Do đó nghiên cứu vấn đề sẽ giúp cho người đọc có một cái nhìntòa diện, sâu sắc và khách quan về những tranh chấp liên quan đếnArunachal Pradesh giữa hai quốc gia Ấn Đ
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quan hệ Trung Quốc – Ấn Độ hay còn được gọi là quan hệ Trung- Ấn,đề cập đến mối quan hệ song phương giữa Cộng hòa nhân dân Trung Quốcvà Cộng hòa Ân Độ
Trong lịch sử, Ấn Độ và Trung Quốc đã có mối quan hệ trong hơn 2000năm, nhưng mối quan hệ hiện đại bắt đầu vào năm 1950 khi Ấn Độ là mộttrong những quốc gia đầu tiên chấm dứt mối quan hệ với Trung Hoa Dânquốc (Đài Loan) và công nhận CHND Trung Hoa là chính phủ hợp pháp củatoàn bộ Trung Quốc Mối quan hệ giữa Trung Quốc và Ấn Độ được đặctrưng bởi các tranh chấp và xung đột biên giới khi mà vấn đề tranh chấpđang đang là điểm nóng của thế giới Khi mà sự phân về đường ranh giớichưa rạch ròi thì vấn đề tranh chấp lãnh thổ là tất yếu Là quốc gia có biêngiới với 14 nước láng giềng nền giữa Trung Quốc với các nước láng giềngthường xuyên xuất hiện những tranh chấp lãnh thổ Và việc tranh chấp lãnhthổ đã gây nên không ít hệ lụy cho quan hệ giữa Trung Quốc với các nướcđó, thậm chí đã từng xảy ra chiến tranh biên giới Quan hệ Trung Quốc vàẤn Độ là tiêu biểu cho tình trạng và kết quả là khi hai nước xảy ra ba cuộcxung đột quân sự lớn là chiến tranh Trung – Ấn năm 1962, các sự cố cholavào năm 1967, và cuộc giao tranh tranh Trung-Ấn 1987 Và đặc biệt là tranhchấp căng thẳn giữa Arunachal Pradesh điển hình mà cho tới ngày nay khi cảhai quốc gia đều tuyên bố là khu vực thuộc chủ quyền của mỗi nước
Hiện nay khi mà vấn đề tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải tại khu vực đanggây chú ý toàn cầu và đe dọa đến sự ổn định của phát triển kinh tế cùng vớiẤn Độ và các nước khác Trong bối cảnh Việt nam là nước đang có tranh
Trang 2chấp căng thẳng với Trung Quốc liên quan đến chủ quyền biển Đông thì tìmhiểu và nghiên cứu về đề tài có ý nghĩa vô cùng to lớn.
Về ý nghĩa khoa học thì đây là vấn đề thời sự chưa được nghiên cứuthỏa đáng Do đó nghiên cứu vấn đề sẽ giúp cho người đọc có một cái nhìntòa diện, sâu sắc và khách quan về những tranh chấp liên quan đếnArunachal Pradesh giữa hai quốc gia Ấn Độ và Trung Quốc
Về ý nghĩa thực tiễn nghiên cứu vấn đề sẽ giúp cho người có thái độ vàcái nhìn đúng đắn về vấn đề này Mặc khác việc làm niên luận cuối khóagiúp rèn luyện khả năng nghiên cứu khoa học, khả năng phân tích cũngnhư giúp cho tôi có thể thực hiện tốt khóa luận tốt nghiệp cũng và nghiêncứu độc lập sau này Chính vì vậy mà người viểt quyết định chọn đề tài
“Arunachal Pradesh trong tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc và Ấn Độ
từ sau 1949 đến nay’’ làm đề tài cho niên luận cuối khóa của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trung Quốc và Ấn Độ là hai trong số nền văn minh lâu đời nhất của thếgiới và đồng thời cũng là hai gã khổng lồ của châu Á về lãnh thổ về kinh tếcũng như chính trị
Đồng thời vấn đề tranh chấp khu vực giữa Trung Quốc và các nước lánggiềng đang diễn ra gay gắt thu hút học giả và dư luận quốc tế hiện nay Đâycũng là nhiệm vụ thiết yếu của việc nghiên cứu một cách toàn diện về vấn đềtranh chấp vùng, khu vực như Arunachal Pradesh trong tranh chấp lãnh thổkéo dài giữa Ấn Độ và Trung Quốc là cần thiết, nó phản ánh được thực trạngquan hệ quốc tế tại khu vực, tình hình bất trong quan hệ giữa Trung Quốc vàẤ Độ Tuy nhiên ở Việt Nam đây là một đề tài được ít nhà nghiên cứu quantâm, chỉ có một vài người nghiên cứu với nguồn tài liệu rất ít ỏi, chưa có mộtcông trình nào nghiên cứu toàn diện và sâu sắc về Arunachal Pradesh trongtranh chấp lãnh thổ giữa Ấn Độ và Trung Quốc từ sau 1949- nay
Trang 3Trong quá trình tìm hiểu về đề tài này, người viết đã tiếp cận được mộtsố công trình nghiên cứu có liên quan như sau:
Thứ nhất, cuốn sách “Cuộc chiến với Trung Quốc của Ấn Độ” chủ yếulấy từ báo cáo Henderson Brooks - Bhagat
Công trình này nghiên cứu những kết quả và hậu quả của chiến tranhbiên giới giữa Ấn Độ và Trung Quốc năm 1962, lý giải những nguyên nhânmà Ấn Độ thất bại trong cuộc chiến này
Thứ hai là bài viết của thạc sĩ Namrata Goswami – Chuyên gia Tổ chứcNghiên cứu Hòa bình Mỹ (USIP) với tiêu đề “Nguy cơ chiến tranh Trung -Ấn” Bài viết đi sâu vào xung đột biên giới năm 1962 giữa hai nước, phântích và so sánh tình hình quân đội hai bên, cũng như đưa ra một số giải phápđối thoại trong tình hình hiện tại Công trình này tác giả đã cho chúng tathấy một các nhìn toàn diện và sâu sắc về nguy cơ của những tranh chấp,quan điểm của mỗi bên và tương quan lực lượng Trung – Ấn trong vùngtranh chấp, đưa ra những ý kiến về các giải pháp cho quan hệ Trung - Ấncho tới nay
Thứ 3 là công trình '' Vạch rõ mưu đồ bá chủ thế giới của trung quốc’’của tác giả Nguyễn Hoàng Điệp Trong công trình này tác giả đã chỉ rõ bảnchất bành trướng và âm mưu, thủ đoạn của Trung Quốc xuyên suốt hàngngàn năm, đồng thời ông đã liệt kê ra những vùng đất mà Trung quốc xâmlược và độc chiếm, tuy nghiên tác giả chưa đi sâu nghiên cứu và từng vấn đềtranh chấp mà chỉ tóm tắt về lịch sử tranh chấp của Trung Quốc và nhữngthách thức bất ấn hiện nay của các mối tranh chấp này
Thứ 4 là công trình Quan hệ Ấn Độ –Trung Quốc từ sau chiến tranhlạnh đến nay’’ của tác giả Võ Xuân Vinh, đăng trên tạp chí nghiên cứu ĐôngNam Á, số 3, năm 2006 Tác giả đi sâu vào nghiên cứu quan hệ Trung – Ấnsau chiến tranh lạnh Mà chưa làm rõ được vấn đề còn tồn tại hiện nay trong
Trang 4quan hệ của hai nước đó là việc tranh chấp nơn nửa thế ky vẫn chua kết thúcmà có thể xảy ra xung đột bất cứ lúc nào
Từ thực trạng tình hình nghiên cứu trên, niên luận với đề tài “ArunachalPradesh trong tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc và Ấn Độ’’ sẽ đi sâu vàotìm hiểu vấn đề Arunachal Pradesh trong tranh chấp lãnh thổ giữa TrungQuốc và Ấn Độ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là “Arunachal Pradesh trong tranh chấplãnh thổ giữa Trung Quốc và Ấn Độ từ sau 1949 đến nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về mặt không gian : Niên luận cuối khóa đi sâu vào nghiên cứu thựctrạng tranh chấp liên quan đến Arunachal Pradesh giữa hai nước Trung Quốcvà Ân Độ Tuy nhiên để có cái nhìn toàn diện thì đề tài cũng đề cập đếnnhững tranh chấp khác
Về mặt thời gian: Tình hình tranh chấp Arunachal Pradesh giữa TrungQuốc và Ấn Độ nhưng trọng tâm là khi hai nước giành được đôc lập 1949đến nay
4 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu: nghiên cứu đề tài nhằm làm rõ cở sở của sự tranhchấp, nguyên nhân dẫn đến tranh chấp, thực trạng của sự tranh chấp và tìnhhình hiện nay đồng thời làm rõ lập trường của mỗi bên, các biện pháp cùngnhững chính sách và thái độ của Trung Quốc và Ấn Độ
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục tiêu của đề tại có nhiệm vụ sưutầm tập hợp những thông tin, tư liệu, những bài viết có liên quan, hệ thốnglại sự kiện tranh chấp diễn ra của khu vực từ năm 1949-nay Phân tích, đánhgiá lập trường của mỗi bên
Trang 55 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài,người viết chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sửvà phương pháp logic Phương pháp lịch sử được dùng để chọn lọc xử lý,sắp xếp tài liệu theo tiến trình thời gian nhằm khắc họa diễn biến tranh chấpkhu vực Arunachal Pradesh giữa Ấn Độ và Trung Quốc
Tiếp đó phương pháp logic được sử dụng kết hợp với phương pháp lichsử để làm bật mức độ của tranh chấp lãnh thổ nhằm đưa ra những nhận định,đánh giá có tính khái quát
Ngoài ra người viểt sử dụng phương pháp so sánh để đối chiếu tìm rađiều cốt lõi của vấn đề nghiên cứu thông qua việc tập hợp, xử lí tri liệu từnhiều nguồn
6 Đóng góp của đề tài
Đề tài “Arunachal Pradesh trong tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốcvà Ấn Độ từ sau 1949 đến nay’’ đi sâu nghiên cứu tiến trình tranh chấp vềArunachal pradesh ở Đông Bắc của Ấn Độ, những nguyên nhân, cở sở,những mâu thuẫn, quan điểm lập trường giữa hai quốc gia này và tình hìnhtranh chấp hiện nay Qua đó hi vọng niên luận cuối khóa cung cấp thêmnhững thông tin về vấn đề này đối với người quan tâm
Trang 6PHẦN NỘI DUNGCHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ TRUNG QUỐC VÀ ẤN ĐỘ
1 1 Khái quát về Trung Quốc
Trung Quốc là quốc gia lớn ở Đông á, đây là nước đông dân nhất trênthế giới, và là quốc gia đứng thứ 4 thế giới về diện tích, tổng diện tích TrungQuốc ước tình là 9.596.960 Km2
Lãnh thổ Trung Quốc kéo dài 5.026km ngang qua theo khối đại lục địaĐông Á giáp với biển Đông Trung Hoa, vịnh Triều Tiên, Hoàng Hải, và biểnĐông
Về dân cư, chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa chính thứccông nhận tổng cộng 54 dân tộc, trong đó người Hán chiếm đa số
Sau khi nước Trung Hoa ra đời thực hiện chính sách đối ngoại nhất biênđảo, hợp tác với Liên xô và Mỹ Tuy nhiên sau đó mâu thuẫn với Liên Xô vàhợp tác với Mỹ Đầu những năm 60 của thế kỷ XX Trung Quốc chuyển sang
“ cách mạng văn hóa vô sản’’ và mâu thuẫn Trung- Xô bùng nổ Trung Quốcđã coi liên xô là kẻ thù số 1 và liên kết với Mỹ chống Liên xô Thuyết “bathế giới’’ đã ra đời trong bối cảnh đó và trở thành cơ sở để hình thành chiếnlược đối ngoại của Trung Quốc Sau đại hội 7 Đảng Cộng Sản Trung Quốcchủ trương chuyển sang ‘’chính sách ngoại giao hòa bình, độc lập, tựchủ’’.Trung Quốc bước vào xây dựng hiện đại hóa, cần một môi trường hòabình thế giới và bối cảnh ỏn định, trong khu vực để tập trung phát triển kinhtế, thực hiệ mở cửa để phục vụ cho công nghiệp hiện đại hóa
Đầu những năm 90 của thế kỉ XX Trung Quốc tuyên bố “ không đốiđầu, không cầm đầu “ chống Mỹ thay vào đó là tăng cường quan hệ hợp tácvới Mỹ và phương Tây, mở cửa hiện đại hóa Chuyển sang thập niên thứ 2của thế kỉ XXI, chính trị đối nội và chính trị đối ngoại của Trung Quốc có
Trang 7những diễn biến mới và sự điều chỉnh mới Trung Quốc tuyên bố kiên trì chủtrương chiến lược tập trung nỗ lực vào công cuộc hiện đại hóa, và do đó cốgắng duy trì trạng thái hòa bình thế giới, hợp tác quốc tế.
Nói tóm lại, từ đầu những năm 70 của thế kỷ trước, nhất là từ sau khiTrung Quốc tiến hành cải cách mở cửa, chính phủ Trung Quốc không còndựa trên ý thức hệ giai cấp để tập hợp lực lượng, xây dựng đồng minh Nhântố ý thức hệ và chế độ xã hội kiểu Mác –xít tuy vẫn còn tồn tại và được đềcập trong các văn kiện Đại hội Đảng, nhưng chúng không còn là nền tảng tưtưởng chủ đạo trong quan hệ quốc tế của Trung Quốc Thay vào đó, lợi íchquốc gia-dân tộc và chủ nghĩa hiện thực trong quan hệ quốc tế đang và sẽ chiphối đường lối đối ngoại của nước này Hầu hết các biểu hiện của Chủ nghĩaBản địa, Chủ nghĩa Đa phương Toàn cầu, Chủ nghĩa Đa phương Chọn lọc,Thuyết về châu Á hay phương Nam mà các trường phái học thuật và giớingoại giao đang bàn luận hiện nay và chúng đang được áp dụng khá linhhoạt, uyển chuyển trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc chủ yếu bị chiphối hay bị thuyết phục bởi chủ nghĩa hiện thực mang mầu sắc Trung Quốc,trong đó khát vọng trở về cái địa vị vượt trội, quốc gia “Trung tâm Thiên hạ”đã, đang và sẽ vẫn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, gắn kết các lực lượng trongnước, chi phối đường lối đối ngoại của Trung Quốc Có lẽ đây là một trongnhưng điểm mấu chốt buộc các nước trên thế giới, trong đó có Mỹ phải thíchứng chính sách với một nước Trung Hoa đang trỗi dậy, phát đi những tínhiệu mâu thuẫn, nhưng khá nhất quán về mục tiêu là thực hiện “giấc mơTrung Hoa”
1.2 Khái quát về Ấn Độ
Ấn Độ có biên giới đất liền vào khoảng 15.200 km và 7.516km bờ biển.Ấn Độ là một quốc gia Nam Á, chiếm hầu hết bán đảo Ấn Độ Ấn Độcó ranh giới với Pakistan, Trung Quốc, Myanma, Bangladesh, Nepal, Bhutan
Trang 8và Afghanistan Ấn Độ là nước đông dân thứ nhì trên thế giới, với dân sốtrên một tỉ người, và đồng thời lớn thứ bảy về diện tích.
Cộng hoà Ấn Độ xuất hiện trên bản đồ thế giới vào ngày 15 tháng 8năm 1947 Sự thiết lập nhà nước Ấn Độ là đỉnh cao của cuộc đấu tranh củanhân dân trên lục địa Ấn Độ để thoát khỏi ách thống trị của Đế quốc Anh.Ấn Độ có nền văn minh sông Ấn (Indus) phát triển rực rỡ cách đây 5 nghìnnăm Ấn Độ là nơi sinh trưởng của bốn tôn giáo quan trọng trên thế giới: ẤnĐộ giáo (Hindu), Phật giáo, đạo Jaini và đạo Sikh
Đất nước Ấn Độ có một vị thế địa lý rất đặc biệt Đó là lưng dựa vàodãy Himalaya hùng vĩ nhất thế giới, mặt nhìn ra Ấn Độ Dương biển cảmênh mông, lại còn có 2 con sông lớn là sông Ấn và sông Hằng như haidòng sữa tươi nuôi một bình nguyên bao la và cũng là cái nôi của nền vănminh nông nghiệp định cư vào thời cổ đại Chính ở chốn địa linh nhân kiệtđó nhiều vĩ nhân ra đời như đức Phật Thích Ca , Thánh Mahatma Gandhi,hiền triết Jiddu Krishnamurti, thi hào Rabindranath Tagore, v.v… và các tôngiáo, trường phái triết học lớn và lâu đời nhất thế giới được hình thành nhưVệ Đà, Áo Nghĩa Thư, Ấn Độ Giáo, Phật Giáo, đạo Jaini, Đạo Sikh, v.v…Sau khi giành độc lập, Ấn Độ đã chủ trương đi theo con đường khôngliên kết về đường lối đối ngoại trong bối cảnh thế giới chia làm hai phe, haikhối đối lập Không liên kết là nguyên tắc cơ bản và lập trường trong đườnglối đối ngoại của Ấn Độ Theo quan điểm của Nehru, không liên kết khôngcó ghĩa là đóng của cô lập với thế giới bên ngoài mà có nghĩa là Ấn Độkhông gia nhập bất cứ liên minh chính trị hay liên minh quân sự nào đểchống lại một liên minh khác
Trong bối cảnh chiến tranh lạnh nhưng trong mục tiêu chính sách đốingoại của Ấn Độ là phấn đấu vì hòa bình là nhiệm vụ hàng đầu Mặt khác làmột quốc gia rộng lớn đông dân vừa mới giành độc lập độc, vì vậy hòa bìnhlà một nhu cầu đối với sự nghiệp xây dựng đất nước của Ấn Độ
Trang 9Ấn Độ đã theo đuổi chủ nghĩa lý trung lập, gương cao ngọn cờ độc lậpdân tộc, chống chủ nghĩa thực dân, chống chế độ phân biệt chủng tộc, đấutranh vì một nền hòa bình giữa các dân tộc trên thế giới, chủ trương làm bạnvới các nước tư bản lẫn xã hội chủ nghĩa.
Sau chiến tranh lạnh Ấn Độ gặp phải khó khăn và tiến hành cải cách đấtnước nhằm đưa đất nước thoát ra khỏi khủng hoảng, điều chỉnh chính sáchđối ngoại cho phù hợp với hoàn cảnh mới với những mục tiêu cụ thể là bảovệ độc lập chủ quyền, an ninh quốc gia, tạo môi trường hòa bình, ổn địnhcho sự phát triển kinh tế Tăng cường và mở rộng quan hệ với các nước, cáctrung tâm kinh tế thế giới nhằm tranh thủ vốn đầu tư và kỹ thuật cao, đẩynhanh quá trình hội nhập khu vực và hội nhập toàn cầu và nâng cao vai tròvà vị trí của Ấn Độ trong khu vực và thế giới, đưa Ấn Độ trở thành cườngquốc Châu Á và giành vị trí xứng đáng trong trật tự thế giới
Ấn Độ đang đẩy mạnh đầu tư nước ngoài theo chính sách đa dạng hóavà đa phương hóa quan hệ Ấn độ thực hiện chính sách ngoại giao cân bằngvới tất cả các nước lớn và xúc tiến cải cách mở cửa đầu tư nước ngoài
1.3 Quan hệ Trung Quốc - Ấn Độ
Quan hệ giữa hai quốc gia vốn là một dạng thức của quan hệ quốc tế,Quan hệ quốc tế là để xây dựng lòng tin chiến lược, tăng cường sự hữunghị và sự hợp tác về chính trị và an ninh quốc phòng vì một mục tiêu hòabình cùng ổ định và phát triển Quan hệ Trung- Ấn là một quan hệ điểnhình đặc trưng và qua hệ đó trải qua nhiều giai đoạn từ sau khi giành độclập cho tới nay
Trang 10Nerhu đã kéo quốc kỳ Ấn Độ lên, đánh dấu bước phát triển mới của lịch sửẤn Độ, thời kỳ độc lập phát triển và xây dựng đất nước.
Bên kia dãy Himalaya, Trung Quốc được giải phóng năm 1949 Hainước lớn nhất Châu Á này bắt đầu kỷ nguyên độc lập từ những điều kiện vậtchất hầu như tương đương nhau, đứng trước những vấn đề lớn về kinh tế vàxã hội Để củng cố độc lập và xây dựng đất nước, hai quốc gia yêu cầu xóa
bỏ những tàn dư của xã hội cũ để lại, thiết lập trật tự xã hội mới và tiến hànhcông nghiệp hóa đất nước
Đây là những mục tiêu quan trọng để bảo vệ và phát triển những thànhquả cách mạng mà nhân dân hai nước mới giành được Tuy nhiên, mỗi nướcđã chọn cho mình một con đường đi riêng và đã sử dụng những biện phápkhác nhau để thực hiện những mục tiêu của mình
Về bối cảnh quốc tế, đến giai đoạn này cũng có nhiều chuyển biến phứctạp hơn trước Thế giới đã chia làm hai phe đối địch, chủ nghĩa xã hội màđứng đầu là Liên Xô và chủ nghĩa tư bản do Mỹ cầm đầu Với mục tiêu báchủ thế giới, Mỹ đã lập ra các liên minh quân sự thực hiện chiến lược toàncầu ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản chống Liên Xô, bao vây và cô lập TrungQuốc, đồng thời chống phá điên cuồng phong trào giải phóng dân tộc
Trước tình hình đó, cả Ấn Độ và Trung Quốc mới giành độc lập đều cóyêu cầu dựa Liên Xô và thi hành chính sách chống chủ nghĩa đế quốc bảo vệđộc lập, chủ quyền xây dựng kinh tế và tăng cường vị trị, vai trò của mìnhtrên trường quốc tế
Trong những năm đầu giải phóng, sự hợp tác chặt chẽ với Liên Xô đã đemlại cho cả Ấn Độ và Trung Quốc những lợi ích to lớn và thiết thực Trung Quốcđã nhận được sự giúp đỡ hiệu quả của Liên Xô trong bước đầu công nghiệp hóavà củng cố quốc phòng của mình Ấn Độ đã tìm thấy ở Liên Xô sự ủng hộchính trị và nguồn viện trợ vật chất kỹ thuật thiết yếu cho việc xây dựng cácngành công nghiệp cơ bản và trang thiết bị cho nền quốc phòng
Trang 11Sự phù hợp trong chính sách và lợi ích của Ấn Độ và Trung Quốc trongthời kỳ sau khi hai nước giành được độc lập và đưa đến mối quan hệ hữunghị giữa hai nước lớn nhất Châu Á này Ngày 1/10/1949, Ngoại trưởngCHND Trung Hoa Chu Ân Lai đã gửi cho tất cả các đại diện ngoại giao vàlãnh sự nước ngoài tại Trung Quốc một bức thư gợi ý thiết lập quan hệ ngoạigiao bình thường Sau đó Ấn Độ là một trong những nước đầu tiên đã côngnhận và thiết lập quan hệ ngoai giao với Trung Quốc Những sự kiên đó đãmở đầu cho thời kỳ quan hệ tốt đẹp Trung Quốc- Ấn Độ.
Ngày 30/12/1949, Ấn Độ công nhận nước CHND Trung Hoa và thiếtlập quan hệ ngoại giao Tháng 4/1950, hai nước Trung- Ấn thiết lập quan hệngoại giao ở cấp đại sứ Ngay sau đó, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đãbày tỏ mong muốn giải quyết vấn đề Tây Tạng bằng thương lượng hòa bình.Ấn Độ cam kết từ bỏ các đặc quyền ở Tây Tạng và sẽ công nhận Tây Tạng làTrung Quốc
Tuy nhiên trong vấn đề Tây Tạng thì Trung Quốc và Ấn Độ lại có lậptrường riêng Khi Trung Quốc đưa quân vào giải phóng Tây Tạng (10/1950),Đạtlai Latma chạy trốn sang Ấn Độ J.Nehru, một mặt thừa nhận Tây Tạngthuộc chủ quyền của Trung Quốc, mặt khác cũng tỏ ý thương lượng vớiTrung Quốc để dành cho tây tạng ‘’ Vị trí tự trị, độc lập trong một nướcTrung Quốc’’ Đáp lại, Trung Quốc lập tức tuyên bố Ấn Độ theo CNTBchống lại họ và yêu cầu xem xét lại đường biên giới McMahon giữa hainước Trung Quốc không thừa nhận đường biên giới McMahon vì nó là sảnphẩm của CNTD Trước tình hình đó, J.Nehru khẳng định trước quốc hộirằng , Ấn Độ thừa nhận nước CHND Trung Hoa không có nghĩa là côngnhận quan điểm của nước này về đường biên giới Sau nhiều cuộc hội đàm,hiệp định về thương mại và bưu điện giữa Ấn Độ và khu Tây Tạng củaTrung Quốc kí ngày 29/4/1954 được coi là sự công nhận của Ấn Độ đối vớichủ quyền của Trung Quốc ở Tây Tạng và gián tiếp xác nhận một số đèo núi
Trang 12làm mốc biên giới giữa hai nước Đối với Trung Quốc, hiệp định này là mộtthắng lợi, vì nhờ đó Trung Quốc có thêm uy tín ở Châu Á, Châu Phi và trongthế giới thứ 3 Từ ngày 25 đến ngày 29 tháng 6 1954, Thủ tướng quốc vụviện nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa Chu Âu Lai đã lần đầu tiên cóchuyến thăm Cộng Hòa Ấn Độ Trong chuyến thăm, Thủ tướng Chu Ân Laiđã có cuộc hội đàm với thủ tướng Ấn Độ J Nehru, hai bên cùng đề ra chungsống hòa bình.
2.2 Quan hệ Trung - Ấn 1962 – 1987
Giai đoạn 1962 – 1987 trong quan hệ Trung Quốc- Ấn Độ là một thời kỳđen tối Từ tháng 6 năm 1962, các cuộc nổ súng bắt đầu dấu hiệu leo thang vàmột cuộc chiến tranh thực sự đã nổ ra ngày 10 tháng 10 năm 1962 khi quân độiTrung Quốc tràn sang Aksai Chin và Arunachal Pradesh, đánh bại các đội phòngvệ và tiến sâu vào lãnh thổ Ấn Độ Chiến tranh chính thức kết thúc khi TrungQuốc trả tù binh rồi rút về phía bên kia đường Mac Mahon
Cuộc chiến tranh biên giới đã đánh dấu một sự chuyển hướng triệt đểtrong đường lối ngoại giao và quân sự của Ấn Độ Ông J Nerhu bị chỉ tríchnặng nề là đã không đo lường được tình thế, chính sách hòa hảo với TrungQuốc và lí thuyết sống chung hòa bình trên cơ sở bất bạo lực do ông đềxướng bị thực tế phủ nhận phũ phàng, và giấc mơ của ông xây dựng một trụcẤn Độ - Trung Quốc cùng nhau chế ngự Châu Á bị đổ vỡ Ấn Độ rút ra chomình bài học là phải xây dựng cho mình sức mạnh quân sự và tự bảo vệ nếumuốn có chỗ đứng trên thế giới, quay sag Liên Xô và bắt đầu trang bị vũkhí Ấn Độ và Trung Quốc bước vào thời kì lạnh nhạt và đối địch kéo dài.Ngay từ năm 1961, đại sứ hai bên đã bị rút về nước, quan hệ hai bên chỉở cấp đại diện Quan hệ Trung Quốc- Ấn Độ suy giảm vào đầu những năm
1970, trong khi mối quan hệ Trung Quốc – Pakistan được cải thiện, đỉnhđiểm là việc Trug Quốc ủng hộ Pakista trong cuộc chiến tranh với Ấn Độnăm ( Hơn 50 năm qua, Ấn Độ và Pakistan luôn ở trog tình trạng quan hệ thù
Trang 13địch Sự thù địch này bắt nguồn từ nguyên nhân tôn giáo và lịch sử, và leothang thang là một cuộc chạy đua vũ trang nguy hiểm Cuộc tranh chấp nàycàng phức tạp hơn vì có thêm những thế lực bên ngoài tham gia Trung Quốckhông chỉ chiếm 5.180 km2 ở Kashmir sau khi được Pakistan nhượng lại từnăm 1963 mà còn hậu thuẩn cho chính quyền Islamabad trong thế đối trọngvới New Dehli Sự hậu thuẩn này là một trong những nguyên nhân khiến chovấn đề Kashmir trở nên phức tạp Trung Quốc đã dùng Pakistan để kìm chânẤn Độ ở cấp độ cường quốc khu vực trong khi mình tập trung giành lấy vịthế cường quốc Châu Á và thế giới Việc tìm kiếm một giải pháp hòa bình ởvùng đất bạo lực này không thể thiếu sự tham gia của Trung Quốc Có thểthấy vấn đề Kashmir vừa là nhân tố bên ngoài lại vừa là nhân tố bên trong cóảnh hưởng lớn tới quan hệ Trung - Ấn.
Tháng 8 năm 1971, Ấn Độ đã kí hiệp ước Hòa bình, hữu nghị và hợptác với Liên Xô Trong khi đó Trung Quốc đang có dấu hiệu bắt tay với Mỹ,đơn cử là việc Trung – Mỹ cùng đứng về phía Pakistan, trong cuộc chiếntranh giữa Pakistan - Ấn Độ năm 1971, ra Thông cáo Thượng Hải tháng 2năm 1972 Đổi lại Trung Quốc chính thức thay thế Chính quyền Đài Loan tạiLiên Hợp Quốc , nơi mà những đồng minh của Mỹ tố cáo Ấn Độ như là một
“công cụ của chũ nghĩa bành trướng Liê Xô”
Nhũng năm cuối thập niên 70 Ấn Độ và Trung Quốc bắt đầu có nhữngnỗ lực cải thiện quan hệ Đầu tiên là việc hai nước khôi phục quan hệ đại sứvào tháng 8 năm 1976 Sau khi Thủ tướng Ấn Độ Indira Gandhi của ĐảngQuốc Đại thất bại trong cuộc bầu cử năm 1977 thì Moraji Desai của ĐảngJanata lên nắm quyề vào tháng 3 năm 1977 Chính phủ mới của Desai đã tìmcách cải thiệ tình hình căng thẳng với Trung Quốc Tháng 2 năm 1979 lầnđầu tiên ngoại trưởng Ấn Độ thăm Trung Quốc để chuẩn bị cho chuyế thămnước này của Thủ tướng Ấn Độ Trong khi Ngoại trưởng Ấn Độ đang thămTrung Quốc thì xảy ra chiến tranh biên giới Trung – Việt, Ngoại trưởng Ấn
Trang 14Độ bỏ dỡ chuyến thăm như một động thái phản đối Trung Quốc Quan hệ haibên bị ngưng trệ cho tới tháng 2 năm 1978 khi Bộ trưởng Bộ ngoại giao ẤnĐộ Atal Bihari Vajpayee đã có chuyến thăm mang tính bước ngoặt tới BắcKinh, và cả hai nước đã chính thức tái lập quan hệ ngoại giao vào năm 1979.Tháng 6 năm 1981, nhận lời mời từ phía Ấn Độ, Bộ trưởng Ngoại giaonước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đã có chuyến thăm tới Ấn Độ Tuynhiên do sự nghi ngại của cả hai bên về vấn đề biên giới cũng như những tácđộng tiêu cực của tình hình quốc tế thời chiến tranh lạnh, nên quan hệ giữahai nước không đạt được tiến triển nào Đến tháng 12 năm 1981, hai bên mớixây dựng được chế độ gặp gỡ Thứ trưởng, thống nhất hợp tác trao đổi vănhóa, mậu dịch và khoa học kĩ thuật Hai bên cũng nhất trí chưa giải quyếtvấn đề biên giới.
Nhìn chung giai đoạn này quan hệ hai nước tiến triển chậm chạp cónguyên nhân chủ quan của hai nước, đồng thời còn chịu ảnh hưởng bởi bốicảnh quốc tế cũng như ở khu vực Nam Á tác động như chiến tranh Ấn Độ -Pakistan, các sự kiện Xích – Kim, vấn đề Cămpuchia, Hiệp ước hợp tác hòabình hữu nghĩa Ấn – Xô Ngoài ra, lãnh đạo cao cấp hai nước cũng chưa cóđiều kiện gặp gỡ, cho nên các cấp, nghành bên dưới luôn luôn phải thậntrọng làm cho quan hệ không cải thiện được
1.3.2 Quan hệ Trung-Ấn 1988- 2000
Bước vào những năm cuối thập niên 1980, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ
XX, khi chiến tranh lạnh bước vào những giai đoạn thoái trào, xu thế hòabình, hợp tác cùng phát triển trở thành xu thế chủ đọa trên toàn thế giới cùngvới các mối quan hệ quốc tế khác, chíh vì thế quan hệ Trung-Ấ có một bướcphát triển mới
Thủ tướng Ấn Độ Rajiv Gandhi đã có chuyến thăm chính thức TrungQuốc từ ngày 19 đến ngày 23 tháng 12 năm 1988 Đây là chuyến thăm đầutiên tới Trung Quốc của một Thủ tướng Ấn Độ sau 34 năm kể từ chuyến
Trang 15thăm của Thủ tướng J Nehru năm 1954 Đây là sự kiện quan trọng trongquan hệ Trung-Ấn Thủ tướng Gandhi đã hội đàm với thủ tướng Lý Bằng,đồng thời có các cuộc gặp gỡ với chủ tịch nước Dương Thượng Côn, Chủtịch Quân ủy Trung ương Đặng Tiểu Bình Hai bên đã trao đổi quan điểmsâu rộng của mình về quan hệ song phương và các vấn đề quốc tế mà hai bênquan tâm.
Nhà lãnh đạo hai nước ghi nhận và đánh giá cao tiến độ thực hiện tronghợp tác song phương và trao đổi trog lĩnh vực thương mại, khoa học côngnghệ, hàng không và các lĩnh vực khác Hai bên quyết định thành lập nhómcông tác hỗn hợp để từng bước giải quyết hững vấn đề do lịch sử để lại….Trong chuyến thăm của Thủ tướng Gandhi, chính phủ hai nước đã ký mộtthỏa thuận về hợp tác tác khoa học và công nghệ, một thỏa thuận về vậnchuyển hàng không dân dụng và kế hoạch thực hiên các hiệp định văn hóasong phương từ năm 1988 đến năm 1990
Vào những thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, quan hệ Trung- Ấn bắtđầu có những bước phát triển mới, mạnh mẽ với hàng loạt chuyến thăm cấpcao của hai nước Đầu tiên là chuyến thăm Ắn Độ của Thủ tướng Lý Bằngvào tháng 12 năm 1991 Đáp lại tháng 5 năm 1992 Tổng thống RamaswmyVenkataraman đã có chuyến thăm Trung Quốc Chuyến thăm nhà nước tớiẤn Độ của chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân tháng 11 năm 1996 làchuyến thăm đầu tiên của người đứng đầu nhà nước Trung Quốc tới Ấn Độ.Trong chuyến thăm này bốn thỏa thuận đã được kí kết giữa hai bên, nổi bậtnhất là sự thỏa thuận xây dựng lòng tin trong lĩnh vực quân sự dọc theođường kiểm soát thực tế Điểm nổi bật của thỏa thuận về các biện pháp xâydựng lòng tin là hai nước đã đạt được các biện pháp cụ thể trong tăng cườngtrao đổi quân đội giữa hai nước Vào năm 1998 quan hệ của hai nước rơi vàokhủng hoảng do Ấn Độ thử hạt nhân về phía Trung Quốc Ngày 9 tháng 3năm 1998 Thủ tướng Vajpayee lãnh tụ Đảng BJP lên cầm quyền đã đưa ra
Trang 16mục tiêu an ninh chính trị, độc lập tự cường lên vị trí hàng đầu và đã tiếnhành liên tục 5 vụ thử hạt nhân ở vùng sa mạc Pkhran thuộc bang Rajasthan.Hành động này của Ấn Độ đã bị nhiều nước lên án và áp đặt lệnh trừng phạt:
Mỹ, Nhật Bản, Đức, Thụy Điển…Trong bức thư gửi Tổng thống BillClinton, giải thích về bối cảnh Ấn Độ phải thử các vụ hạt nhân, Thủ tướngVajpayee biện luận: “ Ấn Độ có một nước láng giềng có vũ khí hạt nhân nằmtrên đường biên giới và nước này còn giúp một nước láng giềng khác củachúng tôi trở thành nước có hạt nhân Nước láng giềng đó đã tiến hành cuộcxâm lược chúng tôi năm 1962 Quan hệ giữa nước chúng tôi và nước đó đãđược cải thiên trong thập kỉ qua nhưng bầu không khí thiếu tin cậy vẫn baotrùm bởi những vấn đề tranh chấp biên giới chưa được giải quyết” Điều đócho thấy Ấn Độ muốn cải thiện quan hệ với Trung Quốc để tạo môi trườnghòa bình trong nước và khu vực nhưng vẫn hết sức lo ngại đến an ninh quốcgia, coi Trung Quốc là mối đe dọa lớn nhất của mình Các vụ thử hạt nhâncủa Ấn Độ, do đó bị Trung Quốc kịch liệt phản đối Trung Quốc đi đầu trongviệc lên án Ấn Độ, và đòi thực hiện nghị quyết 1172 của Hội đồng Bảo anLiên Hợp Quốc, kêu gọi xóa bỏ ngay lập tức chương trình hạt nhân của ẤnĐộ và Pakistan, và yêu cầu hai nước này cấm thử vũ khí hạt nhân trên toàndiện (CTBT), và hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT) Với sựkiện này, quan hệ Trung - Ấn xấu đi sau mấy năm được cải thiện, lãnh đạohai nước không tin tưởng lẫn nhau, không chỉ do Ấn Độ phát triển vũ khí hạtnhân mà còn do Ấn Độ tăng cường hợp tác với Mỹ
Tuy nhiên với mong muốn xây dựng môi trường khu vực hòa bình đểhợp tác phát triển kinh tế của cả Ấn Độ và Trung Quốc, quan hệ Trung - Ấnnhanh chóng được làm nóng lên và bình thường hóa trở lại
Sau các vụ thử hạt nhân của Ấn Độ, hai bên thể hiện những cố gắng đểhạn chế thiệt hại qua hệ chính trị trong quan hệ song phương, bắt đầu tiếpcận lập trường của nhau và nối lại đàm phán về chính trị Ấn Độ đã chứng tỏ
Trang 17sự khéo léo ngoại giao qua vụ thử tên lửa Angni, tháng 4 năm 1999, Ấn Độthông báo trước cho Trung Quốc cũng như các cường quốc khác về vụ thử,đồng thời Thủ tướng Vajpayee cố găng đảm bảo với Trung quốc rằng việcnày không nhằm chống lại Trung quốc.
Chuyến thăm của Tổng thống Ấn Độ tới Trung Quốc đã tạo điều kiệncải thiện hơn nữa quan hệ hai nước, hai bên đã thừa nhận quên đi quá khứ đểhợp tác cùng có lợi trong lĩnh vực kinh tế, chính trị Tổng thống Narayananđã khẳng định Trung Quốc và Ấn Độ không phải là mối đe dọa của nhau,nhân dân hai nước tiếp tục tăng cường hiểu biết và tin tưởng lẫn nhau, pháttriển quan hệ hữu nghị, giữa vững vai trò tích cực hơn trong đóng góp cho sựphát triển tiến bộ nhân loại
1.3.3 Quan hệ Trung - Ấn 2000- nay.
Với Tổng thống Ấn Độ KR Narayanan chuyến thăm của Trung Quốc năm
2000 đã đánh dấu việc dần dần tái tham gia của ngoại giao Ấn Độ và TrungQuốc Trong một bối rối lớn đối với Trung Quốc, 17 Karmapa , Urgyen TrinleyDorje , người đã được công bố bởi Trung Quốc, thực hiện một lối thoát đáng kể
từ Tây Tạng đến Tu viện Rumtek ở Sikkim Các quan chức Trung Quốc đang ởtrong một tình thế khó khăn về vấn đề này như bất kỳ phản đối Ấn Độ về vấnđề này sẽ có nghĩa là một sự chứng thực rõ ràng về quản trị của Sikkim, màTrung Quốc vẫn chưa được công nhận của Ấn Độ Năm 2002, Thủ tướngTrung Quốc Chu Dung Cơ đáp lại bằng cách truy cập Ấn Độ, tập trung vàocác vấn đề kinh tế 2003 mở ra một cải tiến đáng kể trong quan hệ Trung-ẤnĐộ sau Thủ tướng Ấn Độ Atal Bihari Vajpayee's mốc tháng 6 năm 2003 đếnthăm Trung Quốc Trung Quốc chính thức công nhận chủ quyền của Ấn Độtrong Sikkim như hai quốc gia di chuyển theo hướng giải quyết tranh chấpbiên giới của họ
Năm 2004 cũng chứng kiến sự cải thiện dần dần trong khu vực quốc tếkhi hai nước đã đề xuất mở ra Nathula và Jelepla Passes ở Sikkim đó sẽ là
Trang 18đôi bên cùng có lợi cho cả hai nước Năm 2004 là một mốc quan trọng trongthương mại song phương giữa Trung Quốc và Ấn Độ, vượt ngưỡng 10 tỷUSD cho lần đầu tiên Vào tháng Tư năm 2005, Thủ tướng Trung Quốc ÔnGia Bảo đã đến thăm Bangalore để thúc đẩy tăng cường hợp tác giữa TrungQuốc và Ấn Độ trong các ngành công nghiệp công nghệ cao Trong một bàiphát biểu, Wen cho biết: "Hợp tác là giống như hai ngôi chùa (chùa), mộttrong những phần cứng và phần mềm một Kết hợp, chúng ta có thể lấy vị trílãnh đạo trên thế giới." Wen nói rằng thế kỷ 21 sẽ là "thế kỷ châu Á củangành công nghiệp CNTT." Chuyến thăm cấp cao cũng đã được dự kiến sẽsản xuất một số thỏa thuận để làm sâu sắc thêm quan hệ chính trị, văn hóa vàkinh tế giữa hai quốc gia Về vấn đề của Ấn Độ đạt được một ghế thườngtrực tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc , trong chuyến thăm của ông ÔnGia Bảo dường như ban đầu để hỗ trợ các ý tưởng, nhưng đã trở lại vị trítrung lập về vấn đề này do thời gian ông trở về Trung Quốc Trong Hiệp hộiNam Á hợp tác khu vực (SAARC) Hội nghị thượng đỉnh (2005) Trung Quốcđã được cấp một vị trí quan sát.Trong khi các nước khác trong khu vực sẵnsàng xem xét Trung Quốc trở thành thành viên thường trực trong SAARC,Ấn Độ có vẻ miễn cưỡng.
Ngày 6 tháng 7 năm 2006, Trung Quốc và Ấn Độ mở lại Nathula , mộttuyến đường thương mại cổ xưa mà là một phần của con đường tơlụa Nathula là đường đi qua dãy Himalaya và nó đã được đóng cửa 44 nămtrước năm 2006 khi chiến tranh Trung-Ấn Độ nổ ra vào năm 1962 Thỏathuận ban đầu cho mở lại các tuyến đường thương mại đã đạt được trongnăm 2003, và một thỏa thuận cuối cùng được chính thức hóa vào ngày 18tháng 6 năm 2006 Các quan chức nói rằng việc tái mở cửa thương mại biêngiới sẽ giúp giảm bớt sự cô lập kinh tế của khu vực Trong tháng 11 năm
2006, Trung Quốc và Ấn Độ đã có một tranh cãi bằng lời trong tuyên bốArunachal Pradesh ở Đông Bắc Ấn Độ Ấn Độ tuyên bố rằng Trung Quốc đã
Trang 19chiếm 38.000 km vuông lãnh thổ của mình trong Kashmir , trong khi TrungQuốc tuyên bố toàn bộ bang Arunachal Pradesh là của mình Trong thángnăm 2007, Trung Quốc bị từ chối đơn xin visa từ một dịch vụ hành chính ẤnĐộ viên ở Arunachal Pradesh Theo Trung Quốc, kể từ Arunachal Pradesh làmột lãnh thổ của Trung Quốc, ông sẽ không cần thị thực đến thăm đất nướccủa mình Sau đó vào tháng 12 năm 2007, Trung Quốc dường như đã đảongược chính sách của mình bằng cách cấp thị thực Marpe Sora Trong tháng
1 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ Manmohan Singh đến thăm Trung Quốcvà gặp gỡ với Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và Thủ tướng Ôn Gia Bảo và đã có cáccuộc thảo luận song phương về thương mại, quốc phòng, quân sự, và các vấnđề khác
Tháng Mười năm 2009, Ngân hàng Phát triển Châu Á chính thức thừanhận Arunachal Pradesh là một phần của Ấn Độ, đã được phê duyệt mộtkhoản vay để Ấn Độ đưa ra một dự án phát triển ở đó Trước đó TrungQuốc đã thực hiện áp lực lên các ngân hàng ngừng cho vay, tuy nhiên ẤnĐộ đã thành công trong việc đảm bảo khoản vay với sự giúp đỡ của Hoa Kỳvà Nhật Bản
1.3.4 Những vùng lãnh thổ có tranh chấp và lập trường của mỗi bên
Mối quan hệ giữa Ấn Độ và Trung Quốc đều bị chi phối bởi vấn đề biêngiới vẫn chưa giải quyết từ hơn 50 năm nay Trung Quốc và Ấn Độ giápnhau trên 3 550 cây số, được phân cách bởi dãy núi Himalaya hiểm trở vàvùng cao nguyên Tây Tạng Trong nhiều thế kỷ, Tây Tạng là vùng đệm giữahai nước Sau khi Trung Quốc chiếm Tây Tạng năm 1950, hai vùng đệmhiện nay là hai nước Nepal vàBhutan, nằm ở phía nam dãy Himalaya Bakhu vực ngày nay vẫn là điểm nóng của sự xung đột giữa Ấn Độ và TrungQuốc: Aksai Chin ở tụ điểm của biên giới ba nước Pakistan, Ấn Độ và TrungQuốc, Arunachal Pradesh ở sát biên giới Đông Bắc của Ấn Độ và Kashmir,ở Tây Bắc Ấn Độ
Trang 20Năm 1904, Anh gửi một lượng lớn quân đội để chiếm Lhasa, buộc TâyTạng phải mởi cửa biên giới Hiệp ước 1906 với Trung Hoa lập lại các điềukiện biến Tây Tạng thành xứ bảo hộ thuộc về Đế Quốc Anh
Sau năm 1907, một hiệp ước giữa Đế quốc Anh, Trung Quốc và Ngacông nhận quyền của Trung Hoa ở Tây Tạng Trung Hoa thiết lập quyền lựcđầu tiên vào năm 1910 Mặc dù vậy quân Trung Hoa phải rút quân về nướcđể chiến đấu Năm 1913, Mông Cổ và Tây Tạng ký hiệp ước và ra ‘’ tuyênbố chung’’ công nhận lẫn nhau và độc lập với Trung Hoa
Tại hội nghị Simla năm 1913-1914, giữa Ấn Độ, Trung Quốc và TâyTạng , một hiệp ước đã được kí kết giữa đại diện Dalai Lamava và Thốngđốc Anh Henry McMahon ấn định biên giới giữa Ấn Độ và Tây Tạng theomột đường ranh giới mệnh danh là ‘’ đường McMahon’’ nhằm nới rộngvùng kiểm soát của Anh và tạo ra một số vùng đệm Các đại diên Anh vàTây Tạng tại hội nghị thông qua đường ranh giới này nhưng Trung Quốc từchối ký hiệp định vì khẳng định tây tạng thuộc chủ quyền của mình vàđường McMahon vô giá trị
Năm 1950, thấy Trung Quốc sửa soạn chiếm Tây Tạng, Ấn Độ đơnphương ấn định biên giới theo đường McMahon nhưng Trung Quốc phảnđối Trong hơn 10 năm sau đó, vấn đề lắng dịu nhờ không khí hòa hoãn giữahai nước, nhưng bùng lên trở lại với cuộc chiến tranh biên giới Ấn- Trung
Trang 21năm 1962 Trung Quốc kéo quân sang chiếm đa số khu vực này nhưng saukhi tuyên bố chiến thắng, rút trở lại sau đường McMahon.
1.3.4.2 Aksai Chin
Aksai Chin là một trong hai khu vực biên giới tranh chấp lớn giữa ẤnĐộ và Trung Quốc Ấn Độ tuyên bố Aksai Chin như là một phần cực đôngcủa nhà nước Jammu và Kashmir Đường phân cách các khu vực của Ấn Độquản lý Jammu và Kashmir từ Aksai Chin được gọi là Đường Kiểm soátthực tế (LAC) Aksai Chin có diện tích khoảng 37.244 km vuông (14.380
sq ) Khu vực này phần lớn là một độ cao lớn sa mạc với một điểm thấp(trên sông Karakash ) vào khoảng 14.000 feet (4.300 m) trên mực nướcbiển Ở phía tây nam, núi lên đến 22.500 feet (6.900 m) mở rộng về phíađông nam
Một trong những điều ước quốc tế đầu tiên về ranh giới trong lĩnh vựcphương Tây đã được ban hành năm 1842 Các Sikh Liên bang của khu vực ở Ấn Độ đã sáp nhập Ladakh vào tình trạng Jammu năm 1834 Năm 1841,họ xâm chiếm Tây Tạng với một đội quân Lực lượng Trung Quốc đã đánhbại quân đội Sikh và lần lượt bước vào Ladakh và bao vây Leh Sau khiđược kiểm tra bởi các lực lượng Sikh, người Trung Quốc và người Sikh đãký một hiệp ước vào tháng Chín năm 1842, trong đó quy định không viphạm hoặc can thiệp vào biên giới khác của đất nước thất bại của ngườiSikh năm 1846 dẫn đến chuyển giao chủ quyền đối với Ladakh và Anh đã cốgắng để đáp ứng với các quan chức Trung Quốc để thảo luận về biên giới,tuynhiên, cả hai bên đều có vẻ hài lòng về đường biên giới truyền thống đã đượccông nhận và được xác định bởi các yếu tố tự nhiên Hiện nay Aksai Chinthuộc quyền quản lý của Trung Quốc nhưng Ấn Độ coi như thuộc về mìnhvà đòi lại với lý do ngày xưa Aksai Chin thuộc về vương quốc Ladakhnhưng được sát nhập vào Ấn Độ thuộc đế quốc Anh khi Anh ở Tây Tạng kíhiệp ước năm 1904, ấn định ranh giới giữa Tây Tạng và Ấn Độ theo đường
Trang 22McMahon Trung Quốc lúc ấy không công nhận Tây Tạng là nước độc lậpnên cũng không công nhận đường McMahon do Anh ấn định Trung Quốcnhất định giữa quyền kiểm soát khu vực này.
Hiện nay tranh chấp giữa Trung Quốc và Aksai Chin đang căng thẳngvới lập trường của mỗi bên và không có dấu hiệu hạ nhiệt quốc gia hồi giáobác bỏ thông tin nhượng lại lãnh thổ tại Ladakh cho Bắc Kinh Động tháidiễn ra trong bối cảnh Ấn Độ và Trung Quốc tiếp tục căng thẳng do tranhchấp dai dẳng về vùng Aksai Chin đang đang do Bắc Kinh kiểm soát và bangArunachal Pradesh thuộc sự quản lý của New Delhi
Ấn Độ tuyên bố Aksai Chin là một phần của Ladakh và cáo buộc TrungQuốc lợi dụng việc kiểm soát vùng này để tiếp tục lấn vào Ladakh, Trongkhi Bắc Kinh cũng tuyên bố chủ quyền đối với Arunachal Pradesh và gọibang này bằng tên Nam Tây Tạng thuộc Khu tự trị Tây Tạng
Một diễn biến có liên quan cho hay tối ngày 5/5 cả New Delhi và BắcKinh đồng thời rút quân ở khu vực Ladakh Theo đó, binh sĩ Ấn Độ đã rút lui
1 km từ vị trí họ đóng ở Ladakh trong khi lính Trung Quốc rút khỏi vị trí màhọ dựng lán trại trước đó
Ngày 21/4, Ấn Độ cáo buộc 2 trực thăng quân sự của Trung Quốc đãxâm phạm không phận gần Chumar thuộc khu vực Ladakh, nằm gần giớituyến LAC không chính thức giữa 2 nước và đang do New Delhi kiểm soát.Hai máy bay Trung Quốc lượn lờ một lúc rồi thả xuống một số hộp thựcphẩm, thuốc lá và giấy tờ để “đánh dấu hiện diện” trước khi trở về
Hồi tháng 9/2012, máy bay trực thăng của Trung Quốc từng bay quakhông phận Chumar và cho quân đổ bộ lên mặt đất để phá hủy boong-kecùng nhiều lán trại cũ của quân đội Ấn Độ trước khi trở lui
1.3.4.3 Arunachal Pradesh
Một trong những tranh chấp căng thẳng của hai nước đó chính làArunachal Pradesh và kéo dài hơn nữa thể kỷ tranh chấp khi cả hai đều tuyên
Trang 23bố là thuộc chủ quyền của mình, tình hình tranh chấp hiện nay kéo theo đó lànhững xung đột vũ trang quân sự Tình hình căng thẳng gia tăng hiện naykéo theo mối nguy cơ ảnh hưởng đến quan hệ của hai nước Trung Quốckhông công nhận bang Arunachal Pradesh và tuyến McMahon Trung Quốcxem toàn bộ lãnh thổ Arunachal Pradesh là lãnh thổ Trung Quốc bị Ấn Độchiếm đóng Trung Quốc cũng đòi lại khu vực rộng lớn và xem ArunachalPradesh là một phần thuộc khu tự trị Tây Tạng.
Ấn Độ không cộng nhận tuyên bố chủ quyền này và xem bang này làmột phần không thể tách rời quốc gia Và kiên quyết bảo vệ đến cùng
1.3.4.4 Kashimr
Sau khi Pakistan tách khỏi Ấn Độ thành quốc gia độc lập tháng 8 năm
1947 theo kế hoạch Maobettơn của Anh, từ đó Pakistan tìm cách thôntính tiểu vương quốc Jammu và Kashmir (nơi có 70% dân số theo đạo Hồi),phế truấtMaharaja của Jammu và Kashmir Hari Singh
Kashimr là vùng đất tranh chấp giữa Ấn Độ và Pakistan Lãnh thổKashimr trở thành một điểm nóng khi Ấn Độ và Pakistan Theo luật chia cắtlãnh thổ trong luật độc lập Ấn Độ năm 1947, Kashmir được tự do lựa chọnhoặc sát nhập vào lãnh thổ Ấn Độ hoặc vào lãnh thổ Pakistan
Sau khi tiến hành các hoạt động xâm nhập, lợi dụng tôn giáo xúi giụcnhững người theo đạo Hồi nổi dậy chống chính quyền, ngày 20 tháng 10năm 1947 Pakistan đưa quân đánh chiếm Jammu và Kashmir Maharaja củaJammu và Kashmir Hari Singh chạy sang Delhi (Ấn Độ) yêu cầu giúp đỡ vàký hiệp ước xác nhập Kashmir vào Ấn Độ (20 - 10 - 1947) Trên cơ sởđó, Ấn Độ cho quân nhảy dù xuống Kashmir, nhanh chóng dành quyền kiểmsoát, đẩy lùi quân Pakistan
Tháng 12 năm 1947 quân đội Pakistan cùng với lực lượng nổi dậy HồiGiáo tiếp tục tấn công vào khu vực tây nam Kashmir
Trang 24Tới tháng 5 năm 1948 mở rộng chiến sự lên phía bắc và tâybắc Kashmir.Nhờ vai trò chung gian hòa giải của Liên Hợp Quốc, ngày 31tháng 12 năm 1948 hai bên đã đạt được thỏa thuận ngừng bắn, có hiệu lực từ