477 Nguyên cứu đổi mới hệ thống quản lý đất đai để hình thành và phát triển thị trường bất động sản ở Việt Nam Qui hoạch, kế hoạch sử dụng bất động sản hiện hành ở Việt Nam
Trang 1
BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Trung tâm Điều tra Quy hoạch đất đai
78/9 Đường Giải Phóng - Phương Mai - Đống Đa - Hà Nội
Đề tài cấp nhà nước:
NGHIÊN CUU DOI MOI HE THONG QUAN LY
DAT DAI DE HINH THÀNH VÀ PHÁT TRIEN
THI TRUONG BAT DONG SAN O VIET NAM
DE AN QUY HOACH, KE HOACH SU DUNG DAT DAI
TS Nguyễn Đức Minh
£23G-9 4+1 706
Trang 23 Nội dung chủ yếu của đề án . -«-sse+vxsevrxeerrssesreerEnrssetrrererrke 7
3.1 Hiện trạng sử dụng đất đai co 2c 222v trtrrrrrrrrrrre 7
3.2 Định hướng sử dụng đất lâu dài trong giai đoạn công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước (tầm nhìn 2020 về sử dụng đất) - - 15
4 Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 ccsecesseserreesece 18
4.1 Đất nông nghiệp 22222 22 2t 2211.22.11 18
8) 8c J]njẽnn 19
4.3 D&t chuy€n dung ocsscccccscssssssessessseesssssesccesvessssvesssesssssssssssessesessseceaseesesees 20
4.5 Đất chưa sử GUI 21
5 Một số giải pháp và tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất 21
6 Tiến độ và kinh phí thực hiện <ccs-cccscczecerxaserrssssrrrsee 23
6.2 Về giao đất - c2 2122112 00 ng 112112 ceeeree 23
6.3 Về lập quy hoạch sử dụng đất địa phương các CẤP occcccccccrre 24
6.4 Kinh phí đề thực hiện công tác thu hồi đất -ccscccsveererrreee 25
Trang 3MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước ta tiến hành đổi mới nền kinh tế đất nước theo hướng “phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa” Nhờ từng bước thực hiện quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cùng với nền kinh tế thị trường, Việt Nam đã có những bước tiến rõ rệt Tuy nhiên Việt Nam là nước đất
chật người đông, có diện tích tự nhiên 32.924.061 ha với số dân 77,6 triệu
người (2000), trong đó 75,8% (58,8 triệu người) là dân số nông thôn, vẫn
đề đất đai luôn luôn nhạy cảm, nóng bỏng mà Đảng và Nhà nước thường
xuyên quan tâm nhằm sử dụng hợp lý quỹ đất đai rất có hạn và quý của
nước ta
Đất đai nằm trong nhóm tải nguyên hạn chế của Việt Nam nhưng lại
là điều kiện không thê thiếu được trong mọi quá trình phát triển, vì vậy việc
sử dụng thật tốt tài nguyên quốc gia này không chỉ sẽ quyết định tương lai
của nền kinh tế đất nước mà còn là sự đảm bảo cho mục tiêu ôn định chính
trị và phát triển xã hội Xã hội ngày càng phát triển thì giá trị của đất đai sẽ càng cao và yêu cầu về sử dụng đất càng phải tốt hơn với hiệu quả kinh tế và
xã hội cao hơn
Quy hoạch sử dụng đất là công cụ quản lý không thể thiếu trong việc
tổ chức sử dụng đất của các ngành kinh tế - xã hội và các địa phương Phương án quy hoạch sử dụng đất là kết quả hoạt động thực tiễn của hệ thống bộ máy quản lý Nhà nước kết hợp với những dự báo có cơ sở khoa học cho tương lai Quản lý đất đai thông qua quy hoạch và kế hoạch sử dụng
đất vừa đảm bảo tính thống nhất của quản lý nhà nước về đất đai vừa tạo
điều kiện đề phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc sử dụng đất dé
đạt được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng van minh
Trang 41 Sự cần thiết
Với tổng diện tích tự nhiên 32.924.061 ha, Việt Nam là nước có quy
mô trung bình, xếp thứ 59 trong tổng số trên 200 nước, nhưng đông dân vào
hàng thứ 13 trên thế giới (77,6 triệu người năm 2000) nên bình quân đất đai tính theo đầu người rất thấp chỉ bằng 1/6 mức bình quân của thế giới (0,45
ha), tương đương với các nước Anh, Đức, Philippin, đứng hàng thứ 9 trong
10 nước Đông Nam Á và thứ 135 trong tổng số trên 200 nước trên thế giới
Việt Nam đang ở thời kỳ điều chỉnh mạnh cơ cấu kinh tế về công nghiệp, nông nghiệp vả thương mại - dịch vụ Tốc độ tăng trưởng kinh tế
liên tục tăng từ 1991 đến nay, đạt mức bình quân 7%/năm nhưng dân số còn
tăng nhanh trong vài thập kỷ nữa Thu chỉ ngân sách có chiều hướng ổn
định, bắt đầu có tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế nhưng đang đứng trước nguy
cơ tụt hậu xa hơn nữa so với các nước trong khu vực
Nhu cầu tăng trưởng kinh tế cao sẽ gây áp lực mạnh đối với đất đai và
dễ dẫn đến tình trạng rối loạn trong khai thác sử dụng đất, nhất là ở những
nơi “đất chật người đông”, kinh tế trù phú, có nhiều cơ hội tiếp nhận đầu tư,
Luật Đất đai năm 1993 quy định nội dung, trách nhiệm, thẩm quyền
lập và xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (Điều 16, 17, 18), căn cứ
giao đất và thâm quyền giao đất là phải dựa vào quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất (Điều 19, 23).
Trang 5Điều 16 khoản 1 ghi rõ: “Chính phủ lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất đai trong cả nước trình Quốc hội quyết định”
Nghị định của Chính phủ về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất dai số
68/2001/NĐ-CP ngày 01/10/2001 tại Điều 2 khoản 1 có ghi “Chính phủ giao Tổng cục Địa chính chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan lập quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của cả nước” và “Quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất đai đã được cơ quan nhà nước có thấm quyền quyết định, xét duyệt
là căn cứ để bố trí sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất, chuyên mục đích sử dụng đất, chuyên đất nông nghiệp trồng lúa nước sang nuôi trồng thuỷ sản hoặc trồng cây lâu năm, chuyển đất trồng cây lâu năm sang trồng cây hàng
năm” (Điều 5 khoản 1)
Như vậy, Đề án “Quy hoạch sử dụng đất đai Việt Nam đến năm
2010” được xây dựng là xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trong quản lý và sử dụng đất đai của nước ta và những quy định được nêu trong Luật Đất đai và
Nghị định số 68/2001/NĐ-CP của Chính phủ ngày 1/10/2001 về quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất đai Đề án do Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng
đề Chính phủ trình Quốc hội quyết định
2 Mục tiêu của đề án
Đề án “Quy hoạch sử dụng đất đai Việt Nam đến năm 2010” có
mục tiêu: Xây dựng bộ chỉ tiêu các loại đất cho cả nước và 7 vùng kinh tế
Trang 6- Đất chưa sử dụng và sông suối, núi đá
2.1 Mục tiêu tổng quát:
+ Tài nguyên đất đai quốc gia phải được khai thác tổng hợp, đồng bộ
vì các lợi ích kinh tế - chính trị - xã hội của cả nước và từng địa phương, đảm bảo hài hoà các lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường: lợi ích của Nhà nước, người đầu tư và người sử dụng đất
+ Phát triển công nghiệp, đô thị, kết cấu hạ tầng phải nhịp nhàng với phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa Đón trước những tiễn bộ khoa học kỹ thuật để sử dụng đất đai một cách hết sức tiết kiệm, nhằm bảo vệ và khai thác sử dụng thật tốt quỹ đất nông nghiệp nhất là đất trồng lúa nước đảm bảo an ninh lương thực quốc gia
+ Dam bao dién tích phủ xanh bằng cây rừng nhất là rừng đầu nguồn,
nâng tỷ lệ che phủ bằng cây rừng để giữ được cân bằng sinh thái bền vững
và bảo vệ được tính đa dạng sinh học
+ Dành một quỹ đất đai hợp lý trong việc xây dựng và phát triển các
khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất ở những địa bàn kinh tế có điều kiện thuận lợi để phát huy nhanh hiệu quả đầu tư, đồng thời chủ động chuẩn
bị những địa bàn kinh tế khác tuy trước mắt còn khó khăn nhưng không lấn
nhiều vào đất nông nghiệp
+ Dành quỹ đất cho phát triển cơ sở hạ tầng để đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
+ Từng bước bố trí lại các khu dân cư cả ở nông thôn và đô thị ở những nơi đã hình thành, kết hợp với quy hoạch xây dựng các khu dân cư mới phát triển theo hướng vừa chú ý tới môi trường sinh thái như cây xanh, lâm viên, công viên, vừa đáp ứng các nhu cầu về giao thông, thông tin
liên lạc, giáo dục, văn hóa, thể duc thể thao, du lịch và các công trình phúc lợi xã hội khác
Trang 7+ Đảm bảo nguyên tắc quốc phòng kết hợp với kinh tế và kinh tế kết hợp với quốc phòng trong khai thác sử dụng đất đai, ưu tiên bố trí những địa thế tự nhiên thuận lợi cho mục tiêu an ninh quốc phòng Đồng thời một mặt khi bố trí các cơ sở kinh tế phải gắn với an ninh quốc phòng vững chắc Đặc biệt quan tâm các yếu tô an ninh quốc phòng trong khai thác sử dụng đất đai
vùng biên giới đất liền, vùng bờ biển và hải đảo
+ Với 3.260 km bờ biển và hơn 3.000 hải đảo, Việt Nam có thêm lục
địa và lãnh hải rộng lớn gấp nhiều lần diện tích đất liền Đề tiến ra biển phải
biết lợi dụng các yếu tố tự nhiên kết hợp với các yếu tố khác mà lịch sử dân
tộc ta đã trải qua cũng như những kinh nghiệm tiên tiến hiện thời của nhân loại Phải tiến tới xây dựng chiến lược khai thác sử dụng và quản lý chặt chẽ
hải đảo, thềm lục địa và lãnh hải dé vita tao ra kha năng phân bố lại dân cư
và phát triển kinh tế vừa tăng cường đảm bảo chủ quyền lãnh thổ và an ninh quốc gia
2.2 Mục tiêu cụ thể đến năm 2010:
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai cả nước đến năm 2010 nhằm đạt các mục tiêu sau:
- Đất nông nghiệp:9,9 - 10,0 triệu ha
- Đất lâm nghiệp : 16,2 triệu ha
Tỷ lệ so với diện tích tự nhiên: 49,3%
Trang 8- Đất chưa sử dụng và sông suối, núi đá: — 4,2 triệu ha
(Đất đô thị và đất khu dân cư nông thôn bao gồm cả đất nông nghiệp,
lâm nghiệp và chuyên dùng và đất chưa sử dụng nằm trong ranh giới)
3 Nội dung chủ yếu của đề án
3.1 Hiện trạng sử dụng đất đai
Năm 2000 đất đai cả nước được sử dụng như sau:
- Đất đã sử dụng: 22.897 ngàn ha, chiếm 69,54% diện tích tự nhiên;
+ Đất nông nghiệp: 9.345 ngàn ha, chiếm 28,38%;
+ Đất lâm nghiệp: 11.575 ngàn ha, chiếm 35,15%;
+ Đất chuyên dùng: 1.533 ngàn ha;
+ Đất ở đô thị: 72 ngàn ha;
+ Đất ở nông thôn: 371 ngànha;
- Đất chưa sử dụng và sông suối, núi đá: 10.027 ngàn ha, chiếm
30,46% diện tích tự nhiên
Từ năm 1990 đến nay, tuy quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá đã
gây sức ép lớn đối với đất đai nhưng diện tích đất nông nghiệp, đất lâm
nghiệp đều tăng, việc sử dụng đất chuyên dùng được quản lý tốt hơn
- Đất nông nghiệp tăng: 2.352.100 ha
Trong đó: + Đất trồng cây hàng năm tăng: 790.500 ha
(riêng đất trồng lúa tăng 159.000 ha)
+ Đất trồng cây lâu năm tăng: 1.136.800 ha
- Đất lâm nghiệp có rừng tăng: 2.180.200 ha
Trong đó: + Rừng tự nhiên tăng: 1.051.200 ha
Trang 9+ Rừng trồng tăng: 1.128.600 ha
- Đất chuyên dùng tăng: 560.600 ha, bình quân 1 năm tăng 56.000 ha (thời kỳ 1980 - 1990 đất chuyên dùng tăng 253.400 ha)
Nhận xót về hiện trạng sử dụng đất đai:
Thời kỳ 1990 - 2000 nhất là từ sau khi có Luật Đất đai với những
chính sách đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước ta, việc quản lý và sử dụng đất đai đã có những tiến bộ rõ rệt:
- Tuy quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá và xây dựng cơ sở hạ tầng đã gây sức ép lớn đối với đất đai nhưng do khai hoang, đây mạnh trồng rừng nên diện tích đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp đã không bị suy
giảm mạnh va bat đầu phục hồi, môi trường sinh thái được chú trọng và cải
thiện Việc quản lý và sử dụng đất chuyên dùng đã tốt hơn nên vẫn đáp ứng được mọi nhu cầu nhưng diện tích đất chuyên dùng hàng năm tăng ít hơn thời kỳ trước
- Trong 10 năm đất nông nghiệp tăng được 2.352.100 ha là một thành tựu to lớn, trong đó riêng đất trồng cây hàng năm tăng 790.500 ha, trong đó
có 301.400 ha đất trồng lúa nước là rất có ý nghĩa
- Cùng với việc tăng diện tích đã chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ nông nghiệp đã tăng được diện tích, tăng hệ số lần trồng, kết hợp với việc ứng dụng các kỹ thuật đã đưa năng suất lúa từ 31,9 tạ/ha (1990) lên 48,5 tạ/ha (2000) nên lương thực không những đủ ăn mà
còn dư thừa để xuất khẩu
Chính vì vậy đã bố trí hợp lý cây trồng vật nuôi, khắc phục sản xuất lương thực bằng mọi giá, khôi phục và phát triển nhiều vườn cây ăn trái, cây công nghiệp có giá trị cao, nuôi trồng thuỷ sản ở hầu hết các vùng của đất nước Đồng thời đã hạn chế việc sử dụng đất nông nghiệp sang các mục đích
sử dụng khác
Trang 10- Về đất lâm nghiệp có rừng đặc biệt là rừng tự nhiên đủ tiêu chuẩn
vẫn bị suy giảm về trữ lượng, chất lượng và đa dạng sinh học nhưng thời gian qua do đẩy mạnh khoanh nuôi tái sinh nên về diện tích đã từng bước được mở rộng
- Trong đất chưa sử dụng thì đất đồi núi có diện tích 7.699.383 ha, chiếm tới 89% diện tích đất chưa sử dụng Thực chất phần lớn loại đất này
đã từng được sử dụng nhưng không ôn định, chưa bền vững nên bị bỏ hoá trở lại thành đất hoang trọc Ngoài ra còn có 1.363.944 ha là núi đá trọc, sông suối
Trong 10 năm 1991 - 2000 đã đưa vào sử dụng mỗi năm khoảng 455,5 ngàn ha
Bên cạnh những ưu điểm trên còn những mặt tồn tại:
- Toàn quốc hiện có khoảng 100 triệu thửa đất do bị chia cắt nhỏ Đây
là một đặc thù quan trọng chí phối trong việc quản lý và sử đụng tải nguyên
đất ở nước ta, cần phải được tính tới trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông thôn và nông nghiệp
- Tiềm năng đất nông nghiệp còn nhưng chưa được khai thác do điều
kiện tự nhiên và khả năng đầu tư có hạn và suất đầu tư lớn
- Việc mắt đất nông nghiệp nhất là đất trồng lúa cho mục đích phát
triển công nghiệp, kết cấu ha tang va đô thị hoá còn là vấn đề gay cần trong quá trình hiện đại hoá, công nghiệp hoá đất nước từ nay đến những năm
2020 Do đó đòi hỏi phải có những biện pháp chính sách tích cực ngay ở nửa chặng đường đầu công nghiệp hoá đất nước thì mới chủ động được trong vân đề an ninh lương thực ở những chặng đường tiếp theo
- Rừng vẫn còn bị tàn phá trong khi phục hồi còn chậm nên đã ảnh
hưởng đến môi trường sinh thái.
Trang 11Ở những nơi còn nhiều đất thì mật độ dân số thưa, dân trí còn thấp,
tập quán canh tác lạc hậu, khó có thê day nhanh tốc độ và quản lý tốt đất rừng
Ở những nơi đất chật người đông thì lao động dưa thừa, trình độ dân
trí cao hơn, tập quán canh tác tiên tiến hơn, thì sức ép trên đất đai lại ngày cảng lớn
Do đó cần có những chính sách thoả đáng mới có thể giải quyết
những vấn đề không chỉ là lợi ích kinh tế mà còn là lịch sử xã hội và phong
tục tập quán của các dân tộc nhất là đồng bào ở vùng sâu, vùng xa
- Tuy đã đang hình thành với khoảng 67 khu công nghiệp tập trung nhưng vẫn còn bị động, chắp vá, sử dụng đất lãng phí do chưa có quy
hoạch đồng bộ Mặt khác do cơ sở hạ tầng yếu kém nên đã hạn chế thu hút
đầu tư phát triển công nghiệp tới các vùng đất ít thuận lợi và ít lấn vào đất nông nghiệp
Đất ở đô thị và đất ở khu dân cư nông thôn cũng còn nhiều mặt giải quyết không theo kịp yêu cầu:
Một bộ phận dân cư thiếu đất ở nhưng chưa có cơ chế phù hợp dé giải
quyết yêu cầu này trong điều kiện Nhà nước xoá bỏ bao cấp về nhà ở
Việc mở rộng các khu dân cư ở đô thị còn thiếu quy hoạch vững chắc
cả về kinh tế, kỹ thuật, cơ sở hạ tầng và chính sách đền bù tái định cư chưa
đồng bộ nên đã ảnh hưởng đến việc mở rộng đô thị và các khu công nghiệp,
để lại nhiều hậu quả khó khắc phục
Trong một thời gian dài việc quản lý và sử dụng đất của các tổ chức chưa được quản lý sử dụng chặt chẽ nên đã gây ra lãng phí và sử dụng không đúng mục đích
Nhiều nơi chưa có quy hoạch sử dụng đất đai trong đó đặc biệt là quy
hoạch các khu dân cư nông thôn nên dân cư sống phân tán, rải rác dọc theo
10
Trang 12đường giao thông, kênh rạch, bờ vùng, giữa cánh đồng hoặc rẻo cao gây khó
khăn cho việc xây dựng đường sá, điện nước, trường học, dịch vụ công
cộng, để nâng cao đời sống kinh tế và dân trí
- Quỹ đất dành cho các hoạt động văn hoá, thể dục, thể thao, vui chơi
giải trí, bị thu hẹp do quản lý đất đai lông lẻo nên đã bị lần chiếm sử dụng
vào mục đích khác
Về quản lý đất đai còn nhiều bất cập:
- Do nhiều đặc điểm của quá trình sử dụng trước đây, các thửa đất bị chia cắt quá nhỏ Toàn quốc hiện có khoảng 100 triệu thửa đất Đây là một
đặc thù quan trọng của hiện trạng sử dụng tài nguyên đất ở Việt Nam, có
liên quan tới quyết định cấu trúc hệ thống quản lý đất đai và việc hình thành
các chính sách đất dai dé thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trải qua một thời gian dài buông lỏng quản lý nên tài nguyên đất không được khai thác đầy đủ, sử dụng đất còn lãng phí, nguồn thu từ đất bị
thất thoát
Để quản lý chặt chẽ đất đai và có cơ sở giao cấp đất sử dụng hợp lý, tiết kiệm cần tiến hành lập quy hoạch sử dụng đất đai dựa trên cơ sở chiến
lược lâu dài về khai thác sử dụng và bảo vệ đất đai của cả nước gắn VỚI
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của từng thời kỳ
Thiếu tầm nhìn dài hạn về khai thác sử dụng đất đai dễ dẫn đến tình
trạng sử dụng nguồn tài nguyên này kém hiệu quả và gây lãng phí lớn cho lợi ích của toàn xã hội
Trước tiên những ngành quản lý và sử dụng nhiều đất cùng với các
cấp chính quyền cần rà soát lại thực trạng sử dụng dat đai để tiến hành lập quy hoạch sử đụng đất đai trên diện tích do mình quản lý và sử dụng
- Pháp luật đất đai cùng với các chính sách đất đai đã được hình thành
nhưng còn thiếu đồng bộ, chưa được phổ biến sâu rộng đề toàn dân tự giác
11
Trang 13thực hiện Còn thiếu các chính sách cụ thể và các văn bản pháp quy điều tiết các mỗi quan hệ đất đai ở cả khu vực nông thôn và thành thị trong cơ chế
kinh tế thị trường, thiếu quy định cụ thể về 5 quyền của người sử dụng đất
Xử lý hành chính các vi phạm pháp luật đất đai, quản lý và sử dụng đất chuyên dùng, đất công cộng còn lỏng lẻo, thiêu chặt chẽ trong khi bộ máy quân lý đất đai, nhà ở, xây dựng ở các cấp đặc biệt là cấp xã, phường, thị trần còn thiếu và yếu chưa đủ sức nhanh nhạy giải quyết kịp thời đã dẫn đến
tình trạng việc sử dụng đất tuỳ tiện, lắn chiếm, mua bán, chuyển nhượng đất
đai, nhà ở Có nơi diễn ra như một “thị trường ngầm” sôi động ở các thành
phó, thị trấn, thị tứ, hai bên đường các trục giao thông chính và âm thầm
diễn ra cả ở nông thôn làm cho một số nông dân lâm vào tình trạng “không
có ruộng” thuộc điện phải hỗ trợ xoá đói giảm nghèo
- Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhu cầu đất đai cho
xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển công nghiệp, đô thị là tất yếu và ngày tăng Trong khi cố gắng đáp ứng yêu cầu này, Chính phủ đã có chủ trương bảo vệ quỹ đất nông nghiệp, nhất là đất lúa, hạn chế việc sử dụng đất nông nghiệp vào mục đích khác để đảm bảo an ninh lương thực Tuy nhiên còn
thiếu các chính sách cụ thể và chính quyền các cấp còn lúng túng trong việc
tổ chức thực hiện đền bù, giải toả, tái định cư, tạo việc làm cho người lao
động ở những nơi phải chuyển đi, dành đất cho xây dựng hạ tầng, công
nghiệp, đô thị làm cho nhân dân không an tâm, cá biệt có những trường hợp
phát sinh mắt ỗn định an ninh, trật tự xã hội
- Trong việc thi hành Luật Đất đai, các ngành, các cấp chưa quan tâm đầy đủ gắn quy hoạch phát triển kinh tế xã hội với quy hoạch sử dụng đất đai nhất là đất ở vùng biên giới, hải đảo
Về điều động dân cư và lao động:
Trong thời kỳ trước năm 1990 các luồng di dân từ Bắc vào Nam là chủ yếu với số lượng dân số khá lớn nhưng đại bộ phận là theo kế hoạch
12