày tỏ lòng Biết ơn sâu sắc tới TS Trang Thị Cân đã dànH:
nhieu thời gian, tận tình lướng dan, doc ban thảo, 66 sung va giúp đỡ
tôi trong thời gian nghién atu va hoan thành luận uăn
đôi cũng xịn đày tỏ lồng Biết ơn sâu sắc tới quắ thấy cô trong
Khoa 0à phòng quản lắ Khoa học - trường ệại lọc sư phạm TP HO chi
Minh da cé nhieng y kién déng gop qui bau trong qud trinh téi hodn thanh
ludin van
Cubi cùng tôi xịn chân thành cám ơn ệan giám liệu, tập thể giáo tiên va hoc sinh các trường TT chuyên Tran Bai Nghia, tnrong Boi
dưỡng văn hoá ngoài giờ 218 Lắ Tự Trọng đã giúp đỡ tôi trong quá
trình thec nghiém su pham dé hoan thanh ludin van
Sau cùng tôi xịn gởi lời cám ơn chân thành nhất đến gia đình, ựạn 6é uà những người thân đã luôn luôn quan tâm, động tiên giúp đỡ tôi
trong suốt thời gian học tập tà hoàn thành luận 0ăn
TP.Hồ Chắ Minh, ngày 30 tháng 6 năm 2008
Tác giả
Nguyễn Thị Tòng
Trang 3DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHU’ VIET TAT
: Điều kiện tiêu chuẩn
:Giao dục- Đào tạo : Giáo sư
: Giáo viên
: Hóa học : Học sinh
: Hệ thống tuần hoàn : khí
: Kiểm tra- đánh giá : loãng
: Nhà xuất bản : Phương pháp
Trang 4MO DAU
1 Li do chon dé tai
Dé tién kip va hoa nhap véi nén gido duc thế giới, nhiều năm nay cả nước ta
dang tién hanh công cuộc đổi mới nền giáo dục trên các lĩnh vực: xác định lại mục
tiêu, thiết kế lại chương trình, nội dung và thay đôi cách thức kiểm tra, đánh giá Trong
đó KT-ĐG thành quả học tập của HS đóng vai trò rất quan trọng
Lâu nay, ở nước ta người dạy thường kiểm tra, đánh giá bằng PP luận đề Tuy
nhiên, PP kiểm tra này có nhiều han ché KT-DG kết quả học tập của HS bằng TNKQ, đặc biệt là hình thức TNKQ nhiều lựa chọn ra đời khắc phục được những yếu điểm của PP kiểm tra luận đề Khối lượng kiến thức được kiểm tra lớn, không phụ thuộc vào
chủ quan của người chấm, hạn chế được khả năng quay cóp, gian lận trong khi làm bài
của HS Việc chấm bài nhanh chóng, chính xác vì hiện nay có những phần mềm máy tính chuyên biệt dé chấm và xử lí kết quả của bài TNKQ Hầu hết bài toán áp dụng
trong TNKQ là các bài có thể giải nhanh nên năng lực tư duy và trí thông minh của HS
sẽ phát triển Do đó Bộ Giáo dục và Dao tạo đã áp dụng PP KT-ĐG bằng TNKQ ở các
môn Toán, Lí, Hoá, Sinh, Anh Văn trong kì thi Tốt nghiệp THPT và đại học năm học
2006-2007, tiến tới sẽ áp dụng cho những môn khác nữa
Dé KT-DG bang TNKQ đạt hiệu quả thi cần phải nghiên cứu thật kỹ các kĩ thuật
của trắc nghiệm Xây dựng hệ thống ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm và bài toán có
phương pháp giải nhanh thật phong phú đảm bảo các yêu cầu của kiểm tra
Trong những năm gần đây, đã có nhiều đề tài nghiên cứu, xây dựng hệ thống câu
hỏi trắc nghiệm đê KT-DG kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo thực hành thí nghiệm môn hoá học của HS Số lượng các đề tài nghiên cứu về vấn đề này chưa nhiều Một số đề tài nghiên cứu về xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm để KT-ĐG kiến thức hoá học
của HS lớp 10, 11, lớp 12 nhưng được biên soạn theo chương trình SGK cũ So với
chương trình cũ, nội dung chương trình của bộ SGK hoá học mới có nhiều sự thay đổi, nhiều kiến thức mới được đưa vảo
Là GV đạy bộ môn hoá học ở trường THPT, tôi rat quan tâm đến van dé déi mới
PP dạy học, đổi mới KT-ĐG Chúng tôi muốn có một hệ thống ngân hàng câu hỏi chất
lượng, phong phú dé đưa vào KT-ÐG kết quả học tập của HS Góp phần nâng cao chất
lượng dạy và học bộ môn hoá học ở trường THPT
Trang 5Chính vì những lí do đó mà tôi đã lựa chọn dé nghiên cứu đề tài: “Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài toán hóa học có PP giải nhanh làm câu trắc nghiệm khách
quan nhiều lựa chọn Hoá học lớp 10 -chương trình nâng cao”
học tập của HS, nâng cao chất lượng đạy và học môn Hoá học
Nhiệm vụ đề tài
Để đạt được mục đích trên, chúng tôi phải hoàn thành những nhiệm vụ sau: Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến vấn đề KT-ĐG, các tài liệu về PP TNKQ
Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc xây dựng câu hỏi TNKQ
Nghiên cứu và tìm hiểu các PP xây dựng bài toán có PP giải nhanh
Nghiên cứu chương trình, SGK lớp 10, các sách bài tập trắc nghiệm lớp 10
Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài toán hóa học có PP giải nhanh làm câu hỏi
TNKQ nhiều lựa chọn (chương trình lớp 10 nâng cao) để KT-ĐG thành quả học
Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thê nghiên cứu
Quá trình KT-ĐG kết quả học tập của HS trong giảng dạy môn hóa học (lớp
10 THPT- chương trình nâng cao)
Đối tượng nghiên cứu
Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài toán hóa học có PP giải nhanh dạng câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn (hoá học lớp 10 -chương trình nâng cao)
Phạm vỉ nghiên cứu
Câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn bộ môn hoá học (lớp 10- chương trình nâng cao)
HS lớp 10 trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa, Trường Bồi dưỡng Văn hoá
ngoài giờ 218 Lí Tự Trọng - Tp.Hồ chí Minh
Nghiên cứu trong hai năm học: 2006-2007 và 2007-2008
Trang 66 Phương pháp và phương tiện nghiên cứu
- _ Đọc, nghiên cứu và phân tích các tài liệu liên quan
- PP điều tra
- PPTN sư phạm
-_ Dùng toán học thống kê để xử lí số liệu từ kết qua TN
7 Giả thuyết khoa học
Nếu có một hệ thống câu hỏi TNKQ hoá học nhiều lựa chọn đạt chất lượng, đảm bảo các kĩ thuật trắc nghiệm dùng vào KT-ĐG kiến thức của HS thì kết quả kiêm tra sẽ
chính xác, công bằng và việc đánh giá sẽ đạt hiệu quả cao, góp phần nâng cao chất
lượng dạy và học Nếu HS được luyện tập với bài toán có PP giải nhanh thì HS sẽ
được rèn luyện trí thông minh và phát triển năng lực tư duy.
Trang 7Chuong 1 TONG QUAN VE CO SO Li LUAN CUA DE TAI
1.1 Cơ sở lí luận về kiểm tra đánh giá
1.1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1.1 Thế giới
Theo Nguyễn Phụng Hoàng, Võ Ngọc Lan [15] các PP đo lường và trắc nghiệm
đầu tiên được tiến hành vào thế kỷ XVII- XVIII ở khoa tâm lý Năm 1879 ở châu Âu:
phòng thí nghiệm tâm lý đầu tiên được Wichlm Weent thành lập tại Leipzig
Đến năm 1904 Alfred Binet, nhà tâm lý học người pháp trong quá trình nghiên cứu trẻ em mắc bệnh tâm thần đã xây dựng một số bài trắc nghiệm về trí thông minh
Năm 1916 Lewis Terman đã dịch và soạn các bài trắc nghiệm này ra tiếng Anh từ đó
trắc nghiệm trí thông minh được gọi là trắc nghiệm Stanford-Binet
Theo Giáo sư Trần Bá Hoành [14] vào đầu thế kỷ XX, E.Thorm Dike là người đầu tiên đã dùng TNKQ như là PP “khách quan và nhanh chóng” để đo trình độ HS,
bắt đầu dùng với môn số học và sau đó là một số môn khác
Trong những năm gần đây trắc nghiệm là một phương tiện có giá trị trong giáo dục Hiện nay trên thế giới trong các kỳ kiểm tra, thi tuyển một số môn đã sử dụng trắc nghiệm khá phổ biến
Ở Mỹ, vào đầu thế kỷ XX đã bắt đầu áp dụng PP trắc nghiệm vào quá trình dạy
học Năm 1940 đã xuất bản nhiều hệ thống trắc nghiệm đánh giá kết quả học tập của
HS Năm 1961 có 2126 mẫu trắc nghiệm tiêu chuẩn Đến năm 1963 đã sử dụng máy
tính điện tử thăm đò bằng trắc nghiệm trên diện rộng
Ở Anh, thành lập hội đồng toàn quốc hàng năm quyết định các mẫu trắc nghiệm tiêu chuẩn cho các trường trung học
Ở Nga, trong những năm đầu của thế kỷ XX nhiều nhà sư phạm đã sử dụng kinh
nghiệm của nước ngoài nhưng thiếu chọn lọc nên bị phê phán Đến năm 1962 đã phục
hồi khả năng sử dụng trắc nghiệm trong dạy học
O Trung Quốc đã áp dụng trắc nghiệm trong kỳ thi dai hoc tir nam 1985
Ở Nhật Bản đã sử dụng PP trắc nghiệm và có một trung tâm quốc gia tuyên sinh đại
học phụ trách vấn đề này
Ở Hàn Quốc từ những năm 1980 đã thay các kỳ tuyển sinh riêng rẽ ở từng trường bằng kỳ thi trắc nghiệm thành quả học tập trung học bậc cao toàn quốc
1.1.1.2 Việt Nam
Trang 8Có thể nói ở Miền Nam trước những năm 1975, TNKQ phát triển khá mạnh Từ
năm 1956 đến những năm 1960 trong các trường học đã sử dụng rộng rãi hình thức thi TNKQ ở bậc trung học Năm 1969 trắc nghiệm đo lường thành quả học tập của Giáo
Sư Dương Thiệu Tống được xuất bản Như vậy đã có tài liệu tham khảo về TNKQ cho
GV, HS và các nghiên cứu về TNKQ cũng khá phát triển lúc bấy giờ
Năm 1974, kỳ thi tú tài toàn phần đã được thi bằng TNKQ [32] Sau năm 1975 một
số trường vẫn áp dụng TNKQ song có nhiều tranh luận nên không áp dụng TNKQ
trong thi cử
Những nghiên cứu đầu tiên của TNKQ ở Miền Bắc là của GS.Trần Bá Hoành
Năm 1971, ông đã công bố: “Dùng PP test để kiềm tra nhận thức của HS về một số khái niệm trong chương trình sinh học đại cương lớp IX” Một số tác giả khác cũng đã
sử dụng trắc nghiệm vào một số lĩnh vực khoa học chủ yếu là trong tâm lý học và một
số ngành khoa học khác chẳng hạn như tác giả Nguyễn Như Ân (1970 ) dùng PP trắc
nghiệm trong việc thực hiện đề tài “Bước đầu nghiên cứu nhận thức tâm lý của sinh viên đại học sư phạm”
Năm 1993 trường đại học Bách Khoa Hà Nội có cuộc hội thảo khoa học “kĩ năng
test và ứng dụng ở bậc đại học” (4/12/1993 ) của các tác giả Lâm Quang Thiệp, Phan
Hữu Tiết, Nghiêm Xuân Nùng Năm 1994 vụ Đại Học cho in “Những cơ sở của kỹ thuật trắc nghiệm” (tài liệu lưu hành nội bộ) của tác giả Lâm Quang Thiệp
1.1.2 Khái niệm - Chức năng của kiểm tra đánh giá
1.1.2.1 Khái niệm kiểm tra đánh giá [14]
Trong quá trình dạy học, kiểm tra- đánh giá là giai đọan kết thúc một quá trình dạy học, đảm nhận một chức năng lí luận dạy học cơ bản, chủ yếu không thể thiếu được
của quá trình này
Kiểm tra là sự xem xét một cách kỹ lưỡng một vật, một hiện tượng, một quá trình dựa trên những mục tiêu đã xác định trước
Kiểm tra gồm ba chức năng thống nhất với nhau, bổ sung cho nhau và thâm nhập vào nhau
- Chức năng phát hiện, điều chỉnh
- Chức năng củng có, phát triển trí tuệ của HS
- Chức năng giáo dục
Về lí luận, kiểm tra có vai trò liên hệ nghịch trong quá trình dạy học Kiểm tra biết
những thông tin, kết quả về quá trình dạy của thầy và quá trình học của trò, từ đó có
Trang 9quyết định cho sự điều khiển tối ưu của cả thay lẫn trò HS sẽ học tốt hơn nếu thường
xuyên được kiểm tra-đánh giá một cách nghiêm túc, công bằng, với kĩ thuật cao
Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của công
việc trên cơ sở các thông tin thu được và so sánh, đối chiếu với các mục tiêu đưa ra từ
trước Từ đó đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh
nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc Ở khái niệm này, đánh giá không đơn thuần là sự ghi nhận thực trạng mà còn là đề xuất những quyết định làm thay đôi thực trạng Vì thế, đánh giá đi liền với kiểm tra được xem là một khâu rất quan trọng, đan xen với khâu lập kế hoạch và khâu triển khai công việc
1.1.2.2 Chức năng của kiểm tra đánh giá
Kiểm tra gồm 3 chức năng bộ phận liên kêt thống nhất với nhau đó là: đánh giá,
Hình 1.1 Cấu trúc chức năng của kiểm tra
đào tạo phát của HS tài liệu mới quả học tập
Hình 1.2 Vị trí của kiểm tra- đánh giá trong quá trình dạy học
- Nhờ KT-ĐG GV sẽ phát hiện mặt tốt và cả mặt chưa tốt trong trình độ đạt tới của
HS, trên cơ sở đó tìm ra nguyên nhân của những lệch lạc về phía người dạy cũng như
phía người học, hoặc từ khách quan Phát hiện những lệch lạc, nguyên nhân lệch lạc trong nhận thức của HS là rất quan trọng Thực tế kết quả học tập của HS là điều đã
dự kiến trong mục tiêu, còn những lệch lạc thường được bỏ qua, nếu sửa chữa loại
trừ chúng thì chất lượng đảo tạo sẽ tốt hơn
- Từ KT-ĐG, phát hiện lệch lạc, người GV sẽ điều chỉnh, uốn nắn, loại trừ những lệch
lạc đó, tháo gỡ những khó khăn trở ngại, thúc đây chất lượng dạy học lên rất nhiều
1.1.3 Ý nghĩa bản chất của việc kiểm tra đánh giá
Trang 101.1.3.1 Ý nghĩa của việc kiểm tra đánh giá
e Với HS
- Viéc KT-DG thường xuyên có hệ thống sẽ cung cấp kịp thời những thông tin giúp
người học tự điều chỉnh hoạt động học HS kịp thời nhận thấy mức độ đạt được
những kiến thức của mình, phát hiện lỗ hỗng kiến thức cần được bổ sung trước khi
bước vào học phần kiến thức mới, có cơ hội để nắm chắc những yêu cầu cụ thể đối
với từng phần của chương trình
- Thông qua KT-ĐG HS sẽ rèn luyện và củng cố được nhiều kĩ năng như: ghi nhớ, tái hiện, chính xác hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa kiến thức
- KT-ĐG giúp phát huy trí thông minh, linh hoạt khả năng vận dụng kiến thức đã học
để giải quyết những tình huống thực tế
- KT-ĐG được tô chức nghiêm túc, công bằng sẽ giúp HS nâng cao tỉnh thần trách
nhiệm trong học tập, có ý chí vươn lên đạt kết quả cao hơn, củng cố niềm tin vào khả
năng của mình, nâng cao ý thức tự giác, khắc phục tính chủ quan, tự mãn
se Với GV
-_ Việc KT-ĐG hiệu quả học tập của HS giúp GV có những thông tin cần thiết đê điều
chỉnh kịp thời hoạt động dạy của mình
- KT-ĐG kết hợp với việc thường xuyên theo dõi giúp GV nắm được một cách khá cụ
thể và chính xác năng lực, trình độ mỗi HS, từ đó có biện pháp cụ thể, thích hợp
riêng cho từng nhóm HS, nâng cao chất lượng học tập chung cho cả lớp
- Qua KT-ĐG, GV đánh giá được hiệu quả của những cải tiến trong nội dung, PP, hình
thức tô chức dạy học mà mình đã thực hiện
1.1.3.2 Bản chất của việc kiểm tra đánh giá
- Vé mặt lí luận dạy học, kiêm tra thuộc phạm trù PP, nó giữ vai trò liên hệ nghịch
trong quá trình dạy học Từ những thông tin về kết quả của hoạt động công tác trong
hệ dạy học mà góp phần quan trọng quyết định cho sự điều khiến tối ưu hoạt động của hệ dạy (cả người dạy lẫn người học)
- Trong dạy học, đánh giá là một vấn đề hết sức phức tạp, nếu không cần thận dễ dẫn
đến sai lầm Vì vậy đổi mới PP dạy học nhất thiết phải đổi mới cách KT-ĐG, sử
dụng kĩ thuật ngày càng tiên tiến, có độ tin cậy cao, bên cạnh đó còn có công cụ KT-
DG cho HS để họ tự KT-ĐG kết quả lĩnh hội kiến thức của bản thân mình, từ đó điều
chỉnh uốn nắn việc học tập của bản thân
Như vậy sự KT-ĐG của người dạy phải gây ra và thúc đây được sự tự KT-ĐG của
Trang 11người học Hai mặt này phải thống nhất với nhau KT-ĐG phải có tác dụng làm cho
HS thi đua học tốt với chính mình chứ không phải là ganh đua với người khác
- Hệ thống các kĩ năng và khả năng vận dụng vào thực tế
- Thái độ, tình cảm đối với khoa học và xã hội
e Mục đích học tập của HS
- Lĩnh hội được nội dung kiến thức đã học, nhằm đáp ứng được nhu cầu nhận thức thế
giới tự nhiên và xã hội
- Kiến thức được trang bị, đáp ứng yêu cầu về thi tuyên, nghề nghiệp và cuộc sống
Mục tiêu dạy học, mục đích học tập chính là cơ sở của việc xác định nội dung chương trình, PP, qui trình dạy và học, là cơ sở đề lựa chọn PP và qui trình KT-ĐG kết
quả học tập
Đánh giá kết quả học tập dựa trên các mục tiêu dạy học sẽ nhận được những thông
tin phản hồi chính xác nhằm bồ sung, hoàn thiện quá trình day học
1.1.4.2 Những nguyên tắc khi kiểm tra đánh giá
- Phải xuất phát từ mục tiêu dạy học Xác định rõ mục tiêu cần đạt được là điều kiện
tiên quyết của việc đánh giá
- Hình thức KT-ÐG phải có tính hiệu lực, đảm bảo mức độ chính xác
- Phải đảm bảo độ tin cậy, độ bền vững
- Đảm bảo tính thuận tiện của các hình thức KT-ĐG
- Đảm bảo tính khách quan Đây là yêu cầu không thể thiếu, nó ảnh hưởng tới toàn bộ quá trình đánh giá kết quả học tập Đánh giá khách quan kết quả học tập của người học sẽ giúp cho GV thu được tín hiệu ngược trong quá trình dạy học một cách chính
xác, từ đó điều chỉnh cách dạy của GV, cách học của HS nhằm nâng cao chất chất
lượng dạy và học Đánh giá khách quan tạo ra yếu tố tâm lí tích cực cho người học,
động viên khuyến khích họ, ngăn ngừa những biểu hiện tiêu cực trong KT-ĐG, thi
cử
- Phải đảm bảo tính đặc thù môn học, kết hợp đánh giá lí thuyết và đánh giá thực hành; đảm bảo tính kế thừa và phát triển.
Trang 12- Phải dựa vào những mục tiêu cu thể trong một bài, một chương hay sau một học
kì, với những kiến thức, kĩ năng, thái độ cụ thể tương ứng với nội dung và PP dạy học của từng lớp, từng cấp học
- Phải chú ý đến xu hướng đổi mới trong dạy học ở trường THPT Việc đánh giá phải giúp cho việc học tập một cách tích cực chủ động, giúp cho HS có năng lực giải quyết vấn đề một cách linh hoạt và sáng tạo
1.1.4.3 Các tiêu chuẩn nhận thức áp dụng cho kiểm tra đánh giá
- Biết (nhớ lại): đây là khả năng thấp nhất trong lĩnh vực kiến thức
- Hiểu: HS hiểu được những vấn đề họ biết, có khả năng áp dụng vào việc giải quyết
vấn đề mới
- Vận dụng: là khả năng vận dụng những kiến thức (như qui luật, khái niệm, định
luật ) giải quyết những vấn đề cụ thể HS có khả năng tư duy tốt sẽ vận dụng kiến
thức tốt
- Phân tích: là khả năng tách ra từng phần đề nghiên cứu, đê tìm hiểu rõ đối tượng hay
hiện tượng Phân tích còn là sự phân biệt các dấu hiệu, các đặc tính riêng biệt của đối
tượng hay hiện tượng đó một cách hệ thống
- Tổng hợp: là kĩ năng kết hợp các yếu tố riêng biệt để rút ra những cái chung, cái bản chất nhất của đối tượng hay hiện tượng, tức là những dấu hiệu trong một tổng thê Phân tích và tổng hợp có sự liên kết mật thiết với nhau, là hai mặt của một quá trình
tư duy thống nhất,có tac dụng quan trọng trong việc lĩnh hội các khái niệm khoa học
- Đánh giá: mức độ cao nhất của sự phát triển các kĩ năng về trí tuệ Dựa trên sự hiểu
biết những phân tích và tổng hợp để rút ra kết luận đúng nhất, chính xác nhất, xem
xét kết luận này có ưu nhược điểm gi, cO vai tro ra sao, tién hanh ap dung thé nao
1.1.4.4 Qui trình của việc kiểm tra đánh giá
Cơ bản gồm 5 bước
Bước I Xây dựng hệ thống chỉ tiêu về nội dung đánh giá và tiêu chí đánh giá (đánh
giá cái gì? cho điểm số thế nào?) tương ứng với hệ thống mục tiêu dạy học đã được cụ
Trang 13Bước 4 Xử lí số liệu
Bước 5 Hình thành hệ thống kết luận về việc KT-ĐG và đưa ra những đề xuất điều
chỉnh quá trình dạy học
1.1.5 Các hình thức kiểm tra đánh giá
Các hình thức tô chức KT-ÐG được tóm tắt theo 2 so d61.1 và 1.2
Sơ đồ 1.1 Phân loại các kiểu Test kiểm tra
nhiều cầu trả Phối hợp xen kẽ hai kiểu
b) Bấtthường
c) Van đáp trên lớp
Theo nội dung dạy học
Hoạt động chuyên Viết báo cáo khoa học
Trang 141.1.5.1 Kiểm tra miệng
GV đưa ra một số câu hỏi, HS trả lời trực tiếp với GV Qua câu trả lời GV nắm
được mức độ lĩnh hội tài liệu học tập Kiểm tra nói có thể tiến hành cho từng cá nhân
(hỏi cá nhân) hay đồng loạt một số HS (hỏi trực diện toàn lớp) PP kiểm tra này được
sử dụng phổ biến, rộng rãi trong các hình thức kiểm tra và trong tất cả các khâu của quá trình dạy học như: kiểm tra bài cũ, giảng bài mới hay củng cố bài học
© Uudiém:
- Rén luyén cho HS khả năng trình bày ngôn ngữ nói, khả năng xử lí vấn đề
- Biết HS thuộc hay không thuộc bài, thuộc như thế nảo
- Cho phép kiểm tra được độ rộng của kiến thức
e_ Nhược điểm:
- Không kiểm tra được độ sâu của kiến thức
- Phụ thuộc nhiều vào sự chuẩn bị của HS
e Những yêu câu đối với hình thức kiểm tra miệng
- Xác định thật chính xác các kiến thức cần kiểm tra, qua đó chính xác hóa, củng cô
kiến thức đã thu nhận được, rèn luyện kĩ năng trình bày mạch lạc và chuẩn bị để tiếp
thu kiến thức mới
- Câu hỏi đặt ra phải chính xác, rõ ràng, tránh tình trạng HS có thê hiểu theo nhiều
nghĩa khác nhau, dẫn đến lạc đề
- Câu hỏi, bài tập GV nêu ra kích thích tích cực tư duy của HS
- Câu hỏi phải phù hợp với từng đối tượng HS GV cần theo dõi, lắng nghe HS, trả lời, tạo điều kiện cho họ bộc lộ một cách tự nhiên, đây đủ nhất những hiểu biết của mình Sau khi HS trả lời, GV phải uốn nắn, bố sung kiến thức, hướng dẫn HS câu trả lời
ngắn gọn, xúc tích
1.1.5.2 Kiểm tra viết
- Kiểm tra viết là hình thức trắc nghiệm tự luận hoặc TNKQ
- Thời gian làm bài có thê là 15 phút hoặc 45 phút
a Trac nghiệm tự luận
HS làm bài kiểm tra viết trong những khoảng thời gian khác nhau tùy theo yêu cầu của người ra đề (15 — 20 phút hay cả giờ học) Kiểm tra viết được sử dụng sau khi học
một bài, một phần chương hay nhiều chương hoặc toàn bộ chương trình
b Trắc nghiệm khách quan
TNKQ được hiểu là những bài tập nhỏ hoặc câu hỏi có sẵn các phương án trả lời,
Trang 15yêu cầu HS suy nghĩ và chọn phương án trả lời đúng nhất bằng một ký hiệu nhất định 1.2 Cơ sở lí luận về trắc nghiệm
1.2.1 Khái niệm về trắc nghiệm [32], [14]
Theo GS Dương Thiệu Tống: “ Một dụng cụ hay phương thức hệ thống nhằm đo
lường một mẫu các động thái để trả lời câu hỏi: thành tích của các cá nhân như thế
nào khi so sánh với những người khác hay so sánh với một lĩnh vực các nhiệm vụ dự kiến”
Theo GS Trần Bá Hoành: “Test” có thé tam dịch là phương pháp trắc nghiệm, là
hình thức đặc biệt để thăm đò một số đặc điểm về năng lực, trí tuệ của học sinh (thông minh, trí nhớ, tưởng tượng, chú ý ) hoặc để kiểm tra một số kiến thức, kĩ
năng, kĩ xảo của học sinh thuộc một chương trình nhất định
Tới nay, người ta hiểu trắc nghiệm là một bài tập nhỏ hoặc câu hỏi có kèm theo câu trả lời sẵn yêu cầu học sinh suy nghĩ rồi dùng kí hiệu đơn giản đã quy ước để trả lời 1.2.2 Chức năng của trắc nghiệm
-_ Với người dạy, sử dụng trắc nghiệm nhằm cung cấp thông tin ngược chiều để điều chỉnh PP, nội dung cho phù hợp trình độ người học
- Với người học, sử dụng trắc nghiệm giúp người học tự KT-ĐG kiến thức kĩ năng, phát hiện năng lực tiềm ân của mình (bằng hệ thống trắc nghiệm trên máy tính,
nhiều chương trình tự kiểm tra và động viên khuyến khích người sử dụng tự phát
hiện khả năng của họ về một lĩnh vực nào đó ) Sử dụng trắc nghiệm giúp cho quá trình tự học có hiệu quả hơn Mặt khác, sử dụng trắc nghiệm giúp người học phát hiện năng lực tư duy sáng tạo, linh hoạt vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các tình huống nảy sinh trong thực tế
1.2.3 Phân loại câu hỏi trắc nghiệm
Trắc nghiệm được phân loại theo sơ đồ 1.3
Trang 16Sơ đồ 1.3 Phân loại câu hồi trắc nghiệm
CAC KIEU TRAC NGHIEM
Câu Câu Câu Câu Trả Tự Bài
khuyết sai đôi lựa một lời
TNTL cho phép HS sự tự do tương đối nào đó dé viết ra câu trả lời tương ứng với mỗi câu hỏi hay một phần của câu hỏi trong bài kiểm tra nhưng đồng thời đòi hỏi HS phải nhớ lại kiến thức, phải biết sắp xếp và diễn đạt ý kiến của mình một cách chính
xác và rõ ràng
Bài TNTL trong một chừng mực nào đó được chấm điểm một cách chủ quan và điểm cho bởi những người chấm khác nhau có thể không thống nhất Một bài tự luận thường ít câu hỏi vì phải mất nhiều thời gian để viết câu trả lời
b Ưu nhược điểm của trắc nghiệm tự luận [15], [16], [27]
© Uudiém:
- Đồi hỏi HS tự trả lời và diễn đạt bằng ngôn ngữ của chính mình, nên nó đo được
nhiều mức độ tư duy, đặc biệt là khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh của HS
- Ngoài việc kiểm tra được độ chính xác kiến thức, còn kiểm tra kĩ năng, kĩ xảo giải bài tập định tính và định lượng của HS
- Có thê KT-ĐG các mục tiêu liên quan đến thái độ, sự hiểu biết những ý niệm, sở thích và khả năng diễn đạt các tư tưởng Hình thành cho HS thói quen sắp xếp ý
tưởng, suy diễn, khái quát hóa, phân tích, tổng hợp phát huy tính độc lập tư duy sáng tạo.
Trang 17e_ Nhược điểm:
-_ Độ tin cậy và độ giá trị thấp
-_ Vì số lượng câu hỏi ít nên không thể kiểm tra hết nội dung trong chương trình học,
HS có chiều hướng học lệch, học tủ và có tư tưởng quay cóp
1.2.3.2 Trắc nghiệm khách quan
ø Khái niệm [32]
TNKQ là PP KT-ĐG kết qua học tập của HS bằng hệ thống câu hỏi TNKQ Trắc
nghiệm được gọi là khách quan vì cách cho điểm là khách quan, không chủ quan như
TNTL Kết quả chấm điểm là như nhau không phụ thuộc vào người chấm
b Ưu, nhược điểm của TNKQ [15], [32]
e Uudiễm:
- Trong thời gian ngắn, có thể kiểm tra được nhiều kiến thức cụ thể, nhiều khía cạnh khác nhau của kiến thức
- Nội dung kiến thức kiểm tra rộng, chống lại khuynh hướng học tủ, học lệch
- Số lượng câu hỏi nhiều, đủ cơ sở tin cậy, đủ cơ sở đánh giá chính xác trình độ của
HS
- Việc chấm bài nhanh chóng, chính xác Có thể sử đụng các phương tiện kĩ thuật đề
chấm bài rất nhanh và chính xác
- Gây hứng thú và phát huy tính tích cực học tập ở HS
- Giúp HS phát triển kĩ năng biết, hiểu, vận dụng và phân tích
-_ Với phạm vi bao quát rộng của bài kiểm tra, HS không thể chuẩn bị tài liệu dé quay
cóp Việc áp đụng công nghệ mới vào việc soạn thao đề thi sẽ hạn chế đến mức thấp
nhất hiện tượng nhìn bài hay trao đôi bài
e_ Nhược điểm:
- Hạn chế việc đánh giá năng lực diễn đạt viết hoặc nói, năng lực sáng tạo, khả năng
lập luận, không luyện tập cho HS cách hành văn, cách trình bày, không đánh giá được khả năng tư duy, ý thức, thái độ của HS
- Có yếu tố ngẫu nhiên, may rủi
- Việc soạn câu hỏi đòi hỏi nhiều thời gian và công sức
- Tốn kém trong việc soạn thảo, in ấn đề HS mắt nhiều thời gian để đọc câu hỏi c Các loại câu hỏi TNKQ và ưu nhược điểm của chúng [28], [32, tr 47]
e - Loại đúng - sai hoặc có - không
Loại này được trình bày đưới đạng một câu phát biểu và thí sinh phải trả lời bằng cách lựa chọn đúng (Ð) hoặc sai (S) Hoặc có thể là câu hỏi trực tiếp để được trả lời
Trang 18“có” hay “không” Loại câu này rất thông dụng, thích hợp với các kiến thức sự kiện, dùng để kiểm tra kiến thức trong một thời gian ngắn Khuyết điểm của loại này là khó
có thể xác định điểm yếu của HS do yếu tố đoán mò xác suất 50%, độ tin cậy thấp, đề
ra thường có khuynh hướng trích nguyên văn SGK nên khuyến khích thói quen học thuộc lòng hơn tìm tòi suy nghĩ
e Loại trắc nghiệm ghép đôi
Câu hỏi có hai dãy thông tin, một bên là các câu hỏi và bên kia là câu trả lời
Số câu ghép đôi càng nhiều thì xác suất may rủi càng thấp, do đó càng tăng phần ghép
so với phần được ghép thì chất lượng trắc nghiệm càng cao Loại này thích hợp với
câu hỏi sự kiện, khả năng nhận biết kiến thức hay những mối tương quan
e _ Loại trắc nghiệm điền khuyết
Có hai dạng Câu hỏi với giải đáp ngắn hay câu phát biểu với một hay nhiều chỗ
để trống thí sinh phải điền vào một từ hay một nhóm từ cần thiết
Lợi thế của nó là làm mất khả năng đoán mò của HS Họ có cơ hội trình bày
những câu trả lời khác, giúp phát huy óc sáng tạo
GV dé soạn câu hỏi, thích hợp với các môn tự nhiên, có thể đánh giá mức hiểu biết
về nguyên lý, giải thích các sự kiện, diễn đạt ý kiến và thái độ của mình đối với vấn
đề đặt ra
- _ Tuy nhiên, khuyết điểm chính của loại trắc nghiệm này là việc chấm bài mất nhiều
thời gian, GV thường không đánh giá cao các câu trả lời sáng tạo tuy khác đáp án
mà vẫn có lý
e Loại trắc nghiệm nhiều lựa chọn
- _ Trắc nghiệm nhiều lựa chọn là dạng câu hỏi có nhiều phương án, thí sinh chỉ việc chọn một trong các phương án đó, thường dùng 4 đến 5 phương án
- — Câu hỏi đạng này thường có hai phần: Phần gốc (phần dẫn) và phần lựa chọn Phần gốc là câu hỏi hay câu bỏ lửng (chưa hoàn tất ) phải đặt ra một vấn đề hay đưa ra một ý tưởng rõ ràng giúp cho thí sinh hiểu rõ câu hỏi trắc nghiệm để chọn câu trả lời thích hợp Phần lựa chọn gồm nhiều cách giải đáp trong đó có một phương án còn lại là “ mỗi nhữ” hay câu nhiễu
Day là loại câu trắc nghiệm có ưu điểm hơn cả và được đùng thông dụng nhất
* Ưu điểm
- GV có thể dùng loại câu hỏi này để KT-ĐG những mục tiêu giảng dạy, học tập
khác nhau như:
Trang 19Nhận biết các điều sai lầm
Ghép các kết quả hay các điều quan sát được với nhau
Định nghĩa các thành ngữ
Tìm nguyên nhân của một số sự kiện
Nhận biết điểm tương đồng hay khác biệt giữa hai hay nhiều vật
Xác định nguyên lý hay ý niệm tổng quát từ các sự kiện
Xác định thứ tự hay cách sắp đặt giữa nhiều vật
Xét đoán vấn đề đang được tranh luận dưới nhiều quan điểm
D6 tin cậy cao hơn, yếu tố đoán mò hay may rủi giảm nhiều so với các loại TNKQ khác khi số phương án chọn lựa tăng lên
HS buộc phải xét đoán, phân biệt kĩ trước khi trả lời câu hỏi
Tính giá trị tốt hơn, với bài trắc nghiệm nhiều lựa chọn người ta có thể đo được
khả năng nhớ, áp dụng nguyên lý, định luật, khả năng khái quát hóa rất hữu hiệu
Dùng PP phân tích tính chất câu hỏi, chúng ta có thể xác định câu nào qua dé, câu
nao quá khó, câu nào không có giá trị đối với mục tiêu cần trắc nghiệm, có thê xem xét câu nào không có lợi hoặc làm giảm giá trị câu hỏi
Đảm bảo tính khách quan Điểm số của bài trắc nghiệm không phụ thuộc vào chữ viết, khả năng diễn đạt hoặc trình độ người làm bài
* Nhược điểm:
Loại câu này khó soạn vì phải tìm câu trả lời đúng nhất, những câu còn lại gọi là
“câu nhiễu” thì cũng có vẻ hợp lý Ngoài ra câu hỏi phải soạn như thế nào đề đo
được các mức trí năng cao hơn mức biết, nhớ, hiéu,
Trường hợp HS có óc sáng tạo, tư duy tốt, có thê tìm ra câu trả lời hay hơn đáp án
thì cho HS đó sẽ cảm thấy không thoả mãn, không phục
Câu hỏi nhiều lựa chọn có thể không đo được khả năng phán đoán tỉnh vi và khả năng giải quyết vấn đề khéo léo, sáng tạo bằng loại câu trả lời TNTL soạn kỹ Việc in đề loại câu hỏi này tốn kém giấy mực nhiều hơn so với loại câu hỏi khác,
HS cần nhiều thời gian đề đọc nội dung câu hỏi
Những điều cần lưu ý
` Số lựa chọn
Câu trắc nghiệm có số lựa chọn càng nhiều thì tỉ lệ làm đúng theo kiểu may rủi
càng ít Tuy nhiên, nếu quá nhiều lựa chọn (— 5) thì câu trắc nghiệm sẽ trở nên
rườm rà, khó nhớ, khó đối chiếu giữa các lựa chọn Điều này gây khó khăn cho HS
trong quá trình cân nhắc đề lựa chọn
Trang 20- Thong thuong 4 hoặc 5 lựa chọn là vừa
` Đáp án và mồi nhử
- Mỗi câu trắc nghiệm dù có nhiều lựa chọn song chỉ có một lựa chọn là đúng, hoàn toàn chính xác và chỉ một mà thôi
- Vi tri đáp án đúng phải đặt một cách ngẫu nhiên Các lựa chọn còn lại có vẻ như
đúng mà kì thực là chưa chính xác, được gọi là “ câu nhiễu” hay “mỗi nhử”
- _ Mỗi nhử có giá trị khi nó hấp dan:
+ Nghĩa là thoạt nhìn có vẻ như đúng và những HS chưa hiểu bài, hoặc học bài
chưa kĩ sẽ bị đánh lừa
+ Muốn mồi nhử có giá trị lôi cuốn như vậy thì người soạn trắc nghiệm không thé
tự ý nghĩ ra một cách chủ quan, mà phải tuân thủ các bước khách quan như sau:
o_ Ra câu hỏi mở về lĩnh vực nội dung kiến thức định trắc nghiệm đề HS tự trả
lời
o Thu ban tra lời, loại bỏ những câu trả lời đúng, giữ lại những câu trả lời sai
o_ Thống kê, phân loại các câu trả lời sai, ghi tần số xuất hiện từng loại câu sai
o_ Ưu tiên chọn những câu sai có tần số cao làm mỗi nhử
Như vậy mỗi nhử là những sai lầm thường gặp của chính HS chứ không phải của
người soạn thảo nghĩ ra hay tưởng tượng ra
} Vị trí câu đáp án đúng
Vị trí đáp án câu đúng phải được xác định hoàn toàn ngẫu nhiên Có thể đùng con
xúc xắc hoặc ghi các mẫu tự a, b, c, d lần lượt trên các mẫu giấy bằng nhau và giống như nhau, sau đó xếp lại và “xin xâm”, bốc trúng mẫu tự nào thì áp đặt đáp án đúng ở
mẫu tự đó Cứ làm lần lượt cho từng câu như thế, đúng như thế
` Đáp án đúng và mỗi nhử
Về hình thức, đáp án đúng và mỗi nhử phải có vẻ bề ngoài giống nhau, có độ đài
ngang nhau, với hình thức ngữ pháp như nhau
- _ Tránh dùng những từ ngữ có ý nghĩa tuyệt đối như: “Chắc chắn rằng”, “Mọi người đều”, “Nhất thiết phải”, “Tất cả”, “Không một ai”, “Không bao giờ”, “Không thể
nào” thông thường những câu chứa những cụm từ ấy thường là những câu sai Ngược lại những cụm từ: “Thường thường” “Đôi khi”, “Một số người” bộc lộ
một sự đè đặt nhất định thường được dùng ở những câu đúng HS có nhiều kinh nghiệm về từ ngữ có thê trả lời chính xác mà không cần hiểu bài
- Tranh vô tình tiết lộ đáp án đúng bằng cách để cho câu đáp án đúng có độ đài dai
Trang 21` Phần gốc
Dù là câu hỏi hay câu bỏ lửng cũng phải tạo ra được cơ sở cho sự lựa chọn bằng
cách đặt ra một vấn đề hay đưa ra một ý tưởng rõ ràng
Cũng có khi phần gốc là một câu phủ định, trong trường hợp này, người soạn trắc nghiệm phải in nghiêng hoặc tô đậm từ, ngữ diễn tá sự phủ định để HS không bị nhằm
lẫn vì vô ý
> Phan hya chon
-_ Trong nhiều đáp án bao gồm có một đáp án đúng và những mồi nhử, điều quan trọng là phải làm sao cho các mỗi nhử có sức hấp dẫn ngang nhau đối với HS chưa
học kĩ bài hoặc chưa hiểu bài học
- _ Tránh những mồi nhử sai một cách rõ rệt, ngây ngô
- _ Câu trắc nghiệm có một đáp án đúng và chỉ có một mà thôi Tránh câu trắc nghiệm
có hơn I lựa chọn đúng hoặc không có lựa chọn nào đúng cả
- _ Phần gốc và mỗi lựa chọn của phần trả lời phải phù hợp, ăn khớp với nhau về mặt ngữ pháp Phần lựa chọn ghép với phần gốc sẽ thành một căp hỏi đáp hợp logic
(nếu phần gốc là một câu hỏi) hoặc một câu hoàn chỉnh (nếu phần gốc là một câu
bỏ lửng)
1.2.4 Đánh giá chất lượng câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Để đánh giá chất lượng của câu TNKQ hoặc của đề thi TNKQ, người ta thường
dùng một số đại lượng đặc trưng
Sau đây chúng tôi chỉ giới thiệu một số đại lượng quan trọng nhất, bằng cách giải
thích định tính đơn giản
1.2.4.1 Độ khó hoặc độ dễ của câu hỏi /23/
Khi nói đến độ khó, ta phải xem xét câu TNKQ là khó đối với đối tượng nào.Nhờ
việc thử nghiệm trên các đối tượng HS phù hợp
Có thê xác định độ khó như sau: Chia loại HS làm 3 nhóm
-_ Nhóm giỏi: gồm 27% số lượng HS có điểm số cao nhất của kỳ kiểm tra
-_ Nhóm kém: gồm 27% số lượng HS có điểm thấp của kỳ kiểm tra
-_ Nhóm trung bình: gồm 46% số lượng HS còn lại, không phụ thuộc hai nhóm trên
Hệ số về độ khó (DV) của câu hỏi được tính như sau:
Ng+N,
2n
Ng: So HS thusc nhom gidi tra lời đúng câu hỏi
Nx: S6 HS thuéc nhém kém trả lời đúng câu hỏi
DV = 100%
Trang 22n: Tổng số HS nhóm giỏi (hoặc nhóm kém )
Qui ước thang phân loại độ khó:
Câu rất đễ: 91% — 100% HS trả lời đúng
-_ Câu dễ: 70% > 90% HS tra lời đúng
- _ Câu trung bình: 61% - 69% HS trả lời đúng
- _ Câu tương đối khó: 30-> 60% HS trả lời đúng
- _ Câu trung bình: 60 79% HS trả lời đúng
- _ Câu tương đối khó: 40-> 59% HS trả lời đúng
- Câu khó: 20> 39% HS tra lời đúng
Trong KT-ÐG nếu câu trắc nghiệm có độ khó (DV ):
Câu TNKQ thực hiện khả năng đó gọi là có độ phân biệt Muốn câu hỏi có độ phân
biệt thì pư của nhóm HS giỏi và nhóm HS kém đối với câu hỏi đó hiển nhiên phải khác
nhau Thực hiện phép tính thống kê, người ta tính được độ phân biệt DI theo công
_Ne-~Nx
n
Thang phân loại độ phân biệt được quy ước như sau:
- _ Tỉ lệ H§ nhóm giỏi và nhóm kém làm đúng như nhau thì độ phân biệt bằng 0
- Ti lệ HS nhóm giỏi làm đúng nhiều hơn nhóm kém thì độ phân biệt là dương (độ phân biệt đương nằm trong khoảng từ 0 -1)
-_ Tỉ lệ thí sinh nhóm giỏi làm đúng ít hơn nhóm kém thì độ phân biệt là âm
Cụ thể như sau:
+ DIE từ 0.40 trở lên: câu có độ phân biệt rất tốt
4 DNDT=Aa#Hy0N 20 30 20: Chun cA AA nhân hiêt khá +Ấ+
Trang 23+ DI=tir 0.20 > 0.29: cau có độ phân biệt tạm được, cần phải điều chỉnh
+ DI = từ 0.19 trở xuống hay âm: câu có độ phân biệt kém, cần loại bỏ hay phải gia
công sửa chữa
1.2.4.3 Độ tin cậy [24], [32, tr 26]
Trắc nghiệm là một phép đo lường đề biết năng lực của đối tượng được đo Tính
chính xác của phép đo lường này rất quan trọng Độ tin cậy của bài trắc nghiệm chính
là đại lượng biểu thị mức độ chính xác của phép đo nhờ bài trắc nghiệm.Toán học
thống kê cho nhiều PP để tính độ tin cậy của một bài trắc nghiệm: hoặc dựa vào sự ổn định của kết quả trắc nghiệm giữa hai lần đo cùng một nhóm đối tượng hoặc dựa vào
sự tương quan giữa kết quả của các bộ phận tương đương nhau trong một bài trắc nghiệm
1.2.4.4 Độ giá trị [24], [32, tr 29]
Yêu cầu quan trọng của bài trắc nghiệm với tư cách một phép đo lường, đo được
cái cần đo Phép đo bởi bài trắc nghiệm đạt được mục tiêu đó là phép đo có giá trị
Độ giá trị của bài trắc nghiệm là đại lượng biểu thị mức độ đạt được mục tiêu đề ra
cho phép đo nhờ bài trắc nghiệm
Để bài trắc nghiệm có độ giá trị cao, cần xác định tỉ mi mục tiêu cần đưa ra trong
bài trắc nghiệm, phải bám sát mục tiêu trong quá trình xây dựng bài toán, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm
Nếu thực hiện không đúng quy trình thì có khả năng kết quả của phép đo sẽ phản ánh một cái gì khác chứ không phải là cái mà chúng ta muốn đo Một trong những PP xác định độ giá trị của kỳ thi là tính xem kết quả của kỳ thi đó trên một nhóm HS có tương quan chặt chẽ tới kết quả học tập ở bậc cao hơn của nhóm HS đó hay không
1.3 Trắc nghiệm khách quan tiêu chuẩn hóa và ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan
1.3.1 Trắc nghiệm khách quan tiêu chuẩn hóa
Để tiện dụng khi xây dựng, câu hỏi TNKQ nên chia làm 3 loại:
e Loại để đánh giá bề rộng kiến thức, thể hiện yêu cầu về mặt số lượng kiến thức HS
cần nắm Loại này nên viết ở mức biết và hiểu
Các câu hỏi đánh giá bề rộng kiến thức thường ít thay đổi, góp phần giúp người học
củng cố, hiểu sâu, nắm vững kiến thức cơ bản Loại câu hỏi này cho phép đánh giá trình độ tối thiểu người học cần phải đạt được
e Loại dùng để đánh giá hiệu quả kiến thức, yêu cầu người học vận dụng kiến thức đã
Trang 24hoc dé giải quyết các nhiệm vụ lí thuyết hoặc thực tiễn quen thuộc đã biết hoặc mới lạ
chưa từng biết Loại câu hỏi này có tính chất gợi ý, hướng dẫn việc vận dụng các kiến
thức linh hoạt, định hướng cách học chủ động sáng tạo
e Loại để đánh giá độ sâu kiến thức, là các câu hỏi nâng cao, được xây dựng ở mức độ
yêu cầu phân tích, tổng hợp nhằm đo chất lượng đánh giá trình độ tối đa người học
Loại câu trắc nghiệm này cần thường xuyên được cập nhật bố sung, thay đổi cho phù hợp với từng giai đoạn, từng đối tượng
1.3.2 Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Một bộ trắc nghiệm có giá trị phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- _ Độ chính xác cao về kiến thức môn học
- D6 tin cay cao Do được đúng cái can do, rén luyện đúng cái cần rèn luyện, đo
đúng trình độ, nắm vững kiến thức, khả năng tư duy, khả năng vận dụng, của
HS
- D6 phan biệt cao Độ lệch chuân càng rộng càng tốt Phân biệt được rõ các trình độ
khác nhau (giỏi, khá, trung bình, kém)
- _ Độ khó vừa sức, kích thích được suy nghĩ, phù hợp với trình độ HS, hướng dẫn sự
nổ lực vươn lên của HS
1.4 Tổ chức thi, kiểm tra, đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan
PP TNKQ có thê áp dụng đề tổ chức kiểm tra ở các lớp học hoặc ở các kì thi có qui
mô lớn
1.4.1 Qui trình tố chức thi (kiểm tra)
- Xác định nội dung cần kiểm tra (thi ), định ra yêu cầu về các mức kĩ năng (nhớ, hiểu, biết, vận dụng, phân tích, tổng hợp, )
-_ Ra đề kiểm tra (đề thi): căn cứ vào dàn bài (theo nội dung, mức độ kĩ năng), có thể
chọn từ ngân hàng câu hỏi với các đặc trưng xác định (độ khó, độ phân cách, mức
kĩ năng), có thể ra các đề kiểm tra (đề thi) tương đương có cùng nội dung nhưng
khác nhau về hình thức bằng cách đảo lộn thứ tự các câu hỏi và các phương án trả
lời
- _ In đề kiểm tra (đề thi) phát cho từng thí sinh trong lớp (hoặc trong phòng thi)
- Cham va phan tích thống kê kết quả kiểm tra (thi); việc cho điểm hay tính điểm có thể thực hiện một cách đơn giản bằng cách so sánh phiếu trả lời của HS với phiếu trả lời mâu (với bài kiểm tra ở lớp); hoặc nhờ các hệ thống tự động như máy quét qauanơ hoc máy tính có nhân mềm fmm hoc hỗ trơ nêu bài thị chỉ s6m dano câu
Trang 25- Céng bé két quả
1.4.2 Những lưu ý khi ra bài thi, coi thi và chấm thi
Tùy thuộc vào thời gian thi, số câu hỏi có thể nhiều hay ít (bình quân 2 phút/ 1 câu) Số câu hỏi càng lớn càng kiểm tra được nhiều kiến thức và tỉ lệ chọn mò càng ít
- _ Các câu hỏi đều được đánh giá như nhau, cũng có thể tính hệ số 2 hoặc 3 cho một
số câu hỏi đặc biệt và trong trường hợp này cần thiết phải ghi hệ số điểm để HS
biết trước, dành thời gian thích hợp cho những câu hỏi đó
- _ Để tránh trường hợp thiếu công minh cần qui định:
+ Câu nào gạch chéo nhiều ô không tính điểm
+ Khi thu bài giám thị phải kí tên và gạch bỏ các câu HS bỏ trống chưa trả lời + Khi chấm, đếm số câu làm đúng để cho điểm (điểm thô) sau đó qui về điểm 10
1.5 Xây dựng câu hồi, bài toán trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn 1.5.1 Tiêu chuẩn
1.5.1.1 Tiêu chuẩn định lượng [14], [15]
Theo nhiều tác giả, câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn dùng để đánh giá thành quả học
tập thường có độ khó trong khoảng 20~> 80%, tốt nhất nằm trong khoảng 40->60%,
độ phân biệt từ 0,2 trở lên
1.5.1.2 Tiêu chuẩn định tính
- Câu dẫn: Bao hàm tất cả những thông tin cần thiết về vấn đề được trình bày một
cách rõ ràng, ngắn gọn, súc tích và hoàn chỉnh
- Phương án chọn: Phương án chọn phải bảo đảm chính xác hoặc chính xác nhất
câu nhiễu phải có tính hấp dẫn và có vẻ hợp lí đối với người chưa nắm vững vấn
đề Các phương án chọn phải tương tự hoặc đồng nhất về mặt ngữ pháp
1.5.2 Qui trình xây dựng câu hồi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn
1.5.2.1 Nguyên tắc chung xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn
Xây dựng theo mục tiêu nội dung khảo sát
Theo GS Dương Thiệu Tống và một số tác giả, khi xây dựng câu hỏi TNKQ nhiều
lựa chọn phải bám theo mục tiêu nội dung chương trình, trọng tâm kiến thức, phải hỏi những gì cần hỏi Khi soạn cần tránh khuynh hướng quá chỉ tiết, hoặc quá tổng quát
mục tiêu nội dung, cần xem xét toàn bộ chương trình Điều quan trọng là xác định mục tiêu nội đung Nội dung mang tính tổng thể đối với hóa học là các kiến thức về khái
niệm, sự kiện, quá trình, cơ chế, quy luật, pư hóa học
1.5.2.2 Qui tắc xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn
- Quy tac lập câu dẫn:
Trang 26+ Câu dẫn là phần chính của câu hỏi, là trọng tâm vấn đề cần giải quyết Bởi vậy,
phải diễn đạt rõ ràng nhiệm vụ mà các thí sinh phải hoàn thành, phải đưa ra đầy
đủ những thông tin cần thiết để họ hiểu được yêu cầu của câu hỏi
+ Thường dùng một câu hỏi hay một câu lửng (một nhận định không đầy đủ, chưa
hoàn chỉnh ) để lập câu dẫn Có thể dùng nguyên tắc phân tích yếu tố dé viết câu dẫn dưới dạng đưa ra nhiều yếu tố, sau đó tô hợp lại thành các phương án chọn
+ Khi lập câu dẫn cần phải tránh những từ có tính chất gợi ý hoặc tạo đầu mối dẫn
tới câu trả lời như: “ Câu nào sau đây” trong khi một trong các phương án chọn
là tổ hợp của một số câu
- Quy tic lap các phương án chon:
Đó là những phương án đưa ra để giải quyết nhiệm vụ đặt ra ở câu dẫn Thông
thường có 4-5 phương án chọn, trong đó chỉ có một phương án đúng hoặc đúng nhất, những câu còn lại là những câu gây nhiễu hay còn gọi là mỗi nhử Khi soạn các phương án chọn cần lưu ý quy tắc sau:
+ Đảm bảo câu dẫn và câu trả lời khi gắn vào nhau phải phù hợp về mặt cấu trúc
ngữ pháp, phải thành một nội dung hoàn chỉnh
+ Tránh xu hướng câu đúng luôn dài hơn câu nhiễu, tạo cơ sở cho HS đoán mò + Phương án chọn cần cấu trúc tương tự nhau đề làm tăng độ phân biệt câu hỏi
+ Cần làm cho các câu nhiễu có vẻ hợp lý như nhau, có sức hấp dẫn đối với các thí sinh nắm vấn đề chưa vững Các câu nhiễu ít nhất có từ 3-> 5% HS chọn cho một
phương án thì sẽ làm tăng độ giá trị và độ phân biệt của câu hỏi
+ Phải đảm bảo chỉ có một câu duy nhất đúng, đúng nhất hay hợp lí nhất Câu
đúng nên đặt ở những vị trí khác nhau để tránh sự đoán mò của thí sinh Đối với câu hỏi 5 phương án nên sắp xếp phương án đúng bằng 20% tổng số câu của bài
trắc nghiệm
+ Tránh câu rập khuôn SGK, tạo điều kiện cho HS học vẹt tìm câu trả lời đúng
1.5.2.3 Qui trình xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn
Trang 27b Giai đoạn 2
Trắc nghiệm thử, kiểm định độ khó, độ phân biệt, độ tin cậy của câu hỏi Có thé gọi
đây là giai đoạn định lượng, giai đoạn đo các chỉ tiêu nêu trên Khi các câu hỏi thỏa mãn các tiêu chuẩn định lượng mới đưa vào sử dụng
c Giai đoạn 3
Sử dụng vào các mục tiêu đạy học Các câu hỏi đạt tiêu chuẩn định tính, định
lượng sẽ được đưa vào trắc nghiệm chính thức
Các tiêu chuẩn định lượng được xác định như sau:
+ D6 khé tir 0,1> 0,9 (ít nhất có 10% thí sinh trả lời đúng )
+ Độ phân biệt dương và > 0,1
+ Mỗi phương án chọn có ít nhất 3> 5% thí sinh chọn
Khi có hệ thống câu hỏi rồi, tùy thuộc vào nội dung kiến thức của câu hỏi, mức độ
nhận thức đo được, độ khó, độ phân biệt mà sử dụng với mục đích khác nhau trong quá trình dạy học Quy trình này được biểu diễn bằng sơ đồ 1.4
Sơ đồ 1.4 Qui trình xây dựng câu hỏi TNKQ
Một câu trắc nghiệm nếu không có thí sinh nào trả lời được, hoặc tất cả thí sinh trả
lời đúng đều không có giá trị trong kiểm tra -đánh giá Do vậy, độ khó nên từ 0,10,9 Nghĩa là câu hỏi quá khó nếu 90% không trả lời được, hoặc câu trả lời quá
dễ nếu trên 90% HS trả lời được Độ phân biệt phải > 0,1 Nếu một câu hỏi mà nhóm
Trang 28HS yếu trả lời đúng bằng nhóm giỏi thì câu hỏi không có độ phân biệt cao và không có giá trị phân loại HS
Một phương án chọn phải có ít nhất 3-5% HS chọn, một phương án sai mà không
có thí sinh chon thì phương án sai đó quá lộ, không còn là phương án gài bẫy hay mỗi
nhử nữa Phải thay đổi bằng một phương án khác có giá trị hơn
Tùy vào kết quả kiểm định mà có thể loại bỏ hoặc sửa chữa những câu hỏi chưa
đạt Việc ra câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn đạt yêu cầu không phải là vấn đề đơn giản
Ngoài ra đữ kiện ngôn ngữ của đề thi phải tường minh, trong sáng, chính xác, câu hỏi mập mờ, sai ngữ pháp phải được loại bỏ
Yêu cầu người ra đề thi phải có kiến thức bao quát, sâu sắc và nhiều kinh nghiệm 1.6 Sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn dé kiểm tra đánh giá môn Hóa học ở trường phố thông
1.6.1 Thực tiễn kiểm tra đánh giá Hóa học ở trường Trung học phổ thông
Do quen KT-ĐG bằng PP tự luận, rất ít GV hiểu biết đầy đủ về PP TNKQ Ban
đầu nhiều GV có định kiến không tốt về PP này Họ cho rằng PP này đánh giá được các mức nhận thức thấp (khả năng ghi nhớ máy móc), có GV suy nghĩ đơn giản làm
trắc nghiệm là tập cho HS thói quen biết đánh dấu mà không rèn luyện khả năng diễn
đạt
TNKQ chỉ phát huy được hiệu quả khi nắm vững được ưu khuyết điểm của nó Phải được sử dụng đúng lúc, đúng chỗ, đúng đối tượng Phải được xây dựng một cách khoa học cho từng câu hỏi và toàn bài kiểm tra Từng câu hỏi phải đảm bảo đo được
cái cần đo Đảm bảo các tiêu chuẩn định tính, định lượng của từng câu hỏi Bài trắc
nghiệm phải đủ độ tin cậy và bao quát được nội dung chương trình Nghĩa là, câu hỏi
trắc nghiệm phải mã hóa được hầu hết nội dung kiến thức mà chương trình yêu cầu
Tuy nhiên, trong thực tiễn KT-ĐG kết quả học tập môn hóa học ở trường THPT tất ít
GV sử dụng TNKQ, một số GV có tiến hành KTĐG bằng TNKQ song chỉ từng phần của chương trình, với số lượng câu hỏi ít, nhiều câu hỏi có chung một phần dẫn, hay
sử dụng phép cộng phương án nên dễ lộ đáp án, vi phạm tiêu chuẩn định tính và định
lượng của câu hỏi Một lí do nữa là quá trình chuẩn bị một bài KTĐG bằng TNKQ mất
rất nhiều thời gian, công sức, mất nhiều giấy mực, công in ấn nên gây tốn kém vất vả
cho GV Hiện nay, do yêu cầu đổi mới PP KT-ĐG nên buộc GV phải ra đề kiểm tra bằng PP trắc nghiệm (tối thiêu phải có 30% là TNKQ)
x
4149 Taw nwnan tenne sa «uiha wks Avner hat tran eri nhiwanne nhdan ovift
Trang 29nhanh để kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan
- Những năm gần đây nhiều tác giả đã tiến hành biên soạn, xây dựng hệ thống câu
hỏi, bài toán TNKQ đùng KT-ĐG kết quả học tập của HS Hệ thống câu hỏi, bài tập đưa ra nhìn chung đã đáp ứng đựơc tiêu chuân của câu hỏi TNKQ Đặc điểm của
TNKQ là số lượng câu hỏi trong một đề nhiều, thời gian cho mỗi câu, mỗi bai tập rất
ít (khoảng 1= 3 phút) Do đó, với những bài toán phức tạp phải mất nhiều thời gian
dé giải đã tạo cho HS tâm lý hoang mang khi kiểm tra
- Việc xây dựng các bài toán ngoài cách giải thông thường, HS còn biết suy luận, nhâm theo hướng logic hóa học, với con đường giải ngắn trên cơ sở các PP giải toán
và các quy luật chung của hóa học Từ đó HS phát triển tư duy, đáp ứng được yêu
cầu của câu hỏi TNKQ
Để giải nhanh bài toán Hóa, HS không những nắm chắc kiến thức cơ bản mà còn
phải tự rèn luyện cách vận dụng kiến thức một cách thông minh, sáng tạo
Trang 30Chương 2 XÂY DỰNG HỆ THÓNG CÂU HOI VA BAI
TOÁN CÓ PP GIẢI NHANH LÀM CÂU TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN NHIÊU LỰA CHỌN
(Hóa học lớp 10 - nâng cao)
2.1.Nội dung kiến thức và mục tiêu
2.1.1 Mục tiêu cơ bản của sách giáo khoa hóa học 10 — nâng cao
2.1.1.1 Về kiến thức
Biết thành phần cấu tạo của nguyên tử, điện tích và khối lượng của hạt nhân
nguyên tử, sự chuyên động của các electron trong nguyên tử và cấu hình electron
nguyên tử của 20 nguyên tố đầu tiên (thuộc các nhóm A); Biết được mối quan hệ
giữa cấu tạo nguyên tử và tính chất cơ bản của nguyên tố
Biết được qui luật biến đổi tuần hoàn về cấu hình electron nguyên tử, bán kính
nguyên tử, năng lượng 1on hóa, ái lực electron, độ âm điện, tính kim loại và tính phi kim, tinh axit- bazo cua cac oxit va hidroxit trong bang tuần hoàn các nguyên
Biết đuợc tính chất hóa học cơ bản của oxi, ozon, hidro peoxit, lưu huỳnh và những
hợp chất của lưu huỳnh Biết nguyên tắc, PP điều chế và ứng dụng của oxi, lưu huỳnh, những hợp chất của chúng
Hiểu được khái niệm tốc độ pư, cân bằng hóa học, sự dịch chuyên cân bằng,
những yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ pư và cân bằng hóa học Biết vận dụng những yếu tố làm tăng hoặc giảm tốc độ pư, những yếu tố dé cân bằng hóa học chuyển dịch theo chiều có lợi cho sản xuất Biết vận dụng biểu thức hằng số cân bằng
trong bài tập, tính được tốc độ trung bình pư
Trang 31- Biét cach tiến hành thí nghiệm, quan sát hiện tượng, giải thích và kết luận, viết
được phương trình pư
- _ Biết vận dụng lí thuyết để giải các bài tập hoặc giải thích hiện tượng hóa học đơn
giản trong đời sống thực tiễn
- Biét làm việc với SGK và các tài liệu tham khảo như: tóm tắt, hệ thống hóa, phân tích, kết luận,
2.1.1.3 Về thái độ
- Hung thu hoc tap môn hóa học
- Y thtre tuyén truyén van dung nhiing tiến bộ của khoa học kĩ thuật nói chung, của hóa học nói riêng vào đời sông, sản xuất
- _ Có tính cần thận, kiên nhẫn, trung thực trong công việc
- C6 tinh thần trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, xã hội
2.1.2 Cấu trúc nội dung chương trình
Nội dung cấu trúc chương trình hóa học lớp 10- nâng cao gồm 7 chương (52 bài)
2.1.2.1 Hệ thống lí thuyết chủ đạo
Lí thuyết chủ đạo gồm hệ thống kiến thức cơ sở hóa học dùng đề nghiên cứu các
chất hóa học, đó là:
- _ Cấu tạo nguyên tử
-_ Bảng tuần hoàn các nguyên tô hóa học và định luật tuần hòan
-_ Liên kết hóa học (liên kết ion, liên kết cộng hóa trị, liên kết kim loại)
-_ Pư oxi hóa khử
- _ Tốc độ pư và cân bằng hóa học