Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ĐINH THỊ HỒNG MƠ NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÚC TIẾN TÁI SINH CÁC TRẠNG THÁI RỪNG PHỤC
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐINH THỊ HỒNG MƠ
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÚC TIẾN TÁI SINH CÁC TRẠNG THÁI RỪNG PHỤC HỒI TỰ NHIÊN
TẠI HUYỆN ĐẠI TỪ - THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: 1.PGS.TS Đặng Kim
Vui
2.TS Đặng Kim Tuyến
CHỮ KÝ PHÒNG QLĐTSĐH CHỮ KÝ KHOA CHUYÊN MÔN CHỮ KÝ GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng có ai công bố trong một số công trình nào khác
Tác giả
Đinh Thị Hồng Mơ
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN!
Đào tạo nâng cao trình độ học vấn là cần thiết với mỗi con người nói chung và đào tạo trình độ thạc sỹ lâm nghiệp của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng Sau một thời gian học tập và nghiên cứu tại Phòng Sau Đại học - Trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên đến nay tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Để hoàn thành luận văn thạc sỹ khoa học Lâm Nghiệp, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc Đại học Thái Nguyên; Ban giám hiệu nhà trường, Phòng sau Đại học cùng toàn thể các thầy cô đã truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt thời gian theo học ở trường Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Đặng Kim Vui - Đại học Thái Nguyên; TS Đặng Kim Tuyến - Khoa Lâm Nghiệp - Trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này
Tôn xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ vô cùng quý báu của Đảng ủy, HĐND - UBND cùng các ban, ngành đoàn thể của xã Quân Chu; xã Phú Xuyên
- huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên đã giúp đỡ, cung cấp thông tin trong suốt thời gian tôi nghiên cứu đề tài
Một lần nữa tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành tới những
sự giúp đỡ quý báu đó
Tác giả
Đinh Thị Hồng Mơ
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
2.1 Về lý luận: 3
2.2 Về thực tiễn: 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Ý nghĩa của đề tài 4
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Trên thế giới 5
1.1.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng 5
1.1.2 Nghiên cứu về tái sinh rừng 8
1.1.3 Nghiên cứu về phục hồi rừng trên thế giới 11
1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam 12
1.2.1 Những nghiên cứu về cấu trúc rừng 12
1.2.2 Những nghiên cứu về tái sinh rừng 14
1.2.3 Phục hồi rừng ở trong nước 21
1.2.3.1 Quan điểm về phục hồi rừng ở Việt Nam 21
1.2.3.2 Hiện trạng suy thoái tài nguyên rừng ở Việt Nam 22
1.3.3.3 Lịch sử hình thành và phát triển của các biện pháp kỹ thuật phục hồi rừng 25
1.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 35
1.3.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 35
1.3.1.1 Điều kiện tự nhiên 35
1.3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 37
1.3.1.2.1.Về kinh tế 37
1.3.1.2.2 Về văn hóa - xã hội 38
1.3.2 Một số đặc điểm cơ bản xã Quân Chu - huyện Đại Từ 39
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
1.3.2.1 Điều kiện tự nhiên 39
1.3.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 40
1.3.2.3 Công tác Văn hóa xã hội – Giáo dục – Y tế 41
1.3.3 Một số đặc điểm cơ bản xã Phú Xuyên - huyện Đại Từ 43
1.3.3.1 Điều kiện tự nhiên 43
1.3.3.2 Tình hình kinh tế - xã hội 43
2.3.3 Hiện trạng sản xuất nông, lâm nghiệp thủy sản 44
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 47
2.1 Nội dung nghiên cứu 47
2.1.1 Nghiên cứu hiện trạng quản lý sử dụng tài nguyên rừng trên địa bàn: 47
2.1.2 Nghiên cứu một số chính sách ảnh hưởng đến quản lý phát triển rừng 47
2.1.3 Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tầng cây cao của từng trạng thái rừng về: 47 2.1.4 Nghiên cứu đặc điểm lớp cây tái sinh của từng trạng thái rừng 47
2.1.5 Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến mật độ và khả năng sinh trưởng của cây tái sinh tự nhiên 48
2.1.6 Đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh 48
2.2 Phương pháp nghiên cứu 48
2.2.1 Ngoại nghiệp 48
2.2.2 Nội nghiệp 53
2.2.2.1 Nghiên cứu cây tầng gỗ 53
2.2.2.2 Nghiên cứu đặ i sinh 55
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨ ẢO LUẬN 56
3.1 Kết quả nghiên cứu về hiện trạng quản lý, sử dụng tài nguyên rừng tại khu vực nghiên cứu 56
3.1.1 Thực trạng quy hoạch sử dụng rừng 56
3.1.2 Các hình thức quản lý rừng 57
3.1.3 Các biện pháp kỹ thuật lâm sinh đã và đang áp dụng cho các loại rừng 58
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
3.1.4 Những thuận lợi, khó khăn trong quản lý và phát triển rừng 59
3.2 Nghiên cứu một số chính sách ảnh hưởng đến quản lý, phát triển rừng 63
3.2.1 Chính sách về đất đai 67
3.2.2 Chính sách về hỗ trợ tài chính phát triển lâm nghiệp 69
3.2.3 Chính sách về quyền và trách nhiệm của chủ rừng tham gia quản lý phát triển rừng 71
3.3 Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tầng cây cao của các trạng thái rừng 72
3.3.1 Tính đa dạng của tầng cây cao 73
3.3.2 Cấu trúc về tổ thành 74
3.3.2 Độ tàn che 81
3.3.3 Chiều cao bình quân của cây rừng 82
3.3.4 Trữ lượng 82
3.4 Nghiên cứu đặc điểm lớp cây tái sinh của các trạng thái rừng 83
3.4.1 Cấu trúc tổ thành và mật độ cây tái sinh 83
3.4.1.1 Cấu trúc tổ thành trạng thái IIa 83
3.4.1.2 Cấu trúc tổ thành trạng thái IIb 86
3.4.2 Mật độ và chấ ạng thái rừng 92
3.4.2.1 Nguồn gốc cây tái sinh 92
3.4.2.3 Chất lượng cây tái sinh 94
3.4.3 Điều kiện đất đai tại khu vực nghiên cứu 95
3.5 Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến mật độ và khả năng sinh trưởng của cây tái sinh tự nhiên 96
3.5.1 Nguồn cây mẹ gieo giống 96
3.5.2 Ảnh hưởng của tầng cây bụi, thảm tươi tới tái sinh tự nhiên 97
3.6 Đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh 101
3.6.1 Giải pháp về khoanh nuôi phục hồi tự nhiên 101 3.6.2 Giải pháp về khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên kết hợp trồng bổ sung 102
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
3.6.3 Lựa chọn các loài cây mục đích 103
3.6.4 Giải pháp về kỹ thuật 105
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 109
1 Kết luận 109
2 Tồn tại 113
3 Kiến nghị 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Biến động diện tích rừng qua các thời kì 23
Bảng 1.2 Nguyên nhân mất rừng theo các vùng sinh thái 24
Bảng 2.2: Tăng trưởng kinh tế và giá trị sản xuất huyện Đại Từ 37
Mẫu bảng: Thống kê tầng cây gỗ cho trạng thái rừng 49
Mẫu bảng: Thống kê cây tái sinh trạng thái rừng 50
Bảng ký hiệu độ nhiều (độ dầy rậm) thảm tươi 51
Mẫu biểu điều tra tầng cây bụi, thảm tươi trên ô dạng bản 5x5m 51
Bảng 3.1: Quy hoạch sử dụng rừng tại khu vực nghiên cứu 56
Bảng 3.2: Các hình thức quản lý rừng tại khu vực nghiên cứu 57
Bảng 3.3 Các biện pháp lâm sinh đã và đang áp dụng 58
Bảng 3.4 Kết quả điều tra về thuận lợi, khó khăn 60
Bảng 3.5: Các văn bản Luật và dưới Luật của Việt Nam về quản lý bảo vệ rừng và phát triển rừng 66
Bảng 3.6: Thống kê thành phần loài tại các trạng thái rừng 73
Bảng 3.7: Tổ thành tầng cây gỗ trạng thái IIa khu vực xã Quân Chu 75
Bảng 3.8: Tổ thành tầng cây gỗ trạng thái IIa khu vực xã Phú Xuyên 77
Bảng 3.9: Tổ thành tầng cây gỗ trạng thái IIb khu vực xã Quân Chu 78
Bảng 3.10: Tổ thành tầng cây gỗ trạng thái IIb khu vực xã Phú Xuyên 80
Bảng 3.11: Độ tàn che các trạng thái rừng khu vực nghiên cứu 81
Bảng 3.12: Chiều cao bình quân cây rừng của trạng thái IIa và IIb tại khu vực nghiên cứu 82
Bảng 3.13: Thống kê trữ lượng của trạng thái IIb rừng nghèo của khu vực nghiên cứu 82
Bảng 3.14:Tổ thành loài cây tái sinh trạng thái IIa khu vực xã Quân Chu 84
Bảng 3.15: Tổ thành loài cây tái sinh trạng thái IIa khu vực xã Phú Xuyên 85
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
Bảng 3.16: Tổ thành loài cây tái sinh trạng thái IIb khu vực Quân Chu 87
Bảng 3.17: Tổ thành loài cây tái sinh trạng thái IIb khu vực xã Phú Xuyên 88
Bảng 3.18: Tổ thành loài cây tái sinh trạng thái Ic khu vực Xã Quân Chu 90
Bảng 3.19: Tổ thành loài cây tái sinh trạng thái Ic khu vực xã Phú Xuyên 91
Bảng 3.20: Nguồn gốc cây tái sinh 92
Bảng 3.22: Thống kê chất lượng cây tái sinh các trạng thái 94
Bảng 3.23: Một số đặc điểm cơ bản phẫu diện đất tại 3 trạng thái 95
Bảng 3.24: Đặc điểm tầng cây bụi, thảm tươi, dây leo 98
Bảng 3.25: Những tác động chủ yếu của con người vào tái sinh và rừng tại khu vực nghiên cứu 99
Bảng 3.26: Thống kê loài cây mục đích được lựa chọn cho các trạng thái 104
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Hvn Chiều cao vút ngọn
D1.3 Đường kính thân cây tại chiều cao 1,3m
OTC Ô tiêu chuẩn
N/ha Mật độ cây/ha
UBND Uỷ ban nhân dân
BHYT Bảo hiểm Y tế
HĐND Hội đồng nhân dân
LSNG Lâm sản ngoài gỗ
[ ] Trích dẫn tài liệu
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Rừng là tài nguyên quí giá của quốc gia, là lá phổi xanh của nhân loại Rừng không những là tài nguyên có khả năng tự tái tạo và phục hồi mà rừng còn có chức năng sinh thái vô cùng quan trọng Rừng là thành phần quan trọng nhất của sinh quyển, là nguồn vật chất và tinh thần cơ bản thỏa mãn nhu cầu của con người Rừng và đời sống xã hội là hai mặt của một vấn đề, nó có mối quan hệ với nhau rất chặt chẽ nếu so sánh với những cái chung thì có những đặc điểm riêng của nó Tất cả mọi đời sống xã hội, các quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của con người đều liên quan đến rừng Nếu không
có rừng thì xã hội loài người sẽ không thể tồn tại được [17] Song để tách rời giữa rừng và đời sống xã hội không đơn giản bởi thực tế cho thấy rừng là một
hệ sinh thái vô cùng phong phú và phức tạp bao gồm nhiều thành phần, các qui luật sắp xếp khác nhau theo không gian, thời gian Để duy trì ổn định được hệ sinh thái này đòi hỏi con người cần nghiên cứu, tìm hiểu rất sâu về hệ sinh thái rừng từ đó có những biện pháp tác động hợp lí Tuy nhiên những kho tàng quí báu của hệ sinh thái cũng là một bí ẩn, nhiều điều lý thú mà sự hiểu biết của chúng ta cũng hạn chế
Ở nước ta, rừng và đất rừng chiếm ¾ tổng diện tích lãnh thổ, song thực
tế rừng tự nhiên cũng rất ít, chủ yếu là rừng thứ sinh ở mức độ thoái hóa khác nhau Nguyên nhân chủ yếu là do ý thức tác động bất hợp lý của con người như đốt nương làm rẫy, khai thác lạm dụng quá mức cho phép Theo số liệu thống kê thì độ che phủ rừng năm 1943 là 43%, do bị tàn phá nặng nề vào những năm 1980 đến năm 1990 độ che phủ giảm xuống chỉ còn 28,4% và đang có xu hướng tăng vào những năm gần đây
Ngày nay chỉ còn khoảng hơn 9 triệu ha rừng tự nhiên trong đó rừng giàu chiếm khoảng 30%, rừng trung bình khoảng 35%, còn lại là rừng phục
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
hồi Rừng giàu còn lại chủ yếu ở vùng sâu vùng xa, núi cao có độ dốc lớn nên khả năng khai thác cung cấp các sản phẩm cho xã hội bị hạn chế [17] Điều đáng nói là độ che phủ tăng lên nhờ vào khả năng tái tạo của rừng tự nhiên, vấn đề tái sinh phục hồi ở nước ta đã đặt ra từ rất sớm từ đầu những năm 50 đến 60 của thế kỷ 20 và được sử dụng với cụm từ "Khoanh núi nuôi rừng" Tuy nhiên trong một thời gian dài, ngành nông nghiệp phải tập trung khai thác rừng tự nhiên để phục vụ cho công cuộc khôi phục và phát triển miền Bắc, đồng thời chi viện cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam
Đầu năm 1980 "Khoanh núi nuôi rừng" mới được định hình và chuyển hướng thành thuật ngữ mới là: Phục hồi rừng bằng "Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh" Với đòi hỏi ngày càng bức bách của thực tiễn sản xuất, các kết quả nghiên cứu khoa học không chỉ là tiền đề cho các hoạt động khoanh nuôi phục hồi rừng mà còn đặt nền móng cho sự đổi mới trong nhận thức về vấn đề tái sinh phục hồi rừng
Sự chuyển hướng và đổi mới trong lĩnh vực phục hồi rừng đã được pháp lý hóa thông qua 3 tiêu chuẩn ngành được ban hành trong những năm
1990, bao gồm " Quy phạm các giải pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho rừng sản xuất gỗ và tre, nứa (QPN 14 - 92) Ban hành theo quyết định số 200/QĐ –
KT ngày 31/03/1993 của Bộ lâm nghiệp”
Quy phạm phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung Theo quá trình diễn thế, sau khi phải chịu những tác động phi
tự nhiên phá vỡ bằng sinh thái, với khả năng tự điều chỉnh tự nhiên và cơ chế nội cân bằng sinh thái thì nó có xu hướng vận động thiết lập một trạng thái cân bằng mới (gần giống trạng thái ban đầu) quá trình được gọi là diễn thế phục hồi Nhưng với tác động quá mạnh vượt ra ngoài ngưỡng tự điều chỉnh của hệ sinh thái rừng thì quá trình phục hồi lại sẽ rất chậm hoặc thậm chí nó không xảy ra
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
Trong bối cảnh đó, các vấn đề nghiên cứu được đặt ra như sau:
- Hoạt động phục hồi rừng là các hoạt động có ý thức của con người nhằm phục hồi lại các hệ sinh thái rừng đã bị con người tác động và khai hóa
- Hiệu quả kinh tế của việc quản lý bảo vệ phục hồi rừng
Những vấn đề nêu trên cho thấy, cần có giải pháp tổng thể tác động hợp lí cho từng đối tượng mới có hi vọng phục hồi và phát triển bền vững rừng tự nhiên
Vùng đệm Vườn Quốc gia Tam Đảo có diện tích 15.515 ha nằm trên địa bàn của 27 xã và thị trấn thuộc 3 tỉnh (Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Tuyên Quang) Tại tỉnh Thái Nguyên, vùng đệm Vườn Quốc gia Tam Đảo thuộc địa bàn 10 xã và 01 thị trấn của huyện Đại Từ Tổng diện tích đất lâm nghiệp của huyện Đại Từ là 27.269,72 ha, trong đó diện tích rừng tự nhiên thuộc vùng đệm của VQG Tam Đảo chủ yếu là rừng phục hồi và rừng nghèo do tác động của con người thông qua việc khai thác quá mức, phát nương làm rẫy Chính
vì vậy, việc phục hồi và phát triển bền vững rừng tự nhiên khu vực này là rất cần thiết
Để giải quyết các vấn đề nêu trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
"Nghiên cứu một số giải pháp xúc tiến tái sinh các trạng thái rừng phục hồi tự nhiên tại huyện Đại Từ - Thái Nguyên”
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Về lý luận:
- Xác định một số giải pháp xúc tiến tái sinh phục hồi rừng tự nhiên nhằm
phát triển hệ sinh thái rừng tự nhiên vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo tại huyện
Đại Từ - Thái Nguyên một cách bền vững
2.2 Về thực tiễn:
- Đề xuất được các giải pháp kỹ thuật lâm sinh cụ thể cho từng trạng thái
rừng nghèo tại khu vực nghiên cứu
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là rừng phục hồi tự nhiên trạng thái rừng Ic, IIa, IIb thuộc vùng đệm Vườn Quốc gia Tam Đảo tại huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên, tập trung nghiên cứu tại 02 địa điểm: xã Phú Xuyên và xã Quân Chu
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1 năm 2013 đến tháng 7 năm 2013
4 Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa thực tiễn: Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp kĩ thuật lâm sinh cụ thể cho từng trạng thái rừng nhằm phát triển hệ sinh thái rừng tự nhiên vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo tại huyện Đại Từ - Thái Nguyên một cách bền vững
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Trên thế giới
1.1.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Cấu trúc rừng là sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các thành phần sinh vật trong hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc điểm sinh thái khác nhau có thể chung sống hài hoà đạt tới sự ổn định tương đối trong một giai đoạn phát triển nhất định của tự nhiên
Cấu trúc rừng vừa là kết quả vừa là sự thể hiện quan hệ đấu tranh, thích ứng lẫn nhau giữa các sinh vật rừng với môi trường sinh thái và giữa các sinh vật rừng với nhau
- Về cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng:
Quy luật về cấu trúc rừng là cơ sở quan trọng để nghiên cứu sinh thái học, hệ sinh thái rừng và đặc biệt là để xây dựng những mô hình lâm sinh cho hiệu quả sản xuất cao Trong nghiên cứu cấu trúc rừng người ta chia thành ba dạng cấu trúc là cấu trúc sinh thái, cấu trúc không gian, cấu trúc thời gian Cấu trúc của lớp thảm thực vật là kết quả của quá trình chọn lọc tự nhiên, là sản phẩm của quá trình đấu tranh sinh tồn giữa thực vật với thực vật và giữa thực vật với hoàn cảnh sống Trên quan điểm sinh thái thì cấu trúc rừng chính
là hình thức bên ngoài phản ánh nội dung bên trong của hệ sinh thái rừng Thực tế cấu trúc rừng nó có tính trật tự và theo quy luật của quần xã Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt đới đã được Richards P.W (1933 - 1934), Baur G.N (1962), ODum (1971) tiến hành Các nghiên cứu này thường nêu lên quan điểm, khái niệm và mô tả định tính về tổ thành, dạng sống, tầng phiến của rừng
Theo tác giả Baur G.N (1962) [1] đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái học nói chung và về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
nói riêng, trong đó đã đi sâu nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu
xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên Từ đó tác giả này đã đưa ra những tổng kết hết sức phong phú về các nguyên lý tác động xử lý lâm sinh nhằm đem lại rừng cơ bản là đều tuổi, rừng không đều tuổi và các phương thức xử lý cải thiện rừng mưa
Tác giả Odum E.P (1971) [11] đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên cơ sở thuật ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley A.P, năm 1935 Khái niệm hệ sinh thái được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm sinh thái học
- Về mô tả hình thái cấu trúc rừng:
Hiện tượng thành tầng là sự sắp xếp không gian phân bố của các thành phần sinh vật rừng trên cả mặt bằng và theo chiều đứng Phương pháp vẽ biểu
đồ mặt cắt đứng của rừng do David và P.W Richards (1933 - 1934) đề xướng
và sử dụng lần đầu tiên ở Guyan đến nay vẫn là phương pháp có hiệu quả để nghiên cứu cấu trúc tầng của rừng Tuy nhiên phương pháp này có nhược điểm là chỉ minh hoạ được cách sắp xếp theo hướng thẳng đứng của các loài cây gỗ trong một diện tích có hạn
Phương pháp biểu đồ trắc diện do David và Richards (1933 - 1934) đề xuất trong khi phân loại và mô tả rừng nhiệt đới phức tạp về thành phần loài, cấu trúc thảm thực vật theo chiều nằm ngang và chiều thẳng đứng
Richards P.W (1952) [24] đã phân biệt tổ thành thực vật của rừng mưa thành hai loại rừng mưa hỗn hợp có tổ thành loài cây phức tạp và rừng mưa đơn ưu có tổ thành loài cây đơn giản, trong những lập địa đặc biệt thì rừng mưa đơn ưu chỉ bao gồm một vài loài cây Cũng theo tác giả này thì rừng mưa thường có nhiều tầng (thường có 3 tầng, trừ tầng cây bụi và tầng cây thân cỏ) Trong rừng mưa nhiệt đới, ngoài cây gỗ lớn, cây bụi và các loài thân cỏ còn
có nhiều loài cây leo đủ hình dáng, kích thước cùng nhiều thực vật phụ sinh trên thân hoặc cành cây
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
Hiện nay, nhiều hệ thống phân loại thảm thực vật rừng đã dựa vào các đặc trưng như cấu trúc và dạng sống, độ ưu thế, kết cấu hệ thực vật hoặc năng xuất thảm thực vật
Việc phân cấp cây rừng cho rừng hỗn loài nhiệt đới tự nhiên là một vấn
đề phức tạp, cho đến nay vẫn chưa có tác giả nào đưa ra được phương án phân cấp cây rừng cho rừng nhiệt đới tự nhiên mà được chấp nhận rộng rãi Sampion Gripfit (1948), khi nghiên cứu rừng tự nhiên Ấn Độ và rừng ẩm nhiệt đới Tây Phi có kiến nghị phân cấp cây rừng thành 5 cấp cũng dựa vào kích thước và chất lượng cây rừng Richards (1952) [24] phân rừng ở Nigeria thành 6 tầng dựa vào chiều cao cây rừng
Như vậy, hầu hết các tác giả khi nghiên cứu về tầng thứ thường đưa ra những nhận xét mang tính định tính, việc phân chia tầng thứ theo chiều cao mang tính cơ giới nên chưa phản ánh được sự phân tầng phức tạp của rừng tự nhiên nhiệt đới
- Nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng:
Việc nghiên cứu cấu trúc rừng đã có từ lâu và được chuyển dần từ mô
tả định tính sang định lượng với sự hỗ trợ của thống kê toán học, tin học; trong đó việc mô hình hoá cấu trúc rừng, xác lập mối quan hệ giữa các nhân
tố cấu trúc rừng đã được nhiều tác giả nghiên cứu có kết quả Vấn đề về cấu trúc không gian và thời gian của rừng được các tác giả tập trung nghiên cứu nhiều nhất Có thể kể đến một số tác giả tiêu biểu như: Rollet B (1971), Brung (1970), Loeth et al (1967) rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu cấu trúc không gian và thời gian của rừng theo hướng định lượng và dùng các mô hình toán để mô phỏng các qui luật cấu trúc (Trần Văn Con, 2001) [3]
Một vấn đề nữa có liên quan đến nghiên cứu cấu trúc rừng đó là việc phân loại rừng theo cấu trúc và ngoại mạo hay ngoại mạo sinh thái A Bratawinata (1994) [21] Cơ sở phân loại rừng theo xu hướng này là đặc điểm
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
phân bố, dạng sống ưu thế, cấu trúc tầng thứ và một số đặc điểm hình thái khác của quần xã thực vật rừng Đại diện cho hệ thống phân loại rừng theo hướng này có Humbold (1809), Schimper (1903), Aubreville (1949), UNESCO (1973) Trong nhiều hệ thống phân loại rừng theo xu hướng này khi nghiên cứu ngoại mạo của quần xã thực vật đã không tách rời khỏi hoàn cảnh của nó
và do vậy hình thành một hướng phân loại theo ngoại mạo sinh thái Khác với
xu hướng phân loại rừng theo cấu trúc và ngoại mạo chủ yếu mô tả rừng ở trạng thái tĩnh Trên cơ sở nghiên cứu rừng ở trạng thái động Melekhov đã nhấn mạnh sự biến đổi của rừng theo thời gian, đặc biệt là sự biến đổi của tổ thành loài cây trong lâm phần qua các giai đoạn khác nhau trong quá trình phát sinh và phát triển của rừng
Tóm lại, trên thế giới, các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng nói chung và rừng nhiệt đới nói riêng rất phong phú, đa dạng, có nhiều công trình nghiên cứu công phu đã đem lại hiệu quả cao trong kinh doanh rừng
1.1.2 Nghiên cứu về tái sinh rừng
Như chúng ta đã biết tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng, biểu hiện của nó là sự xuất hiện của một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng: dưới tán rừng, chỗ trống trong rừng, đất rừng sau khai thác, đất rừng sau nương rẫy Vai trò lịch sử của lớp cây con này là thay thế thế hệ cây già cỗi Vì vậy tái sinh từng hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố Sự tương đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây tái sinh và tầng cây gỗ lớn đã được nhiều nhà khoa học quan tâm (Mibbre-ad, 1930; Richards, 1933; 1939; Aubreville, 1938; Beard, 1946; Lebrun và Gilbert, 1954; Joné, 1955-1956; Schultz, 1960; Baur, 1964; Rollet, 1969) Do tính
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
chất phức tạp về tổ thành loài cây, trong đó chỉ có một số loài có giá trị nên trong thực tiễn, người ta chỉ khảo sát những loài cây có ý nghĩa nhất định
Quá trình tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới vô cùng phức tạp và còn ít được nghiên cứu Phần lớn tài liệu nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của rừng mưa thường chỉ tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế dưới điều kiện rừng đã ít nhiều bị biến đổi Van steenis (1956) [25] đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng mưa nhiệt đới là tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và tái sinh vệt của các loài cây ưa sáng
Vấn đề tái sinh rừng nhiệt đới được thảo luận nhiều nhất là hiệu quả các cách thức xử lý lâm sinh liên quan đến tái sinh của các loài cây mục đích
ở các kiểu rừng Từ đó các nhà lâm sinh học đã xây dựng thành công nhiều phương thức chặt tái sinh Công trình của Bernard (1954, 1959); Wyatt Smith (1961, 1963) với phương thức rừng đều tuổi ở Mã Lai; Nicholson (1958) ở Bắc Borneo; Donis và Maudoux (1951, 1954) với công thức đồng nhất hoá tầng trên ở Zaia; Taylor (1954), Jones (1960) với phương thức chặt dần tái sinh dưới tán ở Nijêria và Gana; Barnarji (1959) với phương thức chặt dần nâng cao vòm lá ở Andamann Nội dung chi tiết các bước và hiệu quả của từng phương thức đối với tái sinh đã được Baur (1976) [1] tổng kết trong tác phẩm: Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa
Về phương pháp điều tra tái sinh tự nhiên, nhiều tác giả đã sử dụng cách lấy mẫu ô vuông theo hệ thống của Lowdermilk (1927) [23], với diện tích ô đo đếm thông thường từ 1 đến 4 m2
Diện tích ô đo đếm nhỏ nên thuận lợi trong điều tra nhưng số lượng ô phải đủ lớn mới phản ánh trung thực tình hình tái sinh rừng
H Lamprecht (1989) [22] căn cứ vào nhu cầu ánh sáng của các loài cây trong suốt quá trình sống để phân chia cây rừng nhiệt đới thành nhóm cây ưa sáng, nhóm cây bán chịu bóng và nhóm cây chịu bóng Kết cấu của quần thụ
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
lâm phần có ảnh hưởng đến tái sinh rừng I.D Yurkevich (1960) đã chứng minh độ tàn che tối ưu cho sự phát triển bình thường của đa số các loai cây gỗ
là 0,6 - 0,7
Các công trình nghiên cứu về phân bố tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới đáng chú ý là công trình nghiên cứu của Richards P.W (1952), Bernard Rollet (1974), tổng kết các kết quả nghiên cứu về phân bố số cây tái sinh tự nhiên đã nhận xét: trong các ô có kích thước nhỏ (1x1m, 1x1.5m) cây tái sinh tự nhiên
có dạng phân bố cụm, một số ít có phân bố Poisson Ở Châu Phi trên cơ sở các số liệu thu thập Tayloer (1954), Barnard (1955) xác định số lượng cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt cần thiết phải bổ sung bằng trồng rừng nhân tạo Ngược lại, các tác giả nghiên cứu về tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới Châu Á như Budowski (1956), Bava (1954), Atinot (1965) lại nhận định dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế, do vậy các biện pháp lâm sinh đề ra cần thiết để bảo vệ và phát triển cây tái sinh
có sẵn dưới tán rừng (Nguyễn Duy Chuyên, 1996) [4]
Đối với rừng nhiệt đới thì các nhân tố sinh thái như nhân tố ánh sáng (thông qua độ tàn che của rừng), độ ẩm của đất, kết cấu quần thụ, cây bụi, thảm tươi là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tái sinh rừng, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, đề cập đến vấn đề này Baur G.N (1976) [1] cho rằng, sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến phát triển của cây con còn đối với sự nảy mầm và phát triển của cây mầm, ảnh hưởng này thường không rõ rừng và thảm cỏ, cây bụi có ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây tái sinh Ở những quần thụ kín tán, thảm cỏ và cây bụi kém phát triển nhưng chúng vẫn có ảnh hưởng đến cây tái sinh Nhìn chung ở rừng nhiệt đới,
tổ thành và mật độ cây tái sinh thường khá lớn Nhưng số lượng loài cây có giá trị kinh tế thường không nhiều và được chú ý hơn, còn các loài cây có giá trị kinh tế thấp thường ít được nghiên cứu, đặc biệt là đối với tái sinh ở các trạng thái rừng phục hồi sau nương rẫy
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
Như vậy, các công trình nghiên cứu được đề cập ở trên đã phần nào làm sáng tỏ việc đặc điểm tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới Đó là cơ sở để xây dựng các phương thức lâm sinh hợp lý
Tóm lại, qua những kết quả nghiên cứu tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng trên thế giới chỉ ra cho chúng ta thấy được các phương pháp nghiên cứu của một số tác giả cũng như những quy luật tái sinh ở một số nơi Đồng thời các tác giả đã chỉ ra được một số biện pháp lâm sinh phù hợp tác động vào đó nhằm thúc đẩy quá trình tái sinh theo chiều hướng có lợi
1.1.3 Nghiên cứu về phục hồi rừng trên thế giới
Theo thống kê FAO năm 2000 đất sản xuất bị mất đi 20% do sự can thiệp của con người trên 50 x 108 ha đất có thực bị thoái hóa, làm cho chức năng phục vụ hệ sinh thái rừng trên lục địa bị ảnh hưởng tới 43% trong đất có
độ che phủ thực bì có 20 x 108
ha bị thoái hóa (chiếm 17% diện tích có thực
bì trên địa cầu kể cả thực bì nhân tạo)…đất hoang mạc hóa toàn cầu là 30 x
108 ha Diện tích mưa rừng nhiệt đới bị thoái hóa là 4,27 x 108 ha Hàng năm chi phí đầu tư cho phục hồi tái sinh rừng là 10 - 20 tỷ USD, hàng năm tốc độ
sa mạc hóa đạt đến một con số kinh khủng 5 x 104 - 7 x 104 km2 Do sự can thiệp quá mức của con người, đất có rừng che phủ đang bị suy thoái trên diện tích lớn
Phục hồi rừng đã trở thành vấn đề nóng bỏng từ thập kỷ 80 của TK20 năm 1985 thành lập một Hiệp hội khoa học phục hồi hệ sinh thái quốc tế Lĩnh vực khoa học này đã được bắt đầu từ đó Từ năm 1990 những tác phẩm
về phục hồi sinh thái của PengWeilin đã được xuất bản Do sự suy thoái rừng
có rất nhiều mức độ nên các hoạt động phục hồi cũng rất đa dạng, điều này phụ thuộc vào hiện trạng của rừng khi tiến hành phục hồi Trong lâm sinh nhiệt đới các biện pháp kỹ thuật phục hồi rất đa dạng nhưng cơ sở xuyên suốt
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
của các biện pháp đó là việc vận dụng tái sinh tự nhiên hay nhân tạo hay sự vận dụng cả hai hình thức tái sinh này phụ thuộc vào từng quốc gia, từng lập địa cụ thể
Một số hệ thống biện pháp nữa sử dụng phương pháp lâm sinh để xúc tiến tái sinh phục hồi lại rừng mà đã được Baur G.N [1] tổng kết khá đầy đủ trong tác phẩm “Cơ sở sinh thái kinh doanh rừng mưa” Tuy nhiên, các phương pháp này được xây dựng là do sự nhiệt tình và kinh nghiệm của các nhà lâm sinh nhiệt đới, chứ không phải được xây dựng trên cơ sở các thí nghiệm có đối chiếu so sánh, cho nên đã có những bài học thất bại ở một số nước Do vậy, khi áp dụng những kỹ thuật này cho một vùng nào đó cần có những thăm dò, thử nghiệm và những điều chỉnh trước khi đưa vào áp dụng một cách rộng rãi
1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Những năm gần đây việc đi vào nghiên cứu rừng tự nhiên ở Việt Nam ngày một nhiều, bởi đằng sau những hệ sinh thái rừng còn rất nhiều điều bí ẩn Điều đó đã thu hút rất nhiều các tác giả quan tâm tới
1.2.1 Những nghiên cứu về cấu trúc rừng
Việc nghiên cứu cấu trúc rừng ở Việt nam cũng đã được rất nhiều tác giả đề cập tới nhằm đưa ra giải pháp lâm sinh phù hợp, song tiêu biểu phải kể đến một số công trình nghiên cứu sau:
Theo kết quả nghiên của tác giả Trần Ngũ Phương (1970) [12] đã chỉ ra những đặc điểm cấu trúc của các thảm thực vật rừng miền Bắc Việt Nam trên
cơ sở kết quả điều tra tổng quát về tình hình rừng miền Bắc Việt Nam từ năm
1961 đến 1965 Nhân tố cấu trúc đầu tiên mà tác giả nghiên cứu là tổ thành, thông qua đó một số quy luật phát triển của hệ sinh thái rừng được phát hiện
và ứng dụng vào thực tiễn sản xuất
Với tác giả Thái Văn Trừng (1963, 1970, 1978) [20] đã đưa ra mô hình cấu trúc tầng như: Tầng vượt tán (A1), tầng ưu thế sinh thái (A2), tầng dưới
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
tán (A3), tầng cây bụi (B) và tầng cỏ quyết (C) Ông đã vận dụng và cải tiến
bổ sung phương pháp biểu đồ, mặt cắt đứng của Davit - Risa để nghiên cứu cấu trúc rừng Việt Nam, trong đó tầng cây bụi và thảm tươi được vẽ phóng đại với tỉ lệ nhỏ hơn, có ký hiệu thành phần loài cây của quần thể đối với những đặc trưng sinh thái và vật hậu cùng biểu đồ khí hậu, vị trí địa lý, địa hình Bên cạnh đó, ông còn dựa vào 4 tiêu chuẩn để phân chia kiểu thảm thực vật rừng Việt Nam Đó là dạng sống ưu thế của những thực vật trong tầng cây lập quần, độ tàn che của tầng ưu thế sinh thái, hình thái sinh thái của nó và trạng mùa của tán lá Với những quan điểm trên, Thái Văn Trừng đã phân chia thảm thực vật Rừng Việt Nam thành 14 kiểu Rõ ràng các nhân tố cấu trúc rừng được vận dụng triệt để trong phân loại rừng dựa trên quan điểm sinh thái phát sinh quần thể
Với tác giả Đào Công Khanh (1996) [8] trong công trình nghiên cứu ông đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng lá rộng thường xanh ở Hương Sơn - Hà Tĩnh làm cơ sở đề xuất một số biện pháp lâm sinh phục vụ khai thác và nuôi dưỡng rừng Nguyễn Văn Trương (1983) khi nghiên cứu cấu trúc rừng hỗn loài đã xem xét sự phân tầng theo hướng định lượng, phân tầng theo cấp chiều cao một cách cơ giới
Tuy nhiên trong những năm gần đây việc đi vào chiều sâu nghiên cứu cấu trúc rừng cũng đã được nhiều tác giả quan tâm như những công trình nghiên cứu mô hình hoá cấu trúc đường kính D1.3 và biểu diễn chúng theo các dạng hàm phân bố xác suất khác nhau, nổi bật là các công trình nghiên cứu của các tác giả Đồng Sỹ Hiền (1974) [5] dùng hàm Meyer và hệ đường cong Poisson để nắn phân bố thực nghiệm số cây theo cỡ đường kính cho rừng tự nhiên làm cơ sở cho việc lập biểu độ thon cây đứng ở Việt Nam Tác giả Trần Văn Con (1991) [3] đã áp dụng hàm Weibull để mô phỏng cấu trúc đường kính cho rừng Khộp ở Đắk Lắk vv
Tóm lại, hầu hết các công trình nghiên cứu rừng gần đây thường thiên
về việc mô hình hoá các quy luật kết cấu lâm phần và việc đề xuất các biện
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
pháp kỹ thuật tác động vào rừng thường ít đề cập đến yếu tố sinh thái nên chưa thực sự áp dụng vào kinh doanh rừng đáp ứng mục tiêu ổn định lâu dài Bởi vậy muốn đề xuất được một giải pháp lâm sinh đòi hỏi phải nghiên cứu cấu trúc rừng một cách chuyên sâu dựa trên quan điểm tổng hợp về sinh thái học, lâm học, sản lượng; điều quan trọng hơn cả phải phân tích được các quy luật tự nhiên mà nó tồn tại trong hệ sinh thái rừng
1.2.2 Những nghiên cứu về tái sinh rừng
Nghiên cứu quy luật phát sinh, tái sinh tự nhiên và diễn thế thứ sinh của các xã hợp thực vật rừng nhiệt đới Thái Văn Trừng (1963, 1970, 1978) [20]
đã nhận định:
Sự phát sinh các loại hình quần thể có thành phần loài cây khác nhau được nghiên cứu đầy đủ trước kia cho nên lúc đó chúng tôi cho rằng trong thiên nhiên nhiệt đới không có quần hợp và chỉ có những loài ưu thế do đó chúng tôi có đề nghị lấy những kiểu thảm thực vật làm đơn vị cơ bản của thảm thực vật, như trên đã trình bày Trong thiên nhiên nhiệt đới có thể có những dạng quần hợp thực vật ở những môi trường khắc nghiệt, còn đại bộ phận là những ưu hợp thực vật có một ưu thế tương đối của cá thể các loài cây trong tầng ưu thế sinh thái (hay lập quần) của quần thể và có lẽ phổ biến hơn
là những phức hợp mà độ ưu thế chưa phân hoá rõ rệt
Nhưng vấn đề cần đặt ra để nghiên cứu là tác nhân nào đã tác động trong quá trình phát sinh những xã hợp thực vật nguyên sinh, quá trình tái sinh tự nhiên sẽ diễn ra như thế nào và chỉ tiêu về chế độ khắc nghiệt của môi trường có còn là nguyên nhân duy nhất khống chế sự hình thành những quần hợp, ưu hợp, phức hợp tự nhiên nữa hay không?
Vấn đề này đã được Lê Viết Lộc cùng các cộng tác viên nghiên cứu sơ
bộ trong khi điều tra các loại hình ưu thế trong khu rừng nguyên sinh Cúc
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
Phương (Hà Nam Ninh) Lê Viết Lộc đã dùng một số chỉ tiêu khác, ngoài số lượng cá thể cây để tính sinh khối trên diện tích điều tra như chiều cao, tiết diện ngang v.v để tính độ ưu thế của các loài và đã thấy các nhân tố phát sinh các loại hình ưu thế là khu hệ thực vật, tiểu địa hình, đặc điểm lý tính của
đất, những hoạt động của con người (Lê Viết Lộc, 1964, Bước đầu điều tra
thảm thực vật trong khu rừng nguyên sinh Cúc Phương)
Những xã hợp thực vật nguyên sinh trong thảm thực vật tự nhiên là những loại hình quần thể trong các kiểu phụ, kiểu trái của các kiểu khí hậu và kiểu thổ nhưỡng khí hậu địa giới, do đó đại địa hình, đại khí hậu và các loại địa hình thổ nhưỡng địa đới không có vai trò khống chế đối với sự phát sinh như trong các loại hình quần thể lớn Mặt khác những xã hợp thực vật đều là những quần thể mà tiêu chuẩn để phân biệt là thành phần các loại cây cỏ cho nên nhóm nhân tố sinh thái chủ đạo của sự phát sinh quần thể là nhóm nhân tố khu thực vật, cụ thể trong đó là thành phần và tỷ lệ của những loài cây cỏ hiện
có trong từng địa phương nhất định Những loại đó có thể là loài đặc hữu cổ (hay loài tàn di) loài đặc hữu mới đã phát sinh trong những kỷ địa chất gần dây, loài di cư cổ thuộc các thời đại địa chất trước mà có thể tìm thấy trong hoá thạch, nhưng chắc chắn là từ một trung tâm phát sinh loài lân cận đến loài
di cư cận đại loài lai mới giữa cá loài đặc hữu và các loài di cư, loài nhập nội, loài theo người từ các châu xa xôi khác do con người đưa đến, loài do người thuần hoá và chọn giống, loại ngoại lai đã trở thành hoang dại
Đối với từng loài, thì tìm hiểu khu vực phân bố địa lý, nhất là phân biệt được vùng trung tâm phát sinh hay vùng biên của khu vực là điều rất cần thiết
Về mặt nguồn gốc, lịch sử phát triển của nó qua các kỷ đại địa chất, tính chất sinh lý, sinh thái, các tập tính sinh thái đối với nhóm nhân tố khí hậu thuỷ chế như chịu nóng, chịu lạnh, ưa ẩm hay chịu khô, ưa sáng hay chịu bóng,vv cần phải được tìm hiểu
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
Đối với nhóm nhân tố đá mẹ thổ nhưỡng thì những tính chịu đựng đất khô hạn, đất ngập úng, đất cằn cỗi, đất chua hay kiềm, chịu muối độc,vv Trong từng giai đoạn của đời sống thực vật, từ khi còn là cây mạ, cây con cho đến lúc trưởng thành và thành thục, chu kỳ phát dục và mùa quả, hạt, hình thức thụ tinh, truyền giống, sự đấu tranh giữa cá thể trong loài, các loài khác, tuổi thọ và sức đề kháng đối với côn trùng, nấm bệnh vv , cũng là những điều nhất thiết phải biết
Những khái niệm và thuật ngữ như “đai lim”, “loại hình gụ - huỷnh”,
“kiểu phụ sến - táu” của Trần Ngũ Phương và các cộng tác viên, suy cho cùng, cũng là để nói lên những khu vực hiện tại hay quá khứ của các loài kể trên và trong nhiều trường hợp thì khớp với giới hạn của đai nhiệt độ trên các vành đai nhiệt độ, cao độ của miền Bắc Việt Nam theo Trần Ngũ Phương, 1970 [12] Các dạng rừng khí hậu lấy 1 – 2 loài cây ưu thế làm đại diện trên một đai khí hậu rộng lớn, trong quan niệm của các tác giả nói trên có lẽ có cái gì gần giống đỉnh cực một quần thể thực vật ổn định có thành phần loài cây không đổi) của phái Clements trong đó hiện nay nói lên một loạt vấn đề đang tranh luận gay gắt: có một hay nhiều đỉnh cực, trong đỉnh cực chỉ có 1 - 2 loài
ưu thế hay có thể có nhiều loài cùng chiếm ưu thế, nhất là ở vùng ẩm nhiệt đới, các đỉnh cực có hồi nguyên được không hay là do môi trường nguyên trạng đã thoái hoá, nên chỉ phục hồi được bán đỉnh cực, tiền đỉnh cực, hậu đỉnh cực hay á đỉnh cực vv
Nhóm nhân tố thứ hai có tác dụng khống chế của các xã hợp và phân lập thành quần hợp, ưu hợp hay còn là phức hợp, theo quan niệm đã trình bày ở trên, tuỳ mức độ ưu thế của các loài cây trong tầng lập quần (hay tầng ưu thế sinh thái) là nhóm nhân tố đá mẹ - thổ nhưỡng Lý tính, hoá tính của đất nói chung và chủ yếu là lượng nước dùng được trong đất và lượng các muối độc hại cho sự sinh trưởng của thực vật đã đào thải các loại cây này, lưu tồn các
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
loài cây khác và cuối cùng, sẽ dẫn đến sự chọn lọc tự nhiên đối với các loài cây
cỏ hiện còn tồn tại Môi trường khắc nghiệt thì số loài chịu đựng được cũng ít Môi trường thuận lợi, thành phần loài cây trong xã hợp cũng phức tạp, vì những loài cây có biên độ sinh thái hẹp cũng nhiều, cá thể của chúng thay thế lẫn nhau trong cuộc đấu tranh sinh tồn và sẽ chung sống với nhau
Do việc hình thành những tiểu hoàn cảnh, những tiểu khí hậu, mà thành phần của nhiều ưu hợp hay dạng quần hợp trong các kiểu trái được quyết định,
ví dụ như các xã hợp ở hẻm núi, ở ven suối, ven sông hay bãi bồi giữa hai làn nước chảy Sau cùng, chim chóc, côn trùng, nấm gây bệnh có thể diệt loài này, tạo điều kiện thuận lợi cho loài kia phát triển để chiếm ưu thế tương đối hay tuyệt đối trong thành phần loài cây của xã hợp Đó là những xã hợp nguyên sinh được phát sinh dưới tác động của các nhóm nhân tố sinh thái trong hoàn cảnh tự nhiên khi con người chưa tác động
Tác giả cũng khẳng định những loại hình quần thể thực vật tự nhiên sẽ tiến hoá trong thời gian theo những quy luật diễn thế nội tại quần thể phát sinh như Xucasov.V.N Quan niệm, nhưng riêng với các xã hợp ở vùng nhiệt đới thì cụ thể quy luật đó diễn ra như thế nào? Trong những khu vực tự nhiên nhiệt đới gió mùa như ở Việt Nam, một quần thể sinh ra, lớn lên, thành thục, già cỗi, sẽ tàn lụi hoặc từng cá thể hoặc từng bộ phận, hoặc toàn bộ quần thể, nhưng cũng có nhiều trường hợp quần thể chưa thành thục, già cỗi mà một số
cá thể, một bộ phận hay cả quần thể có thể bị gió bão, lũ lụt hay các thiên tai khác huỷ diệt
Nếu môi trường khí hậu đất đai chưa biến đổi, thì quần thể có xu hướng lại phục hồi tình trạng nguyên sinh: Đó là quá trình tái sinh tự nhiên của quần thể
Trong thiên nhiên nhiệt đới, rõ ràng là rất hiếm những loài cây có tuổi
thọ dài hàng ngàn năm, vạn năm như loài cây Cù tùng (Metasequoia gigantea)
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
ở Mỹ hay Bạch đàn vua (Eucalyptus regnans) ở Úc, mà có nhiều loài cây có
tuổi thọ ngắn hay trung bình một vài trăm năm, cho đến 1000 năm thậm chí
có loài chỉ sống hai, ba chục năm, cho nên ở một số địa phương nhất định, chắc chắn có nhiều thế hệ của các loài cây đã sinh ra lớn lên, chết đi và cá thể các loài cây ấy đã tái sinh nhiều lần ở đấy
Nếu các loại hình quần hệ như các kiểu phụ, kiểu trái không có nhiều biến đổi cụ thể trong hình thái và cấu trúc thì rõ ràng là những biến đổi trong
tỷ lệ, thành phần cá thể các loài cây trong các xã hợp thực vật Có tình hình như thế là vì mỗi loài cây có chu kỳ phát dục riêng biệt, có thời gian ra hoa, kết quả khác nhau, có những tập tính truyền giống và lan tràn khác nhau Trong khi ở miền ôn đới, trong các quần hợp hay các lâm hình, chỉ có một hay vài loài cây ưu thế, thời kỳ tái sinh tập trung cả vào mùa quả chín, hạt già thì ở vùng nhiệt đới, cách tái sinh của các xã hợp có thành phần loài cây phức tạp là cách tái sinh phân tán, liên tục, gần như quanh năm trong các tầng lớp của quần thể
Thái Văn Trừng cũng khẳng định: Một thực tế mà bất kỳ tác giả nào khi đã nghiên cứu thảm thực vật rừng nhiệt đới, cũng đều nhất trí là tình hình tái sinh rất thưa và yếu dưới tán rừng, của những loài cây đang chiếm ưu thế ở tầng trên Theo những số liệu điều tra và thống kê của Aubréville A ở
Côte d’Ivoire (Bờ Biển Ngà ở Châu Phi) hay của David T.A.W và Richards P.W ở Moraballi (Guyana) về tình hình đại biểu các cấp thể tích của các loài cây trong các ô tiêu chuẩn thì các loài cây ưu thế của các tầng trên có rất ít đại biểu trong các tầng dưới tán rừng, thậm chí nhiều khi không có đại biểu, như vậy khi thế hệ các loài cây ưu thế này chết đi, thì thành phần của các xã hợp
có biến đổi không? Một tập hợp khác giữa cá thể các loài cây ưu thế có thể thay thế cho xã hợp hiện nay không? Loài cây tái sinh được nhiều nhất, có phải là loài chiếm ưu thế hiện nay không? Thế thì điều tra tình hình tái sinh
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
cây con của các loài mà không nắm quy luật tái sinh của quần thể, không biết tập tính của từng loài cây đối với ánh sáng, độ ẩm, nhiệt độ dưới rừng thì làm sao mà phán đoán nổi hướng diễn thế của quần thể, thành phần của các xã hợp, ưu hợp sẽ phát sinh? Có loài cây hiện nay, cây mạ mọc rất nhiều nhưng
vì sao lại không thấy cây con, cây nhỡ ở tầng trên, có loài thì không thấy cây
mạ, cây con, cây nhỡ tái sinh dưới rừng, nhưng nếu đó là một loài ưa sáng và chặt rừng đúng vào năm sai hạt, đúng vào mùa quả chín, hạt giá thì có thể bảo đảm được tái sinh tự nhiên của các loài cây ấy hay không?
Trước đây, tác giả đã nhận định rằng cuộc đấu tranh giữa các loài cây hay giữa các cá thể trong cùng loài, trong những năm cây còn non dưới tán rừng thường lệ thuộc vào số lượng ánh sáng chiếu xuống đến đất và sự tồn tại của những cây con thuộc những loài cây ưu thế của các tầng trên, chỉ lệ thuộc vào bản tính của chúng đối với ánh sáng Chỉ những cây mạ, cây con chịu được bóng trong thời niên thiếu thì mới có đủ các cấp tuổi ở các tầng dưới tán rừng Sau thời kỳ thứ nhất, chắc chắn vào năm đầu hay năm sau, cây mạ từ hạt giống mọc lên thường bị chết hàng loạt do thiếu chất dinh dưỡng và do thiếu ánh sáng, những cây con và cây nhỡ được sống sót lại phải trải qua một thời kỳ ức chế kéo dài đến mấy năm, thậm chí hàng chục năm do sự cạnh tranh dành lấy ánh sáng và sau đó, khi có điều kiện thuận lợi mới vươn lên, với một tốc độ sinh trưởng rất nhanh, để chiếm lấy vị trí trong tầng mà chúng
sẽ là thành viên chính thức theo Richards P.W (1952) [24]
Nhưng cách thức tái sinh liên tục dưới tán rừng không phải là cách tái sinh duy nhất và cách thức đó hình như chỉ thích hợp với các loài cây chịu bóng Van Steenis đã nhận xét là trong rừng mưa nhiệt đới, còn có một cách tái sinh nữa cũng rất phổ biến đó là cách tái sinh từng vệt Trong rừng nguyên sinh già, nhiều cá thể cây quá già cỗi tàn rụi và chết đi, đã để lại nhiều lỗ trống lớn trong rừng Vì cành nhánh kềnh càng, tán lá xoè rộng, thân cây cao
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
lớn của các loài cây lá rộng vùng nhiệt đới, nên khi đổ gẫy làm cho các cây nhỡ, cây con, cây lớn xung quanh cùng đổ gẫy theo Mặt khác trong những năm gió bão lớn, cây lớn, cây nhỏ chưa già cỗi cũng đổ hàng loạt, chẳng hạn cơn bão năm 1962, cơn bão năm 1968, đã làm đổ gãy ở rừng Cúc Phương hàng trăm cây cổ thụ các loại có bạnh cũng như không có bạnh Những loài cây mọc lên đầu tiên trong các lỗ trống này không chỉ có những loài cây sẵn
có trong thành phần của xã hợp cũ Một số loài cây không hề có cây mạ, cây con dưới tán rừng có thể xuất hiện những lỗ trống được mở ra do cây gẫy đổ đúng vào mùa quả, hạt hoặc do hạt giống được lưu tồn, nhưng đặc biệt là thấy xuất hiện mà không phải ít những loài cây ưa sáng mọc nhanh, gỗ trắng mềm, đời sống ngắn, không có mặt ở các tầng trên Có những chim chóc, côn trùng, một tác nhân truyền giống nào đó đã đưa hạt giống từ xa đến chiếm lĩnh lấy trận địa trước tiên rồi mãi về sau có sự che bóng của những cây tiên phong này những cây mạ và cây con của những loài cây lớn sống ở tầng trên của xã hợp cũ sống quanh đấy mới tái sinh dần dần Khi vượt khỏi tán của các loài cây tiên phong thì những cây mọc sau này sẽ tiêu diệt những cây tiên phong bằng cách khống chế ánh sáng ở tầng trên, làm cho những cây tiên phong tàn rụi, kết thúc đời sống ngắn ngủi, tạo điều kiện thuận lợi cho cây con của nhiều loài cây đã tái sinh chỉ chờ cơ hội để vươn lên
Tóm lại, trong quá trình tái sinh tự nhiên của các xã hợp tự nhiên nguyên sinh hay thứ sinh, có hai cách tái sinh: Thứ nhất là cách tái sinh liên tục dưới tán kín rậm của những loại chịu bóng, sự tái sinh này thường thưa thớt và yếu ớt vì thiếu ánh sáng nên chỉ có một số ít cây thoát khỏi hai giai đoạn nguy hiểm trong đời sống: Một giai đoạn ở một đến hai năm đầu, một giai đoạn ức chế kéo dài chờ cơ hội vươn lên tầng trên cao cho thích hợp với nhu cầu sinh thái Thứ hai là cách tái sinh theo vệt để hàn gắn những lổ trống trong tán rừng do cây già đổ rụi hay gió bão làm đổ gẫy, ở đó trước hết mọc lên loài cây tiên phong ưa sáng mọc nhanh Dưới tán kín hay thưa của chúng,
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
những loài cây định vị trong thành phần xã hợp cũ thường đòi hỏi bóng trong một đến hai năm đầu, sẽ mọc sau và dần dần vươn lên thay thế những loài cây tiên phong tạm thời có tuổi thọ ngắn Những cây tiên phong sẽ tự tiêu vong sau khi “hoàn thành nhiệm vụ”, hoặc sẽ bị tiêu diệt bởi tán kín rậm của các loài cây định vị mọc sau, chỉ trừ một số ít loài cây tiên phong định cư có tuổi thọ dài, có thể tồn tại trong thành phần của các xã hợp đã tái sinh tự nhiên
Qua đây, chúng ta nhận ra một số nhân tố sinh thái trong nhóm khí hậu
đã khống chế và điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên của các xã hợp trong thảm thực vật rừng, đó là ánh sáng Trong khi các điều kiện khác của môi trường như đất rừng, độ nhiệt, độ ẩm dưới rừng chưa thay đổi, thì thành phần của các xã hợp tái sinh không có những biến đổi lớn và cũng không diễn thế một cách hoàn toàn trong không gian và thời gian như Aubréville A đã nhận định, mà đã diễn thế ra theo những phương thức tái sinh có tính quy luật nhân quả giữa sinh vật và hoàn cảnh Do đó, khi nắm vững tính di truyền của các loại thực vật trong thành phần xã hợp, chủ yếu là đặc tính sinh thái của chúng đối với ánh sáng, tuổi thọ, mùa quả, hạt thì chúng ta có thể chủ động được phần nào trong việc đề xuất các biện pháp lâm sinh để ổn định các ưu hợp tự nhiên có lợi nhất cho con người, loại thải những xã hợp trong đó có nhiều loài cây ít công dụng đơn giản hoá những xã hợp quá phức tạp để tạo dần những
ưu hợp mục đích đáp ứng của nền kinh tế quốc dân
1.2.3 Phục hồi rừng ở trong nước
1.2.3.1 Quan điểm về phục hồi rừng ở Việt Nam
Theo tác giả Trần Đình Lý (1995) [10], phục hồi rừng là một quá trình sinh địa phức tạp gồm nhiều thời gian và kết thúc bằng sự xuất hiện một thảm thực vật cây gỗ (hoặc tre nứa) bắt đầ Nói một cách khác, phục hồi rừng là quá trình tái tạo lại một hệ sinh thái, một quần xã sinh vật mà trong đó cây gỗ là yếu tố cấu thành chủ yếu, nó chi phối các quá trình biến đổi tiếp theo
Chỉ tiêu định lượng xác định rừng non thứ sinh phục hồi đối với rừng
gỗ sử dụng quan điểm của Trần Đình Lý (1995) [10] là: độ tàn che của cây gỗ
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
có chiều cao từ 3m trở lên đạt 0,3 Đối với rừng vầu, nứa theo tiêu chuẩn tại điểm c mục 2 điều 7 quy phạm QPN 21-98 [2] độ che phủ đạt trên 80%, nhưng điểm bổ sung là độ che phủ tính cho cả vầu, nứa và cây gỗ hỗn giao
Như vậy, phục hồi rừng là một quá trình bao gồm nhiều các biện pháp
kỹ thuật lâm sinh áp dụng liên hoàn nhằm mục đích thiết lập lại hệ sinh thái rừng, những hiểu biết này được biểu hiện qua quá trình lịch sử hình thành các biện pháp kỹ thuật phục hồi rừng được trình bày ở phần sau
1.2.3.2 Hiện trạng suy thoái tài nguyên rừng ở Việt Nam
Việt Nam là một trong những nước trải qua sự biến đổi lớn về độ che phủ của rừng trong nửa sau của Thế kỷ 20 Vào đầu những năm 1920, hầu như toàn bộ miền núi được che phủ bởi rừng Theo tài liệu mà Maurand P công bố trong công trình “Lâm nghiệp Đông Dương” thì đến năm 1943 rừng nước ta vẫn còn khoảng 14,3 triệu ha, che phủ 43,7% diện tích lãnh thổ Vào thời kỳ đó độ che phủ ở Bắc bộ vào khoảng 68%, ở Trung Bộ khoảng 44% và
ở Nam Bộ vào khoảng 13% Trước năm 1945, rừng nguyên sinh ở Việt Nam
bị phá hoại rất nhiều và chỉ còn lại ở những nơi xa xôi, hiểm trở, nhưng do khả năng phục hồi của rừng rất cao nên những khu rừng già có trữ lượng cao (từ 250m3-300m3), vẫn còn khá phổ biến ở nhiều vùng miền núi Việt Nam Quá trình mất rừng xảy ra liên tục từ năm 1943 đến đầu những năm 1990, đặc biệt từ 1980 - 1995 diện tích rừng tự nhiên giảm mạnh, bình quân mỗi năm hơn 100 ngàn ha rừng bị mất Tuy nhiên, từ năm 1990 trở lại đây, diện tích rừng đã tăng liên tục nhờ trồng rừng và phục hồi rừng tự nhiên Đến năm
2004, diện tích rừng toàn quốc là 12,3 triệu ha, trong đó 10 triệu ha rừng tự nhiên và 2,3 triệu ha rừng trồng Đất có rừng được qui hoạch theo 3 loại rừng với cơ cấu hiện tại như sau:
- Rừng đặc dụng: 1,9 triệu ha, chiếm 15,4%
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
- Rừng phòng hộ: 5,9 triệu ha, chiếm 47,0%
- Rừng sản xuất: 4,4 triệu ha, chiếm 36,6%
Bảng 1.1 Biến động diện tích rừng qua các thời kì Loại rừng 1943 1976 1980 1985 1990 1999 2004 2007 2008 2009
DTR (triệu ha) 14 11.1 10.5 9.3 8.4 9.5 12.3 12.8 13.1 13.2Rừng tự nhiên 14 10.2 10.1 8.7 7.7 8 10 10.3 10.3 10.3Rừng trồng 0 0.9 0.4 0.6 0.7 1.5 2.3 2.5 2.8 2.9
Độ che phủ % 43 33.8 32.1 30 27.2 33.2 36.7 38.2 38.7 39.1
(Nguồn: Viện Điều tra Qui hoạch rừng 1999; Bộ NN&PTNT 2009)
Nguyên nhân mất và suy thoái rừng thay đổi theo thời gian và theo vùng sinh thái Biểu 2 thống kê tỷ lệ phần trăm mất rừng do các nguyên nhân khác nhau ở các vùng sinh thái, các nguyên nhân chính được kể đến trong biểu này là: khai thác rừng quá mức, canh tác nương rẫy, chuyển đổi thành đất nông nghiệp (đặc biệt để trồng cà phê, cao su và tiêu), di dân tự do, chiến tranh và các dạng sử dụng khác
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
Bảng 1.2 Nguyên nhân mất rừng theo các vùng sinh thái
Đơn vị tính: %
Vùng
Khai thác quá mức
Canh tác nương rẫy
Chuyển đổi thành đất nông nghiệp
Di dân
tự do
Chiến tranh
Chuyển sang mục đích sử dụng khác
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
Biểu đồ ở hình 1 cho thấy sự gia tăng về tổng diện tích rừng và diện tích rừng tự nhiên từ năm 1990 Đó là một thành tích đáng được ghi nhận
Tuy nhiên, điều hiển nhiên là rừng tự nhiên phục hồi có chất lượng không giống như rừng tự nhiên của nó trước đây, hơn nữa chất lượng của rừng tự nhiên hiện còn vẫn đang tiếp tục bị suy giảm Căn cứ vào trữ lượng, rừng ở Việt Nam được chia thành 3 nhóm:
- Rừng giàu với trữ lượng trên 150 m3/ha
- Rừng trung bình có trữ lượng từ 80-150 m3/ha
- Rừng nghèo với trữ lượng dưới 80 m3/ha
Theo Nguyễn Ngọc Lung (1998) thì 56% diện tích rừng tự nhiên Việt Nam thuộc nhóm rừng nghèo, rừng trung bình chiếm 33% còn rừng giàu chỉ chiếm 11%
1.3.3.3 Lịch sử hình thành và phát triển của các biện pháp kỹ thuật phục hồi rừng
Trước thực trạng diễn biến tài nguyên rừng như vậ
ứng được tính phức tạp của quá trình phục hồ , quá
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
trình phục hồi rừng chịu sự chi phối tổng hợp của các nhân tố ngoại cảnh Bvậy, các biện pháp kỹ thuật phải được tác động một cách "
ủa cây rừng trong qua trình phục hồi Tính "
ếu tố: liên tục giải quyết những mâu thuẫn trong quá trình phục hồi rừng và quá trình giải quyết những mâu thuẫn
đó được lặp đi, lặp lại nhiều lần
nhằm xúc tiến tái sinh phục hồi rừ
được dựa trên một thực tế là nếu biết tác động đúng qui luậ "
và được áp dụng phố biến cho đến nay thông qua
"kỹ thuậ " giải pháp này được hiểu là sự "
ừng tự ạo lại rừng thông qua các biệ
, năm 1988) Theo cách định nghĩa này phục hồi rừng bằng khoanh nuôi thực chất là một giải pháp kinh tế - xã hội trong đó bao hàm ý nghĩa lâm sinh học ở
Phục hồi rừng bằng khoanh nuôi là một biện pháp ít chi phí nhưng mang lại lợi ích kinh tế và lợi ích sinh thái cao, đặc biệt là phục hồi tính đa dạng sinh học của rừng Đây còn là biện pháp áp dụng cho những nơi không
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
có điều kiện áp dụng các giải pháp kỹ thuật, cho những nơi có địa hình khó khăn, những nơi không có kinh phí đầu tư để phục hồi rừng, … Tuy nhiên, nhược điểm của giải pháp này là thời gian cho khoanh nuôi phục hồi rừng nên
là bao nhiêu và nếu qua khoảng thời gian nhất định rừng không phục hồi được theo ý muốn sẽ xử lý như thế nào?
nghĩa
ố con người ở đây chưa thể hiệ ực, nó hạn chế việ
trình tái tạo lại rừng trong một khoảng thời gian xác định Nhưng ở QPN 21 -
98 có quy định rấ ời gian và tiêu chuẩn cho từng đối tượng cần phục hồi Qua đó, đưa ra mục tiêu cụ thể cần phải đạt được cho từng loại rừng trong một khoảng thời gian xác định
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
Vào những năm 50 - 60 của thế kỷ trước vấn đề phục hồi rừng ở nước
ta đã được đặt ra với thuật ngữ ban đầu của nó “Khoanh núi nuôi rừng” Tuy nhiên vào các thập kỷ tiếp theo lâm nghiệp Việt Nam lại đi theo các hướng trọng tâm khác nhau dẫn đến việc “khoanh núi nuôi rừng” vẫn chỉ là một khẩu hiệu mặc dù cũng đã được đưa thành một nội dung trong giáo trình môn lâm học giảng dạy cho sinh viên Lâm nghiệp khoá đầu tiên, nhưng ngay cả khái niệm phạm vi đặt ra như thế nào? đối tượng là gì và ở đâu? cũng chưa được đị Mãi đến giữa những năm 80 cái được gọi là “khoanh núi nuôi rừng” mới được định hình và chuyển hướng theo cụm thuật ngữ mới là: “phục hồi rừng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh” hay “khoanh nuôi xúc tiến tái sinh phục hồi rừng” Sự chuyển hướng đó được chú ý bằng 2 đề tài nghiên cứu thuộc chương trình cấp Nhà nước đó là:
+ Nghiên cứu phân loại đối tượng và đề xuất biện pháp phục hồi rừng bằng khoanh nuôi, xúc tiến, tái sinh vùng lưu vực Sông Đà, chương trình lâm nghiệp tổng hợp, mã số 04.01, giai đoạn 1986 - 1990
+ Trần Đình Lý và các cộng sự (1995) [10] Nghiên cứu xác định diện tích và hệ thống biện pháp kỹ thuật cho việc khoanh nuôi phục hồi rừng
Nghiên cứu đưa ra một cách nhìn hệ thống và toàn diện về biện pháp
kỹ thuật khoanh nuôi phục hồi rừng Với việc phân biệ ữa rừng và thảm thực vật, nghiên cứu đưa ra khái niệm khoanh nuôi phục hồi rừng là
định được đối tượng cụ thể cho khoanh nuôi phục hồi rừng Xác định thời gian khoanh nuôi và tiêu chuẩn cần đạt của rừng khoanh nuôi Xác định được nội dung công việc cần tiến hành trong quá trình khoanh nuôi ở các mức độ
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
khác nhau Nghiên cứu đã xây dựng được bản quy phạm cho khoanh nuôi phục hồi rừng và xây dựng được danh lục sơ bộ gồm 155 loài cây bản địa có thể sử dụng cho việc khoanh nuôi và phục hồi rừng Đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam đề cập một cách hệ thống từ cơ sở khoa học đến quy phạm khoanh nuôi phục hồi rừng ở Việt Nam Nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc xây dựng quy phạm chưa xây dựng được quy trình khoanh nuôi cụ thể cho từng vùng và từng loại hình rừng cụ thể
Bên cạnh các đề tài đó có đề tài cấp cơ sở điều tra khảo sát hoặc nghiên cứu thí nghiệm một số vấn đề có liên quan cũng được xúc tiến ở nhiều địa phương như:
- Nghiên cứu quá trình tái sinh tự nhiên thảm thực vật rừng và ứng dụng phương thức khoanh nuôi phục hồi rừng ở Quảng Ninh (ĐHLN, 1993)
- Khả năng tái sinh diễn thế, quá trình sinh trưởng và phát triển của thảm thực vật trên đất rừng thứ sinh sau nương rẫy tại Kon Hà Nừng (Viện STTNSV, 92)
- Đặc điểm sinh thái Lâm học rừng cây họ Dầu (Dipterocarpaceae) ở
Đông Nam Bộ và một số định hướng bảo vệ khôi phục rừng (Viện ĐTQHR, 1991-1995)
- Một số loài cây bản địa có thể sử dụng trong khoanh nuôi phục hồi rừng ở Việt Nam (Viện STTNSV, 1994)
- Quy trình kỹ thuật khoanh nuôi phục hồi rừng tự nhiên ở vùng Tây Bắc (Trung tâm KHSXLN Tây Bắc, 1992)
Cùng với sứ ột bức bách của yêu cầu và thực tiễn sản xuất các kết quả của sự chuyển hướng đó là những tiền đề quan trọng cho sự đổi mới của vấn đề tái sinh phục hồi rừng Đầu những năm 90, kết quả của sự chuyển hướng đã được pháp lý hoá thông qua 3 tiêu chuẩn ngành thể hiện sự đổi mới của vấn đề này