dụ: hưởng lợi từ dịch vụ thuỷ nông thì phải nộp thuỷ lợi phí, hưởng lợi từ việc sử dụng cây cầu để qua sông thì phải nộp phí cầu, v.v..Để làm rõ sự khác biệt giữa thuế và phí, có thể tha
Trang 1A LỜI MỞ ĐẦU
Thuế không những là nguồn thu ngân sách mà còn là công cụ điều tiết vĩ mô quan trọng của Nhà nước Do vậy, cùng với việc thực hiện đường lối đổi mới, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, Đảng và chính phủ đã giành nhiều sự quan tâm chú ý lớn cho công tác đổi mới và cải cách hệ thống thuế Chủ trương cải cách hệ thống thuế của nước ta đã được khởi xướng từ năm 1989 Ngày 1 -10 - 1990, một hệ thống các luật, pháp lệnh về thuế được áp dụng thống nhất trong cả nước đã được ban hành Các sắc thuế cũng được áp dụng chung cho các thành phần kinh tế, không còn phân biệt khu vực quốc doanh và khu vực ngoài quốc doanh như trước đây nữa
Hệ thống thuế mới đã đánh dấu một bước tiến bộ trong công tác quản lý vĩ
mô của Đảng và Nhà nước ta, đóng góp tích cực vào sự quản lý kinh tế vĩ mô và tăng thu ngân sách Tuy vậy, trong quá trình thực hiện hệ thống thuế hiện hành vẫn còn thể hiện nhiều hạn chế và có những điểm chưa phù hợp với tình hình thực
tế trong nước, cần phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung
Trong bối cảnh hiện nay, nhu cầu tăng cường huy động vốn ngân sách nhà nước cho các mục tiêu phát triển, bảo đảm sự công bằng giữa các thành phần kinh
tế, khuyến khích sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ngày càng cao, quá trình khu vực hoá và toàn cầu hoá diễn ra ngày càng rộng rãi đặc biệt là sự tham gia hiệp định AFTA (khu vực mậu dịch, phi thuế quan) của các nước trong khu vực đặt ra nhiều thách thức mà chúng ta phải nỗ lực thì mới đạt được những mục tiêu phát triển mong muốn Do vậy đòi hỏi chúng ta phải có những cải cách mới, làm cho
hệ thống thuế vừa đáp ứng được nhu cầu quản lý kinh tế trong nước, vừa phù hợp với những luật lệ và thông lệ quốc tế
Trang 2B.NỘI DUNG I.Thuế và bản chất của thuế :
1.Khái niệm thuế và bản chất của thuế :
a,Thuế :
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, phản ánh bản chất
của chế độ xã hội Do vậy trong quản lý thuế, Nhà nước cần phải luôn hoàn thiện để một mặt bảo đảm nguồn thu cho Nhà nước, mặt khác động viên được
sự đóng góp của toàn dân trong việc tạo ra một nguồn lực tài chính đủ mạnh
để phát triển kinh tế, xây dựng đất nước.
b,Bản chất của thuế :
Bản chất của thuế là một vấn đề hết sức phức tạp, còn có nhiều quan điểm khác nhau Có lẽ chính vì lẽ đó mà không có định nghĩa về thuế trong các văn bản pháp luật của hầu hết các quốc gia, trong đó có Việt Nam Một cách đơn giản nhất, thuế được hiểu là khoản trích nộp bằng tiền mà các tổ chức, cá nhân phải đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyền lực nhà nước
Mục đích cơ bản của thuế là:
(i) Chia sẻ thu nhập của chủ thể nộp thuế với nhà nước để nhà nước thực hiện các chức năng của mình vì lợi ích của xã hội;
(ii) Thiết lập công bằng theo hướng, người có thu nhập cao hơn phải có trách nhiệm thuế lớn hơn
(iii) Định hướng tiêu dùng xã hội thông qua việc đánh thuế vào những tài sản đặc thù
Thuế là khoản thu mà chủ thể nộp thuế có nghĩa vụ phải đóng góp cho quỹ ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật thuế Theo cách tiếp cận của pháp luật Việt Nam, khái niệm thuế được hiểu theo nghĩa hẹp, chỉ bao gồm những khoản thu được định danh là thuế do Quốc hội ban hành
Thuế là khoản thu có những đặc điểm cơ bản sau đây:
Trang 3- Thuế mang tính quyền lực nhà nước và là một nguồn thu quan trọng của Ngân sách nhà nước Chính vì vậy, thuế phải do Quốc hội ban hành dưới hình thức đạo luật Đối với một số loại thuế đang trong quá trình hoàn thiện về mặt lập pháp, Quốc hội uỷ quyền cho Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành dưới hình thức Pháp lệnh.
- Thuế không mang tính đối giá và hoàn trả trực tiếp Có nghĩa là, chủ thể nộp thuế không được nhà nước cam kết hoàn trả dưới bất kỳ hình thức gì và những lợi ích
mà chủ thể nộp thuế được nhận từ nhà nước cũng không so sánh về mặt giá trị với
số tiền nộp thuế
- Bên cạnh những đặc điểm trên, thuế còn có tính chất không đối khoản Nghĩa là,
số tiền thu được từ thuế sẽ được nhà nước chi dùng cho nhiều mục tiêu khác nhau,
và việc định ra một loại thuế không nhằm đáp ứng một khoản chi cụ thể của nhà nước (Michel Bouvier, Luật thuế đại cương và lý thuyết thuế, NXB Chính trị quốc gia, 2005)
Xét về khía cạnh vĩ mô, thuế là một khoản thu quan trọng của Ngân sách nhà nước (và ngược lại, những khoản thu quan trọng sẽ được xem xét để định danh thành một loại thuế, tất nhiên là phải dựa vào những lý do thu thuế và thời điểm hợp lý để đánh thuế) Mặc dù không có định nghĩa chung, nhưng thuế lại khá cụ thể thông qua từng loại thuế riêng biệt như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế tài nguyên, thuế môn bài, v.v
Trong khi đó, khái niệm phí nhà nước được đưa ra trong Pháp lệnh Phí và lệ phí, theo đó: phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi được tổ chức, cá nhân khác cung cấp dịch vụ theo quy định trong danh mục phí được ban hành kèm theo Pháp lệnh Hiện hành, có 73 loại phí khác nhau thuộc nhiều lĩnh vực như nông nghiệp, giao thông, tư pháp, tài chính ngân hàng, v.v
Như vậy, khác với thuế, cơ sở để thu phí là việc chủ thể được nhận phí đã cung cấp cho chủ thể nộp phí một lợi ích nhất định thông qua dịch vụ của mình Ví
Trang 4dụ: hưởng lợi từ dịch vụ thuỷ nông thì phải nộp thuỷ lợi phí, hưởng lợi từ việc sử dụng cây cầu để qua sông thì phải nộp phí cầu, v.v
Để làm rõ sự khác biệt giữa thuế và phí, có thể tham khảo bảng sau đây:
Đã cung cấp dịch
vụ, nên cần thu hồi vốn đầu tư và chi phí quản lý
Tầm quan
trọng
Thuế có tầm quan trọng cao hơn phí
Phí có tầm quan trọng thấp hơn
Chủ thể ban
hành
Quốc hội hoặc Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
Chính phủ, Bộ Tài chính và các cơ quan nhà nước khác theo thẩm quyền
Tính lợi ích
Không liên quan trực tiếp đến lợi ích của người nộp
Liên quan trực tiếp đến lợi ích của người nộp
Tính ổn định Có tính ổn định cao,
ít thay đổi
Tính ổn định thấp hơn, có thể thay đổi nhanh chóng
Mức độ liên
quan đến quy
mô đối tượng
Mức độ liên quan đến quy mô đối tượng thấp hơn
Hầu như liên quan trực tiếp đến quy
Trang 5hoặc được uỷ quyền
2.Phân loại thuế :
2.1Phân loại theo tính chất : thuế được chia làm 2 loại
- Thuế trực thu là loại thuế mà người trực tiếp nộp thuế đồng thời là người chịu
thuế Thuế trực thu là loại thuế mà nhà nước thu thuế trực tiếp của các cơ sở sản xuất kinh doanh và có thu nhập Thuế trực thu trực tiếp động viên, điều tiết thu nhập của người nộp thuế như thuế TNDN (thu nhập doanh nghiệp), thuế TNCN (thu nhập cá nhân) Do đó thuế trực thu không được tính vào khoản chi phí để trừ khi xác định thu nhập chịu thuế
Ví Dụ: như một người nhập hàng hóa từ nước ngoài về và tiêu dung luôn hay như thuế thu nhập cá nhân (TNCN ) hay thu nhập doanh nghiệp (TNDN),nhàđất…
- Thuế gián thu là loại thuế mà người trực tiếp nộp thuế không phải là người chịu
thuế, nó là yếu tố cấu thành trong giá mua hàng hoá và dịch vụ nhằm động viên sự đóng góp của người tiêu dùng (như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu ) Như vậy, người nộp thuế thực chất là người nộp hộ cho người mua hàng hoá và dịch vụ
Ví dụ : thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt…
Ví dụ : bạn mua một cái ô tô nhập ngoại đó là mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt
và phải chịu loại thuế này, nhưng bạn không phải là người đi nộp nó, bởi vì nhà nhập khẩu ô tô đã nộp thuế cho cục hải quan khi nhập khẩu ở bến cảng => đó là thuế gián thu, người nộp thuế và người chịu thuế là khác nhau
Do vậy, thuế gián thu là loại thuế mà người tiêu dùng phải chịu, nó làm cho giá bán hàng hoá tăng lên Còn thuế trực thu là loại thuế được đánh vào các tổ chức kinh tế, cá nhân có thu nhập, loại thuế này không làm tăng giá bán sản phẩm hàng hoá, bởi vậy có thu nhập mới phải chịu thuế thu nhập, thu nhập cao nộp thuế nhiều, thu nhập thấp nộp thuế ít, thậm chí không thu thuế Tuy nhiên thuế gián thu hơi
Trang 6cao có tính chất khác nhau về thu nhập nhưng nếu cùng sử dụng một loại sản phẩm hàng hoá nào đó, họ phải nộp khoản thuế gián thu như nhau, như vậy là chưa hợp
lý, vì người ta so sánh tỷ lệ giữa tiền thuế mà người dân phải nộp dưới hình thức thuế gián thu khi người ta sử dụng hàng hoá dịch vụ với tiền lương mà người ta thu được thì người nghèo có tỉ lệ cao hơn người giàu, tức là lấy đi của những người có thu nhập cao, đó là sự mất công bằng không hợp lý Do đó những người làm công tác quản lý khi đề ra các luật thuế phải hết sức chú ý tới vấn đề này, các cơ cấu thuế, biểu thuế, thuế suất của các sắc thuế phải được hợp lý, đảm bảo tính công bằng
Ở nước ta do giá cả hàng hoá biến động phức tạp, cách hạch toán kế toán chưa rõ ràng nên khó tách riêng phần thuế gián thu mà người tiêu dùng đã nộp qua mua hàng nên tính chất thuế gián thu, trực thu mang ý nghĩa tương đối Nếu người kinh doanh không thực hiện tốt công tác quản lý hoạt động kinh doanh, giá thành sản phẩm cao, giá bán có cả thuế không được xã hội chấp nhận thì một phần thuế gián thu có lúc trở thành thuế trực thu và động việc trực tiếp vào thu nhập của người kinh doanh, cho nên trong khi nghiên cứu chính sách vẫn cần xác định tính chất từng loại hàng hoá để xây dựng thuế suất, biểu thuế, phương pháp hạch toán thu thuế thích hợp
2.2Thuế phân loại theo đối tượng đánh thuế :
Chủ yếu được chia thành các loại thuế sau
- Thuế đánh vào sản phẩm, hàng hoá và dịch vụ như thuế VAT thuế TTĐB, thuế XNK
- Thuế đánh vàothu nhập như thuế TNDN, thuế TNCN
- Thuế đánh vào tài sản như thuế nhà đất, thuế trước bạ
- Thuế đánh vào việc sử dụng một số tài sản của nhà nước như thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất nông nghiệp, sử dụng vốn ngân sách cấp
Một hế thống thuế được áp dụng đối với nhiều đối tượng khác nhau nhằm vừa phát huy tác dụng riêng của từng sắc thuế, vừa bổ sung hỗ trợ cho nhau đảm bảo chức năng toàn diện của cả hệ thống thuế
Trang 7Cùng với các luật thuế, pháp lệnh thuế nhà nước còn ban hành một số khoản thu có tính chất thuế như phí và lệ phí Ví dụ như lệ phí chước bạ, thu tiền cầp quyền sử dụng đất, tiền thuê đất, phí cầu đường, phí cảng, bến bãi Các khoản phí
và lệ phí mà đối tượng nào đó phải nộp đều phải điều tiết vào thu nhập của họ nhằm bổ sung cho chi phí quản lý đầu tư tái tạo cơ sở vật chất để duy trì, mở rộng hoạt động dịch vụ đó Khoản chi phí làm cho chi tiêu ngân sách nhà nước bớt nặng
nề đảm bảo sự công bằng hợp lý hơn
II.Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường :
1.Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà Nước :
Là một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân
Thuế là công cụ quan trọng nhất để phân phối lại các thu nhập theo đường lối xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Đặc biệt trong tình hình hiện nay, nguồn thu từ nước ngoài đã giảm nhiều, kinh tế đối ngoại chịu sức ép của quan hệ “mua bán sòng phẳng”,“có vay, có trả”, thuế phải là công cụ quan trọng góp phần tích cực giảm bội chi ngân sách, giảm lạm phát, ổn định kinh tế - xã hội, chuẩn bị điều kiện và tiền đề cho việc phát triển đất nước lâu dài Thuế phải trở thành nguồn thu chủ yếu, bộ phận cơ bản của nền tài chính quốc gia lành mạnh
Với nền kinh tế nhiều thành phần, hệ thống thuế được áp dụng thống nhất giữa các thành phần kinh tế Thuế phải bao quát được hầu hết các hoạt động kinh doanh, các nguồn thu nhập trong xã hội …
Mục tiêu của Quốc hội đề ra trong những năm tới là động viên về thuế
chiếm khoảng 20 đến 25% GDP và ổn định mức đóng góp về thuế Mức động viên trên đây là phù hợp với khả năng kinh tế, phù hợp với sức đóng góp của nhân dân,
Trang 8bảo đảm phần lớn các nhu cầu chi tiêu của ngân sách nhà nước, nguồn vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế theo hướng có lợi cho quốc kế dân sinh.Nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia quản lý thuế
Nói thuế là nguồn thu chính vì thuế là nguồn thu bắt buộc của chính phủ đối với cá nhân hoặc pháp nhân khi phát sinh những hoạt động liên quan, phải chuyển một phần thu nhập hoặc tài sản của mình thành nguồn thu của Nhà nước
Do đặc điểm của nguồn thu từ thuế là:
- Có tính cưõng bức
- Nguồn thu này không hoàn trả cho người nộp
- Mức thu được xác định trước
- NN dùng các chính sách thuế để làm đòn bẩy ktế
Cũng do nguồn thu từ thuế được điều chỉnh rất rộng trong XH:
Theo đối tượng:
+ Đánh vào hàng hóa dịch vụ sản xuất ( HHDVSX ) lưu thông
+ Đánh vào bất động sản
+ Đánh vào thu nhập
Theo sự dịch chuyển của thuế:
+ Thuế trực thu
+ Thuế gián thu
Dự báo cơ cấu thu ngân sách giai đoạn 2006-2010
Về tổng số
-Tổng thu NSNN trong giai đoạn 2006-2010 sẽ gấp đôi giai đoạn 2001-2005, bình quân mỗi năm tăng khoảng 12%;
-Tỷ trọng thuế và phí trong tổng thu đạt 94-95%
-Thu từ dầu thô giảm còn khoảng 20% trong tổng thu
-Tỷ trọng thu từ XNK đến năm 2010 còn khoảng 16-17% tổng số thu
-Thu nội địa trừ dầu dự kiến tăng lên 63-65% vào năm 2010
Về cơ cấu thu theo sắc thuế:
Trang 9Thuế GTGT vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu thuế và phí, năm 2010 chiếm khoảng 28-30%; Số thuế TTĐB khoảng 6-8%; Thuế TNDN tăng khá, lên khoảng 17-18%; Thuế TNCN tăng nhanh, năm 2005 khoảng 1,9% tổng thu NSNN, đến năm 2010 dự kiến sẽ đạt trên 5%; Thuế XNK trong tổng thu NSNN giảm, từ
12,2% giai đoạn 2001-2005 giảm xuống còn khoảng 10% giai đoạn 2006-2010
Về cơ cấu thu từ khu vực kinh tế:
Trong tổng thu nội địa (trừ dầu), tỷ trọng thu từ khu vực DN chiếm tỷ lệ chủ yếu khoảng 72-75% vào năm 2010, trong đó:
-Thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước ( DNNN ) tăng hàng năm bình quân 15%, tuy nhiên do không thành lập mới và tiếp tục sắp xếp DNNN nên tỷ trọng thu còn khoảng 35-38% vào năm 2010
14 Thu từ khu vực DN FDI sẽ tiếp tục tăng trưởng cao, dẫn đầu trong khu vực DN,
mức tăng bình quân hàng năm khoảng 27-30%, và trở thành nguồn thu quan trọng của ngân sách Nhà nước ( NSNN ) đến năm 2010 sẽ chiếm tỷ trọng khoảng 41-45%
-Thu từ khu vực công thương nghiệp dịch vụ ngoài quốc doanh tăng nhanh, bình quân 5 năm khoảng 18-22%/năm Đến năm 2010 tỷ trọng khu vực này trong tổng thu từ khu vực DN chiếm khoảng 14-16%
Vì vậy Nhà nước ta luôn coi thuế là nguồn thu chủ yếu và quan trọng nhất của ngân sách nhà nước
2.Thuế là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế :
a,Thuế là công cụ kinh tế:
-Thuế tài nguyên
Thuế tài nguyên là một khoản thu của Ngân sách Nhà nước đối với các
doanh nghiệp về việc sử dụng các dạng tài nguyên thiên nhiên trong quá trình sản xuất
Mục đích của thuế tài nguyên là
Trang 10- Hạn chế các nhu cầu không cấp thiết trong sử dụng tài nguyên
- Hạn chế các tổn thất tài nguyên trong quá trình khai thác và sử dụng
- Tạo nguồn thu cho Ngân sách và điều hoà quyền lợi của các tầng lớp dân cư về việc sử dụng tài nguyên
Thuế tài nguyên bao gồm một số sắc thuế chủ yếu như thuế sử dụng đất, thuế
sử dụng nước, thuế rừng, thuế tiêu thụ năng lượng, thuế khai thác tài nguyên
khoáng sản
Cơ cấu tính thuế tài nguyên phải được thay đổi phù hợp với khả năng công
nghệ của doanh nghiệp, phương thức quản lý của Nhà nước và điều kiện địa chất
kỹ thuật của khu vực khai thác tài nguyên để bảo đảm có sự phân biệt đối với các doanh nghiệp hoặc hoạt động gây ra các tổn thất tài nguyên và suy thoái
môi trường ở các mức độ khác nhau; nguyên tắc chung là: hoạt động càng gây nhiều tổn thất tài nguyên và suy thoái môi trường thì càng phải chịu thuế cao hơn
-Thuế môi trường :
Thuế môi trường là công cụ kinh tế nhằm đưa chi phí môi trường vào giá sản phẩm theo nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền" Thuế môi
trường nhằm hai mục đích chủ yếu: khuyến khích người gây ô nhiễm giảm lượng chất ô nhiễm thải ra môi trường và tăng nguồn thu cho Ngân sách Trên thực tế, thuế môi trường được áp dụng dưới nhiều dạng khác nhau tuỳ thuộc mục tiêu và đối tượng ô nhiễm như: thuế/phí đánh vào nguồn ô nhiễm, thuế đánh vào sản phẩm gây ô nhiễm, phí đánh vào người sử dụng
b,Thuế điều tiết vĩ mô nền kinh tế :
Nhà nước thực hiện quản lý, điều tiết vĩ mô nên kinh tế bằng nhiều biện pháp như: giáo dục, chính trị tư tưởng, hành chính, luật pháp và kinh tế; trong đó biện pháp kinh tế là gốc Trong các biện pháp kinh tế, thuế là công cụ quan trọng
và sắc bén nhất Vì Thuế là công cụ chủ yếu tập trung nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước
Trang 11Nhà nước thực hiện quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế bằng nhiều biện pháp như: giáo dục, chính trị tư tưởng, hành chính, luật pháp và kinh tế; trong đó biện pháp kinh tế là gốc Trong các biện pháp kinh tế, thuế là công cụ quan trọng
và sắc bén nhất Vì Thuế là công cụ chủ yếu tập trung nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước
Thông qua việc xây dựng đúng đắn cơ cấu và mối quan hệ giữa các sắc thuế, việc xác định hợp lý người nộp thuế, đối tượng đánh thuế, thuế suất, chế độ miễn giảm, phương pháp quản lý thu thuế dựa trên cơ sở hạch toán kế toán đầy đủ, chính xác, thuế là công cụ điều tiết đối với thu nhập của các tầng lớp xã hội thể hiện trên hai mặt: khuyến khích, nâng đỡ những hoạt động kinh doanh cần thiết làm ăn có hiệu quả; đồng thời thu hẹp, kìm hãm những ngành nghề, mặt hàng cần hạn chế sản xuất, hạn chế tiêu dùng theo hướng tiết kiệm, chống lãng phí
Thuế còn khuyến khích việc bỏ vốn đầu tư phát triển sản xuất, khuyến khích các cơ sở kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế cạnh tranh bình đẳng trước pháp luật Thuế góp phần khuyến khích khai thác nguyên liệu, vật tư trong việc tranh thủ vốn hợp tác của nước ngoài để phát triển kinh tế hàng hóa, không ngừng nâng cao khả năng tích lũy, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu, bảo vệ sản xuất trong nước
Thuế thúc đẩy mở rộng thị trường một cách lành mạnh, vừa khuyến khích giao lưu hàng hóa, vừa đấu tranh hạn chế mua bán lòng vòng qua nhiều khâu trung gian, đầu cơ tích trữ để hưởng chênh lệch giá
3.Thuế góp phần bảo đảm bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và công bằng xã hôi :
Trang 12Hệ thống thuế được áp dụng thống nhất giữa các ngành nghề, các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư theo nguyên tắc đảm bảo công bằng và bình đẳng trong làm nghĩa vụ và quyền lợi.
Sự bình đẳng và công bằng được thể hiện thông qua chính sách động viên giống nhau (thuế suất) giữa các tổ chức và cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế cùng hoạt động trong một lĩnh vực, bảo đảm sự công bằng và bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ với mọi công dân, không có những đặc quyền, đặc lợi cho bất cứ đối tượng nào Thuế kích thích mọi công dân, doanh nghiệp cải tiến kỹ thuật, đầu
tư vốn, đầu tư chất xám, làm ăn giỏi và có thu nhập cao một cách chính đáng
Để đảm bảo bình đẳng, công bằng phải có biện pháp chống thất thu thuế có hiệu quả về số đối tượng kê khai nộp thuế, về căn cứ tính thuế, về chế độ miễn giảm thuế, về kiểm tra, xử lý nghiêm minh đối với các trường hợp vi phạm
Nhận thức đúng đắn, tự nguyện, tự giác chấp hành các nghĩa vụ khai báo, chế độ giữ sổ sách kế toán, chứng từ hóa đơn, nộp thuế của các chủ thể, nộp thuế theo đúng pháp luật cũng là yếu tố quan trọng bảo đảm bình đẳng và công bằng về thuế
III.Một số vấn đề về chính sách thuế hiện hành :
Trang 131.Chính sách thuế của Việt Nam hiện nay :
1.1Chính sách thuế là gì ?
Thuật ngữ “chính sách” được sự dụng phổ biến trên sách báo, các phương tiện thông tin và đời sống xã hội Mọi chủ thể kinh tế - xã hội đều có những chính sách của mình Có chính sách của các cá nhân, chính sách của doanh nghiệp, chính sách của Đảng, chính sách của một quốc gia, chính sách của một liên minh các nước hoặc tổ chức quốc tế v.v
Theo quan điểm phổ biến, chính sách là phương thức hành động được chủ thể khẳng định và thực hiện nhằm giải quyết những vấn đề lặp đi lặp lại Chính sách xác định những chỉ dẫn chung cho qúa trình ra quyết định, chúng vạch ra phạm vi hoặc giới hạn cho phép của các quyết định, nhắc nhở những nhà quản lý những quyết định nào là không thể Bằng cách đó, các chính sách hướng suy nghĩ và hành động của mọi thành viên trong tổ chức vào việc thực hiện các mục tiêu chung của
tổ chức
Các chính sách kinh tế - xã hội của nó phải tạo nên một hệ thống các chính sách đồng bộ và nó phải thoả mãn những yêu cầu cơ bản đó là tính khách quan, tính chính trị, tính đồng bộ và hệ t hống, tính thưc tiễn và tính hiệu quả kinh tế - xã hội
1.2Vai trò của chính sách thuế :
Chính sách thuế là một nội dung của chính sách tài chính quốc gia, là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà nhà nước sử dụng đề ra quyết định về thu nhập và huy động nguồn thu để đảm bảo cho nhu cầu chi tiêu của mình
Chính sách thuế là một bộ phận không thể thiếu được trong hệ thống chính sách tài chính quốc gia, là một trong những công cụ quản lý vĩ mô quan trọng trong việc thực hiện đường lối phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Vai trò của chính sách thuế thể hiện qua chức năng cơ bản tự thân của nó:
Trang 14- Chức năng định hướng: Chính sách thuế góp phần định hướng cho nhà quản
lý thu và nộp thuế một cách đầy đủ, chính xác, kịp thời và hợp lý Chính sách thuế còn giúp các nhà sản xuất kinh doanh định hướng, xác định ngành nghề, lĩnh vực sản xuất kinh doanh để mang lại hiệu quả phù hợp với khả năng và năng lực của mình
- Chức năng điều tiết: Chính sách thuế giúp phân phối, điều tiết thu nhập giữa các cá nhân, các tổ chức và góp phần phân phối lại các nguồn của cải xã hội và năng lực sản xuất của toàn xã hội trong lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân theo những định hướng phát triển của nhà nước
Như vậy chính sách thuế góp phần chủ động tích cực trong việc khuyến khích hay kiềm chế đối với các hoạt động kinh tế - xã hội của tất cả các ngành, lĩnh vực, lãnh thổ, tổ chức và cá nhân theo những mục tiêu định hướng và hoạch định của nhà nước
1.3Những nội dung cơ bản của các sắc thuế hiện hành :
- Thuế giá trị gia tăng (VAT).
Hiện nay, nhà nước áp dụng thuế VAT để thay cho thuế doanh thu luật thuế VAT có hiệu lực từ ngày 01/01/1999
Thuế VAT là một loại thuế gián thu được tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng
Đối tượng chịu thuế VAT là các hàng hoá, dịch vụ được nhập khẩu hoặc sản xuất trong nước bán cho các đối tượng sản xuất kinh doanh hay tiêu dùng khác ở Việt Nam trừ các đối tượng được quy định tại điều 4 của luật thuế VAT
Đối tượng nộp thuế VAT là các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế và tổ chức cá nhân khác nhập khẩu hàng hoá chịu thuế
Việc ban hành thuế VAT thay thế cho thuế doanh thu nhằm:
- Góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, mở rộng lưu thông hàng hoá, đẩy mạnh xuất khẩu vì không phải nộp thuế VAT và được hoàn trả số thuế VAT đầu vào góp phần hạ giá bán, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, đẩy mạnh
Trang 15xuất khẩu Thuế VAT không thu vào vốn đầu tư nên khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư.
- Bảo đảm động viên số thu quan trọng và tương đối ổn định cho NSNN Thuế VAT được thu tập trung ngay từ khâu đầu và thu thuế ở khâu sau còn kiểm tra được việc tính thuế, nộp thuế ở khâu trước, nên hạn chế được việc thất thu thuế
- Tăng cường công tác hạch toán kế toán và thúc đẩy việc thực hiện mua, bán hàng hoá có hoá đơn chứng từ
- Góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế ở nước ta, phù hợp với sự vận động và phát triển của nền kinh tế thị trường, tạo điều kiện mở rộng hợp tác kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới
+ So sánh thuế doanh thu thuế VAT có một số ưu điểm sau:
- Thuế VAT khắc phục được việc thu trùng lắp của thuế doanh thu
- Thuế VAT thể hiện rõ là loại thuế gián thu, nó không ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất của cơ sở kinh doanh
- Thúc đẩy thực hiện tốt chế độ hạch toán kinh tế, mua bán có hoá đơn chứng từ
- Thuế suất được áp dụng đối với các loại hàng hoá, dịch vụ: 0%; 5%; 10%; 20%.+ Phương pháp tính thuế VAT có hai phương pháp:
- Phương pháp khấu trừ được xác định như sau
Số thuế VAT phải nộp = Thuế VAT đầu ra - Thuế VAT đầu vào.
- Phương pháp tính thuế trực tiếp:
Số thuế phải nộp = Giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ x với thuế suất thuế
giá trị gia tăng của hàng hoá , dịch vụ đó
Giá trị gia tăng = Giá thanh toán của hàng hoá, dịch vụ bán ra - giá thanh toán
của hàng hoá, dịch vụ mua vào
Phương pháp trực tiếp chỉ áp dụng với các đối tượng là cá nhân sản xuất kinh doanh và tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh ở Việt Nam không theo luật đầu
tư nước ngoài tại Việt Nam chưa thực hiện đầy đủ các điều kiện về kế toán, hoá đơn chứng từ để làm căn cứ tính thuế theo phương pháp khấu trừ và chỉ tính với cơ
sở kinh doanh mua bán vàng bạc, đá quý
- Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTTĐB).
Trang 16Là loại thuế đánh vào một số sản phẩm không cần hoặc không cần thiết đối với nhu cầu sản xuất và đời sống như thuốc lá, rượu bia, bài lá, vàng mã và một
số dịch vụ vv
- Thuế suất TTTĐB được quy định từ 15% đến 100% tùy theo từng mặt hàng và dịch vụ
- Căn cứ tính TTTĐB là giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế và thuế suất
- Thuế xuất nhập khẩu (TXNK)
Là loại thuế đánh vào hoạt động XNK của tất cả các tổ chức, cá nhân bao gồm các loại hàng hóa thuộc phạm vi tính thuế được luật quy định
- Thuế XNK được xây dựng riêng cho hàng hoá XNK và thành hai biểu thuế Mỗi biểu thuế có thuế suất thông thường và thuế suất ưu đãi
- Thuế tài nguyên.
Thuế tài nguyên thực chất là tiền nhà nước bán sản phẩm tài nguyên thiên nhiên cho các đơn vị khai thác
- Căn cứ tính thuế tài nguyên là sản lượng tài nguyên thương phẩm thực tế khai thác, giá tính thuế và thuế suất
- Giá tính thuế tài nguyên là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên tại nơi khai thác
- Thuế suất được áp dụng từ 0% đến 40% tuỳ theo tài nguyên khai thác
- Thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế TNDN).
Luật thuế TNDN được quốc hội khoá IX thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999, thay cho luật thuế lợi tức
Thuế TNDN là loại thuế trực thu đánh vào phần thu nhập sau khi trừ các chi phí liên quan của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
- Đối tượng nộp thuế TNDN là các tổ chức, cá nhân sản xuất , kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có thu nhập chịu thuế
- Căn cứ tính thuế TNDN là thu nhập chịu thuế và thuế suất thu nhập chịu thuế bao bồm thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và thu nhập khác, kể
cả thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước ngoài