1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

447 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Bình Thuận

55 579 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Bình Thuận
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2004
Thành phố Bình Thuận
Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 430,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

447 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Bình Thuận

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

NHTM - một sản phẩm được hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển xã hội loài người - một tổ chức trung gian tài chính quan trọng bậc nhất phục vụ công chúng Nhưng không giống với nhiều sản phẩm khác, xét về mặt bản chất và các hành vi mà nó ứng xử, có thể xem NHTM là một sản phẩm xã hội, một ngành công nghiệp dịch vụ với tính cộng đồng và nhân văn rất cao, chằng chịt vô số các mối liên hệ với đông đảo công chúng, không chỉ trải rộng trong phạm vi một quốc gia mà còn lan tỏa ở phạm vi quốc tế Không giống như các tổ chức tài chính khác, NHTM luôn phải kinh doanh chủ yếu bằng tiền của người khác Vì vậy, sự an toàn và phát triển của bất kỳ một NHTM nào đều có liên quan mật thiết đến hàng loạt NHTM khác Mặt khác, hiệu quả hoạt động của NHTM phản ánh thực trạng phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia

Lịch sử phát triển NHTM ( 1401 ) – NH Valencia ( Tây Ban Nha) đến nay, nhân loại đã nhiều lần chứng kiến những cảnh sụp đổ đến mức hoang tàn và thế giới cũng xem đó, ít nhất là dấu hiệu đầu tiên của khủng hoảng kinh tế

Ở nước ta, gói gọn trong thập niên mà chúng ta đang sống, sự sụp đổ và ra

đi của hàng loạt HTX tín dụng, của một số NHTM cổ phần và ngay cả một số NHTM nhà nước, nếu không có “ rào chắn” từ nhà nước thì có thể cũng rơi vào cảnh đổ vỡ Tuy nhiên, dù áp dụng bất cứ “ rào chắn” kiên cố như thế nào thì nó chỉ có thể hạn chế đến mức thấp nhất các thiệt hại chứ không phải là không có thiệt hại Vì vậy, sự ổn định, an toàn và có hiệu quả đối với NHTM là vấn đề phải luôn được coi trọng

Edward W.Reed và Edward R Goll người mỹ trong tác phẩm nghiệp vụ NHTM của mình đã cho rằng : “ NHTM là một tổ chức kinh doanh được điều

Trang 2

hành một cách chặt chẽ nhất, ít có lĩnh vực kinh doanh nào bị kiểm tra thường xuyên và quản trị chặt chẽ bởi các nhà chức trách và các nhà quản trị để xem chúng có hoạt động phù hợp với những nguyên tắc của luật pháp và những qui định hay không – sở dĩ có điều đó là do bản chất cộng đồng của nó”

Xuất phát từ yêu cầu trên, công việc quản trị NHTM mà mục tiêu tối thượng là hiệu quả kinh doanh không chỉ mang ý nghĩa cấp bách mà còn cơ bản và lâu dài, quyết định sự thành bại của một định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất này [3]

Trở về với đối tượng nghiên cứu – NHNo & PTNT Tỉnh Bình Thuận, quá trình hoạt động những năm qua, tuy có chiều hướng phát triển, nhưng vẫn còn không ít khó khăn do tác động từ những nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan, dẫn đến hiệu quả kinh doanh chưa cao, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của tiến trình cơ cấu lại NHNo VN để bước vào hội nhập Vì vậy, vấn đề trước tiên đặt ra cho NHNo Bình Thuận là nâng cao hiệu quả kinh doanh, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của NHNo VN, phấn đấu trở thành một NHTM mạnh trên địa bàn và khu vực, đủ sức cạnh tranh, tạo thế ổn định, an toàn, hiệu quả và không ngừng phát triển

Từ những suy nghĩ trên, tôi đã chọn đề tài “ Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của NHNo Bình Thuận ” để xây dựng bản luận văn Cao

Trang 3

cấp hữu quan về một số biện pháp quản lý hoạt động kinh doanh của ngành

NHNo VN

Nội dung đề tài sẽ tái hiện bức tranh hoạt động của NHNo Bình Thuận trên địa bàn, nhìn nhận một cách khái quát môi trường kinh doanh, những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân, đồng thời đề ra các giải pháp khắc phục, giúp NHNo Bình Thuận đủ sức cạnh tranh mở rộng thị phần, nâng cao hiệu quả kinh doanh, từng bước tiến lên hiện đại hóa NHTM; đồng thời kiến nghị NHNo VN thực hiện một số giải pháp nhằm tháo gở những vướng mắc trong hoạt động của hệ thống chi nhánh trực thuộc, bảo đảm sự không ngừng lớn mạnh trong hoạt động kinh doanh của NHNo VN

Với mục tiêu tổng quát nêu trên, phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm:

- Nghiên cứu hoạt động kinh doanh của NHNo Bình Thuận giai đoạn

2001-2004

- Nghiên cứu một số chủ trương, chính sách, qui định của nhà nước liên quan đến hoạt động NHTM nói chung, NHNo VN, trong đó NHNo Bình Thuận nói riêng

- Một số chủ trương của địa phương về phát triển kinh tế - xã hội thời gian qua

Với phạm vi nghiên cứu như trên, nội dung nghiên cứu được triển khai theo phương pháp tổng thể- dựa trên cơ sở nghiên cứu khía cạnh chung, thống nhất ở các đơn vị trực thuộc NHNo Bình Thuận, qua đó phát biểu thành vấn đề chung của NHNo Bình Thuận

Trang 4

CHƯƠNG I PHẦN LÍ LUẬN - TỔNG QUAN VỀ NHTM

I Những vấn đề cơ bản về NHTM

Theo pháp luật Việt Nam, NHTM là loại hình TCTD, hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ NH với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán [16]

NHTM – một tổ chức trung gian tài chính, có hoạt động gần gũi với công chúng và nền kinh tế – NHTM xuất hiện theo yêu cầu của nền kinh tế Trong quá trình hình thành và phát triển NHTM đã đi từ bước cực kỳ thô sơ và chính nhu cầu phát triển của nền kinh tế - xã hội đã là tác nhân thúc đẩy hoạt động NH để có được mức độ hiện đại ngày hôm nay Lịch sử đã chứng minh rằng NHTM là sản phẩm và được tách ra từ NHTW ( NH phát hành) Vào thời sơ khai, hoạt động NH chỉ bao gồm một số nghiệp vụ đơn giản như: bảo quản , giữ hộ tiền và đổi tiền hưởng hoa hồng Trong vòng 5 thế kỉ ( từ thế kỷ V – thế kỉ X) hoạt động NH có những bước tiến dài so với NH sơ khai ( đây là giai đoạn 2 của lịch sử NH) nhờ có những tiến bộ về mặt nghiệp vụ như sau: (i) Bắt đầu ghi chép và theo dõi hoạt động của thân chủ qua số liệu tài khoản, sổ sách kế toán cũng được thông tri cho tòa án để làm bằng chứng trong các cuộc tranh tụng (ii) Aùp dụng phương pháp bù trừ ( Comperosation) (iii) Nghiệp vụ chuyển tiền (iiii) Bảo lãnh bằng các thương phiếu (iiiii) Chiết khấu thương phiếu

Từ thế kỹ XI, hoạt động NH đã bước vào giai đoạn 3 với việc mạnh dạn cho vay, tạo các khoản tiền mới trong lưu thông, nghĩa là NH đã tham gia vào hoạt động cung ứng tiền Hoạt động NH ở giai đoạn 3 gắn chặt với việc tạo ra

“tiền NH” Các chứng thư do NH phát ra (như séc ngày nay) từ xa xưa đã được chấp nhận như phương tiện thanh toán trong giao dịch và trao đổi Đến cuối thế kỷ XVII, ở NH bắt đầu xuất hiện nghiệp vụ cho vay Do tiền NH từ đầu thế kỉ XVII đã được chấp nhận trong thanh toán như là tiền mặt, quá trình tạo ra tiền

NH làm ảnh hưởng sâu sắc tổng cung tiền tệ trong nền kinh tế

Từ năm 1609-1694 các NH đều có quyền tạo ra những tờ giấy bạc có hiệu lực pháp lý như nhau trong lưu thông, dẫn đến tình trạng phát hành tiền NH bị lạm dụng, làm cho trong nước có nhiều giấy bạc khác nhau gây cản trở việc giao lưu và phát triển kinh tế Để hạn chế việc phát hành, chính phủ các nước lần lượt giới hạn “quyền phát hành tiền” về cho một số NH và cuối cùng là một NH duy nhất vào cuối thế kỉ XVII Những NH còn lại chỉ còn một quyền đó là cho vay và

Trang 5

ñi vay tieăn teổ, töø ñađy hó môùi baĩt ñaău táo ra nhöõng chöùng thö cho vay vaø thanh toaùn Tuy nhieđn phại sau 1945, khi caùc nhaø nöôùc thöïc söï quoâc höõu hoaù NHTW vaø ñoôc quyeăn phaùt haønh giaây bác phaùp ñònh ( tieăn NHTW), caùc loái chöùng thö cụa

NH trung gian môùi ñöôïc chaâp nhaôn roông raõi nhö tieăn Nhö vaôy, tuy NH ra ñôøi töø raât lađu ( Theâ kư XV) nhöng tieăn cụa noù chư ñöôïc löu haønh roông rại töø ñaău theâ kyû

XX

Sau khi Chính phụ caùc nöôùc qui ñònh vieôc phaùt haønh tieăn laø ñoôc quyeăn cụa NHTW thì caùc NH coøn lái chư laøm nhieôm vú nhöõng trung gian taøi chính giöõa ngöôøi cho vay vaø ngöôøi ñi vay tieăn trong neăn kinh teâ, caùc NHTW hoaøn toaøn bieôt laôp vôùi cođng chuùng, mói hoát ñoông cụa noù ñeău thođng qua nhöõng ñònh cheâ trung gian vaø chính phụ ñeơ tieâp caôn vôùi cođng chuùng Töø nguyeđn nhađn naøy, nhöõng NH coøn lái trong neăn kinh teâ ñöôïc gói laø “ NH trung gian” Trong loái hình NH trung gian, heô thoâng caùc NHTM chieâm vò trí quan tróng nhaât veă qui mođ taøi sạn vaø veă thaønh phaăn caùc nghieôp vú – hoát ñoông cụa NHTM bao goăm 3 lónh vöïc: nghieôp vú nôï (huy ñoông voân), nghieôp vú coù (cho vay kinh doanh) vaø nghieôp vú mođi giôùi trung gian (dòch vú thanh toaùn, ñái lyù, tö vaân, thođng tin, giöõ hoô chöùng töø, vaôt coù giaù….) Ba loái nghieôp vú ñoù coù quan heô maôt thieât, taùc ñoông hoê trôï, thuùc ñaơy nhau phaùt trieơn, táo neđn uy tín cho NH, chính söï keât hôïp ñoăng ñoăng boô ñoù ñaõ trôû thaønh qui luaôt hoát ñoông cho NH vaø táo thaønh xu höôùng kinh doanh toơng hôïp ña naíng cụa caùc NHTM [3]

Vai troø & nhieôm vú cụa NHTM theơ hieôn qua sô ñoă sau:

Caù nhađn Caù Caù nhađn Toơ chöùc Toơ chöùc

Trang 6

Ở nước ta, sau khi cả nước thống nhất, hệ thống NHTM thực thụ được hình thành năm 1988 sau khi tách ra từ NHNN ( thành lập hệ thống NH 2 cấp) Theo

luật các tổ chức Tín dụng Việt Nam thì NH là loại hình tổ chức Tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động NH và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan

[16] Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình NH gồm: NHTM, NH phát triển, NH đầu tư, NH chính sách, NH hợp tác và các loại hình NH khác NHNo VN là NHTM nhà nước, hoạt động theo luật các TCTD & luật pháp liên

quan

II Đặc trưng hoạt động kinh doanh của NHTM

1- Quan hệ tín dụng NHTM dựa trên nguyên tắc có hoàn trả

NHTM với tư cách là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, hoạt động trên cơ sở

đi vay để cho vay thông qua nghiệp vụ tín dụng Hành vi kinh doanh tiền tệ của

NHTM thực chất là mua quyền sử dụng vốn ( thuê ) và bán ( cho thuê ) lại quyền sử dụng vốn đó, nó hoàn toàn khác với các loại hình kinh doanh khác của các tổ chức kinh tế, thể hiện như sau:

- Quan hệ tín dụng (đi vay và cho vay) chủ yếu dựa vào lòng tin lẫn nhau Khác với quan hệ mua bán thông thường khác, quan hệ tín dụng NH chỉ trao đổi quyền sử dụng giá trị khoản vay, chứ không trao đổi quyền sở hữu khoản vay Người cho vay giao giá trị khoản vay dưới dạng tiền tệ và hàng hoá cho đối tác sử dụng khoản vay trong thời hạn cam kết, người vay phải hoàn trả toàn bộ giá trị khoản vay cộng thêm khoản lợi tức trả cho người cho vay Do vậy, thực thể khoản vay vẫn còn tồn tại và có thể luân chuyển từ người này sang người khác do hoạt động cho vay của chủ thể cho vay

Trong quan hệ tín dụng, giá trị hàng hoá “khoản vay” không thay đổi hình thái, mà nó chỉ được chuyển từ người cho vay sang người đi vay và chỉ có một bên nhận được giá trị, bởi vì chỉ có một bên nhượng đi giá trị mà thôi

Điều này có nghĩa là hàng hoá “ khoản vay ” có đặc điểm sẽ quay trở về điểm xuất phát của nó, mà vẫn giữ nguyên vẹn giá trị vốn có, đồng thời lại lớn

lên thêm trong quá trình vận động

2- Lãi suất – đặc trưng về giá cả trong hoạt động kinh doanh của NHTM.

Lãi suất là giá cả của tín dụng Lãi suất biểu hiện giá cả khoản tiền mà

Trang 7

người cho vay đòi hỏi khi tạm thời trao quyền sử dụng khoản tiền của mình cho người khác Người đi vay coi lãi suất là khoản chi phí phải trả cho nhu cầu sử dụng tạm thời tiền của ngưòi khác Khi sử dụng khoản tiền vay vào quá trình SXKD, ngưòi đi vay sẽ thu được lợi nhuận, một phần lợi nhuận này trả cho người cho vay Như giá cả của mọi hàng hoá khác, lãi suất cũng phụ thuộc quan hệ cung cầu Cung, cầu vốn được hình thành trên cơ sở nguồn ký thác và yêu cầu của nền kinh tế Tuy nhiên lượng vốn được cung ứng lại phụ thuộc lãi suất

Trong thực tiễn, lãi suất chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như: kỳ hạn thanh toán, mức độ rủi ro, khả năng thanh khoản, lạm phát, tỷ giá hối đoái, chi

phí hành chính…… Tuy nhiên, để đơn giản hoá một vấn đề phức tạp, lý thuyết vốn có thể cho vay chỉ qui về một nhân tố cung cầu vốn để nghiên cứu Lý thuyết này

trong thực tế có thể thấy ở bất cứ nơi đâu có sự biến động về lãi suất cho vay của

NH Cho dù dich vụ kinh doanh của NH không kém phần quan trọng, nhưng rõ ràng công việc kinh doanh của NH vẫn là hoạt động như một trung gian tài chính đó là: chi trả tiền lãi cho phần tiền gửi của khách hàng và thu lãi đối với khoản tiền cho khách hàng vay Ở đây ta lưu ý đến hai nhân tố cơ bản cấu thành trong bất kỳ một lãi suất nào, đó là: (i) phần tiền trả cho người cho vay khi quyền sử dụng vốn được hoàn trả cho người sở hữu và (ii) phần tiền trang trải chủ yếu rủi

ro trong trường hợp quyền sử dụng vốn không được hoàn trả

Do đó hình thành nhiều loại lãi suất khác nhau của NHTM

3- Yếu tố niềm tin trong hoạt động tín dụng NH

Trong lĩnh vực hoạt động tài chính, một chủ thể được xem là uy tín khi chủ thể khác tin tưởng và sẵn sàng ký thác tài sản hoặc tiền bạc cho họ Tín nhiệm là yếu tố bao trùm trong hoạt động tín dụng, là điều kiện cần cho quan hệ tín dụng phát sinh

Từ đó có thể thấy rằng quan hệ tín dụng phải song hành với lòng tin Khi thiếu lòng tin, người ta buộc phải gia cố lòng tin bằng các “quyền truy đòi”, áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay…

Lòng tin trong quan hệ tín dụng được biểu hiện cả hai phía: người cho vay và người đi vay Riêng về phía người đi vay, nếu họ cảm nhận người cho vay không đủ điều kiện đáp ứng cho họ về lượng tín dụng, thời hạn cho vay, năng lực

Trang 8

đàm phán, các điều kiện phục vụ… thì quan hệ tín dụng vẫn có thể không phát sinh

Lòng tin trong quan hệ tín dụng có những nét đặc biệt hơn so với yếu tố lòng tin trong các quan hệ phi NH bởi NH đóng vai trò là người cho vay vừa là người đi vay Do vậy, NH một mặt phải thể hiện lòng tin , mặc khác phải kiểm tra lòng tin với khách hàng Điều này trực tiếp quyết định sự an toàn, hiệu qủa, đồng nghĩa với sự sinh tồn của NHTM

Một đặc thù của hoạt động NH là tình trạng tài chính của một NH phụ thuộc vào niềm tin của khách hàng gửi tiền đối với giá trị tài sản của NH đó Nếu họ tin rằng nhiều tài sản của NH đã giảm giá trị thì có thể làn sóng rút tiền ký thác sẽ diễn ra mạnh mẽ, dẫn đến phá sản không chỉ riêng NH quản lý kém về

tài sản mà còn kéo theo cả hệ thống

4- Tín dụng NH tạo tiền ký thác, tạo tài nguyên cho hoạt động NH

Tạo và hủy tiền là chức năng riêng của tín dụng NH và làm cho hoạt động tín dụng của NH khác hẳn với hoạt động kinh doanh thông thường khác Thuở sơ khai, các NH có thể tạo tiền bằng việc phát hành các ngân phiếu thanh toán ( tiền thân của giấy bạc NH ) thay cho vàng trong lưu thông Ngày nay, NHTM tạo tiền bằng cách tạo ra bút tệ ( tiền ghi sổ) theo phương pháp cho vay chuyển khoản

Khi NHTM cho vay bằng tiền mặt, việc cho vay thực chất là chuyển số tiền từ tay người này sang tay người khác sử dụng, người cho vay mất đi cái mà người

đi vay nhận được Nhưng khi NH cho vay chuyển khoản thì NH không mất đi cái

gì mà khách hàng còn có phương tiện tạo ra sức mua

Tóm lại, trong các loại tín dụng khác, cho vay hoặc thu nợ đều là quá trình chuyển một lượng tiền từ tay người này sang tay người khác Trong khi NHTM cho vay chuyển khoản sẽ tăng lượng tiền (bút tệ), ngược lại khi thu nợ bằng chuyển khoản sẽ làm giảm một lượng tiền

Có thể nói rằng NHTM thông qua công cụ tín dụng đã tạo và hủy tiền, cung cấp phương tiện thanh toán cho nền kinh tế Như vậy, NHTM đã tạo tài nguyên quan trọng nhất phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình

5- Sử dụng công nghệ đặc biệt: công nghệ biến đổi cơ cấu thời hạn của các đồng tiền

Trang 9

Hoạt động kinh tế trong xã hội luôn phát sinh tình trạng lưỡng lập, đó là luôn có những người thừa tiền muốn cho vay và những người thiếu tiền muốn đi vay Thị trường tài chính trực tiếp sẽ bị bế tắc trong trường hợp này, nhưng thị trường tài chính gián tiếp có đủ điều kiện để giải quyết bế tắc trên Thông qua họat động tín dụng, NHTM tuy nắm giữ các tích sản kém tính lưu hoạt so với tiêu sản mà họ phát hành, nhưng vẫn duy trì được năng lực chi trả, đó là đặc trưng mà tài chính trực tiếp không có được

Các biện pháp nhằm thay đổi cơ cấu thời hạn ngân quỹ luôn đáp ứng được yêu cầu về khả năng thanh toán cho khách hàng và khả năng thanh khoản của

NH, đã hình thành một công nghệ đặc biệt của NH - công nghệ thay đổi thời hạn sử dụng của các đồng tiền

Thước đo hiệu quả kinh doanh của NHTM là lợi nhuận Tính khả dụng và khả năng sinh lời của một tài sản NHTM luôn đối nghịch nhau Do đó, NH phải chọn một mức cân bằng giữa các tài sản có tính khả dụng cao nhưng khả năng sinh lời kém và tài sản có tính khả dụng kém nhưng khả năng sinh lời cao, đồng thời xem xét vấn đề đối nghịch giữa tính khả dụng và khả năng sinh lời trong khả năng có thể chấp nhận được Công nghệ đặc biệt của NH – công nghệ biến đổi cơ cấu thời hạn của các đồng tiền, là cách làm cho hai yêu cầu có tính tương phản là

“ an toàn và hiệu quả” trở thành tương hợp Trong nền kinh tế phát triển, công nghệ NH hiện đại, việc gửi và rút tiền được nhanh chóng, thuận lợi, đã kích thích công chúng gửi tiền vào NH, vì đó là việc làm nhiều lợi ích so với để tiền trong túi Đến lúc ấy, công nghệ biến đổi thời hạn sử dụng của các đồng tiền của NHTM mới thật sự đầy đủ ý nghĩa

Để tương hợp hai yếu tố: an toàn và hiệu quả, NH đã phải luôn tìm biện pháp đầu tư tài chính có hiệu quả cao nhất, đồng thời phải bảo đảm khả năng thanh khoản bằng cách sắp xếp hài hòa các yếu tố tài sản “nợ” và tài sản ‘có”, đồng thời cũng phải khéo léo áp dụng các kỹ thuật tạo nguồn ký thác mà NH được quyền sử dụng

6- Trung tâm biến đổi và tiếp nhận rủi ro trong nền kinh tế

Quan niệm về NHTM và hoạt động của nó chỉ thực sự đúng đắn và đầy đủ

ý nghĩa thực tiễn khi được xem xét gắn với hoạt động của nền kinh tế Đặc biệt khi được xem xét dưới góc độ rủi ro của nền kinh tế Ở những nội dung trên, khi bàn về tính chất trung gian tài chính của NHTM, chúng ta chỉ xem xét NHTM

Trang 10

theo các chức năng tương đối độc lập trong quan hệ với nền kinh tế Trong thực tiễn, hệ thống NH và nền kinh tế luôn có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau một cách chặt chẽ và nhạy bén Khi NHTM làm nhiệm vụ trung gian tín dụng, hoạt động NHTM đã ngầm chứa đựng rủi ro Hơn nữa khách hàng của NHTM là các chủ thể chứa đựng rủi ro, họ đến NH là muốn san sẽ rủi ro đó cho NH

Đối với khách hàng, rủi ro gây ra cho họ hết sức đa dạng và phong phú và xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau ở môi trường nội tại lẫn ngoại vi; từ những yếu tố kinh tế vi mô đến những tác động từ kinh tế vĩ mô Qua con đường tín dụng họ có thể chuyển các rủi ro đó cho NH

Đến lượt mình, với chức năng trung gian tài chính, NH trở thành một trung gian chuyển rủi ro trong nền kinh tế Thông qua các kênh ký thác, NHTM nhận các luồng tài chính từ những người cho vay đầu tiên, còn thông qua kênh tín dụng, NHTM chuyển các luồng tài chính đến người vay sau cùng Tương tự, NHTM cũng chuyển đi hoặc nhận về các luồng tài chính từ các định chế tài chính khác Khi làm việc này, NHTM cũng đồng thời tạo lập các kênh dẫn rủi ro giữa các chủ thể kinh tế, các định chế tài chính với nhau Rủi ro này có tính chất lây lan Vì vậy, tác hại lây lan rủi ro của NHTM là đặc điểm cần lưu ý

NHTM là chủ thể kết nối ý nguyện về thời hạn đồng tiền giữa 2 chủ thể nêu trên Làm việc này, NHTM đã biến đổi rủi ro – giảm rủi ro tái đầu tư cho người điù vay cuối cùng, đồng thời giảm rủi ro thanh khoản cho người cho vay đầu tiên Trường hợp này, NHTM tất nhiên đã nhận về mình các rủi ro khách hàng chuyển đến

Sử dụng tiền gửi ngắn hạn để cho vay dài hạn là một trong những biện pháp tối đa hoá lợi nhuận của NHTM, nhưng rủi ro thanh khoản kèm theo cũng không nhỏ Tuy nhiên, vì mục tiêu tối thượng là tối đa hoá lợi nhuận, các NHTM đều cố gắng hiệu quả hoá tài sản nợ theo phương pháp trên, vì họ tin rằng việc gửi tiền của khách hàng là một chuỗi tương đối liên tục khi NH còn duy trì được sự tín nhiệm với các đối tác

Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng hoạt động kinh doanh của NHTM mở rộng lợi nhuận nhưng cũng đồng thời mở rộng rủi ro cho các chủ thể kinh tế và cho cả nền kinh tế Các trung gian tài chính là đầu mối nhạy cảm nhất trong việc chuyển tải các tác động vi mô lên nền kinh tế vĩ mô và ngược lại Vì thế, ổn

Trang 11

định hoạt động của trung gian tài chính là một trong những tiền đề cơ bản để ổn định kinh tế vĩ mô [2], [3], [4]

III Hiệu quả kinh doanh của NHTM

Cũng như bao doanh nghiệp khác, mục tiêu tối thượng trong hoạt động của NHTM là lợi nhuận, trong đó lành mạnh và ổn định luôn là nền tảng của hoạt động NHTM Lợi nhuận là thước đo hiệu quả kinh doanh của NHTM Tuy nhiên, lợi nhuận NHTM chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố Vì vậy, khi xem xét hiệu quả kinh doanh của NHTM, ngoài hệ thống chỉ tiêu về tài chính, người ta còn xem xét đến nhiều chỉ tiêu liên quan về qui mô và chất lượng tài sản “nợ”, tài sản “có”, nghiệp vụ trung gian, khả năng thanh toán, khả năng sinh lời v.v… Trong phạm vi luận văn, chỉ tập trung đề cập khái quát một số vấn đề lý thuyết trực tiếp liên quan sau đây:

1- Chất lượng tài sản có

Tài sản “có” là phần nguồn vốn được sử dụng vào kinh doanh và duy trì khả năng thanh toán của một NHTM Chất lượng tài sản “có” là chỉ tiêu tổng hợp nhất nói lên khả năng bền vững về mặt tài chính, khả năng sinh lời và năng lực quản lý của một NHTM Phần lớn rủi ro vốn trong kinh doanh tiền tệ đều tập trung ở tài sản “có”

Thông thường, tài sản “có” của NHTM bao gồm:

+ Tiền mặt và tiền gửi ở NHNN: loại tài sản này không sinh lời, chủ yếu dùng vào mục đích thanh khoản (trừ loại dự trữ thặng dư khi được sử dụng như tài sản “có” sinh lời) Loại này gọi chung là tiền dự trữ, bao gồm: dự trữ bắt buộc (dự trữ pháp định), dự trữ luân chuyển, dự trữ thặng dư (dự trữ dư thừa)

Tiền dự trữ là các tài sản lưu hoạt cao, có thể đáp ứng tức khắc các nhu cầu rút tiền của người ký thác

+ Cho vay các TCKT và các tầng lớp dân cư : đây là bộ phận sinh lời chủ yếu và cũng là nơi phát sinh nhiều rủi ro của NHTM

+ Đầu tư và kinh doanh chứng khoán

+Tài sản có khác: tài sản cố định và thiết bị; các khoản phải thu…

Trang 12

Để phân tích tài sản “có” một cách toàn diện, các nhà quản trị phải nghiên cứu từ việc xác định chính sách, chiến lược kinh doanh đến các thủ tục nghiệp vụ, khả năng kiểm soát nội bộ và độ an toàn về tài sản của NH Khi cấp tín dụng, các

NH phải quan tâm đến nguyên tắc rủi ro… Khi phân tích tài sản “có”, công việc đầu tiên của nhà quản trị là phải phân loại các khoản nợ để quản lý một cách hiệu quả các khoản nợ này

Tài sản “có” của NHTM phần lớn là các khoản cho vay Do đó, việc đánh giá chất lượng tín dụng và xem xét sự tác động của nó đối với các yếu tố tài chính là việc làm quan trọng trong phân tích Sức bền của một NHTM phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng tài sản “có” và tình hình trích lập dự phòng rủi ro

2- Khả năng thanh toán

Khả năng thanh toán của NHTM có thể xem xét theo nhiều góc độ khác nhau Theo chúng tôi khả năng thanh toán của một NHTM là tình trạng tiền mặt sẳn sàng (Access to ready cash) để chi trả hay gia tăng tài sản có

Đánh giá khả năng thanh toán của một NHTM là vấn đề khó khăn Về cơ bản, phân tích khả năng thanh toán của một NHTM là xem xét khả năng giải quyết được vấn đề nguồn vốn vào lúc tương đối bức xúc

3- Khả năng sinh lời

Khả năng sinh lời là kết quả cụ thể nhất của quá trình kinh doanh Mọi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường chỉ có thể tồn tại và phát triển bằng cách tạo ra lợi nhuận trong kinh doanh Lợi nhuận là một chỉ tiêu tổng hợp đánh

giá hiệu quả kinh doanh của các NHTM [2], [3], [4], [5]

Để lượng hóa những vấn đề nêu trên, người ta thường sử dụng một số chỉ tiêu quan trọng sau đây để đánh giá hiệu quả kinh doanh của NHTM:

1 Chỉ tiêu về nguồn vốn:

Số dư của từng loại nguồn vốn

Tỷ trọng từng loại nguồn vốn = ⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯ x 100

Tổng nguồn vốn

Trang 13

2 Chỉ tiêu về chất lượng tài sản “có”:

tồn đọng càng ít, đồng thời rủi ro tín dụng càng lớn

H₃ : Thể hiện chất lượng tín dụng

3 Chỉ tiêu về khả năng thanh toán:

Người ta thường dùng chỉ số sau đây để đánh giá khả năng thanh toán của

NHTM:

Tài sản “có” động

Khả năng thanh toán tức thì = ⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯ x 100

Tài sản “nợ” dễ biến động

Tài sản có động là tài sản có dễ chuyển đổi thành tiền Chỉ số đo lường khả

năng thanh toán tức thì cao, chứng tỏ NH có thanh khoản tốt Nhưng nếu chỉ số

này quá cao, nó sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của NH

Vấn đề đặt ra là chỉ số này ở mức bao nhiêu là hợp lý Thông thường, các

NHTM hoạt động tốt có thể duy trì chỉ số này tương đối thấp so với NHTM hoạt

động yếu kém

4 Khả năng sinh lời: Để đánh giá lợi nhuận của NHTM, người ta thường sử

dụng các chỉ số sau đây:

Thu nhập ròng Thu nhập ròng

ROA = ⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯ x 100 ; ROE = ⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯ x 100

Tài sản có Vốn tự có

Ngoài ra, người ta còn sử dụng một số chỉ tiêu bổ sung sau:

Thu nhập ròng

* Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng thu nhập = ⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯ x 100

Tổng thu nhập

Lãi ròng

*Tỷ suất lợi nhuận = ⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯ x 100

Trang 14

Tài sản có sinh lời

Thu nhập lãi - chi phí lãi

*Lãi ròng biên tế = ⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯ Tích sản sinh lãi ròng

Trong hệ thống NHNo VN, chi nhánh cấp 1 (NHNo Tỉnh, Thành phố và các đơn vị thành viên khác) không được NHNo VN giao chỉ tiêu lợi nhuận mà sử

dụng chỉ tiêu Qũy thu nhập để đánh giá năng lực tài chính và hiệu quả kinh

doanh

Qũy thu nhập = Doanh thu – chi phí (không kể chi lương)

Bên cạnh, căn cứ Thông tư số 49/2004/TT-BTC ngày 03/06/2004 của Bộ Tài chính về hướng dẫn chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính của các tổ chức tín dụng nhà nước, NHNo VN đã cụ thể hóa hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh đối với chi nhánh cấp 1 trực thuộc trong hệ thống NHNo VN bao gồm:

(1) Tốc độ tăng trưởng huy động vốn tại địa phương

Số dư vốn huy động bình quân của năm nay

(1) = ( ⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯ - 1 ) x 100

Số dư vốn huy động bình quân của năm trước

(2) Tốc độ tăng trưởng đầu tư vốn

Dư nợ cho vay và đầu tư giấy tờ có giá bình quân năm nay

(2) = ( ⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯ - 1 )x 100

Dư nợ cho vay và đầu tư giấy tờ có giá bình quân năm trước

Tài sản có sinh lời bình quân

(3) Khả năng sinh lời = ⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯ x 100%

Tổng tài sản có nội bảng bình quân

(4) Tỷ lệ thu dịch vụ

Số Dư NQH cuối kỳ

(5) Tỷ lệ NQH = ⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯ x 100

Tổng dư nợ cho vay cuối kỳ

(6) Chênh lệch lãi suất = Lãi suất thực tế đầu ra – Lãi suất thực tế đầu vào

Trang 15

IV- Những vấn đề rút ra từ việc nghiên cứu lý luận:

Từ thực trạng hoạt động NHNo Bình Thuận, luận văn đã nêu lý do chọn đề tài luận văn là nhằm tháo gở những vuớng mắc và hạn chế trong hoạt động kinh doanh của NHNo Bình Thuận Trong phạm vi nghiên cứu, các nội dung nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp tổng thể - nghiên cứu khía cạnh chung, thống nhất ở các đơn vị trực thuộc, qua đó phát biểu thành vấn đề chung của NHNo Bình Thuận

Trong phần lý luận, luận văn đã khái quát lịch sữ hình thành và phát triển của hệ thống NHTM trên thế giới và Việt Nam nói riêng; đề cập vai trò, nhiệm vụ của NHTM Trọng tâm của phần lý luận là hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về đặc trưng hoạt động kinh doanh của NHTM, từ đó đề cập đến nội dung về hiệu quả kinh doanh của NHTM nói chung, cũng như những qui định về quản lý hiệu quả kinh doanh trong hệ thống NHNo VN

Qua nghiên cứu lý luận tổng quan về NHTM có thể rút ra một số bài học chủ yếu để vận dụng vào quản trị NHTM như sau:

- Sự hình thành và phát triển của NHTM xuất phát từ yêu cầu của nền sản xuất hàng hóa và gắn bó chặt chẽ với sự phát triển của xã hội loài người qua nhiều giai đoạn lịch sữ

- NHTM – trung gian tài chính có khả năng kết nối ý nguyện giữa chủ thể

ký thác và chủ thể vay vốn để kinh doanh chủ yếu bằng vốn của người khác; có

khả năng biến đổi cơ cấu thời hạn các đồng tiền để ứng dụng vào hoạt động kinh doanh một cách có hiệu quả dựa trên qui luật số lớn, nhưng đồng thời cũng có nhiều khả năng nhận rủi ro và chuyển rủi ro trong mối quan hệ với nền kinh tế

Vì vậy, yếu tố niềm tin và chất lượng tín dụng luôn là cơ sở và nền tảng của hiệu quả kinh doanh Mọi sự suy giảm về niềm tin (có sự chi phối chủ yếu của chất lượng tín dụng) đều dẫn đến suy giảm hiệu quả kinh doanh hoặc đổ vở hoạt động NHTM, mà tác động của hậu quả này không chỉ dừng lại ở một NHTM riêng lẽ,

đồng thời tác động xấu đến kinh tế vĩ mô NHTM luôn phải lưu ý rằng: càng cao lợi nhuận càng nhiều rủi ro Vì vậy, trong quản trị hoạt động tín dụng luôn cần có

biện pháp giám sát chặt chẽ để làm cho hai yếu tố tương phản là an toàn và hiệu quả trở thành tương hợp Đây là vấn đề không hề đơn giản trong quản trị NHTM

Trang 16

- Lãi suất là giá cả của tín dụng Lãi suất được cấu tạo bởi nhiều nhân tố, gồm cả các nhân tố chủ quan lẫn khách quan Trong nền kinh tế thị trường, cần đặc biệt quan tâm đến quan hệ cung cầu về vốn – nhân tố quan trọng cấu thành lãi suất Vì vậy không thể chủ quan duy ý chí trong ấn định lãi suất, mà phải tuân thủ chặt chẽ các qui luật kinh tế thị trường, dự báo khả năng lạm phát (liên quan đến lãi suất thực), biện pháp quản trị khe hở (GAP) liên quan cơ cấu tài sản “nợ” và tài sản “có” biến động … để xây dựng hệ thống lãi suất phù hợp với mục tiêu không ngừng nâng cao lợi nhuận, giảm thiểu rủi ro tín dụng, lãi suất, tỷ giá, thanh khoản … kết hợp với chiến lược chiếm lĩnh và mở rộng thị phần hoạt động Mặt khác, cần lưu ý mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt thu hút nguồn vốn giá rẻ, tiết giảm chi phí vốn, tăng cường hiệu quả kinh doanh

- Hoạt động NHTM đang trong lộ trình hội nhập quốc tế, yêu cầu bức xúc đặt ra cho hệ thống NHTM là mở rộng qui mô, nâng cao chất lượng kinh doanh Để thỏa mãn yêu cầu trên, đòi hỏi NHTM phải luôn tăng cường nguồn vốn kinh doanh, đổi mới và ứng dụng công nghệ NH tiên tiến, phương pháp quản trị và tác nghiệp NHTM hiện đại Vấn đề này liên quan đến năng lực tài chính và chất lượng nguồn nhân lực của NHTM, trong đó chất lượng nhân lực là nhân tố then chốt, quyết định sự thành bại trong hoạt động Vì vậy, việc xây dựng hệ thống nhân lực có chất lượng và không ngừng nâng cao là không thể thiếu và tối trọng đối với hoạt động NHTM trong điều kiện hội nhập và song hành với nền kinh tế tri thức cận kề

Trang 17

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHNo BÌNH THUẬN

I Tình hình kinh tế – xã hội Tỉnh Bình Thuận

Bình Thuận là một tỉnh duyên hải Nam Trung bộ, diện tích vùng lãnh hải 52.000 km2 với 192 km bờ biển Bình Thuận tiếp giáp với Tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa- Vũng Tàu, đây là điều kiện để Bình Thuận tiếp cận, giao lưu với khu vực kinh tế phát triển vào loại bậc nhất Việt Nam Bình Thuận với diện tích tự nhiên: 7.828 km2, với 10 huyện, thành phố, trong đó có 4 huyện với 62 xã thuộc miền núi, vùng cao, 27 xã thuộc diện khó khăn Bình Thuận có vị trí khá thuận lợi, có nhiều tiềm năng về đất đai, lao động và tài nguyên thiên nhiên để phát triển nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ du lịch biển Về công nghiệp, Bình Thuận với nền công nghiệp tuy còn non trẻ, nhưng có nhiều triển vọng phát triển Với chính sách khuyến khích đầu tư thông thoáng và tạo nhiều thuận lợi, đã làm cho Bình Thuận trở thành một trong những miền đất thu hút được nhiều dự án đầu tư trong và ngoài nước Bình Thuận có dân số 1,220 triệu nguời với 27 dân tộc chung sống, trong đó gần 70% sống ở nông thôn; mặt bằng dân trí còn thấp, nhiều hủ tục chi phối đời sống kinh tế văn hóa Đây là một trong những khó khăn làm hạn chế khả năng phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn Cơ cấu kinh tế Tỉnh Bình

Thuận hiện đang chuyển dịch từ: Nông nghiệp – Dịch vụ – Công nghiệp sang Công nghiệp – Dịch vụ – Nông nghiệp giai đoạn 2005-2010 Bên cạnh diện tích

đất nông nghiệp, Bình Thuận có diện tích đất rừng khá lớn, có điều kiện phát triển chăn nuôi gia súc như : bò, dê, cừu… Với chiều dài bờ biển như trên, Bình Thuận có nhiều thuận lợi trong khai thác đánh bắt thủy sản với nhiều loại có giá trị cao trong tiêu thụ nội địa và xuất khẩu Có thể nói, Bình Thuận là một trong số các địa phương có thế mạnh về biển Cũng từ thế mạnh này, kinh tế Bình Thuận đang mở ra hướng dịch vụ du lịch biển thu hút du khách trong và ngoài nước như: Tà Cú, Mũi né, Hòn rơm, Hòa Thắng…

Về hệ thống cơ sở hạ tầng: quá trình phát triển, Bình Thuận bước đầu đã xây dựng được hệ thống cơ sở vật chất và tích lũy kinh nghiệm trong phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt là mạng lưới giao thông đã hình thành về cơ bản, tạo điều kiện phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn nói chung, đặc biệt là thành phố Phan Thiết

Trang 18

Trong 4 năm qua, kinh tế Bình Thuận có sự phát triển tương đối toàn diện; tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm là 12,04% Các ngành kinh tế đều có sự phát triển, đặc biệt là ngành công nghiệp và dịch vụ Cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp đã có sự chuyển dịch đáng kể theo hướng mở rộng ngành chăn nuôi với một số lượng lớn kinh tế trang trại và chăn nuôi qui mô gia đình, giảm diện tích trồng lúa, tăng diện tích trồng cây công nghiệp dài ngày…

Tuy nhiên, Bình Thuận vẫn còn là Tỉnh nghèo với thu ngân sách tăng bình quân hàng năm là 31,5% Nhịp độ tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng, chất lượng tăng trưởng còn kém, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn nhiều hạn chế; công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn diễn ra tương chậm, chất lượng hạn chế Trình độ phát triển các vùng trong tỉnh còn khá nhiều chênh lệch, nhiều vùng còn yếu, đặc biệt là nông thôn, vùng sâu, vùng xa… Kinh tế nông nghiệp chịu ảnh hưởng lớn bởi thiên tai, nắng hạn Đời sống nhân dân, đặc biệt nông dân còn nhiều khó khăn Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm Điều này đã và sẽ còn ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của NHNo Bình Thuận [12], [13]

II Tình hình hoạt động kinh doanh của NHNo Bình Thuận

1- Khái quát hoạt động kinh doanh của NHNo Bình Thuận giai đoạn 2001-2004

Trên địa bàn Tỉnh Bình Thuận hiện có 7 chi nhánh NHTM cùng tồn tại

gồm: AgriBank - ICB – VCB – BID – ACB – SacomBank – NH Cổ Phần Phương Nam – Qũy TDND, mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt, đặc biệt là tại

địa bàn thành phố Phan Thiết, thị xã Lagi NHNo Bình Thuận được thành lập năm 1988 sau khi chủ trương hình thành NH 2 cấp ra đời NHNo Bình Thuận hiện có 368 CBVC, đa phần được tiếp nhận từ NHNN và NH Đầu Tư Phát Triển (cũ); mạng lưới rộng khắp từ thành phố Phan Thiết đến các Huyện, Thị xã, trụ sở chính đặt tại Thành phố Phan Thiết với 10 chi nhánh cấp 2 và 14 chi nhánh cấp 3, phòng giao dịch trực thuộc

NHNo Bình Thuận là chi nhánh cấp 1 hạch toán báo sổ, trực thuộc NHNo

VN Hoạt động kinh doanh của NHNo Bình Thuận tập trung chủ yếu vào lĩnh vực tín dụng, trong đó tín dụng nông nghiệp chiếm tỷ trọng dư nợ trên 60% Bên cạnh sự cạnh tranh của các TCTD trên địa bàn, hoạt động kinh doanh của NHNo Bình Thuận luôn chịu ảnh hưởng nặng nề bởi rủi ro tín dụng do thiên tai cùng các yếu

Trang 19

tố thuộc môi trường nội tại Vì vậy, kết quả kinh doanh của NHNo Bình Thuận nhiều năm liền còn hạn chế và chỉ chuyển biến đáng kể trong những năm gần đây

2- Những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân

2.1- Kết quả đạt được

Thứ nhất, NHNo Bình Thuận đã huy động một lượng vốn đáng kể, góp

phần tháo gỡ khó khăn về vốn để cấp tín dụng, từng bước mở rộng hoạt động kinh doanh

Biểu 1: Tăng trưởng nguồn vốn của NHNo Bình Thuận

Đơn vị tính: tỷ đồng

N guồn: Báo cáo tổng kết hoạt động KD NHNo Bình Thuận năm 2001,2002,2003,2004

Thực hiện chủ trương của NHNo VN, NHNo Bình Thuận đã hướng ra thị trường để khai thác nguồn vốn 4 năm gần đây, nếu như mức tăng trưởng nguồn vốn huy động bình quân của NHNo VN là 36,14% thì NHNo Bình Thuận tăng 44,98% Quá trình huy động vốn cùng với việc mở rộng mạng lưới giao dịch, NHNo Bình Thuận đã từng bước đa dạng hóa các hình thức huy động vốn, sử dụng có hiệu quả bước đầu công cụ lãi suất và áp dụng một số công nghệ thanh toán tiên tiến trong phạm vi đầu tư và qui định của NHNo VN Ngoài các hình thức huy động các loại tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm có tính cổ truyền, NHNo Bình Thuận đã thực hiện có kết quả các hình thức tiết kiệm bậc thang, chứng chỉ tiền gửi, đặc biệt là tổ chức có hiệu quả các đợt huy động tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm trung và dài hạn

Trang 20

Bên cạnh huy động nội tệ, NHNo Bình Thuận đã tiến hành huy động ngoại

tệ và đã có kết quả bước đầu mang tính nền tảng

Riêng lãi suất, để thực hiện cơ chế lãi suất thực dương trên cơ sở trần lãi

suất tiền gửi, NHNo Bình Thuận đã áp dụng linh hoạt lãi suất huy động giữa nông

thôn và thành thị nhằm bảo đảm yếu tố cạnh tranh và hiệu quả

Sự không ngừng tăng trưởng nguồn vốn huy động đã tạo điều kiện cho

NHNo Bình Thuận tháo gở khó khăn về vốn tín dụng và thanh toán, từng bước

chủ động hơn về nguồn vốn để đáp ứng cho các nhu cầu thanh khoản và cho vay

Biểu số 2 : Cơ cấu nguồn vốn của NHNo Bình Thuận

Đơn vị tính: tỷ đồng

2001 2002 2003 2004 B quân Chỉ tiêu Tiền % Tiền % Tiền % Tiền % Tiền %

(%) trên

địa bàn

tỉnh

Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động KD NHNo Bình Thuận năm 2001,2002,2003,2004.

So với các NHTM trên địa bàn thì nguồn vốn huy động của NH chiếm bình

quân 53% thị phần theo số dư, trong đó tiền gửi dân cư tăng khá ổn định, bình

quân chiếm từ 55 –60% /tổng nguồn vốn huy động của NHNo Bình Thuận

Thứ hai, khối lượng vốn tín dụng cung ứng trên địa bàn ngày càng tăng, với

cơ cấu ngày càng phù hợp hơn so với chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn

Trang 21

Biểu số 3: Tăng trưởng và cơ cấu dư nợ của NHNo Bình Thuận theo thời hạn cho vay và theo ngành kinh tế

Đơn vị tính: tỷ đồng

Chỉ tiêu 2001 2002 2003 2004 Bình quân

1- Tổng dư nợ (không kể DV

- Tỷ lệ tăng so năm trước(%) - +26,95 +33,82 +25,73 + 28,78

- Tỷ lệ dư nợ trung, dài hạn (%) 46,44 44,24 47,60 43,90 45,54 2- Cơ cấu dư nợ theo ngành kinh tế (%) 100 100 100 100

- Nông, Lâm, Ngư nghiệp (%) 66,53 61,45 57,27 52,53

* Thị phần theo số dư nợ (%) 50,00 55,00 60,00 59,00 56,00

Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động KD NHNo Bình Thuận năm 2001,2002,2003,2004.

Thời gian qua, tổng dư nợ NHNo Bình Thuận (không kể dư nợ UTNHCSXH) liên tục tăng với mức bình quân là 28,78%/năm Đây là mức tăng trưởng khá, dù trong điều kiện năm 2004 NHNo VN khống chế tăng trưởng dư nợ So với toàn hệ thống NHTM kể cả Quỹ TDND, thị phần tín dụng của NHNo Bình Thuận luôn ở mức cao với bình quân thị phần khoản 56% Phần lớn thị trường tín dụng nông thôn do NHNo nắm giữ

Bên cạnh vốn tín dụng đang phân bổ vào nền kinh tế tỉnh ngày càng hợp lý hơn theo hướng mở rộng tín dụng đối với kinh tế tư nhân, tín dụng trung dài hạn, tỷ trọng đầu tư nông nghiệp giảm, công nghiệp, dịch vụ tăng phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương

Quá trình triển khai hoạt động tín dụng, NHNo Bình Thuận đã phân bổ vốn tín dụng, áp dụng lãi suất cho vay một cách hợp lý giữa khu vực thành thị và nông thôn tạo điều kiện cạnh tranh, mở rộng thị phần thành thị, chiếm lĩnh hầu hết thị

Trang 22

trường tín dụng nông thôn Thực tế cho thấy tại địa bàn thành phố Phan Thiết - nơi có nhiều NHTM cạnh tranh, NHNo Bình Thuận đã áp dụng lãi suất cạnh tranh thấp hơn khu vực nông thôn từ 0,1 – 0,15%/tháng và đạt tỷ trọng dư nợ từ

35 –40% /tổng dư nợ của NHNo Bình Thuận Tỷ trọng dư nợ cho vay khu vực nông thôn từ 60 - 65% được phân bổ phù hợp nhu cầu phát triển kinh tế từng vùng, từng địa phương

Thứ ba, Thu nhập tài chính có bước phát triển, đủ trang trải các khoản chi

phí, đặc biệt là chi lương kinh doanh theo qui định và góp phần tạo lợi nhuận cho NHNo VN

Biểu số 4: Kết quả tài chính của NHNo Bình Thuận

Đơn vị tính: tỷ đồng

b-Trã phí điều hòa nội bộ 26,28 39,21 53,10 60,58 44,79

d-Trích dự phòng rủi ro 9,65 8,32 6,60 11,43 9,00

e-Chi phí hoạt động KD khác 7,83 11,15 16,03 26,41 15,36

4-Lợi nhuận trước thuế 18,02 18,07 22,50 16,67 18,82

5-Tốc độ tăng doanh thu (%) - +29,02 +35,45 +18,37 +27,42 6-Tốc độ tăng chi phí (%) - +37,86 +37,90 +27,31 +34,26 7-Tốc độ tăng quỹ thu nhập (%) - +2,14 +30,77 -16,17 +3,84

8-Tốc độ tăng lợi nhuận trước

Trang 23

Từ đơn vị khó khăn về tài chính do địa bàn dàn trải rộng, biên chế lao động lớn, chi phí hoạt động cao, lại thường xuyên gặp rủi ro bất khả kháng, đến nay NHNo Bình Thuận đã cơ bản vượt qua khó khăn, từng bước cân đối được tài chính và hòa nhập vào dòng phát triển Doanh thu năm 2001 là 76,63 tỷ đồng, đến năm 2004 là 158,52 tỷ đồng, tốc độ tăng doanh thu bình quân hàng năm 27,42% Qũy thu nhập (Doanh thu trừ (-)chi phí chưa tính lương) tăng bình quân hàng năm 27,67%/năm, chênh lêch lãi suất thực tế bình quân + 0,329%/tháng

Với tình hình tài chính có bước phát triển, NHNo Bình Thuận từng bước được trang bị cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật cho công nghệ thanh toán, tiến hành đào tạo và đào tạo lại đội ngũ CBVC để dần đáp ứng yêu cầu cơ cấu lại hoạt động NHNo và hội nhập quốc tế

Bên cạnh những thành công và kết quả đạt được mang tính tiền đề cho sự

phát triển, hoạt động kinh doanh của NHNo Bình Thuận vẫn còn một số hạn chế

cơ bản sau:

Thứ nhất, tuy nguồn vốn huy động qua các năm tăng khá, nhưng mức tăng

và tốc độ tăng chưa cao so với yêu cầu, chưa đủ đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng và thanh toán, còn phụ thuộc nhiều vào NHNo VN về nguồn vốn kinh doanh

Xét dãy tiền sử theo biểu số 2 có thể thấy rằng: tỷ trọng nguồn huy động

trên tổng nguồn vốn đã tăng từ 36,80% năm 2001 lên 56,56% năm 2004, tỷ trọng bình quân 45,72% Xét về chiều hướng phát triển thì đây là dấu hiệu khả quan

Tuy nhiên, lý luận đặt ra cho NHTM là kinh doanh bằng vốn của người khác, cũng

như yêu cầu thực tiễn đặt ra cho việc mở rộng nghiệp vụ tài sản “có” thì tốc độ tăng và tỷ trọng tăng như vậy là chưa đạt yêu cầu Với nhu cầu mở rộng hoạt động kinh doanh, việc hạn chế về nguồn vốn đã làm cho NHNo Bình Thuận thường xuyên đối mặt với tình trạng “chảy máu khách hàng”, suy giảm cơ hội kinh doanh, bị động trong việc triển khai chiến lược mở rộng thị phần tín dụng và bất cập trong cạnh tranh Trong nhiều trường hợp việc bị động nguồn vốn đã dẫn đến hoạt động tín dụng kém bình thường, mà biểu hiện phổ biến là khách hàng cố trì hoãn việc trả nợ đến hạn, làm giảm khả năng thanh khoản đối với các khoản nợ

Trang 24

Biểu số 5: Cơ cấu nguồn vốn huy động của NHNo Bình Thuận phân theo tính

chất nguồn vốn

Đơn vị tính: tỷ đồng

2001 2002 2003 2004 BQ

Chỉ tiêu Giá trị Tỷ trọng

(%)

Giá trị Tỷ trọng

(%)

Giá trị Tỷ trọng

(%)

Giá trị Tỷ trọng

(%)

Giá trị Tỷ trọng

(%) Nguồn huy

Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động KD NHNo Bình Thuận năm 2001,2002,2003,2004

Biểu số 6: Cơ cấu nguồn huy động theo kỳ hạn của NHNo Bình Thuận

Đơn vị tính: tỷ đồng

2001 2002 2003 2004 BQ Chỉ tiêu Giá

trị

Tỷ trọng (%)

Giá trị

Tỷ trọng(%)

Giá trị

Tỷ trọng(%)

Giá trị

Tỷ trọng(%)

Giá trị

Tỷ trọng(%) Nguồn huy

Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động KD NHNo Bình Thuận năm 2001,2002,2003,2004.

Về mặt lý luận, trong nền kinh tế chỉ có một khu vực có thặng dư ròng, đó là

khu vực hộ gia đình Đây là khu vực cung ứng chủ yếu nguồn ký thác cho NHTM

Tuy nhiên, nghiên cứu cơ cấu nguồn huy động (biểu số 5, 6) dễ nhận thấy nguồn

tiền gửi dân cư có xu hướng giảm dần về tỷ trọng Tiền gửi không kỳ hạn chiếm

tỷ trọng ở mức bình quân 41,19%, trong đó tiền gửi KBNN chiếm 58%/tiền gửi

Trang 25

không kỳ hạn, điều này đã làm tăng tính không ổn định của nguồn vốn huy động,

do tiền gửi KBNN biến động thất thường theo yêu cầu thu - chi Ngân sách

Thứ hai, cơ cấu tín dụng còn nghèo nàn và chậm đổi mới Điều này làm

tăng thêm rủi ro trong hoạt động tín dụng

Những năm gần đây, cơ cấu tín dụng đã được cải thiện theo hướng tăng dần tỷ trọng dư nợ cho vay các ngành công nghiệp, thương mại, dịch vụ; củng cố chất lượng tín dụng nông nghiệp; đã giảm tỷ trọng cho vay doanh nghiệp nhà nước, tăng cho vay kinh tế tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ Riêng lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn – nơi có gần 70% dân cư sinh sống, chi nhánh đã chú trọng mở rộng cho vay kinh tế trang trại và những dự án kinh tế trong dự án chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, từng bước cho vay theo chiều sâu, giảm dần cho vay những món nhỏ lẽ (dưới 10 triệu đồng/món) do đã có NHCSXH đảm nhiệm Tuy nhiên tốc độ cơ cấu lại dư nợ theo hướng trên diễn ra khá chậm Dư nợ cho vay lĩnh vực kinh tế nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng trên 60% dư nợ Riêng các chi nhánh cấp 2 ở các huyện, tỷ trọng này lên đến xấp

xỉ 80% Điều kiện môi trường ở Bình Thuận khá khắc nghiệt, nên khoản Tín dụng này thường gặp rủi ro bất khả kháng, nợ quá hạn cao, thu lãi cho vay không đạt yêu cầu, chi phí cao (đặc biệt là phí dự phòng rủi ro), hạn chế kết quả tài chính.

Thứ ba, chất lượng tín dụng hạn chế, hiệu quả tín dụng chưa cao

Biểu số 7: Chất lượng tín dụng của NHNo Bình Thuận

Đơn vị tính: tỷ đồng

Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động KD NHNo Bình Thuận năm 2001,2002,2003,2004.

Nợ quá hạn trên cân đối kế toán chiếm tỷ trọng bình quân 1,48%, Tuy nhiên nợ quá hạn thực tế (bao gồm: nợ quá hạn, nợ khoanh, nợ quá hạn chưa chuyển) lại là con số lớn hơn nhiều Qua nghiên cứu số liệu 4 năm (2001-2004)

Trang 26

cho thấy nợ quá hạn của NHNo & PTNT Tỉnh Bình Thuận ở mức bình quân khá cao (5.08%) Riêng năm 2004 vẫn còn ở mức 3.85%

Đến 31/10/2005, tổng NQH của NHNo Bình Thuận là 258,8 tỷ đồng, trong đó nợ xấu (nhóm 3,4,5) là 170,40 tỷ đồng, tập trung chủ yếu ở hộ sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và một số doanh nghiệp nhà nước; nợ xử lý rủi ro 41,7 tỷ đồng, trong khi số thu nợ đã xử lý rủi ro 10 tháng năm 2005 chỉ có 2,5 tỷ đồng

Bên cạnh đó, tình hình tín dụng đen gia nhập thị trường khá phổ biến Đây

là kênh cung cấp lượng vốn đáng kể đối với người dân khi gặp khó khăn tạm thời trong cuộc sống, đặc biệt là họ vay để giải quyết nợ đến hạn và quá hạn của NH,

sau đó vay NH để hoàn lại hệ thống tín dụng đen (thường xảy ra đối với hộ nông

dân)

Mặt khác, chất lượng thị phần tín dụng chưa được tốt Những năm gần đây, thị phần tín dụng NHNo Bình Thuận vẫn ở mức ổn định từ 55% - 60% Riêng năm

2004, thị phần tín dụng là 55%, trong đó dư nợ tín dụng nông nghiệp, ngư nghiệp,

một lĩnh vực phát sinh nhiều rủi ro, chiếm trên 60%/tổng dư nợ

Thứ tư, cơ cấu doanh thu còn nghèo nàn, kết quả kinh doanh thiếu ổn định

và có dấu hiệu chững lại, hoạt động dịch vụ còn yếu ớt và thiếu chuyên nghiệp

Tổng doanh thu của NHNo Bình Thuận hằng năm từ 2001 đến 2004 liên tục tăng với tỷ lệ tăng bình quân năm là : 27,42% Tuy nhiên dễ nhận thấy tốc độ

tăng doanh thu có phần chậm lại (xem biểu số 4) Doanh thu từ hoạt động tín dụng

vẫn chiếm phần lớn với tỷ trọng trên 90% Hoạt động dịch vụ khá yếu ớt, đặc biệt ở chi nhánh cấp 2 trực thuộc Năm 2004, NHNo Bình Thuận đã có nhiều biện pháp giám sát, triển khai thu ngoài tín dụng, nhưng kết quả cũng chỉ đạt xấp xỉ 10% Từ năm 2005 trở đi, NHNo Bình Thuận không còn thực hiện dịch vụ ủy thác của NH chính sách xã hội, vì vậy chắc chắn tỷ lệ doanh thu ngoài tín dụng sẽ ở mức dưới 10% Doanh thu ngoài tín dụng của NHNo Bình Thuận đang được tạo ra chủ yếu từ một số nghiệp vụ như : dịch vụ thanh toán, chi trả kiều hối và mua bán ngoại tệ Các nghiệp vụ này nhìn chung còn yếu kém và chưa sự quan tâm và đầu

tư đúng mức

Trang 27

Biểu số 8: Hiệu quả kinh doanh của NHNo Bình Thuận

Chỉ tiêu 2001 2002 2003 2004 BQ

1-Tỷ lệ qũy thu nhập/tổng tài sản

1-Tỷ suất lợi nhuận trước thuế/tổng

tài sản “có” sinh lời (%/năm ) 2,38 1,88 1,75 1,03 1,63 2-Chênh lệch lãi suất bình quân

Nguồn: Báo cáo tài chính NHNo Bình Thuận năm 2001,2002,2003,2004.

Có thể nói trong những năm gần đây, NHNo Bình Thuận luôn tăng trưởng tín dụng, từng bước mở rộng các dịch vụ NH đã góp phần làm tăng doanh thu từ 76,63 tỷ đồng năm 2001 lên 158,52 tỷ đồng năm 2004, với tốc độ tăng bình quân hằng năm 27,42% Tuy nhiên chi phí cũng tăng đáng kể từø 58,61 tỷ đồng năm

2001 lên 141,85 tỷ đồng năm 2004, tốc độ tăng bình quân hàng năm là 34,26%, trong đó đáng kể nhất là chi phí trả lãi tiền gửûi và phí điều hòa vốn nội bộ chiếm tỷ trọng bình quân 66,19%, riêng phí điều hòa vốn nội bộ của NHNo Việt Nam chiếm tỷ trọng bình quân 45,62% trong tổng chi phí hoạt động kinh doanh Bên cạnh, chi phí dự phòng rủi ro phát sinh ngày càng lớn do NQH tăng, chiếm tỷ trọng bình quân 9,16%, con số này năm 2004 là 8,05%

Vì vậy, dù tỷ lệ tích sản sinh lời / nguồn vốn là khá lớn, bình quân khoảng

97%, nhưng lợi nhuận ngày càng giảm dần, biểu hiện như sau: (biểu số 8)

+ Tỷ lệ qũy thu nhập/tổng tài sản “có” sinh lời liên tục giảm từ 3,26% năm

2.3- Nguyên nhân tồn tại

a./ Nguyên nhân khách quan:

a1- Môi trường kinh doanh kém thuận lợi

• Điều kiện kinh tế – xã hội, mặt bằng đời sống dân sinh còn thấp, tập quán của công chúng chưa quen việc gửi tiền và sử dụng các dịch vụ NH, mạng lưới và biện pháp thu, nhận tiền gửi trong xã hội chưa linh hoạt

Ngày đăng: 27/03/2013, 16:30

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w