Lượng mưa phân bố không ñều giữa các mùa vụ trong năm ñã ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển của cây lạc; Vào thời ñiểm gieo trồng vụ xuân lượng mưa thấp thường không ñủ ẩm cho lạ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀO đÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-* -
NGUYỄN XUÂN đOAN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT GÓP PHẦN TĂNG NĂNG SUẤT LẠC
VÙNG NƯỚC TRỜI TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60620110
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học:
GS.VS.TSKH Trần đình Long
HÀ NỘI Ờ 2013
Trang 2LỜI CẢM ƠN
để hoàn thành bản luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận ựược sự giúp ựỡ về nhiều mặt của các cấp lãnh ựạo, các tập thể và cá nhân Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kắnh trọng GS.VS.TSKH Trần đình Long, người ựã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp ựỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện ựề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám ựốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam; Ban ựào tạo sau ựại học; Ban giám ựốc Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm; Ban giám ựốc và cán bộ, công nhân viên Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển đậu ựỗ- Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm ựã tạo ựiều kiện thuận lợi và giúp ựỡ tôi trong thời gian thực hiện ựề tài
Tôi cũng xin bày tỏ lời cảm ơn ựến Sở Nông nghiệp và PTNT; Sở Tài nguyên Môi trường; Chi cục Thống kê tỉnh Bắc Giang; Trung tâm Khắ tượng Thủy văn Bắc Giang; Phòng Kinh tế huyện Việt Yên; UBND xã Minh đức, huyện Việt Yên ựã tạo ựiều kiện giúp ựỡ ựể tôi hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn sự ựộng viên, giúp ựỡ tận tình của gia ựình, người thân và bạn bè!
Tác giả luận văn
Nguyễn Xuân đoan
Trang 3LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề ñược sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam ñoan mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn ñã ñược cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn ñã ñược chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Xuân ðoan
Trang 4CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ
1.2 Nguồn gốc, lịch sử, tình hình sản xuất lạc trên thế giới và trong nước 14
1.2.1 Nguồn gốc và lịch sử phát triển của cây lạc 14
1.2.2 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới 16
1.2.3 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam 18
1.3.1 Giá trị dinh dưỡng và vai trò của cây lạc ñối với chăn nuôi 21
1.3.2 Vai trò của cây lạc trong hệ thống cây trồng 22
1.4.4 Yêu cầu ñất ñai của cây lạc 26
1.4.5 Nhu cầu về dinh dưỡng của cây lạc 27
1.5 Các kết quả nghiên cứu về cây lạc trên thế giới và trong nước 30
Trang 51.5.1 Các kết quả nghiên cứu về cây lạc trên thế giới 30
1.5.2 Những kết quả nghiên cứu về cây lạc ở trong nước 36
CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.4.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm ñồng ruộng 46
2.4.3 Phương pháp tính hiệu quả kinh tế 50
2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 50
3.1 Kết quả ñiều tra ñiều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình sản
3.1.1 ðặc ñiểm ñiều kiện tự nhiên 52
3.1.2 ðiều kiện kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Giang 56
3.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp của tỉnh Bắc Giang 56
3.1.4 Tình hình sản xuất lạc ở Bắc Giang 57
3.2 Kết quả khảo nghiệm một số dòng/giống lạc thích hợp vùng nước trời
3.2.1 Các giai ñoạn sinh trưởng, phát triển của các dòng/giống lạc 62
3.2.2 ðặc tính nông học của các dòng/giống lạc tham gia khảo
3.2.3 Mức ñộ nhiễm một số bệnh hại lá chính của các dòng/giống lạc 64
3.2.4 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các
3.3 Kết quả nghiên cứu xác ñịnh liều lượng phân N,P,K thích hợp cho
3.3.1 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón ñến ñặc tính nông học của
Trang 63.3.2 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón (N, P, K) ñến mức ñộ kháng
3.5.3 Năng suất thực thu của giống lạc L14 ở các phương thức gieo 79
3.6 Kết quả xây dựng mô hình canh tác thử nghiệm tăng năng suất lạc
3.6.1 Kết quả xây dựng mô hình 80
3.7 ðề xuất bổ sung quy trình kỹ thuật sản xuất lạc vùng nước trời tỉnh
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
PTNT Phát triển nông thôn
ICRISAT Viện Nghiên cứu Cây trồng quốc tế vùng nhiệt ñới bán khô hạn
KL Khối lượng
KH&CN Khoa học và công nghệ
KHNN Khoa học nông nghiệp
KHKTNNVN Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam
GDP Tổng thu nhập quốc dân
Trang 8UBND Ủy ban nhân dân
USDA Bộ Nông nghiệp Mỹ
hàng năm ở tỉnh Bắc Giang năm 2011
48
3.3 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của tỉnh Bắc Giang (phân
theo các ñơn vị năm 2011)
49
3.4 Các giai ñoạn sinh trưởng, phát triển của các giống lạc 53 3.5 ðặc tính nông học của các dòng/giống lạc khảo nghiệm 55 3.6 Mức ñộ nhiễm một số bệnh hại lá của các dòng/giống lạc 56 3.7 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các dòng/giống
Trang 9giống lạc L14
3.10 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón ñến mức ñộ kháng các bệnh
hại lá của giống lạc L14
62
3.11 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lạc L14 ở các
liều lượng phân bón vụ xuân
63
3.12 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lạc L14 ở các liều
lượng phân bón vụ thu ñông
DANH MỤC HÌNH VẼ, ðỒ THỊ
3.1 Bản ñồ hành chính tỉnh Bắc Giang 43 3.2 ðồ thị năng suất thực thu của các dòng/giống lạc khảo nghiệm 60 3.3 ðồ thị năng suất thực thu của giống lạc L14 ở các liều lượng phân
bón (vụ thu ñông)
65
Trang 10MỞ đẦU
1 Tắnh cấp thiết của ựề tài
Lạc (Arachis hypogaea L) là cây công nghiệp ngắn ngày, cây trồng
làm thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cho nhân loại trên toàn thế giới Chắnh vì vậy mà có hơn 100 nước trên thế giới trồng lạc với diện tắch 20,75 tạ/ha và năng suất bình quân ựạt 1,71 tấn/ha (niên vụ 2011/2012) [68]
Ở Việt Nam hiện nay, lạc là một trong số mặt hàng xuất khẩu quan trọng của các tỉnh phắa Bắc và ựược người dân sử dụng làm thực phẩm ở nhiều dạng khác nhau Hơn 10 năm qua (từ 2000 ựến 2011), năng suất và sản lượng lạc của Việt Nam tăng lên ựáng kể (năng suất tăng từ 14,5 tạ/ha năm
2000 lên 20,8 tạ/ha năm 2011; sản lượng tăng từ 355,3 nghìn tấn năm 2000 lên 465,9 nghìn tấn năm 2011), mặc dù diện tắch không tăng, có năm còn giảm Năng suất lạc ở Việt Nam tăng trong những năm qua là nhờ có sự ựóng góp lớn lao của các giống lạc mới và một số biện pháp kỹ thuật canh tác mới ựược áp dụng trong sản xuất [37]
Bắc Giang là một tỉnh trung du miền núi, lạc là cây trồng truyền thống của nông dân trong vùng Chắnh vì vậy mà Bắc Giang là tỉnh có tỷ trọng ựóng góp lớn nhất về diện tắch và sản lượng lạc so với các tỉnh khác thuộc khu vực đông Bắc Bắc Bộ Những năm gần ựây, cây lạc ựã ựược tỉnh Bắc Giang quan tâm nhiều và ựược xác ựịnh là cây kinh tế trọng tâm của tỉnh nên năng suất lạc bình quân toàn tỉnh ựã tăng từ 18,9 tạ/ha năm 2005 lên 22,1 tạ/ha năm
2011
Tuy nhiên năng suất lạc còn chênh lệch rất lớn giữa các vùng trong tỉnh Với diện tắch lạc hàng năm xung quanh 11 nghìn ha thì có tới hơn 7 nghìn ha lạc phụ thuộc hoàn toàn vào nước trời nên năng suất khu vực này thường thấp (15-17 tạ/ha) Nguyên nhân chủ yếu làm cho năng suất lạc vùng
Trang 11trung du miền núi thấp là do: ñất có ñộ phì thấp, chua, kết cấu ñất chưa thực
sự phù hợp với cây lạc Lượng mưa phân bố không ñều giữa các mùa vụ trong năm ñã ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển của cây lạc; Vào thời ñiểm gieo trồng vụ xuân lượng mưa thấp thường không ñủ ẩm cho lạc nảy mầm và sinh trưởng cây con, cuối vụ (tháng 5 - tháng 6) hay có mưa lớn ảnh hưởng tới chất lượng và năng suất lạc khi thu hoạch; Thiếu giống chịu hạn, kháng sâu bệnh tốt và cho năng suất khá là nguyên nhân cơ bản làm cho năng suất lạc vùng nước trời thấp và không ổn ñịnh Mặt khác, các biện pháp canh tác lạc chưa phù hợp và ñồng bộ cho vùng nước trời như: phương pháp gieo trồng, phương pháp bón vôi, bón bổ sung phân khoáng cũng làm hạn chế năng suất lạc [28]
ðể từng bước khắc phục các hạn chế trên, chúng tôi tiến hành ñề tài:
"Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật góp phần tăng năng suất lạc vùng nước trời tỉnh Bắc Giang” nhằm góp phần thúc ñẩy sản xuất lạc vùng nước
trời của tỉnh, tạo ra sự ña dạng hoá cây trồng và phát triển nông nghiệp theo
Xác ñịnh ñược 01-02 giống lạc có năng suất 25- 35 tạ/ha, chất lượng hạt tốt và một số biện pháp kỹ thuật phù hợp với ñiều kiện sản xuất lạc vùng nước trời, góp phần hoàn thiện quy trình kỹ thuật phù hợp cho lạc của vùng nước trời tỉnh Bắc Giang
b Yêu cầu
Khảo nghiệm một số dòng/giống lạc triển vọng có năng suất, chất lượng
Trang 12phù hợp với vùng nước trời, bổ sung vào cơ cấu giống lạc của tỉnh
Nghiên cứu liều lượng phân bón vô cơ (N, P, K) thích hợp ñối với sự sinh trưởng, phát triển và năng suất lạc vùng nước trời tỉnh Bắc Giang
Nghiên cứu liều lượng vôi bón thích hợp ñối với sự sinh trưởng, phát triển và năng suất lạc vùng nước trời tỉnh Bắc Giang
Nghiên cứu phương thức gieo trồng thích hợp ñối với sự sinh trưởng, phát triển và năng suất lạc vùng nước trời tỉnh Bắc Giang
Xây dựng mô hình canh tác thử nghiệm tăng năng suất lạc vùng nước trời tỉnh Bắc Giang
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài
a Ý nghĩa khoa học
Kết quả của ñề tài là cơ sở dữ liệu về nghiên cứu giống lạc cùng các biện pháp kỹ thuật canh tác ñồng bộ cho vùng nước trời tỉnh Bắc Giang, ñồng thời là nguồn tư liệu quý giá phục vụ công tác nghiên cứu về cây lạc
b Ý nghĩa thực tiễn
ðề tài ñã xác ñịnh ñược một số yếu tố hạn chế ñến sản xuất lạc tại vùng nước trời tỉnh Bắc Giang Mặt khác ñã xác ñịnh ñược giống mới và ñề xuất ñược một số biện pháp kỹ thuật phù hợp cho sản xuất lạc vùng nước trời.Thông qua kết quả của ñề tài, khuyến cáo cho người nông dân trong vùng sử dụng các giống lạc mới, áp dụng các biện pháp kỹ thuật phù hợp (liều lượng phân bón N, P, K, liều lượng vôi bón, phương thức gieo trồng ) góp phần nâng cao năng suất, sản lượng lạc và hiệu quả sản xuất của vùng nước trời tỉnh Bắc Giang
4 ðối tượng và phạm vi nghiên cứu
a ðối tượng nghiên cứu
ðiều kiện tự nhiên, kinh tế -xã hội và hiện trạng trồng lạc tại tỉnh Bắc Giang, lợi thế và các yếu tố hạn chế năng suất, ñề xuất các giải pháp khắc phục
Trang 13Một số dòng/giống lạc mới triển vọng ñang ñược nghiên cứu, khảo nghiệm Một số kỹ thuật canh tác nhằm tăng năng suất lạc
Các thí nghiệm ñược tiến hành tại vùng trồng lạc nước trời huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang từ năm 2010-2012
Trang 14CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ðỀ
TÀI
1.1 Cơ sở khoa học của ñề tài
Lạc (Arachis hypogaea L) là cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực
phẩm, cây họ ñậu cải tạo ñất tốt và là cây lấy dầu có giá trị kinh tế cao
Những năm gần ñây việc chuyển ñổi cơ chế quản lý, sản xuất nông nghiệp ñã ñạt ñược nhiều thành tựu to lớn, vấn ñề lương thực về cơ bản ñã ñược giải quyết, từ ñó người nông dân có nhiều ñiều kiện chủ ñộng chuyển sang những cơ cấu cây trồng có giá trị kinh tế cao, trong ñó cây lạc là một trong những cây trồng mũi nhọn trong việc bố trí sản xuất và khai thác lợi thế tài nguyên của vùng khí hậu nhiệt ñới [11]
Với ñịa hình bán sơn ñịa và tập quán canh tác thuần nông, tạo sự ña dạng trong hoạt ñộng sản xuất nông nghiệp của Bắc Giang Những chân ñất phụ thuộc vào nước trời (không chủ ñộng nguồn nước tưới) ñược ñịnh hướng chuyển ñổi cơ cấu trồng các cây có khả năng thích ứng với ñiều kiện hạn, ñã góp phần nâng cao thu nhập cho người dân và hình thành các chuyên vùng sản xuất hàng hoá có giá trị, trong ñó có cây lạc Một số năm gần ñây, tỉnh Bắc Giang ñã ñưa ra nhiều chủ trương và chính sách nông nghiệp ñể phát triển trồng lạc, tuy nhiên năng suất lạc còn thấp so với tiềm năng phát triển của vùng Vì vậy nghiên cứu xác ñịnh giống lạc năng suất, chất lượng và các biện pháp kỹ thuật mới phù hợp với ñiều kiện khí hậu thổ nhưỡng, góp phần tăng năng suất lạc vùng nước trời nói riêng và toàn tỉnh nói chung là việc làm
có ý nghĩa và có cơ sở khoa học
1.2 Nguồn gốc, lịch sử, tình hình sản xuất lạc trên thế giới và trong nước
1.2.1 Nguồn gốc và lịch sử phát triển của cây lạc
Trang 15Lạc (Arachis hypogeae L) còn gọi là Ộựậu phộngỢ có nguồn gốc ở
Nam Mỹ Người Tây Ban Nha và Bồ đào Nha ựã phát hiện sự phân bố rộng rãi các vùng trồng lạc ở Nam Mỹ, ựặc biệt trên những vùng bán ựảo Tây Ấn, Mêhicô, vùng biển đông - đông Bắc Braxin, trên những dải ựất ấm áp của vịnh Rio Plata (Achentina, Paragoay, Bolivia, cực Tây Nam Braxin, Pêru) Nguồn gốc cây lạc ở châu Mỹ ựược khẳng ựịnh khi Skiê (E,G,Squier, 1877) tìm thấy những quả lạc ựược chôn trong các ngôi mộ cổ Ancon gần Lima, thủ ựô Pêru, lạc ựược ựựng trong các vại cùng với một số thực phẩm khác, niên ựại của các ngôi mộ cổ này có từ năm 1500 - 1200 trước Công nguyên
Theo Engen thì lạc ựược trồng cách ựây khoảng 3800 năm, thuộc thời
kỳ tiền ựồ gốm ở Las Haidas Theo các nhà sử học, người Inca - thổ dân Nam Mỹ- ựã trồng lạc như một loại cây thực phẩm ở dọc vùng duyên hải Pêru với tên ỘynchisỢ Garcilaso de la vega (1609), người Tây Ban Nha gọi những cây lạc trồng ở Pêru là ỘmaniỢ
Những bằng chứng cổ nhất này ựã khẳng ựịnh Nam Mỹ là cái ỘnôiỢ của cây lạc và lạc ựược phân bố rộng rãi ở vùng nhiệt ựới, cận nhiệt ựới trước và cùng với thời gian khám phá ra châu Mỹ
Krapovickas (1968) cho rằng, vùng Bolivian (Nam Bolovia - Tây Bắc Achentina) là vùng nguyên sản của loài lạc trồng Theo ông, vùng này có 5 trung tâm phát nguyên của lạc trồng, Gregory (1976), bổ sung thêm trung tâm thứ 6 đó là các vùng: vùng Guarani (Paragoay, Parana); vùng Goias và Minas Gerais (Tocantin, San, Franxisco); vùng Rondonia và Tây Bắc Mato (Nam Amazon); vùng Bolovian (Tây Nam Amazon); vùng Peruvian (trên Amazon và ven biển miền Tây) và đông Bắc Braxin (bổ sung của Gregory) [58]
Những bằng chứng ựều chứng minh cây lạc có nguồn gốc ở Nam Mỹ, sau ựó phổ biến ở châu Âu, tới vùng bờ biển châu Phi, châu Á (Trung Quốc, Indonesia, Ấn độ), tới quần ựảo Thái Bình Dương và cuối cùng tới vùng
Trang 16đông Nam Hoa Kỳ
Từ vùng khởi nguyên ở Nam Mỹ, bằng nhiều con ựường, lạc ựã ựược ựưa ựi khắp nơi trên thế giới và nhanh chóng thắch ứng với các vùng nhiệt ựới, á nhiệt ựới và các vùng có khắ hậu ẩm đặc biệt, lạc ựã tìm ựược mảnh ựất phát triển thuận lợi ở Châu Phi và các vùng nhiệt ựới Châu Á Lạc ựược trồng rộng rãi ở Châu Phi, từ ựây theo các thuyền buôn nô lệ, lạc lại ựược trở lại Châu Mỹ và Châu Âu Chắnh sự giao lưu chéo rộng rãi này ựã hình thành nhiều vùng gen thứ cấp và làm phong phú thêm hệ gen của lạc [2], [29]
1.2.2 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới
Cây lạc (Arachis Hypogaea L) là cây lấy dầu có giá trị kinh tế cao và
chiếm vị trắ quan trọng trong nền kinh tế thế giới Cây lạc mặc dù có nguồn gốc từ Nam Mỹ nhưng hiện nay ựược phân bố rộng trong phạm vi từ 40o vĩ Bắc ựến 40o vĩ Nam [21]
Theo số liệu thống kê tháng 12 năm 2011 của Bộ nông nghiệp Mỹ, diện tắch trồng lạc của thế giới niên vụ 2010-2011 ựã ựạt 21,33 triệu ha, năng suất bình quân ựạt 1,66 tấn/ha và sản lượng ựạt 35,40 triệu tấn Dự báo niên vụ 2011-2012, diện tắch lạc của thế giới sẽ là 20,75 tạ/ha, năng suất bình quân ước ựạt 1,71 tấn/ha, và sản lượng dự kiến ựạt 35,54 triệu tấn [68]
Ấn độ tuy là nước ựứng ựầu thế giới về diện tắch trồng lạc (5,26 triệu ha) nhưng năng suất lạc bình quân của Ấn độ còn thấp (1,02 tấn/ha) do cây lạc ựược trồng chủ yếu trong ựiều kiện khô hạn Kinh nghiệm của Ấn độ cho thấy, nếu chỉ áp dụng giống mới mà vẫn áp dụng kỹ thuật canh tác cũ thì năng suất chỉ tăng lên khoảng 26- 30% Nếu áp dụng kỹ thuật canh tác tiến bộ nhưng vẫn dùng giống cũ thì năng suất lạc chỉ tăng 20- 43% Nhưng khi áp dụng giống mới kết hợp với kỹ thuật canh tác tiến bộ ựã làm tăng năng suất lạc từ 50 - 63% trên ựồng ruộng của nông dân Vì vậy, Ấn độ rất quan tâm ựến công tác nghiên cứu và thử nghiệm các tiến bộ kỹ thuật trồng lạc trên
Trang 17ñồng ruộng của nông dân với sự tham gia trực tiếp của người dân Phương pháp nghiên cứu chuyển giao này ñã thực sự ñem lại hiệu quả ở Ấn ðộ và hiện nay ñang ñược nhiều quốc gia khác ở Châu Á áp dụng trong công tác chuyển giao kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất
Năm 2012, diện tích trồng lạc của Trung Quốc là 4,70 triệu ha chiếm 22,65
% tổng diện tích trồng lạc của thế giới, là nước ñứng thứ 2 sau Ấn ðộ về diện tích trồng lạc Tuy nhiên, sản lượng lạc của Trung Quốc lại ñứng hàng ñầu thế giới (ñạt 16,20 triệu tấn), chiếm 45,58% tổng sản lượng toàn thế giới và năng suất lạc ñạt 3,45 tấn/ha cao gấp 2 lần năng suất lạc bình quân của thế giới [68]
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của một số nước
trên thế giới Diện tích
Ấn ðộ 5,30 6,00 5,26 0,92 0,98 1,02 4,90 5,85 5,35 Trung Quốc 4,38 4,53 4,70 3,36 3,45 3,45 14,71 15,64 16,20 Nigieria 1,25 1,25 1,25 1,24 1,24 1,24 1,55 1,55 1,55 Senegal 1,06 1,00 1,00 0,97 1,10 1,00 1,03 1,10 1,00 Indonesia 0,75 0,75 0,75 1,67 1,67 1,67 1,25 1,25 1,25
Mỹ 0,44 0,51 0,45 3,83 3,71 3,67 1,68 1,89 1,66 Việt Nam 0,25 0,24 0,25 2,11 1,99 2,10 0,53 0,49 0,52
*
Dự báo tháng 12 năm 2011 Nguồn: World Agricultural Production, Foreign
Agricultural Service, USDA
Sở dĩ những thành tựu trong sản xuất lạc mà Trung Quốc ñã ñạt ñược là nhờ chiến lược ñẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trồng lạc,
Trang 18thực hiện song song 2 hướng là: cải tiến giống và áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh nên ựã khai thác ựược tiềm năng của các vùng sinh thái với diện tắch rộng lớn trồng lạc của Trung Quốc Ngoài ra, nhờ mạng lưới khuyến nông hoạt ựộng mạnh mẽ, nhiều giống lạc mới và biện pháp kỹ thuật nhằm ựạt năng suất cao ựã ựược nông dân Trung Quốc chấp nhận và áp dụng rộng rãi Các biện pháp kỹ thuật canh tác ựó là: cày sâu, bón phân cân ựối phù hợp cho từng loại ựất, mật ựộ trồng thắch hợp, ựặc biệt là kỹ thuật che phủ nilon ựược coi là ỘCuộc cách mạng trắng trong sản xuất lạcỢ ựã góp phần làm tăng năng suất, sản lượng lạc của Trung Quốc
Mỹ là nước tuy có diện tắch trồng lạc không lớn, với 0,45 triệu ha nhưng năng suất lạc bình quân ựạt cao nhất thế giới với 3,67 tấn/ha và sản lượng lạc ựứng thứ 3 thế giới (ựạt 1,66 triệu tấn) [68]
Tóm lại, thành công trong tăng năng suất, sản lượng lạc, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế ở các nước trên thế giới ựầu tư cho công tác nghiên cứu
và ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất, trong ựó chú trọng tới yếu tố giống mới năng suất, chất lượng và thắch nghi tốt với ựiều kiện sinh thái đồng thời áp dụng ựồng bộ các biện pháp kỹ thuật thâm canh tăng năng suất như: phân bón, mật ựộ, phương thức gieo, biện pháp che phủ
1.2.3 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam
Ở nước ta, cây lạc ựược trồng rộng rãi khắp các vùng trong cả nước, trên nhiều loại ựất và ựịa hình khác nhau Diện tắch trồng lạc nhìn chung có
xu hướng giảm Năm 2005, diện tắch trồng lạc của cả nước ựạt 269,6 nghìn
ha, tuy nhiên theo số liệu sơ bộ năm 2011, diện tắch lạc của nước ta chỉ còn 223,7 nghìn ha [37]
Năng suất lạc ở Việt Nam còn ở mức thấp so với các nước trồng lạc trên thế giới cũng như trong khu vực đông Nam Á Tuy nhiên, năng suất lạc trong giai ựoạn 2005-2010 có chiều hướng gia tăng và ựạt 21,1 tạ/ha năm
2010, tăng 45,5% so với năm 2000 (năng suất 14,5 tạ/ha)
Trang 19Sản lượng lạc ở nước ta trong giai ựoạn 2005-2011 có sự biến ựộng do
sự thay ựổi năng suất Năm 2008 sản lượng lạc của cả nước ựạt cao nhất là 530,2 nghìn tấn, tăng 49,2% so với năm 2000 (sản lượng 355,3 nghìn tấn), sau ựó sản lượng lạc có xu hướng giảm; sơ bộ năm 2011, sản lượng lạc của Việt Nam chỉ ựạt 465,9 nghìn tấn [37]
Bảng 1.2 Diện tắch, năng suất và sản lượng lạc ở Việt Nam giai ựoạn
2005 - 2011
(nghìn ha)
Năng suất (tạ/ha)
Nguồn: Tổng cục thống kê http://www.gso.gov.vn
Sản xuất lạc ựược phân bố ở trên tất cả các vùng sinh thái nông nghiệp Việt Nam Theo tổng cục thống kê những vùng trồng lạc chắnh của nước ta hiện nay là Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (102,3 nghìn ha năm 2010), Trung du và miền núi phắa Bắc (50,2 nghìn ha), đồng Bằng sông Hồng (30,2 nghìn ha) và đông Nam Bộ (20,5 nghìn ha) Các tỉnh có diện tắch trồng lạc trên 10 nghìn ha năm 2010 là Nghệ An (21,9 nghìn ha), Hà Tĩnh (19,4 nghìn ha), Thanh Hoá (15,0 nghìn ha), Tây Ninh (14,6 nghìn ha) và Bắc Giang (11,5 nghìn ha) Các tỉnh có sản lượng lạc hàng năm lớn nhất là Nghệ
An (48,2 nghìn tấn), Tây Ninh (44,1 nghìn tấn), Hà Tĩnh (41,0 nghìn tấn) và Thanh Hoá (26,2 nghìn tấn) [37] Năng suất lạc ở phắa Bắc thường thấp hơn năng suất lạc ở các tỉnh phắa Nam Tuy nhiên, bước ựầu ựã có một số tỉnh ựạt
Trang 20năng suất lạc bình quân cao như: Nam ðịnh 37,7 tạ/ha nhờ áp dụng giống mới
và kỹ thuật che phủ nilon; Hưng Yên 27,7 tạ/ha
Tại Bắc Giang, theo số liệu của tổng cục thống kê, sản xuất lạc của tỉnh trong những năm qua tương ñối ổn ñịnh cả về diện tích, năng suất và sản lượng Nhìn chung, năng suất lạc của tỉnh ñạt khá so với mặt bằng cả nước Năm
2005, năng suất lạc bình quân toàn tỉnh ñạt 18,9 tạ/ha và có xu hướng tăng trong các năm tiếp theo Năng suất lạc sơ bộ của tỉnh năm 2011 ñạt 22,1 tạ/ha, tăng 11,6% so với năm 2005 [37] Có ñược những thành tự này là do tỉnh ñã
có nhiều chính sách ñầu tư phát triển nông nghiệp nói chung và sản xuất lạc nói riêng Nhiều giống mới như L14, MD7, MD9, L18, L23, TB25 và các tiến bộ kỹ thuật mới như: kỹ thuật che phủ nilon, vụ lạc mới thu ñông ñã ñược ñưa vào ứng dụng trong sản xuất
Bảng 1.3 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của Bắc Giang 2005 - 2011 Năm (1000 ha) Diện tích Năng suất (tạ/ha) Sảnlượng
Nguồn: Tổng cục thống kê 2011 http://www.gso.gov.vn
Hầu hết các giống lạc nêu trên ñều thích nghi tốt với ñiều kiện thâm canh, chủ ñộng nước tưới, vì vậy khi trồng tại các vùng nước trời ñã bộc lộ nhiều hạn chế như: chịu hạn kém, nhiễm sâu bệnh nhiều dẫn tới năng suất thấp Mặt khác, quy trình kỹ thuật sản xuất lạc áp dụng cho vùng nước trời
Trang 21của tỉnh chưa ñược nghiên cứu cụ thể
Từ những phân tích trên cho thấy: năng suất và sản lượng lạc của cả nước tăng trong những năm qua là nhờ áp dụng các giống mới năng suất, chất lượng và các biện pháp kỹ thuật mới Bắc Giang là tỉnh có diện tích lạc lớn,
có tiềm năng tăng năng suất và sản lượng, vì vậy nghiên cứu áp dụng giống năng suất, chất lượng và biện pháp kỹ thuật phù hợp (liều lượng, phân bón, phương thức trồng ) là rất cần thiết
1.3 Tầm quan trọng và vị trí của cây lạc
1.3.1 Giá trị dinh dưỡng và vai trò của cây lạc ñối với chăn nuôi
ðối với cây lạc, bộ phận sử dụng chủ yếu là hạt Kết quả phân tích lạc của Lê Doãn Diên (1993) cho thấy: Vỏ quả chứa: 4,8-7,2% protein, 1,2-2,8% lipit, 10,6-21,2% gluxit tổng số, 0,7% tinh bột, 65,7-79,3% xơ thô, 1,9-4,6% chất khoáng Vỏ hạt: 11,0-13,4% protein, 0,5-1,9% lipit, 48,3-52,2% gluxit tổng số, 21,4-34,4% xơ thô, 2,1% chất khoáng[15]
Với hàm lượng dầu (lipit) và protein cao, lạc là loại hạt có giá trị dinh dưỡng, ñược sử dụng như một nguồn thực phẩm quan trọng Ngày nay công nghiệp chế biến phát triển, nhiều mặt hàng thực phẩm có giá trị từ lạc như tinh ñầu lạc, bơ lạc, pho mát lạc, sữa lạc… ñược sử dụng trong sinh hoạt ñời sống của con người và trong y học Về mặt cung cấp năng lượng: do hạt lạc
có hàm lượng dầu cao nên năng lượng cung cấp rất lớn Trong 100g hạt lạc, cung cấp 590 calo, trong khi chỉ số này ở hạt ñậu tương là 411, gạo tẻ là 353, thịt lợn nạc là 286, trứng vịt là 189 và cá chép là 99
Ngoài ra, khô dầu lạc, thân lá xanh còn là nguồn thức ăn giàu protein ñược dùng làm thức ăn cho gia súc Với giá trị chiếm tới 25 - 30% trong khẩu phần thức ăn gia súc, khô dầu lạc ñã ñóng vai trò quan trọng ñối với sự phát triển của ngành chăn nuôi [2] Thân lá xanh của lạc với năng suất 5 - 15 tấn/ha chất xanh (sau thu hoạch quả) có thể dùng trong chăn nuôi ñại gia súc Mặt khác, người ta có thể lấy vỏ quả lạc rồi ñem nghiền thành cám ñề dùng
Trang 22cho chăn nuôi Cám vỏ quả lạc có thành phần dinh dưỡng tương ñương cám gạo dùng ñể nuôi lợn, gà, vịt công nghiệp ñều rất tốt [1]
1.3.2 Vai trò của cây lạc trong hệ thống cây trồng
Bên cạnh giá trị dinh dưỡng và kinh tế, lạc còn ñóng vai trò quan trọng trong việc cải tạo ñất nhờ khả năng cố ñịnh ñạm Rễ lạc có thể tạo các nốt sần
do vi sinh vật cộng sinh cố ñịnh ñạm ñó là Rhizobium vigna hình thành Trong ñiều kiện thuận lợi có thể cố ñịnh ñược lượng ñạm tương ñối lớn từ 200-260 kg N/ha [71] Chính nhờ khả năng cố ñịnh ñạm, thành phần hoá tính của ñất trồng sau khi thu hoạch lạc ñược cải thiện rõ rệt, lượng ñạm trong ñất tăng và hệ vi sinh vật hảo khí trong ñất ñược tăng cường có lợi ñối với các cây trồng sau, nhất là ñối với các loại cây trồng cần sử dụng nhiều N
Singh (1993) (Dẫn theo ðoàn Thị Thanh Nhàn và CS, 1996) cho rằng cây ñậu ñỗ thực phẩm từ lâu ñã ñược coi là thành phần quan trọng trong hệ thống cây trồng vùng nhiệt ñới và á nhiệt ñới Nó thích hợp cho nhiều hệ thống trồng trọt khác nhau [2]
Kết quả nghiên cứu cơ cấu cây trồng tại Trung Quốc, ñặc biệt là việc thử nghiệm công thức luân canh các cây trồng cạn với lúa ñã rút ra những kết luận có ý nghĩa khoa học và thực tiễn là: Khi ñưa các cây họ ñậu vào luân canh với lúa, giúp cho cải thiện tính chất lý, hoá của ñất một cách rõ rệt, làm thay ñổi pH của ñất, tăng hàm lượng chất hữu cơ, cải tạo thành phần cơ giới, tăng lượng lân, kali dễ tiêu trong ñất [53]
Tuy nhiên, tất cả các nghiên cứu của Mỹ, Trung Quốc, Ấn ðộ ñều cho thấy trồng lạc liên tục 4-5 năm, năng suất lạc có thể giảm 12 - 60 % Ở nước
ta (theo Ưng ðịnh, ðặng Phú) liên canh lạc liên tục 4 năm, năng suất lạc giảm
20 - 38% [2] Do vậy, ñối với mỗi vùng sản xuất lạc việc chọn một chế ñộ luân canh thích hợp là rất quan trọng
Các cây trồng luân canh phổ biến ở vùng sản xuất lạc là: lúa nước, mía,
Trang 23ngô… Ở vùng ñồng bằng và trung du Bắc Bộ, do vụ hè trùng với mùa mưa, ñịa hình thuận lợi cho cấy lúa mùa cho nên vùng sản xuất lạc thường trồng lạc xuân luân canh với lúa mùa (2 vụ/năm) hoặc thêm cây vụ ñông (ở vùng sản xuất ñược 3 vụ/năm) Vùng không cấy ñược lúa thường luân canh lạc với ngô,
mía, bông… Tại Việt Nam, khi nghiên cứu cơ cấu cây trồng ở các vùng
chuyên canh lạc phía Bắc, Ngô ðức Dương ñã cho rằng, lạc luân canh tốt nhất với cây hoà thảo ñặc biệt là cây lúa nước Sau một năm luân canh lạc - lúa, chế ñộ dinh dưỡng ñược cải thiện rõ như: tăng pH ñất, tăng lượng chất hữu cơ, ñạm tổng số và hàm lượng lân dễ tiêu trong ñất
Kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Tiến Mạnh (1995) cho thấy: trên ñất bạc màu nhờ nước trời thì sản xuất lạc ñạt hiệu quả kinh tế cao nhất Trên ñất cát ven biển trong vụ xuân nếu trồng các cây như lạc, lúa, ngô, khoai lang thì cây lạc có hiệu quả kinh tế cao nhất [27]
1.4 Yêu cầu của cây lạc ñối với ñiều kiện ngoại cảnh
Các yếu tố khí hậu là nhân tố quyết ñịnh sự phân bố lạc trên thế giới Trong các yếu tố khí hậu thì nhiệt ñộ và chế ñộ nước ảnh hưởng lớn ñến sinh trưởng, phát triển và khả năng cho năng suất của lạc
1.4.1 Nhiệt ñộ
Lạc là cây trồng có nguồn gốc nhiệt ñới Tuy nhiên, tùy theo nguồn gốc của từng giống mà yêu cầu của chúng với ñiều kiện nhiệt ñộ cũng khác nhau Tổng tích ôn hữu hiệu ñối với các giống lạc loại hình Valencia là 3200 - 35000C
và các giống loại hình Spanish có thời gian sinh trưởng ngắn hơn, trị số này chỉ ñạt 2800 - 32000C
Nhiệt ñộ tối thấp sinh vật học của lạc cho các giai ñoạn sinh trưởng và phát triển là 12 - 130C, cho sự hình thành của các cơ quan sinh thực là 17-
200C (Degeus I G, 1998) Nhiệt ñộ trung bình thích hợp cho suốt thời kỳ sống của cây lạc khoảng 25 - 300C, thay ñổi tuỳ theo giai ñoạn sinh trưởng của cây
Trang 24Theo Vũ Công Hậu và cộng sự, nhiệt ñộ ñất là một yếu tố quan trọng
có ảnh hưởng lớn ñối với sự nảy mầm của hạt, ngoi lên mặt ñất của cây con
và sinh trưởng ban ñầu của cây Nếu nhiệt ñộ ñất thấp hơn 18oC, cây con mọc
chậm [21]
Trong thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng, tích ôn tổng số yêu cầu 700
-1000oC Nhiệt ñộ trung bình tối thích trong thời kỳ này là 25oC Nhiệt ñộ không khí quá cao (30 - 35oC) rút ngắn thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng làm giảm chất khô tích luỹ và giảm số hoa trên cây, do ñó làm giảm số quả và
trọng lượng hạt của lạc [2]
Thời kỳ ra hoa, kết quả là thời kỳ yêu cầu nhiệt ñộ cao nhất, ñòi hỏi tích ôn bằng 2/3 tổng tích ôn của cả ñời sống cây lạc Nhiệt ñộ tối thấp sinh học cho sự hình thành các cơ quan sinh thực của lạc là 15 - 20oC [2]
Tốc ñộ hình thành tia quả tăng từ 190C ñến 230C, nhiệt ñộ tối ưu cho quả phát triển nằm trong khoảng 30 - 340C Tuy nhiên, nếu nhiệt ñộ quá cao
sẽ làm cho hạt lạc bé ñi [21]
Trong thời kỳ chín, nhiệt ñộ trung bình 25 - 28oC là thích hợp Trong thời kỳ này, sự chênh lệch nhiệt ñộ ngày ñêm lớn (khoảng 8 - 10oC) có lợi cho quá trình vận chuyển chất vào hạt [2]
1.4.2 Ánh sáng
Lạc là cây ngày ngắn song phản ứng với quang chu kỳ của lạc là rất yếu; ðối với nhiều trường hợp lạc có phản ứng trung tính với quang chu kỳ
[2] Khi trồng trong ñiều kiện ngày ngắn, cây lạc ra hoa chậm hơn và nở ít
hoa hơn so với khi trồng trong ñiều kiện ngày dài
Ono và Otaki (1971) quan sát thấy, 60% bức xạ mặt trời trong 60 ngày sau khi mọc là cần thiết cho cây lạc Sinh trưởng và phát triển của các cành sinh sản bị ức chế làm cho tổng số hoa giảm nếu cường ñộ ánh sáng thấp Cây lạc có phản ứng tích cực với cường ñộ ánh sáng mạnh [2]
Trang 25Tuy nhiên, cường ñộ ánh sáng thấp trong giai ñoạn sinh trưởng làm tăng nhanh chiều cao cây nhưng giảm khối lượng lá và số hoa (Hang và MC Cloud, 1976) Sự ra hoa rất nhạy cảm khi cường ñộ ánh sáng giảm và nếu cường ñộ ánh sáng giảm trước thời kỳ ra hoa sẽ gây nên rụng hoa Nếu cường
ñộ ánh sáng thấp ở thời kỳ ra tia, hình thành quả thì làm cho số lượng tia, quả giảm ñi một cách có ý nghĩa, ñồng thời khối lượng quả cũng bị giảm theo [2] Quá trình nở hoa thuận lợi khi số giờ nắng ñạt khoảng 200 giờ/tháng Trong thời kỳ nở hoa, trong những ngày nắng, hoa nở sớm (6 - 8 giờ sáng), nở tập trung và quá trình thụ phấn, thụ tinh cũng thuận lợi hơn so với những ngày
không có nắng [2]
1.4.3 Yêu cầu về nước
Nước là yếu tố ngoại cảnh có ảnh hưởng lớn nhất ñến năng suất lạc Tuy rằng lạc ñược coi là cây trồng chịu hạn, song thực ra lạc chỉ chịu hạn ở một giai ñoạn nhất ñịnh
Tổng nhu cầu về nước trong suốt thời gian sinh trưởng của lạc từ mọc ñến thu hoạch là 450 - 700mm Nhu cầu này thay ñổi tuỳ thuộc giống và thời kỳ sinh
trưởng khác nhau Hệ số sử dụng nước của lạc trung bình khoảng 400 - 520 [2]
Ở thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng, nhu cầu nước của lạc là tương ñối thấp và cây lạc có khả năng chịu hạn tốt vào thời gian ngay sau khi lạc mọc mầm và xoè 2 lá tử diệp trên mặt ñất [2] Tuy nhiên, thiếu ẩm thời gian ñầu thì lạc ra hoa quả chậm Ngược lại, mưa liên tục dẫn tới sinh trưởng sinh dưỡng quá mạnh và năng suất thấp [21]
Nhu cầu nước của cây lạc lớn nhất ở thời kỳ sinh trưởng sinh thực (sau
45 ngày với dạng Virginia và sau 30 ngày với Valencia) và cao nhất ở thời kỳ hình thành quả và hạt Nhiều tác giả như: Billaz và Ochos (1961), Fourrier và Prevot (1958), Holford (1971), Su và Lu (1963), Subramanyam (1974) khi nghiên cứu về thời kỳ khủng hoảng nước của cây lạc ñều nhận ñịnh rằng, các
Trang 26thời ñiểm khủng hoảng nước của cây lạc là thời kỳ ra hoa rộ, thời kỳ ñâm tia
và thời kỳ hình thành quả và hạt [2]
Hiện nay, trên thế giới có khoảng 90% tổng số diện tích trồng lạc phụ thuộc vào nước trời Vì vậy, tổng lượng mưa và lượng mưa phân bố trong suốt chu kỳ sống của cây lạc là một trong những yếu tố khí hậu có ảnh hưởng lớn ñến năng suất lạc Nhiều nghiên cứu cho rằng năng suất lạc khác nhau giữa các năm ở một vùng sản xuất là do chế ñộ mưa quyết ñịnh [16]
1.4.4 Yêu cầu ñất ñai của cây lạc
Do ñặc tính sinh lý của cây lạc, cây lạc yêu cầu chặt chẽ về ñiều kiện lý tính của ñất York và Codwell (1951) mô tả ñất lý tưởng cho lạc là ñất phải thoát nước nhanh, có màu sáng, lỏng, dễ vỡ, phù sa pha cát có ñầy ñủ Canxi
và 1 lượng chất hữu cơ vừa phải [21]
Lê Song Dự và Nguyễn Thế Côn (1979) cũng cho rằng, ñất trồng lạc thích hợp thường là ñất nhẹ và màu sáng, tơi xốp và thoát nước ðất thoát nước, tơi xốp tạo ñiều kiện tối thích cho cây lạc mọc mầm, sinh trưởng và kết quả [16]
Theo tài liệu dẫn của ðoàn Thị Thanh Nhàn, do ñặc ñiểm sinh lý của lạc, ñất trồng lạc phải ñảm bảo luôn tơi, xốp ñể thoả mãn các yêu cầu cơ bản của cây lạc như: Rễ phát triển mạnh cả về chiều sâu và chiều ngang, ñủ oxy cho vi sinh vật nốt sần phát triển và hoạt ñộng cố ñịnh N, tia quả ñâm xuống ñất dễ dàng, dễ thu hoạch [2]
Bởi vậy, tiêu chuẩn ñầu tiên chọn ñất là thành phần cơ giới ñất ðất thích hợp trồng lạc phải là ñất nhẹ, có thành phần cát thô, cát mịn nhiều hơn ñất sét Nói chung các loại ñất pha cát, ñất thịt nhẹ, có kết cấu viên là thích
Trang 27tỏ khả năng thích ứng rộng của lạc ñối với các ñiều kiện ñất ñai ðất kiềm không
tốt, khi pH = 7,5 - 8,5, lá trở nên vàng và vết ñen xuất hiện trên vỏ quả [21]
1.4.5 Nhu cầu về dinh dưỡng của cây lạc
1.4.5.1 Nhu cầu về ñạm
Nitơ có vai trò quan trọng ñối với sự sinh trưởng, phát triển và năng suất lạc bởi nó tham gia vào thành phần của nhiều hợp chất hữu cơ quan trọng trong các hoạt ñộng sống của cây như: protein, diệp lục, ADN, ARN…
Do ñó, thiếu ñạm cây sinh trưởng kém, lá vàng, thân có màu ñỏ, chất khô tích luỹ bị giảm, số quả và khối lượng quả ñều giảm Thiếu ñạm nghiêm
trọng dẫn tới lạc ngừng phát triển quả và hạt [2]
Vì vậy, ñạm là yếu tố dinh dưỡng có tác dụng rất lớn ñối với sự sinh trưởng, phát triển thân, lá, cành của cây lạc và số quả, số hạt và khối lượng
hạt nên có ảnh hưởng ñến năng suất của cây lạc [20]
Lạc ñược cung cấp ñạm bởi 2 nguồn: ñạm do bộ rễ hấp thu từ ñất và ñạm cố ñịnh ở nốt sần do hoạt ñộng cố ñịnh N2 của vi khuẩn cộng sinh cố ñịnh ñạm Chính nhờ hoạt ñộng cố ñịnh ñạm của vi khuẩn nốt sần mà nguồn ñạm cố ñịnh ñược có thể ñáp ứng ñược 50 - 70% nhu cầu ñạm của cây [2] Vì vậy, lượng ñạm bón cho lạc thường giảm, ñặc biệt trên ñất có thành phần cơ giới nhẹ, thoát nước tốt và pH trung tính [16]
Tuy nhiên, quá trình cộng sinh cố ñịnh ñạm sinh học giữa vi khuẩn và cây lạc xảy ra có ý nghĩa nhất khi lạc ra hoa rộ, ñâm tia Ở giai ñoạn ñầu khi cây có 3, 4 lá thật, tại nốt sần lạc là quan hệ ký sinh về phía vi khuẩn nên trong cây trở nên thiếu ñạm, cần bón cho lạc một lượng ñạm nhỏ tạo ñiều kiện cho cây sinh trưởng mạnh, cũng như thúc ñẩy sự phát triển gia tăng của khối lượng và số lượng vi khuẩn cố ñịnh ñạm (Rhizobium Vigna - loại vi khuẩn không chuyên tính) và có tỷ lệ vi khuẩn hữu hiệu cao, ñạt tới lượng ñạm cộng sinh tối ña ở giai ñoạn sau
Trang 28Lượng ñạm lạc hấp thu rất lớn: ñể ñạt 1 tấn lạc quả khô cần sử dụng tới
50 - 70 kg N Thời kỳ lạc hấp thu ñạm nhiều nhất là thời kỳ ra hoa - làm quả
và hạt Thời kỳ này chỉ chiếm 25% thời gian sinh trưởng của lạc nhưng hấp thu tới 40 - 45% nhu cầu ñạm của cả chu kỳ sinh trưởng [2]
1.4.5.2 Nhu cầu về lân
Lân là yếu tố dinh dưỡng quan trọng ñối với lạc Ngoài những vai trò sinh lý bình thường như ñối với cây trồng khác, lân còn ñóng vai trò rất lớn ñối với sự cố ñịnh ñạm và với sự tổng hợp lipit ở hạt lạc trong thời kỳ chín Lân cũng có tác dụng kéo dài thời kỳ ra hoa, tăng tỷ lệ hoa có ích và khả năng chịu hạn, chống chịu sâu bệnh hại cho cây lạc Do ñó, cây lạc thiếu lân, có bộ
rễ kém phát triển, hoạt ñộng cố ñịnh N giảm [20]
Lân có trong thành phần của phân tử cao năng ATP, có ý nghĩa làm tăng
số lượng và mật ñộ nốt sần, làm nốt sần sinh trưởng nhanh và tăng lượng ñạm cố ñịnh ñược trên 1g nốt sần Bón phân lân cũng có thể tăng ñáng kể việc hút các chất dinh dưỡng khác và chất dinh dưỡng hút lên có hiệu lực hơn
Tuy lượng lân cây hấp thu không lớn, ñể ñạt một tấn quả khô, lạc chỉ sử dụng 2 - 4 kg P2O5 nhưng việc bón lân cho lạc ở nhiều loại ñất trồng là rất cần thiết và lượng phân lân bón cho lạc ñòi hỏi tương ñối cao vì lạc có khả năng hấp thu lân kém Bón phân lân thường là mấu chốt tăng năng suất ở nhiều vùng trồng lạc [2] Mặc dù, cây lạc hút lân trong suốt quá trình sinh trưởng nhưng lạc hút lân nhiều nhất ở giai ñoạn từ ra hoa ñến hình thành hạt Trong giai ñoạn này, cây lạc hút tới 45% tổng nhu cầu lân của cây Sự hút lân giảm
rõ rệt ở thời kỳ chín [20]
Trong ñiều kiện ñất ñai của Việt Nam, ña số ñất thuộc loại feralit nên lân thường bị keo ñất giữ lại trên bề mặt làm khó khăn cho việc hút lân của rễ lạc ðể tăng hiệu lực hút lân của lạc, cần phải ủ lân với phân chuồng, tạo ra kết hợp tạm thời giữa lân và phân chuồng dùng ñể bón lót cho lạc Trong quá
Trang 29trình phân giải, lân sẽ ñược giải phóng, thuận lợi cho rễ lạc hút trực tiếp và
ñồng thời các chất dinh dưỡng từ phân chuồng và lân
1.4.5.3 Nhu cầu về Kali
Mặc dù Kali không có vai trò cấu tạo nên một chất hữu cơ nào của cây nhưng Kali có vai trò quan trọng trong việc ñiều chỉnh các hoạt ñộng trao ñổi chất và các hoạt ñộng sinh lý của cây Vai trò quan trọng nhất của K là xúc tiến quang hợp và sự phát triển của quả Ngoài ra, Kali làm tăng cường mô cơ giới, tăng tính chống ñổ của cây, tăng khả năng chịu hạn và ñặc biệt tăng khả năng chống chịu sâu bệnh hại cho cây lạc [20]
Do ñó, thiếu Kali thân cây lạc chuyển thành màu ñỏ sẫm và lá chuyển màu xanh nhạt Tác hại lớn nhất của thiếu Kali là cây bị lùn, khả năng quang hợp và hấp thu nitơ giảm, tỷ lệ quả 1 hạt tăng, khối lượng hạt giảm và năng suất lạc giảm rõ rệt [2] Mặt khác, thiếu Kali các quá trình tổng hợp ñường ñơn và tinh bột, sự vận chuyển gluxit, khử nitrat, tổng hợp protein và phân
chia tế bào không thực hiện ñược bình thường [16]
Cây hấp thu Kali tương ñối sớm và có 60% nhu cầu K của cây ñược hấp thu trong thời kỳ ra hoa - làm quả Thời kỳ chín, nhu cầu về K hầu như không ñáng kể (5 - 7% tổng nhu cầu K)
Lạc có khả năng hút lượng K rất lớn, trong môi trường giàu K nó có khả năng hấp thu K quá mức cần thiết Lượng K lạc hấp thu cao hơn lượng lân nhiều, khoảng 15 kg K2O/1tấn quả khô [2]
1.4.5.4 Nhu cầu về Canxi
Canxi là một nguyên tố không thể thiếu khi trồng lạc Ngoài tác dụng ngăn ngừa sự tích luỹ nhôm và các cation gây ñộc khác, Canxi còn tạo ñiều kiện làm môi trường trung tính thuận lợi cho vi khuẩn nốt sần hoạt ñộng nên làm tăng nguồn ñạm cho cây Mặt khác, Canxi giúp cho sự chuyển hoá
N trong hạt nên có tác dụng chống lốp ñổ và tăng khối lượng hạt Vì vậy,
Trang 30Canxi cĩ ảnh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng hạt [20] Hiện tượng quả lép thường xảy ra khi lượng Canxi hữu hiệu trong đất thấp và do ảnh hưởng xấu cĩ thể gây ra bởi các loại phân khống hoặc thời tiết đến sự hút Canxi của quả [2]
Trong thời kỳ hình thành quả, nếu thiếu Canxi quả khơng chắc hay cĩ quả một nhân hoặc quả lép, năng suất, chất lượng và tỷ lệ quả chắc cũng giảm Ở đất chua, hoạt động cố định đạm của vi khuẩn nốt sần kém, nếu bĩn nhiều vơi cho lạc thì phải bĩn nhiều lần Tuy nhiên, tránh bĩn quá nhiều vơi cho lạc vì thừa vơi cĩ thể làm cho cây cịi cọc Thiếu Canxi sẽ ảnh hưởng đến
quá trình hình thành hoa, đậu quả, quả ốp, hạt khơng mẩy [11]
1.5 Các kết quả nghiên cứu về cây lạc trên thế giới và trong nước
1.5.1 Các kết quả nghiên cứu về cây lạc trên thế giới
1.5.1.1 Kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống lạc
Giống là một trong những yếu tố giữ vai trị quan trọng hàng đầu gĩp phần nâng cao năng suất Việc cải tiến giống lạc, tạo ra các giống mới cĩ năng suất cao, phẩm chất tốt, kháng được sâu bệnh, thích ứng rộng với điều kiện ngoại cảnh đã gĩp phần đáng kể vào việc tăng năng suất và sản lượng lạc trên thế giới Do đĩ, việc nghiên cứu về chọn tạo giống lạc đang ngày càng được chú trọng Về tập đồn giống lạc: Mỹ là nước cĩ tập đồn lạc phong phú nhất (29.000 mẫu giống); sau đĩ là ICRISAT (14.310 mẫu giống) thu thập từ
92 nước trên thế giới; Australia cũng là nước cĩ tập đồn lạc đa dạng (12.160 mẫu giống); Ấn ðộ, Trung Quốc hàng năm vẫn duy trì 5.000-6.000 mẫu giống
Từ nguồn vật liệu đa dạng và phong phú, các nhà chọn tạo giống đã sử dụng trong cơng tác cải tiến giống theo các mục tiêu khác nhau: Chọn tạo giống chín sớm cho vùng tăng vụ, né tránh thiên tai; giống chịu hạn cho vùng nước trời; giống kháng sâu bệnh; giống năng suất cao; giống cĩ hàm lượng dầu cao
Trang 31Trong các mẫu giống ñã thu thập, bằng các ñặc tính hình thái - nông học, sinh lý - sinh hoá và khả năng chống chịu sâu bệnh ICRISAT ñã phân lập theo các nhóm tính trạng khác nhau phục vụ cho nghiên cứu chọn tạo giống như: nhóm kháng bệnh, nhóm chống chịu hạn, nhóm hàm lượng dầu cao, nhóm chín trung bình, nhóm chín muộn, nhóm chín sớm… Trong ñó, các giống chín sớm ñiển hình là Chico, 91176, 91776, ICGS (E)71 [49], các giống có năng suất cao như: ICGV-SM83005 [64], ICGV88438, ICGV89214, ICGV91098 [54] Hiện nay giống lạc ICGV 91114 với ưu ñiểm cho năng suất cao ñang ñược phát triển rộng rãi ở các bang AndraPradesh và Chhattisgarh của Ấn ðộ [65]
Trung Quốc là nước có nhiều thành tựu trong công tác chọn tạo giống lạc Trong hai năm 2003 và 2004, Trung Quốc ñã công nhận 17 giống lạc mới, trong
ñó ñiển hình là các giống Yueyou 13, Yueyou 29, Yueyou 40, 01-2101, Yuznza
9614, 99-1507, R1549 có năng suất trung bình là 46-70 tạ/ha [56]
Sử dụng nguồn gen ñể mở rộng nền tảng di truyền của lạc trồng, Upadhyaya HD và cộng sự ñã sử dụng thành công phương pháp lai hữu tính
ñể cải tiến các ñặc ñiểm nông học như chín sớm, tăng khối lượng 100 hạt và năng suất trong tạo giống kháng sâu bệnh [69]
Các nhà khoa học ở Brazil, ICRISAT, Mỹ, Pháp, Senegal và ðan Mạch lai hữu tính nhân tạo ñể ñưa các alen của lạc dại vào lạc trồng bằng việc tạo ra các dòng lạc có ñoạn nhiễm sắc thể thay thế [44]
Nghiên cứu chọn tạo giống chịu hạn, các nhà khoa học ở trường ñại học Kasetsart, Thái Lan cho rằng ñiều kiện hạn không ảnh hưởng ñến kiểu phân bố hoa nhưng làm chậm sự xuất hiện của những hoa lứa ñầu và thời gian hoa nở Qua ñánh giá 12 dòng lạc cho thấy sự suy giảm năng suất khác nhau ở các dòng lạc trong ñiều kiện hạn phụ thuộc nhiều vào tập tính ra hoa khac nhau Những giống lạc ra hoa lượng lớn tập trung vào lứa hoa ñầu cho năng suất cao hơn [66]
Trang 32Tại Inñônêxia, việc chọn tạo giống cũng ñược tập trung vào các mục tiêu như: năng suất cao, chín sớm, phẩm chất tốt và kháng bệnh héo do vi khuẩn, ñốm lá muộn và gỉ sắt Các giống triển vọng ñã ñược khuyến cáo và
ñưa vào sản xuất từ năm 1991 là Mahesa, Badak, BiaWar và Koinodo [46]
Mỹ ñã ñưa vào sản suất 16 giống lạc mới (9 giống thuộc loại hình Runer,
5 giống thuộc loại hình Virginia, 2 giống thuộc loại hình Spanish) [65] Hiện ñang có 3 chương trình nghiên cứu sử dụng lạc dại lai với lạc trồng ñể tạo ra giống chống chịu sâu bệnh ở Carolina Oklahoma và Texas
Kết quả sàng lọc các kiểu gen lạc ñược lai tạo ở Mỹ giữa giống lạc ñịa phương Nama của Burkina Faso với giống lạc Texas bằng phương pháp công nghệ sinh học nhằm tạo giống kháng bệnh lá Kết quả kiểm tra trong ñiều kiện ñồng ruộng ở Burkina Faso cho thấy một số giống trình diễn tốt hơn giống ñịa phương, có những giống năng suất tương ñương nhưng kháng bệnh tốt [60]
Viện nghiên cứu nông nghiệp quốc gia Bernin ñã chọn ñược hai giống lạc chín sớm ñó là: ICGV - SM83011 và ICGV 86072 cho năng suất cao (2 tấn/ha) và rất ổn ñịnh [61]
Giống lạc mới dạng bụi TMV(Gn)13 ñã ñược các nhà khoa học Ấn ðộ chọn ra từ dòng thuần của giống lạc ñỏ ñịa phương Pollachi Giống lạc này có năng suất 16,13 tạ/ha cao hơn giống ñối chứng ñịa phương VRI2 12,8% và kháng trung bình với bệnh lá, ít bị sâu ăn lá [63]
Các nhà khoa học của Trường ðại học nông nghiệp Acharya NG Ranga, Ấn ðộ và Trường ñại học A&M Florida, Mỹ ñã chọn tạo ra giống lạc K1375 qua lai tạo giữa giống lạc Kadiri 4 X Vemana Giống lạc này ñã giúp bảo ñảm năng suất ổn ñịnh trong vùng bị hạn của Ấn ðộ [64]
Holbrook C.C và cộng sự ñã sử dụng sự chọn lọc có trợ giúp của chỉ thị phân tử ñể tạo giống kháng bệnh với tỷ lệ O/L (axit oleic/linoleic) cao Sự phối hợp chặt chẽ giữa các nhà chọn giống truyền thống và các nhà di truyền
Trang 33học phân tử là cần thiết ñể sử dụng công cụ di truyền hiện ñại có hiệu quả trong phát triển giống lạc [55]
Những cố gắng trong chọn tạo giống lạc bằng kết hợp phương pháp truyền thống và phân tử ở Ghana nhằm cải tiến các giống lạc ñịa phương có năng suất thấp và nhiễm với các bệnh ñốm lá, ñốm hoa thị [43]
Nhóm nghiên cứu của 2 trường ñại học ở Ai Cập ñã nghiên cứu cải tiến năng suất lạc trong ñiều kiện ñất nhiễm mặn qua ñột biến 4 giống lạc Giza 5, Giza
6, NC 9 và Gregory bằng tia Gamma và hoá chất NaN3 Thế hệ M6 chọn ñược 3 dòng M6-13, M6-18 và M6-30 cho năng suất cao, nhiều quả và hạt trên cây hơn giống mẹ [42]
1.5.1.2 Kết quả nghiên cứu về bón phân cho lạc
Vấn ñề bón phân cho lạc ñược nghiên cứu rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới Hokhey Singh và Pathak (1969) cho rằng, việc bón phân cho lạc có hiệu quả kinh tế, dù trong ñiều kiện nước trời Kết quả của 200 thí nghiệm bón phân cho lạc ở Ấn ðộ dẫn tới kết luận là bón trên 22 kg N cho một ha thì không có hiệu quả Cũng theo 2 tác giả này, trên ñất nhẹ hoặc trung bình, khi bón phối hợp 11,0 kg N/ha, 10 kg P2O5/ha và 19 kg K2O/ha tăng năng suất lạc nước trời 154% so với ñối chứng và cao hơn một cách có ý nghĩa khi bón ñơn ñộc N, P và K hoặc khi bón cùng lúc 2 trong 3 yếu tố trên [7], [21]
Ở Ấn ðộ, kết quả các thí nghiệm phân bón cho thấy, việc bón phối hợp
30 kg N/ha với 17 kg P2O5/ha thì năng suất lạc tăng gấp ñôi so với chỉ bón 30
kg N/ha [57]
Ở Trung Quốc, các tác giả Dong Xiao-xia,WEI Jian-lin,Yang Guo,LI Yan, Cui Rong-zong, (2008) cho rằng: bón phân N, P, K tỷ lệ (1:1:3), sử dụng chất ñiều hoà sinh trưởng cây trồng P333, mật ñộ trồng thích hợp ñã cho thu hoạch 6,0-6,75 tấn/ha trên giống giống Luhua 12, Luhua 13 và Qinglan 2 [73] Kết quả nghiên cứu các nguyên tố dinh dưỡng vi lượng cho lạc tại bán
Trang 34ựảo Jiaodong, tỉnh Sơn đông, Trung Quốc cho thấy bên cạnh N, P, K thì kẽm
và Magie là những yếu tố hạn chế chắnh ựến năng suất lạc Các công thức không bón Kali thì hàm lượng Kali trong thân lá thấp hơn những công thức khác [48]
Qua phân tắch số liệu ựiều tra nông dân ở các vùng trồng lạc khác nhau của tỉnh Sơn đông, Fang Zengguo và cộng sự ựã xác ựịnh ựược tình trạng và những vấn ựề sử dụng phân bón cho lạc là tỷ lệ bón không cân ựối (N : P2O5 :
K2O = 1 : 0.72 : 0.74) và lượng phân ựạm và lân ựược nông dân bón quá nhiều ựã làm giảm hiệu quả kinh tế trồng lạc [49]
Nghiên cứu ảnh hưởng của các công thức phân bón khác nhau ựến năng suất và chất lượng lạc, Zhang Xiang và cộng sự (2009) kết luận lượng phân bón
N :K2O thắch hợp cho vùng ựất ựen Shajang là 120 kg/hm2 : 150 kg/hm2; hiệu lực của Bo tốt hơn Molipden; hiệu lực của bón Canxi sulphat cao hơn so với bón loại Canxi khác, các công thức bón phân khác nhau cũng cho chất lượng lạc tốt hơn [72]
Bón lượng Kali thắch hợp ựã thúc ựẩy sinh trưởng và tăng tắch luỹ chất khô, cải thiện các ựặc tắnh kinh tế, tăng năng suất quả và hiệu quả kinh tế Khi bón Kali với lượng 180 kg/ha thì năng suất tăng lên 4260,5 kg/ha, lợi nhuận thuần cao nhất lên ựến 9482 nhân dân tệ/ha Khi bón Kali với lượng trên 270 kg/ha năng suất lạc và lợi nhuận kinh tế bị giảm [59]
Các tác giả ZHOU Lu-ying, LI Xiang-dong, WANG Li-li, (2006) kết luận: bón tăng tỷ lệ ựạm cải thiện năng suất quả lạc một cách rõ rệt, năng suất ựạt cao nhất khi bón tỷ lệ P, K, Ca ở mức trung bình (150 P, 300 K và 300 Ca) Bón phân có thể làm tăng chất lượng hạt lạc nhờ tăng hàm lượng axit béo, protêin và amino axit tự do Khi tăng hàm lượng Kali lên 450 kg/ha làm giảm axits béo trong hạt Bón Canxi làm tăng tỷ lệ axit oleic/axit linoleic còn bón Kali làm tăng hàm lượng ựường hoà tan trong hạt lạc [73]
Trang 35Ở Mỹ, nhiều vùng trồng lạc cũng cho thấy bón P, K cho cây bông là cây trồng trước của lạc có hiệu quả hơn bón trực tiếp cho lạc Năng suất lạc bình quân ở Mỹ năm 1951 là 934 kg/ha Năm 1975 năng suất bình quân ñạt 2.875 kg/ha Với năng suất như vậy ở Mỹ lượng phân bón ñược ñề nghị bón cho lạc là 20-25 kg N/ha, 50-60 kg P2O5/ha, 55-80 kg K2O/ha [2]
1.5.1.3 Kết quả nghiên cứu về biện pháp bón vôi
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của bón vôi cho lạc trên ñất cát tại Niger của F Waliar, B.J Ndunguru (1992) cho thấy bón 1000kg vôi/ha cho năng suất trung bình ñạt 2,18 tấn/ha; trong khi lạc không bón vôi chỉ ñạt 1,03 tấn/ha [70]
W T Mupangwa, F Tagwira (2005) cho rằng khi bón 34kg P kết hợp với 800kg vôi bột/ha sẽ giúp năng suất lạc tăng ñến 81% so với công thức ñối chứng không bón Bên cạnh ñó nếu bón 34kg P kết hợp với 400kg thạch cao/
ha sẽ giúp năng suất lạc tăng ñến 90% [62] Tác giả Suwapan Ratanarat, Thái Lan (1995) cho rằng bón phân N, P, K tỷ lệ 3:9:6 kết hợp bón 400kg/ha thạch cao cho năng suất lạc tăng từ 14-20% trên chân ñất cao [67]
Năm 1983, Davidson et al., cho rằng bón vôi bột vào ñất có thể làm giảm tỷ lệ nhiễm Aflatoxin trên lạc [47] Tuy nhiên, kết luận này gặp phải nhiều tranh cãi do cơ chế tác ñộng của vôi ñến sự xâm nhiễm bệnh chưa ñược làm rõ [45] Gần ñây Fernandez et al., (1997, 2000) khẳng ñịnh vôi có tác
dụng làm giảm sự xâm nhiễm của nấm Aspergillus ssp vào hạt lạc do tác dụng
làm ñầy và cứng vỏ lụa cũng như vỏ ngoài của quả Tác giả cũng kết luận sự sinh ñộc tố của nấm bị ảnh hưởng bởi việc bón vôi và phương pháp làm khô quả [50], [51]
Các nhà khoa học nhóm nghiên cứu tại ICRISAT và Trường ðại học Reading, nước Anh tiến hành ñề tài: “Hiệu lực của việc bón vôi, xác cây trồng
và những tác nhân ñiều khiển sinh học ñến sự lây nhiễm nấm Aspergillus
Trang 36flavus ở giai ñoạn trước thu hoạch và sự lây nhiễm tạo Aflatoxin trong lạc”
Kết quả công thức xử lý ñất bằng bột thạch cao (Gypsum) hoặc Trichoderma viridae cho hiệu quả cao nhất
1.5.1.4 Kết quả nghiên cứu về phương thức gieo trồng
Tại Pakistan, khi trồng lạc với khoảng cách: hàng x hàng 50 - 65cm, cây x cây 15 - 25cm cho năng suất cao nhất Kết quả nghiên cứu tại Sudan cũng cho thấy, khi trồng lạc với khoảng cách giữa các hàng lạc là 70cm, và khoảng cách giữa các cây trong hàng là 25 - 30 cm làm tăng năng suất 12-
18% so với các phương thức trồng truyền thống
1.5.2 Những kết quả nghiên cứu về cây lạc ở trong nước
1.5.2.1 Kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống lạc
Trong những năm vừa qua, công tác chọn tạo giống ở Việt Nam ñã thu ñược nhiều thắng lợi Nhiều giống mới ñã ñược tạo ra và ñưa vào sản xuất góp phần làm tăng năng suất và sản lượng lạc trong cả nước
Trước năm 1985, trong sản xuất chỉ có một số giống lạc như: Sen Nghệ
An, Chùm Nghi Lộc, Cúc Nghệ An, Bạch Sa, Trạm Xuyên… năng suất thấp, khả năng chống chịu sâu bệnh kém Từ năm 1990 trở lại ñây, công tác nghiên cứu chọn tạo giống lạc ñã ñạt ñược nhiều thành tựu ñáng khích lệ với sự ra ñời của trên 20 giống lạc ñược công nhận là giống quốc gia và giống tiến bộ
kỹ thuật trong ñó 15 giống nhập nội; 04 giống chọn tạo bằng con ñường lai hữu tính (Sen lai 75/23, BG78, L12, L20); 02 giống chọn tạo qua tác nhân ñột biến (4329, V79)
Các giống mới có năng suất cao (L23, L18, L14, L02) ñã phát triển trên quy mô hàng trăm ngàn ha; giống có thời gian sinh trưởng ngắn (L05); giống có chất lượng phục vụ xuất khẩu (L26); giống kháng bệnh héo xanh vi khuẩn (MD7); giống kháng bệnh lá (L02); giống chịu hạn khá như V79, L12 ñã góp phần tăng năng suất lạc cả nước [9], [31], [33], [34] Các giống mới ra ñời ñáp
Trang 37ứng được cho các mục tiêu sản xuất, mùa vụ và các vùng sinh thái khác nhau trong cả nước, cĩ tính bền vững cao [3]
Những thành tựu đáng ghi nhận trong cơng tác chọn tạo giống ở Việt Nam đã và đang tập trung vào các mục tiêu: năng suất cao thích hợp với từng vùng sinh thái, thời gian sinh trưởng khác nhau phù hợp với các cơng thức luân canh cây trồng trong đĩ chú trọng giống cĩ thời gian sinh trưởng ngắn (dưới 120 ngày), giống cĩ khả năng kháng/chống chịu với bệnh trên lá (gỉ sắt, đốm đen), với bệnh héo xanh vi khuẩn, giống cĩ khả năng chịu hạn, giống
kháng bệnh mốc vàng (Aspegillus ssp), giống chịu sâu, giống cĩ chất lượng
cao phục vụ cho ép dầu và xuất khẩu hạt [11]
Giống lạc L18 được Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển ðậu đỗ chọn
ra từ tập đồn nhập nội, đã được cơng nhận giống năm 2009 Giống cĩ thân đứng, tán gọn, chống đổ tốt; quả to vỏ lụa màu hồng sáng, tiềm năng năng suất quả 50-70 tạ/ha, kháng bệnh lá và héo xanh vi khuẩn trung bình [5], [26]
Giống lạc L23 được Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển ðậu đỗ chọn lọc ra từ tập đồn nhập nội năm 2001 Giống lạc L23 thân đứng, tán gọn, chống
đổ tốt, lá xanh đậm, sinh trưởng khoẻ, ra hoa kết quả tập trung, kháng bệnh lá (đốm nâu, đốm đen, gỉ sắt) và kháng héo xanh vi khuẩn (chết ẻo) và chịu hạn khá, tiềm năng năng suất từ 50 - 55 tạ/ha, chịu thâm canh cao Giống L23 cĩ thể trồng được cả 2 thời vụ trong năm (vụ xuân và vụ thu đơng) [9]
Kết quả nghiên cứu chọn tạo giống lạc năng suất cao đạt tiêu chuẩn xuất khẩu đã chọn được giống lạc L26: Giống do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển ðậu đỗ chọn lọc từ tổ hợp lai L08/TQ6 Giống cho năng suất: 40-
Trang 38hướng: năng suất cao, khả năng chống chịu bệnh héo xanh vi khuẩn, khả năng chịu hạn Vụ xuân 2008 ựã chọn ựược 4 dòng (D8, 0401.66, D8.1 và đBđ0401.8) có năng suất cao hơn giống ựối chứng L14 và 02 dòng (0403.1
và đBđ 0301.16.1) năng suất cao hơn ựối chứng L18, 33 dòng ưu tú ở thế hệ thấp hơn có thời gian sinh trưởng trung bình cho năng suất cao hơn ựối chứng L14 và L18 Vụ thu ựông 2008 ựã chọn ựược 16 dòng lạc có năng suất vượt ựối chứng (L12, L14 và L18) ựây là những dòng lạc có triển vọng ựang ựề nghị khảo nghiệm và nghiên cứu ở các vụ tiếp theo đã ựánh giá khả năng kháng nhiễm bệnh héo xanh vi khuẩn của 94 dòng giống lạc và tìm ra ựược 5 giống kháng cao và trung bình
Kế thừa các kết quả nghiên cứu từ năm 2001, năm 2008 Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển đậu ựỗ ựã xác ựịnh ựược một số giống lạc mới, triển vọng cho ra sản xuất giai ựoạn 2010-2015 như dòng lạc 0401.57.3 (L19) ựược chọn tạo từ tổ hợp lai L18 /L16 có năng suất cao hơn giống L18 trong ựiều kiện thâm canh Dòng 0009.9.1 ựược chọn tạo từ tổ hợp lai Qđ9(L15)/V79,
có năng suất cao hơn giống L12 và L14 từ 16-28% trong ựiều kiện canh tác nước trời [10]
Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Bắc Trung Bộ ựã tập trung nghiên cứu lai tạo và tuyển chọn bộ giống lạc có năng suất cao và chất lượng cao phù hợp với sinh thái của vùng đến năm 2008, ựã xác ựịnh ựược bộ giống lạc thắch hợp cho vùng bao gồm các giống: L08, L14, L20, L23 và V79 [5]
Tại miền Nam, kết quả ựánh giá 15 giống ngắn ngày của Viện Khoa học Nông nghiệp Miền Nam cho thấy, 3 giống: ICGV87883, 87391, 90068 là những giống có triển vọng Tại Viện Cây có dầu Miền Nam, Ngô Thị Lam Giang và các cộng tác viên ựã ựánh giá trên 400 mẫu giống nhập nội, lai tạo và chọn lọc ra một số giống có triển vọng là: VD1, VD2, VD3, VD4, VD5, VD9 [11]
Xuất phát từ quan ựiểm nhập công nghệ tiên tiến từ nước ngoài ựể cải
Trang 39tiến, áp dụng phục vụ phát triển sản xuất, thời gian qua trong khuơn khổ chương trình đậu đỗ Quốc gia đã nhập nội hàng nghìn mẫu giống với các đặc tính quí, trong đĩ cĩ những giống đặc biệt ưu việt như: Năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn, chất lượng xuất khẩu cao, kháng bệnh héo xanh vi khuẩn…đã gĩp phần quan trọng trong cơng tác cải tiến giống lạc trong nước
Giống lạc L08 được chọn lọc theo phương pháp chọn lọc quần thể từ dịng lạc mang tên Qð2 trong tập đồn nhập nội của Trung Quốc năm 1996 Giống lạc L08 đã được Hội đồng Khoa học Cơng nghệ, Bộ Nơng nghiệp và Phát triển nơng thơn cơng nhận là giống tiến bộ kỹ thuật năm 2004 Ở hầu hết các điểm khảo nghiệm, giống L08 cĩ ưu điểm nổi bật so với các giống khác là
cĩ tỷ lệ nhân, khối lượng 100 quả và khối lượng 100 hạt cao, hạt to đều, vỏ lụa hồng cánh sen đẹp đạt tiêu chuẩn xuất khẩu và thích hợp với thị hiếu người tiêu dùng Giống L08 cĩ năng suất cao và thích hợp với chân đất cĩ thành phần cơ giới nhẹ, tơi xốp và cĩ thể thâm canh [23]
Giống lạc MD7 được chọn lọc từ tập đồn nhập nội của Trung Quốc năm 1996 theo hướng kháng héo xanh vi khuẩn Ưu điểm nổi bật của MD7 là khối lượng hạt lớn, tỷ lệ nhân cao 70 - 75%, kháng héo xanh vi khuẩn, thích ứng rộng, năng suất trung bình từ 30 - 35 tạ/ha Giống lạc MD7 được cơng nhận giống tiến bộ kỹ thuật năm 2002 [22], [25]
Giống lạc L14 được chọn lọc theo phương pháp chọn lọc quần thể từ dịng lạc mang tên Qð5 trong tập đồn nhập nội của Trung Quốc năm 1996 Giống L14 cĩ thời gian sinh trưởng thuộc nhĩm trung ngày (110 - 120 ngày),
tỷ lệ nhân 73 - 75%, năng suất ổn định từ 30 - 40 tạ/ha trong vụ xuân và 20 -
25 tạ/ha trong vụ thu đơng, cĩ khả năng chịu hạn khá, kháng bệnh lá cao L14 được cơng nhận giống tiến bộ kỹ thuật năm 2002 [25]
Mặt khác, từ những nguồn vật liệu nhập nội, nhiều giống mới đã được cải tiến bằng con đường lai hữu tính đã cĩ những đĩng gĩp nhất định trong sản
Trang 40xuất lạc như: Giống lạc Sen lai 75/23 ñược chọn tạo từ tổ hợp lai giữa Trạm Xuyên x Mộc Châu trắng; Giống lạc L12 ñược chọn lọc từ tổ hợp lai giữa V79
x ICGV 87157 năm 1992, ñược công nhận giống Quốc gia năm 2004 [3], [32]
Lê Song Dự, Trần Nghĩa và cộng tác viên (1995) ñã nghiên cứu thành công giống lạc V79 bằng cách dùng tia Rơnghen gây ñột biến giống Bạch Sa (Trung Quốc) Giống lạc V79 thuộc nhóm chín trung bình, năng suất cao hơn giống ñịa phương từ 15 - 25%, vỏ mỏng, tỷ lệ nhân cao như Sen Nghệ An, thích hợp trên chân ñất cát pha, phụ thuộc nước trời Giống lạc V79 ñược Hội ñồng khoa học Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là giống Quốc gia năm 1995 [17]
Qua nghiên cứu tuyển chọn giống lạc trong khoảng thời gian 1991 -
1995, Ngô Thị Lam Giang và CTV ñã chọn ñược giống lạc VD-1 với thời gian sinh trưởng 90 ngày, ñạt năng suất bình quân trong ñiều kiện thí nghiệm
là 3493 kg/ha, vượt 19% so với ñối chứng, ra hoa tập trung nên chín ñều [18]
Từ 1996 - 1998, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển ðậu ñỗ ñã ñánh giá bộ giống kháng bệnh lá nhập nội từ ICRISAT thấy rằng, có 6 giống vừa
có năng suất khá vừa kháng bệnh là: ICGV 91227, 87846, 91234, 98256,
91215, 91222 [11]
1.5.2.2 Kết quả nghiên cứu về bón phân cho lạc
Hầu hết các loại ñất trồng lạc của nước ta có hàm lượng chất dinh dưỡng thấp, nông dân lại ít chú trọng ñến việc bổ sung phân bón nên năng suất lạc thấp Xuất phát từ thực tế sản xuất, nhiều công trình nghiên cứu về phân bón ở Việt Nam ñã ñược ưu tiên giải quyết
Kết quả nghiên cứu sử dụng phân bón N, P, K hợp lý cho lạc xuân và lạc thu trên ñất bạc màu Bắc Giang cho thấy: Nền 10 tấn phân chuồng và 30kg N + 90kg P2O5 + 60kg K2O vừa cho năng suất cao, vừa cho hiệu quả
kinh tế cao hơn những công thức khác [11]