Đề xuất quy trình soạn thảo tiến trình dạy học phần “Cơ học ” Vật lí đại cương học theo hướng phát huy tính tích cực nhận thức cho sinh viên với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy .... Do yêu c
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ THANH NGÀ
PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƠN LA QUA DẠY PHẦN “CƠ HỌC” VẬT LÝ ĐẠI CƯƠNG
VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA BẢN ĐỒ TƯ DUY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ THANH NGÀ
PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƠN LA QUA DẠY PHẦN “CƠ HỌC” VẬT LÝ ĐẠI CƯƠNG
VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA BẢN ĐỒ TƯ DUY
Chuyên ngành: LL & PPDH BỘ MÔN VẬT LÝ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Ngà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Ban Chủ nhiệm, quý Thầy, Cô giáo khoa Vật lí trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên và quý Thầy, Cô giáo trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu cùng các thầy, cô giáo tổ Vật lí trường Cao đẳng Sơn La đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt thời gian tác giả thực hiện thực nghiệm sư phạm tại trường
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn: Tiến
sĩ Trần Đức Vượng đã hướng dẫn, giúp đỡ tận tình trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tác giả cảm ơn tập thể lớp Cao học Vật lý khóa 20 đã giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Cuối cùng xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tác giả hoàn thành luận văn này
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Thị Thanh Ngà
Trang 5MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Giả thuyết khoa học 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Đối tượng nghiên cứu 5
7 Phương pháp nghiên cứu 5
9 Cấu trúc luận văn 6
NỘI DUNG 7
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC 7
PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA BẢN ĐỒ TƯ DUY 7
1.1 Hoạt động nhận thức và tính tích cực hoạt động nhận thức của SV 7
1.1.1 Hoạt động nhận thức của Sinh viên 7
1.1.2 Tính tích cực hoạt động nhận thức của Sinh viên 9
1.1.3 Các biện pháp chung phát huy tính tích cực nhận thức của Sinh viên 12
1.2 Vận dụng các phương pháp, phương tiện dạy học nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của Sinh viên 14
Trang 61.2.1 Quan niệm về phương pháp dạy học theo hướng tích cực 14
1.2.2 Những đặc trưng của PPDH theo hướng tích cực 15
1.2.3 Một số phương pháp dạy học tích cực 17
1.2.4 Phương tiện dạy học 20
1.3 Bản đồ tư duy 22
1.3.1 Khái niệm bản đồ tư duy 22
1.3.2 Cách đọc bản đồ tư duy 23
1.3.3 Cách vẽ bản đồ tư duy 24
1.3.4 Các ứng dụng của bản đồ tư duy trong dạy học 28
1.3.5 Ý nghĩa của BĐTD 31
1.4 Thực trạng của việc phát huy tính tích cực nhận thức cho SV với sự hỗ trợ của BĐTD ở trường Cao đẳng Sơn La 32
1.4.1 Về phía Giảng viên 32
1.4.2 Về phía Sinh viên 34
1.4.3 Khả năng ứng dụng BĐTD trong dạy học Vật lí 35
1.5 Kết luận chương 1 36
Chương 2: PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƠN LA QUA XÂY DỰNG TIẾN TRÌNH DẠY HỌC PHẦN “ CƠ HỌC ”- VẬT LÍ ĐẠI CƯƠNG VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA BẢN ĐỒ TƯ DUY 38
2.1 Đặc điểm phần “Cơ học” Vật lý đại cương 38
2.2 Một số định hướng trong việc tổ chức hoạt động nhận thức với sự hỗ trợ bản đồ tư duy để phát huy tính tích cực nhận thức cho sinh viên 44
2.2.1.Chú ý hướng dẫn và rèn luyện kỹ năng xây dựng BĐTD cho SV 44
2.2.2 Lựa chọn đúng đắn chủ đề để có thể phát huy tính tích cực nhận thức của SV với sự hỗ trợ của BĐTD 45
2.2.3 Một số biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức của SV với sự hỗ trợ của BĐTD 46
Trang 72.2.4 Những chú ý khi sử dụng BĐTD để hỗ trợ cho việc tổ chức hoạt
động nhận thức của SV 50
2.2.5 Những điều cần tránh khi lập BĐTD 51
2.3 Tiến trình dạy học phần “Cơ học” Vật lí đại cương với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy 51
2.3.1 Đề xuất quy trình soạn thảo tiến trình dạy học phần “Cơ học ” Vật lí đại cương học theo hướng phát huy tính tích cực nhận thức cho sinh viên với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy 51
2.3.2 Thiết kế tiến trình dạy học một số bài cụ thể phần “ Cơ học ” Vật lý đại cương theo hướng nghiên cứu của đề tài 55
2.4 Kết luận chương 2 73
Chương 3 THỰC NGHIỆP SƯ PHẠM 74
3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 74
3.1.1 Mục đích 74
3.1.2 Nhiệm vụ 74
3.2 Đối tượng và nội dung TNSP 75
3.2.1 Đối tượng 75
3.2.2 Nội dung 75
3.3 Phương pháp TNSP 76
3.4 Đánh giá thực nghiệm sư phạm (TNSP) 77
3.4.1 Phương pháp đánh giá kết quả TNSP 77
3.4.2 Kết quả và xử lí kết quả TNSP 78
3.5 Kết luận chương 3 86
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CĐSPCN Cao đẳng Sƣ phạm Công nghệ CĐCNTT Cao đẳng Công nghệ thông tin
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Ý kiến về sử dụng các PPDH trong dạy học vật lí của giáo viên 32
Bảng 1.2 Hứng thú của SV với môn Vật lí đại cương 34
Bảng 1.3 Khả năng nhận thức, mức độ tích cực của sinh viên 34
Bảng 2.1 Bảng mục tiêu nhận thức chi tiết phần Cơ học 41
Bảng 3.1: Số liệu SV được chọn làm mẫu TNSP 76
Bảng 3.2 Thống kê các biểu hiện của tính tích cực của SV 79
Bảng 3.3 Ý kiến của GV sau khi dự giờ tiết học có sử dụng BĐTD 79
Bảng 3.4 Ý kiến của SV sau khi học giờ Vật lý có sử dụng BĐTD 80
Bảng 3.5 Bảng thống kê kết quả bài kiểm tra: 81
Bảng 3.6 Bảng xếp loại bài kiểm tra 81
Bảng 3.7 Bảng phân phối tần suất kết quả kiểm tra 82
Bảng 3.8 Bảng tần số lũy tích hội tụ lùi 83
Bảng 3.9 Bảng tổng hợp các tham số thống kê 84
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1 Sơ đồ cấu trúc hoạt động học tập 7
Hình 1.2 Sơ đồ hướng dẫn cách đọc bản đồ tư duy 23
Hình 1.3 Sơ đồ hướng dẫn cách vẽ bản đồ tư duy 25
Hình 2.1 BĐTD chương 1: Động học chất điểm 43
Hình 2.2 BĐTD chương 2: Động lực học chất điểm 43
Hình 2.3 BĐTD chương 3: Công - Năng lượng 44
Hình 2.4 BĐTD chương 4: Động lực học vật rắn 44
Hình 2.5 BĐTD nhánh của chuyển động thẳng 63
Hình 2.6 BĐTD nhánh của chuyển động tròn 67
Hình 2.7 BĐTD nhánh của chuyển động trong trường trọng lực 71
Hình 2.8 BĐTD bài “một số dạng chuyển động đơn giản” 72
Đồ thị 3.2.: Đồ thị đường phân bố tần suất 83
Đồ thị 3.3 Đồ thị tần số lũy tích hội tụ lùi 84
Trang 11sự phát triển của xã hội
Trước những yêu cầu và thách thức đó đòi hỏi giáo dục nước ta phải không ngừng đổi mới một cách sâu sắc và toàn diện; trong đó đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng
giáo dục Quan điểm xuyên suốt của việc đổi mới PPDH là “dạy học lấy học sinh làm trung tâm”, tức là dạy học sao cho HS phải tích cực, tự lực để chiếm
lĩnh tri thức, từ đó phát triển năng lực sáng tạo, hình thành kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, bồi dưỡng tình cảm, thái độ cho HS Nghị quyết Trung
ương 2, khoá VIII đã chỉ rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến và hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh,…” 13
Vấn đề tự học tập và chiếm lĩnh kiến thức của người học đã được Đảng, Nhà nước quan tâm quán triệt sâu sắc từ nhiều năm Nghị quyết Trung ương 5
khóa VIII từng nêu rõ: “Tập trung sức nâng cao chất lượng dạy và học, tạo ra năng lực tự học, tự sáng tạo của học sinh Bảo đảm mọi điều kiện và thời gian
tự học cho học sinh, phát triển mạnh mẽ phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân”[14].
Do yêu cầu của đổi mới phương pháp dạy học, các phương pháp tích cực
đã được vận dụng vào quá trình dạy học và bước đầu phát huy được tính tích cực nhận thức, chủ động sáng tạo của SV trong dạy học, các phương pháp dạy
Trang 12
học tích cực đã được vận dụng vào quá trình dạy học ví dụ như: Dạy học theo nhóm, dạy học nêu vấn đề, dạy học theo dự án đã phát huy được tính tích cực, chủ động của sinh viên, khắc phục tình trạng sinh viên thụ động trong học tập, khắc phục tình trạng thầy đọc trò chép, thiếu chủ động
Đối với giáo dục chuyên nghiệp hiện nay, nhất là ở các trường Cao đẳng
và Trung cấp chuyên nghiệp chủ yếu vẫn theo quan điểm dạy học theo lối truyền thụ một chiều, sinh viên tiếp thu bài giảng một cách thụ động rất ít các
em có thể tự nghiên cứu tài liệu, do đó vấn đề đổi mới phương pháp dạy học càng trở nên cấp thiết hơn, các trường đã và đang tiến đến việc thay đổi hình thức dạy học từ niên chế sang dạy học theo tín chỉ Cụ thể trong quá trình dạy học phải phát huy tính tích cực nhận thức, bồi dưỡng cho sinh viên năng lực ôn tập, tự nghiên cứu SGK và giải quyết các vấn đề học tập thông qua các nội dung, hoạt động dạy học Từ đó có được sự tự tin trong cuộc sống, công việc bởi năng lực toàn diện của mình
Đối với trường Cao đẳng Sơn La từ trước tới nay đã có nhiều phương pháp dạy học tích cực đã được vận dụng vào quá trình dạy học nhưng chưa ai từng vận dụng bản đồ tư duy
Về vấn đề phát huy tính tích cực nhận thức cho HS, trong dạy học vật lý ở trường THPT, tại Đại học Thái Nguyên có một số luận văn nghiên cứu như:
Phạm Văn Cường với đề tài “Tổ chức hoạt động dạy học chương “Dao động cơ” vật lý 12 theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo của học sinh THPT miền núi ”[10], Lương Thị Dung với đề tài “ Phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh qua dạy học nhóm khi dạy chương “Chất khí” vật
lý 10 THPT ”[11], Trịnh Ngọc Thủy với đề tài “Tổ chức hoạt động dạy học chương “ Dòng điện không đổi-Nguồn điện” Vật lý 11 theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh.” [24], đề tài“Phát huy tính tích cực nhận thức cho HS qua việc xây dựng tiến trình dạy học chương "Dòng điện không đổi" Vật lý 11 nâng cao với sự hỗ trợ của phần mềm dạy học và bản đồ tư duy ” của tác giả Trịnh Ngọc Linh [18]
Trang 13
Nhìn chung, các tác giả này đã hệ thống khá đầy đủ cơ sở lý luận về tính tích cực nhận thức và đã chỉ ra được một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học qua việc phát huy tính tích cực nhận thức cho HS Như vậy, cho đến nay chưa có tác giả nào nghiên cứu về vấn đề phát huy tính tích cực nhận thức cho SV qua phần "Cơ học " Vật lý đại cương với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy
Mặt khác, Cơ học là một trong những nội dung học tập trong chương trình Vật lý đại cương mà SV một số nghành trong trường sẽ được học tập ở năm thứ nhất Nắm vững kiến thức trong phần này, giúp cho SV học tập tốt hơn ở một
và phổ biến BĐTD của nhóm Tư duy mới (New Thinking Group - NTG) khi nhóm đang thực hiện dự án “Ứng dụng công cụ hỗ trợ tư duy - BĐTD” cho SV Đại học quốc gia Hà nội Dự án đã nhận được sự ủng hộ sâu rộng từ lãnh đạo Đại học Quốc gia Hà Nội, lãnh đạo Viện Nghiên cứu Con người, các thầy cô giáo và đông đảo sinh viên
Các bạn SV ứng dụng BĐTD trong học tập đã đạt được những thành tích học tập rất cao Những đề tài nghiên cứu khoa học về ứng dụng BĐTD trong làm việc theo nhóm, trong học ngoại ngữ, học các môn xã hội khác đã đạt giải cao tại các trường thành viên thuộc Đại học quốc gia Hà Nội Ngoài ra, BĐTD được ứng dụng đặc biệt hiệu quả trong việc nâng cao khả năng khởi tạo ý tưởng
và “Teamwork” (làm việc theo nhóm) của SV
Gần đây Dự án phát triển THCS II, Dự án trường học sáng tạo và một vài
tổ chức khác đang triển khai tập huấn và hướng dẫn sử dụng MM trong giảng dạy và học tập Phong trào đang được sự quan tâm và hưởng ứng tích cực từ cả phía thầy lẫn trò
Trang 14
Bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực BĐTD có thể vẽ trên giấy, bảng…hoặc có thể thiết kế trên powerpoint hoặc các phần mềm bản đồ tư duy như là phần mềm Mindmap, Free Mind, Imindmap, Mindjet mind ManagerPro7…Do đó có thể coi BĐTD như một phương tiện dạy học mới, để phát huy tính TCNT cho HS trong dạy học môn vật lý và đạt hiệu quả cao hơn cách dạy thông thường
Xuất phát từ lý do trên, tôi chọn đề tài: Phát huy tính tích cực nhận thức cho sinh viên trường Cao đẳng Sơn La qua dạy phần “Cơ học” Vật lý đại cương với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy
2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng tiến trình dạy học phần "Cơ học" Vật lý đại cương với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của sinh viên ngành Cao đẳng Công nghệ thông tin K50 và ngành Cao đẳng Sư phạm Công nghệ K50 tại trường Cao đẳng Sơn La
3 Giả thuyết khoa học
Nếu tổ chức hoạt động nhận thức phần "Cơ học" Vật lý đại cương với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy thì sẽ phát huy được tính tích cực nhận thức cho Sinh viên, qua đó nâng cao hiệu quả dạy học Vật lý ở trường Cao đẳng
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu,chúng tôi nhận thấy cần phải thực hiện nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề phát huy tính tích cực nhận thức cho SV trường Cao đẳng trong dạy học vật lí với sự hỗ trợ của bản đồ
tư duy
- Nghiên cứu xây dựng tiến trình dạy học phần "Cơ học" Vật lý đại cương nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy trong dạy học Vật lý
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường Cao đẳng Sơn La để khẳng định tính khả thi của tiến trình dạy học đề xuất và rút ra kết luận
Trang 15
5 Đối tượng nghiên cứu
Tổ chức xây dựng tiến trình dạy học phần “Cơ học” Vật lí đại cương với sự hỗ trợ bản đồ tư duy theo hướng phát huy tính tích cực nhận thức cho Sinh viên
6 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu xây dựng tiến trình dạy học nội dung bài “Một số dạng chuyển động đơn giản” và tiết “Giải bài tập về chuyển động thẳng đều” trong chương Động học thuộc phần “Cơ học” Vật lí đại cương với sự hỗ trợ bản đồ tư duy theo hướng phát huy tính tích cực nhận thức cho sinh viên ngành Cao đẳng Công nghệ thông tin K50 và Cao đẳng Sư phạm Công Nghệ K50
- Địa bàn thực nghiệm: Trường Cao đẳng Sơn La
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu những văn kiện của Đảng, chỉ thị của Nhà nước, văn bản của
Bộ Giáo dục và Đào tạo về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề phát huy tính TCNT cho sinh viên, sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học vật lí; Các luận văn về đề tài có liên quan, nội dung chương trình SGK Vật lí đại cương (Phần “Cơ học”)
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra
Tìm hiểu thực trạng của việc phát huy tính TCNT cho sinh viên với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy trong dạy học vật lí hiện nay ở trường Cao đẳng thông qua phiếu điều tra
Trang 16
7.4 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm và kết quả điều tra, từ đó rút ra những kết luận về sự khác nhau trong kết quả học tập của hai nhóm đối chứng và thực nghiệm
8 Đóng góp của đề tài
- Góp phần làm phong phú thêm cơ sở lý luận trong dạy học Vật lý ở trường Cao đẳng với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy để phát huy tính tích cực nhận thức cho sinh viên
- Các giáo án xây dựng theo hướng phát huy tính tích cực nhận thức cho SV trong phần"Cơ học" Vật lý đại cương ở trường Cao đẳng Sơn La có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho Giảng viên và Sinh viên trường Cao đẳng
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát huy tính tích cực nhận thức
cho SV trường Cao đẳng trong dạy học vật lí với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy
Chương 2: Phát huy tính tích cực nhận thức cho sinh viên trường Cao đẳng Sơn
La qua dạy phần “Cơ học” Vật lý đại cương với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 17NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC
PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC CHO SINH VIÊN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ VỚI SỰ HỖ TRỢ
CỦA BẢN ĐỒ TƯ DUY 1.1 Hoạt động nhận thức và tính tích cực hoạt động nhận thức của SV
1.1.1 Hoạt động nhận thức của Sinh viên
Theo quan điểm triết học Mác-Lênin dẫn theo20 thì nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào trong đầu óc con người trên cơ sở thực tiễn
V.I.Lênin đã chỉ rõ quy luật chung nhất của hoạt động nhận thức là: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trìu tượng và từ tư duy trìu tượng đến thực tiễn,
đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan” dẫn theo 29, tr.8 Hoạt động nhận thức đi từ chưa biết đến biết, từ
thuộc tính bề ngoài sau đó đến thuộc tính bên trong và cuối cùng từ đó trở về thực tiễn, thông qua các quá trình tâm lý như cảm giác, tri giác, trí nhớ, tưởng tượng, tư duy ngôn ngữ
Hoạt động học tập của Sinh viên có cấu trúc giống như hoạt động lao động sản xuất nói chung, bao gồm các thành tố có quan hệ và tác động đến nhau: Một bên là động cơ, mục đích, điều kiện và bên kia là hoạt động, hành động và thao tác 13
Hình 1.1 Sơ đồ cấu trúc hoạt động học tập
Trang 18
Phân tích cấu trúc hoạt động học tập trên ta thấy:
Động cơ nào quy định sự hình thành và diễn biến của hoạt động ấy; muốn thỏa mãn được động cơ ấy, phải thực hiện lần lượt những hành động nào để đạt được mục đích cụ thể nào và cuối cùng mỗi hành động được thực hiện bằng nhiều thao tác sắp xếp theo một trình tự xác định, ứng với mỗi thao tác phải sử dụng những phương tiện, công cụ thích hợp
Hoạt động nào cũng có đối tượng Thông thường, các hoạt động khác có đối tượng là một khách thể, hoạt động hướng vào làm biến đổi khách thể Trong khi
đó, hoạt động học lại làm cho chính chủ thể (người học) biến đổi và phát triển Đối tượng của hoạt động học là tri thức, kĩ năng, kĩ xảo cần chiếm lĩnh Nội dung của đối tượng này không hề bị thay đổi sau khi bị chiếm lĩnh, nhưng nhờ
có sự chiếm lĩnh này mà các chức năng tâm lý của chủ thể mới được thay đổi
và phát triển
Để tổ chức tốt hoạt động nhận thức cho SV, GV cần phát huy tính tích cực,
tự giác, độc lập nhận thức của SV, tạo điều kiện để cho “HS phải tự khám phá lại
để tập làm công việc khám phá đó trong hoạt động thực tiễn sau này” 29, tr.29
Trong dạy học hiện nay GV đa số chỉ thông báo cho SV cái mới mà không tổ chức cho SV khám phá tìm cái mới đó nên hoạt động nhận thức của SV diễn ra chưa thực sự đạt kết quả cao
Vật lí học là một môn khoa học thực nghiệm, phương pháp nghiên cứu cũng như học tập đều dựa trên cơ sở quan sát, thí nghiệm để phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trìu tượng hóa thành các khái niệm, định luật, thuyết vật lí…rồi từ lý thuyết vận dụng nghiên cứu các sự vật, hiện tượng ở phạm vi rộng hơn Do vậy, để tạo điều kiện cho SV tự khám phá kiến thức, GV cần tổ chức tốt quá trình quan sát và tư duy cho SV Trong dạy học vật lí có thể có nhiều loại quan sát như: Quan sát thí nghiệm, quan sát hiện tượng tự nhiên, quan sát một bài thực nghiệm…
Để quan sát được sâu sắc cần phải hướng dẫn SV xác định mục đích, nội dung, trình tự quan sát, ghi lại dấu hiệu, phân tích và xử lí số liệu, kĩ năng đặt
Trang 19
câu hỏi với một dấu hiệu bất kỳ…Qua nhiều hoạt động và nhiều nội dung mới rèn được óc quan sát cho SV, giúp SV nhận thức tích cực hơn và tạo điều kiện cho tư duy SV phát triển
1.1.2 Tính tích cực hoạt động nhận thức của Sinh viên
1.1.2.1 Tính tích cực (TTC)
Theo từ điển Tiếng Việt “Tích cực” có ý nghĩa, có tác dụng khẳng định, tác dụng thúc đẩy sự phát triển Tỏ ra chủ động, có những hoạt động nhằm tạo ra sự biến đổi theo hướng phát triển Hăng hái, tỏ ra nhiệt tình đối với nhiệm vụ, với công việc” 22
Tính tích cực (TTC) là một phẩm chất vốn có của con người Con người sản xuất ra của cải vật chất cần thiết cho sự tồn tại, phát triển của xã hội, sáng tạo ra nền văn hoá mỗi thời đại 19
TTC của con người biểu hiện trong các hoạt động Học tập là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi đi học TTC trong hoạt động học tập là TTC nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Lĩnh hội những tri thức của loài người đồng thời tìm kiếm “khám phá” ra những hiểu biết mới cho bản thân Qua đó sẽ thông hiểu, ghi nhớ những
gì đã nắm được qua hoạt động chủ động, nỗ lực của chính mình 19
Kharlamov cho rằng “Tính tích cực là trạng thái hoạt động của chủ thể,
có nghĩa là của người hành động Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động của HS đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức” dẫn theo 25
Giáo dục có thể tạo điều kiện tốt cho việc phát huy tính tích cực của học sinh, là điều kiện cần cho sự phát triển tư duy độc lập và sáng tạo của người học, tuy nhiên nếu học sinh không được phát huy tính tích cực của mình nhất
là với phương pháp dạy học truyền thống của giáo viên thì có thể làm cho người học trở nên thụ động, thiếu tự tin, và khó mà phát huy được khả năng sáng tạo của Sinh viên
Trang 20
TTC cũng có mối quan hệ mật thiết với tính tự lực, với xúc cảm và ý chí… Tóm lại, TTC nói chung là một phẩm chất rất quan trọng của con người, được hình thành từ rất nhiều lĩnh vực, nhiều nhân tố, có quan hệ với rất nhiều phẩm chất khác của nhân cách và với môi trường, điều kiện mà chủ thể hoạt động và tồn tại
1.1.2.2 Tính tích cực nhận thức (TTCNT)
Theo quan điểm triết học, tính tích cực nhận thức thể hiện thái độ cải tạo của chủ thể nhận thức đối với đối tượng nhận thức, nghĩa là con người không chỉ hiểu được các qui luật của tự nhiên, xã hội mà còn nghiên cứu cải tạo chúng phục vụ lợi ích của con người
Tính tích cực nhận thức (TTCNT) là tính tích cực xét trong điều kiện, phạm
vi của quá trình dạy học, chủ yếu được áp dụng trong quá trình nhận thức của
HS Theo giáo sư Trần Bá Hoành “Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động của HS, đặc trưng bởi khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao
trong quá trình nắm vững kiến thức” 18
TTCNT bao gồm: Sự lựa chọn đối tượng nhận thức; đề ra cho mình mục đích, nhiệm vụ cần giải quyết sau khi đã lựa chọn đối tượng nhằm cải tạo nó Tính tích cực trong hoạt động cải tạo đòi hỏi phải có sự thay đổi trong ý thức và hành động của chủ thể nhận thức, được thể hiện bằng nhiều dấu hiệu như sự tập
trung chú ý, sự tưởng tượng mạnh mẽ, sự phân tích, tổng hợp sâu sắc… 20
Có thể phân chia TTCNT làm ba mức độ:
Tính tích cực tái hiện: Đó là mức độ thấp của tính tích cực, chủ yếu là dựa
vào trí nhớ để tái hiện những điều đã nhận thức được
Tích cực mô phỏng, bắt chước cũng là một dạng tích cực tái hiện Đây là hình thức biểu hiện tính tích cực sớm nhất, đơn giản và phổ biến nhất Điều này điễn ra rất tự nhiên, nhưng rất cần thiết cho sự phát triển Qua mô phỏng, bắt chước, tái hiện mà các em tích lũy được kiến thức và kinh nghiệm
từ các thế hệ trước
Trang 21
Tính tích cực sử dụng: Đây là sự phát triển tính tích cực ở mức độ cao hơn
Qua việc vận dụng các công cụ, các khái niệm, định lý, định luật…vào giải quyết một nhiệm vụ nào đó các em phải phân tích, suy nghĩ tìm tòi để tự lực đưa ra những phương án khác nhau, nhờ đó mà nhu cầu, hứng thú nhận thức và óc sáng tạo phát triển
Tính tích cực sáng tạo: Đây là mức độ phát triển cao nhất của tính tích cực
Nó được đặc trưng bằng sự khẳng định con đường suy nghĩ riêng của mình, vượt
ra khỏi khuôn mẫu, máy móc nhằm tạo ra cái mới, cái bất ngờ, có giá trị Tính tích cực sáng tạo tạo điều kiện cho sự phát triển các khả năng và tiềm năng sáng tạo của cá nhân Nó hướng đến việc ứng dụng những thủ thuật mới để giải quyết vấn đề, tìm tòi những biện pháp khắc phục khó khăn, đưa những phát minh mới vào cuộc sống Nó biểu thị khả năng tự mình tìm kiếm những nhiệm vụ mới, những phương pháp giải quyết mới, khả năng sử dụng những kiến thức, kĩ năng,
kĩ xảo trong những tình huống, hoàn cảnh mới Như vậy tính tích cực sáng tạo không phải là một nét riêng của tính cách cá nhân, mà là một tập hợp những dấu hiệu đặc trưng của một con người
1.1.2.3 Những biểu hiện của TTC hoạt động nhận thức
Trong học tập, học sinh chỉ có thể chiếm lĩnh được kiến thức và phát triển được
tư duy của mình khi họ tích cực nhận thức Hoạt động nhận thức là nhiệm vụ xuyên suốt trong quá trình học tập của học sinh Thông qua hoạt động nhận thức, HS chiếm lĩnh được kiến thức và năng lực tư duy cũng đồng thời được phát triển
Để phát hiện xem học sinh có tích cực nhận thức không, ta dựa vào các dấu hiệu sau:
+ Học sinh có chú ý học tập không? Có hăng hái tham gia vào các hoạt động học tập không?
+ Có hoàn thành nhiệm vụ được giao không?
+ Có ghi nhớ tốt những điều đã học không?
Trang 22
+ Có hiểu bài không? Có thể trình bày lại nội dung bài học theo ngôn ngữ riêng không?
+ Có vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tiễn không?
+ Có đọc thêm, làm thêm các bài tập khác không?
+ Thực hiện yêu cầu của thày giáo tối thiểu hay tối đa?
+ Tích cực nhất thời hay thường xuyên liên tục?
+ Tốc độ học tập có nhanh không?
+ Có hứng thú trong học tập không hay vì một ngoại lực nào đó mà phải học? + Có quyết tâm, có ý chí vượt khó khăn trong học tập không ?
+ Có sáng tạo trong học tập không ?
Trong hoạt động học tập nói chung, trong hoạt động học Vật lí nói riêng, tính tích cực hoạt thức của HS thường thể hiện ở:
+ Hoạt động trí tuệ: tập trung suy nghĩ để trả lời câu hỏi nêu ra, kiên trì tìm cho được lời giải hay của một bài toán khó
+ Hoạt động chân tay: Say sưa lắp ráp tiến hành và quan sát thí nghiệm
Hai hình thức biểu hiện này thường đi kèm nhau, tuy có lúc biểu hiện riêng lẻ với những dấu hiệu thường thấy như sau: SV khao khát tự nguyện tham gia trả lời các câu hỏi của GV, bổ sung các câu trả lời của bạn và thích được phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra, hay thắc mắc và đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề trình bày chưa rõ, chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kĩ năng đã có để nhận thức các vấn đề mới, mong muốn được đóng góp với thầy, với bạn những thông tin mới nhận từ các nguồn kiến thức khác nhau có thể vượt ra ngoài phạm vi bài học [23
1.1.3 Các biện pháp chung phát huy tính tích cực nhận thức của Sinh viên
Tính tích cực nhận thức của học sinh chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố: Bản thân học sinh, nhà trường, gia đình, xã hội Vì vậy các biện pháp phát huy TTCNT của học sinh rất đa dạng và phong phú Trong phạm vi của luận văn, chúng tôi chỉ trình bày nhóm các biện pháp cho giáo viên đứng lớp, chủ yếu
Trang 23
được thực hiện trong giờ lên lớp Nhóm biện pháp này rất quan trọng vì nó tác động trực tiếp đến học sinh và về thời gian thì dạy học chiếm hơn 80% hoạt động của nhà trường Nó gồm một số vấn đề sau 19 :
- Giác ngộ ý thức học tập, kích thích tinh thần trách nhiệm và hứng thú học tập của các em bằng cách nói lên ý nghĩa lý thuyết và thực tiễn, tầm quan
trọng của vấn đề nghiên cứu
- Kích thích hứng thú qua nội dung: Đây là biện pháp mà GV hay sử dụng
nhất Tùy thế mạnh của từng môn học mà cách kích thích hứng thú sẽ khác nhau Nhưng nhìn chung, muốn kích thích được hứng thú của SV thì nội dung phải mới, không quá xa lạ với SV mà cái mới phải liên hệ và phát triển cái cũ, phát triển những kiến thức và kinh nghiệm mà các em đã có, phải gắn liền với cuộc sống hiện tại và có khả năng ứng dụng trong tương lai
- Kích thích hứng thú qua phương pháp dạy học: Để tích cực hóa hoạt
động nhận thức của SV phải phối hợp nhiều phương pháp với nhau, nhưng những phương pháp có tác dụng tốt nhất trong việc tích cực hóa hoạt động nhận thức là: Dạy học nêu vấn đề, thí nghiệm, thực hành, thảo luận, tự học, trò chơi học tập…
- Sử dụng các phương tiện dạy học, đặc biệt là những phương tiện kỹ thuật
dạy học hiện đại Đây là biện pháp hết sức quan trọng nhằm nâng cao TTC của
SV và giúp nhà trường đưa chất lượng dạy học lên một tầm cao mới
- Sử dụng các hình thức tổ chức dạy học khác nhau: Cá nhân, nhóm, tập
thể lớp…; làm việc trong vườn trường, phòng thí nghiệm…; tổ chức tham
quan, các hoạt động nội, ngoại khóa đa dạng 18
Việc tổ chức cho SV tham quan thực tế, tham gia các hoạt động xã hội có tác dụng rất tốt trong việc tạo nên những động lực học tập lãnh mạnh và tính tích cực học tập
Ngoài ra có thể tích cực hóa hoạt động nhận thức của SV qua nhiều biện pháp như:
Trang 24thông tin đại chúng và các hoạt động xã hội 2
1.2 Vận dụng các phương pháp, phương tiện dạy học nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của Sinh viên
1.2.1 Quan niệm về phương pháp dạy học theo hướng tích cực
Theo Bùi Minh Đức, Nên quan niệm thế nào về phương pháp dạy học
tích cực, Đó là: Phương pháp dạy học tích cực = Phương pháp dạy tích cực
của GV + Phương pháp học tích cực của HS
Phương pháp dạy học tích cực là phương pháp mà khi vận dụng sẽ phát huy tính tích cực của GV và cả HS Phương pháp dạy học tích cực là phương pháp mà khi vận dụng vừa đòi hỏi vừa thúc đẩy sự tích cực bên trong (tư duy, tình cảm) và tích cực bên ngoài (thái độ, hành động) của cả
GV và HS [16]
Cơ sở của phương pháp luận là lý luận, trong quá trình dạy học cần kích thích sự hứng thú trong học tập cho SV, cần phát huy tính tích cực, tính tự lực sáng tạo trong học tập của SV Để làm điều đó đòi hỏi người thày giáo phải lựa chọn, tìm tòi những phương pháp dạy học phù hợp với nội dung bài học, đặc điểm của đối tượng, điều kiện vật chất, và đây là một hoạt động sáng tạo của người thày trong hoạt động dạy Phương pháp dạy học theo hướng tích cực cần thể hiện được sự phản ánh quá trình hoạt động nhận thức của SV nhằm đạt được mục đích đã đề ra trong đó GV tổ chức cho SV hoạt động theo hướng tích cực, giúp SV tự giác tiếp nhận kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo nhằm đạt được mục
đích đề ra với kết quả cao
Trang 25
1.2.2 Những đặc trưng của PPDH theo hướng tích cực
D&HTC là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước, để chỉ những
PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học
D&HTC là sự kết hợp linh hoạt nhiều PPDH phù hợp với nội dung, trình độ nhận thức của HS và điều kiện thực tế để đạt được mục tiêu của bài học Phương pháp dạy học theo hướng tích cực thể hiện bởi các đặc trưng cơ bản sau:
* Dạy học hướng vào học sinh
Dạy học hướng vào học sinh là lối dạy học do người học chủ động điều khiển, cá nhân của người học vừa là mục đích vừa là chủ thể của quá trình học tập để cho tiềm năng của mỗi cá nhân được phát triển đầy đủ
Phương pháp dạy học tích cực đề cao vai trò chủ thể của người học, xem
HS vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của quá trình dạy học Dĩ nhiên việc đề cao vai trò của chủ thể tích cực chủ động của người học không phủ nhận vai trò chủ
đạo của người dạy [7]
* Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh
Theo lý thuyết hoạt động được Vưgôtxki khởi xướng và A.N.Lêônchip phát triển: Bằng hoạt động và thông qua hoạt động, mỗi người tự sinh thành ra mình, tạo dựng và phát triển ý thức cũng như nhân cách cho bản thân
Vận dụng vào dạy học, việc học tập của học sinh có bản chất hoạt động: Bằng hoạt động và thông qua hoạt động của bản thân mà chiếm lĩnh kiến thức, hình thành và phát triển năng lực trí tuệ cũng như quan điểm đạo đức, thái độ Kết quả của việc học tập phụ thuộc chủ yếu vào hoạt động học của học sinh
Nhiệm vụ chính của GV là tổ chức, hướng dẫn hoạt động học của HS để thông qua hoạt động đó mà HS lĩnh hội được nền văn hoá xã hội, tạo ra sự phát triển những phẩm chất, tâm lý và hình thành nhân cách cho chính bản thân Với môn Vật lí, muốn tổ chức, hướng dẫn tốt hoạt động học tập vật lí của HS mà thực chất là hoạt động nhận thức vật lí, người GV cần nắm vững quy luật chung nhất của quá trình nhận thức khoa học, lôgic hình thành các kiến thức vật lí,
Trang 26
những hành động thường gặp trong quá trình nhận thức vật lí, những phương pháp nhận thức vật lí phổ biến để hoạch định những hành động, thao tác cần thiết của HS trong quá trình chiếm lĩnh một kiến thức hay một kĩ năng xác định
và cuối cùng là nắm được những biện pháp để động viên khuyến khích HS tích cực, tự lực thực hiện các hành động đó, đánh giá kết quả hành động [18]
* Dạy học chú trọng đến việc rèn luyện phương pháp tự học, tự nghiên cứu
Muốn phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học thì cần xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ là một phương tiện nâng cao hiệu quả dạy học mà phải xem đó là một mục tiêu dạy học Trong một
xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh với sự bùng nổ thông tin, khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão thì việc dạy học không thể hạn chế ở chức năng dạy kiến thức mà phải chuyển mạnh sang dạy cả phương pháp học
* Dạy học chú trọng đến việc trau dồi kiến thức và bồi dưỡng kĩ năng, kĩ xảo
Quá trình dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức, học sinh phải tự nỗ lực, tích cực cao trong hoạt động nhận thức của bản thân Tính tích cực thể hiện ở nhiều mức độ và dưới nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, việc bồi dưỡng kĩ năng, kĩ xảo thể hiện rõ trong việc tích cực hoá hoạt động nhận thức, kĩ năng bao gồm các kĩ năng thu nhập và xử lí thông tin như: quan sát, thực nghiệm, lấy số liệu, tra cứu, lập bảng biểu, vẽ đồ thị, rút ra kết luận, xây dựng các dự đoán, các giả thuyết khoa học Các kĩ năng này sẽ được trau dồi thông qua hoạt động tích cực của bản thân trong quá trình lĩnh hội kiến thức Cũng thông qua hoạt động này ta đã rèn luyện cho HS tác phong làm việc khoa học, thể hiện tính kiên nhẫn, tỉ mỉ, chính xác, trung thực và có kế hoạch cụ thể trong học tập cũng như trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học theo hướng tích cực hoá [18]
* Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
Phương pháp dạy học tích cực đòi hỏi sự cố gắng và nỗ lực của mỗi HS trong quá trình tự chiếm lĩnh kiến thức mới Vì vậy, phải chú ý đến vai trò của
Trang 27
từng cá nhân trong hoạt động dạy học Tuy nhiên vai trò cá nhân chỉ phát huy tốt thông qua sự tương tác giữa GV- HS, giữa HS- HS và tương tác giữa các nhóm với nhau, đó chính là phương pháp học tập hợp tác Trong dạy học, công việc hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường Sử dụng phổ biến nhất là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ, từ 4-6 người Học tập nhóm, tổ tạo cho HS có nhiều cơ hội bộc lộ suy nghĩ, hiểu biết và thái độ của mình, cũng như biết cách bảo vệ ý kiến của mình Đó là cách tốt nhất để hình thành cho HS tính tích cực, độc lập và sáng tạo trong suy nghĩ, cũng như hành động [19]
* Kết hợp đánh giá của GV và tự đánh giá của HS
Qúa trình dạy học bao gồm hai hoạt động dạy và học, với hai chủ thể là
GV và HS Trong quá trình này luôn có sự điều chỉnh và tự điều chỉnh Vì vậy ngoài sự đánh giá của GV phải có sự tự đánh giá của HS Trong phương pháp dạy học tích cực, GV phải hướng dẫn HS phát triển kĩ năng tự đánh giá và tạo điều kiện để HS được tham gia đánh giá lẫn nhau, từ đó HS sẽ đưa ra những nhận định về bản thân và tự điều chỉnh cách học của mình cho phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả học tập [19]
1.2.3 Một số phương pháp dạy học tích cực
Một số PPDH quen thuộc như: dùng lời, trực quan, minh hoạ, vấn đáp, thảo luận nhóm, dạy học nêu và giải quyết vấn đề, trò chơi, động não thực hành, thí nghiệm và một số PP có tên gọi mới hiện tại đang được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới như: Học theo góc, học theo hợp đồng, học theo dự án…[7]
Theo quan điểm về PPDHTC, một số PPDH dưới đây cần được quan tâm trong việc đổi mới PPDH theo hướng tích cực hóa hoạt động của HS
* Vấn đáp
Vấn đáp (đàm thoại) là phương pháp trong đó GV đặt ra những câu hỏi để
HS trả lời, hoặc có thể tranh luận với nhau và với cả GV, qua đó HS lĩnh hội được nội dung bài học Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức, người ta phân biệt 3 phương pháp vấn đáp [19]:
Trang 28
- Vấn đáp tái hiện: GV đặt ra những câu hỏi chỉ yêu cầu HS nhớ lại những
kiến thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận Đó là biện pháp được dùng khi cần đặt mối quan hệ giữa kiến thức đã học với kiến thức sắp học hoặc khi cần củng cố kiến thức vừa mới học
- Vấn đáp giải thích- minh họa: Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề tài nào
đó, GV lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh họa để HS dễ hiểu, dễ nhớ Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của các phương tiện nghe nhìn
- Vấn đáp tìm tòi (đàm thoại Ơrixtic): GV dùng hệ thống câu hỏi được sắp
xếp hợp lí để hướng dẫn HS từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết GV tổ chức
sự trao đổi ý kiến, kể cả tranh luận giữa thày và cả lớp, có khi giữa trò với trò, nhằm giải quyết một vấn đề xác định Trong vấn đáp tìm tòi, GV giống như người tổ chức sự tìm tòi còn HS giống như người tự lực phát hiện kiến thức mới
Vì vậy khi kết thúc cuộc đàm thoại, HS có được niềm vui của sự khám phá, trưởng thành thêm một bước về trình độ tư duy
* Dạy học giải quyết vấn đề
Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề là phương pháp dạy học dựa trên những quy luật của sự lĩnh hội tri thức và cách thức hoạt động một cách sáng tạo,
có những nét cơ bản của sự tìm tòi khoa học Bản chất của nó là đặt ra trước HS một chuỗi các “tình huống có vấn đề”, những điều kiện đảm bảo việc giải quyết các vấn đề đó và những chỉ dẫn nhằm đưa HS vào con đường tự lực giải quyết các vấn đề đã đặt ra Bằng cách đó, HS vừa nắm được tri thức mới, vừa nắm được phương pháp đi tới tri thức đó, lại vừa phát triển tư duy tích cực, sáng tạo
và có khả năng vận dụng tri thức vào giải quyết tình huống mới
Dạy học giải quyết vấn đề không chỉ giới hạn ở phạm trù phương pháp dạy học Việc áp dụng dạy học giải quyết vấn đề đòi hỏi phải đổi mới cả nội dung, đổi mới cách tổ chức quá trình dạy học trong mối liên quan thống nhất với phương pháp dạy học
Trang 29- Phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh
- Phát biểu vấn đề cần giải quyết
Giai đoạn 2: Giải quyết vấn đề đặt ra
- Đề xuất các giả thuyết
- Lập kế hoạch giải quyết
- Thực hiện kế hoạch giải quyết
Giai đoạn 3: Kết luận
- Thảo luận đánh giá kết quả
- Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết đã nêu ra
- Phát biểu kết luận
- Đề xuất vấn đề mới
Trong dạy học giải quyết vấn đề có thể phân biệt bốn mức trình độ:
Mức 1: GV đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề HS thực hiện cách giải
quyết vấn đề theo hướng dẫn của GV GV đánh giá kết quả làm việc của HS
Mức 2: GV nêu vấn đề, gợi ý để HS tìm ra cách giải quyết vấn đề HS thực
hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của GV khi cần GV và HS cùng đánh giá
Mức 3: GV cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề HS phát hiện và
xác định vấn đề nảy sinh, tự lực đề xuất các giả thuyết và lựa chọn phương
pháp HS thực hiện cách giải quyết vấn đề GV và HS cùng đánh giá
Mức 4: HS tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình
hoặc của cộng đồng, lựa chọn vấn đề phải giải quyết HS giải quyết vấn đề, tự đánh giá chất lượng, hiệu quả, có ý kiến bổ sung của GV khi kết thúc
Trang 30Cấu tạo của một tiết học (hoặc một buổi làm việc) theo nhóm có thể như sau [3]:
Bước 1- Làm việc chung cả lớp
- GV nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức cho HS
- Tổ chức các nhóm HS và giao nhiệm vụ cho các nhóm
- Hướng dẫn cách làm việc của nhóm
Bước 2: Làm việc theo nhóm
- Phân công trong nhóm
- Cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi hoặc tổ chức thảo luận trong nhóm
- Cử đại diện trình bày kết quả làm việc theo nhóm
Bước 3: Thảo luận tổng kết trước lớp
- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả
- Thảo luận chung cả lớp
- GV tổng kết, đặt vấn đề cho bài học tiếp theo hoặc vấn đề tiếp theo trong bài Phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ cho phép các thành viên của nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận
rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải chỉ là sự tiếp nhận thụ động từ giáo viên Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi thành viên, vì vậy phương pháp này còn được gọi là phương pháp cùng tham gia
1.2.4 Phương tiện dạy học
Phương tiện dạy học (PTDH) là tập hợp những đối tượng vật chất được giáo viên sử dụng với tư cách là những phương tiện tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của HS, và đối với HS, đó là phương tiện để tiến hành hoạt động nhận thức của mình, thông qua đó mà thực hiện những nhiệm vụ dạy học
Trang 31
1.2.4.1 Các loại PTDH sử dụng trong dạy học Vật lí
Vật lí là môn khoa học thực nghiệm và sự cần thiết cho HS thấy được các hiện tượng vật lí thực trong đời sống và kỹ thuật Vì vậy, các PTHD sử dụng trong dạy học Vật lí rất đa dạng và phong phú Trong số đó, các thiết bị thí nghiệm dùng cho thí nghiệm của GV và thí nghiệm của HS có vai trò quan trọng hàng đầu và không thể thiếu được.Có thể chia PTDH sử dụng trong dạy học Vật
lí thành hai loại Đó là: Các PTDH truyền thống và Các PTDH hiện đại
* Các PTDH truyền thống [19]
Trong dạy học Vật lí, các phương tiện dạy học sau đây thường được xem là các PTDH truyền thống
- Các vật thật trong đời sống và kĩ thuật
- Các thiết bị thí nghiệm dùng để tiến hành các thí nghiệm của GV và các thí nghiệm của HS
- Các phần mềm máy vi tính mô phỏng, minh họa các hiện tượng, quá
trình vật lí; luyện tập cho HS giải bài tập và giải quyết các vấn đề học tập trên máy vi tính; tiến hành các thí nghiệm với các thiết bị thí nghiệm hiện đại, trong đó máy vi tính như là máy đo, xử lí các kết quả thí nghiệm Các thiết bị nghe- nhìn thường được trang bị là: Đèn chiếu, máy chiếu phim, máy thu hình, máy chiếu LCD đa năng, máy vi tính…
Trang 32
1.2.4.2 Vấn đề sử dụng PTDH trong qúa trình dạy học
PTDH có ý nghĩa quan trọng trong toàn bộ quá trình dạy học,GV sử dụng
nó như thế nào vào cách nghiên cứu, chế biến tài liệu dạy học mà họ sẽ tiến hành
để đem lại kết quả cao nhất trong quá trình dạy học
Tiết học với việc sử dụng những phương tiện kỹ thuật dạy học là một kiểu tiết học mới mà trong đó bắt buộc người GV phải sử dụng PPDH phù hợp với chúng Những PTDH, đặc biệt là những phương tiện kỹ thuật dạy học làm thay đổi cấu trúc và cả nhịp điệu tiết học, kết quả là dẫn tới làm thay đổi vị trí người
GV trong tiết học Điều đó đòi hỏi năng lực, trình độ của người GV Hiệu quả sử dụng những PTDH càng lớn khi họ có trình độ nghiệp vụ càng cao [17]
Khi sử dụng những PTDH, đặc biệt là phương tiện kỹ thuật dạy học trong một tiết học, người GV cần chú ý các yêu cầu sau [23]
- Nghiên cứu tài liệu để phân chia chúng và xác định chính xác những phương tiện dạy học nào cần thiết phải sử dụng, mục tiêu sư phạm sử dụng từng PTDH đó, kết quả cần đạt được
- Biết tính năng của từng phương tiện và qua đó phối hợp các PTDH khác nhau để đạt hiệu quả sư phạm cao
- Xác định vị trí của phương tiện đó trong tiết học, nghĩa là chọn thời điểm của tiết học để sử dụng phương tiện đó đạt hiệu quả cao nhất
- Xác định độ dài thời gian sử dụng phương tiện đó
- Suy nghĩ kĩ về sự phù hợp giữa những PTDH đã lựa chọn với những PTDH khác
- Suy nghĩ cẩn thận những biện pháp, cách thức chuẩn bị cho HS tri giác tài liệu học tập cũng như việc nghiên cứu tài liệu sau khi đã quan sát hoặc nghe đầy đủ
- Xây dựng kế hoạch và tiến hành tổ chức tiết học với việc sử dụng phối hợp những PTDH một cách thích hợp, nhằm phát huy tính tích cực, tự lực nhận thức của HS trong việc lĩnh hội tài liệu học tập
1.3 Bản đồ tư duy
1.3.1 Khái niệm bản đồ tư duy
Bản đồ tư duy (BĐTD) còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy,… là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một
Trang 33
chủ đề hay một mạch kiến thức,…bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực Kỹ thuật tạo ra loại bản đồ này được gọi là mind mapping và được phát triển bởi Tony Buzan vào đầu những năm 1970
Ở vị trí trung tâm BĐTD là một hình ảnh hay một từ khóa thể hiện một ý tưởng hay khái niệm chủ đạo Từ ý trung tâm hay hình ảnh trung tâm tỏa ra các nhánh chính, ta gọi là nhánh cấp 1, từ các nhánh chính lại có sự phân nhánh đến các nhánh gọi là nhánh cấp 2 để nghiên cứu sâu hơn Cứ thế, sự phân nhánh cứ tiếp tục và các khái niệm hay hình ảnh luôn được kết nối với nhau Chính sự liên kết này sẽ tạo ra một “bức tranh tổng thể” mô tả về ý trung tâm một cách đầy đủ và rõ ràng [26]
Khi sử dụng công cụ BĐTD để ghi chép, người đọc có thể dễ dàng nhận thấy sự liên kết các ý tưởng dựa trên mối liên hệ của bản thân chúng, nhờ vậy BĐTD có thể bao quát được các ý tưởng trên một phạm vi sâu rộng mà một bản liệt kê ý tưởng thông thường không thể làm được
1.3.2 Cách đọc bản đồ tư duy
Cấu trúc của BĐTD không xuất phát từ trái sang phải và từ trên xuống dưới theo kiểu truyền thống Thay vào đó, BĐTD được vẽ, viết và đọc theo
hướng bắt nguồn từ trung tâm
di chuyển ra phía ngoài và sau
đó là theo chiều kim đồng hồ
Các mũi tên xung quanh
BĐTD ở hình 1.2 chỉ ra cách
đọc thông tin trong bản đồ và
các số thứ tự cũng chính là
thứ tự ghi và đọc các thông tin
trong đó [26] Hình 1.2 Sơ đồ hướng dẫn cách đọc bản đồ tư duy
Trang 34
1.3.3 Cách vẽ bản đồ tư duy
1.3.3.1 Công cụ vẽ bản đồ tư duy
Có hai cách vẽ BĐTD: Vẽ bằng tay hoặc bằng phần mềm máy tính Nếu
vẽ bằng tay thì người học sử dụng bút chì màu, phấn, tẩy,…vẽ trên giấy, bìa, bảng phụ Nếu vẽ bằng phần mềm người học có thể sử dụng các phần mềm bản đồ tư duy như: Bản miễn phí Concept Draw MINDMAP 5 Professional, FreeMind, MindManager, Buzan‟s iMindMap…hoặc vẽ bằng chương trình
Microsoft Word [27]
1.3.3.2 Cách vẽ bản đồ tư duy
Sử dụng phần mềm iMindMap trong việc vẽ các BĐTD
Tài liệu do tác giả biên soạn dùng để hướng dẫn sử dụng iMindMap một
cách nhanh chóng Đơn giản chỉ việc làm theo các bước cấu trúc dễ dàng để tạo
ra BĐTD đầu tiên cho bạn Chi tiết hướng dẫn cụ thể xem phụ lục 5
Tài liệu không hoàn toàn trình bày đầy đủ các tính năng của phần mềm
Để có những thông tin đầy đủ hơn về những tính năng và công cụ nâng cao của phần mềm, bạn có thể khám phá trong iMindMap®Help bằng cách ấn vào menu lệnh Help trên thanh tiêu đề ở góc phải Cửa sổ trang Help sẽ mở ra và bạn có thể khám phá nó Ngoài ra, khi cài đặt xong bạn cũng có thể vào thư mục cài đặt C\progarm Files\Buzan Online\Buzan‟s iMindMap\docs để copy
file HelpWindows dưới dạng pdf sử dụng [14]
- Bước 1: Chọn từ trung tâm (hay còn gọi là từ khóa)
Từ trung tâm là tên của một bài hay một chủ đề hay một nội dung kiến thức cần khai thác Khi vẽ HS có thể sử dụng hình vẽ, màu sắc mà các em
thích để làm nổi bật chủ đề
- Bước 2: Vẽ các tiêu đề phụ (nhánh cấp 1)
Nội dung của các tiêu đề phụ chính là các nội dung kiến thức cơ bản của một bài học hoặc một đơn vị kiến thức nào đó của bài học Những nội dung kiến thức này sẽ góp phần làm sáng tỏ nội dung của chủ đề chính ở trung tâm
- Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ, vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ
trợ (nhánh cấp 2,3…)
Trang 35
Sau khi vẽ các tiêu đề phụ, HS xác định những nội dung kiến thức hỗ trợ cho nội dung của các tiêu đề phụ đó rồi tiến hành vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ
- Bước 4: Hoàn thiện BĐTD
Học sinh có thể vẽ thêm hình ảnh và sử dụng màu sắc giúp các ý quan trọng thêm nổi bật, bổ sung các liên kết cần thiết để hoàn thiện BĐTD
Chú ý: Khi vẽ một BĐTD nên
- Sử dụng nhiều màu sắc, dùng đường cong thay các đường thẳng vì đường cong sẽ thu hút sự chú ý của mắt hơn
- Sử dụng hình ảnh minh họa nếu có thể để thay thế cho chữ viết ở mỗi ý
- Mỗi ý, nếu không thể dùng hình ảnh phải rút xuống tối đa thành một từ khóa ngắn gọn
- Tưởng tượng nên được phát huy tối đa, ý tưởng sẽ được nảy sinh nhanh hơn là khi viết ra
Có thể tóm lược cách vẽ bản đồ tư duy bằng một BĐTD như sau:
Hình 1.3 Sơ đồ hướng dẫn cách vẽ bản đồ tư duy
Trang 36
1.3.3.3 Nguyên tắc vẽ bản đồ tư duy
Để sử dụng công cụ BĐTD một cách có kết quả, trong quá trình lập và sử
dụng BĐTD, cần tuân thủ theo các nguyên tắc sau: Nhấn mạnh, liên kết và mạch lạc
Nhấn mạnh có tác dụng tăng trí nhớ và đẩy mạnh sự sáng tạo Mọi kỹ
thuật để nhấn mạnh đều có thể được dùng để liên kết, và ngược lại Muốn đạt hiệu quả nhấn mạnh tối ưu trong BĐTD hãy sử dụng hình ảnh, màu sắc, kích
cỡ của chữ viết một cách thích hợp để thu hút sự tập trung của mắt và não
Quy tắc kỹ thuật vẽ :
Luôn dùng hình ảnh trung tâm
Dùng hình ảnh ở mọi nơi trong BĐTD
Mỗi ảnh trung tâm dùng ít nhất ba màu
Dùng kích cỡ trong các ảnh và xung quanh các từ
Sử dụng sự tương tác ngũ quan
Thay đổi kích cỡ ảnh, chữ in và dòng chữ chạy
Cách dòng có tổ chức
Cách dòng thích hợp
Liên kết tạo ra mối liên hệ giữa các kiến thức thành phần trong một chủ đề
thống nhất có vai trò tăng trí nhớ và tính sáng tạo của HS Khi HS đã xác định hình ảnh ở trung tâm và ý chủ đạo thì khả năng liên kết của não sẽ giúp các em
đi sâu vào thế giới ý tưởng Việc dùng kí hiệu để liên kết là quy tắc khá quan trọng Khi dùng kí hiệu, các mối liên kết giữa các bộ phận trong cùng một trang trong BĐTD sẽ dễ dàng được tìm thấy bất kể chúng xa hay gần nhau Có thể kí hiệu bằng dấu thập chéo, vòng tròn, tam giác, gạch dưới hay những kí hiệu phức tạp hơn…Kí hiệu cũng giúp tiết kiệm thời gian
Quy tắc kỹ thuật vẽ:
Dùng mũi tên để chỉ các mối quan hệ cùng nhánh, hoặc khác nhánh
Dùng màu sắc
Trang 37
Dùng ký hiệu
Mạch lạc: Sự diễn đạt sáng sủa, dễ nhìn của BĐTD cũng đóng vai trò quan
trọng trong việc tăng cường hứng thú và giúp cho việc ghi nhớ trở nên dễ dàng hơn đối với người học Một ghi chú viết vẽ nghệch ngoạc sẽ gây trở ngại nhiều hơn là giúp cho trí nhớ vì nó đi ngược lại bản tính liên kết của tư duy và hạn chế tư duy mạch lạc
Quy tắc kỹ thuật vẽ:
Mỗi dòng chỉ có một từ khóa
Luôn dùng chữ in
Viết in từ khóa trên vạch liên kết
Vạch liên kết và các từ luôn cùng độ dài
Các vạch liên kết nối với nhau và các nhánh chính luôn nối với ảnh trung tâm Vạch liên kết trung tâm dùng nét đậm
- Trình tự phân cấp: Từ từ khóa hình ảnh trung tâm hay từ một ý chủ đạo
được triển khai ra hàng loạt các ý con, việc phân cấp các phân hạng tức sắp xếp
vị trí các ý con tùy thuộc vào mức độ quan trọng của chúng, mang lại hiệu quả
to lớn trong việc nâng cao năng lực tư duy của não
- Trình tự đánh số: Nếu phải sử dụng BĐTD để truyền đạt ý tưởng của
mình theo trình tự cụ thể, theo thứ tự thời gian hoặc theo mức độ quan trọng, bạn có thể đánh số các nhánh BĐTD theo trình tự mong muốn, trong trường hợp cần thiết, có thể phân bố cả thời gian hay mức độ nhấn mạnh phù hợp cho từng nhánh
Trang 38
1.3.4 Các ứng dụng của bản đồ tư duy trong dạy học
1.3.4.1 Bản đồ tư duy hỗ trợ hoạt động dạy [26]
Trong hoạt động dạy học GV có thể sử dụng BĐTD theo nhiều cách thực
tế để làm cho việc dạy học dễ dàng, lý thú hơn
* Soạn ghi chú cho bài giảng
Dùng BĐTD so với cách phải viết ra thì việc soạn bài giảng theo hình thức BĐTD nhanh hơn nhiều và có ưu điểm lớn là cho phép cả GV và HS lúc nào cũng có cái nhìn tổng quát về chủ đề Một bài giảng theo BĐTD dễ cập nhật theo thời gian và các chi tiết trong bài giảng cũng không bao giờ bị xáo trộn Nhờ có những đặc tính hỗ trợ trí nhớ, BĐTD cho phép GV chỉ cần xem lướt qua trước khi lên lớp là có thể nắm bắt được trọng tâm Vì kiến thức của GV ngày càng phong phú hơn nên cùng một BĐTD sẽ hình thành nhiều bài giảng khác nhau nếu nó được sử dụng năm này qua năm khác Điều đó giúp GV tránh được sự tẻ nhạt của các ghi chú đã quá cũ mà không cần phải tốn thêm công sức Nhờ thế, việc giảng dạy trở nên sinh động và hấp dẫn hơn đối với cả GV lẫn HS
Dùng BĐTD làm dàn ý cho bài giảng giúp cho một bài giảng với bố cục
rõ ràng, hợp lý của một bài thuyết trình Hơn nữa, BĐTD còn cho phép GV giảng bài theo đúng thời gian quy định, hoặc nếu thời gian thay đổi vì một lý
do nào đó thì GV cũng có thể chỉnh sửa cho bài giảng dài hơn hay ngắn đi theo yêu cầu
* Xây dựng các kế hoạch cho năm học
- Kế hoạch cho năm: Giáo viên có thể dùng BĐTD để có cái nhìn tổng quát về chương trình học của năm, bao gồm các học kỳ và hình thức bài học phải dạy
- Kế hoạch cho từng chương: Đây là một phần của kế hoạch hàng năm, thường có dạng BĐTD nhỏ hơn, và được phát triển từ một hay nhiều nhánh trong chương trình cho năm Kế hoạch của học kỳ có thể cho thấy chủ đề và thứ tự giảng dạy mà GV sẽ theo trong quá trình
Trang 39* Bài học xây dựng kiến thức mới
Mục đích chính là xây dựng kiến thức mới, xác định đặc tính mới của đối tượng hoặc các mối quan hệ trong đối tượng đó, hiểu nội dung cơ bản của kiến thức mới Sử dụng BĐTD có thể dễ dàng giúp HS liên kết và tổ chức tri thức cũng như sự kiện liên quan nhằm tìm ra những đặc tính và mối quan hệ của các đối tượng trong kiến thức mới
Trước tiên, GV vẽ chủ đề hay từ khóa kiến thức mới cần xây dựng ở giữa bảng, cùng HS đưa ra những ý chính có liên quan Tương ứng với mỗi ý chính,
GV vẽ nhánh chính rồi lan tỏa ra các nhánh con nhờ việc bổ sung các ý tưởng của cả lớp
BĐTD có cấu trúc mở nên mỗi sự đóng góp ý kiến đều có thể hợp nhất trên bản đồ với sự hợp lý nhất định Vì vậy tạo cho HS động cơ, hứng thú, nhu cầu tìm tòi kiến thức Và do quá trình chính bản thân HS tham gia vào xây dựng kiến thức mới sẽ giúp HS ghi nhớ lâu hơn những vấn đề được học
Cấu trúc bài học xây dựng kiến thức mới theo định hướng sử dụng BĐTD:
- Củng cố kiến thức xuất phát, tạo tình huống nhận thức
- Xây dựng kiến thức mới
- Củng cố, hệ thống hóa kiến thức mới bằng việc GV vẽ BĐTD, học sinh
Trang 40
thuyết minh hoặc HS vừa vẽ, vừa thuyết minh BĐTD, GV nhận xét, bổ sung, hoàn chỉnh BĐTD
- Vận dụng kiến thức
* Bài học luyện tập giải bài tập
Mục đích chính là làm cho HS hiểu sâu hơn những kiến thức đã học, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo vận dụng kiến thức vào việc giải bài tập cũng như vào thực tiễn đời sống, sản xuất
Việc luyện tập giải bài tập vật lí cũng có nhiều dạng và nhiều cấp độ khác nhau Trong mỗi dạng như vậy BĐTD cũng ít nhiều góp phần hoàn tất công việc một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất
Cấu trúc bài học luyện tập giải bài tập vật lí theo định hướng sử dụng bản
lí những thông tin động để rút ra kết luận khái quát, đáng tin cậy
Cấu trúc bài học thực hành vật lí theo định hướng sử dụng BĐTD:
- Củng cố, hệ thống hóa lý thuyết
- Phân công công việc
* Bài học ôn tập, tổng kết hệ thống hóa kiến thức
Trong dạy học, hệ thống hóa kiến thức có vai trò rất quan trọng, giúp HS hình dung tri thức trong mối quan hệ biện chứng với tri thức khác trong cùng