HỆ THỐNG TÀI CHÍNH VÀ ĐÁNH GIÁ SỰ ĐÓNG GÓP CỦA HTTC VÀO SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM Hệ thống tài chính là tổng thể của các bộ phận khác nhau trong một cơ cấu tài chính, mà ở đó các quan hệ tài chính hoạt động trên các lĩnh vực khác nhau nhưng có mối liên hệ tác động lẫn nhau theo những quy luật nhất định
Trang 1HỆ THỐNG TÀI CHÍNH VÀ SỰ PHÁT TRIỂN
Chuyên đề:
HỆ THỐNG TÀI CHÍNH
VÀ ĐÁNH GIÁ SỰ ĐÓNG GÓP CỦA HTTC VÀO SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM
6 Đinh Thị Thu Hiền
7 Nguyễn Phương Hoa
8 Vũ Thị Hợp
9 Nguyễn Thanh Hương
10 Nguyễn Đình Tăng
Trang 21.2 Cấu trúc :
HTTT bao gồm các tụ điểm vốn và bộ phận dẫn vốn, hoạt động nhờ các công cụ tài chính và
cơ sở hạ tầng tài chính.
1.2.1 Các tụ điểm vốn
-Tài chính Doanh nghiệp: Là nơi nguồn tài chính xuất hiện và cũng là nơi thu hút trở lại
quan trọng các nguồn tài chính quan trọng trong nền kinh tế Nó được gọi là những tế bào có khảnăng tái tạo nguồn tài chính cho xã hội
-Ngân sách nhà nước: có vai trò to lớn trong việc điều tiết vĩ mô trong nền kinh tế xã hội
Do đó NSNN có các nguồn vốn được tập trung từ các tụ điểm vốn thông qua các chính sách thu thích hợp (chủ yếu là từ thuế) Việc cấp phát NSNN cho các mục đích khác nhau sẽ làm tăng nguồn vốn ở các tụ điểm nhận vốn làm nảy sinh mối quan hệ kinh tế giữa nhà nước với các tổ chức kinh tế xã hội khác
-Tài chính Dân cư và Tổ chức xã hội: có tổng quy mô nguồn vốn tiềm tàng rất lớn, phân bố
rải rác, không đồng đều trong hàng triệu tế bào nhỏ của nền kinh tế là các gia đình và các tổ chức
xã hội
-TC Đối ngoại: Hệ thống TC là hệ thống mở với những quan hệ TC đối ngọai của xu hướng
quốc tế hóa Đây là bộ phận có nguồn vốn dồi dào, không tập trung vào một tụ điểm nhất định
mà phân tán, đan xen vào các mối quan hệ TC khác Nó được coi là 1 bộ phận có tính chất tươngđối độc lập của hệ thống TC
Thị trường tài chính
và Các tổ chức tài chính trung gian
Tài chính
Doanh nghiệpDoanh nghiệpTài chính
Ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước
Trang 31.2.2 Bộ phận dẫn vốn :bao gồm thị trường Tài chính và các tổ chức Tài chính trung gian
a Thị trường tài chính (TTTC): Là kênh dẫn vốn từ người cho vay đến người đi vay thông
qua họat động Tài chính trực tiếp.Chính phủ điều chỉnh TTTC thông qua cơ sở hạ tầng tài chính
và việc kiểm soát các công cụ tài chính
Có 3 cách phân chia TTTC:
-Thị trường Nợ và Thị trường Vốn cổ phần
-Thị trường cấp 1 và Thị trường cấp 2
-Thị trường tiền tệ và Thị trường vốn
Trong bài này sẽ nghiên cứu TTTC theo 2 khu vực :
Thị trưòng tiền tệ: thị trường tiền tệ hoạt động chủ yếu là cho vay vốn ngắn hạn
thị trưòng vốn: Cho vay vốn dài hạn
b Các tổ chức tài chính trung gian:
Các trung gian tài chính hiện nay ở Việt Nam được chia thành :
b.1-Bảo hiểm: Bao gồm:
BH kinh doanh : BH tài sản, BH con người và các nghiệp vụ BH khác
- Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng (CTY tài chính, cho thuê tài chính )
- Các tổ chức hợp tác (quĩ tín dụng, quỹ đầu tư…)
Các tổ chức tài chính trung gian làm cầu nối gián tiếp giữa những người có khả năng cung ứng tài chính và những người có nhu cầu sử dụng tài chính Nó đáp ứng được những nhu cầu mà TTTC không giải quyết được hoặc giải quyết không có hiệu quả
Các công cụ của thị trường vốn là công cụ nợ và công cụ cổ phần với kì hạn thanh toán trên một năm nên dao động giá rộng hơn nhiều so với công cụ tiền tệ và được coi là những đầu tư thực sự có rủi ro Một số loại công cụ của thị trường vốn chủ yếu: cổ phiếu, vay thế chấp, trái khoán, chứng khoán, vay thương mại và vay tiêu dùng…
Một loại công cụ mới được hình thành và đang dần trở nên phổ biến là công cụ tài chính pháisinh: như công cụ Hợp đồng tương lai, Quyền chọn, Hoán đổi Swap…
1.2.4 Cơ sở hạ tầng Tài Chính: Bao gồm : hệ thống pháp luật, nghị định, thông tư, cơ
chế… của chính phủ dùng để điều chỉnh hoạt động của hệ thống Tài Chính trong một thời kì
Trang 4tương đối lâu dài Những thay đổi mang tính chất bước ngoặt trong hệ thống tài chính hầu như đều bắt nguồn từ những thay đổi lớn của cơ sở hạ tầng tài chính Nó được định hướng
và khái quát trong chính sách TC quốc gia Cấu trúc, mục tiêu, đặc điểm, phương tiện thực hiện
và phạm vi tác động của mỗi chính sách TC quốc gia phụ thuộc vào điều kiện, tình hình của từngnước
1.3 Hoạt động và Vai trò của Hệ Thống Tài chính:
1.3.2 Vai trò của hệ thống tài chính:
- Thứ nhất, cung cấp thông tin và tác động đến việc phân bổ vốn đầu tư
Các trung gian tài chính như ngân hàng, công ty môi giới chứng khoán, quỹ đầu tư có thể cung cấp các thông tin và cơ hội đầu tư tốt hơn so với các chủ thể cá nhân trong nền kinh tế, do đó các
cá nhân có thể truy nhập các thông tin từ các trung gian tài chính và lựa chọn được các cơ hội
đầu tư có hiệu quả Như vậy, với khả năng cung cấp các thông tin và cơ hội đầu tư tốt hơn, các trung gian tài chính đã làm cho việc phân bổ và sử dụng vốn trong nền kinh tế trở nên hiệu quả, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
- Thứ hai, giám sát và tác động đến sự điều hành của các hãng:
Ở mức độ nào đó, các cổ đông và các tổ chức tín dụng giám sát và thuyết phục những người điều hành của các hãng tối đa hoá lợi nhuận, điều này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực của các hãng, tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động kinh doanh và qua
đó tác động đến tăng trưởng kinh tế
- Thứ ba, giảm thiểu và phân phối rủi ro.
Các giao dịch tài chính luôn luôn ẩn chứa nhiều rủi ro, như rủi ro thanh khoản,rủi ro lãi suất,rủi
ro tỷ giá….Song chúng ta đều phải chấp nhận những rủi ro rất nhạy cảm và phổ biến đó.Nhờ có
Hệ thống tài chính, các trung gian tài chính và các thị trường Tài chính tạo ra các phương tiện và cách thức cho việc buôn bán, tập trung và đa dạng hoá các rủi ro Đồng thời các thị trường vốn cũng góp phần chuyển các công cụ tài chính ngắn hạn thành các khoản đầu tư dài hạn Như vậy,rủi ro được chuyển đổi và phân phối giữa một số luợng lớn những người tiêt kiệm và đầu tư dưới bằng nhiều hình thức và bằng nhiều công cụ tài chính Cũng bằng cách
này, hệ thống tài chính càng làm thay đổi việc phân bố nguồn lực và tỷ lệ tiết kiệm của nền kinh
tế qua đó tác động đến tăng trưởng kinh tế dài hạn
Trang 5- Thứ tư, huy động tiết kiệm, làm tăng dự trữ và khả năng đầu tư của nền kinh tế.
Hệ thống tài chính thu hút được tiết kiệm tư nhân có hiệu quả có khả năng làm tăng
tiết kiệm, tập trung các nguồn vốn và làm bùng nổ tính kinh tế của quy mô, giúp nâng cao
hiệu quả chung cho lao động, cải thiện mức sống và cơ hội đầu tư của người dân ngay cả khi khảnăng thực tế của họ chưa cho phép
Theo thống kê, chỉ riêng hệ thống Ngân hàng đã huy động 1 lượng vốn lớn cho nền kinh tế, ước tính hàng năm chiếm khoảng 16-18% GDP, gần 50% vốn đầu tư toàn xã hội,
Tổng số vốn giao dịch trên thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2004 đạt gần 27.000 tỷ đồng, bằng 4% GDP Trong đó, giá trị cổ phiếu bằng 3.195 tỷ đồng, chiếm 12% tổng giá trị thị trường, bằng 0,5% GDP
- Thứ năm, làm cho các giao dịch trong nền kinh tế trở nên dễ dàng.
Càng chuyên môn hoá trong sản xuất kinh doanh sẽ càng cần nhiều giao dịch, tuy nhiên các chi
phí giao dịch thường cao Hoạt động của hệ thống tài chính sẽ giúp giảm thiểu chi phí mòn giầy Nếu các quy định và thoả thuận trong lĩnh vực tài chính làm cho các chi phí giao dịch trở nên thấp hơn thì sẽ khuyến khích việc chuyên môn hoá và do vậy sẽ nâng cao năng suất của sản xuất kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Phần II: MỘT SỐ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG TÀI CHÍNH
2.1 Hệ thống tài chính và tăng trưởng kinh tế:
Hệ thống tài chính hoạt động hiệu quả dẫn tới phát triển tài chính theo chiều sâu và sàng lọc các dự án có hiệu quả, từ đó tăng tiết kiệm và đầu tư , tăng năng suất. > tăng trưởng KTế.
Phát triển tài chính dẫn tới tăng năng suất : Qua quá trình thẩm định, giám sát và sàng lọc, lựa chọn các đối tượng có nhu cầu sử dụng vốn, các DN kinh doanh hiệu quả sẽ thu hút đc vốn và phát triển hơn, các DN kém hiệu quả sẽ không thu hút đc nguồn vốn và thất bại
Điều này làm nâng cao hiệu quả phân bổ vốn, dẫn tới thúc đẩy việc tăng năng suất của các đối tượng cần vay vốn và cả bản thân các tổ chức trung gian cũng như các thị trường tài chính
Trang 6Phát triển tài chính và giảm nghèo:
Phát triển tài chính có thể cải thiện điều kiện sống của người nghèo ngay cả khi họ chưa có đủ điều kiện,thông qua chính sách hỗ trợ, trợ cấp mà thực hiên vai trò hỗ trợ tăng
trưởng.Þ Tăng trưởng kinh tế do tài chính thúc đẩy có lợi cho người nghèo
Các thước đo về mức độ phát triển tài chính có tương quan đồng biến (mặc dù yếu) với tỷ phần của nhóm 20% nghèo nhất trong phân phối thu nhập
2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá
Sự đóng góp cùa HTTC VN đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế được thể hiện thông qua các chỉ tiêu: tăng trưởng GDP, hệ số ICOR, tỷ lệ lạm phát, tăng trưởng tín dụng và độ sâu tài chính
2.2.1 Tốc độ tăng trưởng GDP
GDP bình quân trong giai đoạn 2006-2010 chỉ đạt 7%, thấp hơn khá nhiều so với mục tiêu 8% mà kế hoạch đề ra
7,5- Giai đoạn 2006 – 2007: GDP tăng khá cao lần lượt đạt 8,17% và 8,48% trong hai
năm Đặc biệt mức tăng trưởng 8,48% năm 2007 là mức tăng cao nhất từ khủng hoảng tài chínhchâu Á 1997 Đây được đánh giá là giai đoạn tăng trưởng nóng của nền kinh tế Việt Nam, nhưngcũng đặt ra cho chính phủ thách thức làm thế nào để giữ cho nền kinh tế không tăng trưởng quánóng vì sẽ phải đối mặt với hệ lụy đẩy lạm phát lên cao
Nguyên nhân nổi bật khiến mức tăng GDP giai đoạn này tăng cao vậy là sự kiện Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO cùng với việc Mỹ thông qua Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn với Việt Nam Nhờ gia nhập WTO, giúp hình thành môi trường kinh
doanh lành mạnh, góp phần thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Gia nhập WTO tác động lớn đến lĩnh vực xuất nhập khẩu, dịch vụ và đầu tư Năm 2007,
kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng 21,9% so với năm 2006 và diện mặt hàng xuất khẩucũng đa dạng hơn Hàng dệt may và giày dép trở thành ngành sản xuất có kim ngạch xuất khẩulớn nhất Ngoài ra, việc Hoa Kỳ xóa bỏ hạn ngạch đối hàng xuất khẩu dệt may của Việt Nam đãlàm tăng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này từ 5,83 tỷ USD năm 2006 lên 7,75 tỷ USD năm
2007 và là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu cao thứ 2 sau dầu thô Năm 2007, xuất khẩu một số
Trang 7mặt hàng nói riêng và xuất khẩu không tính dầu thô nói chung có tốc độ tăng trưởng cao hơnnăm 2006 nhờ tiếp cận thị trường thuận lợi hơn sau khi Việt Nam trở thành thành viên WTO
Dòng FDI tăng đột biến trong hai năm 2006, 2007 phản ánh niềm tin của các nhà đầu tư nước ngoài vào tiến trình đổi mới cũng như vào triển vọng và tiềm năng phát triền kinh tế của Việt Nam sau khi gia nhập WTO Cam kết về cải cách kinh tế trong nước trong Nghị định
thư gia nhập đã góp phần tạo nên làn sóng đầu tư mới vào Việt Nam Tỷ trọng khu vực doanhnghiệp có vốn FDI trong tổng kim ngạch xuất khẩu (không tính xuất khẩu dầu thô) đã tăng từ22,2% năm 2000 lên 36,9% năm 2006 và 39,7% năm 2007 Riêng trong tổng vốn FDI đăng kýmới năm 2007, nhóm ngành công nghiệp- xây dựng chiếm khoảng 9,0 tỷ USD (42,25%) vànhóm ngành dịch vụ khoảng 8,5 tỷ USD (39,9%) Mức tăng trưởng đột biến 8,5% năm 2007 có
sự đóng góp không nhỏ của các kết quả tích cực trong lĩnh vự thương mại và đầu tư này
Giai đoạn 2008-2010: năm 2007 kinh tế Việt Nam tăng trưởng nóng là vậy, tuy
nhiên do tác động của lạm phát và cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu sau đó, GDP chỉ đạt 6,23%
và 5,32% và 6,78% lần lượt trong 3 năm 2008, 2009 và 2010
Trước tình hình lạm phát tăng quá cao năm 2007, sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn… chỉnh phủ đã thực hiện các chính sách để chuyển mục tiêu ưu tiên tăng trưởng cao sang ưu tiên kiềm chế lạm phát như: chính sách tiền tệ thắt chặt, chính sách tài khóa thắt chặt…
cùng với những biện pháp hỗ trợ tăng trưởng GDP như: thực hiện các giải pháp tháo gỡ khókhăn cho kinh doanh, thực hiện các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu, thực hiện tốt các giải phápđồng bộ khác như hoàn thiện thể chế, tăng cường quản lý và áp dụng các biện pháp thích hợp đểphát triển lành mạnh thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản
Việc thực hiện một loạt các biện pháp trên đã đạt được mục tiêu là kiềm chế lạm phát trong giai
đoạn này hơn so với năm 2007 Tuy nhiên cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt nguồn từ
Mỹ, , đã tác động đến hầu hết các nền kinh tế trên thế giới trong đó có Việt Nam Hơn nữa trong giai đoạn này Việt Nam còn chịu tác động của lạm phát dẫn đến việc vừa phải kiềm chế lạm phát vừa phải chống đỡ để thoát khỏi khủng hoảng.
sức tàn phá của cuộc khủng hoảng ở hầu hết các nước thể hiện đầu tiên và rõ nét nhất ở Việt Nam hoạt động xuất khẩu lại là lĩnh vực chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất Đây là hoạt động đóng góp khoảng 60% vào tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam Kim ngạch xuất
khẩu năm 2008 đạt gần 63 tỷ USD, vẫn tăng trên 29,5% so với năm 2007 là do Việt Nam bị ảnhhưởng chậm hơn một nhịp so với các nền kinh tế khác trên thế giới Kim ngạch xuất khẩu năm
2009 đạt 56,5 tỷ USD giảm 9,9% so với năm 2008 kéo mức tăng trưởng GDP năm 2009 giảmcòn 5,32% so với mức 6,23% năm 2008 Mặc dù đến cuối năm 2009 nền kinh tế thế giới nóichung và kinh tế Việt Nam nói riêng đã cơ bản thoát khỏi khủng hoảng nhưng vẫn chưa khắcphục được hậu quả nặng nề của cuộc khủng hoảng này để lại, nên tốc độ tăng trưởng GDP năm
2010 cũng chỉ đạt được mức 6,78% thấp hơn nhiều so với năm 2007
Đánh giá tốc độ tăng trưởng GDP ở Việt Nam
Trang 8Theo thống kê của Trading Economics, Việt Nam hiện có tốc độ lạm phát cao thứ 2 thế giới sauVenezuela và có tốc độ tăng trưởng cao thứ 16 trên thế giới, sau một lọat các cỗ máy kinh tếquen thuộc như Singapore, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia…
Với số liệu được cập nhật tới cuối tháng 06 năm nay, Trading Economics cung cấp thông tin chitiết về quy mô GDP, lạm phát, lãi suất, thất nghiệp, tăng trưởng GDP, tỷ lệ nợ công trên GDP, tỷ
lệ thâm hụt ngân sách trên GDP… cho khoảng 80 nền kinh tế lớn nhất trên thế giới Việt Namcũng nằm trong danh sách này
Nguồn: Trading Economics
Về tốc độ tăng trưởng kinh tế, Việt Nam chỉ đứng thứ 16 với mức tăng trưởng 5,67% so với cùng
kỳ năm trước Tốc độ tăng trưởng GDP ngoạn mục nhất do Singapore nắm giữ với con số22,50% Mặc dù tăng trưởng với hai con số như vậy, lạm phát ở Singapore chỉ có 4,5% TrungQuốc giữ vị trí thứ 2 về tăng trưởng GDP với con số 9,5% trong khi lạm phát ở nước này đang ởmức 6,4%
Trong nhiều năm qua, mục tiêu tăng trưởng kinh tế vẫn được coi là mục tiêu số một của Việt Nam
Nhìn chung, đánh giá về mặt lượng, cho đến nay, nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng với mức độ khá cao và đạt được những thành tựu đáng tự hào về tăng GDP trên bình quân đầu người, giảm
tỷ lệ nghèo đói, cải thiện chất lượng cuộc sống, tăng năng suất lao động, ổn định kinh tế vĩ mô, đổi mới thể chế, Tuy nhiên, nếu nhìn nhận một cách tổng quát, khách quan thì chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam còn chưa tốt, thể hiện cụ thể như sau:
- Hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào cho tăng trưởng kinh tế còn thấp Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam hiện nay vẫn chủ yếu nghiêng về chiều rộng hơn là chiều sâu, nghĩa là tỷ trọng tác động của 2 nhân tố vốn và lao động gấp nhiều lần tác động của khoa học - công nghệ tới tăng
Trang 9trưởng Ngay cả khi phát triển theo chiều rộng, yếu tố chủ yếu đóng góp vào tăng trưởng GDP lại
là vốn, mà Việt Nam bị thiếu vốn, đang phải đi vay rất nhiều (vừa vay, vừa hoàn trả vốn, với số lãi mà ngân sách phải trả hằng năm chiếm gần 15% tổng chi ngân sách) Trong khi đó, việc sử dụng vốn đầu tư đem lại hiệu quả kinh tế thấp thể hiện rõ qua sự tăng nhanh của hệ số ICOR (đo hiệu quả sử dụng vốn đầu tư)
Lao động là yếu tố dồi dào nhất của Việt Nam, hiện lại đang có xu hướng dư thừa bởi số người đến độ tuổi bổ sung vào đội quân lao động hằng năm vẫn khá lớn (hơn 1 triệu người) Tuy nhiên,yếu tố này đã không được sử dụng hiệu quả để tạo ra tăng trưởng GDP lớn hơn Nguồn nhân lực của nước ta đã không được sử dụng hết, thậm chí lãng phí Cụ thể là:
+ Tỷ lệ thất nghiệp tuy có giảm nhưng vẫn ở mức cao
+ Tỷ lệ lao động được đào tạo (tốt nghiệp đại học, cao đẳng và dạy nghề) không có việc làm hoặc việc làm không đúng chuyên môn còn rất lớn, gây lãng phí rất nhiều về chi phí đào tạo của gia đình và xã hội, dẫn đến cơ cấu lao động mất cân đối, thừa thầy thiếu thợ Nhiều lao động trẻ được đào tạo, có trình độ kỹ thuật, có sức khỏe vẫn bị thất nghiệp Ngoài ra, chương trình đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động Học sinh học lý thuyết nhiều, nhưng khảnăng vận dụng thực tiễn rất yếu Học sinh chuyên các ngành khoa học cơ bản không được khuyến khích nên thiếu hụt nghiêm trọng Như vậy, nguồn lực năng động nhất, cũng là lợi thế phát triển quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững của Việt Nam đang bị lãng phí rất lớn, khó phục vụ hiệu quả cho tăng trưởng kinh tế Vì thế, năng suất lao động của Việt Nam hiện rất thấp
so với các nước trong khu vực
- Chất lượng tăng trưởng kinh tế còn thấp thể hiện cả ở yếu tố đầu ra Trong cơ chế thị trường, đầu ra - tiêu thụ sản phẩm - có ý nghĩa quyết định quá trình tái sản xuất xã hội Đầu ra quan trọngnhất trong nền kinh tế Việt Nam thời kỳ đổi mới là xuất khẩu hàng hóa Mặc dù xuất khẩu của Việt Nam có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, chiếm tới 50% GDP của cả nước (cao thứ 6 trongkhu vực ASEAN, thứ 9 ở châu Á và thứ 17 trên thế giới), nhưng cơ cấu xuất khẩu của chúng ta đang đối mặt với nhiều vấn đề Hàng nguyên liệu, hàng thô, hàng sơ chế, hàng gia công hiện vẫn chiếm tỷ trọng khá cao, do đó khả năng thu ngoại tệ chưa khai thác hết Trong tổng kim ngạch xuất khẩu, kim ngạch của các mặt hàng này chiếm tới 3/4, chủ yếu là do sự tăng nhanh về lượng của các mặt hàng than đá, dầu thô, cà phê, hạt tiêu, điều, chè và sự tăng nhanh về giá của các mặthàng dầu thô, than đá, gạo, cao su, hạt điều, lạc,
Trong khi đó, vài năm gần đây, kim ngạch nhập khẩu lẫn tỷ lệ nhập siêu tăng nhanh Năm 2007 thâm hụt cán cân thương mại đã lên đến trên 10 tỉ USD, tăng hơn 140% so với cùng kỳ năm trước Điều đáng lưu ý là, nhập siêu tập trung chủ yếu vào khu vực kinh tế trong nước, chứng tỏ Việt Nam chưa tận dụng được thời cơ, chậm khắc phục thách thức do cắt giảm thuế nhập khẩu theo lộ trình hội nhập đã cam kết Bên cạnh đó, nhiều mặt hàng của chúng ta chưa có thương hiệu riêng hoặc phải dùng thương hiệu của nước khác khi xuất khẩu, nên không tạo ra được giá
cả cạnh tranh với hàng hóa cùng loại của các nước trong khu vực và trên thế giới
+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm và lạc hậu Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn chủ yếu tập trung ở một số ngành và sản phẩm truyền thống, có công nghệ không cao như dệt may, thủy
Trang 10sản, nông sản chưa qua chế biến, Trong những năm gần đây, tuy tăng trưởng kinh tế nhanh hơnnhững năm 90, nhưng tỷ trọng của ngành công nghiệp chế biến trong GDP còn thấp Công nghiệp khai thác vẫn chiếm một tỷ trọng khá ổn định trong GDP Chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp chậm là một yếu điểm của Việt Nam so với một số nước trong khu vực, nhất là so với Trung Quốc - nước có xuất phát điểm và thời gian bắt đầu mở cửa tương đối gần với Việt Nam Nếu nước ta tiếp tục mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào những lợi thế
so sánh tĩnh (nguồn tài nguyên thô, lao động rẻ chưa có kỹ năng) như hiện nay, thì khó có thể duy trì được tăng trưởng cao trong dài hạn, nhất là trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng
+ Chênh lệch giàu nghèo có xu hướng gia tăng Mặc dù Việt Nam đạt nhiều thành công trong công tác chống đói nghèo, nhưng tỷ lệ nghèo đói của Việt Nam ở các vùng Tây Nguyên, vùng núi phía Bắc và vùng duyên hải Bắc Trung Bộ vẫn còn cao Ngoài ra, khoảng cách giàu nghèo ngày càng doãng rộng đồng thời với quá trình giảm nghèo
+ Tài nguyên môi trường chưa được khai thác hiệu quả, ô nhiễm môi trường gia tăng Đến nay, đầu tư vào các nguồn tài nguyên, nhất là tài nguyên rừng đang được Chính phủ quan tâm thực hiện trong các chương trình mục tiêu quốc gia, đặc biệt là Chương trình trồng 5 triệu ha rừng Tuy nhiên, trong thời kỳ 10 năm (1990 - 2000), diện tích rừng trồng mới tăng trung bình
0,5%/năm, nhưng tỷ lệ diện tích rừng bị cháy và phá rừng cũng rất cao, tập trung ở một số tỉnh nghèo, sản xuất nông nghiệp dựa chủ yếu vào tài nguyên rừng như Lai Châu, Quảng Trị, Hiệu quả sử dụng năng lượng đã tăng lên đáng kể, nhưng vẫn còn thấp Lượng đi-ô-xít cac-bon thải ra tính trên đầu người tăng gấp đôi trong thời kỳ đổi mới Tại một số thành phố và trung tâm công nghiệp, ô nhiễm môi trường nước, không khí và chất thải công nghiệp đã vượt quá mức cho phép Vấn đề khai thác tài nguyên, đầu tư vào tài sản môi trường và vấn đề ô nhiễm môi trường đang đe dọa sự phát triển bền vững của Việt Nam
+ Năng lực cạnh tranh quốc gia thấp và khoảng cách tụt hậu so với các nước trong khu vực có xuhướng tăng Việt Nam hiện đang ở trong tình trạng năng lực cạnh tranh thấp và có xu hướng tụt hạng so với thời kỳ trước năm 1996 Vào năm 2003, Việt Nam đứng thứ 60 trên thế giới về năng lực cạnh tranh, tăng 5 bậc so với năm 2002, nhưng giảm 7 bậc so với thứ hạng 53 của năm 2000
và giảm 21 bậc so với thứ hạng năm 1998 Năm 2006, Việt Nam xếp thứ 77/125 quốc gia, tụt 3 hạng so với năm 2005 Xét theo từng tiêu chí, tình hình cụ thể như sau: thể chế kinh tế xếp thứ 74; kết cấu hạ tầng xếp thứ 83; kinh tế vĩ mô xếp thứ 53; giáo dục phổ thông và y tế xếp thứ 56; giáo dục đại học xếp thứ 90; hiệu quả của cơ chế thị trường xếp thứ 73; công nghệ xếp thứ 85 Nếu so sánh năng lực cạnh tranh của Việt Nam với một số nước ASEAN, thì Xin-ga-po xếp thứ
26, Thái Lan xếp thứ 35, In-đô-nê-xi-a xếp thứ 50, Phi-lip-pin xếp thứ 71, Cam-pu-chia xếp thứ
103 Như vậy, Việt Nam chỉ xếp trên Cam-pu-chia Các nước Lào, Bru-nây, Mi-an-ma chưa được xếp hạng về năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh thấp và có xu hướng tụt bậc này cho thấy, Việt Nam đang đứng trước rất nhiều nguy cơ có thể bị tụt hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới./
2.2.2 Hệ số ICOR
Trang 11- Khái niệm: ICOR là một chỉ số cho biết muốn có thêm một đơn vị sản lượng trong một
thời kỳ nhất định cần phải bỏ ra thêm bao nhiêu đơn vị vốn đầu tư trong kỳ đó
- Cách tính: Hệ số ICOR phản ánh quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và đầu tư
Hệ số ICOR (k) được xác định theo công thức:
k = DK/DYTrong đó:
- DK là mức thay đổi vốn sản xuất: DK = Kt – Kt-1
- DY là mức thay đổi về kết quả sản xuất: DY = Yt – Yt-1,
- t chỉ năm nghiên cứu và t - 1 chỉ năm nghiên cứu liền kề trước đó
- Phân tích chỉ tiêu hệ số ICOR của Việt Nam:
Đầu tư đóng vai trò hết sức quan trọng và không thể thiếu trong một quốc gia, đặc biệt đối vớicác nước đang phát triển như Việt Nam Giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ vậnđộng và chuyển hoá Mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng thường theo chiều thuận, nghĩa làđầu tư lớn thì tăng trưởng cao Tuy nhiên cũng có những trường hợp diễn biến theo chiềungược lại, đầu tư lớn mà không hiệu quả, hoặc lỗ nhiều Có những trường hợp đầu tư chưa đemlại hiệu quả ngay như đầu tư vào các dự án trung và dài hạn, đầu tư vào cơ sở hạ tầng
- Các chuyên gia vẫn thường sử dụng hệ số ICOR để đo lường hiệu quả đầu tư Cách tínhđơn giản nhất của hệ số ICOR là lấy tỷ lệ vốn đầu tư chia cho tăng trưởng GDP Qua phép tínhnày, chúng ta biết được, để tăng 1 đồng GDP thì cần phải đầu tư bao nhiêu đồng
- Hệ số ICOR Việt Nam:
(Nguồn: TCTK & Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư )
Hệ số ICOR của Việt Nam tăng đều từ 3,5 trong thời kỳ 1991-1995 lên đến 7,14 lần trong hainăm 2009 – 2010 Dù đầu tư cao như vậy nhưng tốc độ tăng trưởng chỉ ở ngưỡng 6 – 8,5%.ICOR càng cao đồng nghĩa với hiệu quả đầu tư trong nền kinh tế thấp Chất lượng tăng trưởngthấp kéo dài là tiền đề gây nên lạm phát, khủng hoảng và suy thoái kinh tế
- Chỉ số ICOR của Việt Nam so với các nước trong khu vực:
Trang 12(Nguồn: Tính toán từ số liệu thống kê của IMF và World Bank)
- So với tỉ lệ 2,7 của Đài Loan trong thời kỳ 1961-1980, 3 là của Hàn Quốc trong thời kỳ1961- 1980, của Indonesia trong thời kỳ 1981-1995 là 3,7 và của Trung Quốc trong giai đoạn2000-2008 là 4, có thể thấy hệ số ICOR của VN cao hơn so với các nước trong khu vực, đồngthời tạo một khoảng cách rất xa so với khuyến cáo của NH thế giới về hệ số ICOR “an toàn” đốivới một nước đang phát triển là 3.0
- ICOR xác định mức độ sử dụng vốn trong nền kinh tế Những quốc gia thiết bị máy móccho nền công nghệ tân tiến sử dụng nhiều vốn thì ICOR trong giai đoạn đầu tư cao Những nước
sử dụng nhiều lao động không cần nhiều vốn như Việt Nam thì ICOR thấp
- Đầu tư khu vực nhà nước hiệu quả thấp
(Nguồn: TTTK & Bộ kế hoạch và đầu tư )
- Từ 2006-2010 trung bình hàng năm đầu tư công chiếm 43,3% vốn đầu tư toàn xã hội nhưngchỉ đóng góp được 35,81% GDP, trong khi khu vực kinh tế ngoài nhà nước tạo ra được 46,21%GDP nhưng đầu tư chỉ với tỉ lệ 37,1% mỗi năm Hệ số ICOR của Việt Nam tuy đã cao nhưng hệ
số này ở khu vực kinh tế nhà nước cao gấp rưỡi hệ số ICOR của cả nước Nếu hệ số ICOR trongnăm 2009 của Việt Nam là 8 thì hệ số của khu vực kinh tế nhà nước là 12.2
Trang 13- Đầu tư còn dàn trải, thi công lại kéo dài, nhiều công trình dở dang Ngoài lý do trên, tìnhtrạng thi công kéo dài còn do các khâu qui hoạch, đấu thầu làm chưa tốt, khâu đền bù, giải phóngmặt bằng còn kéo dài Kết quả vốn đầu tư thì lớn, nhưng tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh
tế thì ít
- Tình trạng thất thoát trong đầu tư còn lớn, nên cùng một lượng vốn đầu tư, nhưng số tiềntrực tiếp vào công trình ít hơn, ảnh hưởng đến khối lượng và chất lượng công trình, vì thế màkinh tế cũng tăng trưởng chậm
Hiệu quả đầu tư của khu vực FDI thấp
- Lâu nay hầu hết các nhà kinh tế đều nói đến thành phần kinh tế nhà nước hiệu quả kémnhất, nhưng qua tính toán từ số liệu của Tổng cục Thống kê cập nhật mới nhất (tháng 6-2011)cho thấy khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mới là khu vực hiệu quả kém nhất (xembảng 2)
2.2.2 Hệ số CPI và Tỷ lệ lạm phát
- Khái niệm: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là chỉ số tính theo phần trăm để phản ánh mức thay đổi
tương đối của giá hàng tiêu dùng theo thời gian Sở dĩ chỉ là thay đổi tương đối vì chỉ số này chỉdựa vào một giỏ hàng hóa đại diện cho toàn bộ hàng tiêu dùng
- Cách tính: Lựa chọn thời kỳ gốc để là m cơ sở so sánh rồi tính chỉ số giá tiêu dùng công thức:
- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)/Lạm phát ở Việt Nam
Ở nước ta, CPI là chỉ tiêu phổ biến để phản ánh biến động về giá cả chung qua thời gian, cũng là
để đánh giá tỷ lệ lạm phát Lạm phát là một trong những chỉ báo vĩ mô quan trọng nhất và đượcthường xuyên sử dụng trong các phân tích kinh tế
Theo thống kê của Tổng cục Thống kê, nhìn chung lạm phát của nước ta từ 2004 đến nay luôn ởmức khá cao:
Giai đoạn 1 (từ trước cho đến nửa đầu năm 2007): Chính sách tiền tệ được nới lỏng quá mức
khiến cung tiền trong lưu thông tăng vọt Đồng thời chính sách tài khoá cũng mở rộng theo Tuy
CPIt= Chi phí để mua giỏ hàng hoá thời kỳ t x100
Chi phí để mua giỏ hàng hoá kỳ cơ sở
Trang 14nhiên, tình trạng nhập khẩu lạm phát và hiệu quả đầu tư thấp trở nên rất rõ trong thời kỳ này, chứng tỏ nền kinh tế không hấp thụ được nguồn cung tiền lớn và một phần đáng kể nguồn vốn được chuyển sang đầu tư vào các lĩnh vực không sản xuất và tiêu dùng
(từ nửa cuối 2007 đến nửa đầu 2008) là giai đoạn thắt chặt tiền tệ Biện pháp chính sách của các
cơ quan quản lý là kiểm soát lạm phát thông qua việc điều hành và kiểm soát tăng tổng phươngtiện thanh toán; tín hiệu rõ nhất cho chính sách này là việc nâng lãi suất cơ bản lên 14%/năm
Tuy nhiên, trong khi chính sách tiền tệ được thắt chặt thì hoạt động tài khoá vẫn không có dấu hiệu co lại, thậm chí tiếp tục tăng khiến cho áp lực lạm phát và lãi suất không giảm đi.
Do vậy, xu hướng leo thang của lạm phát vẫn tiếp tục và đã trở thành đỉnh điểm tới gần 23% chonăm 2008 - mức kỷ lục về lạm phát trong nền kinh tế trong nhiều năm qua
Giai đoạn 2 (từ nửa cuối 2008 đến cuối năm 2009): chính sách nới lỏng trở lại cả tiền tệ và tài
khoá Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, lãi suất cơ bản đã được giảm xuống một nửa (còn7%/năm từ đầu 2009) và Chính phủ chủ trương thực hiện 3 gói kích cầu: (i) Hỗ trợ 4% lãi suấtcho các khoản vay sản xuất và lưu thông hàng hoá, (ii) Hỗ trợ 4% lãi suất cho các khoản vay đầu
tư mới cho phát triển sản xuất kinh doanh, cơ sở hạ tầng; (iii) Hỗ trợ 100% lãi suất cho các
khoản vay mua sắm máy móc, thiết bị cơ khí phục vụ sản xuất và chế biến nông nghiệp Lạm phát năm 2009 đã được khống chế và giảm mạnh xuống chỉ còn 6,88% và vẫn đạt được chỉ tiêu tăng trưởng GDP dù ở mức thấp, 5,32%
Giai đoạn 4 từ cuối năm 2009 đến nay diễn ra việc thu hẹp chính sách tiền tệ Lãi suất cơ bản tăng, cơ quan quản lý còn tiếp tục điều chỉnh kỳ hạn và khối lượng bơm tiền qua nghiệp vụ thị
trường mở (bắt đầu thực hiện từ giữa tháng 10/2010) để kiểm soát và hạn chế bớt dòng tiền đổvào nền kinh tế Đây rõ ràng là các biện pháp nhằm thu hẹp tiền tệ để hướng tới mục tiêu kiềm
chế lạm phát khi mà chỉ báo này (CPI) đã tăng lên tới trên 9% năm 2010 Mặc dù đã chấm dứt các biện pháp nới lỏng tiền tệ-tài khoá từ giai đoạn trước và thực hiện thu hẹp tiền tệ, nhưng do tăng trưởng tín dụng vẫn cao (29,81% tính đến 31/12/2010, vượt quá mục tiêu 25%), đồng thời tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán năm 2010 cũng ở mức cao so với tăng trưởng GDP (25,3% so với 6,78%) và một số nguyên nhân khác, nên chỉ số lạm phát vẫn
tăng và đã vượt lên gần mức hai con số
Có thể thấy rằng lạm phát tại Việt Nam hiện nay chỉ là hậu quả từ những bất ổn nội tại nền kinh
tế trong những năm qua, đặc biệt trong giai đoạn 2006-2010 và là hệ quả tất yếu của việc mất cânđối trong nền kinh tế vĩ mô Ở giới hạn của chuyên đề, chúng tôi chỉ xin phép nêu ra nhữngnguyên nhân bắt nguồn từ hệ thống tài chính của Việt Nam cụ thể là: tốc độ tăng cung tiền lệch
xa tăng trưởng GDP Cung tiền chính là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến cho lạmphát ở Việt Nam trở nên “vượt trội” so với các nước trong khu vực Tăng trưởng cung tiền M2luôn duy trì ở mức khoảng 30% kể từ năm 2004, đặc biệt tăng vọt lên khoảng 50% vào năm
2007 Đây chính là 1 trong những nguyên nhân quan trọng làm lạm phát năm 2007 tăng 8.3%cao nhất trong 10 năm trước đó, trong khi tốc độ tăng trưởng GDP chỉ đạt mức 8,48% Mức tăngcung tiền năm 2007 quá cao là hệ quả tất yếu làm tỷ lệ lạm phát năm 2008 tăng đến mức kỷ lục19,89%
Trang 15Tuy nhiên các cơ quan chức năng vẫn luôn thể hiện sự chậm trễ và thiếu nhất quán trong việcđiều hành cung tiền ở Việt Nam Ví như tại những tháng đầu năm 2008, khi lạm phát tăng liêntiếp và tăng mạnh thì các nhà hoạch định chính sách tiền tệ lại loay hoay giữa việc hút tiền vềthông qua bán trái phiếu và tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, với việc bơm tiền ra trước để đáp ứngthanh khoản của các ngân hàng thương mại và mua vào ngoại tệ nhằm duy trì tỷ giá Nhưngnhững hành động này chỉ khiến các doanh nghiệp và các cá nhân trong nền kinh tế gặp khó khăntrong công tác dự báo và lập kế hoạch sản xuất kinh doanh và đẩy kỳ vọng lạm phát lên cao
Thứ hai, tốc độ tăng trưởng tín dụng quá cao nhưng chất lượng thấp Trong giai đoạn 2007
-2009 tốc độ tăng trưởng tín dụng trung bình đạt mức 25 – 30%, đặc biệt năm -2009 khi Chính phủthực hiện gói kích cầu trị giá gần 8 tỷ USD để đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệtrên thế giới, trong đó nổi bật là chương trình cho vay hỗ trợ lãi suất 4% trị giá 17.000 tỷ VNĐ (1
tỷ USD), thì chỉ riêng gói Hỗ trợ lãi suất này đã đưa hơn 400.000 tỷ VNĐ vào lưu thông Đầu tưcủa toàn xã hội cũng duy trì mức trên 40% GDP trong giai đoạn 2005-2009 Mặc dù có tốc độtăng trưởng tín dụng và đầu tư toàn xã hội ở mức khá cao so với nhiều quốc giá khác tuy nhiêntăng trưởng GDP của Việt Nam trong giai đoạn này chỉ trung bình ở mức 6 – 7%
Tóm lại, có thể thấy CPI/lạm phát là một chỉ tiêu đánh giá sức khỏe hệ thống tài chính: CPI/lạmphát quá cao/thấp tương ứng do tổng phương tiện thanh toán (M2) trong nền kinh tế quá cao(như năm 2007)/quá thấp CPI/lạm phát ở mức độ vừa phải (như năm 2009) do tổng phương tiệnthanh toán phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế
2.2.3 Tốc độ tăng trưởng tín dụng
Tốc độ tăng trưởng tín dụng của Việt Nam cũng luôn ở mức cao so với các nướctrong khu vực Trong giai đoạn 2007 - 2010, tín dụng bình quân tăng 30,6%/năm Hệ số dư nợ tín dụng/GDP của Việt Nam đã tăng từ 40% năm 2000, lên mức 116,14% năm 2010 (gần 3lần) Ở Trung Quốc, hệ số này tăng 1,23 lần, Thái Lan và Malaysia hầu như không tăng Chínhviệc tăng trưởng tín dụng nhanh là nguyên nhân dẫn đến M2 tăng cao Mặc dù tăng trưởngtín dụng đã giúp tăng mức đầu tư trên GDP từ 29,8% trung bình giai đoạn 1991-2000, lên40,7% trung bình giai đoạn 2001 - 2010, nhưng không phải toàn bộ lượng tín dụng tăng lên nàyđược đưa vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh nhằm tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Aug-11
TTTD 23.2 30.4 28 26.2 20.5 24.8 53.9 23.4 37.5 31.2 8.885
Tốc độ tăng trưởng tiền tệ, tín dụng của Việt Nam thời kỳ 2001-2011
(So với tháng 12 năm trước) Đơn vị: %(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư)