384 Huy động vốn nước ngoài cho phát triển kinh tế tư nhân tại Việt Nam
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯
DƯƠNG THỊ LỆ HUYỀN
HUY ĐỘNG VỐN NƯỚC NGOÀI CHO PHÁT TRIỂN
KINH TẾ TƯ NHÂN TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế Tài chính Ngân hàng
Mã số: 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS DƯƠNG THỊ BÌNH MINH
TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2006
Trang 2MỤC LỤC
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục các bảng, đồ thị
Lời mở đầu
Chương 1 – LÝ LUẬN CHUNG VỀ KTTN VÀ HUY ĐỘNG VỐN NƯỚC
NGOÀI ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KHU VỰC KTTN 1.1 Tổng quan về khu vực KTTN
1.1.1 Khái niệm về KTTN
1.1.2 Các hình thức của KTTN
1.1.3 Tính tất yếu phát triển khu vực KTTN trong nền kinh tế thị trường
1.2 Huy động vốn nước ngoài đối với phát triển khu vực KTTN
1.2.1 Các hình thức huy động vốn nước ngoài cho phát triển khu vực KTTN 1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến huy động vốn nước ngoài cho KV KTTN
1.3 Tác động của vốn nước ngoài đối với phát triển KTTN
1.4 Sự cần thiết phải nâng cao khả năng thu hút vốn nước ngoài đối với sự phát triển khu vực KTTN
Chương 2 – THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN NƯỚC NGOÀI CHO PHÁT
TRIỂN KTTN TẠI VIỆT NAM 2.1 Khái quát thực trạng hoạt động của khu vực KTTN tại Việt Nam
2.1.1 Tình hình hoạt động của khu vực KTTN tại Việt Nam thời gian qua
2.1.2 Những thành tựu đạt được của khu vực KTTN tại Việt Nam thời gian qua 2.1.2.1 Đóng góp vào tăng trưởng GDP và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
2.1.2.2 Huy động mọi nguồn vốn đầu tư phát triển
2.1.2.3 Đóng góp to lớn cho ngân sách
2.1.2.4 Tạo việc làm cho người lao động
Trang 32.1.2.5 Phát triển kinh tế đối ngoại
2.1.2.6 Quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất
2.1.3 Những hạn chế chủ yếu của khu vực KTTN tại Việt Nam thời gian qua
2.2 Thực trạng huy động vốn nước ngoài cho phát triển khu vực KTTN tại Việt Nam thời gian qua
2.2.1 Thực trạng huy động vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
2.2.2 Thực trạng huy động vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài
2.2.2.1 Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
2.2.2.2 Huy động vốn đầu tư gián tiếp qua thị trường tài chính (FPI)
2.2.2.3 Thu hút kiều hối
2.3 Đánh giá thực trạng huy động vốn nước ngoài cho phát triển khu vực KTTN tại Việt Nam thời gian qua
2.3.1 Ưu điểm
2.3.2 Hạn chế
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế
Chương 3 – CÁC BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN HUY ĐỘNG VỐN NƯỚC
NGOÀI CHO PHÁT TRIỂN KTTN TẠI VIỆT NAM 3.1 Định hướng phát triển khu vực KTTN tại Việt Nam đến năm 2010 3.2 Các biện pháp hoàn thiện huy động vốn nước ngoài cho phát triển KTTN tại Việt Nam
3.2.1 Các giải pháp vĩ mô
3.2.2 Các giải pháp vi mô
3.2.2.1 Các giải pháp thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 3.2.2.2 Các giải pháp thu hút và sử dụng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài
3.2.3 Các giải pháp hỗ trợ
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Trang 4DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
KTTN : Kinh tế tư nhân
KTNN : Kinh tế nhà nước
ĐTNN : Đầu tư nước ngoài
DN : Doanh nghiệp
DNNQD : Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FPT : Đầu tư gián tiếp nước ngoài qua thị trường tài chính ODA : Hỗ trợ phát triển chính thức
BOT : Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao
BTO : Xây dựng – Chuyển giao - Kinh doanh
BT : Xây dựng – Chuyển giao
WB : Ngân hàng thế giới
ADB : Ngân hàng phát triển Châu Á
IMF : Quĩ tiền tệ quốc tế
IFDA : Quĩ quốc tế về phát triển nông nghiệp của Liên hiệp quốc NGO : Tổ chức phi Chính phủ
CG : Nhóm tư vấn các nhà tài trợ
WTO : Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
Bảng
Bảng 1: GDP trong nước phân theo thành phần kinh tế 32
Bảng 2: Giá trị sản xuất công nghiệp cả nước 33
Bảng 3: Số DN hoạt động sản xuất kinh doanh có đến 31/12 34
Bảng 4: Nguồn vốn của DN có đến 31/12 36
Bảng 5: Cơ cấu nguồn vốn DN có đến 31/12 36
Bảng 6: Thu ngân sách trên địa bàn TP.HCM 38
Bảng 7: Số lao động trong DN có đến 31/12 38
Bảng 8: Cơ cấu lao động trong DN có đến 31/12 39
Bảng 9: FDI theo ngành 1988-2005-chỉ tính các dự án còn hiệu lực 49
Bảng 10: FDI theo hình thức đầu tư 1988-2005-chỉ tính các dự án còn hiệu lực 50
Bảng 11: FDI theo nước 1988-2005-chỉ tính các dự án còn hiệu lực 51
Bảng 12: FDI theo địa phương 1988-2005-chỉ tính các dự án còn hiệu lực 52
Bảng 13: Cam kết và thực hiện ODA thời kỳ 1993-2005 54
Bảng 14: Danh sách các Quĩ đầu tư nước ngoài trong làn sóng đầu tư thứ nhất 61
Bảng 15: Các Quĩ đang hoạt động tại Việt Nam tính đến tháng 6/2006 62
Biểu đồ Biểu số 1: Số lượng các DN thuộc khu vực KTTN đăng ký giai đoạn 1991-2005 29
Biểu đồ 2: So sánh số DN đăng ký hai giai đoạn: 1991 - 1999 và 2000 - 2005 29
Biểu số 3: Tăng trưởng GDP cả nước 32
Biểu số 4: Cơ cấu DN có đến 31/12/2005 35
Biểu số 5: Cơ cấu DN khu vực KTTN có đến 31/12/2006 35
Biểu số 6: Tăng trưởng DN 35
Biểu số 7: Tăng trưởng nguồn vốn DN 37
Biểu đồ 8: Cơ cấu lao động có đến 31/12/2005 39
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Để tiến hành nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần huy động tối đa các thành phần kinh tế tham gia, trong đó có thành phần KTTN là một tất yếu khách quan và đây là một bộ phận cấu thành không thể thiếu được trong nền kinh tế nước ta cũng như các nước trên thế giới Phát triển KTTN góp phần giải phóng mọi lực lượng sản xuất, huy động khai thác các tiềm lực dồi dào về vốn, kinh nghiệm quản lý, ngành nghề truyền thống…….thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển đất nước
Những nỗ lực của khu vực KTTN trong thời gian qua ở nước ta đã và đang góp phần xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp, thúc đẩy lượng lực sản xuất phát triển, thực hiện công bằng xã hội Tuy nhiên, trong quá trình trưởng thành, KTTN đứng trước nhiều khó khăn và thách thức, cần có những giải pháp đồng bộ tháo gỡ những khó khăn vướng mắc, khai thác tối ưu tiềm năng của khu vực này cho phát triển kinh tế quốc gia
Trong đó, huy động và sử dụng vốn nước ngoài, một nguồn vốn có ưu thế cho đổi mới công nghệ và nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa và doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế, đang là khó khăn lớn nhất đối với khu vực KTTN Việt Nam, do những bất cập từ cơ chế chính sách và khả năng tiếp cận vốn từ khu vực KTTN Vì lẽ đó, vần đề huy động vốn nước ngoài cho phát triển KTTN đang trở thành vấn đề mà nhiều người và xã hội quan tâm trong giai đoạn hiện nay
Với mong muốn tìm hiểu để góp phần giúp các nhà hoạch định chính sách, các cơ quan quản lý nhà nươc, các nhà đầu tư nước ngoài và trong nước, các doanh nghiệp có sự quan tâm, hiểu rõ hơn về một khu vực kinh tế quan trọng đối
Trang 7với kinh tế thị trường, học viên mạnh dạn chọn đề tài “ Huy động vốn nước ngoài cho sự phát triển khu vực KTTN tại Việt Nam” để nghiên cứu
2 Mục đích của luận văn
Luận văn này nhằm đến các mục đích sau:
Thứ nhất: Nghiên cứu lý luận chung về các loại hình kinh tế thuộc khu vực
KTTN và các lý luận cơ bản về vốn nước ngoài Từ đó, thấy được sự cần thiết phải nâng cao khả năng thu hút vốn nước ngoài đối với sự phát triển khu vực KTTN
Thứ hai: Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển KTTN ở Việt Nam và khả
năng huy động vốn nước ngoài của khu vực KTTN trong thời gian qua Thấy được những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong việc huy động vốn nước ngoài của khu vực KTTN
Thứ ba: Đề xuất một số biện pháp hoàn thiện huy động vốn nước ngoài cho sự
phát triển KTTN tại Việt Nam
3 Phạm vi nghiên cứu
Nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu, nội dung của luận văn hướng tập trung vào các vấn đề lý thuyết và thực tiễn của các doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN tại Việt Nam, không đi sâu vào một ngành hay một số ngành cụ thể Luận văn sử dụng số liệu tổng hợp có nguồn gốc bóc tách từ năm 2000 đến năm
2006 để có số liệu sát với thực tiễn làm cơ sở cho phân tích và đánh giá thực trạng và kiến nghị các biện pháp hoàn thiện huy động vốn nước ngoài cho phát triển KTTN tại Việt Nam
Tuy nhiên dù học viên đã rất cố gắng trong việc thu thập số liệu, song kết quả cũng chỉ dừng lại ở mức độ mà luận văn đạt được
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 8Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận văn là phương pháp phân tích và tổng hợp Nhờ phương pháp này có thể nghiên cứu được những thành tựu cũng như thấy được những hạn chế trong quá trình phát triển của KTTN và khả năng huy động vốn nước ngoài của khu vực này Từ đó đề xuất những biện pháp hoàn thiện và nâng cao khả năng huy động vốn nước ngoài cho sự phát triển khu vực KTTN tại Việt Nam
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như: phương pháp thống kê, phương pháp diễn giải và qui nạp, phương pháp so sánh……
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các bảng, chữ viết tắt, luận văn có
96 trang với kết cấu như sau:
Chương 1: Lý luận chung về KTTN và huy động vốn nước ngoài đối với sự phát
triển khu vực KTTN
Chương 2: Thực trạng huy động vốn nước ngoài cho phát triển KTTN tại Việt
Nam
Chương 3: Các biện pháp hoàn thiện huy động vốn nước ngoài cho phát triển
KTTN tại Việt Nam
Trang 9Chương 1: LÝ LUẬN VỀ KTTN VÀ HUY ĐỘNG VỐN NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KHU VỰC KTTN
1.1 Tổng quan về khu vực KTTN
1.1.1 Khái niệm về KTTN
Sở hữu tư nhân là hình thức chiếm hữu, trong đó tư liệu sản xuất và vật phẩm tiêu dùng là của riêng cá nhân Sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất là cơ sở nảy sinh KTTN
Ở Việt Nam, theo Luật DN năm 2005 thì DN được hiểu là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh
Như vậy, xuất phát từ bản chất của chế độ sở hữu tư nhân, có thể hiểu KTTN là tổng thể các DN, tổ chức kinh tế ra đời và tồn tại trên cơ sở sở hữu tư nhân về vốn và tư liệu sản xuất và được gọi là khu vực KTTN KTTN hoàn toàn tự chủ, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ Cụ thể như tự chủ về vốn, về quy mô hoạt động, về phân phối sản phẩm, về phương hướng huy động vốn, tự chủ lựa chọn phương thức sản xuất kinh doanh, hình thức tổ chức quản lý………và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
1.1.2 Các hình thức của KTTN
Tuỳ theo cách tiếp cận khác nhau mà KTTN có các hình thức khác nhau
- Nếu tiếp cận dưới gốc độ sở hữu tư nhân thì KTTN được hiểu theo nghĩa hẹp gồm có: DN tư nhân, Công ty TNHH, Công ty cổ phần Với cách hiểu này chúng
ta thấy có hai nhược điểm:
Một là, về phương pháp luận vô tình đã phân cắt khu vực sở hữu tư nhân – KTTN ra hai mảng tách rời nhau (mảng kinh tế cá thể – tiểu chủ và mảng kinh
Trang 10tế tư bản tư nhân) Nhưng trong thực tế sự ra đời, tồn tại, phát triển của chúng lại có sự quan hệ chặt chẽ với nhau, cụ thể: chúng đều hình thành, phát triển dựa trên sở hữu tư nhân, vì thế chúng có cùng một kiểu quan hệ quản lý, quan hệ phân phối, chỉ khác nhau về quy mô và trình độ phát triển Chúng vận động và phát triển theo một logic từ thấp đến cao, từ kinh tế hộ cá thể – tiểu chủ lên DN
tư nhân, Công ty TNHH, Công ty cổ phần theo quy luật tích tụ và tập trung sản xuất và quy luật quan hệ sản xuất nhất định phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Hai là, với quan niệm trên đây sẽ không đánh giá đúng tiềm lực to lớn về vai trò, vị trí của khu vực KTTN trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
- Nếu tiếp cận theo cách phân định thành phần kinh tế thì KTTN gồm có: kinh tế
cá thể – tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân và một phần kinh tế có vốn đầu tư của nước ngoài Cách tiếp cận này trên thực tế chỉ có ý nghĩa về mặt chính trị phục vụ cho việc phân định các thành phần giai cấp trong xã hội mà thôi Mà ngày nay việc phân định này cũng chỉ có ý nghĩa tương đối, bởi vì giữa thành phần kinh tế và giai cấp nó không hoàn toàn tương đồng, cụ thể một giai cấp có thể nằm ở hai hay ba thành phần kinh tế, chẳng hạn giai cấp nông nhân hiện nay gắn liền với ba thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước (nông dân nhận khoán của nông lâm trường), kinh tế tập thể (nông dân trong hợp tác xã), kinh tế cá thể – tiểu chủ (nông dân cá thể)
- Nếu tiếp cận dưới góc độ tổ chức sản xuất kinh doanh thì khu vực KTTN bao
gồm: các hộ kinh tế cá thể, hộ tiểu chủ (trang trại trong nông nghiệp), các DN tư nhân (cả trong và ngoài nước) và các hình thức kinh tế hỗn hợp của chúng như: Công ty TNHH, Công ty cổ phần hoạt động trong tất cả các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, dịch
Trang 11vụ, thương mại……… Với quan niệm rộng lớn như trên các loại hình DN thuộc khu vực KTTN có một số lợi thế như: có khả năng thích ứng với mọi ngành nghề từ nông nghiệp đến công nghiệp, thương mại, dịch vụ; với mọi trình độ phát triển từ thủ công đến cơ khí, tự động hóa, tin học hóa; với quy mô từ nhỏ, vừa đến lớn; phù hợp với mọi địa bàn từ thành thị đến nông thôn; từ vùng sâu, vùng xa đến biên giới hải đảo
Tóm lại, trong nền kinh tế thị trường ở nước ta tồn tại nhiều hình thức sỡ hữu khác nhau, tương ứng với mỗi hình thức sở hữu có thể chia cấu trúc nền kinh tế thành ba khu vực chính: đó là khu vực KTNN, khu vực KTTN và khu vực ĐTNN Còn một khu vực kinh tế khác đó là khu vực kinh tế hỗn hợp giữa nhà nước và tư nhân Khu vực này khi xét vốn đầu tư của bên nào chiếm tỷ lệ khống chế thì có thể xếp vào khu vực nhà nước hay khu vực tư nhân Cách chia cơ cấu kinh tế như vậy chỉ mang tính tương đối và tương ứng với mỗi khu vực kinh tế có các loại hình DN khác nhau Riêng khu vực KTTN bao gồm các loại hình DN: Công ty TNHH, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh, DN tư nhân và các nhóm, cá thể kinh doanh
Theo Luật DN năm 2005, ta có thể hiểu:
- Công ty TNHH là DN, trong đó: thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá năm mươi; thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm vi số vốn cam kết góp vào DN; phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định; có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; công
ty TNHH không được quyền phát hành cổ phần
- Công ty cổ phần là DN, trong đó: vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng
nhau gọi là cổ phần; cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ
Trang 12và các nghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm vi số vốn đã góp vào DN; cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định không được chuyển nhượng trong Luật này; có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn
- Công ty hợp danh là DN, trong đó: phải có ít nhất hai thành viên hợp danh (là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung), ngoài các thành viên hợp danh có thể có các thành viên góp vốn, thành viên hợp danh phải là cá nhân chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty, thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công
ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh danh và không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào
- DN tư nhân là DN do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của DN DN tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một DN tư nhân
- Các nhóm, cá thể kinh doanh không cần vốn pháp định, đó chính là sự khác nhau cơ bản với chủ DN tư nhân và công ty
1.1.3 Tính tất yếu phát triển khu vực KTTN trong nền kinh tế thị trường
Ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới đều nhận thức được vai trò quan trọng của khu vực KTTN trong nền kinh tế quốc gia Nhận thức này không phải ngay một lúc mà có được, nó là kết quả thực tiễn của một quá trình tương đối dài về sự tồn tại và phát triển sống động của KTTN
Có một thời kỳ dài người ta đánh giá không đúng vai trò của khu vực KTTN Do e ngại KTTN dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất
“Hàng ngày hàng giờ đẻ ra chủ nghĩa tư bản” nên chúng ta đã tìm mọi cách để
Trang 13triệt tiêu khu vực kinh tế này và chỉ tạo điều kiện để KTNN, kinh tế tập thể phát triển Hậu quả là nền kinh tế trì trệ, chậm phát triển, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn Trong khi đó ở các nước phát triển theo mô hình kinh tế thị trường, KTTN phát triển song song và bổ trợ với KTNN Thậm chí KTTN phát triển nhanh, mạnh mẽ, góp phần quan trọng làm cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh Người ta nhận thấy rõ ràng tác dụng không thể phủ nhận là khu vực KTTN có thể thúc đẩy cạnh tranh, thực hiện phân bổ tài nguyên một cách hợp lý hơn so với khu vực KTNN vì những lý do xuất phát từ lợi ích trực tiếp do tính chất sở hữu của KTTN so với KTNN
Ngay ở trong khu vực, các con Rồng Châu Á như Đài Loan, Hồng Kông, Singgapo, Hàn Quốc… đạt được sự tăng trưởng thần kỳ về kinh tế chính là nhờ các nước này đã thành công trong việc phát triển khu vực KTTN, đồng thời tạo
ra sự kết hợp hài hòa, bổ sung lẫn nhau giữa KTTN và KTNN
Hiện nay ở hầu hết các nước, KTTN đóng vai trò rất quan trọng chi phối rất lớn đến công cuộc phát triển kinh tế – xã hội
Việt Nam tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện tiềm lực và khả năng của KTNN, kinh tế tập thể chưa đủ mạnh để có thể đảm đương được việc đáp ứng nhu cầu của xã hội, trong khi đó các thành phần KTTN, kinh tế cá thể, tiểu chủ… có khả năng phát triển mạnh, sự có mặt của khu vực KTTN tạo động lực mới trong nền kinh tế, tiếp tục giải phóng mọi lực lượng sản xuất, huy động khai thác các tiềm lực dồi dào về vốn, kinh nghiệm quản lý, ngành nghề truyền thống … thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển đất nước Vì vậy, khuyến khích phát triển KTTN là nội dung quan trọng của đổi mới kinh tế ở nước ta Do vậy, để tiến hành nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần huy động tối đa các thành phần kinh tế tham gia, trong đó có thành phần KTTN là một tất yếu khách quan, là một bộ phận cấu thành không thể
Trang 14thiếu được trong nền kinh tế nước ta cũng như các nước khác trên thế giới Điều này dựa trên cả cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn:
- Về cơ sở lý luận: học thuyết của Lênin cũng như các học thuyết kinh tế học hiện đại đều chỉ ra rằng các nước cần phải phát triển KTTN, tạo động lực để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh
- Về cơ sở thực tiễn: sự cần thiết phát triển KTTN bộc lộ rõ ở vai trò, cụ thể: Thứ nhất, huy động mọi nguồn lực trong dân để phát triển kinh tế
Một trong những mục tiêu của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN mà Đảng, Nhà nước và nhân dân chủ trương thực hiện trong thời kỳ quá độ lên CNXH là giải phóng mọi sức sản xuất để làm ra nhiều của cải vật chất và tinh thần nhằm cải thiện không ngừng đời sống của nhân dân Mục tiêu ấy chỉ có thể thực hiện khi huy động được các nguồn lực trong nước, khai thác có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, sức lao động tiền vốn để mở rộng sản xuất Phát triển KTTN là một trong những giải pháp quan trọng để thực hiện mục tiêu này là vì cho phép khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực của đất nước
KTTN có vai trò to lớn trong việc huy động vốn đầu tư rộng rãi trong nhân dân cho phát triển sản xuất, tạo động lực và môi trường cạnh tranh sống động, linh hoạt, sáng tạo cho sự phát triển, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tạo
ra nhiều của cải hàng hóa cho xã hội, đóng góp vào ngân sách nhà nước, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa các ngành sản xuất Theo ước tính của các chuyên gia tài chính ngân hàng thì nguồn vốn dưới các dạng trong dân còn rất lớn khoảng trên 20 tỷ USD, vì thế phát triển KTTN mới có thể khai thác tốt được nguồn vốn trong dân
Vậy, sự tồn tại KTTN ở nước ta là một đòi hỏi bức thiết của thực tiễn xây dựng, phát triển đất nước nhằm khơi dậy và phát huy các tiềm năng về vốn, sức lao động, cơ sở vật chất, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, tính năng động, nhạy
Trang 15bén linh hoạt, sáng tạo của KTTN Góp phần giải phóng đáng kể lực lượng sản xuất xã hội, tăng trưởng kinh tế, từng bước khắc phục sự nghèo đói, cải thiện đời sống nhân dân
Thứ hai, tạo sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất
Khu vực KTTN phát triển về hình thức sở hữu, về quản lý và phân phối tạo nên sự phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở các ngành, các lĩnh vực sản xuất, từ đó tạo khả năng huy động rộng rãi tiềm năng nguồn lực trong toàn xã hội để đẩy mạnh sản xuất, tạo ra nhiều của cải làm giàu cho mình và cho đất nước Các loại hình tổ chức của KTTN được tự do phát triển, Nhà nước tạo điều kiện và khuyến khích đầu tư sản xuất kinh doanh, được luật pháp bảo hộ và là biểu hiện dân chủ hóa đời sống kinh tế trong xã hội ta Từ đó khơi dậy và phát huy tính năng động , nhạy bén, cần cù sáng tạo của quần chúng nhân dân trong lao động và sản xuất, thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển, góp phần to lớn vào sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa Mặt khác quá trình dân chủ hóa đời sống kinh tế được mở rộng nói trên sẽ tác động và đòi hỏi sự cải tiến về tổ chức, quản lý của nhà nước theo hướng hiện đại, văn minh, tiến bộ cũng như thúc đẩy nâng cao đời sống văn hóa dân trí và tinh thần trong toàn xã hội
Phát triển khu vực KTTN đặt ra yêu cầu đối với bộ máy quản lý nhà nước phải chuyển đổi và thích nghi Sự chuyển đổi bộ máy và chức năng quản lý của nhà nước phải theo hướng tăng cường quản lý vĩ mô và giảm thiểu tối đa sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động của DN
Sự có mặt của khu vực KTTN đòi hỏi phải có sự hoàn chỉnh hệ thống luật pháp, trước hết là hệ thống pháp luật về kinh tế Hệ thống luật pháp vừa đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN vừa phải phù hợp với thông lệ quốc tế hiện chưa có đầy đủ ở nước ta Sự tồn tại khu vực KTTN buộc
Trang 16nhà nước phải xây dựng hệ thống luật pháp hoàn chỉnh, đồng bộ, một yêu cầu cấp bách của quản lý vĩ mô của nhà nước
Thứ ba, tạo động lực cho các thành phần kinh tế khác phát triển
Phát triển khu vực KTTN theo cơ chế thị trường dưới sự quản lý của nhà nước sẽ thúc đẩy mọi thành viên trong xã hội nỗ lực đầu tư năng động trong việc khai thác mọi nguồn lực làm ra của cải đáp ứng nhu cầu cho mình và đóng góp cho xã hội Tác động tích cực này tác động nhiều đến khu vực KTNN Giá thành sản phẩm rẻ, mẫu mã hàng hóa đa dạng và luôn luôn đổi mới của khu vực sản xuất tư nhân có sức cạnh tranh mạnh mẽ và là động lực thúc đẩy KTNN năng động lên
Vậy, sự hợp tác liên doanh của KTTN với KTNN và kinh tế tập thể như một tất yếu nảy sinh, khi phát triển KTTN sẽ tạo thêm động lực cho hai thành phần kinh tế này phát triển vượt qua năng lực của nó, khắc phục những hạn chế của khu vực quốc doanh, nhờ đó sẽ phát huy hết tiềm năng
Thứ tư , góp phần tích cực vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Phát triển KTTN góp phần tích cực vào sự chuyển dịch theo hướng hợp lý, hiệu quả, hiện đại Ưu thế nổi trội của KTTN là năng động, nhạy bén, linh hoạt trong đầu tư sản xuất kinh doanh, nắm bắt và đáp ứng nhanh nhạy nhu cầu thị trường để tìm kiếm hiệu quả, lợi nhuận Do vậy họ luôn tìm kiếm phát hiện ngành, lĩnh vực mặt hàng xã hội đang thiếu, đang cần đầu tư sản xuất, đồng thời không ngừng cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm để có ưu thế trong cạnh tranh và thu được lợi nhuận, từ đó thúc đẩy sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng hợp lý, ngày càng hiện đại
Ngoài ra phát triển KTTN sẽ tạo ra một đội ngũ những nhà DN năng động, nhạy bén dám nghĩ, dám làm, chấp nhận thách thức của thị trường Góp phần
Trang 17đồng bộ và hoàn thiện những tiền đề, điều kiện cho sự phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN
Thứ năm, giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động và phát triển nguồn nhân lực
Khu vực KTTN phát triển khắp các vùng của đất nước tạo khả năng to lớn trong giải quyết việc làm và đời sống của người lao động Trong cơ chế cạnh tranh thị trường, để nâng cao chất lượng sản phẩm, hiệu quả kinh doanh, KTTN phải tìm mọi cách tuyển chọn, bồi dưỡng, đạo tạo, nâng cao trình độ, năng lực, tay nghề của người lao động, cũng như bố trí sử dụng hợp lý, khoa học… từ đó góp phần to lớn vào sự phát triển lực lượng lao động xã hội, đáp ứng yêu cầu kinh tế thị trường hội nhập kinh tế quốc tế
Các DN thuộc KTTN đông đảo với nhiều qui mô, nhiều ngành nghề không những thu hút nhiều lao động, giải quyết nhiều việc làm mà còn là lò luyện đội ngũ các nhà DN sau khi họ tốt nghiệp các trường cao đẳng, đại học và các trường khác
Thứ sáu, phát triển kinh tế đối ngoại
Sự tồn tại khách quan của kinh tế hàng hóa cùng với xu thế và đặc điểm thời đại về mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế là môi trường và điều kiện cho KTTN phát huy các ưu thế, hiệu quả của mình cho nền kinh tế KTTN góp phần mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, hiện đại hóa sản xuất: sự phát triển của KTTN tạo ra khối lượng lớn về hàng xuất khẩu đồng thời mở rộng khả năng và là đối tác thu hút các nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam, nhập về máy móc thiết bị công nghệ tiên tiến… qua đó tạo tiền đề khai thác, tận dụng các tiềm năng, nguồn lực rộng lớn trong nhân dân cho phát triển sản xuất, góp phần hiện đại hóa nền kinh tế Vậy, phát triển KTTN sẽ tạo ra môi trường kinh
tế thuận lợi cho việc thực hiện chiến lược kinh tế mở cửa của đất nước
Trang 18Tóm lại, mặc dù còn những cách nhìn nhận khác nhau về vai trò của khu
vực KTTN, nhưng rõ ràng là KTTN đang từng bước trở thành động lực chính cho sự phát triển kinh tế nhanh và bền vững, tạo sự ổn định xã hội, là công cụ quan trọng để tạo công ăn việc làm cho người lao động, cải biến nền công nghiệp lạc hậu, tiếp nhận những tri thức, công nghệ, phương pháp quản lý mới, đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trừơng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thu hút vốn nhàn rỗi, tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và tạo động lực cạnh tranh và phát triển kinh tế Nói một cách khác, phát triển KTTN là tất yếu trong nền kinh tế thị trường
1.2 Huy động vốn nước ngoài đối với phát triển khu vực KTTN
1.2.1 Các hình thức huy động vốn nước ngoài cho phát triển khu vực
KTTN
Các nguồn vốn nước ngoài vào một quốc gia thông qua quá trình trao đổi vốn quốc tế Trong điều kiện mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế, vốn được trao đổi giữa các quốc gia dưới nhiều hình thức khác nhau, với nhiều chủ thể khác nhau Quá trình trao đổi vốn quốc tế đã làm tăng lợi ích của các chủ thể kinh tế
vì vốn được sử dụng một cách có hiệu quả hơn Nhìn từ góc độ lợi ích của một quốc gia, tham gia vào trao đổi vốn quốc tế sẽ tạo điều kiện để các nguồn lực trong nước được khai thác một cách tối ưu, các tiềm năng chuyển thành hiện thực tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập cho nền kinh tế
Vốn nước ngoài vào một quốc gia thường đi kèm với công nghệ, vì vậy nó đóng vai trò cực kỳ quan trọng không chỉ với tăng trưởng kinh tế của một quốc gia, với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mà còn tạo cơ hội cho các DN sản xuất – kinh doanh đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa để tăng sức cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường trong nước và quốc tế
Các nguồn vốn nước ngoài thuộc nhiều chủ sở hữu được đưa vào một quốc gia dưới nhiều hình thức khác nhau Có nhiều tiêu thức phân loại, tuy
Trang 19nhiên, thông thường sử dụng 2 tiêu thức phân loại các nguồn vốn nước ngoài vào một quốc gia:
Tiêu thức 1: Căn cứ vào nội dung vận động của các nguồn vốn nước ngoài, với mục đích xác định quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn thì vốn nước ngoài có các hình thức sau:
- Các nguồn vốn từ quan hệ thanh toán quốc tế, bao gồm: các quan hệ trả tiền
đối ứng với các luồng hàng hóa, dịch vụ mà trong nước đã cung cấp cho nước ngoài Nguồn vốn này gắn liền với hoạt động ngoại thương (xuất – nhập khẩu hàng hóa), du lịch quốc tế, hợp tác lao động quốc tế, các quan hệ quốc tế về văn hóa – xã hội, quân sự, chính trị, ngoại giao… Trong đó liên quan trực tiếp đến vốn cung cấp cho hoạt động của các cơ sở sản xuất kinh doanh là các nguồn vốn có được từ hoạt động xuất – nhập khẩu, vốn được gửi về từ các người thân đi lao động ở nước ngoài (kiều hối)
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), là dòng vốn mà chủ đầu tư nước ngoài đưa
vốn đầu tư vào một quốc gia khác và trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động sử dụng vốn Các chủ đầu tư trực tiếp có thể là mọi tổ chức và cá nhân của nước ngoài dưới các hình thức đầu tư khác nhau tùy theo luật pháp nước chủ nhà Hiện nay, ở Việt Nam cho phép áp dụng các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài là hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng, DN liên doanh, DN 100% vốn nước ngoài Bên nhận đầu tư có thể là mọi tổ chức và cá nhân trong nước FDI là một hình thức đầu tư mang đến nhiều tác động có lợi cho cả hai bên Đối với các nước nhận đầu tư sẽ tạo cơ hội thu hút công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm quản lý kinh doanh nước ngoài, khai thác tốt lợi thế trong nước, có thể nâng cao hiệu quả phần vốn đóng góp, tăng tích luỹ, mở rộng cạnh tranh….thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Tuy vậy, mặt trái của việc tiếp nhận FDI là nước chủ nhà khó chủ động bố trí cơ cấu đầu tư theo ngành và vùng lãnh thổ, tài nguyên
Trang 20bị khai thác quá mức, có thể du nhập công nghệ thứ yếu và ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Đối với các DN sản xuất kinh doanh, khi liên kết liên doanh với các chủ đầu tư nước ngoài sẽ có thêm nguồn vốn để đổi mới công nghệ vì quyền lợi của nhà đầu tư nước ngoài gắn liền với kết quả sản xuất kinh doanh nên có nhiều khả năng thu hút công nghệ tiến bộ hơn so với việc nhập khẩu, học tập được các kinh nghiệm về tổ chức kinh doanh, về tiếp cận thị trường ….tăng thêm sức mạnh cạnh tranh trên thị trường Nhưng nếu không có một cơ chế trách nhiệm và kiểm soát tốt, thì phần lợi ích mang lại cho các nhà đầu tư trong nước sẽ không tương xứng, vì các chủ đầu tư nước ngoài vừa giàu kinh nghiệm vừa mạnh về tiềm lực sẽ lấn át bạn liên doanh của mình, chẳng hạn vốn góp của họ chỉ là công nghệ thải loại trong khi xác định giá trị đóng góp lại quá cao so với giá trị thực
Khai thác tính hai mặt của FDI vào mục đích tìm ra mặt tích cực của dòng vốn này, hỗ trợ cho sự lớn mạnh của các DN sản xuất kinh doanh trong nước
- Đầu tư gián tiếp nước ngoài là hình thức chủ đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư
nhưng không trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn Tất cả các chủ thể kinh tế – xã hội của mọi quốc gia đều có thể tham gia đầu tư gián tiếp nước ngoài, đó là các chương trình và các dự án của các ngành được thực hiện bằng nguồn vốn tín dụng của Chính phủ; các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như WB, ADB, IMF, IFDA….; các tổ chức phi Chính Phủ, các chủ đầu tư tư nhân…….Trong điều kiện thị trường tài chính phát triển với tốc độ nhanh chóng như hiện nay, các hình thức đầu tư gián tiếp nước ngoài sẽ ngày càng phong phú và đa dạng, gồm: viện trợ quốc tế không hoàn lại, ODA, đầu tư chứng khoán quốc tế Tương ứng với mỗi một hình thức đầu tư thì chủ thể đầu tư và nhận đầu tư, cũng như mục đích đầu tư có khác nhau Cụ thể:
Trang 21+ Nguồn vốn có từ viện trợ quốc tế không hoàn lại, có thể là viện trợ song
phương (vốn của một Chính phủ nước ngoài), viện trợ đa phương (vốn từ một tổ chức quốc tế thuộc hệ thống Liên hiệp quốc, của các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế ), viện trợ của NGO Tiếp nhận nguồn vốn này có thể là Chính phủ hoặc các tổ chức kinh tế – xã hội, địa phương Phần lớn nguồn vốn viện trợ quốc tế không hoàn lại vào các nước đang phát triển với mục tiêu từ thiện Quốc gia nhận vốn không phải lo hoàn trả mà chỉ cần sử dụng đúng mục đích, tạo niềm tin với các nhà tài trợ Nguồn vốn viện trợ quốc tế không hoàn lại chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng các dòng vốn trao đổi giữa các quốc gia
+ ODA, chủ yếu là các nguồn vốn đầu tư gián tiếp của các tổ chức quốc tế và
các Chính phủ vào các nước đang phát triển dưới hình thức tín dụng ưu đãi quốc tế, số lượng vốn vay lớn, thời gian vay dài ( có khoản vay sau 30 – 40 năm mới phải trả gốc), lãi suất thấp hơn lãi suất thị trừơng , thậm chí có thời gian ân hạn Chủ đầu tư thường không coi trọng lợi ích kinh tế, mà họ quan tâm nhiều hơn đến mục tiêu chính trị – xã hội Vì vậy để có được nguồn vốn này, các nước đang phát triển phải xây dựng các chương trình, dự án đầu tư rõ ràng, thuyết minh tiến độ và sau đó là đánh giá hiệu quả đầu tư Chủ tiếp nhận nguồn vốn ODA thường là Chính phủ, sử dụng vào những lĩnh vực mà tư nhân không muốn hoặc tư nhân không có khả năng đầu tư (xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội) tạo hàng hóa công cộng Trách nhiệm trả nợ nguồn vốn này thuộc về Chính phủ, trong đó Bộ tài chính đàm phán vay và trả các khoản nợ này
+ Nguồn vốn từ đầu tư chứng khoán quốc tế, do các chủ đầu tư dưới hình thức mua chứng khoán trên các thị trường tiền tệ, thị trường trái phiếu và thị trường cổ phiếu quốc tế hoặc đầu tư thông qua Quĩ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian Chủ đầu tư có thể là tất cả các chủ thể kinh tế – xã hội của mọi quốc gia, hưởng lợi tức nhưng không tham gia điều hành đối
Trang 22tượng mà họ bỏ vốn đầu tư Chủ thể nhận đầu tư thông qua các loại chứng khoán phát hành trên thị trường: Chính phủ nhận vốn đầu tư quốc tế qua phát hành trái phiếu quốc tế; các DN nhận vốn đầu tư quốc tế qua phát hành trái phiếu công ty hoặc cổ phiếu công ty Đây là nguồn vốn đáp ứng nhanh chóng nhu cầu vốn cho bên nhận đầu tư, thông qua sự phát triển của thị trường chứng khoán, nguồn vốn đầu tư này góp phần tích cực cho tăng trưởng và phát triển Tuy nhiên, hình thức này luôn tiềm ẩn những yếu tố rủi ro cho bên nhận đầu tư nếu các nhà đầu tư đồng loạt rút vốn trong thời gian ngắn thông qua việc bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán
Rõ ràng, nếu đứng trên chủ thể tiếp nhận vốn nước ngoài bao giờ cũng phải nhận rõ cả 2 mặt: lợi ích và bất lợi của từng loại vốn, để tùy theo từng điều kiện cụ thể lựa chọn hình thức huy động vốn có lợi nhất
Tiêu thức 2: căn cứ vào chủ thể tiếp nhận vốn nước ngoài, với mục đích
xác nhận trách nhiệm hoàn trả vốn, có vốn nước ngoài chuyển vào khu vực Chính phủ và vốn nước ngoài chuyển vào khu vực tư nhân Vẫn là các nguồn vốn nước ngoài đã nói đến ở cách phân loại thứ nhất, nhưng theo cách phân loại này người ta nhìn thấy ngay dòng chảy vốn nứơc ngoài vào 2 khu vực kinh tế khác nhau, và do đó quyền sử dụng và trách nhiệm hoàn trả cũng khác nhau Đây là cách phân loại mà các nhà quản lý tài chính thường áp dụng để xem xét gánh nặng nợ và khả năng hoàn trả nợ của các Chính phủ trong các thời kỳ kinh tế
-Các nguồn vốn nước ngoài vào khu vực Chính phủ, bao gồm tất cả các nguồn
vốn nước ngoài vào một nước mà Chính phủ nước đó là người tiếp nhận, sử dụng và thực hiện nghĩa vụ thanh toán, đó là: chênh lệch (+) thanh toán quốc tế từ các hợp tác kinh tế giữa Chính phủ với nước ngoài; viện trợ nước ngoài không hoàn lại; các khoản tín dụng ưu đãi (ODA) và không ưu đãi (vay thương
Trang 23mại) từ các Chính phủ nước ngoài (nợ song phương) hoặc các tổ chức quốc tế (nợ đa phương); nguồn vốn có được từ phát hành trái phiếu Chính phủ ra nứơc ngoài (nợ các cá nhân, nợ các tổ chức nứơc ngoài) Tất cả các nguồn vốn này đều thuộc quyền sử dụng của Chính phủ, hiệu quả sử dụng phụ thuộc vào khả năng điều hành và quản lý kinh tế của từng quốc gia
-Các nguồn vốn nước ngoài vào khu vực tư nhân, bao gồm tất cả các nguồn vốn
nước ngoài vào một nước mà tư nhân là người tiếp nhận, sử dụng và thực hiện nghĩa vụ thanh toán, đó là: chênh lệch (+) từ các khoản thanh toán thương mại và dịch vụ quốc tế; tín dụng thương mại quốc tế; kiều hối; FDI dưới 2 hình thức : hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng và hình thức liên doanh; nợ
tư nhân nước ngoài (nợ thương mại, nợ phi Chính phủ); nguồn vốn có được từ phát hành cổ phiếu doanh nghiệp hay trái phiếu công ty thông qua thị trường chứng khoán; nguồn vốn có được thông qua các loại quĩ như Quĩ đầu tư mạo hiểm nước ngoài, Ngân hàng phát triển (trước đây là Quĩ hỗ trợ phát triển) và các loại quĩ khác của nước ngoài hoạt động tại Việt Nam
Những nguồn vốn vào khu vực tư nhân rất đa dạng, tuy Chính phủ không có trách nhiệm thanh toán cuối cùng đối với phần lớn nguồn vốn này, nhưng hiệu quả sử dụng vốn ở khu vực tư nhân cũng sẽ tác động rất lớn đến tăng trưởng kinh tế (nếu sử dụng với hiệu quả cao) hay suy giảm kinh tế (nếu sử dụng kém hiệu quả) Vì vậy Chính phủ vẫn phải giám sát và sử dụng các công cụ điều hành vĩ mô tác động tích cực đến việc thu hút và sử dụng các nguồn vốn đó ở khu vực KTTN nhằm khai thác mặt tích cực và hạn chế tiêu cực của nó
Ngoài hai dòng vốn kể trên, còn vốn nước ngoài vào một quốc gia nhưng
vẫn do chủ thể nước ngoài trực tiếp sử dụng, đó là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài dứơi hình thức 100% vốn nước ngoài Tuy các chủ thể kinh tế trong nước không sử dụng nguồn vốn này, nhưng nó vẫn có lợi ích chung cho quốc gia nhận
Trang 24vốn (tạo việc làm, tăng thu nhập…), đồng thời nó cũng bộc lộ những tiêu cực, nên các Chính phủ một mặt khuyến khích thu hút vốn, mặt khác kiểm soát hạn chế tiêu cực
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến huy động vốn nước ngoài cho khu vực
KTTN
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến huy động vốn nước ngoài cho khu vực kinh tế nói chung và khu vực KTTN nói riêng, tuy nhiên ở đây chỉ nêu một số nhân tố điển hình:
Thứ nhất, vấn đề tiếp cận vốn Theo quy luật, nguồn vốn được luân chuyển từ nơi thừa sang nơi thiếu với chi phí sử dụng vốn ấn định Và để thực hiện được việc luân chuyển này thì phải có một bàn tay vô hình tác động đó chính là Nhà nước Tùy thuộc vào chính sách chế độ của Nhà nước cho phép khu vực KTTN tiếp cận với nhà đầu tư nước ngoài mà lượng vốn huy động được có đủ đáp ứng nhu cầu cho phát triển khu vực KTTN
Thứ hai, vần đề tiếp cận về đất đai Mặt bằng kinh doanh là yếu tố mà nhà đầu tư cần phải nghiên cứu khi ra quyết định đầu tư Nếu vấn đề tiếp cận đất đai gặp khó khăn do cơ chế, chính sách tạo ra thì họ sẽ không đầu tư hoặc nếu họ đầu tư theo hình thức liên doanh một bên có đất và một bên có vốn nhưng cả mặt bằng không có hoặc diện tích mặt bằng không đủ hoặc giá thuê mặt bằng quá cao thì việc đầu tư không thành công Cuối cùng, việc huy động vốn nước ngoài cho khu vực KTTN mất đi cơ hội
Thứ ba, vần đề về kỹ năng lao động và giáo dục đối với lao động cũng là một trong các vấn đề quan trọng bậc nhất Trong kinh doanh có ba yếu tố: vốn, đất đai và nhân công Nếu nhân công vừa chất lượng cao vừa rẻ vừa có chất xám thì là yếu tố mạnh mẽ thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Trang 25Thứ tư, lĩnh vực hạ tầng giao thông Các nhà đầu tư nước ngoài gặp phải những khó khăn nhiều nhất Điều này cho thấy nhu cầu của các nhà đầu tư này cao hơn rất nhiều, đặc biệt là việc đáp ứng nhu cầu chuyên chở phân phát kịp thời những sản phẩm của họ đến các thị trừơng thế giới Các doanh nghiệp hoạt động chủ yếu trên thị trường trong nước có thể sẽ đương đầu tốt hơn đối với những trở ngại do cơ sở hạ tầng nghèo nàn
Thứ năm, các quy định của Nhà nước về hành chính liên quan đến đầu tư nước ngoài
- Ở nước ta, Luật DN có mâu thuẫn với các Luật chuyên ngành Chính trong Luật chuyên ngành lại có những “tư tưởng độc quyền”, khiến sự thống nhất trong qui hoạch giấy phép con gặp nhiều khó khăn Luật DN năm 2000 được xem là một sự đột phá về cải cách hành chánh, nhưng trong đó có nạn bùng phát giấy phép con Ngày 1 tháng 7 năm 2006, luật DN năm 2005 có hiệu lực Luật mới, nhưng sẽ khó để tạo ra thay đổi mới trong việc khống chế làn sóng giấy phép kinh doanh Tham nhũng làm tăng chi phí kinh doanh và có thể làm méo mó các chính sách phát triển kinh tế Đồng thời, nhà đầu tư nước ngoài khó tiên liệu về khả năng thay đổi của Chính sách, thông tin kém minh bạch và công khai, thủ tục thành lập DN phức tạp và tốn nhiều thời gian là những yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài
- Ngoài ra, năng lực và trách nhiệm của chính quyền một số địa phương còn hạn chế Đây là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng huy động vốn đầu tư nước ngoài ở DN của từng tỉnh, từng thành phố Chính quyền địa phương chính là người trực tiếp tiếp xúc và giải quyết nhiều vấn đề liên quan đến nhà đầu tư Và hành vi của đội ngũ công chức của từng chính quyền địa phương ảnh hưởng không nhỏ đến quyết định đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài
Trang 261.3 Tác động của vốn nước ngoài đối với phát triển KTTN
Với đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần, người có tiền đã có cơ hội đầu tư vào sản xuất kinh doanh, họ được làm giàu bằng chính sức lao động của mình và qua đó cũng đóng góp cho nguồn thu ngân sách nhà nước, giải quyết việc làm, tác động phân bố có hiệu quả nguồn tài nguyên quốc gia, góp phần phát triển kinh tế Tuy nhiên để duy trì và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, huy động vốn luôn là một yếu tố quan trọng, nguồn vốn càng đa dạng bao nhiêu thì càng san sẻ bớt rủi ro trong quá trình sử dụng vốn
Trong điều kiện vốn đầu tư trong nước cho khu vực KTTN còn thấp, khi mà trình độ tích tụ và tập trung tư bản còn chưa cao, thì vốn nước ngoài sẽ là nguồn bổ sung quan trọng đáp ứng nhu cầu mở rộng qui mô sản xuất, đổi mới công nghệ, khai thác triệt để tiềm năng, tạo ra những cơ hội cho KTTN Việt Nam hội nhập với kinh tế khu vực và kinh tế thế giới
Các nguồn vốn nước ngoài vào khu vực KTTN Việt Nam có những tác động tích cực sau:
- Một là, thông qua nguồn vốn tín dụng thương mại quốc tế giúp khu vực KTTN khắc phục những khó khăn trong thanh toán nhập khẩu hàng hóa hay dịch vụ từ nước ngoài, góp phần đáp ứng nhu cầu nhập khẩu hàng hóa phục vụ cho sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, đây là nguồn vốn chỉ có thể sử dụng trong thời gian ngắn và không phải là nguồn vốn đầu tư
- Hai là, thông qua FDI, khu vực KTTN sẽ có được nguồn lực quan trọng cho đầu
tư phát triển để nâng cao năng lực cạnh tranh, vì đây là nguồn vốn đầu tư dài hạn Vốn nước ngoài vào khu vực KTTN Việt Nam bằng con đường đầu tư trực tiếp (hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh và hình thức liên doanh) không những giúp khu vực kinh tế này tăng vốn đầu tư, tạo cơ hội mở rộng quy mô sản xuất, mạnh dạn đầu tư nâng cấp trang thiết bị; mà còn có cơ hội tiếp nhận những
Trang 27công nghệ hiện đại qua chuyển giao công nghệ đầu tư từ phía bạn Mặt khác, khi hợp tác kinh doanh với các nhà đầu tư nước ngoài, các DN Việt Nam còn có thêm những kinh nghiệm quản lý kinh doanh trong kinh tế thị trường, có cơ hội đào tạo nguồn nhân lực vừa có tay nghề cao vừa có tác phong công nghiệp, thêm những cơ hội mở rộng thị trường xuất nhập khẩu, giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Việt Nam đi dần vào quĩ đạo của kinh tế thị trường và hội nhập cùng với khu vực Đối với khu vực KTTN Việt Nam, vốn đầu tư dài hạn của nước ngoài có tầm quan trọng bổ sung nguồn lực cho nhu cầu vốn đầu tư phát triển Nhưng sự khác biệt về tầm quan trọng của vốn đầu tư nước ngoài so với vốn đầu tư trong nước chính từ đặc trưng của nguồn vốn, đó là: vốn bằng ngoại tệ hoặc vốn đầu tư dưới dạng đầu tư công nghệ và những bí quyết sản xuất kinh doanh mà không thể mua được bằng nguồn vốn trong nước; đặc biệt là những ưu thế đi cùng với nguồn vốn này là những kinh nghiệm quản lý, tác phong công nghiệp của người lao động góp phần đột phá những bế tắc đã từng cản trở hướng
đi lên của KTTN Việt Nam FDI vào khu vực KTTN Việt Nam còn góp phần mở rộng lĩnh vực kinh doanh, hình thành một số ngành nghề mới có ý nghĩa quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, như công nghệ thông tin, công nghệ sản xuất ô tô, sản xuất xe máy…… là động lực cho phát triển các ngành nghề khác theo công nghệ mới
- Ba là, vốn đầu tư nước ngoài tư nhân thu hút qua thị trường chứng khoán ( trường hợp thị trường chứng khoán phát triển cho phép các nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phiếu trong nước) Nguồn vốn này có tác dụng quan trọng trong việc đáp ứng nhanh nhu cầu vốn kinh doanh cho DN Nếu khu vực KTTN trong nước có điều kiện tiếp cận vốn nước ngoài bằng cách bán cổ phiếu cho các nhà đầu tư nước ngoài hoặc đưa trái phiếu công ty vào thị trường chứng khoán, không những sẽ là một cơ hội rất tốt cho huy động vốn hoạt động, mà có tác
Trang 28dụng san sẻ rủi ro vì đã đa dạng hóa được nguồn vốn, có cơ hội tốt hơn trong việc tiếp cận thông tin thị trường Tuy nhiên, sử dụng nguồn vốn này cũng luôn tiềm ẩn những yếu tố rủi ro do nhà đầu tư có thể có hành động “bầy đàn” như thực tế đã diễn ra ở Thái Lan năm 1997 gây nên biến động bất thường cho người sử dụng vốn qua kênh thị trường chứng khoán Vì vậy, cùng với việc mở rộng nội dung hoạt động của thị trường chứng khoán, cần có biện pháp hạn chế tối đa tác động tiêu cực có thể xảy ra thông qua một hệ thống luật pháp và cơ chế điều hành hoạt động phù hợp
- Bốn là, vốn nước ngoài khu vực KTTN có thể sử dụng thông qua các loại quĩ, như Quĩ đầu tư mạo hiểm nước ngoài, Ngân hàng phát triển, các quĩ tài trợ khác của nước ngoài hoạt động tại Việt Nam Nguồn vốn từ Quĩ đầu tư mạo hiểm cung cấp cho các nhà đầu tư các khoản đầu tư gần giống như vốn cổ phần có thời hạn trên trung bình (3 đến 5 năm) với mục tiêu tìm kiếm khoản thu nhập vốn cao hơn mức trung bình nếu việc đầu tư vào những lĩnh vực mạo hiểm mà thành công Thông thường trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển sản phẩm, phát triển năng lực sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ, đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh công nghệ cao hoặc một “ý tưởng” mới, các nhà đầu tư cần một lượng vốn lớn với thời hạn dài đủ để thực hiện mục đích và có thể thu hồi vốn Trong các lĩnh vực đầu tư này nếu thành công sẽ có lợi nhuận cao nhưng hệ số rủi ro cũng lớn, các nguồn vốn đầu tư thông thường không phù hợp Vì vậy, Quĩ đầu tư mạo hiểm có vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu vốn đổi mới công nghệ, đặc biệt cần thiết với một khu vực kinh tế không thể có sự đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước như khu vực KTTN Ngân hàng phát triển với chức năng của mình cũng có thể trở thành kênh cung cấp vốn nước ngoài cho khu vực KTTN Thông qua việc hỗ trợ cho các dự án đầu tư bằng nguồn vốn vay ưu đãi của Chính phủ (vốn của các Chính phủ nước ngoài hoặc các tổ chức quốc tế cho Việt Nam vay)
Trang 29hoặc tìm đối tác nước ngoài đầu tư cho các dự án thuộc khu vực KTTN, Ngân hàng phát triển là nơi cung cấp vốn vay ưu đãi với thời hạn dài và lãi suất thấp, giúp khu vực kinh tế này khắc phục khó khăn về vốn đầu tư Ngoài ra, DN sản xuất và kinh doanh hàng xuất khẩu còn có thể tiếp cận đến các Quĩ bảo lãnh tín dụng, tín dụng hỗ trợ xuất khẩu… Để đáp ứng cho nhu cầu vốn kinh doanh Dưới tác động của các chính sách Chính phủ, giúp khu vực KTTN vừa có thêm cơ hội sử dụng vốn nước ngoài mà vừa có thể giảm thiểu rủi ro như rủi ro tỷ giá, rủi ro từ hành động bầy đàn so với việc huy động vốn nước ngoài trên thị trường chứng khoán
- Năm là, lượng kiều hối gửi về nước hàng năm trở thành một nguồn vốn nước ngoài bổ sung cho đầu tư của khu vực KTTN
1.4 Sự cần thiết phải nâng cao khả năng thu hút vốn nước ngoài đối với sự phát triển khu vực KTTN
Khu vực KTTN có nhiều tiềm năng và triển vọng phát triển, đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế như đã đề cập ở phần trước về vai trò quan trọng của KTTN Kinh nghiệm của một số nước chỉ ra rằng thành công trong phát triển kinh tế là do phần lớn đóng góp của khu vực KTTN, vì vậy Việt Nam cần có một khu vực KTTN năng động và phát triển để đảm bảo cạnh tranh, ổn định và phát triển kinh tế
Khó khăn lớn nhất hiện nay của khu vực KTTN là thiếu vốn để phục vụ sản xuất kinh doanh Theo đánh giá của Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam, tình trạng thiếu vốn là khó khăn lớn nhất đối với khu vực này và hầu hết các DN nói rằng họ luôn trong tình trạng thiếu vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh Các nguồn vốn mà DN có thể tiếp cận và sử dụng là vốn của bản thân chủ DN, kêu gọi góp vốn dưới hình thức hợp doanh, vay mượn của gia đình và bạn bè, vay của các cá nhân, sử dụng tín dụng thương mại, phát hành nợ ra thị
Trang 30trường thông qua các công cụ tài chính và cuối cùng là thu hút vốn nước ngoài qua nhiều kênh khác nhau
Mặc dù nguồn vốn rất đa dạng nhưng lại có rất nhiều khó khăn khi tiếp cận như: vay vốn của các cá nhân Lợi thế là đáp ứng được nhu cầu vốn cấp bách, không cần phải đi qua nhiều thủ tục phức tạp và phiền hà, tuy nhiên lãi suất của những khoản vay này thường rất cao, các hành vi bạo lực có thể xảy ra trong trường hợp DN không trả nợ đúng hạn Hình thức góp vốn liên kết cũng gặp nhiều khó khăn do việc bất cân xứng thông tin của người bên trong và bên ngoài DN, điều này gây ra khả năng tài sản của DN bị đánh giá thấp và do đó làm giảm nhu cầu gọi vốn liên kết của bản thân DN
Thị trường chứng khoán cũng là một kênh để huy động vốn nước ngoài cho các DN kể cả các DN khu vực KTTN Tuy vậy, sau nhiều năm hoạt động, thị trường này phát triển chậm hơn những gì người ta mong đợi Theo kinh nghiệm của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, thị trường chứng khoán có khả năng huy động một lượng vốn lớn kể cả trong nước và ngoài nước Đây là một thị trường giàu tiềm năng, nhưng do thời gian hoạt động chưa lâu, thị trường ít
“hàng hóa”, các nhà đầu tư còn đang thăm dò… nên kết quả thu được còn hạn chế
Hiện nay, cộng đồng người Việt ở nước ngoài khá đông đảo, với khoảng 3 triệu người, rất nhiều người trong số họ đã thành đạt ở xứ người Đó không chỉ là nguồn chất xám, nguồn công nghệ, mà còn là nguồn vốn nhiều tiềm năng cần phải được khai thác tối đa để phát triển kinh tế đất nước Số lượng kiều hối mà người Việt Nam ở nước ngoài gửi về tăng nhanh trong những năm qua Phần lớn số tiền này được đầu tư vào các ngành SXKD thuộc khu vực KTTN, góp phần đáng kể làm cho khu vực KTTN nói riêng và nền kinh tế cả nước nói chung có sự khởi sắc
Trang 31Các DN khu vực KTTN ở nước ta có quan hệ kinh tế với các đối tác nước ngoài thông qua các quan hệ bạn hàng vốn có từ trước hoặc mới hình thành trong những năm qua, quan hệ đồng hương đồng tộc, quan hệ anh em, cha mẹ và bạn bè với những người định cư ở nước ngoài trước và sau giải phóng
Trong điều kiện đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, nhu cầu mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế của các cơ sở KTTN là tất yếu, phù hợp với xu thế chung Thật vậy, các DN Việt Nam cần mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế để tìm kiếm thị trường, tìm kiếm công nghệ, tìm kiếm đối tác kinh doanh để huy động vốn nhằm mở rộng kinh doanh, nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh Bên cạnh đó, những nhà tư sản, những người Việt Nam định cư ở nước ngoài có quan hệ đồng hương, thân tộc hoặc bà con cũng muốn thông qua việc góp vốn với các nhà DN hoặc thân nhân trong nước để làm chỗ dựa kinh doanh cho họ, vừa mang lại lợi ích cho bản thân họ vừa giúp đỡ bà con thân tộc
ở quê nhà đồng thời cũng góp một phần nhỏ bé để phát triển kinh tế đất nước Với việc mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế theo xu hướng hiện nay thì việc thu hút vốn nước ngoài cho khu vực KTTN là rất cần thiết Với nguồn vốn này sẽ đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn cho các DN khu vực KTTN, giải quyết vấn đề nan giải nhất để tạo điều kiện cho khu vực này ngày càng phát triển
Trang 32Chương 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN NƯỚC NGOÀI
CHO PHÁT TRIỂN KTTN TẠI VIỆT NAM
2.1 Khái quát thực trạng hoạt động của khu vực KTTN tại Việt Nam
2.2.3 Tình hình hoạt động của khu vực KTTN tại Việt Nam thời gian qua
Từ năm 1990 về trước số DN thuộc khu vực KTTN trong cả nước chỉ có vài trăm DN được chuyển đổi từ các tổ hợp tác, từ các hợp tác xã Riêng thành phố Hà Nội chỉ có khoảng 30 DN họat động kinh doanh dịch vụ và sản xuất gia công những sản phẩm phục vụ tiêu dùng nhỏ lẻ trong dân cư và phục vụ các ngành sản xuất khác Ơû thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm dân cư và kinh tế lớn ở phía Nam thì số lượng DN thuộc khu vực KTTN nhiều hơn Hà Nội nhưng cũng không vượt quá con số 100 Ở nhiều tỉnh, thành phố khác trong cả nước chỉ có một vài DN, thậm chí có những tỉnh đồng bằng, trung du và miền núi không có DN tư nhân nào
Khi sửa đổi Luật DN (năm 2000), các DN tư nhân đã có điều kiện thuận lợi để phát triển Bộ luật này đã thể chế hóa quyền tự do kinh doanh của các cá nhân trong tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm, dỡ bỏ những rào cản về hành chánh đang làm trở ngại đến hoạt động kinh doanh của các DN như cấp giấy phép, thủ tục, các loại phí… Đặc biệt, từ ngày 1/7/2006, Luật DN 2005 đã có hiệu lực, hứa hẹn sự lớn mạnh của các DN bởi sự bình đẳng trong quyền và nghĩa vụ của các DN, không phân biệt hình thức sỡ hữu
Từ năm 1991-1999 có 30.500 DN, đặc biệt từ năm 2000-2005 số DN thuộc khu vực KTTN đã tăng lên 96.550 Số DN đăng ký trung bình hàng năm hiện nay bằng 3,2 lần so với trung bình của thời kỳ 1991-1999 Số DN mới đăng ký trong 6 năm (2000-2005) ước cao gần gấp 4 lần so với 9 năm trước đây (1991-1999)
Trang 33Biểu đồ 1: Số lượng các DN thuộc khu vực KTTN đăng ký giai đoạn
88047
92850 94350 96560
0 10000
(Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam)
Biểu đồ 2: So sánh số doanh nghiệp đăng ký hai giai đoạn: 1991-1999 và
Trang 34Về cơ cấu loại hình DN đã có thay đổi tích cực Tỷ trọng DN tư nhân trong tổng số DN đăng ký giảm từ 64% trong giai đoạn 1991-1999 xuống còn 34%; trong khi đó, tỷ trọng công ty TNHH và công ty cổ phần tăng từ 36% lên 66% (công ty cổ phần tăng từ 1,1% lên 10%) Đặc biệt, trong gần 4 năm qua đã có khoảng 7.000 công ty cổ phần đăng ký, gấp 10 lần so với giai đoạn 1991-1999 Thay đổi nói trên chứng tỏ các nhà đầu tư trong nước đã ý thức được những điểm lợi và bất lợi của từng loại hình DN; có xu hướng lựa chọn loại hình DN hiện đại, tạo cơ sở để DN có điều kiện ổn định trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, trong quá trình phát triển không hạn chế về quy mô và thời gian hoạt động với quản trị nội bộ ngày càng chính quy và minh bạch hơn
Tính đến thời điểm tháng 10/2006 số DN khu vực KTTN đã tăng lên hơn 250.000 DN, tổng số vốn đăng ký kinh doanh lên 500.000 tỷ đồng Trong tổng số
DN được đăng ký kinh doanh theo Luật DN năm 1999, loại hình công ty TNHH chiếm tỷ trọng lớn nhất khoảng 55,4%, DN tư nhân chiếm 31,8%, công ty cổ phần chiếm 12,5%, các loại hình khác như công ty hợp danh, công ty TNHH một thành viên… chiếm tỷ lệ nhỏ, khoảng 0,3% Hoạt động theo Luật hợp tác xã có 7.133 hợp tác xã, trong đó có 8.511 hợp tác xã nông nghiệp, còn lại là các loại hình hợp tác xã kinh doanh các ngành nghề khác
Với sự phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng, phạm vi hoạt động rộng khắp ở tất cả các vùng, miền trong cả nước, tham gia vào hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế, đặc biệt là khu vực sản xuất chế biến, bán lẻ và dịch vụ, DN khu vực KTTN đã góp phần ngày càng lớn vào quá trình tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội với GDP chiếm khoảng 45% tổng GDP của cả nước; hàng năm thu hút hơn 90% lao động mới vào làm việc; đóng góp ngày càng nhiều vào tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp; tỷ trọng đầu tư trong tổng đầu tư toàn xã hội đã tăng gần 30% năm 2004 và hơn 30% năm 2005… Về tác động xã hội, số DN và hộ kinh doanh cá thể mới thành lập cùng với các DN
Trang 35mở rộng quy mô và địa bàn kinh doanh trong các năm qua đã tạo thêm hơn 2 triệu chỗ việc làm mới, thu hút nhiều lao động địa phương, đồng thời tiếp nhận phần lớn số lao động dư thừa do sắp xếp lại DNNN hay cải cách hành chánh với thu nhập bình quân hàng tháng của người lao động cũng tăng nhanh
Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực KTTN cũng liên tục dẫn đầu trong thời gian dài.Trong quý 1 năm 2006, với giá trrị sản xuất công nghiệp cả nước tăng 14,7% so với cùng kỳ thì khu vực KTTN tăng 20,4%, khu vực ĐTNN tăng 16,3% và khu vực KTNN tăng 6,9% DN khu vực KTTN hiện nay chiếm 50% giá trị công nghiệp chế biến, công nghiệp giấy bìa, 30% công nghiệp may mặc Về kim ngạch xuất khẩu, khu vực KTTN đã có những đóng góp tích cực vào việc tăng kim ngạch xuất khẩu, nhất là các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, chế biến nông sản, thủy sản, hàng may mặc, đồ da, đồ gỗ… Khu vực KTTN đã vươn lên dẫn đầu về xuất khẩu hải sản (chiếm 39% tổng kim ngạch mặt hàng này) hạt điều (chiếm 42% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này)
2.2.4 Những thành tựu đạt được của khu vực KTTN tại Việt Nam thời
gian qua
2.2.4.1 Đóng góp vào tăng trưởng GDP và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Bảng 1: GDP trong nước phân theo thành phần kinh tế
Đơn vị tính: tỷ đồng
Trang 36Biểu số 3: TĂNG TRƯỞNG GDP CẢ NƯỚC
Theo Bảng 1 và Biểu số 3 ta thấy, trong tổng sản phẩm nội địa của cả nước
đạt được trong thời gian qua có sự đóng góp đáng kể của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh (gồm KTTN và ĐTNN) GDP của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tăng mạnh qua các năm và chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng GDP của cả nước Tốc độ tăng trưởng bình quân mỗi năm của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trong giai đoạn từ 2000 đến 2006 là 26,6% cao hơn tốc độ tăng trưởng của khu vực KTNN là 12,4%
Về giá trị sản xuất công nghiệp, khu vực KTTN đóng góp vào giá trị sản
xuất công nghiệp của cả nước tương đối cao và tăng nhanh qua các năm (Bảng
2).Tốc độ phát triển giá trị sản xuất công nghiệp tương đối cao, trung bình mỗi
năm tăng 20,4 %, cao hơn cả khu vực KTNN (10,6%) và khu vực ĐTNN (16,9%)
Trang 37Bảng 2: GIÁ TRỊ SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP CẢ NƯỚC
Đơn vị tính: tỷ đồng
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 ước
2006 227.342 261.092 305.080 355.685 416.863 487.730 Tổng số
100% 100% 100% 100% 100% 100%
93.434 105.119 117.637 131.623 143.074 156.523KTNN
Nguồn: Niên giám thống kê 2005
Qua đó cho thấy khu vực KTTN có mức đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế chung của cả nước Trong điều kiện đang ở giai đoạn mới được tái lập và phát triển còn khó khăn về nhiều mặt mà mức tăng trưởng của khu vực KTTN đã đạt được như vậy là khá nhanh và bền vững, góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
2.2.4.2 Huy động mọi nguồn vốn đầu tư phát triển
Để đóng góp tích cực vào GDP của cả nước, các DN khu vực KTTN không chỉ gia tăng về mặt giá trị đóng góp của DN hiện có mà còn có sự đóng góp đáng kể của đội ngũ các DN khu vực KTTN được thành lập và thực sự bước vào sản xuất kinh doanh hàng năm
Trang 38Bảng 3: Số doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh có đến 31/12
Nguồn: Niên giám Thống Kê 2005
Trang 39KTTN 92%
DNNN 5%
DN ĐTNN 3%
Biểu số 4: CƠ CẤU DN CÓ ĐẾN 31/12/2005
Cty TNHH;
55,4%
DN Tư nhân; 31,8%
Trang 40Theo bảng 3, biểu số 4, 5, 6 trên ta thấy, số DN khu vực KTTN có đến
31/12 mỗi năm chiếm phần lớn trong tổng số DN của cả nước (92%) và tăng mạnh qua các năm là do Luật DN bắt đầu có hiệu lực, tạo điều kiện thuận lợi cho DN thành lập và hoạt động sản xuất kinh doanh Trong đó, loại hình công ty TNHH chiếm đến 49% tổng số DN khu vực KTTN
Từ khi có Luật DN ra đời, các nhà đầu tư khu vực KTTN đã yên tâm bỏ vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh, điều này thể hiện ở số DN tăng lên mỗi năm và nguồn vốn của DN thống kê được đến 31/12 tăng lên mỗi năm
Bảng 4: NGUỒN VỐN CỦA DOANH NGHIỆP CÓ ĐẾN 31/12
Đơn vị tính: tỷ đồng
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 T/ số 998.423 1.186.014 1.352.077 1.567.178 1.966.165 2.025.150
Nguồn: Niên giám thống kê 2005
Bảng 5: CƠ CẤU NGUỒN VỐN CỦA DOANH NGHIỆP CÓ ĐẾN 31/12
Nguồn: Niên giám thống kê 2005
Theo Bảng 4, 5 và Biểu số 7 ta thấy, mặc dù tỷ trọng vốn trong tổng
nguồn vốn của khu vực KTTN nhỏ hơn khu vực KTNN và khu vực ĐTNN nhưng