Những nghiên cứu đầu tiên về hiện tượng này chủ yếu là những nhà nghiên cứu xã hội học chuyên về nghiên cứu về phụ nữ.Nhà nghiên cứu có nhiều quan tâm đến vấn đề bà mẹ đơn thân nuôi con
Trang 1- Hội liên hiệp phụ nữ
- An toàn làm chủ - sẵn sàng chiến đấu
- phụ nữ đơn thân nuôi con
- Công tác xã hội
- Nhân viên công tác xã hội
- Mục tiêu đại hội
- Mục tiêu
- Ban thường vụ
- xuất khẩu lao động
- Quỹ tín dụng nhân dân
1
Trang 2DANH MỤC BẢNG BIỂU Thứ
tự
1 2.1 sự gia tăng số lượng phụ nữ đơn thân xã Hồng Thành
Trang 3MỤC LỤC
3
Trang 4MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Gia đình là một tế bào của xã hội , đặc biệt đối với xã hội Việt thì gia đình thật
sự là một điều rất thiêng liêng và đáng quý, đó là nơi tiềm ẩn nhiều giá trị văn hóa nhất Con người ta có rất nhiều nơi để đi, nhưng lại chỉ có một chốn để quay về, đó chính là gia đình, nơi mà bạn được yêu thương vô điều kiện, nơi mà khi bạn vấp ngã, bạn khó khăn bạn sẽ tìm thấy cảm giác bình yên khi bạn trở về, nơi bạn được sống thật nhất với con người của mình mà không cần tạo ra một vỏ bọc nào cả
Vì thế, gia đình thật sự là điều tuyệt vời nhất, mà ai cũng muốn có
Trước đây, gia đình Việt thường đi theo mô hình gia đình truyền thống với nhiều thế hệ chung sống dưới một mái nhà Tuy nhiên, cũng có những hiện tượng khá đặc biệt mà hiện nay người ta gọi nó là một dạng của gia đình khuyết thiếu đó là bà mẹ đơn thân nuôi con
“Tròng trành như nón không quai
Như thuyền không lái, như ai không chồng.”
Bà mẹ đơn thân nuôi con là một hình thái gia đình, xuất hiện khá sớm trong xã hội xưa Họ mang thai, sinh nở và nuôi dưỡng con cái trong đơn độc, không có người đàn ông bên cạnh và họ phải đối diện với rất nhiếu khó khăn Trong xã hội Việt Nam truyền thống, với hệ tư tưởng Nho giáo đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi con người,
và người đàn bà lại càng phải chịu nhiều sự khắt khe của lễ giáo phong kiến thì việc
“không chồng mà chửa” là một hành vi bị lên án gay gắn, không được chấp nhận bởi
nó đi ngược lại với thuần phong mỹ tục, với những lễ giáo, với những giá trị đạo đức
mà mỗi người phụ nữ ở xã hội xưa phải có đó là “tam tòng tứ đức” Và họ sẽ phải đối mặt với những hình thức xử phạt nghiêm khắc của chế độ xã hội xưa đề ra
Ngày nay, khi đất nước đang đi vào thời kỳ phát triển, thời kỳ hội nhập Con người sống thoáng hơn, cách nhìn nhận tiến bộ và đổi mới hơn thì hình thái gia đình
“bà mẹ đơn thân nuôi con” đang trở thành một trào lưu và có xu hướng ngày càng
tăng
Phần lớn những trường hợp bà mẹ đơn thân hiện nay là những trường hợp ly hôn hoặc không kết hôn Họ là những người phụ nữ không muốn lập gia đình, không muốn làm vợ nhưng vẫn muốn có con, muốn trở thành mẹ Họ còn có thể là những người phụ nữ chủ động bỏ chồng để trở thành bà mẹ đơn thân – những trường hợp hiếm gặp trong xã hội Việt trước đây
Trang 5Mô hình “bà mẹ đơn thân nuôi con” thuộc trường hợp ly hôn và không kết hôn
ngày càng nhiều, nó không chỉ xuất hiện ở các vùng đô thị hiện đại mà còn có ở cả những vùng nông thôn yên bình Cũng giống như thế, tại địa bàn xã Hồng Thành, nơi tôi sinh sống, là một xã đang trong gia đoạn xây dựng mô hình nông thôn mới, không quá khó khăn nhưng cũng còn rất nhiều vấn đề xã hội bất cập Trong đó số lượng bà
mẹ đơn thân nuôi con chiếm tỷ lệ tương đối cao Mỗi người một lý do, một hoàn cảnh khác nhau nhưng có đều có những khó khăn và đặc điểm chung Hơn thế nữa, dù họ
có cố gắng làm tròn vai trò của cả người cha lẫn người mẹ thì vẫn khó đảm bảo cho
sự phát triển trọn vẹn về cả thể chất lẫn tinh thần của những đứa con của họ
Xuất phát từ thực tế đó, tôi đã chọn đề tài “phụ nữ đơn thân nuôi con ở xã Hồng Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010 - 2013” để làm đề tài
khóa luận tốt nghiệp của mình “Phụ nữ đơn thân nuôi con” không phải là một đề tài mới, tuy nhiên, việc nghiên cứu ở phạm vi không quá lớn sẽ cho tôi thấy được cụ thể hơn những khó khăn, nhu cầu và nguyện vọng mà đối tượng đang gặp phải Hơn nữa, đây sẽ là cơ hội để tôi có thể vận dụng những kiến thức, kỹ năng mà mình học được ở giảng đường, áp dụng và thực tiễn cuộc sống Từ đó, tự trau dồi thêm kiến thức, tích lũy thêm kinh nghiệm, tự hoàn thiện những thiếu sót của bản thân, làm hành trang để sau này có thể vững vàng hơn khi ra trường
2. Lịch sử nghiên cứu
Gia đình là một mảng đề tài quen thuộc trong nghiên cứu khoa học ở nước ta, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu với nhiều đề tài nghiên cứu công phu, giá trị cao Những nghiên cứu ấy đã dựng lên một tấm phông khá cơ bản để nhìn nhận nghiên cứu về vấn đề những biến đổi của gia đình người Việt, trong đó có xu hướng bà mẹ đơn thân nuôi con
Hiện nay bà mẹ đơn thân nuôi con là một hiện tượng không mới trong xã hội nhưng phát triển mạnh mẽ và thu hút sự quan tâm của những nhà nghiên cứu thì thì chỉ mới khoảng gần chục năm gần đây Những nghiên cứu đầu tiên về hiện tượng này chủ yếu là những nhà nghiên cứu xã hội học chuyên về nghiên cứu về phụ nữ.Nhà nghiên cứu có nhiều quan tâm đến vấn đề bà mẹ đơn thân nuôi con đó là GS.Lê Thi.Trong hai nghiên cứu của mình là “cuộc sống của phụ nữ đơn thân Việt Nam” và “Gia đình phụ
nữ thiếu vắng chồng”, Lê Thi đã miêu tả khá chi tiết về cuộc sống của những bà mẹ
đơn thân.Tuy nhiên, hai cuốn sách này chủ yếu thiên về nghiên cứu xã hội học, chỉ
Trang 6miêu tả về cuộc sống của những bà mẹ đơn thân ở một khu vực nhất định Không những thế, đối tượng nghiên cứu của Lê Thi hướng đến khá đa dạng, cả những trường hợp góa phụ, ly hôn và không kết hôn, địa bàn khảo sát là ở một vùng nông thôn với những phụ nữ là công nhân.Tuy nhiên,cuộc sống của bà mẹ đơn thân dù ở đâu thì vẫn
có những điểm tương đồng, những nghiên cứu của Lê Thi vừa mở ra những khía cạnh trong cuộc sống của bà mẹ đơn thân,vừa là cơ sở để nhìn nhận, so sánh với mô hình bà
mẹ đơn thân ở vùng khác
Gia đình người Việt hiện nay có nhiều biến đổi và nhiều vấn đề phức tạp Chính
vì thế những nghiên cứu về gia đình người Việt tương đối nhiều và phong phú.Tiêu biểu cho những nghiên cứu này có cuốn “gia đình người Việt ngày nay” của Trương Mỹ Hoa và Lê Thi, “Nghiên cứu gia đình và giới thời kỳ đổi” mới của Nguyễn Hữu Minh chủ biên, “Nhân diện gia đình Việt Nam hiện nay”của Lê Thị Hân.v.v Những cuốn sách này có đề cập những vấn đề của gia đình Việt Nam hiện nay trong đó có hiện tượng bà mẹ đơn thân.Tuy nhiên những nghiên cứu này chỉ nói khái quát về sự ra đời của hiện tượng này và một vài đánh giá về hiện tượng này đối với gia đình người Việt Những vấn đề thuộc về bản chất hiện tượng này vẫn chưa được khai thác và giải mã
Nằm trong dự án nâng cao chất lượng đời sống của những hộ bà mẹ đơn thân của trung ương hội phụ nữ Việt Nam, một số bài báo viết về mô hình này đã bắt đầu gợi
mở những khía cạnh trong cuộc sống của bà mẹ đơn thân Những nghiên cứu này chú trọng đến mảng xã hội học và hướng đến xây dựng những chính sách giúp đỡ cho những bà mẹ đơn thân
Những nghiên cứu cụ thể và sâu sắc nhất với cuộc sống của những bà mẹ đơn thân có lẽ là những bài viết phản ánh xu hướng này trên báo chí Những bài viết có nhân chứng cụ thể, có những sự kiện có thật đã phần nào mô tả những đánh giá đúng đắn về xu hướng này Tuy chỉ dựa vào một vài trường hợp cụ thể và những đánh giá còn sơ sài, không phải là những nghiên cứu thực sự nhưng những bài viết ấy vẫn còn cung cấp nhiều dẫn chứng, tư liệu quý giá
Như vậy, có thể thấy, đề tài phụ nữ đơn thân nuôi con vẫn là một đề tài mới, có nhiều mảng trống trong nghiên cứu, nhất là nghiên cứu dưới góc độ CTXH với phụ nữ đơn thân nuôi con
Trang 73. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là “phụ nữ đơn thân nuôi con” trên địa bàn xã
Hồng Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An
3.2. Khách thể nghiên cứu
Đề tài “phụ nữ đơn thân nuôi con ở xã Hồng Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ
An giai đoạn 2010 - 2013” hướng đến đối tượng chính là những bà mẹ đơn thân nuôi
con, đó là những người phụ nữ nuôi con một mình mà không có sự xuất hiện của người đàn ông với tư cách pháp lý là chồng, là cha
Gia đình phụ nữ đơn thân nuôi con trên địa bàn xã Bao gồm các thành viên trong gia đình có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của phụ nữ đơn thân nuôi con
Ngoài ra, người nghiên cứu còn chú ý đến một số cán bộ xã, thôn như: Cán bộ phụ nữ xã, cán bộ phụ nữ thôn, cán bộ hội nông dân.v.v
3.3. Phạm vi nghiên cứu
• Phạm vi không gian: xã Hồng Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An
• Phạm vi thời gian: Từ ngày 20/03/2014 đến ngày 20/04/2014 Đây là phạm vi thời gian chúng tôi tiến hành nghiên cứu vấn đề tại địa bàn
• Phạm vi thời gian của vấn đề: phụ nữ đơn thân nuôi con là một hiện tượng không còn mới mẻ mà nó xuất hiện cũng khá lâu và trong thời gian gần đây hiện tượng này bắt đầu có sự gia tăng mạnh Tuy nhiên, hiện nay cũng chưa có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này trên phạm vi cả nước và trên địa bàn tôi đang tiến hành nghiên cứu lại càng không có những nghiên cứu khoa học về vấn đề này có chăng chỉ là những báo cáo, đánh giá đời sống của phụ nữ đơn thân nuôi con ở xã Vì vậy, trong khuôn khổ của khóa luận chúng tôi tiến hành nghiên cứu vấn đề này trong phạm vi thời gian từ năm
2010 đến năm 2013
4. Mục tiêu nghiên cứu
4.1. Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu về hiện tượng “phụ nữ đơn thân nuôi con” hay “bà mẹ đơn thân” sẽ
chỉ rõ nguyên nhân ra đời, hiện trạng và tác động của xu hướng này đối với văn hóa – kinh tế - xã hội của đất nước cũng như địa bàn nghiên cứu là xã Hồng Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An Từ đó, đưa ra những nhận định, đánh giá đúng về hiện tượng này
Tìm hiểu về cuộc sống của phụ nữ đơn thân nuôi con trên địa bàn xã Hồng Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An
Trang 8Tìm hiểu hoạt động công tác xã hội với phụ nữ đơn thân nuôi con đang thực hiện tại địa bàn xã cũng như nhận thức và mức độ tiếp cận các chương trình chính sách của phụ nữ đơn thân nuôi con.
Xác định nhu cầu của phụ nữ đơn thân nuôi con và việc đáp ứng các nhu cầu đó
5. Câu hỏi nghiên cứu
• Cuộc sống của phụ nữ đơn thân nuôi con ở xã Hồng Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An như thế nào?
• Nhu cầu của phụ nữ đơn thân nuôi con và việc đáp ứng các nhu cầu của họ như thế nào?
• Mức độ tiếp cận các dịch vụ xã hội của phụ nữ đơn thân nuôi con trên địa bàn xã như thế nào?
• Vai trò của nhân viên CTXH trong việc hỗ trợ phụ nữ đơn thân nuôi con trên địa bàn xã?
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp luận
• Chủ nghĩa duy vật biện chứng
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì khi xem xét, đánh giá mỗi hiện tượng – sự kiện xã hội phải đặt nó trong mối liên hệ phổ biến với các hiện tượng –
sự kiện khác Ngoài ra phải có quan điểm toàn diện khi đánh giá về một vấn đề để tránh cách nhìn phiến diện
Là thế giới quan của chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ nghĩa duy vật biện chứng giải thích các hiện tượng và quá trình xã hội trong mối quan hệ qua lại, trong sự vận động
và biến đổi không ngừng Chủ nghĩa duy vật biện chứng được vận dụng vào việc nghiên cứu cuộc sống xã hội cũng như nghiên cứu các hình thức sinh hoạt xã hội Vì vậy, khi nghiên cứu cần phải sử dụng các lý thuyết trong công tác xã hội như thuyết vai trò, thuyết hành động xã hội, thuyết hệ thống, thuyết năng động nhóm, để làm rõ nhận thức, thái độ, hành vi của đối tượng và khách thể nghiên cứu Đồng thời góp phần làm thay đổi tích cực thực trạng
• Chủ nghĩa duy vật lịch sử
Trang 9Chủ nghĩa duy vật lịch sử có quan điểm khi nhìn nhận một vấn đề cần phải xác định được hoàn cảnh lịch sử cụ thể, nơi vấn đề đang tồn tại và chịu ảnh hưởng Bởi cùng một sự vật hiện tượng nhưng trong những bối cảnh lịch sử xã hội khác nhau thì cách nhìn nhận, đánh giá về hiện tượng, sự vật đó là không giống nhau.
6.2. Phương pháp nghiên cứu
6.2.1. Phương pháp thu thập, phân tích tài liệu thành văn
Để có số liệu cụ thể và chính xác liên quan đến vấn đề nghiên cứu, phục vụ cho quá trình làm đề tài khóa luận, chúng tôi đã tìm hiểu và tham khảo các tài liệu trong và ngoài nước để xây dựng cơ sở lý luận cho việc triển khai nghiên cứu thực tiễn, căn cứ vào các tài liệu tâm lý học, các tài liệu của các ngành xã hội có liên quan như xã hội học, tôn giáo học, các báo cáo về tình hình đời sống của phụ nữ cũng như các bảo cáo tổng kết hoạt động hàng tháng, cuối năm của hội liên hiệp phụ nữ, ban chính sách xã và các tài liệu liên quan khác
6.2.2. Phương pháp vãng gia
Vãng gia hay còn gọi là thăm hộ gia đình là một phương pháp khá hiệu quả trong việc nắm bắt thông tin cũng như tạo mối quan hệ gần gũi trong CTXH với phụ nữ đơn thân nuôi con Khi người nghiên cứu sử dụng phương pháp này đã thu lại được nhiều thành công ngoài dự kiến Họ không những giúp phụ nữ đơn thân hết ngại tiếp xúc mà còn giúp họ thổ lộ hết những nỗi niềm của mình
Trong quá trình nghiên cứu, người nghiên cứu tiến hành vãng gia khoảng (tiến hành vãng gia khoảng 5 hộ gia đình thuộc diện phụ nữ đơn thân nuôi con Trong quá trình nghiên cứu cần đến thăm gia đình họ 3 và mỗi lần khoảng 20 đến 30 phút)
6.2.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương Phỏng vấn dựa trên bảng hỏi gồm các câu hỏi đóng và câu hỏi mở Sau
đó tập hợp kết quả lại, lấy thông tin và dữ liệu từ đó Để xem xét tình hình thực tế Đồng thời qua đó, cho người nghiên cứu hiểu được vấn đề nghiên cứu trong từng trường hợp cụ thể
6.2.4. Phương pháp đánh giá nhanh
Đây là một phương pháp chủ đạo để thu thập thông tin của đề tài dựa trên nguyên
lý của phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của người dân Chúng tôi đã sử dụng phiếu đánh giá nhanh dành cho 30 phụ nữ đơn thân nuôi con trên địa bàn Các câu hỏi trong phiếu đánh giá nhanh tập trung vào các chủ đề liên quan đến đặc điểm, hoàn cảnh, mong muốn của các chị em
6.2.5 Phương pháp quan sát
Trang 10Phương pháp quan sát là một phương pháp thông dụng va rất dễ thực hiện, đống thời nó mang lại cho chúng ta cái nhìn thực tế, giúp người nghiên cứu hiểu rõ bản chất vấn đề hơn sử dụng kĩ năng quan sát trong trường hợp này, để thấy được hoàn cảnh sống, thái độ của đối tượng trước vấn đề mà họ gặp phải Đặc biệt là có thể quan sát đối tượng trong các hoạt động công tác xã hội cá nhân.
nữ đơn thân nuôi con
7. Ý nghĩa đề tài nghiên cứu
và một bên là thực tiễn cuộc sống thông qua những bài báo cáo có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn của cuộc sống
7.2. Ý nghĩa thực tiến
Thực hiện đề tài “phụ nữ đơn thân nuôi con ở xã Hồng Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010 – 2013” bởi tính cấp thiết, nóng bỏng của thực
trạng phụ nữ đơn thân nuôi con Nó đã để lại nhiều ý nghĩa thực tiễn sâu sắc
* Đối với bản thân người nghiên cứu
Hiểu rõ hơn các vấn đề liên quan đến phụ nữ đơn thân nuôi con như vấn đề ly hôn, vấn đề bạo lực gia đình, vấn đề ngoại tình, giáo dục con trẻ trong gia đình khuyết thiếu, những tác động từ thực trạng xã hội đến tư tưởng, ý thức của con người trong gia đình hiện nay
Trang 11Tạo cho mình một cái nhìn bao quát, khách quan về thực trạng phụ nữ đơn thân nuôi con trong xã hội nói chung cũng như tại địa bàn thực tập nói riêng.
Thực tế, sẽ giúp con người ta mở mang trí óc, từ quá trình làm việc ngoài cộng đồng, bản thân sẽ có được những kinh nghiệm, kỷ năng cũng như kiến thức bổ ích làm hành trang để sau khi ra trường đủ tự tin và đủ khả năng để làm việc
Với tư cách của một nhân viên công tác xã hội tương lai, thấy rõ được trách nhiệm của bản thân trong công việc
* Đối với đối tượng nghiên cứu
Việc tiếp cận của nhân viên công tác xã hội thể hiện sự quan tâm của xã hội đối với họ, làm cho họ cảm thấy được cảm thông, quan tâm và sẻ chia
Góp phần thay đổi tích cực cái nhìn của xã hội đối với những đối tượng phụ nữ đơn thân nuôi con, làm họ giảm bớt những cảm giác tự ti, tủi thân và giúp họ có động lực vượt lên trên số phận
Nếu thực hiện đề tài thành công sẽ cải thiện tích cực đời sống của những phụ nữ đơn thân, nhất là về mặt tinh thần, giúp những chính sách hỗ trợ của Nhà nước đến với gia đình họ Đồng thời cũng góp phần nâng cao các chính sách hỗ trợ của Đảng
và Nhà nước đến với gia đình phụ nữ đơn thân nuôi con
Thông qua việc kết nối họ với các chương trình chính sách, sẽ giúp cho đối tượng cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống
* Đối với địa bàn nghiên cứu
Giúp địa phương tìm ra những khó khăn, hạn chế trong việc hỗ trợ những đối tượng phụ nữ đơn thân nuôi con, từ đó có những giải pháp phù hợp để khắc phục những khó khăn đó
Thông qua đề tài nghiên cứu giúp cho chính quyền địa phương có một cái nhìn khách quan toàn diện hơn về vấn đề để có những giải pháp phù hợp ngăn chặn và hạn chế sự gia tăng phụ nữ đơn thân nuôi con trên địa bàn
Nâng cao nhận thức của người dân về những vấn đề liên quan đến gia đình phụ
nữ đơn thân nuôi con, để người dân có cái nhìn cảm thông đối với họ Những thông tin, kết luận, những giải pháp và phát hiện mới của kết quả nghiên cứu là cơ sở cần thiết, quan trọng để nâng cao những chính sách hỗ trợ đối với phụ nữ đơn thân nuôi con tại địa bàn nhằm cải thiện cuộc sống của gia đình họ
* Đối với xã hội
Trang 12Góp phần bảo vệ và chăm sóc một cách tốt nhất có thể cho thế hệ trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai Việc hỗ trợ, cải thiện đời sống các gia đình phụ nữ đơn thân nuôi con đồng nghĩa với việc tạo điều kiện phát triển tốt hơn cho những đứa trẻ không có sự chăm sóc của người cha Ngoài ra, hạn chế hơn nữa sự gia tăng hình thái
gia đình “phụ nữ đơn thân nuôi con” để có được những thế hệ tương lai phát triển
toàn diện cả về thể chất, trí lực và tinh thần
8. Bố cục đề tài
Đề tài ngoài lời nói đầu, kết luận, khuyến nghị, mục lục, tài liệu tham khảo, phần phụ lục (biên bản phỏng vấn sâu, hình ảnh minh họa ) thì nội dung chính được chia làm 3 chương:
Chương 1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu và các khái niệm, lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Chương 2 Thực trạng về đời sống phụ nữ đơn thân nuôi con ở xã Hồng Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An và những ảnh hưởng của thực trạng đó
Chương 3 Công tác xã hội với phụ nữ đơn thân nuôi con ở xã Hồng Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An
Trang 13NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KHÁI NIỆM, LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Với diện tích tự nhiên là 703 ha, có vị trí địa lý như sau:
Phía Đông giáp xã Diễn Liên, huyện Diễn ChâuPhía Tây giáp xã Mã Thành
Phía Nam giáp xã Phú ThànhPhía bắc giáp xã Thọ ThànhTổng diện tích đất tự nhiên của xã Hồng Thành là 703 ha Theo ranh giới địa chính xã Hồng Thành được chia làm 14 thôn (Nam Xuân, Đông Xuân, Thiện Tiến, Thiện Lợi, Phú Đa, Đa Cảnh, Triều Cảnh, Tây Xuân, Bắc Xuân, Tân Xuân, Xuân Yên, Đông Ngô, Xuân An và xóm thị tứ)
1.1.1.2. Đặc điểm địa hình
Hồng Thành là một xã vùng sâu Địa hình mang đặc điểm của vùng đồng bằng có phần chiêm trũng Với đặc điểm địa hình như vậy nên xã thường bị ngập úng vào mùa mưa lụt
Trang 141.1.1.3. Khí hậu
Hồng Thành có khí hậu và thời tiết khá phức tạp, có những mặt ưu đãi nhưng cũng có những mặt khắc nghiệt Nằm trong vùng khí hậu ẩm nhiệt đới gió màu, quanh năm nhận được bức xạ lớn của mặt trời Tổng nhiệt lượng cả năm hơn 8500 độ C, đạt 75kalo/ cm2 Nhiệt độ trung bình hằng năm là 23 độ C Lượng mưa trung bình hằng năm là 1600- 1800 mm Mưa tập trung vào các tháng cuối của mùa hạ, cũng có năm ngay giữa tháng năm,( khoảng 20/4 âm lịch), xuất hiện lũ tiểu mạn đủ nước cho sản xuất và hoạt động nhưng cũng gây lũ lụt, mất mùa
Nắng nóng cũng không rãi đều quanh năm, mà tập trung vào tháng 6, tháng 7, mùa hè có nồm biển thổi vào và gió Tây Nam từ dãy Trường Sơn thổi sang Gió Tây Nam rất khô nóng, làm cho sự bốc hơi diễn ra nhanh, đồng ruộng khô hạn Nhiệt độ trung bình mùa hè là 35 độ C, có ngày lên đến 39 độ C; khi chưa có hệ thống nam giang, hồ đập, những đợt Nam Lào kéo dài gây ra tác hại nghiêm trọng đến mùa màng
và sức khỏe con người Mùa đông, gió mùa Đông Bắc xâm nhập vào, nhiệt độ giảm, tạo nên sự khô hanh, cũng có khi mưa dầm kéo dài
1.1.1.4. Thủy văn
Địa bàn xã Hồng Thành có dòng sông Đào chảy qua, là hệ thống cung cấp nước cho sản xuất và tưới tiêu của xã Ngoài ra, trên địa bàn xã cũng có nhiều kênh mương Nên nguồn nước khá dồi dào Hơn nữa, xã lại tiếp giáp với các xã vùng núi cao như
Mã Thành, Lăng thành nên ở đây cũng có hiện tượng nước chảy ngầm
1.1.2. Điều kiện kinh tế
Theo báo cáo tóm tắt kết quả 3 năm thực hiện nghị quyết đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2010 – 2015 (trình hội nghị BTV huyện ủy về làm việc tại xã Hồng Thành) thì đến cuối năm 2013, giá trị sản xuất đạt 149.476 triệu đồng, đạt 80,62% so mục tiêu
ĐH, tốc độ tăng trưởng bình quân 13.5%/năm Thu nhập bình quân đầu người 22.477.000 đồng/năm (1.873.000 đồng/tháng/người) đạt 81,47% so với chỉ tiêu Đại hội đến 2015 là 27.588.000 đồng/năm/người
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng: So với đầu nhiệm kỳ đến cuối năm 2013 là:
* Nông ngư nghiệp: Từ 48% xuống còn 31,24% (MT ĐH: 31,2%) Công nghiệp -
Xây dựng từ 15,5% lên 29,11% (MT 24,3%); Thương mại - Dịch vụ đạt từ 32,5% lên 39,65% (MT 44,5%)
Trang 15* Về sản xuất nông nghiệp: Sau chuyển đổi ruộng đất đến nay còn 1,46 thửa/hộ
giảm 1,6 thửa Có 20 mô hình chuyển đổi cây con mới, xây dựng thành công cánh đồng mẫu 40 ha lúa Nhiều hộ chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hướng công nghiệp Do làm tốt tiêm phòng nên chưa có dịch bệnh xảy ra
* Công nghiệp - xây dựng: Đã quy hoạch khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,
thu hút nguồn vốn đầu tư xây dựng 13 công trình, có giá trị 38,168 tỷ đồng; Trong đó ngân sách Nhà nước cấp trên 13,350 tỷ đồng, ngân sách xã 7,2 tỷ đồng, nhân dân đóng góp 13,4 tỷ đồng; nguồn khác 4,218 tỷ đồng, đạt 96,27% so mục tiêu kế hoạch đề ra Bao gồm: Nhà máy nước sạch; thêm 2 trạm điện; cơ sở hạ tầng khu dân cư; mở rộng khuôn viên xây bờ bao trạm xá, cải tạo trường mầm non, xây bờ bao cổng trường; 2 cầu dân sinh; 3 nhà văn hóa, giải toả mới 5 km và 2 km đường bê tông, giao thông nông thôn, hoàn thiện giao thông thủy lợi nội đồng Đối với nhân dân xây mới 120 nhà cao tầng, hàng trăm công trình kiên cố, trị giá hàng trăm tỷ đồng Bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc
* Dịch vụ thương mại: Tăng 162% so với năm 2010 Gồm: Mở rộng trung tâm thị
tứ, thu hút các loại hình dịch vụ, tạo điều kiện tốt nhất cho nhân dân vay vốn XKLĐ
Có 665 người đi lao động ở nước ngoài Quỹ TDND có nguồn vốn 66 tỷ đồng, lợi nhuận trên 700 triệu/năm Thực hiện thu chi ngân sách đảm bảo nguyên tắc chế độ và tiết kiệm
* Thực hiện mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới: Theo khảo sát đầu
nhiệm kỳ mới đạt 6 tiêu chí, đến nay đã đạt được 14/19 tiêu chí Hiện nay, đang phấn đấu thực hiện các tiêu chí: giao thông, thủy lợi, cơ sở vật chất văn hóa, tỷ lệ xóm đạt văn hóa, chợ nông thôn
1.1.3 Văn hóa – xã hội
* Giáo dục đào tạo: có nhiều chuyển biến tích cực, sát nhập THCS ổn định, chất
lượng ở các cấp học được nâng cao; trường Tiểu học và trường Mầm non đang xây dựng chuẩn quốc gia mức độ II
* Y tế, dân số; gia đình và trẻ em: từng bước đi vào hoạt động có chất lượng, các
chỉ tiêu cơ bản đạt theo kế hoạch đề ra Vệ sinh môi trường thu gom rác thải được duy trì nề nếp
Trang 16* Các phong trào văn hóa văn nghệ - thể dục thể thao: phát triển sâu rộng Trong
4 năm tăng thêm 2 làng văn hóa, đón nhận 2 di tích lịch sử cấp tỉnh, 1 làng nghề mây tre đan
1.1.4 An ninh – quốc phòng
* Quốc phòng: Hàng năm xây dựng và triển khai kế hoạch ATLC- SSCĐ Các chỉ
tiêu đề ra đều đạt và vượt kế hoạch, nhất là công tác huấn luyện diễn tập, giáo dục chính trị đều đạt khá giỏi, giao quân tuyển quân vượt chỉ tiêu trên giao
* Công tác an ninh: Làm tốt công tác phối hợp với các ban ngành, tổ chức tuyên
truyền phổ biến pháp luật trong nhân dân, duy trì hoạt động tổ an ninh tự quản Thường xuyên phát động phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc Kịp thời phát hiện xử lư nghiêm các vi phạm theo đúng pháp luật, không để xảy ra trọng án phức tạp nhất là ở các vùng đặc thù
1.1.5 Điều kiện dân cư và nguồn lao động
* Dân cư
Theo báo cáo dân số năm 2013 của ban dân số kế hoạch hóa gia đình xã Hồng Thành, toàn xã có 6.583 nhân khẩu với 1626 hộ Trong đó, nữ chiếm gần một nửa với 3.130 người
Toàn xã có 14 thôn, có 3 họ giáo sống ở 4 xóm với gần ¼ dân số (341 hộ với
Dân cư trong vùng chung sống hòa thuận và đoàn kết Cũng như bao vùng quê khác tình làng nghĩa xóm luôn được mọi người đề cao và coi trọng Vì thế, những đối tượng là “bà mẹ đơn thân” nhờ đó cũng được bà con lối xóm giúp đỡ rất nhiều, làm giảm bớt đi những khó khăn và gánh nặng cuộc sống Làm cuộc sống của họ có ý nghĩa hơn Tuy nhiên, cũng chính bởi đặc điểm là vùng nông thôn nên tư tưởng của con người cũng chưa tiến bộ nhiều, vẫn còn một số bộ phận mang nặng tư tưởng phong
Trang 17kiến và lạc hậu nên việc bà mẹ đơn thân “không chồng mà chửa” ở đây thường phải gánh chịu dư luận xã hội, những bàn tán của làng xóm rất nặng nề.
* Lao động
Lao động là yếu tố quyết định sự phát triển của loài người Không một quá trình sản xuất nào diễn ra mà không có sự tham gia của người lao động Vì vậy, việc phân phối và sử dụng hợp lý nguồn lao động là một vấn đề rất quan trọng
Cũng theo thống kê trên, đến nay toàn xã có 3.035 người trong độ tuổi lao động với 1.719 người là nữ
Qua đó, chúng ta có thể thấy, xã có nguồn lao động rất dồi dào, có thể khai thác
để phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế trên địa bàn
Dân cư sinh sống tập trung đông đúc ở vùng trung tâm, các trục đường lớn tạo điều kiện cho việc giao lưu buôn bán hàng hóa một cách thuận lợi
Công tác đào tạo nghề ngày càng được chú trọng, đặc biệt là việc triển khai xây dựng làng nghề mây tre đan xuất khẩu đang dần thu lại được kết quả tốt Tạo việc làm cho người dân vào thời gian nông nhàn, vì người dân ở đây chủ yếu làm nghề nông.Các thông tin về giới thiệu việc làm, xuất khẩu lao động cũng được chính quyền
xã quan tâm, cung cấp cho bà con Nhờ đó mà chất lượng cuộc sống của người dân đang từng bước được cải thiện và nâng cao
1.2. Các khái niệm liên quan
1.2.1. Khái niệm công tác xã hội
Hiện nay, có nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau về công tác xã hội
Theo định nghĩa của hiệp hội quốc gia nhân viên xã hội Mỹ (NASW - 1970):
“công tác xã hội là một chuyên ngành xã hội để giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng nhằm tăng cường, khôi phục thực hiện các chức năng xã hội của họ tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó.”
Định nghĩa của hiệp hội nhân viên công tác xã hội quốc tế thông qua tháng 07
năm 2000 tại Montréal, Canada (IFSW): “công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội,
giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực và giải phóng cho người dân nhằm giúp cho con người họ ngày càng thoải mái, dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, công tác xã hội tương tác vào những đặc điểm giữa con người với môi trường của họ Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc cơ bản của nghề.”
Trang 18Trong hoạt động công tác xã hội thì có 3 phương pháp đặc thù đó là công tác xã hội với ca nhân, công tác xã hội với nhóm và công tác xã hội với cộng đồng.
Trong khuôn khổ thực hiện khóa luận này thì tôi sử dụng phương pháp công tác
xã hội với cá nhân là chủ yếu
“Công tác xã hội cá nhân nhằm phục hồi, củng cố và phát triển sự thực thi bình
thường của chức năng xã hội của cá nhân và gia đình trong bối cảnh xã hội mà vấn
đề của họ đang diễn ra mà bị tác động.” [3;6]
Theo Grace Mathew thì : “công tác xã hội với cá nhân là một phương pháp
giúp đỡ cá nhân, con người thông qua mói quan hệ một – một Nó được nhân viên công tác xã hội ở các cơ sở xã hội sử dụng để giúp đỡ những người có vấn đề về chức năng xã hội và thực hiện các chức năng xã hội.”
1.2.3. Khái niệm phụ nữ đơn thân nuôi con
Khái niệm phụ nữ đơn thân nuôi con là một khái niệm mới xuất hiện trong những năm 1990, hiện tượng này vẫn còn nhiều quan điểm và cách hiểu khác nhau về khái niệm
Theo một số nhà khoa học “Phụ nữ đơn thân nuôi con là những người mẹ một
mình nuôi con mà không có người chồng và người thân bên cạnh.” [3.tr3]
1.2.4. Khái niệm bạo lực gia đình
Bạo hành gia đình hay Bạo lực gia đình là thuật ngữ dùng để chỉ các hành vi bạo lực giữa các thành viên trong cùng một gia đình Hành vi bạo lực thường thấy nhất là giữa vợ và chồng nhưng bạo lực giữa cha mẹ với con cái hay ông bà, anh em ruột với nhau hoặc giữa mẹ chồng và con dâu cũng có xảy ra và được xếp vào nhóm các hành
vi này Nạn nhân của bạo lực thân thể thường là phụ nữ - vợ hoặc mẹ của đối tượng, với nam giới họ là nạn nhân của bạo lực tinh thần nhiều hơn Bạo lực gia đình xảy ra ở
Trang 19mọi quốc gia, nền văn hóa, tôn giáo không ngoại lệ giàu nghèo và trình độ học vấn cao hay thấp.
Bạo lực gia đình có ảnh hưởng rất lớn đến việc hạnh phúc gia đình tan vỡ, đến việc ly hôn Ngày nay, với nhiều quan điểm của giới nữ trẻ tuổi đó là không muốn lấy chồng mà sẽ một mình sinh con, nuôi con để tránh cảnh bị hành hạ của chồng và gia đình chồng
1.3. Các lý thuyết liên quan
1.3.1. Lý thuyết hệ thống
Thuyết hệ thống là một trong những lý thuyết quan trọng được vận dụng trong
nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau Từ góc độ CTXH: “Hệ thống là một tập hợp các
thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau để hoạt động thống nhất Con người phụ thuộc vào hệ thống trong môi trường xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu trực tiếp của mình trong cuộc sống” Người có công đưa lí thuyết hệ thống vào thực tiễn CTXH
phải kể đến công lao của Pincus và Minahan cùng các đồng sự khác Từ việc vận dụng thuyết hệ thống, nhân viên CTXH sẽ làm rõ hơn dịch vụ xã hội cơ bản trong CTXH với phụ nữ đơn thân
Dịch vụ xã hội là một hệ thống bao gồm các tiểu hệ thống có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và cùng tham gia đáp ứng nhu cầu cho phụ nữ đơn thân Họ phụ thuộc vào các hệ thống xã hội và nhân viên CTXH cần nắm vững các hệ thống, cũng như cách thức hoạt động của các hệ thống để cung ứng dịch vụ xã hội cho thân chủ của mình1.3.2. Lý thuyết nữ quyền
Theo quan điểm của Mác - xít về nghiên cứu phụ nữ cho rằng nghiên cứu về phụ
nữ nhằm làm sáng tỏ thêm lý luận cơ bản về quyền và trách nhiệm của phụ nữ
Nghiên cứu phụ nữ phải gắn liền với phong trào phụ nữ và phong trào phụ nữ phải hoạt động có tổ chức và đấu tranh vì quyền lợi của giới mình Phong trào phụ nữ
có thể diễn ra trên một hoặc nhiều lĩnh vực hoạt động xã hội, song thường tập trung vào các vấn đề bức xúc và nóng bỏng nhất của đời sống phụ nữ Vì vậy phong trào phụ
nữ phải hướng vào việc tìm lời giải đáp thực tiễn cho các vấn đề cụ thể và thiết thực
nhất của số đông phụ nữ Như Lênin đã nói: "Nguồn gốc của sự áp bức phụ nữ là chế
độ bóc lột của thực dân, tư bản, các quan hệ phong kiến và địa vị nô lệ trong gia đình"
Xuất phát từ nhận thức sâu sắc đó, Đảng cộng sản đã đưa ra nhiều khẩu hiệu đòi quyền lợi cho phụ nữ và sau khi giành ðộc lập dân tộc, chủ trýõng lôi cuốn phụ nữ vào các hoạt ðộng xã hội tạo điều kiện cho phụ nữ phát huy năng lực và vai trò của mình trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đáp lại niềm tin của Đảng và dân tộc,
Trang 20các thế hệ phụ nữ Việt Nam đã phát huy cao độ truyền thống tích cực trong lịch sử dân tộc, sát cánh cùng nam giới trên mọi lĩnh vực công tác và đã có nhiều cống hiến to lớn cho sự nghiệp giành độc lập dân tộc và xây dựng xã hội mới Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng trong cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa là giải phóng phụ nữ gắn liền với giải phóngdân tộc và giải phóng giai cấp Dân tộc có tự do, ðộc lập thì phụ nữ mới có tự do, độc lập Xã hội không còn áp bức bóc lột giai cấp thì phụ nữ mới được giải phóng khỏi sự bóc lột và áp bức Như vậy giải phóng phụ nữ xét cho cùng là tạo điều kiện phát triển tự do năng lực cá nhân của giới phụ nữ Giải phóng phụ nữ gắn liền với giải phóng nam giới, giải phóng xã hội.
Qua đây ta đánh giá được quyền và trách nhiệm cũng như vai trò của phụ nữ trong xã hội, đặc biệt là phụ nữ đơn thân nuôi con từ đó tìm hiểu sâu hơn về quyền lợi, trách nhiệm của phụ nữ đơn thân tại địa bàn nghiên cứu
1.3.3. Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow
Theo Maslow, về căn bản, nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản (basic needs) và nhu cầu bậc cao (meta needs)
Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý của con người như mong muốn có
đủ thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ.v.v Những nhu cầu cơ bản này đều là các nhu cầu không thể thiếu hụt vì nếu con người không được đáp ứng đủ những nhu cầu này,
họ sẽ không tồn tại được nên họ sẽ đấu tranh để có được và tồn tại trong cuộc sống hàng ngày
Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công bằng, an tâm, vui vẻ, địa
vị xã hội sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân v.v
Các nhu cầu cơ bản thường được ưu tiên chú ý trước so với những nhu cầu bậc cao này Với một người bất kỳ, nếu thiếu ăn, thiếu uống.v.v họ sẽ không quan tâm đến các nhu cầu về vẻ đẹp, sự tôn trọng
Con người cá nhân hay con người trong tổ chức chủ yếu hành động theo nhu cầu Chính sự thỏa mãn nhu cầu làm họ hài lòng và khuyến khích họ hành động Đồng thời việc nhu cầu được thỏa mãn và thỏa mãn tối đa là mục đích hành động của con người Theo cách xem xét đó, nhu cầu trở thành động lực quan trọng và việc tác động vào nhu cầu cá nhân sẽ thay đổi được hành vi của con người Nói cách khác, người lãnh đạo hoặc quản lý có thể điều khiển được hành vi của nhân viên bằng cách dùng các công cụ hoặc biện pháp để tác động vào nhu cầu hoặc kỳ vọng của họ làm cho họ hăng hái và
Trang 21chăm chỉ hơn với công việc được giao, phấn chấn hơn khi thực hiện nhiệm vụ và tận tụy hơn với nhiệm vụ đảm nhận Trong trường hợp ngược lại việc không giao việc cho nhân viên là cách thức giảm dần nhiệt huyết của họ và cũng là cách thức để nhân viên
tự hiểu là mình cần tìm việc ở một nơi khác khi làm việc là một nhu cầu của người đó.Thông quan lý thuyết nhu cầu nhân viên CTXH nắm rõ và thực hiện hoạt động CTXH với phụ nữ đơn thân nuôi con Nắm rõ nhu cầu cơ bản của con người để từ đó nhìn nhận nhu cầu của phụ nữ đơn thân, đồng thời đánh giá việc thoả mãn nhu cầu của họ
Hình 1.2 Tháp nhu cầu của Maslow (Nguồn: google)
1.3.4. Lý thuyết cấu trúc – chức năng
Là một trong những lý thuyết cơ bản về gia đình – hôn nhân – ly hôn và trẻ em Các nhà công tác xã hội sử dụng lý thuyết cấu trúc – chức năng nhiều hơn các lý huyết khác khi nghiên cứu về gia đình và hôn nhân Ở đây chỉ sử dụng lý thuyết này để phân tích khả năng của gia đình trong việc thực hiện chức năng giáo dục – xã hội hóa của gia
đình Đặc biệt qua đó phản ánh những bất cập trong hình thái gia đình “phụ nữ đơn
thân nuôi con” trong việc thực hiện chức năng giáo dục- xã hội hóa Phân tích mối
quan hệ các thành viên trong gia đình và quan hệ giữa gia đình và xã hội, cũng trong
trường hợp gia đình “phụ nữ đơn thân nuôi con”.
Vậy, lý thuyết cấu trúc – chức năng là gì?
Niklas Luhman đã gọi lý thuyết này là một biến thể của lý thuyết hệ thống xã hội học Vì vậy, nghiên cứu lý thuyết chức năng không nên tách rời với lý thuyết hệ thống.T.Parsons đã khẳng định mối quan hệ biện chứng giữa cấu trúc và chức năng, trong đó cấu trúc giữ vai trò quyết định Sự thay đổi về mặt chức năng sẽ làm hoàn thiện cấu trúc của nó Cấu trúc xã hội đảm bảo tính cân bằng cho xã hội về mặt chức năng
Trang 22Còn R.Merton lại cho rằng: các chức năng xã hội có tính thống nhất thể hiện ở cấp độ xã hội và cá nhân Trong lý thuyết cấu trúc – chức năng, xã hội được nhìn nhận như một hệ thống hoàn chỉnh của các quan hệ qua lại của các bộ phận, mỗi bộ phận lại liên quan với các bộ phận khác.
Thuyết cấu trúc – chức năng cho thấy những hành vi cá nhân luôn luôn nằm trong cấu trúc nhất định, mặc dù cá nhân luôn có sự lựa chọn những ứng xử trong một tình huống cụ thể Ví dụ: trong khi xem xét mối quan hệ kinh tế và gia đình, ở khía cạnh nuôi dạy và giáo dục con cái của phụ nữ đơn thân nuôi con Thì chúng ta có thể dễ dàng thấy được, những phụ nữ có điều kiện kinh tế và việc làm ổn định sẽ nuôi dạy và giáo dục con cái tốt hơn so với những phụ nữ không có việc làm và kinh tế
Lý thuyết cấu trúc chức năng như là một lý thuyết chủ đạo, xem xét các chức năng của gia đình, trong đó chức năng giáo dục - xã hội hóa của gia đình Tất nhiên, các chức năng của gia đình không thể tách rời nhau mà nằm trong một cấu trúc thống nhất
Gia đình có vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách của đứa trẻ Đây là môi trường cơ bản, chính thức đầu tiên của xã hội hóa cá nhân Với chức năng của mình, gia đình là công cụ truyền lại cho con cháu các giá trị văn hóa truyền thống và văn hóa hiện đại, đặc biệt là các giá trị xã hội, đạo đức Đối với những người chưa trưởng thành và chưa đến tuổi đi học thì đạo đức lối sống, nhân cách đã chịu sự chi phối nhiều nhất của quá trình xã hội hóa của gia đình Vì thế mà, trong mô hình gia đình “phụ nữ đơn thân”, việc giáo dục và xã hội hóa càng trở nên phức tạp và có nhiều khó khăn hơn so với những gia đình bình thường
Theo A.G.Chavezew: “gia đình không chỉ ủy nhiệm mà còn tạo ra những giá trị
tinh thần như tình yêu vợ chồng, tình yêu bố mẹ, sự kính trọng của con cái đối với bố
mẹ, tình đoàn kết gia đình, những giá trị được tạo ra này cũng tham gia vào quá trình
xã hội hóa và những nội dung được hậu thế tiếp thu”.
Điều đó, càng nhấn mạnh vai trò của người chồng người cha trong gia đình, nghĩa
là với gia đình khuyết thiếu đi vai trò chủ đạo của người chồng như gia đình phụ nữ đơn thân nuôi con, thì đó thật sự là những khó khăn và thách thức Đòi hỏi người phụ
nữ phải có đủ bản lĩnh và tri thức để tạo ra một quá trình xã hội hóa tốt nhất cho con mình, nhằm giúp con trẻ hoàn thiện nhân cách giống như những đứa trẻ trong các gia đình bình thường
1.3.5. Lý thuyết vai trò
Trang 23Mỗi người chúng ta đều có những vai trò khác nhau mà chúng ta đảm nhận trong cuộc sống Mỗi cá nhân khi đảm nhiệm vai trò đều mong đợi về vai trò của mình Đó là cách xã hội quy định, quy ước về vai trò, về điều mong đợi mà vai trò đó thực hiện Trong cùng một môi trường văn hóa thì mọi người có cùng một số mong đợi, nhưng đều quy ước dành cho một số vai trò Khi đảm nhận vai trò thì con người sẽ thể hiện vai trò của mình Người nghiên cứu đã vận dụng thuyết vai trò trong CTXH với phụ nữ
để phân tích những vai trò mà phụ nữ đơn thân đang đảm nhận, từ đó phân tích vai trò
để can thiệp, hỗ trợ họ vượt qua những khó khăn, khủng hoảng trong cuộc sống, can thiệp để giúp mỗi người giải quyết vấn đề tốt hơn Đồng thời, với thuyết vai trò, người nghiên cứu cũng có thể biết được ai là người có uy tín trong gia đình cũng như trong cộng đồng Tác động vào những thành viên uy tín để xây dựng hoạt động CTXH cho phụ nữ đơn thân nuôi con
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ ĐỜI SỐNG PHỤ NỮ ĐƠN THÂN NUÔI CON
Ở XÃ HỒNG THÀNH, HUYỆN YÊN THÀNH, TỈNH NGHỆ AN VÀ NHỮNG
ẢNH HƯỞNG CỦA THỰC TRẠNG ĐÓ
2.1 Thực trạng phụ nữ đơn thân nuôi con
Cho đến nay, hiện tượng “bà mẹ đơn thân” không còn là một hiện tượng mới lạ trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng nữa Nó đang dần trở thành một trào lưu và để lại nhiều hệ lụy Với tính chất diễn ra ngày càng phức tạp và những khó khăn
có thể lường trước được đối với các gia đình khuyết thiếu, chúng ta có thể tìm hiểu kĩ hơn vấn đề này thông qua việc tìm hiểu thực trạng phụ nữ đơn thân trên thế giới và ờ Việt Nam
2.1.1 Thực trạng phụ nữ đơn thân nuôi con trên thế giới
Trong một vài thập kỷ gần đây, lối sống độc thân, kết hôn muộn, đã và đang diễn
ra ở các nước phát triển, đặc biệt là Mỹ và các nước phương Tây như Đức, Pháp, Anh v.v Đặc biệt là phụ nữ
Theo như tờ “La Vanguardia”, ngày càng có nhiều người ở độ tuổi thanh niên và trung niên tại các nước phát triển đã chọn lựa cuộc sống ðộc thân Kết quả thãm dò của
tờ báo này cho thấy tại Mỹ số hộ gia đình do vợ chồng tạo lập giảm từ 80% của những năm 50 của thế kỷ 20 xuống còn 50% những năm đầu thế kỷ 21
Trang 24Số người Mỹ không kết hôn đã gia tăng từ năm 1960 khiến cho tỷ lệ sống độc thân thì từ trước đến nay cao chưa từng có Có 48% phụ nữ không kết hôn và nuôi con một mình Độ tuổi kết hôn trung bình của họ ở nước này cũng lùi lại Có thể thấy rõ ràng rằng người Mỹ ngày càng kết hôn muộn hơn trong gần bốn mươi năm qua (1960-1998) thể hiện ở tuổi kết hôn trung bình của nữ tăng lên là 5 tuổi (từ 20 đến 25 tuổi).
Hệ quả là hiện nay, Mỹ là quốc gia có nhiều người sống độc thân nhất - chiếm 58.1% dân số Ở Mỹ, có 43% người trưởng thành (tương đương với 87 triệu người) tự cho mình là độc thân trong đó chỉ riêng thành phố New York, đã có đến 70% dân số sống độc thân
Sống độc thân hiện nay trên thế giới nhất là châu Âu đang trở thành trào lưu thời thượng Ỏ Tây Âu, theo Eurostar, số người sống độc thân là 158 triệu, chiếm 55% dân
số Irlandia, 50% dân số Phần Lan, 50% dân số Thuỵ Điển, 46% dân số Pháp Tại Pháp,
số người sống độc thân đã tăng từ 5 triệu người (năm 1999) lên 14 triệu người (2004)
Ở Tây Ban Nha có 6 triệu người độc thân, 18% nữ trong độ tuổi 35 – 39, ở tuổi 45-50 sống một mình Tại một nước có tới 90% số dân theo đạo Thiên chúa như Ba Lan, vẫn
có 60% số dân vẫn chấp nhận việc phụ nữ không có chồng mà có con Số những bà mẹ
“một mình” nuôi con đang trở thành lực lượng đông đảo trong xã hội, chiếm tới 15%
số gia đình của nước này Sống độc thân đã trở thành một nhu cầu của con người ở các nước tư bản phát triển
Các nước Châu Á cũng không nằm ngoài xu hướng này Trong hơn một thập niên trở lại đây, ngày càng có nhiều thanh niên châu Á chọn cách sống độc thân Nhật là quốc gia có số thanh niên độc thân ở độ tuổi 20 - 40 tăng vọt trong hai thập kỷ qua Theo thống kê của một tờ báo ở Nhật thì có 16% nữ thanh niên ở độ tuổi 30 quyết định sống độc thân và không sinh con Ở Hàn Quốc, tình hình cũng không có gì khả quan hơn 50% thanh niên Hàn Quốc chọn cuộc sống độc thân Xã hội Trung Quốc cũng đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng không kết hôn lần thứ ba trong lịch sử khi hầu hết giới trẻ ở nước này không muốn lập gia đình sớm Theo thống kê, năm 1991, độ tuổi trung bình của phụ nữ Trung Quốc khi kết hôn lần đầu tiên là 22.2; năm 1996 là 24.2 (riêng Thượng Hải là 25.3 và Bắc Kinh là 25.2)
2.1.2 Thực trạng phụ nữ đơn thân nuôi con ở Việt Nam
Trang 25Trong giai đoạn hiện nay, gia đình người Việt Nam đang có nhiều thay đổi từ mô hình, vai trò đến cách tổ chức cuộc sống Trong số những thay đổi đó, sự xuất hiện của
mô hình bà mẹ đơn thân là một hiện tượng khá đặc biệt Bà mẹ đơn thân là một hiện tượng đã xuất hiện từ khá sớm trong xã hội Việt Đó là những người phụ nữ có chồng mất hoặc ly dị và trở thành bà mẹ đơn thân nuôi con một mình Những trường hợp bà
mẹ đơn thân kể trên được người Việt chấp nhận là một gia đình khuyết thiếu và có cái nhìn thông cảm với họ Tuy nhiên, hiện nay đang có những trường hợp và mẹ đơn thân mới xuất hiện Phần lớn những trường hợp bà mẹ đơn thân hiện nay là trường hợp ly hôn hoặc không kết hôn Họ là những người phụ nữ không muốn lập gia đình, không muốn làm vợ nhưng vẫn muốn có con, muốn trở thành bà mẹ đơn thân – những trường hợp hiếm gặp trong xã hội Việt trước đây, một xã hội luôn coi gia đình là thước đo của hạnh phúc Những mô hình bà mẹ đơn thân thuộc những trường hợp li hôn và không kết hôn đang xuất hiện ngày càng nhiều và dần dần lan ra thành xu hướng trong xã hội Việt Nam, nhất là ở khu vực đô thị Xu hướng này đang có nhiều ảnh hưởng đến kinh
tế, văn hóa, xã hội của đất nước và đặt ra nhiều vấn đề xã hội quan trọng
Hiện tượng bà mẹ đơn thân xuất hiện từ lâu trong xã hội nhưng phát triển nhanh chóng và trở thành xu hướng trong những năm gần đây Thời điểm này, đất nước ta đã biến đổi sâu sắc so với thời kì trước, những hệ quả từ việc đổi mới và hội nhập với thế giới bắt đầu bén sâu vào mọi khía cạnh của đời sống xã hội Hôn nhân – gia đình là tầng sâu và khá ổn định của xã hội Việt, sự biến đổi trong xã hội cần một thời gian dài mới tác động được đến tầng này và gây ra những biến đổi mạnh mẽ Đầu thế kỉ XXI, hơn mười năm sau khi đổi mới và hội nhập, những biến đổi này đã bộc lộ và trở nên mạnh mẽ, dẫn đến sự ra đời và phát triển của xu hướng bà mẹ đơn thân
Ở Việt Nam, theo kết quả điều tra năm 2007 của tổng cục thống kê, Viện gia đình
và giới tiến hành thì tỷ lệ độc thân chiếm khoảng 2,5 % dân số tức khoảng 2.100 người, trong đó nữ giới chiếm 87,6 % Hội Liên hiêp phụ nữ tỉnh Thanh Hóa năm 2008 cho biết trên toàn tỉnh trong 100 % phụ nữ đơn thân thì có 46.5 % là chồng mất, 10 % là do
ly hôn, 19 % là độc thân và số còn lại là do các nguyên nhân khác như: không lấy chồng mà xin con nuôi, quan hệ ngoài luồng sau đó tự nuôi con một mình,…
Trang 26Hình 2.1: ảnh minh họa (Nguồn: google)
Single mom (bà mẹ đơn thân) đã thật sự là một cộng đồng lẩn khuất trong thế giới loài người hiện đại Theo thống kê năm 2008 ở Mỹ, số gia đình bố mẹ đơn thân chiếm đến 12% Ở Úc còn cao hơn, đến 15,2% Tại Việt Nam, theo nghiên cứu năm 2007, cũng đã có hơn 2 triệu người phụ nữ tuổi trưởng thành chọn lối sống độc thân, trong đó
¾ chấp nhận nuôi con một mình (theo
http://www.baomoi.com/Nuoi-con-mot-minh-Can-co-cai-nhin-bao-dung/139/4467133.epi).
Cuộc sống đơn thân nuôi con thực sự là những gánh nặng lớn lao đối với người phụ nữ Được gọi là phái yếu hay phái đẹp, trong quan niệm xã hội họ vẫn được cho là những người giữ lửa gia đình với vai trò nấu nướng, chăm sóc, dạy dỗ Nhưng một khi phải trở thành phụ nữ đơn thân nuôi con thì họ không chỉ có vai trò đó mà còn gánh vác luôn vai trò của một người chồng, một người cha, người đàn ông trong gia đình Điều đó ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe, công việc và cơ hôi của họ Đặc biệt là trách nhiệm giáo dục con cái Bao nhiêu áp lực và gánh nặng đè lên đôi vai của người phụ nữ
Những phụ nữ đơn thân sống ở thành thị, cuộc sống của họ tuy là đủ mọi điều kiện về vật chất nhưng vẫn gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống khi thiếu đi người đàn ông trong gia đình, thì đối với những người phụ nữ đơn thân ở vùng nông thôn thì cuộc sống của họ khó khăn gấp nhiều lần do phải bươn chải với cuộc sống hằng ngày
để kiếm miếng cơm, manh áo, lo cho tương lai của con cái họ
Trang 27Hình ảnh 2.2: Nhọc nhằn làm mẹ đơn thân (nguồn:
http://news.go.vn/xa-hoi/tin-1550245/nhoc-nhan-lam-me-don-than.htm)
Xu hướng làm mẹ đơn thân tăng nhanh ở tầng lớp tri thức hay giới nghệ sỹ Và Hiền Thục, một ca sĩ nổi tiếng không mấy ai không biết Vấn đề kinh tế, tài chính chắc hẳn không phải là điều chị phải băn khoăn lo nghĩ qua nhiều Nhưng khi được hỏi về
cuộc sống đơn thân nuôi con của mình chị nói rằng :" Một ca sĩ trẻ lại có con và nuôi
con một mình, cô ấy có đủ sức để vươn lên trong một môi trường cạnh tranh đầy quyết liệt hay không? Có thể là có Nhưng cái giá phải trả là không rẻ” Chỉ khổ những em
bé thiếu sự gần gũi của người cha và có lúc sẽ phải bước vào hành trình của những
em bé tìm cha Trong khi đó thực trạng về phụ nữ đơn thân nuôi con đang có xu hướng ngày càng tăng nhanh phải nói đến sự "đóng góp" không nhỏ của nhiều ngôi sao nổi tiếng như: Phương Thanh, Thái Thùy Linh, Siu Black, nhà thiết kế Ngô Thái Uyên, diễn viên Thanh Mai, Phan Hòa, Họ đã từng bất chấp, sau đó là cam chịu và cuối cùng là công khai giãi bày chuyện nuôi con một mình sau khi ly hôn với một cách đầy
vẻ tự tin và lạc quan Cái nhìn của dư luận xã hội về những người phụ nữ này như thế nào? Theo bà Nguyễn Thị Thương, Giám đốc Trung tâm tư vấn gia đình và ly hôn, Hội
Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam, có rất nhiều quan điểm về vấn đề này, có người cảm thông, người khác lại dè chừng, và không ít kẻ chê bai, đàm tiếu
Trang 28Hình ảnh 2.3: Ca sĩ Hiền Thục và cô con gái Gia Bảo (Nguồn: goole )
Như vậy, có thể nói rằng vấn đề phụ nữ đơn thân đang có rất nhiều điều muốn nói Có rất nhiều những nguyên nhân dẫn tới tình trạng đơn thân nuôi con của người phụ nữ: có người thì đó là tai họa ập đến gia đình khi người chồng mất do ốm đau, tai nạn; hay gia đình tan vỡ do bạo lực, ly hôn; nhưng cũng không ít bạn nữ lại lựa chọn cuộc sống đơn thân nuôi con vì mất niềm tin vào tình yêu, hôn nhân hay là do đam mê
sự nghiệp mà quên đi công việc lấy chồng, sinh con của mình đến lúc nhận ra thì đã
"quá lứa lỡ thì" nên xin một người con để nuôi,… có rất nhiều lý do Nhưng có một
điều đáng nói là thực trạng về cuộc sống đơn thân nuôi con của các bà mẹ lại phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, nó không còn dừng lại ở trách nhiệm của gia đình mà là của toàn xã hội
2.1.3 Thực trạng phụ nữ đơn thân nuôi con ở xã Hồng Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An
2.1.3.1 Số lượng, tỷ lệ và phân loại phụ nữ đơn thân nuôi ở địa bàn xã Hồng Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An
* Số lượng, tỷ lệ bà mẹ đơn thân ở địa bàn xã
Tổng số phụ nữ của toàn xã là 1389 người Trong đó, số phụ nữ trong độ tuổi sinh hoạt là 894 người Số hội viên tham gia sinh hoạt và đóng hội phí là 883 người chiếm
tỷ lệ 80%
Trang 29Số phụ nữ đơn thân nuôi con trên toàn xã là 92 người, chiếm tỷ lệ 6,6% tổng số
phụ nữ của toàn xã (Nguồn: báo cáo kết quả hoạt động 6 tháng cuối năm 2013 của
Hội LHPN xã Hồng Thành).
Theo thống kê của ban dân số và kế hoạch hóa gia đình xã Hồng Thành từ năm
2010 đến năm 2013 thì số lượng phụ nữ đơn thân nuôi con được thể hiện qua bảng số liệu sau:
Bảng 2.1: sự gia tăng số lượng phụ nữ đơn thân xã Hồng Thành (2010 - 2013)
Năm Số lượng phụ nữ đơn thân nuôi con
Nhìn vào bảng 2.1 cùng với phiếu điều tra nhanh dành cho các đối tượng là phụ
nữ đơn thân trên địa bàn xã cho thấy số lượng phụ nữ đơn thân nuôi con trên địa bàn xã tăng lên qua các năm
Nguyên nhân là do tình trạng ly hôn trên địa bàn trong những năm gần đây có xu hướng tăng, cùng với đó là lối sống buông thả của một bộ phận thanh niên dẫn đến có thai khi chưa kết hôn, hay tệ nạn xã hội gia tăng như tụ tập uống bia rượu rồi gây ra tai nạn chết người, đánh nhau là một trong những nguyên nhân làm cho phụ nữ góa bụa.Ngoài ra còn nhiều nguyên nhân khác nữa như chết do ốm đau bệnh tật, chết khi làm nhiệm vụ, chết do tai nạn nghề nghiệp của những người chồng, người cha khiến phụ nữ phải đơn thân nuôi con
Những nguyên nhân này chính là cơ sở để tiến hành việc phân loại phụ nữ đơn thân nuôi con Bởi bà mẹ đơn thân đang dần trở thành một hiện tượng diễn ra ngày càng phổ biến và phức tạp Chính vì thế, phân loại hiện tượng bà mẹ đơn thân nuôi con
là một công việc hết sức cần thiết để nhận diện đúng đắn vấn đề và có cái nhìn khách quan hơn khi tiến hành nghiên cứu Cũng từ đó đề ra những biện pháp phù hợp với thực tiễn của vấn đề
Trang 30Có nhiều cách để phân loại phụ nữ đơn thân nuôi con, tuy nhiên phân loại theo tình trạng hôn nhân là cách được áp dụng nhiều nhất bởi nó có cơ sở rõ ràng và dễ xác định Theo cách phân loại này thì bà mẹ đơn thân được chia ra làm 3 trường hợp.
Vì thế, họ tìm một người con có thể là con nuôi hoặc con đẻ để nuôi dạy cho cuộc sống đỡ cô quạnh và có thể nương tựa nhau lúc về già
Những trường hợp phụ nữ sinh con khi chồng đã qua đời hoặc khi đã ly hôn cũng được xếp vào đây
Trường hợp phụ nữ làm mẹ đơn thân do không kết hôn trên địa bàn xã có 28 người, chiếm tỷ lệ 30,4 % trong tổng số phụ nữ đơn thân của toàn xã
• Ly hôn
Là trường hợp những người phụ nữ đã từng kết hôn, việc họ làm mẹ đơn thân hầu hết là do bất đắc dĩ Trong trường hợp đã kết hôn người phụ nữ có thể làm mẹ đơn thân trong thời gian hôn thú hoặc sau thời gian hôn thú Có những người phụ nữ
có con trong thời kỳ kết hôn và sau khi ly hôn họ nuôi con một mình
Trường hợp phụ nữ đơn thân nuôi con do ly hôn trên địa bàn xã có 13 người, chiếm tỷ lệ 14,1 % trông tổng số phụ nữ đơn thân toàn xã
• Góa bụa
Là hình thức bà mẹ đơn thân nuôi con xuất hiện đầu tiên trong xã hội Sau khi người chồng đã qua đời, nếu hai người có con, người phụ nữ khi ấy sẽ trở thành bà
mẹ đơn thân nuôi con một mình
Trên địa bàn toàn xã có 51 phụ nữ đơn thân thuộc trường hợp này chiếm tỷ lệ 55,5 % trong tổng số phụ nữ đơn thân nuôi con của toàn xã
Biểu đồ 2.1: phân loại PNĐTNC trên địa bàn xã Hồng Thành (Nguồn: “báo cáo thống kê thực trạng phụ nữ đơn thân nuôi con 6 tháng đầu năm 2013 của Hội LHPN xã Hồng Thành”)
Trang 31Nhìn vào biểu đồ trên chúng ta có thể thấy sự chênh lệch rõ giữa phụ nữ đơn thân nuôi con trong đó tỷ lệ PNĐTNC do chồng chết và tỷ lệ PNĐTNC do ly hôn là chênh lệch khá lớn (55,5 % với 14,1%).
Để mô tả trực trạng phụ nữ đơn thân nuôi con trên địa bàn toàn xã, tôi đã tiến hành nghiên cứu vấn đề này trên nhiều khía cạnh
• Về độ tuổi
Phụ nữ đơn thân trên địa bàn chủ yếu ở độ tuổi từ 30 trở lên Theo khảo sát của Hội LHPN xã Hồng Thành, đầu năm 2013 có 92 phụ nữ đơn thân nuôi con trong đó:+ từ 15 đến 17 tuổi có 2 người chiếm 2,2 %
+ từ 18 đến 29 tuổi có 6 người chiếm 6,5 %
+ từ 30 đến 49 tuổi có 32 người chiếm 34,8 %
+ từ 50 tuổi trở lên có 52 người chiếm 56,5 %
Biểu đồ 2.2: Độ tuổi phụ nữ đơn thân nuôi con xã Hồng Thành năm 2013
(Nguồn: theo báo cáo thống kê thực trạng phụ nữ đơn thân nuôi con 6 tháng đầu năm 2013 của Hội LHPN xã Hồng Thành).
• Về trình độ học vấn
Theo số liệu thống kê 6 tháng đầu năm 2013 của Hội LHPN xã Hồng Thành thì:
Tỷ lệ PNĐTNC không biết chữ chiếm 1,1 % tương ứng với 1 người
Tỷ lệ tốt nghiệp tiểu học là 5,4 % tương ứng với 5 người
Tỷ lệ tốt nghiệp THCS là 58,7 % tương ứng với 54 người
Tỷ lệ tốt nghiệp THPT là 27,2 % tương ứng với 25 người
Tỷ lệ tốt nghiệp từ sơ cấp trở lên chiếm 7,6 % tương ứng với 7 người
• Số lượng con cái
Cũng theo số liệu thống kê 6 tháng đầu năm 2013 của Hội LHPN xã Hồng Thành Số lượng Phụ nữ đơn thân nuôi 1 có 26 người chiếm tỷ lệ 28,2 %; nuôi hai con có 18 người chiểm tỷ lệ 19,6 %; nuôi 3 con trở lên có 48 người chiếm tỷ lệ 52,2
%
Như vậy, chúng ta có thể thấy được tỷ lệ nuôi 3 con trở lên của phụ nữ đơn thân trên địa bàn xã nhiều hơn so với tỷ lệ phụ nữ đơn thân nuôi 1 con và 2 con Điều này chúng ta cũng có thể dễ dàng lý giải được Bởi theo nguyên nhân và độ tuổi của phụ
Trang 32nữ đơn thân nuôi con thì chúng ta biết rằng trường hợp PNĐTNC trên địa bàn xã do góa bụa chiếm tỷ lệ cao, và những người chồng đó chết đi ở khoảng tuổi trung niên trở đi chiếm phần đa Hơn nữa, ở vùng nông thôn như địa bàn tôi tiến hành nghiên cứu thì việc sinh con thứ 3 trở đi là rất nhiều Vì thế, chúng ta có thể hiểu được vì sao
tỷ lệ phụ nữ đơn thân nuôi con thứ 3 trở lên nhiều hơn
2.1.3.2 Thực trạng đời sống của phụ nữ đơn thân nuôi con ở xã Hồng Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An
* Đời sống vật chất
Đời sống vật chất phản ánh một phần chất lượng cuộc sống của con người Từ
đó xem xét việc đáp ứng các nhu cầu, trước hết là các nhu cầu cơ bản như ăn, mặc, ở,
đi lại có được đảm bảo không Sau đó, là điều kiện nảy sinh các nhu cầu tinh thần
Mức đáp ứng đó càng cao thì CLCS càng cao (Nguồn:
cuoc-song-2011111703242523.htm ).
google,http://danso.giadinh.net.vn/du-lieu-dan-so/ban-ve-khai-niem-chat-luong-Thông qua việc tìm hiểu thực trạng về đời sống vật chất của phụ nữ đơn thân nuôi con trên địa bàn toàn xã, chúng ta có thể thấy rõ hơn hoàn cảnh sống của họ, đánh giá xem chất lượng cuộc sống của những gia đình PNĐTNC có khó khăn hơn so với các gia đình bình thường không? Từ đó, đưa ra những giải pháp thích hợp, nhằm
hỗ trợ các gia đình PNĐTNC thuộc diện khó khăn
Xã Hồng Thành tuy là một xã vùng sâu nhưng so với mặt bằng chung trong huyện thì Hồng Thành không phải là một xã nghèo Kinh tế của người dân trong xã tương đối ổn định nhờ các hoạt động buôn bán (trên địa bàn có chợ Hồng Xuân là trung tâm mua bán trao đổi hàng hóa giữa người dân trong xã và các xã lân cận như Phú Thành, Thọ Thành ), xuất khẩu lao động, các hoạt động dịch vụ Tuy nhiên, số gia đình thuộc diện hộ nghèo và hộ cận nghèo vẫn còn đáng kể Theo thống kê của ban dân số kế hoạch hóa gia đình xã Hồng thành năm 2013, toàn xã có 74 hộ nghèo, trong đó có 9 hộ nghèo là phụ nữ đơn thân nuôi con chiếm tỷ lệ 12,1% Điều đó cho thấy rằng, số hộ nghèo là PNĐTNC chiếm tỷ lệ không quá cao, nhưng còn nhiều hộ ở mức ngưỡng nghèo nhưng không đủ điều kiện để công nhận là hộ nghèo Qua đó, chúng ta có thể khẳng định đời sống của một bộ phận PNĐTNC còn gặp rất nhiều khó khăn và thiếu thốn
Trang 33Để mô tả bức tranh toàn cảnh về thực trạng đời sống của phụ nữ đơn thân nuôi con trên địa bàn, chúng tôi muốn đi sâu tìm hiểu trên nhiều phương diện như:
Hình 2.2: ảnh tự chụp nhà ở của 1 cán bộ là phụ nữ đơn thân nuôi con
Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn 4 ngôi nhà của PNĐTNC còn tạm bợ, mái ngói nhưng là nền đất hoặc láng xi măng nhưng đã bị hư hỏng nặng
“Nhà cửa như thế này, nhất là vào mùa mưa, mấy mẹ con chỉ biết lấy thau, lấy
xô hứng nước rồi lại tủi thân mà ôm nhau khóc ”, tâm sự của 1 PNĐTNC
• Thu nhập và việc làm
Hầu hết, PNĐTNC trên địa bàn xã chủ yếu làm nông nghiệp và tỷ lệ chị emPNĐTNC làm nông nghiệp chiếm tới 83,7 % 16,3 % còn lại làm các nghề như buôn bán, may mặc, giáo viên hay y tá [1;3]
Đa số không có việc làm ổn định, thời gian nông nhàn thì nhiều mà ở địa phương thì lại không có hoặc có rất ít việc để chị em có thể làm thêm kiếm thêm ít thu nhập Vì thế, vào thời gian rảnh, một số chị em PNĐTNC còn làm những việc nặng nhọc mà nam giới thường hay làm như đi phụ hồ, sắp gạch, một số đi buôn ve chai, đồng nát Trước mùa vụ, họ thường tranh thủ để đi cấy thuê, gặt thuê Cuộc
Trang 34sống vất vả quanh năm nhưng kinh tế gia đình cũng chẳng khá lên là bao, thu nhập bếp bênh, còn nhiều khó khăn và thiếu thốn.
Vấn đề việc làm luôn là vấn đề mang tính cấp bách và nóng bỏng, là mối quan tâm của toàn xã hội Và PNĐTNC cũng thế, bởi nếu không có việc làm ổn định họ sẽ khó kiếm ra tiền để duy trì cuộc sống hàng ngày của cả gia đình, họ không có người cùng chia sẻ, cùng gánh vác mọi chuyện Một mình họ phải lo toan tất cả, từ chi phí sinh hoạt hàng ngày, phương tiện đi lại, chi phí chữa bệnh khi đau ốm, tiền học hành của con cái rất nhiều, rất nhiều những khó khăn mà họ phải đối mặt nếu như họ không có việc làm Vì thế, để giải quyết được vấn đề này, cần có sự quan tâm của chính quyền sở tại và Nhà nước để giúp cho PNĐTNC có thể cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống của họ, giúp họ vượt qua những khó khăn trong cuộc sống.Còn nữa, thu nhập luôn là mối quan tâm hàng đầu của chị em PNĐTNC, bởi nó cũng là một yếu tố quyết định đến chất lượng cuộc sống
Những PNĐTNC không làm nông hoặc có làm nhưng họ có công việc ổn định như giáo viên, y tá hay buôn bán nhỏ lẻ thì thu nhập có khá hơn và đều đặn hơn Trên địa bàn xã có 5 PNĐTNC làm cán bộ công nhân viên chức, đã được biên chế, thu nhập của họ vào khoảng từ hơn 2 triệu đến hơn 4 triệu (tùy theo trình độ) Vì thế,
họ có thể trang trải cho cuộc sống của cả gia đình Dù không quá sung túc nhưng cũng tạm ổn
Những gia đình có con cái lớn đã đi làm thì hàng tháng có thêm nguồn thu nhập
từ các con gửi về Cũng đỡ đần được đôi phần
Còn đối với những gia đình PNĐTNC thuần nông, nếu không có việc vì làm thêm thì thu nhập chỉ trông chờ vỏn vẹn vào vài ba sào ruộng, đôi khi không đủ ăn, cuộc sống túng thiếu mọi bề
Chính thu nhập thấp làm cho chị em PNĐTNC tại xã Hồng Thành khó khăn hơn, hạn chế hơn trong việc tiếp cận với các dịch vụ xã hội như chăm sóc sức khỏe,
an sinh
Đa số các “bà mẹ đơn thân” được phỏng vấn đều cho biết thu nhập của họ thường rất thấp và không đủ để trang trải cho cuộc sống hàng ngày, mặc dù họ làm rất nhiều việc
Trang 35Theo số liệu thống kê trong báo cáo tổng kết hoạt động cuối năm 2010 Thì thu
nhập của chị em PNĐTNC ở địa bàn xã được thể hiện qua bảng số liệu sau (số liệu chia theo mức chuẩn nghèo quốc gia giai đoạn 2006 – 2010)
Bảng 2.2: Thu nhập/tháng của PNĐTNC ở xã Hồng Thành năm 2010
So với tổng số hộ nghèo của toàn xã năm 2010 là 81 hộ (số liệu do ban dân số
kế hoạch hóa gia đình xã Hồng Thành cung cấp) thì thông qua bảng số liệu trên cho thấy, số PNĐTNC trên địa bàn xã thuộc diện hộ nghèo và hộ cận nghèo còn khá nhiều Điều đó cho thấy những khó khăn mà họ phải đối mặt nhưng thiếu ăn, không được chăm sóc sức khỏe tốt, việc học hành của con cái có thể bị dang dở
Đến tháng 01/ 2011, khi Chính phủ ban hành mức chuẩn nghèo mới, chuẩn nghèo được nâng lên gấp đôi so với giai đoạn 2006 – 2010 Sau những nỗ lực và cố gắng, cùng với việc triển khai mở rộng làng nghề mây tre đan xuất khẩu trên toàn xã, thì tình hình việc làm của PNĐTNC trên địa bàn toàn xã cuối năm 2013 đã được cải thiện tốt hơn, mọi người có thêm nghề mới để làm lúc nhàn rỗi, kiếm thêm thu nhập nhằm trang trang cho cuộc sống Bởi mây tre đan là nghề nhẹ nhàng phù hợp với phụ
nữ vì nó cần độ khéo léo và tinh tế Đồng thời việc triển khai các hoạt động xuất khẩu lao động nữ sang các nước như Đài Loan, Nhật từ năm 2010 trở đi cũng nhiều Nhiều chị em PNĐTNC nuôi 1 con đã mạnh giạn gửi con cho ông bà ngoại để đi làm
ăn, cải thiên cuộc sống Theo báo cáo tổng kết phong trào, hoạt động của Hội LHPN
xã Hồng Thành cuối năm 2013, phương hướng và nhiệm vụ năm 2014 thì số hộ
nghèo là PNĐTNC trên toàn xã đã giảm xuống còn 9 hộ nghĩa là có 4 hộ đã thoát nghèo Mức thu nhập của PNĐTNC cũng tăng lên đáng kể Qua bảng số liệu sau chúng ta có thể thấy rõ điều đó:
Bảng 2.3 : Thu nhập/tháng của PNĐTNC ở xã Hồng Thành năm 2013
Trang 36• Phương tiện sinh hoạt
Danh mục đồ dùng trong các hộ gia đình là PNĐTNC nuôi con không có nhiều, không đầy đủ và thậm chí có hộ còn rất chi là thiếu thốn Tuy nhiên, thì hiện nay, nhờ được sự giúp đỡ của chính quyền địa phương, các ban ngành, đoàn hội mà các đồ dùng trong nhà cũng đã được cải thiện hơn Như đã nói thì đến cuối năm 2013 thu nhập của các hộ gia đình PNĐTNC trên địa bàn xã đã được cải thiên hơn so với trước, vì thế, họ cũng có điều kiện để sắm sửa thêm các phương tiện sinh hoạt cho gia đình, thậm chí có nhiều hộ đã mua được các phương tiện công nghệ hiện đại như tivi,
tủ lạnh đó là những dấu hiệu đáng mừng cho chị em PNĐTNC
* Đời sống tinh thần
Bên cạnh đời sống vật chất, đời sống tinh thần cũng là một phần quan trọng của các gia đình Trong mô hình gia đình “bà mẹ đơn thân” thì đời sống tinh thần lại càng phức tạp và có những biến đổi sâu sắc hơn so với các gia đình bình thường
• Tình cảm của các thành viên trong gia đình
“Tình cảm và sự yêu thương, chăm sóc lẫn nhau giữa những thành viên trong
gia đình là một giá trị tinh thần to lớn của người Việt Tình cảm gia đình có rất nhiều cấp bậc, có tình cảm theo quan hệ ngang và tình cảm theo quan hệ dọc Trong mô hình gia đình bình thường, những mối quan hệ trong gia đình rất đơn giản, ngoài quan hệ trong nội bộ gia đình còn có quan hệ với hai bên gia đình nội ngoại Những mối quan hệ đa chiều, chằng chịt này khiến tình cảm gia đình trở nên đa dạng Nếu
có một mối quan hệ nào đó trục trặc, những thành viên có thể tìm sự bù đắp ở các mối quan hệ khác” (Nguồn: http://www.doko.vn/luan-van/buoc-dau-tim-hieu-ve-
hien-tuong-ba-me-don-than-o-ha-noi-321791) Trong mô hình bà mẹ đơn thân, những mối quan hệ tình cảm trong gia đình đã bị thu hẹp đi rất nhiều lần
Trang 37Trước hết, đó là tình cảm cha – con bị mất hoặc bị thay đổi Những đứa trẻ trong gia đình phụ nữ đơn thân thiếu đi sự chăm sóc, nuôi dưỡng, yêu thương của người cha hoặc thậm chí là không có Sự thiệt thòi đó sẽ khiến cho tâm hồn trẻ dễ bị tổn thương trước hoàn cảnh sống, trước những lời trêu chọc của bạn bè cùng trang lứa
Chị Hoàng Thị Lành, 35 tuổi ở xóm Thiện Lợi tâm sự: “một buổi chiều đến đón con
ở trường mẫu giáo, thấy nó cứ thẩn thờ, buồn bã về đến nhà tôi hỏi con sao thế, nó tủi thân rồi khóc thật lớn các bạn bảo con là đồ không có cha, tôi chỉ biết ôm con vào lòng để an ủi nó, ” [phỏng vấn bán cấu trúc, PNĐTNC]
Cùng với quan hệ tình cảm cha – con thì tình cảm vợ chồng cũng hoàn toàn bị tan vỡ hoặc không hề tồn tại Khi hai người quyết định không chung sống với nhau như một gia đình, dưới một mái nhà thì tình cảm vợ chồng hoàn toàn đổ vỡ hoặc chuyển hóa sang tình bạn ở một mức độ nhất định nếu hai người không thù hận nhau
“sau khi ly hôn, tôi đã cấm cản không cho anh ta gặp các con tôi, và không cho các con nhận bất kỳ một thứ gì từ anh ta, con người như anh ta không xứng đáng để làm một người cha ” chị Vũ Thị Nghệ (40 tuổi, xóm Phú Đa) bức xúc khi được hỏi
về mối quan hệ hiện tại giữa chị và chồng chị [phỏng vấn bán cấu trúc, PNĐTNC]Tuy nhiên, một số người lại suy nghĩ nhẹ nhàng hơn và chấp nhận hoàn cảnh hiện tại, họ cho chồng đi lại với con cái, nhận phần tiền trợ cấp từ chồng để nuôi dạy
con cái, giống như trường hợp của chị Bùi Thị Hợp (35 tuổi, xóm Đa Cảnh): “tôi
nghĩ, tôi không có quyền cướp đi tình cảm cha con giữa họ, dù giữa vợ chồng tôi có xảy ra chuyện gì thì tôi vẫn không muốn hình ảnh của chồng tôi xấu đi trong mắt các con tôi, và tôi cũng muốn chồng tôi có trách nhiệm với các con tôi ” [phỏng vấn bán
cấu trúc, PNĐTNC]
Tâm hồn trẻ thơ rất non nớt, dễ mặc cảm, dễ tự ti vì thế bà mẹ đơn thân phải có cách ứng xử khéo léo, xử lý các tìn huống có thể xảy ra một cách êm đẹp tránh để lại những hậu quả về mặt tâm lý nặng nề cho đứa trẻ
Ngoài ra, mối quan hệ với giữa các gia đình phụ nữ đơn thân với họ hàng bên nội cũng thường rạn nứt, hoặc với nhưng người phụ nữ không chồng mà có con thì mối quan hệ đó không được hình thành Và trong mô hình bà mẹ đơn thân thì ông bà ngoại thường là những người có ảnh hưởng lớn và sâu sắc tới sự phát triển thể chất cũng như tinh thần của đứa trẻ
Trang 38Điều đáng chú ý là ở gia đình phụ nữ đơn thân nuôi con Thì đối với người mẹ đứa con là tài sản duy nhất, là tất cả yêu thương, động lực và tinh thần của họ Chứ không phải giống như trong các gia đình bình thường người vợ người mẹ còn san sẻ, còn dành tình cảm của mình cho chồng.
• Cách thức nuôi dạy và giáo dục con cái
Gia đình là cái nôi nuôi dưỡng trẻ thơ cả về mặt vật chất lẫn tinh thần Để con trẻ lớn lên và trở thành người có ích cho gia đình và xã hội Để nhân cách của đứa trẻ phát triển một cách hoàn thiện và tâm hồn của đứa trẻ không bị tổn thương thì gia đình đóng một vai trò hết sức quan trọng và to lớn trong việc giáo dục, dạy dỗ trẻ Bởi gia đình chính là môi trường xã hội hóa đầu tiên mà trẻ được tiếp xúc, được cọ xát và học hỏi từ chính những người thân của mình
Trong gia đình, mỗi người đóng một vai trò nhất định, không có những quy định
rõ ràng cho việc đó Nhưng từ xưa đến nay, con người ta luôn ngầm hiểu, đàn ông là trụ cột của gia đình, là cái cần câu cơm và là người làm những việc to lớn, thực hiện chức năng kinh tế để nuôi sống và phục vụ các nhu cầu cần thiết cho gia đình Phụ nữ
là những người trực tiếp nuôi dạy con cái, gần gũi với con cái bởi vậy mới nói “con
hư tại mẹ, cháu hư tại bà” chính là cái cách giáo dục, nuôi dạy mà gia đình dành cho trẻ thơ Tuy nhiên, dù ít tham gia hơn vào việc dạy dỗ và chăm sóc con cái, nhưng chính cái tính cách mạnh mẽ, cái uy danh của một người chủ trong gia đình mà những đứa con trong gia đình thường sợ cha hơn sợ mẹ “một tiếng cha bằng ba tiếng mẹ” Giống như có lần cậu bạn tôi tâm sự “buổi sáng, mỗi lần thức giấc mà mẹ gọi thì chẳng thấy hề hấn gì lắm bởi biết tính mẹ hiền mà, nhưng chỉ cần ba kêu một tiếng thôi là tớ phải bật dậy ngay ” qua đó cho thấy, người đàn ông đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục nhân cách cho con trẻ Có ai đó để sợ, có ai đó để nể và kính trọng trẻ sẽ biết mình nên làm gì và không nên làm gì
Trong mô hình bà mẹ đơn thân, hầu hết con cái chỉ nhận được sự giáo dục và dạy dỗ từ người mẹ, đặc biệt đối với những trường hợp không có chồng mà có con Nếu không biết cách cư xử khéo léo và không có một phương pháp dạy dỗ phù hợp thì trẻ rất dễ hư hỏng, ương bướng và không nghe lời Khi họ phải gồng mình gánh vác cả 2 trách nhiệm của cả người làm cha lẫn người làm mẹ thì thật sự là sẽ rất áp
Trang 39lực, mệt mòi nhưng dù vậy thì sự cố gắng của họ cũng khó mà láp đầy khoảng trống của đứa trẻ thiếu đi hình bóng của người cha.
Chị Nghệ tâm sự: “mình dù có đánh con đau đến mấy thì nó cũng chẳng sợ
bằng một cái trừng mắt của anh trai mình Đôi khi mình cảm thấy bất lực trước con Những lúc nó không nghe lời thì chỉ biết lấy cậu ra để dọa hoặc nhờ cậu dạy dỗ nó ” [phỏng vấn bán cấu trúc, PNĐTNC]
Có thể nói, bản tính vốn yếu đuối, cùng với tấm lòng của người mẹ mà đôi khi người phụ nữ thiếu đi sự quyết đoán, cứng rắn cần thiết trong việc giáo dục con cái Qua đó cũng cho thấy cái uy nghiêm của người đàn ông có ảnh hưởng lớn đối với quá trình tiếp thu sự giáo dục để hình thành nhân cách của mỗi đứa trẻ
Hơn nữa, hầu hết, những người phụ nữ đơn thân nuôi con trên địa bàn là những người ít học Nhiều người trong số đó còn chưa chuẩn bị tâm lý để làm mẹ và làm một bà mẹ đơn thân Khi rơi vào hoàn cảnh đó họ loay hoay không biết phải làm sao rồi tự mình thích nghi dần với cuộc sống chứ không có những sự chuẩn bị kỹ càng về mặt tâm lý cho cả bản thân họ lẫn những đứa con của họ Bởi vậy, họ cũng không có kiến thức, không hành trang trong việc giáo dục con cái một cách khoa học, tâm lý,
cách thức giáo dục dạy dỗ con cái của họ bởi vậy cũng rất cổ hũ “thương cho roi cho
vọt, gét cho ngọt cho bùi” trở thành chân lý của việc giáo dục trẻ thơ Khi con cái làm
gì sai trái, thì đòn roi là điều không thể tránh khỏi, họ chưa biết cách quan tâm đến tâm lý của đứa trẻ, mặc dù không có bà mẹ nào là không thương con cả Chỉ có điều, cách thương của họ nhiều khi làm cho đứa trẻ tưởng nhầm, nó không quan trọng với
mẹ, mẹ không yêu nó Và chính việc tiếp cận với các dịch vụ, tìm hiểu các phương pháp dạy dỗ trẻ một cách khoa học và hợp lý của các bà mẹ đơn thân nhất là các bà
mẹ đơn thân ở quê còn ít và còn xa lạ nên họ thường dạy dỗ con cái theo bản năng của một người mẹ, có khi thương quá mà nuông chiều khiến trẻ dễ sinh hư Có khi lại nghiêm khắc quá khiến đứa trẻ phải sợ sệt Chị Năm (PNĐTNC, xóm Thiện Tiến)
tâm sự: “vì tôi không muốn hàng xóm chê cười, vì sợ mỗi lần con tôi có mắc lỗi gì đó
mà bị chửi là đồ con không có cha nên tôi chỉ biết răn đe, dạy dỗ nó bằng cách đánh
nó thật đau mỗi lần mà nó làm gì sai để mong nó sẽ chừa đi thói hư đó mà lần sau không dám phạm phải nữa, đánh con xong tôi cũng xót lắm, thương con nhưng biết làm sao, con khóc rồi mẹ cũng khóc theo ” [phỏng vấn bán cấu trúc, PNĐTNC]
Trang 40Mỗi người cha, người mẹ trong gia đình là một hình mẫu lý tưởng mà đứa con thường mong muốn trở thành Vì thế, khi thiếu đi hình bóng người đàn ông trong các gia đình phụ nữ đơn thân thì hình mẫu về một người đàn ông trong đứa trẻ dễ bị mờ nhạt, đối với những trẻ là nam thì chúng loay hoay không biết mình nên phải làm gì
Dù người phụ nữ có cố gắng mạnh mẽ và cố làm tròn trách nhiệm của cả người cha lần người mẹ thì cũng không thể bù đắp được những thiếu thốn của đứa trẻ
Ộsố liệu thống kê của Viện Kiểm Sát Nhân dân tối cao cho thấy 71% trẻ vị thành
niên phạm pháp là do không được quan tâm chăm sóc đến nơi đến chốn Một nghiêm cứu mới đây của Bộ Công an cũng chỉ ra nguyên nhân phạm tội của trẻ vị thành niên xuất phát từ gia đình: 8% trẻ phạm tội có bố mẹ ly hôn, 28% phàn nàn bố mẹ không đáp ứng nhu cầu cơ bản của các em, 49% phàn nàn về cách đối xử của bố mẹ.Ợ
[Nguồn:http://www.tin247.com/tre_vi_thanh_nien_pham_toi_do_anh_huong_cua_gia_dinh-7-64459.html]
Chắnh sự thiếu vắng của người cha trong gia đình sẽ gây nên những hệ lụy trong giáo dục gia đình Ảnh hưởng nghiêm trọng đến xã hội sau này
Ớ Tắn ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Con người tồn tại trong xã hội luôn có một đời sống tâm linh phong phú và họ cần niềm tin vào điều gì đó để tồn tại, để cảm thấy cuộc sống mình có ý nghĩa, có một đấng tối cao luôn phù hộ độ trì cho bản thân và cho gia đình mình Vì thế, số lượng theo quan điểm vô thần là rất ắt Từ xưa đến nay, tắn ngưỡng thờ cúng tổ tiên luôn là một phần thiêng liêng, quan trọng không thể thiếu trong gia đình Việt Đó là điều mà
đã đi sâu vào tư tưởng con người, vì thế người Việt luôn quan niệm Ộcon người có tổ
có tôngỢ, và từ đời này sang đời khác, con cháu phải ghi nhớ và phải luôn luôn nhớ
về cội nguồn, tổ tiên
Tuy nhiên, ở mô hình bà mẹ đơn thân trong phạm vi khảo sát của bài khóa luận, thì hầu hết chỉ có trường hợp các gia đình bà mẹ đơn thân góa bụa có bàn thờ tổ tiên nhà chồng và bàn thờ người chồng đã quá cố Còn lại, trong mô hình gia đình bà mẹ đơn thân theo trường hợp ly hôn và không kết hôn thì hầu như không có Vì khi ly hôn người phụ nữ không sống cùng gia đình nhà chồng nữa và vì thế họ không thờ cúng tổ tiên nhà chồng