1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đổi mới phương pháp dạy học trên cơ sở đảm bảo kiến thức cơ bản vững chắc trong mỗi bài học cho học sinh dân tộc

57 409 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, đòi hỏi giáo viên dạy học lớp ghép phải là những giáo viên có nhiềukinh nghiệm, nỗ lực rất nhiều trong phương pháp giảng dạy, nắm rõ từng đốitượng học sinh để tiếp cận cá thể hóa

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trên lãnh thổ Việt Nam, gần 60 dân tộc sống trên các vùng khác nhau.Mỗi dân tộc có truyền thống văn hoá riêng và có tiếng nói riêng của mình Từsau cách mạng tháng Tám, Đảng và nhà nước ta đã chăm lo và tạo điều kiệncho các dân tộc phát triển toàn diện cả về kinh tế lẫn văn hoá, giáo dục Nhiềutiếng dân tộc từ chỗ chỉ là tiếng nói giao tiếp khẩu ngữ đã tiến tới có hệ thốngchữ viết riêng Điều đó đã tạo điều kiện cho ngôn ngữ các dân tộc ổn định vànhanh chóng phát triển Cũng như các dân tộc, mọi ngôn ngữ dân tộc đều bìnhđẳng và tự do phát triển

Tuy vậy, tiếng Việt đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong xã hội tanói chung cũng như trong nhà trường nói riêng Tiếng Việt đã trở thành mộttiếng nói hoàn thiện, đáp ứng mọi nhu cầu giao tiếp và thẩm mĩ của xã hội.Trong quá trình bảo vệ và xây dựng đất nước, tiếng Việt đã trở thành phươngtiện đoàn kết thống nhất ý chí và hành động của đại gia đình các dân tộc Việtnam Nói cách khác, trên thực tế, tiếng Việt đã trở thành ngôn ngữ giao tiếpchung cho tất cả các dân tộc

Môn tiếng Việt chiếm một ví trị đặc biệt quan trọng trong trường ở vùngdân tộc Với tư cách là một môn học, môn tiếng Việt mở rộng tầm hiểu biết chocác học sinh về ngôn ngữ, cung cấp cho học sinh một phương tiện mới để suynghĩ, nhận thức và giao tiếp không những trong nội bộ dân tộc mà còn với cácbạn thuộc các dân tộc khác

Đọc sách bằng tiếng Việt, các học sinh dân tộc không những chỉ mở rộngtầm hiểu biết về thế giới xung quanh mình mà còn nắm được vẻ đẹp, sự giàu cócủa tiếng Việt, cũng như những tư tưởng, tình cảm cao đẹp của các nhà văn hoálớn như lòng yêu quê hương đất nước, yêu cuộc sống, lòng yêu thương conngười và truyền thống của dân tộc ta Trong các trường học của ta, sự truyền

Trang 2

thụ tri thức khoa học, việc rèn luyện các kĩ năng, kĩ xảo đều thông qua tiếngViệt Chất lượng nắm tri thức khoa học, hình thành các kĩ năng, kĩ xảo đó phụthuộc vào năng lực hiểu và tiếp nhận tiếng Việt của các học sinh Chỉ có hiểuđược tiếng Việt, sử dụng được tiếng Việt, học sinh mới có điều kiện học cácmôn khoa học khác trong nhà trường Như vậy, quá trình thực hành tiếng Việt

ở mọi hoạt động: nghe, nói, đọc, viết là mục đích và nhiệm vụ hàng đầu củaviệc dạy học tiếng Việt nhà trường các dân tộc miền núi

Tuy nhiên miền núi là vùng có địa hình hiểm trở, phương tiện đi lại khókhăn, vật chất thiếu thốn, các em học sinh ít đi học hoặc nếu có thì cũng không

đủ số lượng số lượng học để mở lớp đơn hoặc số lượng học sinh mỗi trình độvừa ít lại vừa thiếu phòng học Do vậy vấn đề đặt ra là phải làm sao trong mộtphòng học với diện tích nhỏ có thể tổ chức dạy học cho số lượng học sinhthuộc nhiều trình độ Một trong các phương án đặt ra là dạy học theo phươngpháp ghép lớp Nhưng điều quan trọng hơn là làm sao có thể dạy để đạt kết quảtối ưu khi mà mỗi học sinh trong lớp lại có các mặt bằng kiến thức khác nhau

Do đó, đòi hỏi giáo viên dạy học lớp ghép phải là những giáo viên có nhiềukinh nghiệm, nỗ lực rất nhiều trong phương pháp giảng dạy, nắm rõ từng đốitượng học sinh để tiếp cận cá thể hóa học sinh, cá thể hóa tập thể học sinh Trong khả năng cho phép chọn đề tài: “phương pháp tiếp cận cá thể hóatrong dạy học tiếng việt ở lớp ghép” Hy vọng rằng với đề tài này sẽ có cơ hộitìm hiểu sâu sắc hơn nội dung và hình thức tổ chức dạy học ở lớp ghép Đồngthời, đi sâu vào phương pháp tiếp cận cá thể hóa sẽ góp phần nâng cao kĩ năngcủa giáo viên trong việc nắm rõ trình độ đối tượng học sinh và xây dựng kếhoạch dạy học linh hoạt

2 Lịch sử vấn đề

Giáo dục tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số là lĩnh vực được Đảng vàNhà nước rất quan tâm, đặc biệt là trong việc dạy tiếng Việt cho con em cácdân tộc thiểu số Trước tình hình thực tế là việc dạy tiếng Việt cho con emvùng dân tộc thiểu số chưa đạt được hiệu quả như mong muốn, Từ năm học

Trang 3

2008-2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai Chương trình tăng cường

Tiếng Việt cho học sinh dân tộc, trong đó có phương án sử dụng phương pháp

tiếp cận cá thể hóa trong dạy học tiếng Việt ở lớp ghép Ngày 19/8-2009, Bộ

Trưởng Bộ GD&ĐT đã ra quyết định số 5236/QĐ-BGDĐT về việc thành lập

Ban chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu

số do Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển làm Trưởng ban, Vụ Trưởng Vụ GDTH

làm Phó Trưởng ban thường trực; Phó Viện Trưởng Viện KHGDVN và Phó

Vụ Trưởng Vụ GDTH làm phó Trưởng ban (Theo đó, năm học 2009 - 2010,

2010 - 2011, 2011 - 2012 Bộ GD&ĐT ban hành Quyết định triển khai dạy họcTiếng Việt theo hướng tiếp cận cá thể hóa Trong quá trình thực hiện, chấtlượng tiếng Việt của học sinh dân tộc thiểu số đã tăng lên rõ rệt, kèm theo đó là

số lượng học sinh tham gia chương trình bồi dưỡng tiếng Việt cũng tăng lênhằng năm

Tiếp đó BGDĐT đã đề ra các công văn số 8114/BGDĐT ngày 15/9/2009

và công văn số 145/TB-BGDĐT ngày 02/7/2010 về việc nâng cao chất lượng

dạy học Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số Các huyện Nam Đông, A

Lưới và các trường có học sinh dân tộc ở Hương Trà, Phong Điền, Phú Lộcthực hiện việc chuẩn bị tiếng Việt từ 2 - 3 tuần cho học sinh và dạy tăng buổitrong tuần hoặc dạy học 2 buổi/ngày Cần tạo môi trường giao tiếp Tiếng Việtcho học sinh qua các môn học và hoạt động giáo dục; khuyến khích các hoạtđộng giao lưu văn hóa, văn nghệ giữa các lớp, giữa các trường; sử dụng hiệuquả các phương tiện hỗ trợ các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết như tranh hướngdẫn học sinh tập nói, bài hát hỗ trợ học tiếng Việt

Phòng Giáo dục Sở phối hợp với Phòng GD&ĐT Nam Đông và A Lưới tổchức hội thảo tập huấn chuyên đề “Đổi mới phương pháp dạy học trên cơ sởđảm bảo kiến thức cơ bản vững chắc trong mỗi bài học cho học sinh dântộc”.Tiếp tục phối hợp giữa Phòng Giáo dục Sở với Phòng GD&ĐT Nam Đông

và A Lưới tổ chức Ngày hội giao lưu “Tiếng Việt cho học sinh dân tộc”

Trang 4

Các báo cáo của Bộ GD&ĐT về tổ chức dạy học lớp ghép thực hiện theo

công văn số 9548/BGDĐT ngày 13/10/2008 về việc Hướng dẫn quản lý và tổ

chức dạy học lớp ghép đã đề cập đến tình hình sử dụng phương pháp tiếp cận

cá thể hóa và báo cáo kết quả đạt được của việc ứng dụng phương pháp này ởlớp ghép

Các tài liệu về quản lý dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc theo cácgiải pháp của Bộ GD&ĐT liên tục được đổi mới qua các năm, trong đó đặt biệt

là các tài liệu phù hợp giải pháp tiếp cận cá thể hóa trong dạy học ở lớp ghép:

Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy lớp ghép năm 2009 Các chuyên đề lớp ghép,

Các hội thảo chuyên đề : “Cách tổ chức và kế hoạch dạy học lớp ghép” được

các trường Tiểu học, THCS, THPT ở miền núi như: Lào Cai, Sơn La, Quảng

Bình, Kon Tum, Tây Ninh, Lai Châu, Kon Tum hưởng ứng rất tích cực; Kế

hoạch dạy học lớp ghép do Nguyễn Ngọc Chung - Trường PT dân tộc bán trú Tân Lập, Hòa Bình sưu tầm, 2009 (Chuyên đề 1, 2)

Liên quan đến vai trò của giáo viên và trách nhiệm của học sinh trong việcnâng cao chất lượng dạy học ở lớp ghép sao cho đạt hiệu quả cao, BGD ra

quyết định 5236/QĐ - BGD ĐT về việc thành lập Ban chỉ đạo nâng cao chất

lượng dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số; Dạy học lớp ghép nguồn dự án phát triển giáo viên năm 2007 Tài liệu về Quản lý dạy học tiếng Việt cho HSDT theo các giải pháp của Bộ GD&ĐT 2011

Liên quan đến đề tài dạy học lớp ghép ở miền núi theo phương pháp tiếp

cận cá thể hóa còn có các công trình: G.F.Xuvôrôva - Hoàn thiện việc dạy học

ở các lớp ghép tiểu học – NXBGD, 1980 (tiếng Nga); Phương pháp dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc trường tiểu học, BGD&ĐT - Vụ giáo viên, Hà

Nội 1993; Giáo dục tiểu học ở những vùng thiệt thòi (tài liệu lưu hành nội bộ),

Hà Nội - 1994; Dạy lớp ghép ở cấp I, II, III - Đề án lớp ghép, Chương trình

hợp tác giữa bộ GD và ĐT và UNICEF, Hà Nội 1991 -1995

Có thể nói dạy học tiếng Việt theo hướng tiếp cận cá thể hóa trong dạy họctiếng Việt ở lớp ghép là một hoạt động đóng vai trò hết sức quan trọng và đem

Trang 5

lại hiệu quả thiết thực cho hoạt động dạy tiếng Việt trong các nhà trường ởmiền xuôi nói chung và miền ngược nói riêng Đây cũng là vấn đề mà ngườiviết hết sức quan tâm và tìm hiểu.

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Tiếp cận cá thể hóa trong dạy học tiếng Việt ở lớp ghépPhạm vi nghiên cứu: Các trường ở miền núi, dân tộc thiểu số

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Với đề tài này, người viết sẽ giải quyết các nhiệm vụ sau:

Tìm hiểu về lí luận và thực tiễn dạy học ở miền núi theo phương pháp tiếpcận cá thể hóa học sinh

Đề xuất một số biện pháp để vận dụng phương pháp tiếp cận cá thể hóa trongdạy học ở lớp ghép

Thiết kế thể nghiệm giáo án một bài tiếng Việt cụ thể, trong đó có vậndụng các biện pháp trên để tiếp cận cá thể hóa

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghien cứu để thực hiện đề tài này đạt kết quả và gópphần làm phong phú cho đề tài tôi đã sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp quan sát, điều tra

- Phương pháp thử nghiệm sư phạm

- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại

- Phương pháp so sánh, diễn dịch, quy nạp

6 Cấu trúc tiểu luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài có ba chương sau:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2 Cách tổ chức dạy học tiếng Việt ở lớp ghép theo phương pháptiếp cận cá thể hóa

Chương 3 Thử nghiệm sư phạm

Trang 6

NỘI DUNGCHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở lý luận

Lớp ghép được tổ chức ở những địa phương có địa hình hiểm trở, đi lạikhó khăn, dân cư phân tán, trẻ em ở độ tuổi đi học ở từng điểm dân cư ít Lớpghép là một hình thức tổ chức dạy học trong đó một giáo viên cùng một lúcphải dạy nhiều nhóm học sinh thuộc nhiều trình độ (còn gọi là “lớp con”) khácnhau trong cùng một phòng học

1.1.1 Nhiệm vụ của lớp ghép

Nằm trong hệ thống giáo dục, lớp ghép có nhiệm vụ thực hiện mục tiêu mônhọc cũng như nội dung cơ bản của chương trình tiếng Việt hiện hành Nhưng đặcđiểm về mặt hình thức tổ chức dạy học ở lớp ghép đã tạo ra sự khác biệt về cấutrúc giờ học, sự khác biệt trong việc tổ chức hoạt động của giáo viên và học sinhtrong lớp ghép so với lớp thường Lớp ghép có những đặc điểm sau:

ở họ một trình độ chuyên môn, trình độ sư phạm, khả năng tổ chức cao Yêucầu dặt ra là làm sao trong một lớp như vậy giáo viên đồng thời phải làm việcvới hai đối tượng Để đạt được mục đích và nhiệm vụ giảng dạy giáo viên chỉcòn cách là cho nhóm đối tượng này tự làm việc độc lập và nhóm đối tượng kia

Trang 7

làm việc dưới sự hướng dẫn của giáo viên và ngược lại Điều đó đồng nhất vớiviệc giáo viên đã tiếp cận được từng cá thể học sinh cũng như từng nhóm cá thểhọc sinh.

1.1.2.2 Học sinh nhất thiết phải tiến hành làm việc độc lập trong giờ học

Như đã trình bày ở trên vì học sinh trong mỗi lớp ghép thuộc nhiều trình

độ hiểu biết nên giáo viên rất khó có thể dạy chung một bài học Nếu dạychương trình sách giáo khoa lớp 6,7 thì học sinh lớp 8,9 vẫn tạm ổn nhưng nếudạy chương trình sách giáo khoa lớp 8,9 trong khi đó trong lớp có học sinh lớp6,7 thì nhóm học sinh này chưa đủ trình độ để tiếp thu Vì vậy học sinh mỗi lớpcon phải làm việc độc lập trong từng thời gian nhất định để giáo viên có thểlàm việc với lớp con khác Thực tiễn cho thấy, làm việc độc lập của học sinh làyếu tố quyết định hiệu quả, chất lượng của quá trình dạy học ở lớp ghép Sựthành công của quá trình dạy học trực tiếp phụ thuộc vào năng lực của giáoviên trong việc tổ chức, điều khiển học sinh tiến hành làm việc độc lập Họcsinh làm việc độc lập là với sự hướng dẫn ban đầu của giáo viên mỗi học sinhthuộc nhóm đối tượng này phải tự chép, tự đọc bài học thuộc chương trình củamình để giáo viên có thời gian giảng bài, hướng dẫn cho nhóm học sinh khác.Sau khi hướng dẫn xong thì nhóm học sinh này lại tự làm việc độc lập để giáoviên quay lại nhóm bên kia để kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện và chỉnhsửa bài Khi làm việc độc lập yêu cầu đặt ra cho từng nhóm học sinh rất cao,đòi hỏi phải thực sự yên lặng, nghiêm túc và nổ lực Đó là một trong nhữngđiều kiện tiên quyết để lớp học đạt được hiệu quả cao

1.1.2.3 Học sinh luân phiên thực hiện hoạt động độc lập và hoạt động dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên

Trong khi học sinh lớp con này tiến hành công việc độc lập thì học sinhcon khác lại được làm việc dưới sự hướng dẫn của giáo viên và ngược lại [2;47] Cứ như thế hai quá trình - quá trình độc lập và quá trình làm việc dưới sựhướng dẫn trực tiếp của giáo viên sẽ luôn phiên nhau trong suốt tiết học Vìvậy, ta có sơ đồ làm việc ghép như sau:

Trang 8

Lớp con A Lớp con B

Làm việc độc lập Làm việc với giáo viênLàm việc với giáo viên Làm việc độc lậpLàm việc độc lập Làm việc với giáo viênLàm việc với giáo viên Làm việc độc lập

Thời gian dành cho những công việc độc lập của mỗi học sinh lớp con nàyphụ thuộc vào thời gian cần thiết để giáo viên làm việc trực tiếp với học sinhlớp con khác nhau, tức là phụ thuộc vào nội dung hoạt động của giáo viên vớilớp con khác, thường là 15 - 30 phút trong mỗi tiết học, tức là 25% - 75% trongmỗi tiết học

Những đặc điểm trên của lớp ghép sẽ quy định việc điều chỉnh nội dung vàphương pháp dạy học ở lớp ghép so với lớp thường Như vậy, đặc điểm của giờhọc ở lớp ghép là hoạt động độc lập của học sinh và tiếp cận cá thể hóa họcsinh (nếu học sinh ít) và tiếp cận cá thể hóa tập thể học sinh (nếu học sinhtương đối nhiều) Do đó, tính hiệu quả của giờ học trực tiếp phụ thuộc vào hiệuquả của hoạt động độc lập này Nguyên nhân chính của những thất bại tronggiờ dạy ở lớp ghép là giáo viên không tổ chức và điều khiển được hoạt độngđộc lập của học sinh

1.1.3 Mục đích của việc sử dụng phương pháp tiếp cận cá thể hóa

Dạy học cũ là dạy học vì giáo viên, từ giáo viên, “người dạy trung tâm”.Dạy học mới là dạy học từ người học, bằng chính người học, “học sinh là trungtâm” Bản chất của quá trình dạy học không còn là quá trình giáo dục đơnphương, từ ngoài mà là quá trình tổng hợp nhiều quá trình trong đó quá trình tựgiáo dục phải là trung tâm

Tiếp cận cá thể hóa học sinh là giáo viên tiếp cận từng cá thể học sinhcũng như từng nhóm học sinh Việc tiếp cận riêng biệt từng học sinh và nhómhọc sinh cụ thể sẽ giúp cho quá trình truyền đạt tri thức được tốt hơn cũng nhưquá trình tiếp thụ tri thức sẽ dễ dàng hơn vì khi thâm nhập vào từng đối tượnghọc sinh giáo viên sẽ nắm bắt kĩ hơn trình độ, mức độ hiểu biết cũng như

Trang 9

những đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, còn học sinh khi được giáo viên quantâm, chăm sóc, chú ý đến nhiều trong việc giảng giải, hướng dẫn bài học thì sẽhiểu được nhiều hơn, kĩ hơn, giải quyết được những điều vướng mắt khó hiểu,đồng thời tăng thêm động lực học tập cho học sinh Như vậy, mục đích việctiếp cận cá thể hóa học sinh và tập thể học sinh là:

- Học sinh có thể tự lựa chọn hoạt động theo kế hoạch đã được giáoviên lên kế hoạch sắp xếp trước

- Nhờ có sự hướng dẫn, định hướng trước của giáo viên nên khi đã hiểubài và bắt tay vào công việc học sinh ít bị ngắt quãng hay làm phiền trong quátrình “làm việc”, không bị gò bó hay ép buộc theo khuôn khổ, học sinh cảmthấy hạnh phúc khi được làm việc

- Nhờ tiếp cận, học sinh học hỏi khái niệm, kiến thức thông qua trảinghiệm thực tế với các học cụ, mô hình mang tính chất khám phá, xây dựng,hơn là học theo chỉ dẫn trực tiếp từ phía giáo viên Học sinh được tự do chọnlựa và hoạt động trong một môi trường được chuẩn bị kỹ càng, phù hợp với khảnăng và giai đoạn phát triển, nên sẽ phát huy tối đa tiềm năng sẵn có của mình

ta đều có hình thức tổ chức dạy học theo phương án ghép lớp Nhất là các tỉnh

ở vùng núi Bắc Bộ, Bắc Trung bộ và Tây Nguyên

Riêng ở tỉnh Nghệ An, Theo thống kê của Sở GD - ĐT, hiện nay, cả tỉnh

có đến 290 lớp ghép với hơn 3.100 em, chủ yếu là ở các vùng đặc biệt khókhăn của các huyện Kỳ Sơn, Tương Dương và Quế Phong Trong số cáchuyện vùng cao của tỉnh, Kỳ Sơn là địa phương có nhiều lớp ghép nhất với

126 (cả Tiểu học và Trung học cơ sở) Những lớp ghép được mở đến tận các

Trang 10

bản làng đã tạo điều kiện cho tất cả các em học sinh ở những vùng xa xôi, hẻolánh cách điểm trường chính hàng chục km đều có thể được tới trường học chữ.Thừa Thiên Huế số lượng lớp ghép cũng chiếm số lượng không ít, nhất làcác huyện Nam Đông, A Lưới và các trường có học sinh dân tộc nội trú ởHương Trà, Phong Điền, Phú Lộc.

Các tỉnh ở Tây Nguyên số lượng lớp ghép ở nhiều điểm trường chiếm sốlượng rất nhiều, nhất là các vùng cao, khu công nghiệp, có nhiều lao động nhập cưkhông ổn định, việc tập trung trẻ để phân lớp theo độ tuổi và duy trì trẻ đi họcchuyên cần rất khó khăn do địa bàn rộng, còn nhiều điểm lẻ và phương pháp lớpghép 2 - 3 độ tuổi ( ví dụ lớp 6 ghép với lớp 8, 9), thôn bản cách xa nhau là mộthình thức phổ biến Trong đó phải kể đến các tỉnh như: Kon Tum, Gia Lai, ĐăkLăk, Đăk Nông An Giang, Kiên Giang với số lượng học sinh: 13.482 em Nămhọc 2010-2011 các tỉnh: Lào Cai, Sơn La, Lai Châu, Cao Bằng, Bắc cạn, LạngSơn, Tuyên Quang, Hà Giang, Hòa Bình với số lượng học sinh: 23.464 em Nămhọc 2011- 2012 nâng tổng số học sinh khoảng 38.600 em

Mặc dù, chất lượng của lớp ghép không bằng lớp đơn nhưng đây là giảipháp tình thế hợp lí đối với vùng miền núi dân tộc có ít học sinh, đường sá đilại khó khăn Tuy còn nhiều khó khăn, nhưng với sự quan tâm đầu tư của Đảng, Nhà nước, các cấp ngành, của cộng đồng và của thầy cô giáo, chấtlượng giáo dục vùng miền núi, dân tộc ngày càng được nâng lên Nhiều họcsinh miền núi, dân tộc đậu Đại Học với số điểm cao, trong đó có cả những họcsinh từ những lớp học ghép của các giáo viên cắm bản

Tuy rằng, lớp ghép không phải là loại hình lớp học phù hợp với giáo dụchiện đại nhưng đối với các huyện vùng cao, việc xóa các lớp ghép, các lớpcắm bản là bất khả kháng trong khi hầu hết các điểm trường lẻ đều trong tìnhtrạng “3 thiếu”: Thiếu lớp học, thiếu giáo viên và thiếu cả học sinh để mở lớpđơn cho từng trình độ Vì vậy, để từng bước nâng cao chất lượng giáo dục lớpghép, hoàn toàn phụ thuộc vào đội ngũ giáo viên

Trang 11

1.2.2 Tính phổ biến của việc sử dụng phương pháp tiếp cận cá thể hóa

Dạy học theo hướng cá thể hóa là dạy theo năng lực của từng đối tượnghọc sinh nhằm giúp các em học tập tốt hơn, phát huy hết khả năng của mình.Dạy học cá thể hóa là việc hết sức cần thiết vì trong một lớp hiện nay khả năngtiếp thu và trình độ của học sinh không đồng đều Tuy nhiên việc dạy theo xuhướng này không dễ dàng, nhất là các lớp ghép ở miền núi với nhiều trình độhọc sinh khác nhau

Để thực hiện dạy cá thể hóa đạt hiệu quả, giáo viên cần có sự đầu tư kĩlưỡng chu đáo ngay từ khi nhận lớp và chuẩn bị bài dạy Bởi vì, dạy học cá thểhóa là phương pháp giảng dạy yêu cầu người giáo viên phải quan tâm đến từngđối tượng học sinh, dạy cho từng cá nhân nên không có một khuôn mẫu, mộttrình tự lên lớp, một giáo án chuẩn bị để làm theo, mà nó tùy thuộc vào từng cánhân học sinh ở lớp mình dang giảng dạy, tùy vào nội dung kiến thức cầntruyền đạt của từng bài học [4; 14] Để dạy học theo hướng cá thể hóa đạt hiệuquả thì trước tiên giáo viên cần nắm chắc năng lực tiếp thu, trình độ kiến thứccủa mỗi học sinh, việc nắm bắt đặc điểm tâm sinh lý, hiểu được cá tính củatừng cá nhân học sinh là đều hết sức quan trọng

Để xác định các phương pháp dạy học tiếng Việt trong các trường dân tộc,

ta cần xuất phát các cơ sở sau đây:

- Mục đích của việc dạy học tiếng Việt trong các trường dân tộc Mục đíchnày chi phối toàn bộ hoạt động dạy và học của các thầy giáo và học sinh nhằmđạt yêu cầu đề ra Bởi vậy, mục đích dạy học tiếng Việt phải là một trongnhững cơ sở của hàng đầu

- Các quy luật chi phối quá trình dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc.Dạy học tiếng Việt là một khoa học cụ thể Bản chất của tiếng Việt, những đặcthù trong cách tổ chức hệ thống tiếng Việt, đặc biệt là những quy luật của quátrình tiếp nhận ngôn ngữ thứ hai là cơ sở để đề ra nguyên tắc

Nguyên tắc dạy học tiếng Việt cho người dân tộc muốn trở thành nguyêntắc thực thụ theo nghĩa của nó cần phải dựa trên những cơ sở này

Trang 12

Quá trình dạy học tiếng Việt có những quy luật riêng xuất phát từ bản chấtcủa tiếng Việt và những quy luật tiếp nhận ngôn ngữ thứ hai Một trong nhữngcon đường đi vào dạy học tiếng việt cho học sinh như: dạy tập nói, dạy từ ngữ,dạy câu cho học sinh là cần phải nhận diện được chương trình cũng như đặcđiểm, trình độ của học sinh Trong dạy học, điều cốt lõi là cần phải chọn đượccác phương pháp phù họp với nội dung và đối tượng dạy học Khác với các conđường đi vào tác phẩm văn chương là phải phân diện ra được thể loại Đến vớithơ không giống với tự sự hay kịch Đến với văn học dân gian không hoàn toàngiống văn học viết Văn học hiện đại và trung đại có những đặc trưng thi phápriêng thì về bên dạy học tiếng việt cũng có những cách tiếp cận riêng theo cácphân môn những một cách tiếp cận không thể không thiếu đó là tiếp cận theohướng cá thể hóa

Như ta đã biết, phương pháp dạy học tiếng Việt nhằm nghiên cứu nhữngvấn đề lí thuyết và thực hành dạy học tiếng Việt Phương pháp dạy học tiếngViệt gồm ba bộ phận chính: dạy học tiếng Việt cho người bản ngữ (dạy chongười Việt), dạy học tiếng Việt cho người dân tộc và dạy học tiếng Việt chongười nước ngoài Ba bộ phận này cùng dạy tiếng Việt Song giữa chúng cónhiều điểm khác nhau cơ bản so với phương pháp dạy học tiếng Việt cho ngườibản ngữ Khi dạy tiếng Việt cho người bản ngữ, ta tiếp xúc với các em học sinh

đã có khả năng diễn đạt được ý nghĩ của mình Bước vào nhà trường, các em đã

có thể giao tiếp tự do bằng tiếng Việt vì các em đã có vốn từ ngữ phong phú, đãnắm được các quy tắc ngữ pháp (tuy chưa tự giác), đã có những kĩ xảo phát âmtiếng Việt Quá trình học tiếng Việt đối với các em là quá trình ý thức hoá, quátrình nhận thức và phát triển những tri thức và kĩ năng vốn có của mình

Trái lại, đối với các em học sinh vùng dân tộc, quá trình này là quá trìnhmới Tiếp thu những tri thức hoàn toàn mới về tiếng Việt, hình thành nhữngthói quen và kĩ năng mới, bởi tiếng mẹ đẻ của các em và tiếng Việt là hai ngônngữ khác nhau Học tiếng Việt, các em học sinh vùng dân tộc phải tiếp nhậnmột hệ thống âm thanh từ ngữ, quy tắc ngữ pháp mới lạ Nếu hiện tượng tiếng

Trang 13

Việt cần phải học có những nét tương đồng với tiếng mẹ đẻ thì quá trình tiếpnhận xảy ra không khó khăn lắm và theo đó các thói quen và kĩ năng hoạt độnggiao tiếp bằng tiếng Việt sẽ được hình thành nhanh chóng hơn Ngược lại, nếunhư hiện tượng tiếng việt cần học xa lạ với tiếng mẹ đẻ của các em thì trongtrường hợp này những thói quen sử dụng tiếng mẹ đẻ sẽ ảnh hưởng tiêu cựcđến quá trình học tập tiếng Việt Sở dĩ có hiện tượng này là do ở giai đoạn đầutiếp nhận ngôn ngữ thứ hai, trẻ em thường có khuynh hướng đồng nhất hiệntượng của ngôn ngữ thứ hai với những chuẩn mực và thói quen sử dụng tiếng

mẹ đẻ của mình Chính quy luật tâm lí này làm cản trở đến việc tiếp nhận ngônngữ thứ hai Ví dụ: hệ thống đại từ trong nhiều tiếng dân tộc chỉ phân biệt ngôi

và số, trung hoà về sắc thái tình cảm, không phân biệt quan hệ, tuổi tác, địa vị

xã hội như đại từ và các từ xưng hô trong tiếng Việt Bởi vậy, khi tiếp xúc với

hệ thống từ xưng hô tiếng Việt, các em học sinh thuộc các dan tộc trên hay mắclỗi bỏ qua những sắc thái ý nghĩa khác ngoài nghĩa về ngôi và số

Để khắc phục nhược điểm nói trên, trong quá trình học tập tiếng Việt, thầygiáo phải làm sao cho các em học sinh nắm chắc những khác biệt giữa tiếng mẹ

đẻ của các em và tiếng Việt, trên cơ sở đó mà thay đổi thói quen ngôn ngữ đểhình thành những thói quen ngôn ngữ mới

Trang 14

CHƯƠNG 2 CÁCH TỔ CHỨC DẠY HỌC TIẾNG VIỆT Ở LỚP GHÉP THEO PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN CÁ THỂ HÓA

2.1 Các yêu cầu của phương pháp tiếp cận cá thể hóa

2.1.1 Yêu cầu về tài liệu dạy học

Hiện nay, ở các vùng có lớp ghép, tuỳ theo tình hình cụ thể của từng địaphương mà các sở giáo dục và đào tạo có thể chọn để thực hiện một trong ba bộchương trình, ứng với nó là ba bộ sách giáo khoa: chương trình 165 tuần (còngọi là chương trình cải cách, chương trình đại trà), được thực hiện phổ biếntrong các trường tiểu học trên mọi miền đất nước; chương trình 120 tuần (làchương trình dành cho các trường tiểu học ở các vùng giáo dục gặp nhiều khókhăn); chương trình 100 tuần (chương trình phổ cập, xoá mù chữ) phục vụ cho

sự nghiệp phổ cập giáo dục, nâng cao dân trí, phù hợp với đối tượng thanhthiếu niên đang tham gia lao động mà còn thất học Các chương trình tuy cónhiều điểm khác nhau nhưng đều có cùng một mục tiêu cơ bản - hình thành,phát triển kĩ năng sử dụng tiếng Việt, kĩ năng giao tiếp (nghe, nói, đọc, viết)tiếng Việt, có cùng nguyên tắc chung để tổ chức quá trình dạy học: xây dựnggiờ tiếng Việt thành một tổ hợp các hành động, thao tác học tập của học sinh,khác hẳn với cách dạy thầy giảng - trò ghi nhớ trước đây [1] Đó chính lànhững điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức dạy học tiếng Việt ở lớp ghép Mặtkhác, do đặc điểm của mình mà ở các lớp ghép cần phải có sự điều chỉnh cáctài liệu dạy học cho phù hợp

Tài liệu dạy học ở lớp ghép hướng đến xoá bỏ sự tuỳ tiện và đơn điệu củacác nhiệm vụ và bài tập, hướng đến dạy các thủ pháp hoạt động tư duy, nângcao hiệu quả hoạt động trí tuệ của học sinh Chính vì vậy cũng như tài liệu dạyhọc nói chung, tài liệu dạy học tiếng Việt ở lớp ghép phải đảm bảo nhữngnguyên tắc của lí luận dạy học như nguyên tắc thực hành, nguyên tắc tích cựchoá hoạt động nhận thức của học sinh, nguyên tắc vừa sức, nguyên tắc trực

Trang 15

quan Cụ thể hơn, tài liệu dạy học tiếng Việt ở lớp ghép phải thoả mãn nhữngyêu cầu sau:

2.1.1.1 Làm nỗi rõ hệ thống những yếu tố kiến thức kĩ năng, kĩ xảo tiếng Việt bắt buộc, không thể thiếu được với học sinh tiểu học

Để thực hiện yêu cầu này, khi soạn tài liệu cần đưa ra một bản liệt kê nộidung toàn bộ hệ thống kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo bắt buộc của môn tiếng Việttiểu học, từ lớp 6 đến lớp 9 [1]

Để dạy học tiếng Việt ở lớp ghép đạt hiệu quả, giáo viên cần có sự đầu tư

kĩ lưỡng ngay từ khi nhận lớp và chuẩn bị tài liệu dạy, vì dạy học cá thể hóa làphương pháp giảng dạy yêu cầu giáo viên phải quan tâm đến từng đối tượnghọc sinh chính vì thế một trong những yêu cầu quan trọng hàng đầu của ngườigiáo viên đó là khi chuẩn bị tài liệu dạy học cho học sinh ở lớp ghép là ngườigiáo viên cần nắm chắc năng lực tiếp thu, trình độ kiến thức của mỗi học sinh,Làm nỗi rõ hệ thống những yếu tố kiến thức kĩ năng, kĩ xảo tiếng Việt bắtbuộc, không thể thiếu được với học sinh tiểu học

2.1.1.2 Thiết lập được quan hệ giữa tài liệu mới và những kiến thức, kĩ năng , kĩ xảo cũ

Tài liệu dạy học phải thiết lập được quan hệ giữa tài liệu mới và nhữngkiến thức, kĩ năng , kĩ xảo đã biết trước đó, thường xuyên nhắc lại những phầnquan trọng đã học

Khi chuẩn bị tài liệu dạy học cho học sinh ở lớp ghép theo phương hướngtiếp cận cá thể hóa phải chú ý đến mối liên hệ giữa tài liệu mới và kiến thứcquen thuộc Tránh dạy dưới chuẩn đối với học sinh yếu kém, chuẩn kiến thức làlượng kiến thức bắt buộc phải truyền thụ đến học sinh và học sinh phải tiếpnhận đúng, đủ lượng kiến thức đó Hệ thống câu hỏi phải chặt chẽ, từ dễ đếnkhó, từ đơn giản đến phức tạp để đảm bảo học sinh yếu cũng có thể tham giatìm hiểu nội dung bài và kích thích được khẳ năng tư duy của học sinh khá giỏi.Các ví dụ trong SGK đôi khi khá phức tạp do đó giáo viên cần lưu ý để làm nổi

rõ kiến thức, kĩ năng của học sinh cần mnahj dạn đổi ví dụ đơn giản hơn cho

Trang 16

các em yếu dễ tiếp thu kiến thức mới, rồi sau đs cho học sinh khá giỏi phân tíchcác ví dụ trong SGK Như vậy là ta đã dạy học theo từng đối tượng, với từngkiến thức bài học theo tài liệu kết hợp giữa kiến thức, kĩ năng sẵn có với tài liệukiến thức mới.

2.1.1.3 Nội dung tài liệu vừa sức với hoạt động độc lập của học sinh

Nội dung tài liệu dạy học phải được trình bày vừa sức với điều kiện tự làmviệc của học sinh, kích thích hứng thú của học sinh suốt cả quá trình học tập,xây dựng được những hành động cụ thể và trình tự thực hiện chúng

Trong tài liệu dạy học có những chỉ dẫn về trình tự hoạt động tư duy vàthực hành, những chỉ dẫn giúp cho việc tự kiểm tra của học sinh

Tài liệu dạy học tiếng Việt ở lớp ghép phải giải quyết dược các nhiệm vụ:

Thứ nhất, hướng dẫn hoạt động của học sinh trong việc hình thành, củng

cố khái niệm, quy tắc, kĩ năng, kĩ xảo

Thứ hai, phối hợp được hoạt động của các cá nhân học sinh với tập thể lớp Thứ ba, bằng hệ thống bài tập giúp học sinh ôn lại những kiến thức, nắm

kĩ năng, kĩ xảo đã có trong mối quan hệ chặt chẽ với việc nắm kiến thức mới,giúp học sinh vận dụng kiến thức tiếng Việt trong hoạt động nói năng Bài tậptiếng Việt ở lớp ghép được xây dựng theo tinh thần chuyển hành động bằng lờicủa học sinh thành hành động vật chất (dùng các kí hiệu để vẽ, tô, nối, đánhdấu…) với sự hỗ trợ của kênh hình Các bài tập được xây dựng theo tinh thầntrắc nghiệm, bao gồm các loại bài tập: điền thế, lựa chọn, đối chiếu cặp đôi, nêucâu hỏi và yêu cầu trả lời ngắn gọn Hiện nay, đề án lớp ghép đã được xâydựng các phiếu bài tập (còn gọi là phiếu giao việc) cho lớp ghép Phiếu bài tậptiếng Việt thường bao gồm các phần:

+ Ngữ liệu xuất phát và yêu cầu của bài tập

+ Những chỉ dẫn cho các thao tác tư duy và thực hành

+ Lời giải giúp cho học sinh tự kiểm tra

Trang 17

Các phiếu này đã tập hợp, chọn lọc trong các tài liệu dạy học hiện hànhnhững bài tập có thể dùng trực tiếp ở lớp ghép hoặc điều chỉnh, xây dựng lạicác nhiệm vụ và bài tập mới cho phù hợp với đặc điểm lớp ghép.

Trong một giờ học, học sinh thực hiện từ 3 - 4 bài tập trong phiếu

Thứ tư, phân phối chương trình phải có sự điều chỉnh sao cho thứ tự các

bài học phù hợp với các hình thức ghép khác nhau

Khi dạy lớp ghép, giáo viên được quyền chủ động trong việc điều chỉnh,thay đổi hoặc sắp xếp lại thứ tự các bài dạy của các phân môn (đã được quyđịnh trong sách giáo khoa hoặc trong bảng phân phối chương trình) Ví dụ, dạymột lớp ghép hai chương trình (lớp 6 và lớp 7) cùng một bài từ ngữ - ngữ phápthì có thể cho cả hai học hai bài khác nhau, cũng có thể cho cả hai lớp họcchung một bài Trong trường hợp sau, giáo viên phải bỏ bài chính tả của mộttrong hai lớp con Tương tự, nếu dạy chung bài tập làm văn, kể chuyện thì cũngchỉ sử dụng một bài và bỏ bớt bài kia Riêng các bài ngữ pháp cần hạn chế đảolộn trình tự các bài học vì làm như vậy sẽ phá vỡ tính hệ thống của phân môn.Tuy nhiên trình tự bài dạy được sắp xếp lại nhưng việc sắp xếp này lại vẫnphải đảm bảo rèn luyện cho học sinh đạt trình độ chuẩn về kiến thức và kĩ năng

sử dụng tiếng Việt mà chương trình đã quy định

Nếu ghép các bài dạy các phân môn khác nhau, ví dụ ghép bài từ ngữ vàtập làm văn trong cùng một tiết học thì giáo viên phải thay đổi trình tự cácbước lên lớp Ví như, đầu tiết học, giáo viên giảng về phương pháp làm vănmiêu tả kết hợp với tự sự và biểu cảm cho lớp 7, thì học sinh lớp 6 phải tự ônlại kiến thức về từ đã được học ở Tiểu học để hôm nay giáo viên sẽ giảng bài từ

và cấu tạo từ của tiếng Việt, học sinh tự ghi vào vở nháp (hoặc phiếu) bài tập.Khi học sinh lớp 7 nghe một bạn đọc bài văn mẫu để tham khảo và viết bài viếtthì giáo viên mới có điều kiện giảng dạy học sinh lớp 6 tìm hiểu bài Rõ ràngtrình tự dạy bài tập đọc lớp 6 trong lớp ghép vừa nêu khác hẳn trình tự dạy bàitập đọc lớp 6 ở các lớp thường

Trang 18

Khi ghép hai lớp con cùng học chung một bài tập làm văn, từ ngữ, ngữpháp… giáo viên phải để lớp dưới học tập ngắn hơn, đơn giản hơn Viết vănngắn hơn và chỉ kể một số đoạn trong câu chuyện… Như vậy, giáo viên phảiđiều chỉnh nội dung bài dạy theo hướng phân hoá trong, tức là phân hoá trongchính nội dung dạy học.

2.1.1.4 Giới thiệu chương trình, sách giáo khoa tiếng Việt

- Chương trình và sách giáo khoa tiểu học

Đậy là chương trình tiếng Việt chung cho cả nước, gọi tắt là chương trình

165 tuần Chương trình được triển khai thành bộ sách giáo khoa tiếng Việt từlớp 6 đến lớp 9 trong toàn quốc Đã biên soạn bộ phiếu bài tập dùng theo bộsách giáo khoa này ở các lớp ghép Nội dung các phiếu bài tập có tính toán tớiđặc điểm của lớp ghép và đối tượng là học sinh dân tộc

- Chương trình và sách giáo khoa dùng cho vùng dân tộc phát triển giáo dục gặp nhiều khó khăn

Như ta đã biết, quá trình dạy và học cho học sinh người Việt và học sinhngười dân tộc không hoàn toàn thống nhất, chúng có những quy luật và đặc thùriêng Từ nhận thức này, trong các trường dân tộc đang dạy chương trình vàsách giáo khoa dùng cho vùng dân tộc phát triển gặp nhiều khó khăn (gọi tắt làchương trình 120 tuần) Trước tiên, chương trình này yêu cầu thời gian ít hơnnên thích hợp với hoàn cảnh khó khăn ở các trường dân tộc

Đặc điểm nổi bật của chương trình và sách giáo khoa 120 tuần là có chú ýđến đặc thù của việc dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc Trước khi họccác phân môn, các em có một giai đoạn nói ban đầu Mục đích của giai đoạnnày là nhằm trang bị cho các em một vốn từ tối thiểu và những mẫu câu đơngiản và cơ bản giúp các em bước đầu có thể nói được, nghe được những nộidung đơn giản làm cơ sở cho việc tiếp thu chương trình chính thức Giai đoạnnày đặc biệt quan trọng đối với những em chưa có điều kiện làm quen với tiếngViệt Phần chương trình cơ bản cũng được chia thành các phân môn như sáchtiếng Việt 165 tuần: học vần, chính tả, học thuộc lòng, tập đọc, tập làm văn

Trang 19

- Chương trình và sách giáo khoa phổ cập

Chương trình và sách giáo khoa phổ cập nhằm vào đối tượng là các trẻ em

bị thiệt thòi, không có điều kiện theo học chương trình chung Chương trìnhnày học trong 100 tuần và cũng chia thành 5 lớp (gọi tắt là chương trình 100tuần) Chương trình và sách giáo khoa bao gồm các phân môn: Học vần, tậpđọc, tập viết, từ ngữ, ngữ pháp, tập làm văn

Song việc lự chọn các đơn vị kiến thức tiếng Việt và cách trình bày cácđơn vị kiến thức này có tính đến đặc điểm của đối tượng học (là các em đã lớntuổi, sớm lăn lộn trong xã hội để kiếm sống nên có nhiều hiểu biết về xã hộihơn các bạn cùng lứa tuổi…)

Hiện nay, đã có tỉnh quyết định sử dụng sách giáo khoa phổ cập để dạy đểdạy cả ở các vùng dân tộc

Như vậy, hiện nay có nhiều bộ sách giáo khoa tiếng Việt Nhiệm vụ củachúng ta là phải chuẩn bị khả năng và tiềm lực để có thể thực hiện tất cả các bộsách đó tuỳ theo tình hình cụ thể của từng địa phương

2.1.2 Yêu cầu về trang thiết bị, phương tiện dạy học

Hiện nay có rất nhiều thiết bị và đồ dùng dạy học phục vụ cho việc dạyTiếng Việt như phim đèn chiếu, băng hình, băng tiếng, máy chiếu qua đầu,tranh ảnh, các biểu bảng thống kê, sơ đồ, lược đồ các thiết bị và đồ dụng dạyhọc trên là trợ thủ đắc lực cho cả thầy và trò trong dạy học tiếng Việt

Thiết bị và đồ dùng dạy học tạo diều kiện để học sinh tiếp thu một cách cụthể, hào hứng, có hiệu quả cao các kiến thức tiếng Việt vốn nang tính trừutượng hoặc còn xa lạ với vốn sống của các em

Thiết bị và đồ dùng dạy học, đưa học sinh vào các tình huống sử dụngtiếng Việt phong phú, đa dạng của cuộc sống Nhờ vậy, các em học được cáchdùng tiếng Việt văn hóa với sự tinh tế, chính xác, trong sáng

Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế ở miền núi còn gặp nhiều khó khăn, tronglúc phòng học còn chưa thì các phương tiện như: phim đèn chiếu, băng hình,băng tiếng, máy chiếu qua đầu là cả một vấn đề còn các biểu bảng thống kê,

Trang 20

sơ đồ, lược đồ là yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với giáo viên Hiện nay, với sựđầu tư, quan tâm, chăm sóc của Đảng và nhà nước những trang thiết bị trênphần nào được đáp ứng nhưng để đạt được hiệu quả tối ưu đòi hỏi sự cố gắngrất nhiều từ hai phía của cả thầy và trò Như vậy yêu cầu về trang thiết bị,phương tiện dạy học ở miền núi là:

2.1.2.1 Yêu cầu về trang thiết bị, đồ dùng dạy học

Do đặc điểm của mình, dạy học ở lớp ghép có yêu cầu cao hơn các lớpthường về thiết bị:

Thứ nhất, cần phải có tranh, ảnh minh họa bài dạy tiếng Việt Đây là loại

tranh ảnh được sưu tầm hoặc được chụp, được vẻ phục vụ một chủ đề nhấtđịnh Các bộ sưu tập ảnh các loại như (hoa sen, hoa lan, hoa mai, hoa đào), ảnhcác cảnh dệp đất nước (hồ Hoàn Kiếm,đền Ngọc Sơn, lăng vua chúa Nguyễn,nhà Rồng, hò Tơ-nưng, ), các gương thiếu niên dũng cảm (Kim Đồng, Vừ ADính, Nguyễn Bá Ngọc, ) là những đồ dùng dạy học không thể thiếu để dạyhọc ở các lớp ghép Các tranh ảnh này giúp cho học sinh tiếp thu nghĩa của các

từ ngữ, nội dung các bài tập đọc, kể chuyện một cách sinh động cụ thể

Thứ hai, sử dụng sơ đồ, lược đồ, bảng tóm tắt, bảng hệ thống hóa để dạy

tiếng Việt

Trong các tiết dạy ngữ pháp, các sơ đồ, biểu đồ, lược đồ có tác dụng miêu

tả những mối quan hệ ngữ pháp vốn trừu tượng trở nên trực quan, dễ hiểu đốivới các em học sinh

Ví dụ: sơ đồ sau miêu tả các dạng từ láy.

Từ láy

Láy đôi(2tiếng)

Xinh xinh

Láy ba (3 tiếng)Sạch sành sanh

Láy tư (4tiếng)Trùng trùng điệpđiệp

Trang 21

Có thể lập sơ đồ miêu tả các loại câu đơn, câu ghép, sơ đồ miêu tả cácthành phần của câu, của tiếng

Có thể lập bảng hệ thống hóa, bảng tóm tắc dấu câu, các loại câu chia theomục đích nói Có bảng hệ thống hóa nhằm so sánh hai, ba khái niệm với nhau(như bảng so sánh từ nhiều nghĩa và từ đồng âm) nhằm làm rõ điểm giống nhau

và khác nhau của chúng

Ba là, sử dụng mô hình, mẫu vật để dạy tiếng Việt.

Loại đồ dùng này ít khi được dùng để dạy tiếng Việt Có thể nêu một vài

ví dụ Có giáo viên đã công phu nặn hình quả đu đủ, quả khế làm đồ dùng đểdạy và để học sinh quan sát trực tiếp khi làm bài văn miêu tả

2.1.2.2 Yêu cầu về phương tiện dạy học

Lớp ghép cũng phải có những phương tiện dạy học phong phú để pháthuy được hoạt động độc lập của học sinh và những phương tiện dạy học nàyphải bảo đảm sao cho khi được sử dụng ở một lớp con thì không làm phân tán

sự chú ý của lớp con khác

Các lớp ghép đòi hỏi phải có phòng học đáp ứng các yêu cầu về diện tích,

vệ sinh, thẩm mĩ, và cần được trang bị các phương tiện nói chung, phương tiệndạy học nói riêng, kể cả phương tiện kĩ thuật Nên tiêu chuẩn hoá trang bị chocác lớp ghép, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình dạy học đạt được kết quảmong muốn Bàn đến các phương tiện dạy học ở lớp ghép, người ta thường tínhđến sách và tài liệu, các phương tiện nghe nhìn, máy vi tính

Về mặt sách giáo khoa, Cần cung cấp đầy đủ sách giáo khoa cho từng họcsinh, vì trong quá trình học các học sinh, nhóm học sinh luôn phiên thực hiệnhoạt động độc lập và hoạt động dưới sự hướng dẫn của giáo viên nên đòi hỏimỗi học sinh ít nhất phải có sách giáo khoa để quá trình tự làm việc diễn rasuôn sẻ Bên cạnh đó cần phải chuẩn bị đầy đủ sách giáo khoa, tài liệu thamkhảo đối với giáo viên dạy lớp ghép Nên soạn thảo cho học sinh lớp ghép sáchriêng, trong đó có thể áp dụng những thành tựu của dạy học chương trình hoá

Trang 22

Ngoài ra, các phương tiện hỗ trợ cho việc dạy học tiếng Việt, đặc biệt cácphiếu, vở bài tập, các trò chơi, có vai trò quan trọng Đó có thể là các bộ tranhảnh minh hoạ được sử dụng ở nhiều phân môn :Tập đọc, từ ngữ, ngữ pháp, kểchuyện, tập làm văn… Nhiều giáo viên có các bộ sưu tập quý để dạy học ngữpháp, từ ngữ (nhất là bài ôn tập), (ví dụ dạy các bài từ ngữ theo chủ đề quan hệgia đình, gia tộc…) Các phương tiện hỗ trợ này có tác dung tăng cường hoạtđộng thực hành cho học sinh và tạo sự hấp dẫn cho giờ học lớp ghép.

Riêng vở bài tập có tác dụng cá thể hoá hoạt động học tập của học sinh,tạo điều kiện cho các em tự làm việc Các trò chơi học tập tiếng Việt một mặttạo sự vui chơi, thư giản cho học sinh, mặt khác góp phần phát triển các kĩ năngtiếng Việt Tất cả các phân môn tiếng Việt đều có thể vận dụng các trò chơi gắnvới các bài học Ví dụ cho học sinh đọc nhanh các câu văn có nhiều tiếng khó,tập diễn lại một câu chuyện kể, đọc diễn cảm các đoạn đối thoại…

Bên cạnh đó, lời nói gợi tả của giáo viên là một phương tiện trực quannghe quan trọng bậc nhất, tác động liên tục đến học sinh Vì thế giáo viên cầntrau dồi để có vốn tiếng Việt phong phú, có lời giảng giàu chất tạo hình, có sứccuốn hút học sinh

2.2 Yêu cầu về nội dung và hình thức của phương pháp tiếp cận cá thể hóa

Việc tổ chức dạy lớp ghép cần dựa vào các kết quả nghiên cứu về hoạtđộng tự học của học sinh Liên quan đến phương pháp dạy lớp ghép có một loạtnhững nghiên cứu về vấn đề phát triển tính độc lập làm việc của học sinh, tổchức làm việc theo nhóm ở trong lớp và ngoài trời, phương pháp tiếp cận cá thểtrong giờ học, sử dụng các phương tiện kĩ thuật trong giờ học, phương pháp tựkiểm tra, những biện pháp chống nhiễu ở các lớp ghép [1; 84]…Ví dụ, cácnghiên cứu bằng thực nghiệm đã đưa ra các kết luận rất cụ thể: hoạt động độclập của trẻ em lớp 6, lớp 7 không nên kéo dài quá 20 phút, tổ chức hoạt độngđộc lập của các em ở 15 phút đầu giờ học có hiệu quả gấp 2 lần so với nhữngphút sau đó, thời gian cho mỗi nhiệm vụ hoạt động độc lập của học sinh lớp 8,

Trang 23

lớp 9 nên là 10 phút cho giờ Tập đọc, 15 phút cho giờ Ngữ pháp Với học sinhlớp 6, lớp 7 thì thời gian này phải ít hơn từ 3 đến 4 phút, đặc biệt không nêngiao nhiệm vụ hoạt động độc lập cho học sinh lớp 6, lớp 7 trong 8 - 9 phút cuốigiờ học… Có rất nhiều vấn đề cần bàn đến khi nói về các yêu cầu của phươngpháp dạy tiếng Việt ở lớp ghép và những chỉ dẫn bước đầu để giáo viên thựchiện trong giờ học [1; 85]

2.2.1 Yêu cầu về nội dung của phương pháp tiếp cận cá thể hóa

Phương pháp dạy học là những tiền đề lí thuyết cơ bản xác định nội dung,phương pháp và cách thức tổ chức hoạt động dạy học tiếng Việt của thầy giáo

và học sinh nhằm đạt mục đích của việc dạy học tiếng Việt trong nhàtrường.Trong đời sống, con người nhận thức hiện tượng theo những cách khácnhau, nó phản ánh sự nhận thức về một số vấn đề khoa học nào đó chưa hềđược khám phá Nhận thức đó là kết quả của một quá trình tìm tòi, nghiên cứucủa cá nhân hay tập thể nghiên cứu Liên quan đến vấn đề phương pháp dạy vàhọc tiếng Việt ở lớp ghép sao cho đạt được kết quả tối ưu về kiến thức, pháttriển cao về kĩ năng nghe, nói, đọc, viết thì bên cạnh việc không ngừng hướngdẫn của giáo viên cần phát huy tính độc lập làm việc của học sinh và tập thểhọc sinh

Những đặc điểm của lớp ghép như đã trình bày ở trên sẽ quy định việcđiều chỉnh nội dung và phương pháp dạy học ở lớp ghép so với lớp thường.Như vậy, đặc điểm của giờ học ở lớp ghép là hoạt động độc lập của học sinh

Do đó, tính hiệu quả của giờ học trực tiếp phụ thuộc vào hiệu quả của hoạtđộng độc lập này Nguyên nhân chính của những thất bại trong giờ dạy ở lớpghép là giáo viên không tổ chức và điều khiển được hoạt động độc lập của họcsinh Việc tổ chức và điều khiển hoạt động độc lập của học sinh ở lớp ghép đòihỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa giáo viên và học sinh Trong đó giáo viên

là người chủ đạo và học sinh là người chủ động, giáo viên không ngừng tổ chứcdạy học và hướng dẫn cho học sinh còn học sinh phải tích cực nhận thức bàihọc và tự hoạt động sau khi có sự hướng dẫn của giáo viên Vậy nhiệm vụ đặt

Trang 24

ra trong việc tổ chức, hướng dẫn của giáo viên và tích cực nhận thức, hoạt dộngđộc lập của học sinh đó là:

2.2.1.1 Đối với giáo viên

Tài năng sư phạm của giáo viên là biết lựa chọn phương pháp tối ưu tùytheo đặc điểm đối tượng, tài liệu giảng dạy và điều kiện dạy học cụ thể Đặcđiểm của lớp ghép đòi hỏi giáo viên phải biết vận dụng phương pháp tiếp cận

cá thể hóa một cách linh hoạt để tận dụng được mặt mạnh, mặt yếu của phươngpháp này để việc giảng dạy tiếng việt khỏi trừu tượng, khô khan, phù phiếm.Tuy nhiên có một yêu cầu rất quan trọng trước khi bắt tay vào giảng dạy là giáoviên phải nắm vững hệ thống khái niệm, tính chất lý thuyết của tiếng việt đểhình thành cho học sinh qua mỗi lớp học để có thể liên kết một cách chặt chẽ,chủ động với các bài học thuộc các chương trình khác nhau trong một lớp ghép.Giờ học tiếng Việt, kể cả những giờ học có tính chất lí thuyết ở lớp 6 đếnlớp 9 đều được cấu thành từ một hệ thống việc làm của thầy giáo và học sinh.Giờ học tiếng Việt là quá trình giải quyết các nhiệm vụ và bài tập Ở lớp ghép,giáo viên cũng phải tuân thủ những nguyên tắc tổ chức thực hiện nhiệm vụ vàbài tập tiếng Việt nói chung Giáo viên phải nắm chắc mục đích của nhiệm vụ

và bài tập, biết giải quyết chúng một cách chính xác và nắm được trật tự cácthao tác cần tiến hành để hướng dẫn học sinh Công việc của giáo viên lúc nàylà: ra nhiệm vụ, hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ và kiểm tra việc thực hiệnnhiệm vụ Nhiệm vụ phải được trình bày một cách rõ ràng, ngắn gọn, chínhxác, cụ thể Nhiệm vụ phải được xây dựng sao cho trình tự thực hiện được trảidài theo trình tự thời gian, chia thành từng thao tác Khi hướng dẫn thực hiện,giáo viên phải nắm trình tự này để kiểm soát được cả quá trình chứ không phảichỉ kết quả cuối cùng, để biết được học sinh gặp khó khăn hoặc sai sót từ khâunào mà sửa chữa kịp thời Phải tăng dần mức độ làm việc độc lập của học sinh.Khâu đánh giá rất quan trọng, nó vừa kích thích hứng thú học tập, vừa đưa ramột mẫu sản phẩm tốt nhất Giáo viên phải dành thời gian thích hợp cho khâunày Quan trọng là phải có mẫu sản phẩm đúng của mình - một lời giải cho bài

Trang 25

tập Không bao giờ đưa ra những bài tập mà chính giáo viên cũng chưa hiểu rõ,không biết chắc như thế nào là một lời giải đúng [2; 132]

Ngoài những yêu cầu trên, ở lớp ghép phải có sự điều chỉnh về phươngpháp Ví dụ trong giờ lí thuyết từ ngữ, ngữ pháp ở lớp 6,7 sách giáo khoa hiệnhành có phần “Bài đọc” đưa ra những ngữ liệu theo câu hỏi gợi ý của giáo viên

để tìm ra các đặc điểm có tính chất suy luận của hiện tượng được khảo sát Trảlời đúng những câu hỏi này, học sinh đã phát hiện ra các nội dung kiến thứccần nắm Phần “Bài đọc” tổng kết trên lớp thường tiến hành dưới hình thứcđàm thoại Ở lớp ghép phần này phải được thực hiện dưới hình thức viết cánhân, học sinh phải độc lập làm việc Do đó nhiệm vụ giao cho học sinh phảiđược điều chỉnh để các em tự quan sát và ghi lại kết quả theo những chỉ dẫn vềyêu cầu, trình tự hành động Giáo viên phải tổ chức việc quan sát và ghi lại kếtquả quan sát này bằng những câu hỏi và nhiệm vụ được viết lên bảng từ trước.Hình thức nói miệng trước tập thể phải nhường cho hình thức viết cá nhân Cáclớp đều phải có sự điều chỉnh này

Ví dụ:

Nhiệm vụ cho lớp thường Nhiệm vụ cho lớp ghép

- Em hãy đọc bài thơ sau - Em hãy đọc khẽ (hoặc đọc thầm) bài

thơ sau

- Em hãy tìm từ tả hình dáng của Cây

tre trong bài

- Em hãy gạch dưới các từ tả hình dángcủa cây tre trong bài

- Em hãy tìm từ hai tiếng trong đó có

tiếng “xanh”

- Em hãy ghi lại những từ hai tiếngtrong đó có tiếng “xanh”

Với các lớp học ghép có trình độ cao hơn (lớp 8, 9), học sinh nhận nhiệm

vụ theo dàn bài, câu hỏi ghi sẵn trên bảng: Hãy đọc sách giáo khoa, từ phần…đến phần … ; hãy so sánh…; hãy kết luận…; hãy ghi vào vở…

Bài tập cần ra dưới dạng viết: Gạch dưới từ viết tắt những kí hiệu từ loại,gạch dưới để phân biệt thành phần câu… Kết quả thực hiện nhiệm vụ sẽ địnhhình lại ở những kí hiệu (chữ cái, đường kẻ…)

Trang 26

Dạy lớp đơn ở vùng dân tộc đã khó, dạy lớp ghép còn khó khăn hơn nhiều.Lớp ghép là một loại hình đào tạo đặc thù thường được tổ chức ở những vùngkhó khăn với số lượng học sinh không đủ để mở lớp đơn hoặc số lượng họcsinh mỗi trình độ vừa ít lại vừa thiếu phòng học Do đó, đòi hỏi giáo viên dạyhọc lớp ghép phải là những giáo viên có nhiều kinh nghiệm, nhiệt tình, nỗ lựcrất nhiều trong phương pháp giảng dạy và đặc biệt là tâm huyết với nghề Đồngthời, giáo viên dạy học lớp ghép phải có những kĩ năng cần thiết để tổ chức dạyhọc lớp ghép:

Thứ nhất, Ở lớp ghép, giáo viên phải tính toán rất kĩ thời gian thực hiện

nhiệm vụ để phối hợp công việc ở các lớp con, không để có những phút nhànrỗi trên lớp Thời gian tiến hành đàm thoại giữa giáo viên và học sinh giảm sovới lớp thường ít nhất là một nửa nên lời nói của thầy trên lớp là rất quan trọng.Giáo viên cần nói to vừa đủ, nhẹ nhàng, không ảnh hưởng đến lớp con khác.Lời nói giáo viên khi giao nhiệm vụ phải tế nhị, khuyến khích lòng tự tin củahọc sinh

Thứ hai, Ở lớp ghép, việc kiểm tra hoạt động độc lập của học sinh có đặc

tính riêng: Trong quá trình kiểm tra, giáo viên hướng dẫn những điểm cơ bản,cốt yếu nhất trong nội dung đã cho Việc làm tạo điều kiện cho giáo viên thuhút được chú ý của học sinh, tiết kiệm được thời gian và giúp học sinh phânbiệt những dấu hiệu cơ bản của khái niệm và những dấu hiệu không cơ bản.Hình thức kiểm tra cũng phải chuyển từ kiểm tra miệng sang kiểm tra viết.Việc đánh giá phải đảm bảo những yêu cầu sư phạm Cần phải thận trọng khi

sử dụng điểm xấu để không làm học sinh mất lòng tin ở năng lực của mình, mấtniềm tin trong học tập Nhiều giáo viên tiểu học không bao giờ cho điểm xấu

Thứ ba, Ở lớp ghép, việc tự kiểm tra của học sinh là rất cần thiết Để giúp

học sinh tự kiểm tra công việc của mình, giáo viên có thể dùng các biểu bảng,

tờ phiếu, sơ đồ, bảng tra cứu ,mà ở đó có ghi kết quả, lời giải Nguyên tắc kiểmtra là chỉ ra các bước cụ thể để học sinh tự kiểm tra Liên quan đến việc kiểmtra của giáo viên và tự kiểm tra của học sinh theo hướng tiếp cận cá thể hóa thì

Trang 27

giáo viên có thể tổ chức cho học sinh làm việc trên lớp qua sách và vở bài tậptiếng Việt một cách linh hoạt sáng tạo.

Sách và vở bài tập tiếng Việt tạo điều kiện cho học sinh được luyện tậpthực hành một cách độc lập, vì vậy giáo viên có thể thay đổi cách dạy so vớitrước đây Để tăng cường làm việc với từng đối tượng học sinh (tức là tiếp cận

cá thể hóa học sinh), giáo viên có thể giảng dạy hay hướng dẫn ở nhóm (tổ)trong khi giao bài tập cho nhóm (tổ) khác tự làm việc sau đó kiểm tra kết quả.Trong điều kiện của lớp ghép, nhóm (tổ) này tương đương với mỗi lớp con Cónghĩa là khi giáo viên hướng dẫn với nhóm lớp con này thì đồng thời nhóm lớpcon khác cũng đang làm bài tập Sau khi làm xong mỗi bài tập, giáo viên có thểđánh giá, nhận xét kết quả, hoặc cũng có thể tổ chức cho học sinh kiểm tra bàicủa nhau theo nhóm dưới sự chỉ đạo của cán sự bộ môn trong nhóm đó Với lớpghép, giáo viên có thể cho học sinh nhóm này làm bài tập luyện về ngữ phápnhưng nhóm khác làm bài tập làm văn Sau đó thay đổi lại để giáo viên có điềukiện xem xét, uốn nắn được nhiều học sinh về cả hai kiến thức tiếng Việt và tậplàm văn

Như vậy, điều kiện đặc biệt của lớp ghép tạo nên một số điều chỉnhphương pháp dạy học liên quan đến hoạt động của thầy và trò Việc tăng mức

độ tự lập của học sinh, ví như bắt đầu từ lớp 1 đã có hình thức viết, sử dụng có

hệ thống các chỉ dẫn học tập (dàn ý, câu hỏi, những từ làm chỗ dựa…), nhữngbài tập yêu cầu mà hoá hành động của học sinh như viết, gạch dưới các từ,câu… rất cần thiết để dạy tiếng Việt ở lớp ghép

2.2.1.2 Đối với học sinh

Trong xu thế đi lên của thời đại, vấn đề tự nhận thức, tự nghiên cứu càngđược quan tâm nhiều hơn khi mục tiêu đào tạo con người trong thế kỷ mới phải

là các con người có khả năng sáng tạo, tự điều khiển mình để chiếm lĩnh khoahọc Vì vậy yêu cầu, nhiệm vụ đầu tiên, không thể thiếu của học sinh trong dạyhọc ở lớp ghép là tự nghiên cứu, tự làm việc độc lập sau khi được sự hướng dẫncủa giáo viên Năng lực tự nghiên cứu là học sinh tích cực hoạt động trong học

Trang 28

tập, tự mình phát hiện kiến thức, nắm bắt kiến thức, vận dụng kiến thức Nhưvậy, tự nghiên cứu của học sinh là nghiên cứu các cơ sở lý thuyết đãcó trongsách để phục vụ cho sự phát triển của bản thân Đó là việc học sinh trực tiếp tácđộng vào đối tượng nghiên cứu mà lĩnh hội tri thức Hoạt động tác động đó, tuynói là tự mình nhưng luôn luôn có sự giúp đỡ của giáo viên, đòi hỏi sự “vậnđộng bên trong” của học sinh một cách tích cực, độc lập.

Thứ nhất, Ở lớp ghép, không chỉ giáo viên phải tính toán rất kĩ thời gian

thực hiện nhiệm vụ mà cả học sinh cũng phải chú trọng tất nhiều đến vấn đềthời gian, không để thời gian cho những phút nhàn rỗi trên lớp chiếm vị trí Vìgiáo viên phải làm việc với lớp con khác nên thời gian tiến hành đàm thoại giữagiáo viên và lớp con này giảm đi rất nhiều, thời lượng dành cho giáo viên nóicòn học sinh phải ghi chép, điều này đòi hỏi học sinh phải có kỹ năng nghe vàviết Học sinh phải giữ cho lớp học thật yên tĩnh, khi nói cũng phải nhẹ nhàng,không ảnh hưởng đến lớp con khác

Thứ hai, do đặc điểm của lớp ghép nên việc kiểm tra ở phải chuyển từ

kiểm tra miệng sang kiểm tra viết, vì vậy ngoài yêu cầu về nghe, nói, đọc thì kĩnăng viết đối với học sinh ở lớp ghép phải cao hơn lớp thường Nội dung kiểmtra ở lớp ghép phải tương xứng với nhau giữa các lớp con Nếu lớp con nàykiểm tra về từ ngữ, ngữ phá thì lớp con kia cũng vậy, nếu lớp con này kiểm tra

về thực hành thì lớp con kia không được kiểm tra về lý thuyết Tuy rằng trình

độ kiến thức khác nhau nhưng mức độ dài ngắn của đề sẽ khác nhau giữa cáclớp con

Thứ ba, Ở lớp ghép, việc tự kiểm tra của học sinh là rất cần thiết Để việc

tự kiểm tra công việc của mình đạt được hiệu quả cao học sinh có thể dùng cácbiểu bảng, tờ phiếu, sơ đồ, bảng tra cứu, mà ở đó có ghi kết quả, lời giải Họctiếng Việt là học các quy tắc ngữ pháp, các quy tắc viết đoạn, viết bài, các quytắc dùng trong giao tiếp Ở các lớp cao hơn như lớp 8, 9 các em được học cácquy tắc chính tả, học các khái niệm ngữ pháp (chủ ngữ, vị ngữ, danh từ, động

từ, câu đơn, câu ghép) Chính các biểu đồ, sơ đồ sẽ tạo điều kiện cụ thể hóa

Ngày đăng: 06/11/2014, 08:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HÌNH ẢNH VỀ DẠY HỌC THEO PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN CÁ THỂ - đổi mới phương pháp dạy học trên cơ sở đảm bảo kiến thức cơ bản vững chắc trong mỗi bài học cho học sinh dân tộc
HÌNH ẢNH VỀ DẠY HỌC THEO PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN CÁ THỂ (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w