Ôn thi môn Tài chính ngân hàng và Sự Phát triển Câu 1: Phân tich vai trò của Ngân hàng trung ương trong quá trình cung ứng tiền tệ 1.Ngân hàng trung ương là ngân hàng độc quyền phát hành tiền Với vai trò phát hành độc quyền tiền trên toàn quốc như phương tiện trao đổi, ngân hàng trung ương trực tiếp quản lý cung ứng tiền mặt. Việc quản lý mức độ cung ứng tiền mặt là công cụ thứ nhất giúp ngân hàng trung ương điều tiết mức cung ứng tiền tổng hợp.
Trang 1Câu 1: Phân tich vai trò của Ngân hàng trung ương trong quá trình cung ứng tiền tệ
1. Ngân hàng trung ương là ngân hàng độc quyền phát hành tiền
Với vai trò phát hành độc quyền tiền trên toàn quốc như phương tiện trao đổi, ngân hàng trung ương trực tiếp quản lý cung ứng tiền mặt Việc quản lý mức độ cung ứng tiền mặt là công cụ thứ nhất giúp ngân hàng trung ương điều tiết mức cung ứng tiền tổng hợp.
2. Ngân hàng trung ương là chủ ngân hàng của hệ thống các ngân hàng trung gian
a Ngân hàng trung ương là trung tâm thanh toán, chuyển nhượng, bù trừ của các ngân hàng trung gian.
Vì các ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính trong nước đều phải mở tài khoản và kí quỹ tại ngân hàng trung ương Điều này giúp ngân hàng trung ương kiểm soát, theo dõi, quản lý hoạt động của toàn bộ hệ thống tài chính trong nước Mặt khác có thể quản lý được lượng tín dụng ra vào trong hệ thống tài chính vào những thời điểm nhất định.
b Ngân hàng trung ương là ngân hàng quản lý dự trữ bắt buộc của hệ thống ngân hàng trung gian
Dự trữ bắt buộc là tiền mặt, và tỉ lệ dự trữ bắt buộc tối thiểu là tỉ lệ % tiền mặt trên tổng số tiền mặt do người dân gửi vào mà các ngân hàng thành viên phải lưu lại trong kho tiền mặt của ngân hàng hay kí gửi tại ngân hàng trung ương, không được cho vay hết.
Khi tỉ lệ dự trữ bắt buộc tăng lên, cung ứng tiền ngân hàng của hệ thống ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính cũng giảm ngay tức khắc và ngược lại Bằng cách việc quy định tỉ
lệ dự trữ bắt buộc ngân hàng trung ương quản lý một cách chặt chẽ tốc độ và cung ứng tiền ngân hàng của hệ thống ngân hàng trung gian
Ngân hàng trung ương cho ngân hàng trung gian vay với phương thức gọi là cho vay chiết khấu Đó là hình thức cho vay qua cửa sổ chiết khấu Lãi suất của sự cho vay này là lãi suất chiết khấu
Như vậy khi ngân hàng trung ương tăng lãi suất chiết khấu thì sẽ làm giảm lượng cung tiền của hệ thống ngân hàng trung gian, tức là giảm lượng cung tiền trong toàn bộ nền kinh tế và ngược lại
Trong vai trò cứu cánh cuối cùng với lãi suất cho mình quy định, ngân hàng trung ương dùng lãi suất chiết khấu để điều tiết lượng tiền cung ứng của hệ thống ngân hàng trung gian
Trang 2và của nền kinh tế Qua đây ta thấy được đây là một công cụ giúp chính phủ quản lý nền kinh tế một cách vĩ mô.
3 Ngân hàng trung ương là chủ ngân hàng, đại lý và cố vấn cho chính phủ
a Ngân hàng trung ương là chủ ngân hàng của chính phủ
Tùy theo đặc điểm tổ chức của từng nước, chính phủ có thể ủy quyền cho bộ tài chính hay kho bạc đứng tên và làm chủ tài khoản ở ngân hàng trung ương Hàng quý, hàng năm, tiền thuế thu được và những khoản thu khác của ngân sách được gửi vào ngân hàng trung ương để ngân hàng trung ương sử dụng và trả lãi Khi chính phủ cần, bộ tài chính hay kho bạc cũng phải làm thủ tục để rút tiền gửi từ ngân hàng trung ương như một khách hàng bình thường.
Khi chính phủ thâm hụt ngân sách, chính phủ có nhiều cách bù vào như: vay của dân bằng cách phát hành công trái, vay của nước ngoài, vay ứng trước thuế, …, và vay của ngân hàng trung ương Nếu vay của ngân hàng trung ương thì về nguyên tắc có thể thế chấp bằng các loại tài sản mà chính phủ có như: chứng thư chủ quyền tài sản, chứng khoán, vàng… Trong trường hợp chính phủ vay mà không thế chấp thì ngân hàng có quyền từ chối Nếu ngân hàng trung ương không từ chối được thì nó đành phát hành tiền mặt ngoài
dự kiến cho chính phủ làm cho tổng cung về tiền tăng lên và nền kinh tế cũng sẽ biến động theo.
Thông qua vai trò là chủ ngân hàng của chính phủ với nghiệp vụ là cho vay, ngân hàng trung ương làm thay đổi lượng tiền tệ trong nền kinh tế, nghĩa là can thiệp vào những biến động của kinh tế vĩ mô.
b Ngân hàng trung ương là đại lý của chính phủ
Với tư cách là đại lý cho chính phủ, ngân hàng trung ương thay mặt chính phủ tổ chức thu thuế qua hệ thống ngân hàng của nó Đồng thời nó thay mặt chính phủ trong các thỏa thuận tài chính, viện trợ, vay mượn, chuyển nhượng và thanh toán với nước ngoài Ngoài ra với tư cách này nó có thể phát hành trái phiếu, cổ phiếu…cho chính phủ kể cả trong và ngoài nước.
Bằng việc phát hành trái phiếu, cổ phiếu…ngân hàng trung ương đã làm trực tiếp tăng (giảm) lượng cung ứng tiền cho nền kinh tế Và thông qua đó đã làm tác động đến kinh tế vĩ mô.
4 Ngân hàng trung ương là ngân hàng trực tiếp quản lý dự trữ quốc gia
Dự trữ quốc gia bao gồm những dự trữ chiến lược cho những trường hợp khẩn cấp như can thiệp vào điều tiết kinh tế, nhập khẩu hàng khẩn cấp để chống khan hiếm và chống lạm phát, khi có thiên tai, chiến tranh…
Trang 3Dự trữ bao gồm: vàng, tiền tệ, … Với tư cách là ngân hàng của chính phủ, ngân hàng trung ương được giao phó nhiệm vụ quản lý dự trữ quốc gia Khi nắm trong tay công cụ này ngân hàng trung ương(NHTU) có thể can thiệt bất kì lúc nào vào thị trường ngoại tệ để giữ giá đồng tiền trong nước, hay tăng hoặc giảm giá NHTU với nghiệp vụ mua bán trên thị trường vàng và ngoại tệ, nó tạo ra hai tác động quan trọng là thay đổi cung ứng tiền và thay đổi tỉ giá hối đoái của đồng tiền trong nước Hai điều này tác động đến tổng cầu, sản xuất, thu nhập và giá cả và đương nhiên điều này có tác động đến kinh tế vĩ mô
Cung ứng tiền thay đổi làm biến động giá cả, sản lượng quốc gia, do đó một cách gián tiếp mọi họat động ngân hàng ảnh hưởng sâu sắc đến nền kinh tế.
(Ảnh hưởng của cung ứng tiền đến nền kinh tế
Sự khác biệt trong chính sách cung ứng tiền là khoảng cách giữa chính sách cung ứng nới lỏng và chính sách cung ứng thắt chặt.
Chính sách cung ứng tiền nới lỏng làm cho tiền tệ trở nên dồi dào hơn Điều này kích thích tiêu dùng cho cuộc sống và cho đầu tư nhiều hơn Sự gia tăng tiêu dùng và đầu tư làm sản xuất liên tục được mở rộng, tuyển mộ thêm công nhân, giảm thất nghiệp và gia tăng thu nhập quốc dân Nền kinh tế tăng trưởng với giá cả tăng cao hơn trước.
Chính sách cung ứng tiền thắt chặt làm cho chi phí để có tiền cao hơn và tiền trở nên khan hiếm Sản xuất thiếu vốn, người mua thiếu tiền buộc phải cắt giảm chi tiêu và đầu tư, điều này dẫn đến tổng cầu giảm và giá cả hạ Cái giá phải trả là sản xuất bị thu hẹp, thất nghiệp tăng, thu nhập quốc dân giảm và nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái ) PHÂN GẠCH
CHÂN NÀY LÀ CÓ THỂ VIẾT THÊM
b Các công cụ điều tiết lượng tiền cung ứng
Trang 4đó tỉ giá và giá cả hàng hóa giảm xuống Và ngược lại khi ngân hàng trung ương ra thị trường mở để mua chứng khoán.
Như vậy khi ngân hàng trung ương thực hiện nghiệp vụ bán, nó thắt chặt cung ứng tiền, tăng lãi suất, giảm tỉ giá và giá cả hạ xuống và ngược lại khi thực hiện nghiệp vụ mua.
• Lãi suất cho vay chiết khấu
Được ngân hàng trung ương quyết định trong cả hai trường hợp:
1 Cho vay bình thường với kí quỹ khi ngân hàng trung gian kẹt thanh tóan
2 Cho vay dưới hình thức cứu cánh cuối cùng.
Lãi suất cho vay chiết khấu có cả hai tác dụng: trực tiếp và gián tiếp Tác động gián tiếp là
nó làm tăng, giảm lãi suất cho vay của ngân hàng trung gian và do đó tác động đến cung ứng tiền và tín dụng Tác động trực tiếp là nó làm tăng hay giảm dự trữ của ngân hàng trung gian và do đó tác động đến lượng cho vay tiêu dùng và đầu tư trong kinh tế
Khi ngân hàng trung ương tăng lãi suất chiết khấu thì đó là biến cố quan trọng Lãi suất tăng khiến ngân hàng trung gian không thể vay mượn của ngân hàng trung ương nhiều và dễ dàng như trước Do đó nó phải giảm lượng cho vay và hậu quả là tổng cầu và sản lượng giảm theo Điều này cũng làm cho ngân hàng trung gian ý thức rằng khi cần vay thì ngân hàng trung gian phải trã lãi suất cao, do đó ngân hàng trung gian sẽ từ từ nâng lãi suất của mình để khỏi thiệt hại nặng khi phải vay của ngân hàng trung ương Lãi suất tiếp tục thắt chặt lượng cung tiền và tác động đến nền kinh tế Và ngược lại khi giảm lãi suất chiết khấu.
Trang 5Khi ngân sách chính phủ thâm hụt nó sẽ cho chính phủ vay, lượng tiền mặt nó cho vay làm tăng lượng tiền trong lưu thông và tăng cung ứng tiền trong nền kinh tế thông qua việc chi tiêu của chính phủ.
Câu 3: Một số học thuyết cầu về tiền (2 lý thuyết cơ bản là Cầu tiền của Mak và cầu tiền mặt theo Keynes)
Các yếu tố nào tác động cầu của tiền trong nền kinh tế
1 Cầu về tiền theo quan điểm của C.Mác
Cầu tiền tệ:
- Tỷ lệ thuận với tốc độ tăng trưởng kinh tế
- Tỷ lệ nghịch với tốc độ lưu thông tiền tệ (tức là số vòng luân chuyển trong một năm của mức cung tiền giao dịch)
Quan điểm về cân đối cung cầu tiền tệ:
- Số lượng tiền cần thiết cho lưu thông là do số lượng hàng hóa đang lưu thông, mức giá cả hàng hóa cao hay thấp và tốc độ lưu thông tiền tệ nhanh hay chậm Hai nhân tố số lượng hàng hóa và mức giá cả gộp lại thành khái niệm tổng giá cả hàng hóa
- Trên thực tế số lượng tiền trong lưu thông ít hơn nhiều so với tổng số giá cả hàng hóa bán
ra, do mỗi đơn vị tiền tệ trong một thời gian nhất định được luân chuyển nhiều lần Như vậy, tốc độ lưu thông tiền tệ có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với lượng tiền cần thiết.
- C.Mác đưa ra một quy luật về lượng tiền cần thiêt trong lưu thông như sau:
Kc = H/V
Trong đó: Kc: khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông
H: Là tổng giá cả hàng hóa
V: là tốc độ lưu thông tiền tệ
Nếu gọi Kt là lượng tiền thực có trong lưu thông
- Kt > Kc dẫn tới thừa tiền
- Kt < Kc dẫn tới thiếu tiền, đều có ảnh hưởng không tốt đến đời sống kinh tế xã hội
Vì vậy để đảm bảo tôn trọng quy luật lưu thông tiền tệ theo quan điểm của C.Mác đòi hỏi chúng
ta phải nắm bắt nhu cầu về tiền trong lưu thông, qua đó đưa tiền vào lưu thông cho phù hợp
2 Cầu tiền tệ theo Keynes
Theo Keynes, có cầu tiền gồm các thành phần:
- Cầu giao dịch: các cá nhân, tổ chức nắm giữ tiền vì đó là phương tiện trao đổi có thể tiến hành các giao dịch hàng ngày Cầu giao dịch phụ thuộc vào thu nhập, giá cả, tần suất thanh toán…
Trang 6- Cầu dự phòng: phụ thuộc vào thu nhập và các yếu tố xã hội khác
- Cầu đầu tư: phụ thuộc vào thu nhập, lãi suất và các yếu tố khác
Vì vậy mà hàm cầu theo quan điểm của Keynes:
M d = (Y, P, f, i, Z)
Trong đó: Y là thu nhập
P là mức giá
F là tần suất nhận được các khoản thu nhập
i là lãi suất của nền kinh tế
Z là các yếu tố khác của nền kinh tế xã hội
3 Cầu tiền theo M.Friedman: Có thể coi đây là sự phát triển quan điểm của Keynes trong đó:
- Giống quan điểm của Keynes: Về thành phần và nhân tố ảnh hưởng đến cầu tiền tệ
- Khác quan điểm của Keynes: Cầu tiền còn phụ thuộc vào lợi tức kỳ vọng của các tài sản liên quan đến tiền (cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản…) và tỷ lệ lạm phát Và do vậy, hàm cầu tiền tệ của M.FriedMan là:
M d = (Y, P, f, i, ia, ib, is, Z)
Trong đó: ia, ib, is lần lượt là lợi tức kỳ vọng khi đầu tư vào bất động sản, trái phiếu và cổ phiếu
Câu 4: Vai trò của Thị trường tài chính đối với quá trình phát triển kinh tế?
Liên hệ đối với thị trường tài chính Việt Nam hiện nay
Trả lời
Để nói về vai trò của Thị trường tài chính đối với quá trình phát triển kinh tế, trước hết chúng
ta cần tìm hiểu thế nào là Thị trường tài chính.
TTTC là nơi diễn ra các hoạt động luân chuyển vốn trực tiếp từ các tổ chức cá nhân có vốn sang các tổ chức cá nhân cần vốn đảm bảo cho các hoạt động kinh tế xã hội hàng ngày Hay nói cách khác Thị trường tài chính là nơi diễn ra các giao dịch mua, bán các loại tích sản tài chính hay các công vốn hoặc vốn Đây cũng là một bộ phận quan trọng bậc nhất trong hệ thống tài chính, chi phối toàn
bộ hoạt động của nền kinh tế hàng hóa Thị trường tài chính phát triển góp phần thúc đẩy mạnh mẽ
sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia.
Trang 7Phát triển kinh tế thị trường không thể không có thị trường tài chính bởi thị trường tài chính là một công cụ trung gian thúc đẩy sự lưu thông tiền tệ và đảm bảo về nguồn vốn cho sự phát triển phát huy vai tò tối đa của thị trường tài chính cũng là yêu cầu cấp thiết của tiến trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước góp phần phát triển ổn định và bền vững nền kinh tế thị trường
1 TTTC có vai trò quan trọng trong việc huy động và cung cấp các nguồn lực tài chính phục
vụ nhu cầu phát triển kinh tế và xã hội, khuyến khích tiết kiệm và đầu tư
- Bất kỳ nền kinh tế nào cũng có nhu cầu về nguồn lực tài chính cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường lại càng đòi hỏi một nguồn lực tài chính lớn liên tục…Do sự năng động của các chủ thể kinh tế trong xã hội.Hoạt động của TTTC là huy động và tích luỹ các nguồn lực tài chính nhàn rỗi, nhỏ lẻ và phân tán thành nguồn tài chính to lớn tài trợ kịp thời cho nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế
xã hội Trên bình diện vĩ mô thị trường tài chính vận động không ngừng thúc đẩy nhanh quá trình vận đọng của tiền (T- H - T ' - H ' ) từ đó thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Sự hoạt động của TTTC
là sự tuân thủ các quy tắc quy định nhằm tối ưu hoá những lợi thế hạn chế những rối loạn nền kinh
tế Khi một nền kinh tế ổn định người dân, người dân có xu hướng đầu tư chứng khoán tiết kiệm của mình vào TTTC để có được một khoản thu nhập ổn định Do đó nhu cầu cần tiêu dùng của người dân
sẽ bị ảnh hưởng cụ thể là nhu cầu về tiêu dùng cao cấp sẽ bị hạn chế rất nhiều Hoạt động của TTTC
đã đưa được nguồn tài chính từ dạng tích trữ không sinh lời sang nguồn lực phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội đồng thời gián tiếp khuyến khích tiết kiệm của nhân dân
2 TTTC là công cụ quan trọng để Nhà nước sử dụng thực hiện các chính sách tài chính và chính sách tiền tệ nhằm điều hành và quản lý tốt hơn nền kinh tế thị trường.
TTTC hoạt động đã bổ sung thêm hình thức huy động nguồn tài chính cho các doanh nghiệp các tổ chức tài chính trung gian bằng cách phát hành cổ phiếu, trái phiếu Thị trường tài chính còn tạo điều kiện và thúc đẩy các chủ thể hướng đầu tư đúng đắn và sử dụng vốn có hiệu quả nên đã góp phần thực hiện chính sách huy động nguồn tài chính sử dụng nguồn tài chính hay chính sách tài chính Thông qua việc sử dụng các công cụ tài chính trên thị trường Các hệ thống giám sát của nhà nước có thể theo dõi sát sao các hoạt động không chỉ trong lĩnh vực tài chính tiền tệ của cả sản xuất kinh doanh.
Chính phủ có thể điều tiết lượng cung cầu tiền tệ đảm bảo bình ổn hoạt động của nền kinh
tế, bù đắp thâm hụt kích cầu tiêu dùng Mặt khác nhà nước có thể thông qua chính sách hướng hoặc hạn chế vào 1 số lĩnh vực sản xuất, ưu tiên các nghành hướng về xuất khẩu, mũi nhọn.
Trang 83 TTTC có vai trò kiểm soát về luồng dịch chuyển tài chính từ đó cơ cấu phân bổ hợp lý các nguồn lực của nhà nước theo nghành nghề khu vực, góp phần thúc đẩy, nâng cao hiệu quả sử dụng tài chính
TTTC với cơ sở pháp lý đầy đủ, hoàn chỉnh và bộ máy quản lý hữu hiệu sẽ cho phép quản lý tốt hơn nguồn lực tài chính chủ yếu cho đầu tư phát triển đất nước Thông qua TTTC, đặc biệt là thị trường chứng khoán ở các nước phát triển, người ta có thể thấy được tình hình kinh tế của quốc gia, thông thường nếu qua TTTC các nguồn tài chính có xu hướng được rút ra khỏi các dự án đầu tư hoặc không thu hút được vốn vào thị trường thì có nghĩa là nền kinh tế đang trì trệ, các dấu hiệu khủng hoảng Việc điều tiết và kiểm soát các nguồn lực tài chính là công cụ đắc lực trong tay của nhà nước nhằm điều chỉnh những sai sót của thị trường nhằm đưa nền kinh tế vào đúng hướng phát triển của
nó Trong cơ chế thị trường các biện pháp cưỡng chế thường ít được áp dụng trên thị trường tài chính mà chủ yếu nhà nước điều tiết các luồng chuyển dịch tài chính thông qua các cơ chế, chính sách nhằm định hướng cho các nguồn tài chính có ý nghĩa quan trọng đến sự phát triển bền vững của quốc gia
- Mặt khác chính sự chuyển dịch của các nguồn tài chính mà NN có khả năng phân bổ hợp lý các nguồn tài chính nhằm thiết lập sự cân bằng tổng thể trong phát triển KTXH Theo luật KTTT cho thấy nguồn lực tài chính bao giờ cũng đầu tư vào những ngành nghề mang lại lợi nhuận cao, tốc độ thu hồi vốn nhanh, ít rủi ro như các ngành dịch vụ… hoặc ở các khu vực thuận lợi cho giao dịch, mua bán Do đó những ngành có lợi nhuận, khả năng thu hồi vốn chậm như công nghiệp nặng, xây dựng
cơ sở hạ tầng… hay những vùng sâu, vùng xa khó khăn cho việc thông thương hàng hoá, thì rất ít các nhà đầu tư quan tâm Nếu phát triển kinh tế thị trường đơn thuần sẽ gây ra sự bất công trong xã hội
và dễ xẩy ra khủng hoảng do đó nhà nước với sự quản lý vĩ mô sẽ phải thực hiện điều tiết, tạo sự công bằng và xã hội Để đạt được hiệu quả cao trong vấn đề này TTTC là công cụ hữu hiệu nhất, bằng các chính sách đầu tư hoặc nhà nước huy động vốn qua thị trường tài chính để tự mình đầu tư vào các chương trình trọng điểm… đảm bảo lợi ích chung cho toàn xã hội… Có thể thấy TTTC đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo lập và ổn đinh nền kinh tế.
Bên cạnh đó, TTTC đóng một vai trò hết sức to lớn trong việc phát triển kinh tế xã hội vai trò
đó chỉ được phát huy khi nó được hình thành trong một điều kiện thích hợp vào hoạt động trong một cơ chế thị trường linh hoạt, lành mạnh Tuy vậy bản thân nền kinh tế thị trường cũng như TTTC đều có những khuyết tật của nó đòi hỏi phải nắm vững cơ chế vận hành của thị trường tài chính có những biện pháp hữu hiệu giám sát và thúc đẩy hoạt động của nó.
Liên hệ TTTC Việt Nam hiện nay:
Trang 9VN đang có tốc độ tăng trưởng KT liên tục và luôn giữ ở mức cao trong vòng 5 năm qua và trong chiến lược phát triển, đến năm 2020 VN phấn đấu trở thành nước công nghiệp về cơ bản Cho nên,
để đáp ứng nhu cầu về vốn cho phát triển KTXH từ nay đến năm 2020, nền KT VN luôn đòi hỏi nguồn vốn huy động rất lớn Chính vì thế, TTTC VN hình thành và phát triển có vai trò rất to lớn, là nơi tập trung mọi nguồn lực về TC cho sự phát triển của đất nước.
1, TTTC tạo lập nguồn vốn cho nền KT
Với vai trò là tích tụ và tập trung tư bản cho nền KT, hệ thống NHTM là một kênh huy động vốn gián tiếp để tạo lập NV Hệ thống NHTM thực hiện vai trò huy động vốn của mọi thành phần KT trong XH thông qua các dịch vụ tiền gửi tiết kiệm, dịch vụ thanh toán…Lãi suất huy động trên TT có ảnh hưởng rất quan trọng tới lượng vốn mà các NHTM huy động đc Ls này phải đảm bảo là ls thực dương, tức là phải cao hơn tỷ lệ mất giá của tiền tệ, nhưng phải thấp hơn ls cho vay để đảm bảo hiệu quả kinh doanh cho hệ thống NH Từ nguồn vốn huy động này, các NHTM cung ứng 1 lượng vốn dồi dào cho nền KT thông qua hoạt động cấp tín dụng Ls trên TT tiền tệ có ảnh hưởng lớn đến việc phát hành và mua bán Ck trên TT vốn.
2, TTTC góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của nền KT
Các cc và chính sách trên TTTC ngày càng phát triển sẽ giúp khai thông các NV và khai thác triệt để các nguồn lực TC Các nguồn lực TC bao gồm nguồn lực trong nước và nguồn lực từ nước ngoài Đối vs nguồn lực TC trong nước, cần phát triển đa dạng các dịch vụ về TC để những khoản tiết kiệm, tiền nhàn rỗi đc đưa vào lưu thông sinh hoạt hơn là đưa vào cất trữ Khi đó, nội lực TC trong nước đc huy động triệt để Đối vs nguồn lực TC bên ngoài, cần có chính sách khơi thông luồng tiền vào và ra bằng cơ chế giám sát hơn là các biện pháp quản lý hành chính, để thu hút nguồn lực TC lớn của các tập đoàn nc ngoài
TTTC phát triển, mọi thông tin trên TT đc công khai, minh bạch Nhà I muốn phát hành CP huy động vốn trên TT phải thực sự là đơn vị hoạt động sxkd có hiệu quả cao Sự cạnh tranh thu hút vốn này buộc các DN phải nâng cao hiệu quả hoạt động, thường xuyên đổi mới công nghệ để tăng hiệu quả KT Vì thế mà hiệu quả KT của XH cũng đc nâng lên Mặt khác, khi dn tạo đc sự kỳ vọng vào
1 giá trị TT tương lai tăng cao sẽ kích thích cho mọi ng tăng tiết kiệm để I vào các dn có hiệu quả cao
Vì vậy, TTTC có vai trò kích thích việc sd vốn tiết kiệm và có hiệu quả.
3, TTTC góp phần đẩy nhanh quá trình tự do hóa TC và hội nhập quốc tế
TTTC phát triển giúp cho các chủ thể tham gia trên TT có thể hòa nhập vào nhau cho dù họ ở bất kỳ đâu trên thế giới và khi đó tính hội nhập quốc tế đc thể hiện Trước hết là trong lĩnh vực kinh
Trang 10tế - thương mại Những vùng, miền kinh tế khác nhau có thể đan xen hoạt động kinh tế thương mại của nhau thông qua TTTC ở mỗi quốc gia khi mà TTTC đc tự do hóa Các tổ chức, công dân của 1 nước có thể đầu tư, giao dịch, mua bán hàng hóa và dịch vụ vs các tổ chức, cá nhân của các nước khác nếu như nền Tc của 2 nước đc liên kết vs nhau Các giao dịch của 2 bên đều đc thể hiện trên TT.
Vì thế mà nền KT thế giới càng mang tính toàn cầu.
Tóm lại, việc hình thành TTTC có vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựng phát triển đất nước Đây là TT tiền đề cho mọi hoạt động của nền KTXH đc diễn ra, bắt đầu từ vc tạo lập NV đến nâng cao hiệu quả kinh tế XH và cuối cùng là hội nhập vào nền KT thế giới Vì vậy, TTTC cần đc xây dựng trên những nền tảng vững chắc, có cơ chế giám sát phù hợp nhằm hạn chế những tác hại, rủi
ro khi có khủng hoảng TC.
Cau 5
a Ngân hàng là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế
Ngân hàng thương mại ra đời là tất yếu của nền sản xuất hàng hoá Sảnxuất hàng hoá phát triển, lưu thông hàng hoá ngày càng mở rộng, trong xã hộixuất hiện người thì có vốn nhàn rỗi, ngượi thì cần vốn để tiến hành các hoạtđộng sản xuất kinh
doanh Điều này giải quyết bằng cách nào? NH thươngmại ra đời là chìa khoá giúp cho người cần vốn có được vốn và người có vốntạm thời nhàn rỗi có thể kiếm được lãi từ vốn Các ngân hàng cũng cân đốiđược vốn trong nền kinh tế giúp cho các thànhphần kinh tế cùng nhau pháttriển Các ngân hàng đứng ra huy động vốn tạm thời nhàn rỗi từ các doanhnghiệp, các cá nhân sau đó sẽ cung ứng lại cho nơi cần vốn để tiến hành táisản xuất với trang thiết bị hiện đại hơn, tạo ra sản phẩm tốt hơn có lợi nhuậncao hơn Xã hội càng phát triển nhu cầu vốn cần cho nền kinh tế càng
tăng,không một tổ chức nào có thể đáp ứng được Chỉ có ngân hàng - một tổ
chứctrung gian tài chính mới có thể đứng ra điều hoà, phân phối vốn giúp cho tấtcả các thành phần kinh tế cùng nhau phát triển nhịp nhàng, cân đối
b Ngân hàng là cầu nối giữa doanh nghiệp và thị trường
Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp không phải là cứ sảnxuất bất cứ cái gì
mà phải luôn trả lời được 3 câu hỏi: sản xuất cái gì? sảnxuất như thế nào ? và sản xuất cho ai? Có nghĩa là sản xuất theo tín hiệu của thị trường Thị trường yêu cầu các doanh nghiệp phải sản xuất ra các sản phẩm với chất lượng tốt hơn, mẫu mã đẹp
Trang 11hơn, phù hợp với thị hiếu củangười tiêu dùng Để được như vậy các doanh nghiệp phải được đầu tư bằngdây truyền công nghệ hiện đại, trình độ cán bộ, công nhân lao động phải đượcnâng cao Những hoạt động này đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượngvốn đầu tư lớn và để đáp ứng được thì chỉ có các ngân hàng Ngân hàng sẽgiúp cho các doanh nghiệp thực hiện được các cải tiến của mình, có được cácsản phẩm có chất lượng, giá thành rẻ, nâng cao năng lực cạnh tranh.
c NHTM là công cụ đièu tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước.
Trong nền kinh tế thị trường, NHTM với tư cách là trung tâm tièn tệcủa toàn bộ nền kinh tế, đảm bảo sự phát tiển hài hoà cho tất cả các thành phần kinh tế khi tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh, có thể nói mỗi sựgiao động của Ngân hàng đều gây ảnh hưởng ít nhiều đến các thành phầnkinh tế khác Do vậy sự hoạt động có hiệu quả của NHTM thông qua cácnghiệp vụ kinh doanh của nó thực sự là công cụ tốt để Nhà nứơc tiến hànhđiều tiết vĩ mô nền kinh tế.Thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các Ngân hàng tronghệ thống, NHTM đã trực tiếp góp phần mở rộngkhối lượng tiền cung ứng trong lưu thông Mặt khác với việc cho các thành phần trong nền kinh tế vayvốn, NHTM đã thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp và phân chiavốn của thị trường, điều kiển chúng một cách có hiệu quả, bảo đảm cung cấpđầy đủ kịp thời nhu cầu vốn cho quá trình tái sản xuất cũng như thực thi vaitrò điều tiết gián tiếp vĩ mô nền kinh tế
d Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chínhquốc tế.
Ngày nay, trong su hướng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới với việchình thành hàng loạt các tổ chức kinh tế, các khu vực mậu dịch tự do, làm ccccnc tố t ncho các mối quan hệ thương mại, lưu thông hàng hoá giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng được mở rộng và trở nên cần thiết, cấp bách Nền tài chínhcủa một quốc gia cần phải hoà nhập với nền tài chính thế giới Các ngân hàngthương mại là trung gian, cầu nối để tiến hành hội nhập Ngày nay, đầu tư ranước ngoài là một hướng đầu tư quan trọng và mang lại nhiều lợi nhuận.Đồng thời các nước cần xuất khẩu những mặthàng mà mình có lợi thế sosánh và nhập khẩu những mặt hàng mà mình thiếu Các ngân hàng thươngmại với những nghiệp vụ kinh doanh như : nhận tiền gửi, cho vay, bảo lãnh và đặc biệt là các nghiệp vụ thanh toán quốc tế, đã góp phần tạo điều kiện,thúc đẩy ngoại thương không ngừng được mở rộng và phát triển
VAI TRo
Trang 12Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng xuất hiện đầu tiên và phổ biến nhất hiện nay Đây là tổ chức nhận tiền gửi (depository institutions) đóng vài trò là trung gian tài chính huy động tiền nhàn rỗi thông qua các dịch vụ nhận tiền gửi rồi cung cấpcho những chủ thể cần vốn chủ yếu dưới hình thức các khoản vay trực tiếp Các ngânhàng thương mại huy động vốn chủ yếu dưới dạng: tiền gửi thanh toán (checkable deposits), tiền gửi tiết kiệm (saving deposits), tiền gửi có kỳ hạn (time deposits) Vốn huy động được dùng để cho vay: cho vay thương mại (commercial loans), cho vay tiêu dùng (consumer loans), cho vay bất động sản (mortage loans) và để mua chứng khoán chính phủ, trái phiếu của chính quyền địa phương Ngân hàng thương mại dù
ở quốc gia nào cũng đều là nhóm trung gian tài chính lớn nhất, cũng là trung gian tài chính mà các chủ thể kinh tế giao dịch thường xuyên nhất
Với vị trí quan trọng đó, Ngân hàng thương mại đảm nhiệm những chức năng khác nhau trong nền kinh tế như:
Chức năng trung gian tín dụng
Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay
và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay:Đối với người gửi tiền, họ thu được lợi từ khoản vốn tạm thời nhàn rỗi dưới hình thức lãi tiền gửi mà ngân hàng trả cho họ Hơn nữa ngân hàng còn đảm bảo cho họ
sự an toàn về khoản tiền gửi và cung cấp các dịch vụ thanh toán tiện lợi
Đối với người đi vay, họ sẽ thỏa mãn được nhu cầu vốn kinh doanh tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp, chi tiêu, thanh toán mà không chi phí nhiều về sức lực thời gian cho việc tìm kiếm những nơi cung ứng vốn riêng lẻ
Đặc biệt là đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sản xuấtđược thực hiện liên tục và mở rộng quy mô sản xuất
Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại
Chức năng tạo tiền
Trang 13Chức năng tạo tiền không giới hạn trong hành động in thêm tiền và phát hành tiền mới của Ngân hàng Nhà nước Bản thân các ngân hàng thương mại trong quá trình thực hiện các chức năng của mình vẫn có khả năng tạo ra tiền tín dụng (hay tiền ghi sổ) thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại ngân hàng thương mại Đây chính là một bộ phận của lượng tiền được sử dụng trong các giao dịch
Từ khoản tích trữ ban đầu, thông qua hành vi cho vay bằng chuyển khoản, hệ thống ngân hàng thương mại có khả năng tạo nên số tiền gửi (tức tiền tín dụng) gấp nhiều lần số dự trữ tăng thêm ban đầu Mức mở rộng tiền gửi phụ thuộc vào hệ số mở rộng tiền gửi Hệ số này đến lượt nó chịu tác động bởi các yếu tố: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ vượt mức và tỷ lệ giữ tiền mặt so với tiền gửi thanh toán của công chúng
Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của Ngân hàng thương mại là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền chovay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi
số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phậncủa tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống ngân hàng thương mại đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội Rõ ràng khái niệm
về tiền hay tiền giao dịch không chỉ là tiền giấy do NHTW phát hành mà còn bao gồm một bộ phận quan trọng là lượng tiền ghi sổ do các ngân hàng thương mại tạo
ra Chức năng này cũng chỉ ra mối quan hệ giữa tín dụng ngân hàng và lưu thông tiền
tệ Một khối lượng tín dụng mà ngân hàng thương mại cho vay ra làm tăng khả năng tạo tiền của ngân hàng thương mại, từ đó làm tăng lượng tiền cung ứng
Chức năng trung gian thanh toán
ở đây ngân hàng thương mại đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khác thu khác theo lệnh của họ Việc ngân hàng thương mại thực hiện chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa rất
to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế Với chức năng này, các ngân hàng thương mại cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng,…Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp
Trang 14người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào
đó để thực hiện các khoản thanh toán Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn Chức năng này mô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tố độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế Đồng thời việc thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng đã giảm được lượng tiền mặt trong lưu thông, dẫn đến tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt như chi phí in ấn, đếm nhận, bảo quản,…
Ngân hàng thương mại thu phí thanh toán Thêm nữa, nó lại làm tăng nguồn vốn chovạy của ngân hàng thể hiện trên số dư có trong tài khoản tiền gửi của khách hàng
Câu 11 Đặc điểm của hệ thống tài chính các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam
Cấu trúc của hệ thống tài chính: Hệ thống tài chính thực hiện chức năng chu chuyển vốn giữa chủ thể có vốn và chủ thể cần vốn thông qua hai con đường:
- Tài chính trực tiếp: thông qua hoạt động của thị trường tài chính, chu
chuyển vốn trực tiếp từ người cho vay đến người đi vay bằng việc cho phép người đi vay phát hành/bán ra các công cụ tài chính
- Tài chính gián tiếp: thông qua hoạt động của các trung gian tài chính như NHTM, công ty chứng khoán, quỹ đầu tư
Hệ thống tài chính góp phần phân phối, điều tiết vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giúp các chủ thể trong nền kinh tế lựa chọn cách thức sử dụng vốn để đem lại lợi ích cao nhất
Đặc điểm của hệ thống tài chính tại các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam:
- Sự can thiệp của Nhà nước, chính phủ vào hệ thống tài chính tương đối lớn: Ở các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng, khả năng
tự chủ tài chính của các tổ chức tài chính còn ở mức thấp do đó phụ thuộc rất lớn vào sự hỗ trợ, điều tiết của Nhà nước Tổng nguồn vốn chu chuyển trong nền kinh tế tập trung đa số vào các Ngân hàng, tổ chức có vốn Nhà nước chiếm tỷ trọng đa số, một phần nhỏ còn lại mới nằm rải rác tại Ngân hàng cổ phần