DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮTBVMT : Bảo vệ môi trường CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa DNNVV : Doanh nghiệp nhỏ và vừa FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài GDP : Tổng sản phẩm quốc nội G
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LÊ THU TRANG
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Chí Thiện
THÁI NGUYÊN, 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi; các thông tin, số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Những kết quả nghiên cứu của Luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nghiên cứu nào
Tác giả luận văn
Lê Thu Trang
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành và biết ơn sâu sắc đến
PGS.TS.Trần Chí Thiện - Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế và Quản trị
Kinh doanh - ĐH Thái Nguyên, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này; các thầy, cô giáo Phòng Quản lý đào tạo sau đại học; các thầy, cô giáo bộ môn đã truyền đạt cho tôi những kiến thức khoa học quý báu
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp tại Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên; các cán bộ đang công tác tại Văn phòng UBND tỉnh Thái Nguyên,
Sở Công Thương, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện Luận văn này
Nhân dịp này tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành Luận văn này
Tác giả luận văn
Lê Thu Trang
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Đóng góp của luận văn 3
5 Kết cấu của luận văn 3
Chương 1: CỞ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4
1.1.2 Nội dung cơ bản của phát triển công nghiệp bền vững 13
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển công nghiệp bền vững 18
1.2 Cơ sở thực tiễn 23
1.2.1 Những kinh nghiệm của các nước trên thế giới về phát triển bền vững và bài học rút ra cho Việt Nam 23
1.2.2 Những kinh nghiệm của các địa phương về phát triển công nghiệp bền vững và bài học rút ra cho tỉnh Thái Nguyên 28
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
2.1 Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết 38
2.2 Phương pháp nghiên cứu 38
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 38
2.2.2 Phương pháp xử lý thông tin 40
2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 41
Trang 52.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 42
2.3.1 Chỉ tiêu phát triển công nghiệp bền vững về kinh tế 42
2.3.2 Chỉ tiêu phát triển công nghiệp bền vững về xã hội 43
2.3.3 Chỉ tiêu phát triển công nghiệp bền vững về môi trường 43
Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN 45
3.1 Các nhân tố tác động đến phát triển công nghiệp bền vững trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 45
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 45
3.1.2 Dân số và nguồn nhân lực 48
3.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 50
3.2 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 59
3.3 Thực trạng phát triển công nghiệp bền vững tỉnh Thái Nguyên 62
3.3.1 Thực trạng phát triển công nghiệp bền vững về kinh tế 62
3.3.2 Thực trạng phát triển công nghiệp bền vững về xã hội 78
3.3.3 Thực trạng phát triển công nghiệp bền vững về môi trường 83
3.4 Những mặt còn hạn chế và nguyên nhân 94
3.4.1 Những mặt còn hạn chế 94
3.4.2 Nguyên nhân của những tồn tại 96
Chương 4: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG Ở TỈNH THÁI NGUYÊN 99
4.1 Đánh giá tổng quát về phát triển công nghiệp bền vững ở tỉnh Thái Nguyên 99
4.1.1 Những thuận lợi và khó khăn của tỉnh Thái Nguyên trong phát triển công nghiệp 99
4.1.2 Cơ hội và thách thức trong phát triển công nghiệp bền vững của tỉnh Thái Nguyên 100
4.2 Quan điểm và mục tiêu phát triển công nghiệp bền vững của tỉnh Thái Nguyên 106
4.2.1 Quan điểm 106
4.2.2 Mục tiêu 106
4.3 Một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển công nghiệp bền vững trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 112
Trang 64.3.1 Giải pháp chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp 112
4.3.2 Giải pháp về vốn 112
4.3.3 Giải pháp phát triển vùng nguyên liệu 113
4.3.4 Giải pháp về cơ chế chính sách 113
4.3.5 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực 116
4.3.6 Giải pháp bảo vệ môi trường 117
4.3.7 Chính sách phát triển các khu, cụm, điểm công nghiệp 117
4.3.8 Giải pháp về tổ chức quản lý 118
4.4 Một số kiến nghị 118
4.4.1 Đối với Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương 118
4.4.2 Đối với tỉnh 119
4.4.3 Đối với doanh nghiệp 120
KẾT LUẬN 121
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 123
PHỤ LỤC 128
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BVMT : Bảo vệ môi trường
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
DNNVV : Doanh nghiệp nhỏ và vừa
FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
GO : Giá trị sản xuất
GTSXCN : Giá trị sản xuất công nghiệp
KHCN : Khoa học công nghệ
KPCĐ : Kinh phí công đoàn
KTXH : Kinh tế xã hội
PTBV : Phát triển bền vững
PTCBBV : Phát triển công nghiệp bền vững
QCCP : Quy chuẩn cho phép
SXKD : Sản xuất kinh doanh
VA : Giá trị gia tăng
VLXD : Vật liệu xây dựng
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Cơ cấu lao động của các khu vực kinh tế giai đoạn 2008-2012 49
Bảng 3.2: Tỷ trọng dân số có trình độ chuyên môn, kỹ thuật năm 2012 49
Bảng 3.3: Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2008-2012 51
Bảng 3.4: Vốn đầu tư phát triển giai đoạn 2001-2012 53
Bảng 3.5: Giá trị xuất khẩu chia theo mặt hàng giai đoạn 2008 - 2012 58
Bảng 3.6: Giá trị nhập khẩu chia theo mặt hàng giai đoạn 2008 - 2012 59
Bảng 3.7: Số lượng các cơ sở sản xuất công nghiệp giai đoạn 2008-2012 63
Bảng 3.8: Vốn sản xuất kinh doanh tại thời điểm 31/12 hàng năm của doanh nghiệp công nghiệp giai đoạn 2008-2012 64
Bảng 3.9: Giá trị còn lại tài sản cố định của các doanh nghiệp công nghiệp giai đoạn 2008 - 2012 66
Bảng 3.10: Doanh thu thuần của các doanh nghiệp công nghiệp giai đoạn 2008 - 2012 67
Bảng 3.11: Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp công nghiệp giai đoạn 2008 – 2012 69
Bảng 3.12: Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp giai đoạn 2008-2012 71
Bảng 3.13: Tỷ lệ VA/GO ngành công nghiệp tỉnh Thái Nguyên và cả nước giai đoạn 2008 – 2012 73
Bảng 3.14 : Đóng góp của ngành công nghiệp vào cơ cấu GDP giai đoạn 2008-2012 74
Bảng 3.15: Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp theo ngành công nghiệp giai đoạn 2008-2012 76
Bảng 3.16: Lao động trong các cơ sở hoạt động công nghiệp giai đoạn 2008-2012 78
Bảng 3.17: Dự báo cầu lao động trong ngành công nghiệp tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020 79
Bảng 3.18: Tỷ lệ lao động trong ngành công nghiệp phân theo trình độ chuyên môn 80
Bảng 3.19: Thu nhập của lao động công nghiệp giai đoạn 2008-2012 81
Bảng 3.20: Thuế và các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước của các doanh nghiệp công nghiệp giai đoạn 2008-2012 82
Bảng 3.21: Tỷ lệ đóng góp BHXH, BHYT, KPCĐ của chủ doanh nghiệp so với tổng quỹ lương 83
Bảng 4.1: Ma trận phân tích SWOT về PTCNBV ở tỉnh Thái Nguyên 104
Bảng 4.2: Dự báo sản lượng khoáng sản khai thác đến năm 2020 107
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1: Chỉ số PCI tỉnh Thái Nguyên năm 2011-2012 57
Hình 3.2: Cơ cấu vốn của doanh nghiệp công nghiệp phân theo ngành hoạt động 65
Hình 3.3: Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp theo thành phần kinh tế giai đoạn 2008-2012 75
Hình 3.4: Diễn biến hàm lượng BOD trung bình năm trên sông Cầu 88
Hình 3.5: Diễn biến hàm lượng TSS trung bình năm trên sông Cầu 88
Hình 3.6: Diễn biến hàm lượng BOD trung bình năm trên sông Công 89
Hình 3.7: Diễn biến hàm lượng TSS trung bình năm trên sông Công 89
Hình 3.8: Diễn biến hàm lượng BOD trung bình tại các phụ lưu của sông Cầu 90
Hình 3.9: Diễn biến hàm lượng BOD trung bình năm tại các phụ lưu chính của sông Công 90
Hình 3.10: Hàm lượng As phát hiện lớn nhất tại các phụ lưu chính của sông Công 91
Hình 3.11: Ô nhiễm bụi lơ lửng tại một số khu vực trong đô thị trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 93
Hình 3.12: Ô nhiễm bụi lơ lửng tại một số khu vực khai thác khoáng sản và sản xuất VLXD trên địa bàn tỉnh 94
Hình 3.13: Tiếng ồn đo được lớn nhất tại một số khu vực trên địa bàn tỉnh 94
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển bền vững là nhu cầu tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người và đang là thách thức cho mọi quốc gia, nhất là trong điều kiện toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế Việc lựa chọn con đường, biện pháp và thể chế, chính sách bảo đảm PTBV luôn là mối quan tâm hàng đầu của mọi quốc gia trong quá trình phát triển Đối với Việt Nam, để thực hiện mục tiêu PTBV đất nước và thực hiện cam kết quốc tế, ở cấp quốc gia, Chính phủ Việt Nam đã ban hành “Định hướng chiến lược Phát triển bền vững ở Việt Nam” (Chương trình nghị sự 21 của
Việt Nam) Bên cạnh đó, ở cấp địa phương, vấn đề PTBV cần được xem xét một cách có hệ thống và cụ thể hoá để có thể triển khai thực hiện, đặc biệt là trong công nghiệp - lĩnh vực có ảnh hưởng quyết định đến sự PTBV
Tỉnh Thái Nguyên là một trong 6 tỉnh đã được Bộ kế hoạch và Đầu tư chọn thí điểm xây dựng chương trình phát triển bền vững UBND tỉnh đã chỉ đạo xây
dựng “Định hướng phát triển bền vững tỉnh Thái Nguyên” (Chương trình Nghị sự
21 tỉnh Thái Nguyên) nhằm cụ thể hóa việc thực hiện định hướng chiến lược phát triển bền vững quốc gia trên địa bàn tỉnh Là một tỉnh thuộc vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ, là trung tâm chính trị, kinh tế của khu Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi phía Bắc nói chung, là cửa ngõ giao lưu KT-XH giữa vùng trung
du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ, Thái Nguyên có nhiều lợi thế so sánh về
vị trí địa lý, khí hậu thuận lợi, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên rừng đa dạng phong phú, nguồn nhân lực dồi dào, chất lượng cao để phát triển một nền kinh tế đa dạng theo hướng CNH-HĐH Hơn nữa, công nghiệp Thái Nguyên được hình thành rất sớm, từ những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ XX với sự ra đời của hai khu công nghiệp nặng là Khu Gang Thép Thái Nguyên (đầu thập kỷ 60) và Khu Cơ khí
Gò Đầm (đầu thập kỷ 70) Trải qua quá trình hơn 50 năm hình thành và phát triển, công nghiệp Thái Nguyên đã có lúc thăng trầm do hậu quả của chiến tranh, do sự thay đổi cơ chế quản lý… Mặc dù vậy, khi tái lập tỉnh Thái Nguyên (năm 1997), nhất là trong những năm gần đây, nhờ có những chủ trương, chính sách phát triển KT-XH, phát triển công nghiệp đúng đắn nên bước đầu đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ Tính đến 31/12/2012, trên địa bàn tỉnh có 11.557 cơ sở sản xuất công nghiệp (gấp 2 lần năm 1997) thu hút 72,9 nghìn lao động (tăng 77,8% so với năm 1997); có 7 khu công nghiệp và 28 cụm công nghiệp đã được quy hoạch; giá trị sản xuất công nghiệp năm 2012 (theo giá so sánh 1994) đạt 14.564,5 tỷ đồng gấp 7,8 lần so với năm 1997; tốc độ tăng trưởng công nghiệp 5 năm gần đây (2008-2012)
Trang 11bình quân đạt 12,4%/năm (cao hơn mức tăng 10,5% của công nghiệp cả nước); tỷ trọng công nghiệp trong GDP của toàn tỉnh năm 2012 là 34,4% (cao hơn mức 33% của cả nước) [19] Đến nay, công nghiệp Thái Nguyên đã có một cơ cấu tương đối đầy đủ với sự có mặt của hầu hết các ngành công nghiệp như điện, luyện kim, cơ khí, khoáng sản, chế biến nông - lâm sản, sản xuất vật liệu xây dựng, hóa dược, điện
Do vậy, để kinh tế công nghiệp của tỉnh phát triển một cách toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với thị trường nhưng vẫn đảm bảo được sự hài hòa bền vững trong phát triển cả khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường là một vấn đề cần được nghiên cứu một cách cơ bản cả về lý luận và thực tiễn để có những căn cứ khoa học giúp cho ngành công nghiệp tỉnh Thái Nguyên phát triển tương xứng với tiềm năng; góp phần đưa công nghiệp trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh,
đưa Thái Nguyên “trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại trước năm
2020" Với ý nghĩa đó tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Phát triển công nghiệp
bền vững trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 12- Phân tích, đánh giá thực trạng PTCNBV trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên;
- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp cơ bản để về PTCNBV trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu thực trạng PTCNBV trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên;
- Quá trình PTCNBV, bao gồm một số vấn đề liên quan như: quy hoạch, đầu
tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, thu hút đầu tư, hiệu quả KT-XH và tác động đến môi trường của phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Thực trạng PTCNBV trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên; đề xuất
một số giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy công nghiệp tỉnh Thái Nguyên PTBV trong
thời gian tới
- Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng PTCNBV
trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
- Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu PTCNBV tại tỉnh Thái Nguyên
trong giai đoạn 5 năm (2008 - 2012) Phần định hướng và giải pháp được luận chứng đến năm 2015 và hướng tới năm 2020
3.3 Khách thể của nghiên cứu
Các doanh nghiệp hoạt động công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên bao gồm cả doanh nghiệp công nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp công nghiệp ngoài Nhà nước và doanh nghiệp công nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
4 Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận về PTBV, PTCNBV; mối quan hệ giữa PTBV và tăng trưởng kinh tế;
- Đánh giá thực trạng PTCNBV trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên; đề xuất phương hướng và một số giải pháp cơ bản có tính khoa học để đẩy mạnh công nghiệp PTBV trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học về phát triển công nghiệp bền vững
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng phát triển công nghiệp bền vững trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Trang 13Chương 4: Định hướng và giải pháp thúc đẩy phát triển công nghiệp bền vững
ở tỉnh Thái Nguyên
Chương 1
CỞ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm và đặc trưng của sản xuất công nghiệp
Công nghiệp theo nghĩa rộng của kinh tế học là hoạt động kinh tế có quy mô lớn, sản phẩm (có thể là phi vật thể) tạo ra trở thành hàng hóa [47] Theo nghĩa này, những hoạt động kinh tế chuyên sâu khi đạt được một quy mô nhất định sẽ trở thành một ngành công nghiệp, ngành kinh tế như: công nghiệp phần mềm máy tính, công nghiệp điện ảnh, công nghiệp giải trí, công nghiệp nghiệp thời trang, công nghiệp báo chí, v.v…
Theo nghĩa hẹp, công nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm được "chế tạo, chế biến" cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo [47] Đây là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, được sự hỗ trợ, thúc đẩy mạnh mẽ của các tiến bộ công nghệ, khoa học và kỹ thuật Ở một số quốc gia, trong đó có Việt Nam, công nghiệp bao gồm: Công nghiệp khai khoáng; Công nghiệp chế biến, chế tạo; Sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước nóng; Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý nước thải, rác thải
Sản xuất công nghiệp có những đặc điểm cơ bản sau đây:
Một là, sản xuất công nghiệp có khả năng thực hiện tập trung hoá, chuyên môn hóa và hợp tác hoá cao
Tập trung hoá sản xuất giúp cho công nghiệp có điều kiện phát huy hiệu quả kinh tế theo quy mô, nhờ đó giảm được chi phí cố định trên một đơn vị sản phẩm Chuyên môn hoá và việc mở rộng quan hệ hợp tác trong công nghiệp nhằm phát huy mạnh mẽ hơn hiệu quả của quá trình sản xuất, nhờ đó năng suất lao động ngày càng tăng Trong xu thế toàn cầu hiện nay, nhờ khả năng chuyên môn hóa cao của công nghiệp mà mỗi quốc gia có thể lựa chọn một số loại sản phẩm hay một số công đoạn nhất định trong chuỗi sản xuất toàn cầu dựa vào lợi thế so sánh của mỗi nước
Hai là, công nghiệp có mức tiêu thụ các nguồn lực đầu vào lớn
Tùy theo trình độ công nghệ, đặc điểm của mỗi ngành mà mức độ sử dụng các nguồn lực đầu vào của các ngành công nghiệp là rất khác nhau Nhưng với đặc
Trang 14điểm là các ngành sản xuất có mức độ tập trung hóa cao nên hầu hết các ngành công nghiệp đều có nhu cầu tiêu thụ một lượng đầu vào rất lớn Tuy nhiên, khi quy hoạch phát triển các ngành công nghiệp cần tính đến mức độ dồi dào của các yếu tố nguồn lực ở mỗi vùng, miền
Ba là, công nghiệp có khả năng đổi mới công nghệ tương đối nhanh
Do khả năng đổi mới công nghệ khá nhanh của công nghiệp, nên phát triển bền vững công nghiệp cần tính đến các điều kiện về giao thông, liên lạc để đáp ứng yêu cầu lưu thông hàng hóa Bên cạnh đó, vòng đời sản phẩm của công nghiệp ngắn
và nhu cầu đối với công nghiệp rất đa dạng, do đó, mức độ cạnh tranh của công nghiệp rất mạnh mẽ, kể cả cạnh tranh trong nội bộ của mỗi ngành công nghiệp
Do vậy, đổi mới công nghệ trong các ngành công nghiệp trở thành nhu cầu thiết yếu và thường xuyên Nếu đáp ứng được nhu cầu này, các ngành công nghiệp không chỉ có khả năng cạnh tranh ngày càng cao mà còn có khả năng giảm thiểu các tác động tiêu cực đối với môi trường
Bốn là, công nghiệp có khả năng phân bố trên mọi vùng lãnh thổ
Phát triển các ngành công nghiệp ít phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, nên địa bàn phân bố công nghiệp có thể thực hiện trên mọi vùng, không gian, lãnh thổ Đây
là điều kiện thuận lợi để quy hoạch phát công nghiệp, đồng thời, có thể giải bài toán phát triển công nghiệp gắn với yêu cầu về hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường
Việc quy hoạch không gian, lãnh thổ trong sản xuất công nghiệp nếu chỉ tập trung vào các trung tâm đô thị, tất yếu sẽ không tận dụng được không gian một cách hiệu quả nhằm giải quyết nhu cầu đa dạng và lâu dài cho phát triển công nghiệp, trong khi lại làm gia tăng khoảng cách KT-XH trong phát triển vùng Mặt khác, sai lệch trong phân bố công nghiệp theo vùng có ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề ô nhiễm môi trường Những nơi tập trung công nghiệp và dân cư quá nhiều sẽ tạo ra áp lực rất lớn trong vấn đề giải quyết môi trường và hàng loạt vấn đề xã hội nảy sinh
Năm là, sản xuất công nghiệp đi liền với phát thải lớn
Kết quả của sản xuất công nghiệp luôn mang tính hai mặt: Một mặt, đó là tạo
ra các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng; Mặt khác, nó tạo ra phát thải rất lớn, có tác động bất lợi đối với PTBV
Quy mô và tính chất nguy hại của các loại rác thải phụ thuộc vào:
- Trình độ tập trung hoá của sản xuất công nghiệp Khi công nghiệp có quy
mô sản xuất càng lớn thì quy mô của phát thải cũng càng lớn
- Đặc điểm của các ngành công nghiệp chuyên môn hóa trong việc khai thác,
sử dụng và chế biến các loại tài nguyên thiên nhiên Những ngành sản xuất công nghiệp thiên về sử dụng nhiều tài nguyên thiên nhiên, nhất là những ngành công
Trang 15nghiệp sản xuất các sản phẩm thô xuất khẩu sẽ có quy mô phát thải lớn hơn các ngành công nghiệp có độ chế biến sâu hơn Tính chất gây hại cho môi trường cũng khác nhau, điều này tùy thuộc vào các loại tài nguyên thiên nhiên mà ngành công nghiệp đó sử dụng
- Trình độ công nghệ trong sản xuất công nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến việc tiêu thụ nguyên, nhiên vật liệu năng lượng, cũng như khả năng phát thải của sản xuất công nghiệp Nếu khai thác và sử dụng khối lượng tài nguyên thiên nhiên lớn trong khi công nghệ khai thác và chế biến lạc hậu sẽ dẫn đến hậu quả kép: vừa tiêu hao tài nguyên thiên nhiên trong một đơn vị sản phẩm lớn nên làm tăng chi phí sản xuất, vừa gây lãng phí tài nguyên thiên nhiên và phát thải lớn
- Quá trình tiêu dùng các sản phẩm công nghiệp cũng tạo ra một lượng chất thải lớn về bao bì, về hoá chất, nhiên liệu và các loại phế liệu khi các sản phẩm công nghiệp (máy móc, thiết bị và các tiện nghi, đồ dùng gia đình ) bị loại bỏ khi
đã hết thời hạn sử dụng
- Năng lực xử lý các chất thải và kiểm soát môi trường của các cơ sở sản xuất công nghiệp Nếu các cơ sở sản xuất công nghiệp không quan tâm đến xử lý các chất thải công nghiệp do chính mình là tác nhân gây ra, sẽ làm cho quy mô và tính nguy hại của rác thải ngày một lớn đối với môi trường, nhất là khi nó đã vượt qua giới hạn cho phép
Sáu là, sản xuất công nghiệp là nơi nảy sinh nhiều vấn đề trực tiếp liên quan đến kinh tế - xã hội - môi truờng; đến lợi ích kinh tế của nhiều bên: Chủ doanh nghiệp
- Người lao động - Dân địa phương sống gần nơi doanh nghiệp đóng - Nhà nuớc
Doanh nghiệp sản xuất công nghiệp vừa là đơn vị kinh tế, vừa là đơn vị xã hội tập trung một lực lượng lao động tương đối lớn (tuỳ theo quy mô doanh nghiệp), đồng thời, còn là nơi sử dụng tài nguyên thiên nhiên và tạo ra phát thải Mục tiêu tối
đa hoá lợi ích của chủ doanh nghiệp có thể gây ra cách nhìn nhận vấn đề và cách giải quyết phiến diện không đúng với trách nhiệm pháp lý của mình đối với người lao động (những vấn đề liên quan đến tiền lương và bảo hiểm xã hội, chế độ làm việc, điều kiện vệ sinh, sức khoẻ và an toàn lao động, chế độ nhà ở và các lợi ích chính đáng khác ); thiếu trách nhiệm xã hội trong vấn đề bảo vệ môi trường ảnh hưởng đến thu nhập và điều kiện sống của nhân dân địa phương, đến giữ gìn và bảo tồn các giá trị văn hoá, lịch sử của địa phương; thiếu trách nhiệm trong việc thực thi nghĩa vụ với Nhà nước Tất cả những vấn đề nêu trên đều gây ra sự tổn hại nghiêm trọng đến PTBV
1.1.1.2 Quan niệm chung về phát triển bền vững
Trang 16* Phát triển
“Phát triển” được định nghĩa khái quát trong Từ điển Oxford là: “Sự gia tăng dần của một sự vật theo hướng tiến bộ hơn, mạnh hơn ” (The gradual grow of sth
so that it becomes more advanced, stronger )[62]
Theo từ điển Tiếng Việt, “phát triển” được hiểu là quá trình vận động, tiến triển theo hướng tăng lên, ví dụ phát triển kinh tế, phát triển văn hóa, phát triển xã hội…[61]
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam thì “phát triển” là phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới Phát triển là một thuộc tính của vật chất Mọi sự vật và hiện tượng của hiện thực không tồn tại trong trạng thái khác nhau từ khi xuất hiện đến lúc tiêu vong, … nguồn gốc của sự phát triển là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập” [31]
Phát triển kinh tế là phạm trù kinh tế rộng lớn, trong khuôn khổ một định nghĩa hay một khái niệm không thể bao hàm được hết nội dung rộng lớn của nó Song nhất thiết khái niệm đó phải phản ánh được các nội dung cơ bản sau:
- Sự tăng lên về quy mô sản xuất, làm tăng thêm giá trị sản lượng của vật chất, dịch vụ và sự biến đổi về cơ cấu kinh tế, tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý, có khả năng khai thác các nguồn lực trong và ngoài nước
- Sự tác động của tăng trưởng kinh tế làm thay đổi cơ cấu xã hội, cải thiện đời sống dân cư
- Sự phát triển là quy luật tiến hóa, song nó chịu tác động của nhiều nhân tố, trong đó, nhân tố nội lực của nền kinh tế có ý nghĩa quyết định, còn nhân tố bên ngoài có vai trò quan trọng
Từ trước đến nay, có nhiều khái niệm, định nghĩa khác nhau về phát triển kinh tế nhưng chung nhất “phát triển kinh tế” được xem là tiến trình mà theo đó các nước tăng cường khả năng sản xuất các hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội Vì vậy, phát triển kinh tế là phương thức duy nhất giúp cho các dân tộc trên khắp thế giới sống tốt hơn, đặc biệt là các quốc gia có thu nhập thấp
và trung bình Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế, dù muốn hay không muốn, tất cả các quốc gia giàu hay nghèo đều phải đối mặt với những thách thức lớn
về môi trường và những vấn đề này lại luôn liên quan chặt chẽ đến các nỗ lực nhằm xóa đói, giảm nghèo và cải thiện mức sống
Việc sử dụng khái niệm “phát triển” thay thế “tăng trưởng kinh tế” từ lâu đã
là bằng chứng cho sự hạn chế của việc sử dụng các thông số đo lường như sử dụng chỉ tiêu GDP để đánh giá sự phồn vinh của một quốc gia Thực tiễn phát triển ngày
Trang 17nay cho thấy, khái niệm “phát triển” liên quan đến những vấn đề rộng lớn hơn, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống như thành tựu giáo dục, tình trạng dinh dưỡng, giá trị những quyền tự do cơ bản, đời sống tinh thần, bình đẳng giới, v.v… Sự chú trọng vào tính bền vững của phát triển đã đưa ra cái nhìn mới, cho rằng điều quan trọng là các nỗ lực của chính sách phải nhằm đạt được những thành tựu phát triển lâu dài trong tương lai Theo cách tiếp cận này, nhiều nỗ lực phát triển trong lịch sử chỉ mang lại những lợi ích trước mắt
Năm 1987, trong Báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) của Liên Hợp Quốc, khái niệm phát triển
bền vững chính thức được nêu ra: “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng
được những nhu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của thế hệ mai sau”
Tháng 6/1992, Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển
được tổ chức ở Rio de Janeiro (Brazil) đưa ra bản tuyên ngôn “Về Môi trường và
Phát triển” đã một lần nữa khẳng định: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn các nhu cầu hiện tại của con người, nhưng không gây tổn hại tới sự thỏa mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai” Hay nói cách khác, đó là sự phát
triển hài hòa cả về kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường ở các thế hệ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng sống của con người
Năm 2002, Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới và Phát triển bền vững được tổ chức ở Johannesburg (Cộng hòa Nam Phi), đã bổ sung và đưa ra khái niệm hoàn
chỉnh về phát triển bền vững như sau: “Phát triển bền vững là quá trình phát triển
có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển, đó là: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống con người trong hiện tại, nhưng không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”
Phát triển bền vững với khái niệm như trên được thể hiện ở những tiêu chí cơ bản: là tăng trưởng kinh tế cao và ổn định, thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ
và nâng cao chất lượng môi trường sống Phát triển bền vững là sự phát triển hài
Trang 18hòa cả về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường, trong đó sự phát triển kinh tế là nguồn gốc, động lực, sự phát triển xã hội là mục tiêu và sự phát triển môi trường là điều kiện của phát triển bền vững
Như vậy, phát triển bền vững gồm có 3 nội dung cơ bản sau:
Một là, phát triển bền vững về kinh tế: Là sự tiến bộ về mọi mặt của nền kinh
tế, thể hiện ở quá trình tăng trưởng kinh tế cao, ổn định và sự thay đổi về chất của nền kinh tế gắn với quá trình tăng năng suất lao động, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường theo hướng tiến bộ Mục tiêu của phát triển bền vững về kinh tế là: Đạt được sự tăng trưởng kinh tế cao, ổn định với cơ cấu kinh tế hợp lý, đáp ứng được yêu cầu nâng cao đời sống của nhân dân, tránh được
sự suy thoái hoặc đình trệ trong tương lai và không để lại gánh nặng nợ nần lớn cho các thế hệ mai sau
Hai là, phát triển bền vững về xã hội: Là quá trình phát triển đạt được kết quả
ngày càng cao trong việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, đảm bảo chất lượng chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, mọi người đều có cơ hội được học hành và có việc làm, giảm tình trạng đói nghèo, nâng cao trình độ văn minh về đời sống vật chất, tinh thần cho mọi thành viên trong xã hội, tạo được sự đồng thuận và tính tích cực xã hội ngày càng cao
Ba là, phát triển bền vững về môi trường: Là sự phát triển, trong đó các dạng
tài nguyên thiên nhiên phải được sử dụng một cách hợp lý, tiết kiệm Môi trường tự nhiên (không khí, đất, nước, cảnh quan…) và môi trường xã hội (dân số, chất lượng dân số, sức khỏe, môi trường lao động và học tập của con người…) nhìn chung không bị các hoạt động của con người làm ô nhiễm, suy thoái, tổn hại Các nguồn phế thải công nghiệp và sinh hoạt được xử lý, tái chế kịp thời, vệ sinh môi trường đảm bảo, con người được sống trong môi trường trong sạch
Cả ba nội dung trên đều cần được quan tâm, ưu tiên và có sự thay đổi theo từng thời kỳ, từng vùng lãnh thổ, từng nền văn hóa và từng hoàn cảnh KT-XH cụ thể Vì thế không thể đưa ra một khuôn mẫu chung nào đó về chương trình phát triển bền vững cho tất cả các nước, vùng lãnh thổ hay địa phương hay ngành, lĩnh vực nào đó, mà phải có sự vận dụng sáng tạo trong từng điều kiện cụ thể mới đạt được kết quả kỳ vọng
1.1.1.3 Các quan niệm về phát triển công nghiệp bền vững
Công nghiệp là ngành sản xuất vật chất đặc thù của nền kinh tế quốc dân, nó
có các loại hoạt động chủ yếu là khai thác và chế biến tài nguyên thiên nhiên Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân, công nghiệp có vai trò to lớn đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế
Trang 19Tuy nhiên, kết quả của sản xuất công nghiệp luôn mang tính hai mặt: Một mặt, đó là các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng của xã hội; Mặt khác, nó tạo ra một lượng rác thải rất lớn, có tác động bất lợi đối với môi trường Chính vì vậy, nghiên cứu để tìm ra con đường phát triển bền vững cho ngành công nghiệp là một yêu cầu hết sức cấp bách và quan trọng PTCNBV là khái niệm luôn được nhiều cá nhân và tổ chức quan tâm nghiên cứu
Tổ chức Phát triển Công nghiệp của Liên Hợp Quốc (UNIDO) trong nhiều năm đã cố gắng đưa ra cách giải thích làm rõ nghĩa hơn khái niệm này nhằm giúp
định hướng cho các hành động Định nghĩa đầu tiên về “Phát triển bền vững công
nghiệp” - Ecologically Sustainable Industrial Development (ESID) được đưa ra vào
những năm 80 cho rằng: “Phát triển bền vững công nghiệp là một cách tiếp cận đối
với phát triển công nghiệp, cho phép giải hòa giữa tăng dân số, tăng trưởng công nghiệp và bảo vệ môi trường”
Khái niệm này đề cập thẳng đến vấn đề cốt lõi nhất của phát triển công nghiệp là tăng trưởng công nghiệp, tăng dân số và bảo vệ môi trường Phát triển công nghiệp tất yếu sinh ra phát thải ô nhiễm, phát triển cũng đồng nghĩa với việc gây ô nhiễm môi trường, đó là hai nội dung không thể tách rời, hết sức mâu thuẫn nhưng luôn tồn tại trong bất kỳ sự phát triển nào Bên cạnh đó, công nghiệp góp phần giải quyết vấn đề dân số bằng cách thỏa mãn ngày càng cao các nhu cầu của
họ Song chính những nhu cầu thái quá về tiêu dùng buộc sản xuất công nghiệp phải tạo ra nhiều sản phẩm hơn và hệ quả là làm gia tăng quá trình khai thác tài nguyên
và tác động xấu tới môi trường là điều không thể tránh khỏi Như vậy, vấn đề đặt ra
là làm thế nào để đảm bảo hài hòa giữa các vấn đề hết sức mâu thuẫn nhưng lại hết sức thống nhất đó
Trong khái niệm trên, vẫn còn những vấn đề hết sức trừu tượng và khó hiểu đối với công nghiệp với tư cách là một phân ngành kinh tế, có những quan tâm và lợi ích riêng, cụ thể Hơn nữa, bảo vệ môi trường có nội dung rất rộng và đâu là những tác động môi trường đặc trưng của công nghiệp cần phải ưu tiên Những vấn
đề được đặt ra ngày càng nhiều trong tiến trình tiếp cận với bản chất của khái niệm
Khắc phục những nhược điểm trên, tại Hội nghị Copenhagen, tháng 10/1991 một khái niệm mới được đặt ra với những nội dung cụ thể hơn và bám sát hơn các khái niệm gốc Khái niệm “Phát triển bền vững công nghiệp” được UNIDO tiếp tục
phát triển là: “Những mô hình (pattern) công nghiệp hóa hướng vào các lợi ích về
kinh tế và xã hội của thế hệ hiện tại và các thế hệ sau mà không làm tổn hại tới quá trình sinh thái nền”
Trang 20Tại hội nghị này, đã có một bước tiến quan trọng trong việc làm rõ các nội dung của khái niệm trên Định nghĩa này đã mở hướng tiếp cận thông qua những
mô hình công nghiệp hóa có cân nhắc Đó là mô hình hướng vào các lợi ích kinh tế
và xã hội của thế hệ hiện tại và các thế hệ sau mà không để lại những hậu quả về môi trường sinh thái Ở đây, những lợi ích tương lai được nhấn mạnh song song với lợi ích trước mắt, một sự phát triển trong tổng hòa các lợi ích và tư duy cân bằng hơn Những vấn đề đặt ra ngày càng cụ thể hơn với công nghiệp như bảo vệ năng lực sinh thái; sử dụng hiệu quả các nguồn lực con người, nguyên vật liệu và năng lượng; công bằng trong chia sẻ các thành quả công nghiệp hóa và các gánh nặng về môi trường, xã hội
Đối với Việt Nam, trong các phân tích của Viện nghiên cứu chiến lược chính sách công nghiệp đã phác thảo 5 tiêu chí định hướng cho “Phát triển bền vững công nghiệp Việt Nam” như sau:
Tiêu chí 1: Tăng trưởng bền vững
Tiêu chí 2: Tạo vị thế trong phân công quốc tế
Tiêu chí 3: Tiêu dùng bền vững công nghiệp
Tiêu chí 4: Doanh nghiệp bền vững
Tiêu chí 5: Chia sẻ cơ hội, thực hiện công bằng xã hội, phù hợp thể chế chính trị và an ninh
Tiêu chí 1, “Tăng trưởng bền vững” bao hàm cùng lúc các đảm bảo tăng
trưởng và chất lượng tăng trưởng Chất lượng tăng trưởng thể hiện ở 3 yếu tố chính: Giá trị gia tăng (VA), năng lực cạnh tranh và cơ cấu công nghiệp
- Giá trị gia tăng: Là chỉ tiêu quan trọng bậc nhất phản ánh chất lượng tăng
trưởng Giá trị gia tăng thấp có thể là một biểu hiện đặc trưng cho thời kỳ đầu phát triển công nghiệp hóa dựa vào gia công, song nếu không nhận diện và điều chỉnh kịp thời sẽ tạo ra các mầm mống không bền vững trong tương lai
- Năng lực cạnh tranh: Phản ánh những giá trị lợi thế vô hình và hữu hình,
những cơ hội tạo ra lợi nhuận của toàn bộ nền công nghiệp
- Cơ cấu công nghiệp: Là một trong 3 nội dung tạo nên chất lượng tăng
trưởng Cơ cấu công nghiệp bền vững là cơ cấu phản ánh được xu thế phát triển chung (sản phẩm/công nghệ), đảm bảo các cân đối nội tại thượng - hạ nguồn, công nghệ phụ trợ và xuất, nhập khẩu Đó là cơ cấu đa dạng nhưng thống nhất và có khả năng hỗ trợ tốt cho nhau, cho phép tạo ra các giá trị gia tăng lớn nhất Trong đó, hàm lượng công nghệ và chế biến sâu trở thành động lực chính của tăng trưởng, quyết định nội dung về chất của cơ cấu
Trang 21Tiêu chí 2, “Tạo vị thế trong phân công quốc tế” được đặt ra trong bối cảnh
hội nhập và tự do hóa thương mại Công nghiệp Việt Nam mặc dù nhỏ bé nhưng phải có chỗ đứng trong không gian chung, cân bằng được các quan hệ nhiều chiều
và trở thành một mắt xích trong mạng lưới phân công quốc tế
Tiêu chí 3 đề cập đến “Tiêu dùng bền vững công nghiệp” Nguyên tắc quan
trọng nhất của phát triển bền vững là hài hòa giữa phát triển và bảo vệ môi trường Trong công nghiệp, phát triển phải đi đôi với giảm thiểu ô nhiễm và phát thải, bởi tiêu dùng công nghiệp là nguyên nhân cơ bản tạo ra chất thải và các tác động tới môi trường
và cả xã hội “Tiêu dùng công nghiệp” có 2 nội dung quan trọng đó là: tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng sản phẩm công nghiệp
- Tiêu dùng sản xuất bao hàm cả việc khai thác tài nguyên phục vụ sản xuất
và cần phải sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, giảm thiểu chi phí tài nguyên trên đơn vị sản phẩm hay giá trị công nghiệp tạo ra
- Tiêu dùng sản phẩm công nghiệp đang tạo ra chất thải lớn như: hàng tiêu
dùng, bao gói, hóa chất… nếu không được xử lý sẽ gây ra ô nhiễm rất lớn nhưng nếu xử lý sẽ rất tốn kém Tiêu dùng bền vững cần hướng tới các sản phẩm không chất thải, các mô hình công nghiệp sinh thái trong đó các sản phẩm và chất thải được quay vòng, tái sử dụng
Tiêu chí thứ 4 cho rằng doanh nghiệp là cấu thành quan trọng nhất của công
nghiệp, mỗi doanh nghiệp phải thực sự bền vững mới tạo ra nền công nghiệp bền vững Khái niệm “Doanh nghiệp bền vững” phản ánh năng lực tự điều chỉnh và
thích nghi trong môi trường luôn biến động (bền vững động), hàm chứa không chỉ các nội dung về kinh tế mà còn thể hiện trách nhiệm xã hội đầy đủ (Corporate Social Responsibiliti – CRS) của doanh nghiệp Trách nhiệm xã hội đầy đủ (CRS) chính là trách nhiệm của doanh nghiệp đối với môi trường xã hội, với mong muốn tạo ra các sắc thái “Văn hóa doanh nghiệp” Các sắc thái mới chứa đựng các nội dung đầy đủ hơn không chỉ kinh tế, tạo ra giá trị riêng của doanh nghiệp và làm cho thương hiệu trở nên bền vững Bền vững trước hết phải bắt nguồn từ trong ý thức, quyết định hành động và ứng xử của mỗi doanh nghiệp và chính văn hóa doanh nghiệp tạo ra các giá trị gia tăng vô hình của doanh nghiệp, trong nhiều trường hợp còn lớn hơn giá trị hữu hình mà doanh nghiệp tạo ra Đó chính là cách tiếp cận cạnh tranh mới trong một thế giới hội nhập và theo các chuẩn mực giá trị mới
Tiêu chí 5 gắn với “Chia sẻ cơ hội thực hiện công bằng xã hội” đối với các
nhóm lợi ích, sao cho mọi người đều có quyền bình đẳng tiếp cận và chia sẻ các thành quả công nghiệp hóa Trong tiêu chí này có thể thấy rằng lợi ích mà công
Trang 22nghiệp có được là sự hy sinh những lợi ích khác cả về môi trường và xã hội Chính
vì vậy, công nghiệp cần phải tạo ra cơ hội nhằm lập lại công bằng đối với các nhóm lợi ích Công nghiệp trước hết có thể góp phần xóa đói, giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách giữa các vùng miền, chênh lệch giữa nông thôn và thành thị… Xét đến cùng, PTBV chính là nhằm đến con người và đạt được mức độ công bằng hơn trong chia
sẻ phúc lợi xã hội Công nghiệp trong các lựa chọn của mình phải hướng đến hay tạo ra các cơ hội để thực hiện công bằng xã hội đang đặt ra
Các vấn đề chính trị và an ninh được xem xét ở đây như là yếu tố không thể thiếu của phát triển bền vững công nghiệp Xuất phát từ nhận thức rằng những thành tựu phát triển đạt được hôm nay chính là nhờ sự ổn định chính trị và những giá trị lịch sử được thiết lập Ở Việt Nam, nhờ đạt được sự chấp thuận về chính trị
mà nền kinh tế mới hòa đồng được với thế giới và có chỗ đứng nhất định trên trường quốc tế Chính vì vậy, phát triển bền vững công nghiệp còn góp phần vào ổn định chính trị, duy trì sự đoàn kết và tự do tín ngưỡng, bảo tồn bản sắc văn hóa và các giá trị lịch sử
1.1.2 Nội dung cơ bản của phát triển công nghiệp bền vững
PTCNBV bao gồm các nội dung cơ bản sau đây:
1.1.2.1 Duy trì tăng trưởng công nghiệp nhanh và ổn định trong dài hạn
Để có thể duy trì trong dài hạn một tốc độ tăng trưởng công nghiệp nhanh và
ổn định, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH
-ướng
chính sau đây:
Một là, c rưởng chủ yếu theo chiều rộng sang phát triển chủ yếu theo chiều sâu trên cơ sở s dụng có hiệu quả các thành tựu KHCN tiên tiến để tăng năng suất lao động và nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, nâng cao hiệu quả của nền kinh tế nói chung và hiệu quả của
vốn đầu tư nói riêng
Hai là, chuyển nền kinh tế t khai thác và s dụng t nguyên dưới dạng
thô chế biến sâu hơn, tinh xảo hơn, nâng cao gi trị gia tăng t mỗi một đơn vị tài nguyên khai thác Chú trọng nâng cao hàm lượng khoa học, công nghệ của sản
phẩm hàng hoá và dịch vu
Ba là, tiết kiệm tối đa các nguồn lực trong phát triển, s dụng có hiệu quả
nguôn tài nguyên khan hiếm và hạn chế tiêu dùng lấn vào phần của các thế hệ
mai sau
Bốn là, xây dựng hệ thống hạch toán kinh tế môi trường Nghiên cứu để đưa
thêm môi trường và các khía cạnh xã hội vào khuôn khổ hạch toán tài khoản quốc gia
Trang 23(SNA) Hệ thống hạch toán kinh tế, xã hội v môi trường hợp nhất sẽ bao gôm ít nhất
một hệ thống hạch toán ph về tài nguyên thiên nhiên
1.1.2.2 Thực hiện quá trình công nghiệp hóa sạch
nay Thực hiện chiến lược
nghiệp với cơ cấu ngành nghề, thiết bị bảo đảm nguyên tắc thân thiện với môi trường; tích cực ngăn ngừa và x lý ô nhiễm môi trường, xây dựng nền "công nghiệp xanh" Những tiêu chuẩn môi trường cần được đưa vào danh mục tiêu chuẩn thiết yếu nhất để l chọn các ngành nghề khuyến khích đầu tư, công nghiệp sản xuất và sản phẩm, quy hoạch các KCN, khu chế xuất và
xây dựng các kế hoạch phòng ngừa, ngăn chặn, x lý và kiểm soát ô nhiễm
Những hoạt động ưu tiên nhằm thực hiện quá trình CNH sạch bao gôm:
Về pháp luật:
- Rà soát quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH, quy hoạch phát triển công
ụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, kiểm soát ô nhiễm và quản lý
chất thải một cách có hiệu quả
- Thể chế hóa việc đưa yếu tố môi trường vào quy trình lập quy hoạch, kế
phương
đẩy quá trình thay thế công nghệ sản xuất lạc hậu, tốn nhiều năng lượng, nguyên
liệu bằng những công nghệ tiên tiến, hiện đại và thân thiện với môi trường
- Xây dựng các tiêu chuẩn và nguyên tắc đối với sản xuất sạch, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế Nghiên cứu và phát triển công nghệ và thiết bị sản xuất sạch, tăng cường hối hợp giữa cá
ụng trong sản xuất
- Nghiên cứu, ban hành một số chế tài buộc các doanh nghiệp sản xuất, kinh
trường để cung cấp thông tin về chất thải và mức độ ô nhiễm do các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp gây nên Nghiên cứu, ban hành các chỉ tiêu về mức ô nhiễm tối đa cho phép ở các KCN Nhanh chóng hình thành một lực lượng cán bộ được
đào tạo về quản lý môi trường trong các KCN
Về kinh tế:
Trang 24- , phải ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp sạch, thân thiện với môi trường
dụng công nghệ, thiết bị BVMT thích hợ
chứng đầy đủ, chi tiết về các biện pháp kiểm soát ô nhiễm và BVMT
- Thành lập mới và phát triển khu công nghệ cao Ban hành các tiêu chuẩn an toàn BVMT trong các ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp kha
, mô tô, xe máy
- Từng bước nâng dần tỷ lệ đầu tư phát triển công nghệ sạch
c ng tăng
Về kỹ thuật và công nghệ:
quy trình thẩm định, đánh giá tác động đến môi trường, đặc biệt là yêu cầu về đánh giá
tác động đến môi trường phải được thực hiện trước khi cấp giấy phép đầu tư
nghiêm trọng, buộc cá
nhiễm, nâng cấp hoặc đổi mới công nghệ sản xuất, di dời toàn bộ hoặc từng bộ phận
ác cơ sở này
vừa và lớn trong toàn quốc và báo cáo về tình trạng quản lý môi trường trong ngành
khai khoáng và các ngành công nghiệp chế biến có liên quan
PTBV một số ngành công nghiệp có tác động đặc biệt đối với môi trường:
Một số ngành công nghiệp có tác động mạnh tới môi trường như năng lượng, luyện kim, khai thác mỏ, xây dựng sớm xây dựng những chương trình hành động nhằm bảo đảm PTBV, trong đó đặc biệt chú trọng tới việc ứng dụng những công nghệ khai thác và chế biến tiên tiến cho phép tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, giảm
được, cải thiện môi trường sinh thái ở những khu vực khai thác tài nguyên
1.1.2.3 Tổ chức không gian lãnh thổ và phân bố công nghiệp hợp lý
Nguyên tắc của chính sách phân bố công nghiệp là nhằm tạo ra một không gian phân bố công nghiệp hợp lý hơn, kích thích công nghiệp phát triển nhưng vẫn
ng của môi trường đối với các
Trang 25hoạt động KT-XH nói chung, công nghiệp nói riêng theo từ
Định hướng phát triển tập trung: Theo đó phân bố công nghiệp tại địa
phương, tiếp tục quy hoạch định hướng về các KCN, khu chế xuất
Tạo các liên kết công nghiệp bền vững: Mục tiêu tạo ra các phân bố có tính
liên kết, phân công chuyên hướng thân thiện môi trường Theo đó, có nhiều dạng liên kết như liên kết công nghiệp - vùng nguyên liệu; liên
(hoá chất, dệt may, luyện kim); liên kết trao đổi chất thải, công nghiệp sinh thái; liên kết đồng phát Trong các quy hoạch và phân công công nghiệp theo ngành, vùng phải thể hiện tính liên kết và tận dụ nhau Các KCN hiện phân bố thiếu hợp lý, dẫn đến không chia sẻ được , lãng phí trong đầu tư dẫn đến chi phí cao hơn cần từng bước khắc phục
Di dời các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng: Mục tiêu là góp phần cải thiện
1.1.2.4 Đảm bảo và nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp - Corporate Social Responsibility (CSR) chính là trách nhiệm của doanh nghiệp đối với sản xuất, môi trường và xã hội Các doanh nghiệp muốn PTBV luôn phải tuân thủ những chuẩn
BVMT, bình đẳng giới, an toàn lao động, đà
Trang 26So với nhiều quốc gia trên thế giới, Việt Nam có những lợ
ụng hợp lý, bền vữ
Để thực hiện mục tiêu phát triển bền vữ ụ
ài nguyên khoáng sản, cần thực hiện những hoạt động ƣu tiên sau:
:
Trang 27- cư dụng hợp
tài nguyên khoáng sản
nhạy cảm cao về kinh tế, dễ gây ô nhiễm môi trường
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển công nghiệp bền vững
1.1.3.1 Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
hưởng của vị trí địa lý đến PTCNBV được biểu hiện theo hai hướng: (i) thúc đẩy PTBV (ảnh hưởng tích cực) và (ii) cản trở tiến trình PTBV, tạo ra
lý tạo điều kiện thúc đẩy PTCNBV của địa phương khi nó đáp ứng được ít nhất một
trong các yêu cầu sau:
- Gần hệ thống giao thông chính như: đường cao tốc, đường sắt, sân bay,
cảng biển, cảng sông, cửa khẩu quốc tế lớn,
- Gần thị trường , tiềm năng
- Gần các trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị lớn; gần các địa phương phát triển nhanh, năng động, các trung tâm khoa học, công nghệ cao; nằm trong hoặc gần
các vùng kinh tế trọng điểm, các hành lang kinh tế
Ngược lại, vị trí địa lý sẽ tạo ra những yếu tố không bền vững phát
triển của công nghiệp địa phương trong các trường hợp:
- Công nghiệp nằm trong hoặc gần các khu vực không ổn định về chính trị,
an ninh, quốc phòng, xung đột sắc tộc, tôn giáo
- Công nghiệp nằm trong hoặc gần các khu vực thường xảy ra thiên tai như
lũ lụt, động đất,…
- Ở khu vực không thuận lợi về giao thông, thị trường tiêu thụ,
* Tài nguyên khoáng sản
CNBVlượng khá sẽ tạo điều kiện cung cấp nguyên liệu đầu vào ổn định cho các
nghiệp phát triển ổn định và bền vững
hóa thạch như
Trang 28
Rõ ràng phương tài nguyên khoáng sản có lợi thế trong việc phát triển đa dạng, bền vững
phương Tuy nhiên, cũng cần nhận thức một vấn đề
là việc các địa phương ài nguyên đa dạng, phong phú lại luôn tiềm ẩn những yếu tố không bền vững trong quá trình phát triển do việc lạm dụng
phương mình, gây ra tình
trạng cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, phá vỡ cảnh quan
* Tài nguyên nước
, đồng bộ
1.1.3.2 Nhóm nhân tố về dân số và nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp tại mỗi quốc gia, mỗi địa phương Vì vậy, nguồn nhân lực của mỗi quốc gia, mỗi địa phương là một trong những nhân tố ảnh
hưởng đến phát triển kinh tế nói chung và PTCNBV nói riêng
Khi đánh giá nguồn nhân lực, người ta thường đánh giá dưới hai góc độ: số lượng và chất lượng nguồn nhân lực
PTCNBV, nếu quá ít sẽ không đủ lực lượng để tham gia quá trình sản xuất
quyết công ăn việc làm và các vấn đề xã hội có liên quan Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện ở trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật, tình trạng sức khỏe
và đạo đức nghề nghiệp của người lao động…
Trang 29Để PTCNBV chúng ta cần có ực đủ về số lượng và có chất lượng, bởi lẽ muốn làm chủ và vận hành được những công nghệ sản x
lực phải được đào
ác , các nhà quản lý giỏi, có kinh nghiệm
1.1.3.3 Nhóm nhân tố về kinh tế - xã hội
* Thể chế, chính sách về phát triển bền vững
Muốn PTBV điều kiện đầu tiên và tiên quyết là Nhà nước, chính quyền các cấp phải xây dựng được
phương đối với vấn đề phát triển KT-XH nói chung
và phát triển công nghiệp nói riêng theo hướng bền vững Quan điểm, thể chế về
phát triển công nghiệp và quy hoạch công nghiệp của địa phương Chiến lược phát triển công nghiệp xác định trạng thái tương lai của nền công nghiệp và chỉ ra cách thức để đưa nền công nghiệp đạt tới trạng thái tương lai ấy PTCNBV phải được đặt
ra và là một bộ phận không thể tách rời trong chiến lược phát triển của quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương oanh nghiệp
Để PTCNBV, ngoài chiến lược phát triển công nghiệp, chúng ta cần có quy hoạch phát triển công nghiệp của quốc gia, các vùng và các địa phương Quy hoạch phát triển công nghiệp chỉ ra cách bố trí, sắp xếp, phân bố các cơ sở công nghiệp, các ngành công nghiệp theo không gian và thời gian trên các vùng lãnh thổ, các địa phương
triển công nghiệp trên cơ sở giải quyết tốt các vấn đề xã hội, BVMT sinh thái
* Nguồn lực tài chính huy động cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội
Để PTBV cần tập trung đầu tư
lớn Rõ ràng là việc đầu tư công nghiệp hiện đại, công nghệ sạch, sản xuất sản phẩm thân thiện với môi trường đòi hỏi chi phí đầu tư
, các tiêu chuẩn đảm bảo điều kiện làm việc cho
tư
Trang 30- ch địa phương: Nếu địa phương có thặng dư
PTCNBV có ý nghĩa quan trọng trong quá trình CNH, HĐH đất nước,
, chính sách, chiến lược và quy hoạch phát triển công nghiệp của đất nước Tuy nhiên, để có thể thực
, phối hợp, chung sức, tham gia rộng rãi của mọi thành viên trong xã hội: các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp và chính phủ Muốn vậy, ngoài việc xây dựng thể chế, chính sách, cũng như các chế tài của N nước
, nâng cao nhận thức của mọi người, mọi nhà, mọi doanh nghiệp, mọi tổ chức trong xã hội về PTCN
ực hiện PTCNBV là một trong những yếu tố không thể thiếu để có thể đảm bảo công nghiệp phát triển một cách thự vững
* Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trong thời đại ngày nay, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ, sôi động Nền kinh tế của mỗi quốc gia đang trở thành một
bộ phận không thể tách rời của nền kinh tế toàn cầu, của thị trường toàn cầu Trong quá trình ấy, sự hợp tác, liên minh, liên kết để phát triển không chỉ diễn ra một cách sâu rộng hơn, mà sự cạnh tranh để tồn tại hát triển cũng diễn ra gay gắt, quyết liệt
Do đó, hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra cơ hội và thách thức đối với PTCNBV
Hội nhập kinh tế khu vực và thế giới sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho phát triển công nghiệp, cụ thể là:
- Hội nhập kinh tế quốc tế tạo điều kiện mở rộng thị trường cho phát triển công nghiệp
Trang 31- Sản phẩm công nghiệp của quốc gia hội nhập được đối xử bình đẳng trên thị trường quốc tế
- Công nghiệp của các quốc gia hội nhập có cơ hội tham gia nhanh vào phân công lao động và hợp tác quốc tế
- Hội nhập quốc tế cũng làm cho công nghiệp có cơ hội tiếp cận dòng vốn quốc tế ngày càng lớn
- Hội nhập quốc tế tạo ra các cơ hội để du nhập, tiếp cận công nghệ tiên tiến
- Ngoài ra, hội nhập còn tạo điều kiện để công nghiệp có cơ hội tiếp thu các kinh nghiệm quản lý mới trên thế giới
Bên cạnh đó, hội nhập kinh tế quốc tế cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đối với PTCNBV, đó là:
- Bảo hộ Nhà nước với sản phẩm công nghiệp trong nước phải dỡ bỏ, tạo ra
áp lực cạnh tranh lớn đối với sản xuất trong nước
- Hệ thống pháp luật, chính sách, cơ chế quản lý công nghiệp ở những nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, thường ở trong tình trạng chưa đồng bộ và chưa phù hợp với thông lệ quốc tế đòi hỏi phải được khẩn trương hoàn thiện
- Sản xuất công nghiệp trong điều kiện hội nhập phải thực thi quyền sở hữu trí tuệ Do đó, hàng hóa công nghiệp ở các quốc gia hội nhập như Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn trong cạnh tranh quốc tế
- Chất lượng nguồn nhân lực trong công nghiệp nước ta còn thấp là một rào cản trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
* Thị trường trong và ngoài nước
Thị trường luôn gắn liền với kinh tế hàng hóa Trong nền kinh tế thị trưòng thì mọi quan hệ kinh tế đều phải thông qua thị trường Các yếu tố cơ bản của thị trường, đó là: cung, cầu và giá cả Sự phát triển, mở rộng thị trường cho phép mở ra khả năng tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp Sự gia tăng nhu cầu của thị trường là động lực mạnh mẽ thúc đẩy ngành công nghiệp mở rộng sản xuất, tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội Dưới tác động của các quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh buộc người sản xuất công nghiệp phải biết khai thác những lợi thế cạnh tranh, lựa chọn những lĩnh vực sản xuất có lợi, thường xuyên ứng dụng khoa học và công nghệ, nhạy bén, năng động để tạo ra những sản phẩm công nghiệp có năng suất, chất lượng, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội
Hơ
, xuất xứ (sản phẩm tiết kiệm năng lượng, thân thiện với môi trường, quá trình sản xuất sạch, đảm bảo tuân thủ các chuẩn mực xã hội, các tiêu chuẩn, quy tắc ứng xử, ) cũng như đáp ứng những đòi hỏi nhất định về trách
Trang 32nếu muốn tồn tại và phát triển phải hướ PTBV
Có thể nói, thị trường mở ra khả năng vô cùng rộng lớn, cho phép phát triển tối đa năng lực sản xuất công nghiệp Cho nên, thúc đẩy PTCNBV không thể thiếu vai trò của thị trường
Thông qua phát triển thị trường còn tạo ra sự giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các vùng, địa phương, giữa trong nước và quốc tế, qua đó, có điều kiện học hỏi tiếp thu những tri thức mới, những kinh nghiệm hay vào sản xuất, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân
Bản cho xuất bản hai cuốn sách: "Sách trắng về kinh tế" và "Sách trắng về kinh tế thế giới" Đó chính là những quan điểm chính thống, hướng dẫn cộng đồng kinh
doanh theo đường lối của Chính phủ
- Chính sách công nghiệp: Bản chất của chính sách công nghiệp là trọng cung,
gia nhập vào thị trường thế giới Chính sách công nghiệp nhằm 2 mục tiêu:
+ Phát triển các ngành công nghiệp xuất khẩu đặc biệt quan trọng ở mỗi giai
đoạn phát triển
, giúp đỡ doanh nghiệp vừa và nhỏ (có ưu tiên một số ngành) cải tiến công nghệ và quản lý để tồn
tại và phát triển
- Chính sách phân phối: Đ ách mang tính điều tiết phát triển nền kinh tế gắn với PTBV về mặt xã hội rất rõ: Chính phủ Nhật Bản chú ý tới chủ nghĩa bình đẳng trong phúc lợi của nhân dân Chính sách phân phối hướng đến ngăn ngừa những lệch lạc trong phân phối thu nhập và phúc lợi, đảm bảo không ngừng cải thiện phúc lợi cho nhân dân Trong đó, chính sách thuế thể hiện rõ chủ trương của Chính phủ, đánh thuế thừa
phân phối phúc lợi bình đẳng, giảm dần khoảng cách giàu nghèo Ngoài ra, một số
Trang 33cùng với hệ thống chăm sóc y tế rộng rãi, đặc biệt là những già trên 70 tuổi được chăm sóc y tế miễn phí, chú ý tới những người nghèo ở vùng nghèo (Hokkaido và
Okinawa) thông qua các chính sách kinh tế khác
- Chính sách phát triển vùng: Chính sách phát triển vùng của Nhật Bản
hướng tới phát triển đồng đều tương đối, phát huy thế mạnh của từng vùng, tránh phát triển tập trung quá mức KCN ở các thành phố lớn, đặc biệt là thủ đô Tokyo; ngăn ngừa tình trạng cách biệt quá mức về trình độ phát triển giữa ác
đô thị Trọng tâm của chính sách phát triển vùng là xây dựng
ướng dẫn phân bổ các hoạt động công nghiệp và dân
số theo vùng hướng mạnh về PTBV
- Chính sách nhân lực và giáo dục: Chính phủ Nhật Bản nhận thức rất rõ
cho nền kinh tế Mọi chủ trương, đường lối phát triển nguồ
giáo dục đều thể hiện tập trung trong cuốn "Sách trắng về giáo dục", "Sách trắng về lao động" và "Khảo "
- Chính sách nghiên cứu và triển khai (R & D): Sau chiến tranh thế giới thứ
hai, Nhật Bản đã từng được nước của "vay mượn" công nghệ phương hững công nghệ đó Vì vậy, Chính phủ quyết tâm xây
(1) Phân công trách nhiệm đổi mới các chính sách phát triển
- Quản lý cầu vĩ mô: Bộ Tài chính chịu trách nhiệm chính, Cục Quy hoạch
kinh tế, Ngân hàng Nhật Bản phối hợp thực hiện
- Chính sách công nghệ: Bộ Thương
ư nghiệp phối hợp thực hiện
- Chính sách nhân lực và giáo dục: Bộ giáo dục
- Chính sách phát triển vùng: Bộ xây dựng chịu trách nhiệm chính, Bộ Giao thông và Liên lạc, Cục Quản lý đá
Okinawa phối hợp thực hiện
- Chính sách R&D: Cục Khoa học và kỹ thuật
Trang 34Việc ữ
ữa các mục tiêu phát triển KT-XH và bảo vệ tài nguyên môi trường ở từng vùng, địa
tổ chức cơ quan
vùng theo từng giai đoạn với nhữ ợp
dụng thực hiện chiến lược PTBV
hướng tới PTBV
tệ, giá cả để điều tiết hành vi của từng người dân, của toàn xã hội hướng tới PTBV
- dụng các phương tiện thông tin đại chúng: hướng dẫn, tuyên truyền giáo
dục, thuyết phục nhằm PTBV kinh tế, xã hội và BVMT
(4) Huy động tổng lực lượng tham gia PTBV như
, nông dân, công nhân, nhà doanh nghiệp, tôn giáo,
ường Ở thập kỷ
, chư, đặc biệt là về môi trường Khi Nhật Bản trở thành một cường quốc kinh tế trên thế giới, nhiều vấn đề đặt ra gay gắt: L
Trang 35- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế PTBV quốc gia và BVMT toàn cầu, thông qua
thực hiện chiến lược , đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học, thúc đẩy PTBV toàn cầu Trên thực tế, chươ 21 của Nhật
Bản đã thực hiện lần đầu tiên vào năm 1993
1.2.1.2 Kinh nghiệm phát triển bền vững của Trung Quốc
21 hay chiến lược
"Chương
21 Trung Quốc - Sách trắng về dân số, môi trường và phát triển của Trung Quốc trong thế kỷ 21" Chiến lược
liên quan đến PTBV đã được phê duyệt và có hiệu lực
hướng và nguyên tắc cơ bản sau:
Trong giai đoạn đầu, chiến lược PTBV của Trung Quốc ưu tiên tập trung vào
thực hiện các nội dung sau:
: Ban hành và sửa đổi luật pháp, xây
Trang 36(7) Thực hiện giảm nghèo và phát triển vùng
(9) Góp phần thay đổi môi trường toàn cầu và bảo tồn đa dạng sinh học
Kinh nghiệm của Trung Quốc cũng cho thấy, để xây dựng và thực thi thành
công chiến lược PTBV cần lưu ý một số vấn đề quan trọng, cấp bách là:
Chính phủ và nhân dân Trung Quốc cùng hành động với thế giới nhằm tìm kiếm con
sử nhưng Trung Quốc đã cam kết và thực hiện trên thực tế thông qua các kế hoạch phát
triển KT-XH của đất nước góp phần vào quá trình PTBV của thế giới
1.2.1.3 Bài học kinh nghiệm cho phát triển bền vững ở Việt Nam
Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm PTBV của các quốc gia trên thế giới, có
thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam như sau:
Một là, vai trò của Nhà nước trong PTBV là hết sức quan trọng
trò đặc biệt quan trọng, thể hiện ở các nội dung chủ yếu sau:
thiện hệ thống pháp luật đảm bảo cho việc thực hiện chiến lược PTBV hiệu quả
thực hiện luật trên thực tế
Hai là, PTBV phải là hạt nhân trong các chính sách của Nhà nước
hướng chính sách của Nhà nước cho PTBV Mọi chính sách ban hành đều phải quan tâm đến khía cạnh PTBV PTBV không phải chỉ trong tầm nhìn trước mắt mà phải đặt trong tổng thể tầm nhìn dài hạn và phải được lồng ghép vào trong tất cả cá
ương
Ba là, cần có sự đồng thuận của các bên và tham gia rộng rãi của cộng đồng
Trang 37cả các bên có liên quan tron PTBV của đất nước
1.2.2 Những kinh nghiệm của các địa phương về phát triển công nghiệp bền vững và bài học rút ra cho tỉnh Thái Nguyên
1.2.2.1 Kinh nghiệm về phát triển công nghiệp bền vững ở tỉnh Bắc Ninh
Từ năm 1997 trở về trước, kinh tế của tỉnh Bắc Ninh chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, các cơ sở sản xuất công nghiệp nhất là công nghiệp hiện đại hầu như không đáng kể, nhưng ngay từ khi tái thành lập tỉnh (năm 1997), Bắc Ninh đã xác định phát triển kinh tế phải lấy phát triển công nghiệp làm trọng tâm, thực hiện xây dựng và phát triển các KCN tập trung, các làng nghề là khâu đột phá trong quá trình phát triển KT-XH của tỉnh, phấn đấu đến năm 2015 Bắc Ninh cơ bản là tỉnh công nghiệp
Quy mô công nghiệp tăng nhanh và giữ vai trò “đầu tàu” trong tăng trưởng kinh tế Năm 1997, công nghiệp Bắc Ninh mới chỉ có 8.961 cơ sở sản xuất với 31.697 lao động; GTSX công nghiệp (giá so sánh) là 569 tỷ đồng; tỷ trọng giá trị tăng thêm chỉ chiếm 14,9% trong GDP của tỉnh [8] Tuy nhiên, nhờ có trình độ dân trí khá cao, nguồn nhân lực dồi dào, cơ sở hạ tầng khá tốt và đồng bộ, môi trường đầu tư liên tục được cải thiện (năm 2010, xếp thứ 6 toàn quốc) nên công nghiệp của Bắc Ninh đã nhanh chóng vươn lên và giữ vai trò “đầu tàu” trong tăng trưởng kinh
tế Năm 2012, số cơ sở sản xuất công nghiệp đã tăng lên 30.520 cơ sở (gấp 3,4 lần
so với năm 1997) với 151,8 nghìn lao động (gấp 4,8 lần); GTSXCN đạt 84.884 tỷ đồng (theo giá so sánh) bằng 60% công nghiệp Bình Dương, là tỉnh có quy mô công nghiệp lớn thứ 2 cả nước Đến nay, Bắc Ninh là tỉnh có quy mô công nghiệp lớn thứ
5 cả nước, thứ 2 miền Bắc và luôn duy trì tốc độ tăng trưởng cao nhất cả nước trong nhiều năm qua [8], [9]
Đến năm 2012 (sau hơn 15 năm tái lập), Bắc Ninh có 15 KCN được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt với tổng diện tích đất quy hoạch là 6.847ha, trong đó 9 KCN đi vào hoạt động với tỷ lệ lấp đầy trên diện tích đất cho thuê đạt 58,9%, tỷ lệ lấp đầy trên diện tích đất thu hồi cho thuê đạt xấp xỉ 75%, hơn 20 cụm công nghiệp vừa và nhỏ với hàng trăm nhà máy có công nghệ hiện đại; ngành công nghiệp mũi nhọn là điện, điện tử, cơ khí chính xác, cơ khí chế tạo…với trình độ công nghệ tiến tiến từ các tập đoàn đa quốc gia, riêng lĩnh vực điện tử chiếm khoảng 52% tổng vốn
Trang 38đăng ký, là cơ sở cho việc phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ; thu hút gần 450 dự
án trong và ngoài nước vào các KCN tập trung với tổng vốn đăng ký 3,5 tỷ USD Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 377 đơn vị FDI với tổng vốn đầu tư đăng ký sau điều chỉnh: 4,4 tỷ USD [11]
Nhịp độ tăng trưởng kinh tế luôn duy trì ở mức độ cao, bình quân giai đoạn 1997-2012 đạt 14,3%/năm; giai đoạn 2006-2010 tăng 15,3%/năm (đáng chú ý có năm 2010 tăng trưởng tới 17,9% là tốc độ tăng trưởng cao nhất từ trước tới nay); năm 2011 bất chấp những khó khăn của kinh tế trong nước, kinh tế Bắc Ninh vẫn đạt 16,2% - là tốc độ tăng trưởng cao nhất cả nước Năm 2012, GDP Bắc Ninh vẫn tăng trưởng khá, đạt 12,3% nằm trong các tỉnh thành dẫn đầu cả nước, trong bối cảnh kinh tế trong nước suy giảm và khó khăn hơn cả năm 2011 Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa: Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng từ 23,7% năm 1997 lên 77,8% năm 2012; dịch vụ 31,3% giảm xuống còn 16,6%; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 45% xuống còn 5,6% Thu nhập bình quân đầu người năm 2012 đạt 67,4 triệu đồng/năm (tương đượng 3.211 USD) gấp 22 lần so với năm 1997 [9]
Bộ mặt đô thị và nông thôn đổi mới rõ rệt, đặc biệt là đô thị hoá phát triển với tốc độ khá nhanh Tỉnh lỵ Bắc Ninh từ một thị xã nhỏ bé đã trở thành đô thị sầm uất Kết cấu hạ tầng được đầu tư cải tạo, nâng cấp khá đồng bộ bao gồm: điện, đường, trường, trạm và các cơ sở phúc lợi xã hội khác Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ở cả nông thôn và thành thị được cải thiện; trật tự an toàn xã hội được đảm bảo
Có được thành quả trên là do trong thời gian qua Bắc Ninh đã tiến hành thực hiện các nhóm chính sách phát triển công nghiệp toàn diện nhằm đẩy mạnh phát triển công nghiệp theo hướng bền vững, cụ thể là:
Một là, đẩy mạnh công tác quy hoạch và thu hút đầu tư phát triển KCN tập trung
Hàng năm, UBND tỉnh Bắc Ninh đã đầu tư vốn ngân sách hỗ trợ công tác quy hoạch, thẩm định phê duyệt quy hoạch chung và chi tiết các KCN trên địa bàn; xây dựng quy hoạch tổng thể về các KCN làm cơ sở để xây dựng quy hoạch sử dụng đất trình Chính phủ phê duyệt Quy hoạch các KCN gắn với quy hoạch các khu dân cư và dịch vụ với mục tiêu hình thành thực thể KT-XH hoàn chỉnh, tạo tiền
đề cho PTBV, hòa nhập sự phát triển KT-XH địa phương
Hai là, chính sách phát triển nguồn nhân lực
Nhận thức rõ tầm quan trọng của phát triển nguồn nhân lực, ngay từ những năm 1997 - 1998, Bắc Ninh đã thực hiện chính sách ưu đãi, sử dụng, thu hút nhân
Trang 39tài với các mức hỗ trợ cụ thể nhằm khuyến khích đội ngũ cán bộ học tập nâng cao trình độ và thu hút chuyên gia giỏi về công tác tại tỉnh; quy hoạch và xây dựng các khu nhà ở, tạo điều kiện cho công nhân làm việc tốt; quan tâm đào tạo nghề cho người lao động Hiện nay, Bắc Ninh có lực lượng lao động có chất lượng tương đối tốt: lao động đã qua đào tạo nghề và tương đương chiếm tỷ trọng 78,6%, trong đó, lao động tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp là 55,1%; lao động tốt nghiệp cao đẳng, đại học và trên đại học là 20,6% [8]
Ba là, chính sách phát triển khoa học và công nghệ
KHCN đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển công nghiệp Bắc Ninh Các chính sách về KHCN của Bắc Ninh tập trung vào 2 lĩnh vực chính là đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng trong quản lý
Thường xuyên có những dự án hỗ trợ các doanh nghiệp tiểu thủ công nghiệp
và làng nghề đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng và sức cạnh trạnh của sản phẩm, khôi phục và phát triển làng nghề thủ công truyền thống, giải quyết việc làm cho người lao động; triển khai áp dụng công nghệ thích hợp để xử lý nước thải
từ sản xuất, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường; triển khai nhiều hoạt động tư vấn, hỗ trợ xây dựng thương hiệu, đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, hỗ trợ xây dựng và áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế trong các DNNVV, giúp các doanh nghiệp tiếp cận với các công cụ quản lý tiên tiến để nâng cao chất lượng sản phẩm, từng bước tham gia cạnh tranh và hội nhập quốc tế
Bốn là, chính sách điều chỉnh cơ cấu phát triển ngành công nghiệp
Trong thực hiện chính sách phát triển công nghiệp địa phương, Bắc Ninh luôn chú trọng điều chỉnh cơ cấu ngành nhằm hiện đại hóa công nghệ, phát triển các lĩnh vực có hiệu quả và tác động đến sự phát triển KT-XH UBND tỉnh đã đề ra một
số cơ chế ưu đãi, khuyến khích đầu tư để thu hút ngành mới, công nghệ cao, có chính sách ưu tiên phát triển 7 nhóm ngành chủ yếu: chế biến nông sản, sản phẩm thuốc lá, dệt may, sản xuất đồ gỗ, sản xuất kim loại (không kể sản xuất máy móc, thiết bị), VLXD, giấy
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong quá trình phát triển công nghiệp tỉnh Bắc Ninh còn bộc lộ những hạn chế, bất cập từ công tác quy hoạch đến triển khai thực hiện như giải phóng mặt bằng, xây dựng hạ tầng, thu hút đầu tư (chất lượng), vấn đề lao động, công tác bảo vệ môi trường và cơ chế, chính sách liên quan tới phát triển công nghiệp còn chồng chéo, chưa đồng bộ,
Trang 40- Mặc dù trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đã có các KCN có tính chuyên ngành khá cao (sản xuất sản phẩm điện tử…), song cơ bản vẫn chưa hình thành các cụm liên kết trong sản xuất công nghiệp (các cluster), chưa thu hút được nhiều doanh nghiệp phụ trợ cho ngành công nghiệp mũi nhọn
- Hệ thống hạ tầng kỹ thuật còn chưa đồng bộ, thiếu cơ chế vận hành hợp lý làm giảm khả năng cũng như hiệu quả phát triển công nghiệp
- Công tác đền bù, giải phóng mặt bằng còn nhiều khó khăn, phức tạp; hiệu quả sử dụng đất KCN còn chưa cao
- Thiếu lao động kỹ thuật, có tay nghề trong khi số lao động cần tạo công ăn việc làm còn rất dư thừa Để giải quyết tình trạng này, các chủ doanh nghiệp phải tuyển dụng lao động ngoại tỉnh, phải tổ chức đạo tạo người lao động để đáp ứng yêu cầu công việc Điều này vừa gây khó khăn cho doanh nghiệp vừa là yếu tố phát sinh những vấn đề phức tạp từ việc di cư lao động từ địa phương này sang địa phương khác
- Công tác bảo vệ môi trường trong phát triển công nghiệp chưa được cải thiện nhiều và chưa đáp ứng được những tiêu chuẩn môi trường theo quy định [8]
1.2.2.2 Kinh nghiệm về phát triển công nghiệp bền vững ở tỉnh Hải Dương
Từ khi tái lập tỉnh đến nay (năm 1997) công nghiệp tỉnh Hải Dương đã dành được sự quan tâm đặc biệt của các cấp ủy đảng và đông đảo cộng đồng doanh nghiệp Với những chính sách ưu tiên dành cho phát triển công nghiệp Hải Dương
đã thu hút được khá đông các nhà đầu tư trong và ngoài nước triển khai nhiều dự án lớn vào các ngành công nghiệp; tập trung phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn như: vật liệu mới, công nghiệp lắp ráp, cơ khí chế tạo thiết bị, linh kiện phụ tùng thay thế, cơ khí chế tạo máy công cụ, công nghiệp tàu thủy, điện tử điện lạnh, máy xây dựng, công nghiệp tạo nguyên liệu có khả năng đột phá, có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế, tạo cục diện mới và sức mạnh lan tỏa cho toàn vùng trong tăng trưởng và giao thương quốc tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1997 - 2012 đạt 9%/năm; GDP bình quân đầu người năm 2012 đạt 1.080 USD, gấp 3 lần năm 1997 Cơ cấu kinh tế có những bước chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp (từ 35,4% năm 1997 xuống còn 14,9% năm 2012), tăng dần tỷ trọng công nghiệp (từ 36,6% năm 1997 lên 52,4% năm 2012) và dịch vụ (từ 28% năm 1997 lên 32,7% năm 2012) [11], [12]
Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương phát triển mạnh, đóng góp tích cực cho sự phát triển KT-XH, cho quá trình CNH - HĐH của tỉnh Tính đến ngày 31/12/2012, trên địa bàn tỉnh có 24.852 cơ sở sản xuất công nghiệp, tăng