DHTN là một hình thức tổ chức dạy học, trong đó dưới sự tổ chức và điều khiển của GV, học sinh được chia thành từng nhóm nhỏ, liên kết lại với nhau trong một hoạt động chung, với phương
Trang 1Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Sự phát triển của xã hội và đổi mới của đất nước đang đòi hỏi cấp bách phải nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo Cùng với những thay đổi về nội dung cần có những thay đổi căn bản về phương pháp dạy học Ngày nay trên thế giới cũng như đất nước ta, quan điểm về đổi mới phương pháp dạy và học
đã thay đổi, chuyển từ “lấy thầy làm trung tâm” sang “lấy trò làm trung tâm”, trong đó xác lập vị trí chủ thể của người học, thầy là tác nhân của quá trình dạy học Hay nói cách khác phương pháp dạy học cần hướng vào việc tổ chức cho người học học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực, chủ
động và sáng tạo Riêng đối với các trường Đại học, Cao đẳng phải đặc biệt chú
ý rèn luyện phương pháp tự học thông qua toàn bộ quá trình dạy học
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học đã được thể chế trong luật giáo dục:
“Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tự giác, tích cực, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý trí vươn lên” (Luật giáo dục 2005, chương I, điều 5)
Và “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, chủ
động, tư duy sáng tạo của học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự học; khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác
động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập của học sinh” (Luật giáo dục 2005, chương II, mục 2, điều 28)
Như vậy đổi mới phương pháp dạy học không phải là đưa ra phương pháp dạy học hoàn toàn mới, mà chủ yếu là kết hợp hài hoà, vận dụng linh hoạt những ưu điểm của phương pháp dạy học truyền thống và không truyền thống, sao cho phù hợp với đối tượng sinh viên (SV) và đặc thù bộ môn nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng là SV tự giác, tích cực, chủ động học tập, khơi dậy trí thông minh sáng tạo, lòng ham hiểu biết, khám phá, tác phong học tập nghiêm túc, khoa học
Những năm gần đây, đổi mới phương pháp dạy học đã được các cấp quản
lí giáo dục quan tâm nhiều, coi đó là nội lực của nghành, cần được khai thác triệt
Trang 2để, nhằm tạo ra “bước nhảy” về chất lượng giáo dục ở các trường Đại học, Cao
đẳng cũng bước đầu thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập theo chủ chương đổi mới nhưng chưa được các thầy cô giáo đón nhận nồng nhiệt Tình trạng chung vẫn là sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống, truyền
đạt một chiều từ thầy đền trò: Thầy giảng trò ghi, thầy đọc trò chép, giờ học ở lớp là thời gian người học tiếp nhận, ghi chép những tư liệu để đọc lại và tìm hiểu kỹ hơn trong thời gian ngoài lớp Điều kiện phục vụ cho giảng dạy và học tập còn thiếu thốn và thô sơ, SV chưa thực sự phát huy được năng lực tự học, tự nghiên cứu
Xuất phát từ thực tế ở trên theo chúng tôi sự đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học chỉ thực sự có ý nghĩa và mang tính khả thi khi nó được tiến hành đồng bộ với việc đổi mới các hình thức tổ chức dạy học Một trong các hình thức tổ chức dạy học được giáo viên (GV) ở tất cả các trường đều quan tâm đó là tổ chức dạy học theo nhóm (DHTN) Với lao động mang tính tập thể, hợp tác, DHTN, một mặt khơi dậy tiềm năng sáng tạo của mỗi cá nhân
SV, mặt khác huy động và hội tụ được trí tuệ của cả cộng đồng Nhờ đó DHTN giúp cho SV Sư phạm nắm vững tri thức, phát triển nhân cách, trí tuệ và đặc biệt là năng lực nghề tốt hơn các hình thức dạy học khác
Trường Sư phạm là vườn ươm, nơi đào tạo ra những thế hệ nhà giáo trẻ cho tương lai, là trung tâm bồi dưỡng đội ngũ các nhà giáo đang hành nghề Việc đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập trước hết phải được thực hiện trong các trường Sư phạm
Có thể nói, môn Đại số đại cương (ĐSĐC) có một vị trí quan trọng trong chương trình đào tạo GV toán trung học cơ sở và đặc biệt là môn học này trang
bị cho SV những tri thức ban đầu về các cấu trúc đại số cơ bản tồn tại trong trương trình toán ở trường trung học cơ sở Nội dung môn học này chứa đựng nhiều tiềm năng để vận dụng hình thức DHTN đối với SV Do đó chúng tôi thấy rằng có thể vận dụng hình thức DHTN vào môn học ĐSĐC nhằm giúp SV
có điều kiện rèn luyện khả năng tự học, tự nghiên cứu và rèn luyện kĩ năng giao
Trang 3tiếp, phát huy tính tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập, góp phần
đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay
Với những lý do trên chúng tôi chọn đề tài: Tổ chức dạy học theo nhóm môn Đại số đại cương ở trường Cao đẳng Sư phạm
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
• Mục đích
Tìm hiểu cơ sở lý luận và tình hình thực tiễn về DHTN, vận dụng hình thức DHTN vào tổ chức dạy học môn ĐSĐC ở trường Cao đẳng Sư phạm (CĐSP)
• Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những vấn đề sau:
+ Trình bày tổng quan về lý luận DHTN
+ Tìm hiểu tình hình thực tiễn về DHTN ở trường CĐSP
+ Đề ra một số biện pháp sư phạm tổ chức DHTN trên nội dung chương I: “Nửa nhóm - Nhóm” thuộc môn học ĐSĐC ở trường CĐSP
+ Thực nghiệm sư phạm
3 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành được mục đích và nhiệm vụ đặt ra, chúng tôi đã phối hợp
sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
• Nghiên cứu lí luận
• Quan sát - điều tra
• Phỏng vấn chuyên gia
• Thực nghiệm sư phạm
4 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn gồm 3 ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Một số biện pháp sư phạm tổ chức DHTN đối với nội dung: “Chương 1 Nửa nhóm – Nhóm”
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 4Chương 1 - Cơ sở lý luận và thực tiễn 1.1 Tổng quan về lý luận Dạy học theo nhóm
1.1.1 Thế nào là DHTN?
DHTN là một hình thức tổ chức dạy học, trong đó dưới sự tổ chức và
điều khiển của GV, học sinh được chia thành từng nhóm nhỏ, liên kết lại với nhau trong một hoạt động chung, với phương thức tác động qua lại của các thành viên, bằng trí tuệ tập thể mà hoàn thành các nhiệm vụ học tập
1.1.2 Những cơ sở trong việc lựa chọn hình thức DHTN
• Cơ sở Triết học
Triết học duy vật biện chứng khẳng định mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan đều vận động và phát triển không ngừng Nguyên nhân của sự vận động, phát triển này là sự nảy sinh và giải quyết liên tục các mâu thuẫn bên trong và bên ngoài Trong đó các mâu thuẫn bên trong là động lực chủ yếu Tuy nhiên, sự phát triển sẽ đạt đến trình độ cao nhất khi việc giải quyết các mâu thuẫn bên trong và bên ngoài cộng hưởng với nhau tạo thành một hợp lực
Học là quá trình không ngừng nảy sinh và giải quyết các mâu thuẫn bên trong và bên ngoài Điều đó tạo ra nội lực và ngoại lực thúc đẩy sự phát triển của bản thân người học Theo quy luật phát triển chung, ngoại lực dù có mạnh
đến đâu vẫn chỉ là sự hỗ trợ thúc đẩy nội lực mới là nhân tố quyết định Vì vậy, trong dạy học SV phải là chủ thể tích cực tự giác của hoạt động học tập, tự mình chiếm lĩnh tri thức bằng chính hành động của mình, tự phát triển từ bên trong Nói cách khác, SV phải tự học và biết cách tự học Tuy nhiên, năng lực
tự học sẽ khó có thể phát triển nếu thiếu sự hướng dẫn, tổ chức của GV và sự hợp tác của các bạn cùng học Do đó, cần phải kết hợp nội lực với ngoại lực, cá nhân hoá với xã hội hoá (việc học) nhằm tiến tới trình độ cao nhất của sự phát triển và cộng hưởng ngoại lực – dạy, hợp tác với nội lực – tự học Quá trình
tự học, tự nghiên cứu, cá nhân hoá việc học phải kết hợp với việc hợp tác với các bạn trong cùng một nhóm, lớp và quá trình dạy của GV, tức là quá trình xã hội việc học
Trang 5• Cơ sở X hội học
Giáo dục, về bản chất, là quá trình xã hội hoá cá nhân Không có xã hội hoá thì không có cá nhân hoá Mối quan hệ giữa xã hội hoá và cá nhân hoá là mối quan hệ biện chứng Nhóm nhỏ là nơi giao nhau giữa các tác động từ xã hội đến cá nhân và các tác động phản hồi từ cá nhân trở lại xã hội Một phần lớn các tác động của xã hội đã khúc xạ qua nhóm nhỏ rồi toả tác dụng điều chỉnh đến cá nhân, đồng thời, cũng thông qua các quá trình tâm lý cá nhân
được hình thành trong nhóm nhỏ, nhu cầu thực tiễn được phản ánh đã góp phần làm thay đổi các chuẩn mực xã hội Như vậy, nhóm nhỏ là nơi diễn ra quá trình xã hội hoá từng cá nhân Nhóm nhỏ có vai trò sau:
+ Nhóm nhỏ là môi trường nuôi dưỡng cá nhân, là sợi dây liên lạc chặt chẽ giữa cá nhân và xã hội, nơi thi hành những nhiệm vụ mà xã hội đòi hỏi ở mỗi người, nơi khuyến khích con người làm việc, nhập vào nhóm nhỏ cá nhân
có được sự ủng hộ, làm tăng tình thân thiện, gắn bó với nhau Nhờ tình thân thiện đó, con người cảm thấy sợi dây liên lạc với xã hội không đến nỗi lỏng lẻo
+ Nhóm nhỏ là nơi chú trọng đến toàn diện con người, nêu rõ ưu, khuyết
điểm của họ Nhóm lớn và xã hội đưa ra nhữmg luật lệ chung, tổng quát, nhóm nhỏ cụ thể hoá các yêu cầu ấy sao cho phù hợp với cá nhân, trở nên dễ nhớ, dễ hiểu, dễ thành định hướng hành vi thường ngày mà vẫn giữ được tinh thần cơ bản của luật lệ xã hội
+ Nhóm nhỏ duy trì tinh thần đoàn kết nhờ vào sự xâm nhập lẫn nhau giữa kết cấu chính thức và kết cấu không chính thức
Vì tính chất xã hội đó, từ lâu, trong dạy học, nhóm nhỏ đã được sử dụng như một môi trường để giúp cho SV, một mặt để lĩnh hội tri thức, phát triển trí tuệ, nhân cách, mặt khác hoà nhập vào đời sống cộng đồng, vào thực tiễn xã hội
• Cơ sở Sư phạm học
Nội dung, phương pháp và các hình thức tổ chức dạy học có mối quan hệ rất chặt chẽ Khi nội dung và phương pháp thay đổi sẽ làm cho hình thức dạy
Trang 6học cũng thay đổi Do đó, cùng với việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học, việc đổi mới các hình thức dạy học cũng được đặt ra như một tất yếu Các mô hình tổ chức giờ học hiện đại ra đời hỗ chợ bổ sung cho các mô hình dạy học cũ, cụ thể:
+ Về nhiệm vụ:
Giờ học hiện đại không chỉ truyền thụ những kiến thức quy định cho SV
mà còn hướng đến sự phát triển tư duy, trí tuệ và nhân cách SV, hình thành các
kỹ năng thực hành, chuẩn bị cho SV thích ứng, hoà nhập với đời sống xã hội
+ Về nội dung:
Nội dung của giờ học hiện đại không chỉ là những kiến thức khái quát
mà còn là những bài tập nhận thức dưới dạng các tình huống để phát triển tư duy sáng tạo, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề thực tiễn cho SV
+ Về phương pháp:
Giờ học hiện đại coi trọng việc rèn luyện cho SV phương pháp tự học, phát huy sự tìm tòi độc lập hoặc theo nhóm qua thảo luận GV quan tâm tới việc vận dụng vốn hiểu biết kinh nghiệm của SV và tập thể SV để xây dựng nội dung bài học, giáo án được thiết kế theo kiểu phân nhánh để GV linh hoạt điều chỉnh theo diễn biến của tiết học với sự tham gia tích cực của SV, tạo điều kiện cho SV bộc lộ phát triển tiềm năng của mình
+ Về hình thức tổ chức dạy học:
Giờ học hiện đại sử dụng phối hợp và linh hoạt cả ba hình thức: toàn lớp, nhóm, cá nhân Trong đó, hình thức nhóm tỏ ra rất có ưu thế trong việc tích cực hoá hoạt động nhận thức và hợp tác của SV Các thiết bị dạy học, bàn, ghế và không gian giờ học được bố trí cơ động và linh hoạt cho phù hợp với yêu cầu của tiết học
Trang 7là cần thiết và hình thức dạy học hợp tác theo nhóm là một hình thức dạy học mới đáp ứng được các yêu cầu của giờ học hiện đại
1.1.3 Bản chất của quá trình tổ chức DHTN
Trong quá trình tổ chức DHTN, các thành tố cơ bản của quá trình dạy học: hoạt động dạy, hoạt động học và nội dung dạy học vừa tồn tại độc lập, vừa vận động và phát triển trong sự tác động qua lại lẫn nhau trong môi trường xã hội của nhóm nhỏ Có thể khái quát theo sơ đồ sau:
Sinh viên Thầy giáo
+ SV: Là trung tâm và là chủ thể tích cực của hoạt động học, tự mình tìm
ra kiến thức bằng chính hành động của mình, bằng sự hợp tác với bạn, với thầy + Nhóm: Môi trường xã hội cơ sở, nơi diễn ra quá trình hợp tác và giao lưu “mặt đối mặt” giữa các SV trong một nhóm và giữa SV với GV, làm cho các tri thức đã cá nhân hoá được xã hội hoá Đồng thời, nó còn là một chủ thể tích cực của hoạt động học tập
+ Thầy giáo: Người hướng dẫn, tổ chức, điều khiển hoạt động tự học của trò, giúp trò tự lực tìm ra tri thức thông qua các quá trình cá nhân hoá, xã hội hoá
+ Tri thức: Do trò tự tìm ra trong sự hợp tác với bạn và với thầy
Các thành tố trên luôn luôn tác động tương hỗ với nhau theo một trật tự nhất định tạo nên sự thống nhất toàn vẹn của quá trình tổ chức DHTN và làm cho nó vận động để tạo ra một chất lượng mới Đó là những tri thức, kỹ năng và thái độ được hình thành ở SV và sự trưởng thành của chính nhóm học tập
Từ những lập luận trên chúng tôi cho rằng:
Tổ chức quá trình DHTN, về bản chất, là quá trình thực hiện những biện pháp có cơ sở khoa học để tổ chức và điều khiển mối quan hệ tương tác
Trang 8giữa các thành tố: thầy, nhóm, trò và tri thức, làm cho chúng vận động và phát triển theo một trật tự nhất định nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học
1.1.4 Đặc điểm của quá trình tổ chức DHTN
DHTN hướng tới việc tích cực hoá hoạt động của người học, phát huy tính tích cực của người học, có tác dụng tương tác trong quá trình dạy học Hình thức DHTN có các đặc điểm sau:
• Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động cho SV
Trong DHTN, SV được cuốn hút vào các hoạt động học tập do GV tổ chức, hướng dẫn, thông qua đó SV tự khám phá những điều mình chưa biết, chứ không thụ động nghe từ lời giảng của GV SV được đặt trước những tình huống thực tế, được tranh luận, thảo luận những vấn đề hoặc được trực tiếp thực hành nhằm mục đích giải quyết các vấn đề theo cách suy nghĩ của mình từ
đó SV nắm được kiến thức mới, kỹ năng mới, nắm phương pháp tạo ra kiến thức đó, kỹ năng đó
• Chú trọng rèn luyện cho SV phương pháp tự học
Thông qua việc thảo luận, tìm cách giải quyết các vấn đề, báo cáo trình bày các vấn đề, GV rèn luyện cho SV phương pháp, kỹ năng, thói quen có ý chí
tự học, tự nghiên cứu
• Kết hợp đánh giá của GV với tự đánh giá của SV
Ngay trong cuộc thảo luận hoặc cuối tiết học, GV có thể đánh giá được ngay khả năng học tập của từng SV về mức độ tiếp thu kiến thức, tính năng
động, sáng tạo, trong học tập GV kịp thời thu được những thông tin từ phía
SV của mình Cũng qua buổi học SV có điều kiện tự đánh giá mình và tham gia
đánh giá lẫn nhau giữa các bạn cùng nhóm
Trang 91.1.5 Cấu trúc, chức năng của quá trình tổ chức DHTN
Trong quá trình tổ chức DHTN, hoạt động dạy và hoạt động học được thực hiện theo nhiều chu trình kế tiếp nhau Sự kết thúc của một chu trình này
sẽ là điểm xuất phát cho một chu trình khác cao hơn tương ứng với lôgic vận
động của bài học Mỗi chu trình gồm nhiều giai đoạn và mỗi giai đoạn lại có một chức năng Sự sắp xếp của các giai đoạn của một chu trình theo một trật tự nhất định trong một chỉnh thể sẽ tạo nên một cấu trúc chức năng của quá trình
tổ chức DHTN Về cơ bản, trong một chu trình tổ chức DHTN, hoạt động dạy
và hoạt động học được tiến hành theo 4 giai đoạn:
• Hoạt động của GV
Lấy hoạt động của SV làm trung tâm, GV chủ động khởi xướng các mối quan hệ tương tác: thầy – nhóm – trò, làm cho chúng vận động và phát triển vì hiệu quả thực tế của SV theo trình tự sau:
(1) Hướng dẫn SV tự nghiên cứu → (2) Tổ chức thảo luận nhóm → (3) Tổ chức thảo luận lớp → (4) Kết luận kiểm tra, đánh giá
Trang 10Vì vậy, qua từng tình huống dạy học bằng hành động của chính mình, bằng sự hợp tác với bạn và với thầy, không những SV chiếm lĩnh được tri thức, khái niệm, mà còn tạo nên những phẩm chất và nhân cách con người
1.1.6 Các dạng tổ chức DHTN
• Dạng 1: Thống nhất về nhiệm vụ nhận thức
Đây là dạng mà các nhóm trong một lớp và các SV trong cùng một nhóm
có chung một nhiệm vụ học tập Vì vậy, các hoạt động của nhóm có chung một phương pháp, một thể thức và giồng nhau về sản phẩm Dạng này có ưu điểm là
đơn giản, dễ sử dụng và rất thích hợp với việc tổ chức thực hiện các bài học có nội dung được cấu trúc theo đường thẳng Tuy nhiên, nhược điểm cơ bản là chưa tạo ra được sự phụ thuộc tích cực và tính chịu trách nhiệm cá nhân cao, vì vậy nếu không được tổ chức tốt sẽ không tạo ra được sự liên kết và phối hợp hoạt động nhóm, SV dễ sử dụng kết quả của nhau
• Dạng 2: Phân hoá về nhiệm vụ nhận thức
Đây là dạng mà các nhóm khác nhau có những nhiệm vụ khác nhau trong khuôn khổ một đề tài chung dành cho cả lớp Vì vậy, có sự khác nhau về thể thức, phương pháp và sản phẩm của hoạt động Đặc trưng của dạng này là cả lớp chịu trách nhiệm về mặt mục tiêu chung được thực hiện thông qua nhiệm vụ riêng biệt của từng nhóm ưu điểm nổi bật của dạng này là giúp cho
GV có thể thực hiện dạy học phân hoá theo trình độ và năng lực của từng nhóm
SV, chứa đựng nhiều khả năng áp dụng cho các bài học có nội dung được cấu tạo phân nhánh Tuy nhiên, cũng như dạng 1, dạng này chưa tạo ra được sự phụ thuộc tích cực và tính chịu trách nhiệm cá nhân cao ở SV
• Dạng 3: Thống nhất ở cấp độ lớp nhưng phân hoá ở cấp độ nhóm
Đây là dạng mà các nhóm trong lớp có nhiệm vụ giống nhau, nhưng các thành viên trong nhóm có nhiệm vụ khác nhau Cụ thể là các nhóm chịu trách nhiệm về một mục tiêu duy nhất được thực hiện thông qua nhiệm vụ của từng thành viên ở đây các hoạt động cá nhân được tổ chức lại và liên kết hữu cơ với nhau nhằm thực hiện nhiệm vụ chung ưu điểm của dạng này là tạo ra được một sự phụ thuộc tích cực giữa các thành viên trong nhóm Mỗi SV phải chịu trách nhiệm cá nhân về nhiệm vụ của mình, thành tích của họ có ảnh hưởng trực tiếp tới thành tích chung của cả nhóm Vì vậy, buộc họ phải tích cực nỗ
Trang 11lực, không thể trông chờ ỷ lại vào người khác Hơn nữa, dạng này có thể giúp cho GV giao những nhiệm vụ phù hợp với trình độ và năng lực của từng SV, qua đó thực hiện dạy học cá biệt hoá Tuy nhiên, dạng này chỉ thích hợp với bài học có cấu trúc nội dung phân nhánh, còn đối với những bài học có cấu trúc nội dung đường thẳng rất khó thực hiện
• Dạng 4: Phân hoá ở cấp độ lớp và phân hóa ở cấp độ nhóm
Đây là dạng được tạo nên bởi sự kết hợp giữa dạng 2 và dạng 3 Khi tổ chức thực hiện dạng này cần tiến hành qua hai bước:
Bước 1: Thành lập các nhóm phân hoá, giữa các nhóm trong lớp có nhiệm vụ khác nhau, nhưng các thành viên trong nhóm có nhiệm vụ giống nhau Giao nhiệm vụ và tổ chức cho các nhóm giải quyết nhiệm vụ của mình, khi nhiệm vụ chung được giải quyết xong, nhóm giải tán
Bước 2: Thành lập các nhóm mới, các thành viên của nhóm mới được tập hợp lại từ các nhóm phân hoá Mỗi thành viên mang vào nhóm một nhiệm vụ
mà họ vừa tham gia, khi nhóm hoạt động, họ sẽ làm nhóm trưởng điều hành nhóm giải quyết nhiệm vụ này và tương tự như dạng 3, SV sẽ dàn dựng, lắp ráp tạo thành sản phẩm chung
Dạng này đã thừa hưởng được tất cả những ưu điểm của dạng 2 và dạng
3, đặc biệt là nó giúp cho GV thực hiện dạy học phân hoá và cá biệt hoá trong giờ học Tuy nhiên, nhược điểm của nó là tốn kém về thời gian
Tóm lại, DHTN có thể tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau, mỗi dạng đều
có những ưu điểm và nhược điểm nhất định Khi thực hiện DHTN cần phối hợp chúng một cách đa dạng và linh hoạt, tránh sử dụng độc tôn một dạng
Trang 12+ Kiểu 1: Nhóm đồng nhất, nhóm đ−ợc tạo bởi một tập hợp các SV có cùng một mức độ về trình độ và tính độc lập nhận thức
+ Kiểu 2: Nhóm hỗn hợp, nhóm đ−ợc tạo bởi một tập hợp các SV có sự khác biệt nhau về trình độ và tính độc lập nhận thức
Để dễ dàng thành lập và chuyển hoá giữa hai kiểu nhóm trên, GV có thể dựa vào sơ đồ 1.1 sau:
Đồng nhất Kiểu nhóm
+ Đối chiếu theo hàng ngang để thành lập các nhóm hỗn hợp
Lựa chọn theo kiểu nào, theo chúng tôi, phụ thuộc vào tính chất phân hoá về nhiệm vụ nhận thức đ−ợc thực hiện ở cấp độ nào Nếu nhiệm vụ nhận thức đ−ợc phân hoá ở cấp độ lớp thì chọn kiểu nhóm đồng nhất Còn ở cấp độ nhóm thì chọn kiểu nhóm hỗn hợp Và ở trong một giờ học, chúng ta có thể kết hợp cả hai kiểu này
Trang 13• Lựa chọn thành viên vào nhóm
Có nhiều cách lựa chọn các thành viên vào một nhóm Tuy nhiên, nhóm hoạt động có hiệu quả là nhóm có các thành viên với các năng lực đa dạng và mang tính chất ngẫu nhiên Với nhóm như vậy mỗi vấn đề cần giải quyết sẽ chứa đựng sự cân nhắc toàn diện hơn Dó đó có thể phân nhóm theo tổ có sẵn của lớp hoặc phân nhóm ngẫu nhiên theo số thứ tự mà GV quy định Nếu tổ có
số lượng SV lớn hơn 6 nhiều ta lại phải phân bố thành hai nhóm theo bàn học v.v
• Thời gian duy trì nhóm
Thông thường nhóm cần được duy trì sao cho các thành viên trong nhóm
được “hiểu nhau” và có được các kỹ năng cần thiết nhất định nhưng cũng không nên để nhóm “quá hiểu nhau” dễ sinh ra tình trạng trì trệ thiếu năng
động và dựa dẫm vào nhau
• Tổ chức lớp học
GV cần tổ chức sao cho mọi thành viên trong nhóm phải nhìn thấy nhau Giữa các nhóm cần có khoảng cách hợp lý: không gần quá nhưng cũng không
xa quá để một mặt không ảnh hưởng đến nhau, mặt khác cũng có thể trao đổi
và thảo luận với nhau
Như vậy, quá trình tổ chức DHTN phải được thực hiện qua ba giai đoạn
và 11 bước ở giai đoạn thực hiện, sau khi kết thúc sử lý một tình huống, hoạt
động của GV và SV phải quay trở lại bước đầu, cứ như vậy cho tới khi kết thúc các tình huống của bài học
1.1.8.1 Giai đoạn chuẩn bị bài của GV và SV
• Hoạt động của GV
+ Bước 1: Xác định mục tiêu của bài học:
Trang 14- Nghiên cứu mục tiêu của môn học và xác định vị trí của bài học trong chương trình, kế hoạch dạy học
- Tìm hiểu đặc điểm và trình độ của SV
- Xác định những kiến thức cơ bản, những kỹ năng và thái độ cần thiết hình thành cho SV
+ Buớc 2: Thiết kế nội dung của bài học:
- Phân tích nội dung của bài học
- Xây dựng cấu trúc nội dung bài học
- Thiết kế các tình huống dạy học
- Xác định thời gian cho từng tình huống và phân hoá chúng cho phù hợp với từng SV và từng nhóm SV
Dưới hướng dẫn của GV, SV cần tiến hành:
+ Bước 1: Tự xác định mục tiêu của bài học:
- Tự tìm hiểu mục tiêu của môn học
- Tự xác định vị trí của bài học trong chương trình
- Tự xác định những tri thức cơ bản, những kỹ năng và thái độ cần phải chiếm lĩnh
+ Bước 2: Nghiên cứu nội dung bài học:
- Tự xác định những tri thức chính và phụ
- Xác định mối quan hệ giữa các phần của bài học
- Tự đặt ra câu hỏi và tình huống
- Tự tìm cách sử lý tình huống
+ Bước 3: Tự lựa chọn:
- Các phương pháp học tập chủ yếu
- Các phương tiện và đồ dùng học tập cá nhân
Trang 15- Cách tổ chức hoạt động của cá nhân trong giờ học nhóm
1.1.8.2 Giai đoạn thực hiện hoạt động dạy và học trong giờ học nhóm
• Hoạt động của GV
+ Bước 1: Thành lập nhóm và giao nhiệm vụ cho các nhóm:
- Thành lập các nhóm
- Giao nhiệm vụ cho từng nhóm
- Hướng dẫn nhóm giải quyết nhiệm vụ
- Giúp đỡ nhóm phân chia nhiệm vụ cho từng cá nhân
+ Bước 2: Hướng dẫn SV tự nghiên cứu:
- Hướng dẫn SV xác định nhiệm vụ
- Hướng dẫn SV cách giải quyết nhiệm vụ
- Hỗ chợ và giúp đỡ SV giải quyết tình huống
- Hướng dẫn SV ghi lại các kết quả nghiên cứu cá nhân
+ Bước 3: Tổ chức thảo luận nhóm:
- Định hướng hoạt động của nhóm
- Kích thích hoạt động của nhóm
- Điều khiển hoạt động của nhóm
- Điều chỉnh hoạt động của nhóm
- Thúc đẩy hoạt động của nhóm
+ Bước 4: Tổ chức thảo luận lớp:
- Xem xét báo cáo của các nhóm
- Yêu cầu các nhóm cử đại diện trình bày kết quả nghiên cứu
- Yêu cầu các nhóm khác bổ sung
- Nhấn mạnh các điểm khác biệt giữa các nhóm để SV tranh luận
+ Bước 5: Tổng kết đánh giá:
- Tóm tắt từng vấn đề
- Bổ sung, thể chế hoá tri thức
- Đưa một số câu hỏi để kiểm tra
- Nhận xét về hoạt động của từng nhóm
Trang 16• Hoạt động của SV
+ Bước 1: Gia nhập nhóm:
- Nhập các nhóm
- Tiếp nhận nhiệm vụ chung từ GV
- Tiếp nhận vai trò của nhóm
- Tiếp nhận nhiệm vụ cá nhân trong từng nhóm
+ Bước 2: Tự nghiên cứu cá nhân:
- Tìm hiểu chủ đề, đề xuất nhiệm vụ
- Xây dựng giả thuyết cho tình huống
- Chứng minh giả thuyết
- Đánh giá, thử nghiệm các giải pháp đã tìm được
+ Bước3: Hợp tác với các bạn trong nhóm:
- Trình bày kết quả nghiên cứu trước nhóm
- Tỏ thái độ trước ý kiến của bạn
- Góp ý bổ sung vào các kết quả nghiên cứu của bạn
- Ghi lại các ý kiến theo cách hiểu của mình
- Khai thác ý kiến của bạn, bổ sung và điều chỉnh các kết quả nghiên cứu của mình
+ Bước 4: Hợp tác với các bạn trong lớp:
- Đại diện cho nhóm trình bày các kết quả nghiên cứu của nhóm
- Tỏ thái độ trước các ý kiến của nhóm khác
- Ghi lại các kết quả nghiên cứu của nhóm khác theo cách hiểu của mình
- Khai thác bổ sung và điều chỉnh các kết quả nghiên cứu của mình + Bước 5: Hợp tác với thầy, tự đánh giá, tự điều chỉnh:
- So sánh, đối chiếu với kết luận của thầy
Trang 17• Hoạt động của GV
+ Bước 1: Hướng dẫn SV tổng kết bài học:
- Yêu cầu SV đọc lại nội dung của bài học
- Hướng dẫn SV xác định trọng tâm của từng phần và của toàn bài
- Hướng dẫn SV xác định mối quan hệ trong từng phần và giữa các phần trong bài
- Hướng dẫn SV sắp xếp các ý, các luận điểm theo một trật tự nhất định
- Hướng dẫn SV khái quát các luận điểm, các mối quan hệ và xác định tư tưởng chủ đạo của bài học
+ Bước 2: Đánh giá kết quả học tập của SV:
- Đánh giá tiến độ, mức độ thực hiện kế hoạch của SV
- Đánh giá mức độ đạt được của SV so với yêu cầu đặt ra
- Phân tích những nguyên nhân của những tồn tại của SV
- Đề xuất các giải pháp để SV khắc phục tồn tại
+ Bước 3: Hướng dẫn SV chuẩn bị bài học mới:
- Hướng dẫn SV xác định mục tiêu và nhiệm vụ của bài học mới
- Hướng dẫn SV nghiên cứu nội dung của bài học mới
- Hướng dẫn SV lựa chọn phương pháp, phương tiện học tập và các tài liệu tham khảo
• Hoạt động của SV
+ Bước 1: Tự tổng kết bài học
- Đọc lướt nhanh toàn bộ nội dung bài học
- Xác định những ý cốt lõi những luận điểm cơ bản
- Xác định mối quan hệ giữa các ý trong luận điểm và giữa các luận
điểm trong bài
- Sắp xếp các ý các luận điểm theo một trật tự nhất định
- Khái quát các ý, các luận điểm, các mối quan hệ, xác định nội dung chính của bài học
+ Bước 2: Tự đánh giá kết quả học tập:
- Tự đánh giá về mức độ, tiến độ thực hiện kế hoạch
Trang 18- Tự đánh giá về mức độ trưởng thành về tri thức, kỹ năng thái độ
- Xác định những nguyên nhân chủ yếu của những tồn tại
- Đề xuất các giải pháp khắc phục các tồn tại
+ Bước 3: Tiếp nhận nhiệm vụ mới:
- Tiếp nhận nhiệm vụ của bài học mới
- Tiếp nhận sự hướng dẫn cách lựa chọn phương pháp, phương tiện học tập
- Tiếp nhận sự hướng dẫn về cách lựa chọn, sử dụng tài liệu học tập Kết thúc 3 giai đoạn quy trình hoàn thành, quay trở lại từ đầu để thực hiện một quy trình khác
1.1.9 ý nghĩa của việc tổ chức DHTN
• DHTN và việc lĩnh hội kiến thức, phát triển tư duy trí tuệ của SV Học tập theo nhóm, SV được khuyến khích tranh luận và ứng dụng những gì đã học được vào thưc tiễn, nhờ đó mà họ thẩm thấu và chuyển hoá những kiến thức đã lĩnh hội thành khối kinh nghiệm vững chắc của bản thân Hơn nữa, khi tham gia vào nhóm học tập SV được tiếp xúc với nhiều cách giải thích, chiến lược giải quyết khác nhau cho cùng một vấn đề Vì vậy, những hiểu biết của SV không chỉ bó hẹp trong phạm vi cá nhân mà được mở rộng ra rất nhiều là được xã hội hoá ở mức độ cao Trong hoạt động học tập theo nhóm bản thân mỗi SV thường đóng vai trò là GV, họ có trách nhiệm giải thích, làm sáng tỏ một vấn đề nào đó mà thành viên khác chưa hiểu Quá trình đó giúp SV
tự học nhiều hơn
Như vậy học theo nhóm, người mạnh đã giúp người yếu, làm mình phong phú thêm không phải bằng sự bắt trước mà chính là sự đối chiếu với các quan điểm khác của mình Đó chính là nguồn gốc của mọi sự tiến bộ
• DHTN và sự phát triển nhân cách của SV
Nhân cách của con người được hình thành và phát triển bằng hoạt động
và giao lưu của mỗi cá nhân trong môi trường xã hội Các mối quan hệ mà cá nhân tham gia càng phong phú, đa dạng càng góp phần nhanh chóng vào việc hoàn thành nhân cách của họ Sự liên kết và phối hợp hoạt động giữa các SV
Trang 19trong nhóm học tập đã tạo ra nhiều mối quan hệ xã hội hết sức độc đáo và điển hình Vì vậy khi tham gia vào hoạt động chung, mỗi SV bằng hoạt động và giao lưu của mình một mặt chiếm lĩnh các chuẩn mực và các giá trị xã hội chứa
đựng trong các quan hệ đó, chuyển hoá chúng thành kinh nghiệm và vốn sống của bản thân, hình thành nên các phẩm chất của cá nhân, mặt khác điều chỉnh
và làm thay đổi chính các quan hệ xã hội này
Về thực chất đây là quá trình xã hội hoá cá nhân - quá trình hình thành, phát triển nhân cách Do đó có thể nói DHTN chứa đựng một khả năng to lớn giúp cho nhà giáo dục xây dựng và phát triển nhân cách cho SV Cụ thể như phát triển ý thức tập thể, xây dựng tình bạn, phát triển động cơ học tập, củng cố
sự tự đánh giá
• DHTN và học tập bước vào cuộc sống x hội
Thông qua các loại hình giao tiếp trong nhóm SV tổng hoà các mối quan
hệ xã hội hình thành nên các nét độc đáo và điển hình trong nhân cách, nhờ đó các em “hoà nhập” chứ không “hoà trộn” vào xã hội rộng lớn Vì vậy còn có thể nói học tập thể, hợp tác còn tạo ra cho SV các kinh nghiệm về đạo đức, quan hệ trách nhiệm và giúp đỡ lẫn nhau làm nảy sinh những rung cảm về nhau gây ảnh hưởng tới việc hình thành động cơ chung của tập thể, khả năng giúp đỡ bạn, ý thức về bản thân tất cả đều đem lại hứng thú đối với học tập
Tóm lại, DHTN tuy còn có những khó khăn trong thực tiễn nhưng lại có những lợi thế mà các hình thức tổ chức khác còn hạn chế, nó tạo ra cơ may cho giáo dục mang tính chất xã hội đối với người học
1.1.10 Các điều kiện để thực hiện DHTN
a Điều kiện khách quan
• Phương tiện vật chất – kỹ thuật phục vụ dạy và học
+ Không gian lớp học: Hoạt động dạy và học theo nhóm luôn luôn đặt người dạy và học phải thường xuyên tiếp xúc với nhau trong một không gian nhất định Các yếu tố của không gian này có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của GV và SV Vì vậy không gian lớp học cần thông thoáng, sáng sủa và không có tiếng ồn ngoại lai
Trang 20+ Sách giáo khoa và tài liệu tham khảo: Học theo nhóm là học tự học,
SV phải tự nghiên cứu, nội dung của bài học qua sách giáo khoa và tài liệu tham khảo Nguồn tài liệu này cần phong phú và đa dạng về chất lượng và số lượng Trong điều kiện nhất định, có thể bố trí các tài liệu tham khảo ở các giá sách treo trên tường của lớp học để SV tự tra cứu
+ Các thiết bị, bàn ghế: Trong DHTN, không gian của lớp học được bố trí một cách đa dạng và sinh động Vì vậy, các kiểu bàn ghế cần phải gọn nhẹ
có thể bố trí và thay đổi một cách cơ động
+ Phương tiện kỹ thuật như: Máy tính, các phương tiện trình chiếu, sơ
đồ, bảng biểu,
• Cơ chế tổ chức điều hành trong nhà trường
+ Thời gian biểu: Bài học, trong DHTN, được thiết kế theo chủ đề Do
đó, khi xếp thời khoá biểu, các trường CĐSP một mặt, cần tôn trọng tổng quỹ thời gian quy định cho chương trình, mặt khác, cần năng động và mềm dẻo chia thời gian bài học không cố định theo tiết học mà theo chủ đề
+ Số SV trong một lớp: Mục đích của DHTN là hướng tới thực hiện dạy học phân hoá, cá biệt hoá, nếu sĩ số lớp quá đông, nhiệm vụ này sẽ không thực hiện được Thuận lợi nhất cho việc DHTN là lớp học có từ 25 – 30 SV
+ Thể thức kiểm tra, đánh giá: DHTN chủ yếu hướng vào việc phát triển tư duy của SV, dạy cho SV cách học, cách vận dụng tri thức Vì vậy, nếu việc kiểm tra, đánh giá chủ yếu dựa vào ghi nhớ máy móc và học thuộc lòng sẽ làm giảm hiệu quả và hiệu lực của hình thức dạy học này Các câu hỏi kiểm tra cần
đòi hỏi tính sáng tạo và khả năng vận dụng của SV
b Các điều kiện chủ quan
• Điều kiện đối với GV
Để thực hiện tốt vai trò của người hướng dẫn và tổ chức hoạt động, đồng thời là chỗ dựa tin cậy của SV, GV phải hội tụ đầy đủ các điều kiện sau:
* Về năng lực:
+ Năng lực thiết kế bài học: GV phải có khả năng chuyển hoá các tri thức chương trình, tri thức giáo khoa thành tri thức dạy học dưới dạng các tình
Trang 21huống Các tình huống này cần phong phú, sinh động, sát với trình độ nhận thức của SV
+ Thái độ chân thành, cởi mở và tôn trọng người học
+ Thông cảm sâu sắc với những khó khăn của SV khi vượt qua những chướng ngại nhận thức, để từ đó động viên, khuyến khích họ tích cực hơn
+ Tin tưởng ở SV, SV có thể học tốt nếu họ được giúp đỡ
• Điều kiện đối với SV
Hoạt động học tập theo nhóm là học tập thể, hợp tác dưới sự tổ chức và
điều khiển của GV Nó chỉ đạt được kết quả cao khi SV tích cực, tự lực và tự giác Cụ thể:
+ Chuẩn bị chu đáo cho việc học bằng cách: thu thập và nghiên cứu trước các tài liệu, sách giáo khoa để từ đó tự xây dựng và tự giải quyết các tình huống học tập
+ Trong thảo luận tập thể cần có các kỹ năng hợp tác Đây là các kỹ năng phối hợp hành động trong hoạt động chung
Tóm lại, để thực hiện quá trình tổ chức DHTN đòi hỏi phải đảm bảo các yêu cầu trên một cách toàn diện
1.2 Thực trạng dạy học môn ĐSĐC và việc tổ chức DHTN
cho SV CĐSP ( Tự viết)
Trang 22Chương 2 - Một số biện pháp sư phạm tổ chức DHTN trên nội dung: Chương 1 Nửa nhóm – Nhóm
2.1.2 Đảm bảo sự thống nhất giữa lao động có tính tập thể với lao
động theo nhịp điệu, khả năng của từng cá nhân
Trong giờ học nhóm, mỗi SV bao giờ cũng tồn tại trong một nhóm cụ thể Các quan hệ phụ thuộc tích cực về mục tiêu, vai trò và nguồn lực đã tạo ra một áp lực lớn buộc SV phải liên kết và phối hợp với nhau trong một hoạt động chung để thực hiện mục tiêu chung Vì vậy học theo nhóm là học tập thể, hợp tác Kết quả của giờ học nhóm phụ thuộc vào kết quả của sự liên kết, phối hợp hành động giữa các thành viên nhóm Sự phối hợp và liên kết này càng chặt chẽ, càng nhanh chóng đưa hoạt động chung đi tới mục tiêu
Tuy nhiên, lao động tập thể, hợp tác không có nghĩa là xoá nhoà, thủ tiêu lao động cá nhân, mà trái lại, phải làm tích cực hoá lao động cá nhân dưới
Trang 23hình thức tập thể hợp tác Hơn nữa, mỗi cá nhân SV là những nhân cách cụ thể, với những khác biệt về năng lực, tính cách, khí chất,… Sự đóng góp của cá nhân cho nhóm là cao nhất, khi họ được đảm nhận những nhiệm vụ thích hợp với khả năng và sở trường của mình Mỗi SV chỉ có thể hoà nhập vào nhóm với tư cách là một thành viên tích cực, không thể bị hoà tan
Vì vậy, sự kết hợp hài hoà giữa lao động tập thể hợp tác và lao động theo nhịp độ, khả năng của cá nhân, một mặt, huy động và hội tụ được trí tuệ của tập thể, mặt khác, tạo điều kiện cho cá nhân phát huy tối đa khả năng và sở trường của mình, đóng góp tích cực vào thành tích chung Đây cũng là một nguyên tắc cơ bản chỉ đạo việc tổ chức DHTN
2.1.3 Đảm bảo tính toàn diện
Việc tổ chức DHTN phải tạo ra hiệu quả cao của hoạt động dạy học trên nhiều phương diện
+ Hiệu quả nhận thức: DHTN phải đảm bảo cho người học lĩnh hội tri thức một cách đầy đủ với chất lượng cao và vững chắc, phát triển trí tuệ
+ Hiệu quả về giáo dục: DHTN phải hướng vào việc rèn luyện cho SV ý thức thái độ với học tập, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau trong học tập
+ Hiệu quả về kinh tế: Việc tổ chức DHTN có thể tiết kiệm được thời gian, sức lực của GV và SV nhưng đảm bảo chất lượng và hiệu quả cao
2.1.4 DHTN cần phải kết hợp với những hình thức, phương pháp dạy học khác và các phương tiện kỹ thuật hiện đại
Trong thực tế dạy học ta thấy không có một hình thức dạy học vạn năng
áp dụng cho tất cả các loại bài học và các đối tượng SV Chính vì vậy, để giờ học đạt hiệu quả cao, ngoài hình thức tổ chức DHTN GV cần phải biết kết hợp các hình thức tổ chức dạy học khác sao cho phù hợp với từng phần của nội dung bài học
Mặt khác, nếu GV chỉ sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống thì sẽ không đáp ứng được yêu cầu của hình thức DHTN Một số phương pháp dạy học có thể vận dụng trong DHTN là: Dạy học phát hiện và giải quyết vấn
đề, dạy học chương trình hoá, dạy học theo lý thuyết tình huống,…
Trang 24Ngoài ra để hỗ trợ cho việc tổ chức DHTN ta có thể sử dụng một số phương tiện kỹ thuật hiện đại như:
+ Máy tính và các phương tiện trình chiếu
+ Thi trắc nghiệm trên máy
+ Máy chiếu bản trong
2.1.5.1 Mỗi một bài học hay chủ đề đều được GV điều khiển theo
đúng quy trình tổ chức DHTN
2.1.5.2 Giờ học trên lớp được tổ chức thành các hoạt động của SV Các dạng tổ chức DHTN được áp dụng vào trong hoạt động đó sao cho phù hợp với từng nội dung bài học
2.1.5.3 Vận dụng phối hợp, linh hoạt các biện pháp Sư phạm (Trình bày ở mục 2.2)
2.2 Một số biện pháp sư phạm tổ chức DHTN môn đại số đại cương ở trường CĐSP
2.2.1 Biện pháp 1: (Dựa trên cơ sở lý luận về dạy học tự học)
Dạy việc học, dạy tự học môn ĐSĐC cho SV CĐSP
Dạy việc học, dạy tự học môn ĐSĐC cũng như tất cả các môn học khác cho SV là nhiệm vụ không thể thiếu trong các trường CĐSP, bởi lẽ:
+ Muốn phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học thì cần rèn luyện phương pháp tự học cho người học, coi đây không chỉ là một phương tiện nâng cao hiệu quả dạy học mà là một mục tiêu quan trọng của dạy học
+ Bồi dưỡng ý trí và năng lực tự học cho SV là cách có hiệu quả để tạo ra
động lực mạnh mẽ cho quá trình học tập
Trang 25Chính vì vậy, chúng tôi đưa ra một số biện pháp dạy việc học, dạy tự học trong quá trình đào tạo SV CĐSP nói chung và môn học ĐSĐC như sau:
+ Phát huy nội lực tự đào tạo của SV để làm tốt chức năng “thầy học”,
“người dạy cánh học”, “người phát huy nội lực tự học của người học”, “người hướng dẫn cho trò biết cách tự học chữ, tự học nghề, tự học nên người”
+ Đổi mới cách đào tạo GV theo mô hình đào tạo – tự đào tạo để làm tốt chức năng “dạy cách học” của “thầy học”: lấy SV làm chủ thể tích cực, chủ
động, tự học, tự đào tạo với sự hợp tác của các bạn và sự hướng dẫn của thầy
+ Gắn liền đào tạo – tự đào tạo với thực hành sư phạm và nghiên cứu khoa học Phát động phong trào đổi mới cách học trong hệ thống trường sư phạm Cần giáo dục cho giáo sinh thấm nhuần phương châm học kết hợp với hành
+ Những hoạt động tự học không chỉ tổ chức việc học tập cá nhân riêng
lẻ mà coi trọng hoạt động độc lập của SV ngay cả trong giờ lên lớp Hình thức hoạt động độc lập của SV cần đa dạng: đọc sách, thí nghiệm, thực hành, làm bài tập, thảo luận v.v… Cần đặc biệt coi trong hoạt động tự học có tính sáng tạo và cần phối hợp hoạt động tự học sáng tạo và hoạt động tự học tái hiện một cách hợp lý
• Cụ thể với môn học ĐSĐC, GV hướng dẫn SV cách tự học như sau:
+ Hướng dẫn SV cách sử dụng giáo trình, tài liệu tham khảo của môn học
Tài liệu chính được sử dụng để dạy học môn ĐSĐC:
1 ĐSĐC, tác giả Hoàng Xuân Sính(chủ biên) – Trần Phương Dung (2003), Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
2 Bài tập ĐSĐC, tác giả Bùi Huy Hiền (2001), NXB giáo dục
Tài liệu tham khảo chủ yếu là các tài liệu:
1 Cấu trúc Đại số, tác giả Nguyễn Quang Biên (1981), NXB giáo dục
2 Tổng quan về Đại số hiện đại, tácgiả BirkhoffG MaclaneS (Ngô Thúc Lanh dịch) (1979), Nhà xuất bản Đại học và trung học chuyên nghiệp
Trang 263 Bài tập Đại số, tác giả Trần Văn Hạo (1979) Nhà xuất bản Đại học và trung học chuyên nghiệp
4 Bài tập Đại số cao cấp, tác giả Trần Văn Hạo – Hoàng Kỳ (1977) NXB giáo dục
5 Đại số và Số học, Bùi Huy Hiền – Phan Doãn Thoại, Nguyễn Hữu Hoan(1985), Nhà xuất bản giáo dục
6 Số học và Đại số, Ngô Thúc Lanh (1985), Nhà xuất bản giáo dục + Hướng dẫn SV cách học nội dung lý thuyết của môn học
Để giúp SV tự học nội dung lý thuyết của môn học thì cần phải có sự
định hướng của GV GV nên chia nội dung kiến thức của các chương thành những bài có dung lượng kiến thức vừa phải (không quá dài và cũng không quá ngắn) sau đó yêu cầu SV nghiên cứu giáo trình, tài liệu để trả lời một số câu hỏi về nội dung chính của bài học do GV giao Cụ thể:
- Để SV hiểu được một định nghĩa khái niệm của môn học thì GV cần giải thích cho SV biết rằng hầu hết các khái niệm của môn học được định nghĩa theo phương pháp tiên đề nên khi định nghĩa một đối tượng nào đó tức là đối tượng đó phải thoả mãn những tiên đề nhất định
- Để SV chứng minh được một định lý của môn học, các em phải tư duy lôgic chặt chẽ Thông thường việc chứng minh một định lý của môn học sẽ vận dụng các khái niệm cơ bản có trong định lý và các định lý đã được chứng minh trước đó
+ Hướng dẫn SV cách giải bài tập của môn học
GV giao hệ thống bài tập cho SV với yêu cầu phân dạng rồi giải và rút ra phương pháp giải cho các dạng bài tập đó
Phương pháp chung để giải một bài toán như sau:
- Bước 1: Tìm hiểu nội dung đề bài
- Bước 2: Tìm cách giải
- Bước 3: Trình bày lời giải
- Bước 4: Nghiên cứu sâu lời giải
Trang 27Đặc biệt lưu ý tới bước tìm cách giải bài toán của môn học ở đây các
em tìm hiểu cách giải nhờ những suy nghĩ có tính chất tìm đoán: liên hệ cái đã cho và cái phải tìm với định nghĩa, định lý đã học, liên hệ bài toán cần giải với một bài toán cũ tương tự, một trường hợp riêng, một bài toán tổng quát hơn hay một bài toán có liên quan Sử dụng những phương pháp đặc thù với từng dạng toán như chứng minh phản chứng, chứng minh quy nạp toán học, Kiểm tra lời giải bằng cách xem kỹ từng bước thực hiện hoặc đặc biệt hoá kết quả tìm được hoặc đối chiếu kết quả tìm được với một số tri thức có liên quan, Tìm tòi những cách giải khác, so sánh chúng để chọn được cách giải hợp lý nhất
+ Hướng dẫn SV cách tự tổng kết kiến thức của bài học, chuyên đề
GV yêu cầu SV:
- Hệ thống lại toàn bộ các khái niệm của bài học hay chuyên đề, sau đó xét chúng trong mối quan hệ qua lại với nhau và việc áp dụng nó trong quá trình chứng minh các định lý, giải các bài tập
- Hệ thống lại các định lý cơ bản của bài học hay chuyên đề và phương pháp chứng minh nó Đặc biệt là việc ứng dụng các định lý vào giải các bài tập
+ Hướng dẫn SV tìm mối liên hệ của môn học với kiến thức toán trong chương trình toán trung học cơ sở
ĐSĐC là môn khoa học cơ bản trong chương trình đào tạo GV trung học cơ sở nhưng lại rất gần gũi và có nhiều ứng dụng đối với kiến thức toán phổ thông Chẳng hạn như ở chương 1 “Nửa nhóm - Nhóm”, ta tiếp xúc với những
định nghĩa cấu trúc rất trừu tượng nhưng khi lấy ví dụ thì lại là những tập hợp quen thuộc Như vậy, từ đó GV hướng các SV có sự liên tưởng để hiểu được bản chất các tập hợp số trong chương trình phổ thông và giải thích những điều còn băn khoăn thắc mắc trước đây
2.2.2 Biện pháp 2: (Dựa trên cơ sở của dạy học theo lý thuyết tình huống)
Thực hiện vai trò chủ đạo của người thầy với tư cách người thiết kế,
uỷ thác, điều khiển, thể chế hoá
Trang 28Mỗi GV cần phải nhận thức rằng vai trò, trách nhiệm của người thầy không còn như xưa mà tính chất của vai trò này đã thay đổi: thầy không phải là nguồn phát tin duy nhất, thầy không phải là người ra lệnh một cách kiên cưỡng, thầy không phải là người hoạt động chủ yếu ở hiện trường
Vai trò, trách nhiệm của thầy bây giờ là ở chỗ khác quan trọng hơn, nặng
nề hơn, nhưng tế nhị hơn, cụ thể là:
2.2.2.1 Thực hiện vai trò thiết kế
Thầy là người lập kế hoạch, chuẩn bị quá trình dạy học về các mặt sau:
• Xác định mục tiêu của bài học
Tìm hiểu mục tiêu của môn học, xác định vị trí của bài học trong chương trình và kế hoạch dạy học Tìm hiểu đặc điểm và trình độ của SV Từ đó xác
định mục tiêu của bài học thể hiện trên 3 lĩnh vực:
+ Mục tiêu nhận thức;
+ Mục tiêu kỹ năng;
+ Mục tiêu tình cảm, năng lực, trí tuệ
• Thiết kế nội dung bài học
Trong DHTN, nội dung bài học được cấu trúc theo hướng chương trình hoá Mỗi bài học phải giải quyết một chủ đề, mỗi chủ đề được cụ thể hoá thành nhiều tình huống, và mỗi tình huống lại được cụ thể hóa thành nhiều vấn đề Vì vậy, mấu chốt của việc thiết kế nội dung bài học trong DHTN là thiết kế các tình huống Để thực hiện nhiệm vụ đó, GVcần tiến hành như sau:
+ Phân tích nội dung bài học: Xác định tư tương chính của bài học, phân tích bài học thành những đơn vị tri thức độc lập, mỗi đơn vị tri thức tương tương với một môdun dạy học
+ Xây dựng cấu trúc nội dung của bài học: Xác định các tri thức chính
và phụ, mối quan hệ giữa các đơn vị tri thức, sắp xếp các đơn vị tri thức theo một trình tự hợp lý về cấu trúc, có tính tới sự kế thừa và tiến triển của nó trong lôgic vận động của bài học
* Ví dụ: Khi xây dựng cấu trúc nội dung bài học: Nửa nhóm – Nhóm, các tri thức chính là khái niệm cấu trúc nhóm và một số tính chất cơ bản của
Trang 29nó Tuy nhiên để có thể nắm được các kiến thức đó SV phải nắm vững các cấu trúc trước đó như: nửa nhóm, vị nhóm và các cấu trúc này lại được xuất phát từ một tập hợp trên đó trang bị một phép toán hai ngôi thoả mãn một số tính chất như: kết hợp, giao hoán, có phần tử đơn vị Như vậy, bài học là chuỗi kiến thức rất lôgic mà người học buộc phải tuân theo một trình tự nhất định như sau: Bắt
đầu bằng định nghĩa phép toán hai ngôi và các tính chất của nó, rồi đến cấu trúc nửa nhóm, vị nhóm cuối cùng là cấu trúc nhóm và các tính chất của nó
+ Kiến tạo tình huống dạy học:
Tình huống dạy học là một đơn vị của bài học, chứa đựng một đơn vị tri thức mà SV cần phải lĩnh hội Trong DHTN, tình huống dạy học tương ứng
được thể hiện dưới dạng tình huống vấn đề Để kiến tạo tình huống vấn đề GV cần:
- Xác định mục tiêu của tình huống
Tuy nhiên, trong mọi điều kiện SV chỉ biết có vật cản, còn GV lại biết rất
rõ những khó khăn mà SV sẽ gặp phải khi vượt qua vật cản Vì vậy, tại những chỗ khó khăn này, GV cần chuẩn bị những tình huống phụ dùng để gợi ý
+ Xác định quỹ thời gian hợp lý cho từng tình huống và phân hoá tình huống cho phù hợp với trình độ của từng SV và từng nhóm SV
* Ví dụ: Sau khi học bài nhóm để chuyển sang bài nhóm con, GV có thể
đưa ra tình huống sau:
Khi học về tập hợp các em đã biết khái niệm tập hợp con của một tập hợp Vấn đề đặt ra là: Với cấu trúc nhóm có hay không cấu trúc nhóm con của một nhóm? Nếu có thì cần phải thoả mãn những điều kiện gì?
Trang 30Chẳng hạn: Ta đã chứng minh được tập hợp các số nguyên Z cùng với phép toán cộng là một nhóm
Mặt khác ta thấy tập hợp A = {2m m ∈ Z}, B = {2m + 1 m ∈ Z} là các tập hợp con của tập hợp Z
Vậy tập hợp A, B cùng với phép toán cộng có phải là các cấu trúc nhóm hay không? Liệu nó có mối liên hệ gì với nhóm cộng các số nguyên Z không?
Trong tình huống trên, với những kiến thức mà SV đã biết như: tập hợp, tập con của một tập hợp, cấu trúc nhóm, SV phải giải quyết vấn đề đặt ra là: có hay không cấu trúc nhóm con của một nhóm? Nếu có thì cần phải thoả mãn những điều kiện gì? Vấn đề này được cụ thể thông qua việc xét nhóm cộng các
+ Lựa chọn phương pháp, phương tiện dạy học
- Lựa chọn phương pháp dạy học: Căn cứ vào mục tiêu, nội dung của bài học và nội dung của từng tình huống, GV lựa chọn các phương pháp dạy học chủ yếu và phương pháp hỗ trợ Các phương pháp này phải tương thích với trình độ của từng nhóm và từng SV
- Lựa chọn phương tiện dạy học: Tuỳ theo yêu cầu của nội dung bài học
và các phương pháp đã chọn, GV xác định các phương tiện dạy học cho phù hợp
+ Lựa chọn các dạng tổ chức DHTN: Căn cứ vào tính chất của giờ học
GV lựa chọn các dạng tổ chức dạy học cho phù hợp
+ Lựa chọn phương án tổ chức nhóm:
- Xác định kiểu nhóm và số lượng thành viên trong một nhóm
Trang 31- Lựa chọn cách tạo nhóm
* Ví dụ: Khi dạy bài: Đồng cấu - Đối xứng hoá GV nên lựa chọn như sau:
+ Phương pháp dạy học: - Phát hiện và giải quyết vấn đề,
- Thảo luận nhóm,
- Vấn đáp gợi mở,
- Dạy học tự học,
- Thuyết trình
+ Phương tiện dạy học: - Bản tóm tắt nội dung chính bài học,
- Giấy A0 để SV trình bày kết quả thảo luận nhóm
+ Các dạng tổ chức DHTN: Nên sử dụng kết hợp các dạng tổ chức DHTN trong bài học để phù hợp với nội dung bài học và giờ học trở nên sinh
động Số lượng thành viên trong nhóm khoảng 6 SV
2.2.2.2 Thực hiện vai trò uỷ thác
Sau khi thành lập nhóm GV giao nhiệm vụ cho các nhóm Nhiệm vụ ở
đây thường là các tình huống học tập mà GV đã chuẩn bị trước để SV hoạt
động hợp tác theo nhóm, thông quá đó mà SV lĩnh hội tri thức mới và hình thành các kỹ năng Khi giao nhiệm vụ cho các nhóm GV cần lưu ý:
+ Sát với trình độ của từng nhóm
+ Giải thích rõ ràng ngắn gọn các vấn đề nhóm cần giải quyết và các mục tiêu cần đạt được, thời gian cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ
Trang 32+ Đưa ra một số câu hỏi xem nhóm đã thông hiểu nhiệm vụ chưa
* Ví dụ: Để SV nắm được nội dung và phương pháp chứng minh hệ quả các
điều kiện tương đương với định nghĩa nhóm con GV tổ chức cho các nhóm SV giải 3 bài toán sau: (1) Giả sử A là một bộ phận khác rỗng của một nhóm X Chứng minh: Nếu A là một nhóm con của X
thì với mọi x, y ∈ A, xy ∈ A và x-1 ∈ A (2) Giả sử A là một bộ phận khác rỗng của một nhóm X Chứng minh: Nếu với mọi x, y ∈ A, xy ∈ A và x-1 ∈ A
thì xy-1 ∈ A
(3) Giả sử A là một bộ phận khác rỗng của một nhóm X Chứng minh: Nếu Với mọi x, y ∈ A, xy-1 ∈ A
thì A là một nhóm con của X
Sau đó, từ 3 bài toán trên GV đưa ra câu hỏi gợi mở như: “Thông qua 3 bài tập vừa giải được của các nhóm em rút ra nhận xét gì?” giúp cho SV tự rút
ra nội dung của hệ quả và phương pháp, kỹ năng chứng minh hệ quả chính là
sự tổng hợp lời giải của 3 bài toán trên
2.2.2.3 Thực hiện vai trò điều khiển
Trong giai đoạn này, hoạt động của GV tiến hành những công việc sau:
• Thành lập nhóm thảo luận và giao nhiệm vụ cho nhóm
+ Tổ chức các nhóm thảo luận: Thành lập các nhóm, phân công vị trí của các nhóm trong không gian lớp học, yêu cầu nhóm cử nhóm trưởng để điều hành hoạt động và thư ký chi chép lại các ý kiến phát biểu
+ Giao nhiệm vụ cho các nhóm
+ Hướng dẫn nhóm giải quyết nhiệm vụ: Cung cấp các phương tiện, tài liệu học tập và hướng dẫn cách sử dụng; gợi ý những giải pháp và phương hướng giải quyết vấn đề; các kiến thức và kỹ năng cần huy động và sử dụng
+ Giúp đỡ nhóm phân công nhiệm vụ cho từng thành viên:
- Hướng dẫn cách chia nhỏ nhiệm vụ chung thành các nhiệm vụ bộ phận
- Định hướng cho nhóm phân công nhiệm vụ thành phần phù hợp với trình độ cụ thể của từng SV
Trang 33* Ví dụ: Để giúp SV tiếp cận và rèn luyện cho SV kỹ năng chứng minh các tính chất của đồng cấu (nhóm) GV thành lập nhóm và giao nhiệm vụ cho các nhóm như sau:
+ GV chia lớp thành 5 nhóm đồng nhất về trình độ nhận thức (tương ứng với 5 tính chất của đồng cấu), số lượng SV trong một nhóm khoảng 6 em
+ GV giao nhiệm vụ cho các nhóm thông qua phiếu học tập (mỗi phiếu học tập yêu cầu chứng minh một tính chất của đồng cấu nhóm)
+ GV giúp các nhóm định hướng việc chứng minh các tính chất, chia nhỏ việc chứng minh các tính chất phân công cho từng SV trong nhóm đảm nhiệm
• Hướng dẫn SV tự nghiên cứu
Chiếm lĩnh tri thức là quá trình khó khăn, đôi khi bế tắc, căng thẳng và mệt mỏi Lúc đó, GV phải sẵn sàng hỗ trợ và giúp đỡ SV bằng cách đưa ra những câu hỏi gợi ý hoặc các tình huống phụ, khích lệ, động viên, giúp đỡ SV vượt qua chính bản thân mình Vì vậy, ở thời điểm này GV cần tiến hành hoạt
động theo trình tự sau:
+ Xác định và cụ thể hoá nhiệm vụ cho từng SV: Nêu nội dung của tình huống mà SV phải giải quyết; xác định nhiệm vụ cụ thể SV cần thực hiện; mục tiêu phải đạt được
+ Gợi ý cách giải quyết tình huống: Định hướng nội dung kiến thức cần xác lập; gợi ý các phương hướng và những giải pháp giải quyết
+ Hỗ trợ và giúp đỡ SV: Nêu tình huống phụ hoặc các câu hỏi gợi ý khi
SV gặp khó khăn; động viên, khích lệ SV
+ Hướng dẫn SV ghi lại một cách cô đọng và khái quát: Cách xử lý tình huống; các kết quả nghiên cứu cá nhân của mình
* Ví dụ: Khi cả nhóm nhận nhiệm vụ là “Chứng minh tập hợp các hàm
số thực xác định và liên tục trên một đoạn [a;b] cùng với phép cộng hàm số là một nhóm giao hoán.” Sau khi cả nhóm thống nhất đưa ra phương án chứng minh bài toán là: Chứng minh tập hợp các hàm số cùng với phép cộng thoả mãn đồng thời 4 tính chất: kết hợp, giao hoán, có phần tử trung lập, mọi phần
Trang 34tử có phần tử đối xứng, GV định hướng cho nhóm chia việc chứng minh các tính chất cho từng thành viên trong nhóm để các SV tự nghiên cứu cá nhân
Trong quá trình tự nghiên cứu cá nhân của SV, GV hỗ trợ khi thấy SV gặp khó khăn, có thể đưa ra câu hỏi gợi ý như: “Muốn chứng minh tập hợp các hàm số cùng với phép cộng thoả tính chất kết hợp ta làm như thế nào?” hay
“Giả sử e là phần tử trung lập thì e phải thoả mãn điều kiện gì? Vậy e là hàm số nào?” GV hướng dẫn SV ghi tóm tắt kết quả nghiên cứu cá nhân
• Tổ chức thảo luận nhóm
Để đảm trách các nhiệm vụ này, GV cần tiến hành hoạt động của mình theo trình tự sau:
+ Định hướng hoạt động của nhóm:
- Xác định mục tiêu và chương trình thảo luận của nhóm
- Xác định những nhiệm vụ, vấn đề chính cần làn sáng tỏ trong thảo luận
- Chỉ dẫn cho nhóm những biện pháp tăng cường sự hợp tác và nâng cao trách nhiệm cá nhân trong quá trình thảo luận
- Quy định quỹ thời gian cho từng nhiệm vụ, từng vấn đề thảo luận
- Yêu cầu SV chuẩn bị ý kiến phát biểu trong thảo luận một cách ngắn gọn, cô đọng
+ Điều khiển hoạt động của nhóm:
- Kích thích hoạt động của nhóm
- Khai thác triệt để nội dung của thảo luận
- Điều chỉnh hoạt động của nhóm
- Thúc đẩy hoạt động của nhóm đi tới mục tiêu
* Ví dụ: Tiếp tục hoạt động trong ví dụ ở phần hướng dẫn SV tự nghiên cứu, sau khi các cá nhân hoàn thành nhiệm vụ của mình mang sản phẩm đó vào trao đổi với nhóm, cùng các thành viên trong nhóm kết nối các ý kiến rời rạc thành hệ thống, hoàn thiện sản phẩm chung của cả nhóm là chứng minh được tập hợp các hàm số thực xác định và liên tục trên một đoạn [a;b] cùng với phép cộng hàm số là một nhóm giao hoán
Trang 35• Tổ chức thảo luận lớp
Việc trao đổi, hợp tác giữa các SV trong cùng một nhóm là rất cần thiết Tuy nhiên, để cho kiến thức mà SV đã tìm ra được bổ sung chỉnh lý và hoàn thiện hơn, GV tổ chức để cho các nhóm trong lớp trao đổi và tranh luận với nhau ở thời điểm này, hoạt động của GV được tiến hành như sau:
+ Xem xét và tổng kết báo cáo của từng nhóm để: Phát hiện những khác biệt, những mâu thuẫn giữa các nhóm, những khía cạnh mà nhóm bỏ quên hoặc
bỏ qua khi thảo luận
+ Yêu cầu các nhóm cử đại diện hoặc chỉ định một SV bất kỳ trong nhóm trình bày: Những kết quả nghiên cứu và cách sử lý tình huống của nhóm mình, những vấn đề mà nhóm chưa giải quyết được, nguyên nhân của nó
+ Yêu cầu các nhóm khác bổ sung và hoàn thiện về: Cách giải quyết, xử
lý, kết quả của tình huống
+ Nhấn mạnh những khác biệt, những mâu thuẫn giữa các nhóm để nhóm tranh luận, yêu cầu SV lập luận và chứng minh
* Ví dụ: Sau khi học xong hệ quả về các điều kiện tương đương với định nghĩa nhóm con các nhóm SV nhận nhiệm vụ mới là: chứng minh một bộ phận
là nhóm con của một nhóm Các nhóm SV thảo luận xong GV tổ chức thảo luận lớp, khi đó sẽ có nhiều phương án chứng minh khác nhau được đại diện các nhóm trình bày Như vậy, sẽ có những khác biệt, những mâu thuẫn giữa các nhóm, khi đó GV tổ chức cho các nhóm đưa ra những căn cứ, lập luận cho cách làm của nhóm mình, phản bác lại những sai sót, thiếu căn cứ của các nhóm khác Cuối cùng dẫn dắt để các SV nhận thấy có nhiều cách khác nhau chứng minh một bộ phận là nhóm con của một nhóm, điều quan trọng là áp dụng cách nào cũng phải đầy đủ các căn cứ và ta sẽ lựa chọn cách phù hợp với dữ kiện của từng bài
2.2.2.4 Thực hiện vai trò thể chế hoá
Trong thảo luận, thường xảy ra tình thế cả nhóm, lớp đứng trước những vấn đề nan giải, khó phân biệt đúng sai, lúc đó vai trò không thể thay thế được của GV, vai trò trọng tài khoa học GV phải đưa ra những kết luận khoa học về
Trang 36cách xử lý tình huống Các kết luận của GV sẽ làm mực thước để SV so sánh,
đối chiếu về cách giải quyết và kết quả tự tìm được của mình Từ đó SV tự điều
chỉnh thành một sản phẩm khách quan, khoa học Hoạt động của GV trong thời
điểm này được tiến hành như sau:
+ Tóm tắt từng vấn đề trong tình huống
+ Bổ sung, chính thức hoá và thể chế hoá tri thức mới
+ Đưa ra một số câu hỏi xem SV đã hiểu các vấn đề trong tình huống
chưa
+ Nhận xét, đánh giá về hoạt động của từng nhóm và từng SV
* Ví dụ: Sau mỗi một hoạt động, một bài học hay một chủ đề thì GV đều
phải thực hiện nhiệm vụ này Chẳng hạn, trước khi kết thúc bài học: Nửa nhóm – Nhóm, GV đưa ra một số câu hỏi như:
“ Một tập hợp X bất kỳ cùng với phép toán hai ngôi xác định trên nó có
thể có các tính chất nào?”
“ Cho biết mối liên hệ giữa các khái niệm: Nửa nhóm, nửa nhóm giao
hoán, vị nhóm, vị nhóm giao hoán, nhóm, nhóm giao hoán?”
“ Nêu các tính chất cơ bản của cấu trúc nhóm?”
Sau đó GV tổng kết, chốt lại hai vấn đề cơ bản sau:
1 Các khái niệm cơ bản và mối quan hệ giữa chúng
Một tập hợp X bất kỳ cùng với phép toán hai ngôi xác định trên nó có
hoán, vị nhóm giao hoán, nhóm, nhóm giao hoán Các cấu trúc này liên hệ với
nhau, biểu thị qua sơ đồ sau:
Trang 37
2 Một số tính chất cơ bản của nhóm và cách chứng minh nó
2.2.3 Biện pháp 3: (Dựa trên cơ sở của lý luận về tổ chức DHTN)
Tổ chức thảo luận nhóm theo quy trình DHTN
2.2.3.1 Giai đoạn chuẩn bị
+ Phân công nhiệm vụ cho các nhóm Tuỳ theo tính chất phân hoá hay
đồng nhất về nhiệm vụ nhận thức mà các nhóm trong một lớp có nhiệm vụ giống nhau hay khác nhau Khi giao nhiệm vụ, GV cần phải căn cứ vào trình
độ của từng nhóm hay của từng SV, đồng thời phải giải thích rõ ràng, ngắn gọn
để nhóm cũng như từng thành viên trong nhóm nắm được mục đích yêu cầu và các phương hướng để giải quyết các yêu cầu nhiệm vụ
+ Bố trí vị trí của các nhóm: Giữa các nhóm cần phải có một khoảng cách hợp lý, không gần và cũng không xa quá, để một mặt không ảnh hưởng lẫn nhau, đồng thời cũng có thể trao đổi và thảo luận với nhau
2.2.3.2 Giai đoạn thực hiện
Khi các nhóm bắt đầu hoạt động, GV lặng lẽ di chuyển vào các nhóm,
đặc biệt là các nhóm yếu Trên cơ sở quan sát hoạt động của nhóm, GV cần có
Nửa nhóm
(1)
Vị nhóm
Nhóm
Trang 38những can thiệp kịp thời để khích lệ, động viên, chấn chỉnh và thúc đẩy hoạt
động của nhóm ở giai đoạn này, GV có thể sử dụng một số biện pháp sau:
* Mở đầu thảo luận: GV cần lựa chọn cách thích hợp để bắt đầu thảo luận, như đặt ra các câu hỏi cho SV:
“Vấn đề trong tình huống là vấn đề gì nó có quan trọng không?”
“Hãy nêu qua các giải pháp tìm thấy để giải quyết vấn đề”
“Định giải quyết như thế nào trong trường hợp này? Tại sao?”
* Trong thảo luận:
+ Hướng cuộc thảo luận vào vấn đề chính: Yêu cầu SV phải nhằm chúng vấn đề của tình huống, thúc đẩy SV đưa ra nhiều giải pháp giải quyết vấn đề Cuối cùng, yêu cầu SV quyết định chọn một trong số các giải pháp đó
+ Tránh cho cuộc thảo luận khỏi bế tắc
+ Đưa cuộc thảo luận trở lại vấn đề: Cuộc thảo luận có thể lạc đề, để đưa
nó trở lại vấn đề có các cách sau:
- Đặt câu hỏi hướng dẫn, chẳng hạn:
“Đó có thực là vấn đề chính không?”
“Có thể có giải pháp nào hay hơn nữa không?”
Mời SV có vẻ bất đồng với những quan điểm của mọi người xem SV đó
có khả năng đặt lại vấn đề không
- Nhắc lại những con số, những sự kiện đã được nói đến và đang đi đúng hướng Nếu SV vẫn loanh quanh mà không tìm ra lời giải đáp thì GV buộc phải
đưa ra những lời bình luận để hướng dẫn vấn đề
* Kết thúc thảo luận: Yêu cầu SV tổng hợp lại các ý kiến và đưa ra kết luận Để thăm dò xem SV đã nắm vững được vấn đề chưa, GV có thể đưa ra những câu hỏi, hoặc các tình huống sâu và rộng hơn, yêu cầu một SV bất kỳ trong lớp giải được
2.2.3.3 Giai đoạn đánh giá
Từ những quan sát, GV cần đưa ra những nhận xét và đánh giá của mình
về hiệu quả hoạt động của từng nhóm Những nhận xét của GV sẽ giúp cho nhóm và từng SV rút kinh nghiệm về cách tổ chức và thực hiện hoạt động của
Trang 39mình, từ đó điều chỉnh cho phù hợp Khi đánh giá GV cần dựa theo các tiêu chí sau đây:
+ Mục tiêu: Được cả nhóm xác định thật rõ ràng, cụ thể và được giải quyết triệt để sau buổi thảo luận
+ Bầu không khí thảo luận: Thân tình, thoải mái, cởi mở, có sự bình
2.2.3.4 Một số biện pháp nâng cao sự hợp tác trong nhóm
• Nâng cao sự phụ thuộc tích cực
- Tạo ra sự phụ thuộc về mục tiêu Biện pháp này yêu cầu, khi xây dựng mục tiêu chung của bài học, GV cần thiết kế nó mang tính cấu trúc, có thể chia nhỏ thành nhiều mục tiêu bộ phận tương đối độc lập Mỗi mục tiêu bộ phận tương ứng với một nhiệm vụ nhận thức và được giao cho một thành viên của nhóm đảm trách Với việc đảm trách mục tiêu, nhiệm vụ đó, SV sẽ thực sự tham gia vào mối quan hệ phụ thuộc tích cực của nhóm Họ ý thức được sự thành công của nhóm phụ thuộc nhiều vào thành tích mà họ đạt được
Để thực thi biện pháp này, trong giờ học GV cần thông báo cho SV có mục tiêu chung, và để hoàn thành nó, SV phải hợp tác chặt chẽ với nhau Khi
đánh giá, GV yêu cầu nhóm chỉ đưa ra một sản phẩm và lưu ý tới trách nhiệm
Trang 40cá nhân của SV trong sản phẩm đó GV có thể gọi một SV, yêu cầu giải thích hoặc làm rõ một vấn đề nhất định
- Tạo ra sự phụ thuộc về vai trò và trách nhiệm cá nhân Ngoài việc phân chia nhiệm vụ, GV cần lưu ý tới việc phân chia vai trò trách nhiệm cá nhân cho
SV, sao cho mỗi thành viên trong nhóm đều có một vai trò và một trách nhiệm
cụ thể Đồng thời, xác định cho SV rõ, hoạt động chung của nhóm chỉ đi tới mục tiêu cuối cùng khi mỗi thành viên thực hiện tốt vai trò và trách nhiệm cá nhân của mình
- Tạo ra sự phụ thuộc về nguồn lực Nhóm học tập, do GV thành lập, phải có sự đa dạng về năng lực, tính cách, sở trường, hoàn cảnh xuất thân của mỗi thành viên, sao cho mỗi thành viên có thể mang vào nhóm một nguồn lực nhất định đặc trưng cho cá nhân đó Điều này, cũng buộc SV phải liên kết với nhau, dựa vào nhau để cùng nhau đi tới mục tiêu chung
• Xây dựng ý thức trách nhiệm cá nhân SV
Để chắc chắn mọi thành viên đều tham gia vào hoạt động chung, GV có thể
sử dụng các hình thức sau:
- Đưa ra các bài tập thực hành để kiểm tra
- Hỏi ngẫu nhiên một SV nào đó
- Yêu cầu một thành viên sửa chữa, biên tập một vấn đề nào đó
+ Nâng cao sự hợp tác giữa các nhóm:
GV có thể thưởng điểm cho cả lớp khi tất cả các nhóm hoàn tất nhiệm
vụ, hoặc khi một nhóm đã hoàn thành nhiệm vụ của mình, khuyến khích SV trong nhóm hỗ trợ các nhóm khác
• Rèn luyện cho SV kỹ năng hợp tác
Để rèn luyện kỹ năng này, GV cần:
- Dạy lý thuyết Khi dạy lý thuyết GV nói rõ cho SV, đó là các kỹ năng gì? Nó biểu hiện như thế nào? Vì sao phải học? Tốt nhất GV tự để cho SV tự phát biểu, sau đó bổ sung và điều chỉnh