378 Hoàn thiện và hỗ trợ cho quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ cao ở Việt Nam
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH 6
MỞ ĐẦU 7
1 Tính cấp thiết và ý nghĩa của đề tài 7
2 Tình hình nghiên cứu đề tài trong và ngoài nước 9
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
5 Phương pháp nghiên cứu 10
6 Những đóng góp mới của luận văn 11
7 Kết cấu luận văn 11
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUỸ ĐẦU TƯ MẠO HIỂM 12
1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUỸ ĐẦU TƯ MẠO HIỂM 12
1.1 Khái niệm về quỹ đầu tư mạo hiểm 12
1.2 Rủi ro và quyết định tài trợ 14
1.3 Mô hình tổ chức hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm 17
1.3.1 Các đối tượng tham gia 17
1.3.2 Mô hình tổ chức 18
1.3.3 Quy trình hoạt động .20
2 VAI TRÒ QUỸ ĐẦU TƯ MẠO HIỂM CÔNG NGHỆ CAO 22
2.1 Khái niệm về công nghệ cao 22
2.2 Vai trò của vốn mạo hiểm trong việc phát triển công nghệ cao .24
2.2.1 Hỗ trợ và ươm tạo doanh nghiệp .24
2.2.2 Thúc đẩy đổi mới khoa học công nghệ 26
2.2.3 Thúc đẩy phát triển kinh tế 27
2.2.4 Thúc đẩy phát triển thị trường chứng khoán 28
Trang 23 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN QUỸ ĐẦU TƯ MẠO HIỂM TẠI MỘT SỐ
NƯỚC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM 29
3.1 Vốn mạo hiểm tại một số nước 29
3.1.1 Tại Mỹ 29
3.1.2 Tại Nhật Bản 32
3.1.3 Tại Singapore 32
3.1.4 Tại Aán Độ 33
3.1.5 Tại Đài Loan 33
3.1.6 Tại Trung Quốc 34
3.1.7 Tại Thái Lan 35
3.1.8 Tại Malaysia 35
3.2 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 35
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 36
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC QUỸ ĐẦU TƯ MẠO HIỂM TẠI VIỆT NAM 38
1 HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC QUỸ ĐẦU TƯ MẠO HIỂM TẠI VIỆT NAM.38 1.1 Huy động vốn 38
1.2 Sử dụng vốn 41
2 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CỦA CÁC QUỸ ĐẦU TƯ MẠO HIỂM 48
2.1 Những thuận lợi 48
2.2 Những khó khăn 48
3 SỰ CẦN THIẾT THÀNH LẬP QUỸ ĐẦU TƯ MẠO HIỂM CÔNG NGHỆ CAO 56
3.1 Hoạt động công nghệ cao tại Việt Nam 56
3.1.1 Định hướng phát triển công nghệ cao .56
3.1.2 Thực trạng triển khai hoạt động công nghệ cao tại ViệtNam 56 3.2 Sự cần thiết thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ cao tại Việt Nam 59
Trang 3KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 61
CHƯƠNG 3: THÀNH LẬP VÀ PHÁT TRIỂN QUỸ ĐẦU TƯ MẠO HIỂM CÔNG NGHỆ CAO Ở VIỆT NAM 66
1 MÔ HÌNH TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG QUỸ ĐẦU TƯ MẠO HIỂM CÔNG NGHỆ CAO TẠI VIỆT NAM .62
1.1 Mô hình tổ chức 62
1.2 Mục tiêu đầu tư 64
1.3 Vốn huy động và chứng chỉ quỹ phát hành 64
1.4 Lĩnh vực đầu tư và cơ cấu vốn 64
1.5 Quy trình hoạt động 65
1.6 Lộ trình phát triển 67
2 CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN QUỸ ĐẦU TƯ MẠO HIỂM CÔNG NGHỆ CAO 69
2.1 Nguồn nhân lực và các doanh nghiệp công nghệ cao 69
2.1.1 Nguồn nhân lực 69
2.1.2 Các doanh nghiệp 70
2.2 Môi trường đầu tư của lãnh vực công nghệ cao .70
2.3 Thị trường tài chính 72
2.4 Hành lang pháp lý 73
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 75
ĐỀ XUẤT CHO NHỮNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 75
KẾT LUẬN 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
CÁC PHỤ LỤC 81
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNC Công nghệ cao
KCX Khu chế xuất
KCN Khu công nghiệp
CPH Cổ phần hoá
KHCN Khoa học công nghệ
P/E Price/Earning – Bội số giá/Thu nhập
EPS Earnings Per Share – Thu nhập trên mỗi cổ phần
PFC International Finance Corporation – Công ty tài chính quốc tế HĐQT Hội đồng quản trị
IPO Initial Public Offering
Phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng ASEAN Association of South East Asia Nations
Hiệp hội các nước Đông Nam Á ODA Vốn hỗ trợ phát triển chính thức
FDI Foreign Direct Investment – Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài WTO Eorld Trade Organasation – Tổ chức thương mại thế giới GDP Gross Domestic Product – Tổng sản lượng quốc nội
R&D Research and Development – Nghiên cứu và phát triển
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH
Hình 1: Tổ chức đầu tư mạo hiểm theo mô hình công ty hợp danh
Hình 2: Vốn đầu tư mạo hiểm giai đoạn 1991-2002
Hình 3: Mô hình quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ cao
Hình 4: Cơ cấu vốn đầu tư của quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ cao
Bảng 1: Vốn đầu tư mạo hiểm của các quỹ đầu tư mạo hiểm vào Việt
Nam đến cuối 1990 Bảng 2: Danh sách các nhà đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam
Bảng 3: Danh sách các nhà đầu tư mạo hiểm tại Singapore
Bảng 4: Danh sách các nhà đầu tư mạo hiểm quốc tế
Bảng 5: Xếp hạng năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2004
Bảng 6: Tỷ lệ doanh nghiệp một số nước Asean phân tích theo tiêu chuẩn
công nghệ của UNIDO
Bảng 7: Một số chỉ số so sách về đầu tư cho R&D của Việt Nam và các
nước trong khu vực Châu Á
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết và ý nghĩa của đề tài
Nghị quyết Trung ương 2 Khoá VIII đã vạch ra những định hướng chiến lược lớn cho khoa học công nghệ nước ta đến năm 2020 Trong đó xác định những mục tiêu và nhiệm vụ quan trọng nhất cho toàn ngành khoa học và công nghệ cũng như một số lĩnh vực quan trọng Đây là bước kế thừa và phát triển các nhiệm vụ trong các giai đoạn cách mạng trước đây xung quanh việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, nâng cao trình độ công nghệ của sản xuất và nâng cao năng lực nội sinh về khoa học công nghệ Mục tiêu bao quát chung của định hứơng là làm sao để nước ta trở thành một nước công nghiệp vào năm
2020, khoa học và công nghệ vừa là công cụ, vừa là tiền đề cho công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hóa Do đó cần chuẩn bị các điều kiện cần thiết để chuyển nền kinh tế nước ta từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức (Dự kiến các nước công nghiệp phát triển hiện nay sẽ tiến vào nền kinh tế tri thức vào năm 2030) Do đó, ngay từ bây giờ, việc phát triển công nghệ cao tại nước ta đang là vấn đề cấp bách và đã được thể hiện qua nghị quyết số 07/2000/NQ-CP ngày 5/6/2000 về xây dựng và phát triển công nghệ cao giai đoạn 2000 – 2005
Có thể khẳng định chiến lược phát triển công nghệ cao trong nền kinh tế thị trường và hội nhập được thực hiện thông qua các doanh nghiệp công nghệ cao để phát triển và thực hiện các ý tưởng Ba điều kiện cơ bản để một doanh nghiệp triển khai thành công là thời cơ, ý tưởng mới và tài chính Tuy nhiên, không như những ngành sản xuất kinh doanh khác khá thuận lợi trong việc huy động vốn kinh doanh (vốn đầu tư và vốn lưu động), các doanh nghiệp công nghệ cao rất khó được các tổ chức tín dụng tài trợ thông qua các phương thức cho vay thông thường, và điều này làm hạn chế khả năng thành lập và phát triển của các doanh nghiệp công nghệ cao Hiện nay vấn đề nguồn tài chính cho các doanh nghiệp công nghệ cao là một vấn đề rất bức xúc, thông thường chỉ những doanh nghiệp nào có tài sản thế chấp mới có thể được ngân hàng cho vay, còn những doanh nghiệp mặc dù có dự án tốt có khả năng sinh lợi cao nhưng không có tài sản thế chấp rất khó nhận được sự tài trợ của ngân hàng
Trang 7Qua các tìm hiểu và phân tích ở phần trên, các khó khăn của doanh nghiệp cộng nghệ cao Việt Nam khi tiếp cận các nguồn vốn tín dụng của các Ngân hàng cũng là những khó khăn của các doanh nghiệp công nghệ cao ở các nước phát triển Thực tế cho thấy nguồn lực tài chính chủ yếu cung cấp cho các công
ty công nghệ cao trong giai đoạn khởi sự và tiền phát triển phải là nguồn vốn đầu tư từ các tổ chức và cá nhân đi tìm loại hình đầu tư có khả năng sinh lợi cao và chấp nhận một mức độ rủi ro nhất định Theo kinh nghiệm nhiều quốc gia có các doanh nghiệp công nghệ cao phát triển mạnh, để phát triển ngành công nghệ cao đòi hỏi một nguồn vốn đầu tư rất lớn trong đó nguồn vốn của Nhà nước chỉ đáp ứng được một phần, phần còn lại cần phải huy động rộng rãi từ các nhà đầu tư và tất nhiên, nước ta cũng không đi ra ngoài xu hướng đó Để huy động nguồn vốn rộng rãi trong xã hội đầu tư vào công nghệ cao, hình thức huy động chủ yếu được các nước áp dụng là vốn đầu tư mạo hiểm hay còn gọi là vốn mạo hiểm (Venture Capital) Bản chất vốn đầu tư mạo hiểm phù hợp với nhu cầu đầu tư vào doanh nghiệp công nghệ cao do các yếu tố sau:
- Khác với các khoản đầu tư thông thường vào những ngành kinh tế khác, thông qua đầu tư vào công nghệ cao, mục tiêu của vốn mạo hiểm là tìm kiếm khoản thu nhập cao hơn mức trung bình so với các lĩnh vực đầu tư khác Khoản thu nhập này thường đạt được sau khi chúng được bán trên thị trường chứng khoán
- Đối tượng tiếp nhận vốn mạo hiểm hầu hết là các doanh nghiệp công nghệ cao đang trong giai đoạn đầu của quá trình hình thành và sản xuất sản phẩm, mở rộng năng lực sản xuất và cung ứng dịch vụ phần mềm Việc đầu
tư trong giai đoạn phôi thai chắc chắn sẽ chứa đựng nhiều rủi ro Vì những phần mềm và dịch vụ triển khai sẽ tốn nhiều công sức nghiên cứu thực hiện và tiếp thị nhưng chưa chắc được người tiêu dùng chấp nhận Những Công
ty mới thành lập với những ý tưởng công nghệ có tính đột phá đó rất cần đến nguồn vốn khởi đầu có tính mạo hiểm như thế
- Vốn đầu tư mạo hiểm (venture capital) được hình thành chủ yếu là để cung cấp nguồn lực tài chính cho các công ty công nghệ cao,
- Các doanh nghiệp công nghệ cao trong quá trình hình thành và phát triển sẽ tiếp cận vốn tài trợ chủ yếu từ các công ty hoặc quỹ đầu tư mạo hiểm
Trang 8- Thực tiễn của nhiều quốc gia có doanh nghiệp công nghệ cao phát triển đều phát triển mạnh loại hình quỹ đầu tư
Mối quan hệ giữa vốn đầu tư mạo hiểm (veture capital) và doanh nghiệp công nghệ cao là mối quan hệ biện chứng không thể tách rời trong nền kinh tế thị trường Từ thực tế trên, việc hình thành một định chế đặc thù như Quỹ đầu
tư mạo hiểm nhằm huy động vốn để đầu tư cho các dự án ươm tạo doanh nghiệp và phát triển công nghệ cao là điều hết sức cần thiết
2 Tình hình nghiên cứu đề tài trong và ngoài nước
Quỹ đầu tư mạo hiểm đã xuất hiện khá lâu trên thế giới dưới nhiều hình thức khác nhau Loại hình định chế tài chính này được các nhà khoa học kinh tế nghiên cứu và ứng dụng trong nhiều lãnh vực với những nội dung đa dạng và phong phú Tuy nhiên quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ cao vẫn là một đề tài mới mẻ tại Việt Nam nên các nghiên cứu và đề xuất thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm cho ngành công nghệ cao gần như chưa có mà chỉ có những nghiên cứu về quỹ đầu tư mạo hiểm nói chung Năm 1997, Bear Sterns có đề tài “Tổng quan về các quỹ đầu tư ở Việt Nam”, năm 1998 Adam Sack và John McKenzie thuộc chương trình Phát triển kinh tế tư nhân có nghiên cứu “Thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam – một nghiên cứu sơ bộ” Năm 2003, Sở Khoa học công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh có đề án “Tìm hiểu quỹ đầu tư mạo hiểm và tình hình hoạt động của các quỹ đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam” Ngoài ra còn có luận văn thạc sỹ của Nguyễn Xuân Tiến: “Một số giải pháp phát triển thị trường vốn mạo hiểm tại Việt Nam” luận văn thạc sỹ của Nguyễn Như Aùnh “Huy động và mở rộng quy mô vốn nội địa cho quá trình phát triển kinh tế Việt Nam” luận văn thạc sỹ của Phan Đức Thiện “Giải pháp nhằm khuyến khích vốn đầu tư mạo hiểm vào quá trình đổi mới công nghệ tại Việt Nam” Tuy nhiên các nghiên cứu nói trên chỉ dừng lại ở mặt lý luận giải pháp khuyến khích vốn đầu tư mạo hiểm nói chung, chưa có sự chuyên sau vào một số ngành mũi nhọn, có tính chất đặc thù mạo hiểm và mang lại lợi nhuận cao
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu về đặc điểm, mô hình tổ chức và hoạt động của các loại hình quỹ đầu tư mạo hiểm trong thời gian qua tại Việt Nam và một số nước
Trang 9trên thế giới, đề tài sẽ đề xuất mô hình tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ cao phù hợp với điều kiện kinh tế của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số giải pháp huy động vốn, các thủ tục pháp lý và chính sách cần thiết nhằm hoàn thiện và hỗ trợ cho quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ cao sớm được hình thành tại Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Quỹ đầu tư mạo hiểm hiện còn rất mới tại Việt Nam mà đặc biệt trong hoạt động nghiên cứu triển khai công nghệ cao Đối tượng nghiên cứu chủ yếu xoay quanh vấn đề mô hình tổ chức hoạt động và giải pháp phát triển Quỹ đầu tư mạo hiểm nhằm phát triển công nghệ cao tại Việt Nam Phạm vi nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn cả nước của vốn mạo hiểm cho lãnh vực công nghệ cao tại Việt Nam từ trước đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chính trong luận văn là “Phương pháp nghiên cứu dữ liệu thứ cấp”, đây là phương pháp sử dụng một số dữ liệu đã thu thập được, dữ liệu sẵn có của những mục đích khác để phân tích và giải quyết vấn đề mà chúng ta quan tâm Với đề tài nghiên cứu này, dữ liệu được thu thập từ Ban quản lý Khu công nghệ cao Tp HCM và dữ liệu ngoại vi như: Nguồn sách báo: Sách báo, tạp chí trong thư viện; Nguồn từ chính phủ: Cục thống kê, Bộ kế hoạch đầu tư; Nguồn từ các tổ chức và hiệp hội: Dự án phát triển Sông Mekong (MPDF), ngân hàng thế giới (World Bank), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), Phòng thương mại và công nghiệp (VCCI)…; Nguồn từ phương tiện truyền thông: chủ yếu từ internet
Bên cạnh đó còn sử dụng phương pháp thống kê lịch sử và tổng hợp để đánh giá tình hình hoạt động của Quỹ đầu tư mạo hiểm trong thời gian qua
6 Những đóng góp mới của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu một cách nghiêm túc những vấn đề khoa học của Quỹ đầu tư mạo hiểm, luận văn đóng góp một số luận điểm mới về mặt lý thuyết và thực tiễn như sau:
Trang 10- Nghiên cứu và triển khai công nghệ cao là vấn đề then chốt của phát triển khoa học công nghệ Tuy nhiên rất khó khăn trong việc tài trợ vốn để triển khai các ý tưởng sáng tạo có tính thiết thực và ươm tạo các doanh nghiệp công nghệ cao, mô hình quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ cao sẽ giải quyết được vấn đề về vốn ưu tiên phát triển công nghệ cao
- Thành lập Quỹ đầu tư mạo hiểm cho ngành công nghệ cao và mô hình hoạt động của nó và các giải pháp để thúc đẩy phát triển vốn mạo hiểm cho ngành công nghệ cao tại Việt Nam
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm có 3 chương:
- Chương 1: Tổng quan về quỹ đầu tư mạo hiểm
- Chương 2: Thực trạng hoạt động của các quỹ đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam
- Chương 3: Mô hình hoạt động và giải pháp phát triển quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ cao ở Việt Nam
Trang 11CHệễNG 1:
TOÅNG QUAN VEÀ QUYế ẹAÀU Tệ MAẽO HIEÅM
1 NHệếNG VAÁN ẹEÀ Cễ BAÛN VEÀ QUYế ẹAÀU Tệ MAẽO HIEÅM
1.1 Khaựi nieọm veà quyừ ủaàu tử maùo hieồm
Quyừ ủaàu tử maùo hieồm laứ moọt ủũnh cheỏ taứi chớnh trung gian chuyeõn ủaàu tử vaứo caực doanh nghieọp mụựi khụỷi sửù nhaốm mong ủụùi moọt sửù gia taờng thu nhaọp cao hụn mửực bỡnh quaõn ủeồ buứ ủaộp cho ruỷi ro cuỷa khoaỷn ủaàu tử coự mửực ủoọ ruỷi ro cao hụn mửực bỡnh quaõn cuỷa caực khoaỷn ủaàu tử Thị trường vốn mạo hiểm được xem là chiếc nụi cho cỏc ý tưởng khoa học và phỏt minh cụng nghệ, mang lại nguồn lợi nhuận thật ấn tượng và tạo ra những người khổng lồ trong nền kinh tế tri thức, đặc trưng bởi cỏc lĩnh vực cụng nghệ cao Do tớnh chất mới mẻ của loại hỡnh vốn này mà nú chưa cú một định nghĩa thống nhất Cú một định nghĩa về vốn mạo hiểm được chấp nhận rộng rói là: Vốn mạo hiểm là khoản đầu tư do những tổ chức chuyờn mụn hoỏ thực hiện tới những hóng tăng trưởng cao, rủi ro cao và thường là
cú cụng nghệ cao đang cần vốn cổ phần để tài trợ cho phỏt triển sản phẩm hoặc tăng trưởng Vốn mạo hiểm được cung cấp dưới nhiều hỡnh thức khỏc nhau, trong
đú điển hỡnh nổi bật là việc tài trợ vốn thụng qua cỏc quỹ đầu tư mạo hiểm Về bản chất, đú là một quỹ đầu tư nhưng mục tiờu hoạt động của họ là nhắm vào những
dự ỏn cú độ rủi ro cao nhằm tỡm kiếm những khoản lợi nhuận cao hơn mức thụng thường Tham gia vào quỏ trỡnh này cú 3 đối tượng chủ yếu: nhà đầu tư – người bỏ vốn nhưng khụng trực tiếp quyết định đầu tư; nhà tư bản mạo hiểm- người đứng ra huy động vốn, quản lý nú và trực tiếp quyết định nờn đầu tư vào đõu nhằm mục đớch sinh lợi tối đa; và cũn lại chớnh là cỏc đối tượng nhận đầu tư: những cụng ty trẻ, những dự ỏn về sản phẩm dịch vụ cụng nghệ mới đầy tiềm năng …
Theo nghĩa rộng: Vốn mạo hiểm lμ nguồn tμi chính cung cấp cho các tổ chửc, ca nhân dửới hình thức vốn cổ phần hoặc các khoản đầu tử gần giống nhử vốn cổ phần có thời hạn trên trung bình (3-5 năm) Mục tiêu đầu tử lμ tìm kiếm đửợc khoản thu nhập vốn cao hơn mức trung bình Khoản thu nμy trở thμnh hiện thực sau khi khoản đầu tử đửợc bán cho một nhμ kinh doanh chứng khoán hoặc, nhử hiện tửợng phổ biến hơn ở các nửớc châu á lμ
Trang 12bán cho công chúng Bên cạnh việc cung cấp vốn, các chuyên gia quản lý vốn mạo hiểm còn tử vấn, ở cấp chiến lửợc, hửớng dẫn các công ty nhận vốn đầu tử bửớc sang giai đoạn tăng trửởng tiếp theo vμ chuẩn bị sẵn sμng để công ty đửợc chuyển giao cho các cổ đông khác Những tử vấn nμy lμ một đặc điểm quan trọng
vμ đặc thù của vốn mạo hiểm Đặc biệt, các nhμ đầu tử có một vị trí trong hội đồng quản trị của công ty nhận vốn đầu tử
Từ vị trí nμy vμ các kinh nghiệm thu đửợc từ các công ty khác, các chuyên gia quản lý vốn mạo hiểm có thể tác động tới
sự phát triển của các công ty nhận vốn đầu tử Các công ty quản
lý vốn mạo hiểm khác nhau đặt ra các trọng tâm khác nhau về mức độ tham gia Mức độ tham gia có thể lμ tối thiểu, thửờng gắn liền với một số cổ phần nhỏ, hoặc tham gia công việc thửờng nhật, nhử đóng vai trò Chủ tịch hội đồng quản trị, thửờng gắn liền với việc nắm giữ đa số cổ phần Thuật ngữ vốn mạo hiểm trong
định nghĩa nμy có thể đửợc sử dụng cùng nghĩa với thuật ngữ vốn
cổ phần tử nhân
Theo nghĩa hẹp: Phần thu hẹp của định nghĩa rộng xác định vốn mạo hiểm lμ các khoản đầu tử vốn cổ phần tử nhân trung hạn vμo các công ty nhận vốn chửa trửởng thμnh Nói cách khác, công ty đửợc đầu tử đang trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển sản phẩm, phát triển năng lực sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ Vì các công ty đang trong giai đoạn nμy có xu hửớng
có lịch sử phát triền ngắn hơn vμ quy mô nhỏ hơn so với đa số các khoản đầu tử nêu trong định nghĩa rộng, nên rủi ro có xu hửớng cao hơn Vμ do vậy, các chuyên gia quản lý vốn mạo hiểm
sẽ tìm kiếm các khoản thu nhập vốn tiềm năng cao hơn
Sự khác biệt giữa hai định nghĩa nμy lμ mức độ trửởng thμnh của các công ty nhận vốn đầu tử Không có quy tắc rõ rμng nμo (chằng hạn một mức doanh số ấn định) để phân biệt hai loại công
Trang 13ty nμy Thay vμo đó, định nghĩa hẹp đửợc xem lμ đúng ở một đầu dải thời gian đáo hạn của một khoản đầu tử cổ phần tử nhân ở các thị trửờng cổ phần tử nhân đã hoạt động tốt nhử Mỹ vμ Anh, ngửời cung cấp vốn có xu hửớng tập trung vμo đầu hoặc cuối dải thời gian đáo hạn Tuy vậy, vẫn có một số ngửời cung cấp vốn sẵn sμng đầu tử trải dμi trong dải nμy
T i Việt Nam: Cả hai định nghĩa về vốn mạo hiểm trong khi xem xét thị trửờng Việt Nam, các khoản đầu tử vμo các công ty
tử nhân trong nửớc vμ các công ty mới thμnh lập đửợc xem lμ các khoản đầu tử vốn mạo hiểm Các khoản đầu tử vμo các công
ty đã cổ phần hoá, các công ty thμnh viên của các DNNN hoặc các công ty liên doanh với các đối tác nửớc ngoμi đửợc xem lμ các khoản đầu tử cổ phần tử nhân Gần đây các quỹ đang hoạt
động ở Việt Nam đã thực hiện cả các khoản đầu cổ phần tử nhân
vμ các khoản đầu tử vốn mạo hiểm Các quỹ nμy đửợc xem lμ các quỹ đầu tử hải ngoại
Moọt soỏ ủaởc ủieồm cuỷa quyừ ủaàu tử maùo hieồm
Đầu tư mạo hiểm chấp nhận rủi ro (nhưng khi thμnh công thì
có lợi ích lớn), để tμi trợ chủ yếu cho vieọc khởi sự doanh nghiệp mới hoặc doanh nghiệp đang hoạt động nhưng có tiềm năng tăng trưởng cao Đầu tư mạo hiểm cũng hỗ trợ về kỹ năng vμ kinh nghiệm quản lý nhằm đảm bảo tính năng động vμ sự thμnh công của các doanh nghiệp được tμi trợ
Việc đầu tư mạo hiểm được dựa trên cơ sở những ý tưởng có triển vọng của cá nhân hoặc tổ chức nghiên cứu khoa học, ý tưởng nμy mang tính sáng tạo, có nhiều khả năng biến thμnh sản phẩm toỏt trong tửụng lai Chính ý tưởng đó lμ vật thế chấp, mμ
đối với các dạng đầu tư thông thường (các ngân hμng thương mại truyền thống) thì không được chấp nhận Những người xin tμi trợ nμy tuy táo bạo, có tính đổi mới cao, nhưng thiếu tiền thế chấp,
Trang 14thậm chí chưa có bề dμy thμnh tích kinh doanh vμ chưa có cả doanh thu để lμm tin Đây cũng lμ lý do để dạng đầu tư nμy có tên
lμ mạo hiểm
Đầu tư mạo hiểm, như vậy chính lμ đầu tư vμo con người, chủ yếu vμo những cá nhân hoặc tập thể, có khả năng dựa trên tμi năng vμ trí tuệ để đem lại thμnh công Vì vậy ý tưởng táo bạo, năng lực sáng tạo lμ những điều kiện quan trọng để nhμ doanh nghiệp tiếp nhận được tμi trợ từ vốn mạo hiểm
Trong đầu tư mạo hiểm, nhμ tμi trợ vốn (có thể lμ cá nhân hoặc tổ chức, được gọi chung lμ Nhμ đầu tư) được quyền chia sẻ lợi nhuận với người xin tμi trợ Vì vậy đầu tư mạo hiểm còn được coi lμ một dạng đầu tư khôn khéo , ngoμi tμi trợ kinh phí, nhμ
đầu tư còn thông qua một hệ thống chuyên môn để giúp người xin tμi trợ về quản lý, đổi mới công nghệ, tiếp thị, phát triển nhân lực,
vμ hoạch định chiến lược kinh doanh Như vậy thμnh công hoặc thất bại của doanh nghiệp đều gắn liền với quyền lợi của các bên (Nhμ đầu tư; Người xin tμi trợ, vμ các tổ chức tư vấn liên quan).
1.2 Ruỷi ro vaứ quyeỏt ủũnh taứi trụù
Quyeỏt ủũnh taứi trụù voỏn cho baỏt kyứ doanh nghieọp naứo ủeàu ủửụùc caực nhaứ ủaàu tử xem xeựt ụỷ caực goực ủoọ vaứ yeỏu toỏ khaực nhau, moọt trong nhửừng yeỏu toỏ raỏt quan troùng ủoự laứ ruỷi ro maứ doanh nghieọp ủoự phaỷi ủoỏi phoự cho duứ doanh nghieọp ủoự ủang ụỷ trong giai ủoaùn naứo cuỷa chu kyứ soỏng: khụỷi sửù, taờng trửụỷng, baỷo hoaứ vaứ suy thoaựi Ruỷi ro laứ moọt tỡnh huoỏng trong kinh doanh maứ taùi ủoự nhửừng sửù coỏ toỏt ủeùp xaỷy ra gaõy thua loó, aỷnh hửụỷng ủeỏn sửù toài taùi cuỷa doanh nghieọp Doanh nghieọp thửụứng gaởp phaỷi hai loaùi ruỷi ro ủoự laứ: ruỷi ro kinh doanh vaứ ruỷi ro taứi chớnh
Ruỷi ro kinh doanh laứ ruỷi ro tieàm aồn trong baỷn thaõn doanh nghieọp Noự gaộn lieàn vụựi ủaởc ủieồm saỷn xuaỏt kinh doanh cuỷa doanh nghieọp theo tửứng ngaứnh ngheà Nhửừng doanh nghieọp trong cuứng moọt ngaứnh thửụứng phaỷi ủoỏi phoự vụựi nhửừng nhaõn toỏ gaõy ra ruỷi ro tửụng tửù nhau do hoù phaỷi ủoỏi phoự vụựi nhửừng ủieàu kieọn
Trang 15kinh tế tương tự nhau Rủi ro kinh doanh được hiểu như là sự không chắt chắn ở hiện tại về mức thu nhập và chi phí hoạt động đạt được trong tương lai Chính đều này đã tạo nên rủi ro và được thể hiện bằng sự thiếu hụt doanh thu hàng năm từ việc bán sản phẩm đủ để thanh toán các định phí trong sản xuât kinh doanh Như vậy, số lượng nhân tố gây rủi ro cho doanh nghiệp là vô hạn do rủi
ro trong kinh doanh có thể là sự không chắc chắn về mức cầu ở tương lai đối với sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra, sự thay đổi trong giá bán, sự thay đổi trong cấu trúc chi phí, sự cạnh tranh, sự thay đổi trong tiến bộ khoa học kỹ thuật, sự thay đổi về tỷ giá hối đoái hay những thay đổi trong chính sách điều hành kinh tế của chính phủ… Với những đặc điểm như thế, có thể nói rủi ro kinh doanh là một loại rủi ro mà doanh nghiệp không thể triệt tiêu được, doanh nghiệp chỉ có thể làm giảm bớt loại rủi ro này mà thôi
Rủi ro tài chính là loại rủi ro gắn liền với quyết định tài trợ, gắn liền với nghệ thuật tạo dựng cấu trúc vốn cho doanh nghiệp Rủi ro tài chính xuất phát từ cấu trúc vốn có sử dụng nợ vay do nợ vay dẫn tới việc chi trả những khoản nợ cố định, đó là chí phí trả lãi vay Mức độ rủi ro tài chính cao hay thấp xảy ra cùng với mức độ sử dụng nợ của doanh nghiệp Vì thế việc tác động để triệt tiêu loại rủi ro này sẽ được thực hiện thông qua việc tài trợ không sử dụng nợ trong cấu trúc vốn Tóm lại, giữa hai loại rủi ro mà doanh nghiệp phải đối phó luôn có mối tương quan nghịch biến Nếu doanh nghiệp đang phải đối phó với rủi ro kinh doanh ở mức độ cao thì chắc chắn nhu cầu về rủi ro tài chính phải ở mức thấp và ngược lại Một xu hướng phổ biến đã gần như trở thành quy luật đó là những doanh nghiệp đang gặp phải rủi ro kinh doanh cao thì có khuynh hướng sủ dụng ít nợ vay hơn so với các doanh nghiệp khác nhằm giảm thiểu rủi
ro tài chính và đạt được ổn định trong rủi ro tổng thể
Với những cơ sở lập luận như trên, chúng ta có thể dễ dàng thấy được rằng: khi đưa ra một quyết định tài trợ, không những các nhà đầu tư mà ngay bản thân các doanh nghiệp cũng phải xem xét đến những rủi ro mà mình phải đối mặt và phải xác định được doanh nghiệp đang trong giai đoạn nào của chu kỳ sống để từ đó xác định được một chiến lược tài trợ thích hợp Việc xây dựng mô hình cấu trúc tài chính cho các giai đọan này phải dựa trên việc phân tích
Trang 16và đánh giá về mức độ rủi ro kinh doanh và nhu cầu về rủi ro tài chính cho doanh nghiệp
Rủi ro kinh doanh trong mỗi giai đoạn phát triển là khác nhau, tuy nhiên
ở giai đoạn khởi sự thì mức độ rủi ro kinh doanh là cao nhất Trong giai đoạn khởi sự, nhà sáng lập phải thực thi ý tưởng kinh doanh của mình, đưa ý tưởng sản phẩm trở thành hiện thực Nhu cầu chi tiêu của giai đoạn này rất lớn, từ việc đưa sản phẩm thành hiện thực cho đến chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí nghiên cứu thị trường Các chi phí trên rất lớn trong khi doanh nghiệp chưa có khoản thu nào đáng kể, điều này tạo nên dòng tiền âm (thu<chi) trong một vài năm hoặc nhiều năm liên tiếp Nếu doanh nghiệp không có nguồn tài trợ đủ mạnh thì doanh nghiệp sẽ đứng trước rủi ro cực lớn là không thể phát triển hoặc dẫn đến nguy cơ phá sản
Mức độ rủi ro kinh doanh ở giai đọan này cao thì mức độ rủi ro tài chính cần được giữ ở mức độ càng thấp càng tốt Như vậy, chiến lược tài trợ thích hơp nhất trong giai đoạn này là không nên tài trợ bằng nợ Đối với một doanh nghiệp mới khởi sự, rủi ro này có thể rất cao ngay cả khi chỉ huy động một tỷ lệ tài trợ nợ rất thấp Rủi ro cao của việc phá sản có nghĩa là thực tế doanh nghiệp không phát sinh được dòng tiền thu vào nào Vì vậy, bất cứ một khoản nợ tồn đọng nào dù chỉ rất thấp cũng sẽ đưa doanh nghiệp đến tình trạng khó khăn về tài chính do không có khả năng chi trả cho các khoản nợ đến hạn Mặc khác, lợi ích của cấu trúc tài chính có sử dụng nợ tạo nên được từ sự tác động của lá chắn thuế, làm cho chi phí sử dụng vốn thấp cũng không thể hiện được trong giai đoạn này bởi vì doanh nghiệp mới khởi sự có thể phải chịu lỗ kế toán sau lãi danh nghĩa trong các năm đầu hoạt động
Tóm lại, từ những phân tích trên cho thấy bất kỳ một sự gia tăng nào bằng nợ vay cũng sẽ dẫn doanh nghiệp đến một nguy cơ rất lớn về khó khăn tài chính Điều này đặt ra yêu cầu doanh nghiệp nên tìm một nguồi tài trợ thích hợp nào đó nhằm hạn chế rủi ro tài chính, tránh việc tạo ra rủi ro tổng thể vượt quá mức chịu đựng của doanh nghiệp Vậy trong giai đoạn này doanh nghiệp nên chọn nguồn tài trợ nào và ai sẽ là nhà đầu tư dám chấp nhận rủi ro cao để tài trợ cho doanh nghiệp Khả năng tài trợ bằng vốn vay hay vốn cổ phần đều không khả thi, tài trợ bằng việc phát hành trái phiếu, tín dụng thuê mua hay thu
Trang 17hút vốn của các nhà đầu tư không chấp nhận rủi ro cao đều khó có thể thực hiện được Vậy chỉ có nguồn vốn mạo hiểm từ các quỹ đầu tư mạo hiểm là thích hợp nhất bởi lẽ chỉ có các nhà đầu tư này mới sẵn sàng chấp nhận rủi ro cao và đầu tư vào các doanh nghiệp mới khởi sự dưới nhiều hình thức đầu tư đa dạng và kỳ vọng vào một mức lợi nhuận cao tương ứng
1.3 Mô hình tổ chức hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm
1.3.1 Các đối tượng tham gia
Tham gia vào quá trình vận hành của một quỹ đầu tư mạo hiểm thông thường bao gồm: các nhà đầu tư mạo hiểm, các nhà quản lý quỹ và các doanh nghiệp (thường là các doanh nghiệp mới khởi nghiệp)
- Các nhà đầu tư mạo hiểm: Bao gồm các cá nhân có nguồn vốn nhàn rỗi, các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tài chính như ngân hàng, quỹ hưu trí, công
ty bảo hiểm… sẵn sàng đầu tư và chấp nhận rủi ro cao để kỳ vọng vào những lợi nhuận cao trong tương lai
- Các nhà quản lý quỹ: là những nhà quản lý quỹ đầu tư mạo hiểm, họ vừa có kiến thức về công nghệ cũng như khả năng quản trị, họ huy động vốn từ các nhà đầu tư mạo hiểm, tìm kiếm và đánh giá các cơ hội đầu tư, quản lý danh mục đầu tư theo những chiến lược nhất định làm gia tăng giá trị doanh nghiệp được đầu tư, thực hiện công cuộc thoát vốn để thu hồi vốn và lợi nhuận Quá trình này được lập đi lập lại với việc huy động quỹ mới cho những cơ hội đầu tư mới theo những chu kỳ vốn
- Các doanh nghiệp: chủ yếu là các doanh nghiệp mới khởi nghiệp, là những tổ chức cá nhân có nhu cầu phát triển các ý tưởng, các sáng kiến khoa học thành những sản phẩm trên thương trường nhưng họ giới hạn về tiềm lực tài chính và cần sự hỗ trợ từ các quỹ đầu tư mạo hiểm
Mối quan hệ giữa ba tổ chức trên được gắn kết chặt chẽ nhằm đạt được mục tiêu: duy trì và khuyến khích tính sáng tạo khoa học công nghệ và tình thần khởi nghiệp, tạo động lực cho các cá nhân, tổ chức có vốn tham gia quỹ đầu tư mạo hiểm, phát huy triệt để năng lực của các nhà quản lý quỹ đầu tư mạo hiểm và đảm bảo hiệu qủa đầu tư
Trang 18Chia lãi/hoàn vốn
Vốn
VốnVốn & lãi/lỗ
Kết thúc
Cổ phần
Phí quản lý
VốnY1
Công ty
Thành vi
vô hạn, nhà sáng lập
quản lý quỹ/
ên trách nhiêm
Hình 1: Tổ chức đầu tư mạo hiểm theo mô hình công ty hợp danh hữu hạn
Danh muQuản lý và kiểm soát ïc đầu tư
Trang 19- Tổ chức theo hình thức quỹ là các công ty con của các tổ chức tài chính hoặc các tập đoàn kinh tế (corporate subsidiaries) Trong hình thức này, công ty mẹ thực hiện tài trợ vốn mạo hiểm cho một doanh nghiệp nhằm tạo mối quan hệ với những doanh nghiệp mới và phát triển các dịch vụ khác nhau Hội đồng quản trị của các công ty con sẽ đưa ra các quyết định phê chuẩn các khoản đầu tư, trong khi việc điều hành quản lý các khoản đầu tư lại do một công ty quản lý vốn mạo hiểm đảm trách Như vậy, hình thức này không tạo dựng được một nhà đầu tư chuyên nghiệp và nếu có thì năng lực của họ cũng bị hạn chế do họ không có quyền đưa ra các quyết định đầu
tư Thù lao cho các nhà quản lý vốn là những khoản lương không gắn liền với thành qủa đầu tư và họ phải trung thành với lợi ích từ các công ty mẹ, điều này đôi khi dẫn tới xung khắc về lợi ích giữa nguồn tài trợ và các nhà khởi nhgiệp, giữa quỹ của công ty với các nhà đầu tư mạo hiểm khác
- Tổ chức theo mô hình công ty cổ phần (corporation): Theo mô hình này, các thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn đầu tư Trong đó các cổ đông nắm một tỷ lệ cổ phần đáng kể sẽ có đủ điều kiện tham gia hội đồng quản trị với tư cách cổ đông sáng lập, còn lại là cổ đông thường Thực hiện mô hình này các cổ đông vẫn có thể dễ dàng kiểm soát hoạt động của công ty thông qua vai trò chủ động của hội đồng qủan trị và khả năng lựa chọn công ty quản lý quỹ Mô hình này cũng cho phép quỹ đầu tư mạo hiểm được hình thành dưới dạng quỹ đóng hoặc quỹ mở
1.3.3 Quy trình hoạt động
Quá trình hoạt động của Quỹ đầu tư mạo hiểm thường trải qua các giai đoạn sau:
Giai đoạn hình thành quỹ
- Các thành viên tổng quát nhận định và phát hiện các cơ hội đầu tư tiềm năng với triển vọng lợi nhuận cao, chuẩn bị hồ sơ dự án và dự kiến các nguồn vốn tương lai
- Tiến hành thẩm định dự án để lựa chọn sản phẩm, thị trường, chiến lược phát triển và hình thức tổ chức doanh nghiệp phù hợp với các nguồn tài chính để đi đến quyết định tài trợ
Trang 20- Xây dựng mô hình, tổ chức và pháp lý của quỹ đầu tư: công ty đầu tư, quỹ hỗ tương, quỹ đầu tư dạng đóng, mở
- Các thành viên xem xét và ra quyết định về mức vốn, số lần gọi vốn, mô hình, chi tiết thể thức đầu tư, cơ cấu thành phần quỹ vốn, hội đồng quản trị, hội đồng điều hành… vì phần lớn thành viên là các định chế tài chính, những tập đoàn công nghiệp đầu tư nên họ trở thành những thành viên tham gia xem xét các chi tiết thành lập để bảo đảm thành công cho quỹ
- Các thành viên ra quyết định chiến lược thực hiện và chiến lược chiếm lĩnh thị trường…
Đây là giai đoạn để hình thành quỹ đầu tư mạo hiểm, trong thời gian này các nhà quản lý sẽ tiến hành nghiên cứu, tiềm kiếm các cơ hội đầu tư tốt đồng thời cũng tìm các nguồn cung cấp vốn Cũng trong giai đoạn này, các nhà quản lý quỹ cũng tiến hành các thủ tục để chuẩn bị về mặt pháp lý cho sự hình thành và hoạt động của quỹ
Giai đoạn huy động vốn
Tổ chức huy động và ấn định ngày đóng quỹ, thời kỳ này có thể kéo dài hai đến ba năm Các nhà đầu tư có được những quyền lợi dựa trên tỷ lệ góp vốn, các nhà đầu tư có quyền duy trì hoặc bán các cổ phần của mình Trong quá trình hoạt động, nhà đầu tư sẽ thường xuyên được báo cáo về số tiền đầu tư được sự dụng như thế nào vào các danh mục đầu tư và giá trị danh mục ở từng thời kỳ
Giai đoạn đầu tư
Trong gian đọan này, các nhà quản lý quỹ (thành viên tổng quát) tiến hành chọn lọc, thẩm định các dự án đầu tư, thương thuyết mua cổ phần hoặc hay tham gia vốn vào các dự án để đạt được lợi nhuận như cam kết ban đầu Để đảm bảo quyền lợi của quỹ gắn liền với hiệu qủa hoạt động của các doanh nghiệp, các quỹ có quyền giám sát, hỗ trợ hay tư vấn về hoạt động của doanh nghiệp Với những kinh nghiệm và kiến thức của mình, họ có thể đưa ra những giải pháp tối ưu về chiến lược sản xuất kinh doanh, về quản trị nhân sự, quản trị tài chính cho doanh nghiệp
Trang 21Giai đoạn gia tăng giá trị
Sau khi tiến hành đầu tư theo các danh mục, các nhà quan lý quỹ tiếp tục xây dựng bộ máy quản trị và mở rộng quan hệ với các tổ chức tài chính, kinh doanh để có thể làm tăng thêm giá trị vốn quỹ Trong giai đoạn này, các nhà quản lý quỹ đầu tư mạo hiểm tiếp tục hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như nhân sự, tài chính, marketing… để có thể tối đa hoá giá trị doanh nghiệp
Giai đoạn thoát vốn
Sau khi giá trị đầu tư đạt đến mức mong muốn, các quỹ đầu tư sẽ thực hiện thoát vốn Đây là giai đoạn quan trọng phản ánh kết quả của quá trình đầu tư, các nhà đầu tư mạo hiểm tiến hành thoát vốn bằng những phương thức cơ bản như sau:
- Phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO- Initial Public Offering)
- Bán toàn bộ doanh nghiệp: là việc bán công ty cho các tổ chức hoặc cá nhân nào đó hoặc có thể tiến hành sáp nhập với các doanh nghiệp khác
- Nhượng lại cổ phần cho các doanh nghiệp nhận đầu tư
- Bán số cổ phần đã đầu tư
Kết qủa thu hoạch qua việc thoát vốn của nhà đầu tư có thể được thể hiện bằng tiền mặt hoặc các cổ phiếu có khả năng thanh toán cao trên thị trường vốn Thời gian của các giai đoạn hình thành quỹ, gọi vốn, đầu tư cho đến thu hoạch của mỗi quỹ có thể khác nhau vì số lượng và thời gian đầu tư của các dự án của mỗi quỹ có thể biến thiên khác nhau Tuy nhiên thời gian để hoàn thành mục tiêu đầu tư và thu hoạch của các dự án tối thiểu là năm năm, có khi từ tám đến mười năm để dự án đạt được lợi nhuận
2 VAI TRÒ QUỸ ĐẦU TƯ MẠO HIỂM CHO VIỆC PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ CAO
2.1 Khái niệm về công nghệ cao
Công nghệ theo cách hiểu rộng rãi là một tập hợp các yếu tố chủ yếu như: thiết bị, con người, bí quyết và phương pháp quản lý, nghiên cứu, phát
Trang 22triển sản xuất, nhằm biến đổi nguồn lực tự nhiên thành hàng hóa Còn công nghệ cao là công nghệ cho phép sản xuất với năng suất cao và sản phẩm có chất lượng cao, nghĩa là có thể mang lại nhiều giá trị gia tăng cao hơn với cùng lượng vốn và lao động, do trong công nghệ cao có chứa hàm lượng cao về trí tuệ (chất xám) Công nghệ cao còn có khả năng mở rộng phạm vi, hiệu quả của các loại hình công nghệ khác nhờ tích hợp các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến Mức độ công nghệ cao có thể được đo bằng độ ngắn của chu kỳ sống sản phẩm Công nghệ cao có hai chức năng cơ bản, đó là: làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại mang lại lợi ích lớn cho các nhà kinh doanh và với công nghệ cao, nhiều ngành công nghiệp tưởng như đã đến thời kỳ bão hòa có thể được trẻ lại, được hồi sinh Theo Quy chế Khu công nghệ cao ban hành kèm theo Nghị định số 99/2003/NĐ – CP ngày 28 tháng 8 năm
2003 của Chính phủ thì công nghệ cao được hiểu “là công nghệ được tích hợp từ các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến, có khả năng tạo ra sự tăng đột biến về năng suất lao động, tính năng, chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm hàng hóa, hình thành các ngành sản xuất hoặc dịch vụ mới có hiệu quả kinh tế xã hội cao, có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội và an ninh
quốc phòng”
Đặc điểm nổi bật của công nghiệp công nghệ cao là việc thể hiện sự tích hợp các thành tựu khoa học và công nghệ Do vậy, trong lĩnh vực công nghệ cao thể hiện tính tiên tiến, có mối quan hệ gắn liền với nhau và liên quan đến nhiều lĩnh vực khác, có năng suất lao động cao do sử dụng hàm lượng trí tuệ, kỹ thuật, kỹ năng, thông tin cao hơn hẳn các ngành công nghiệp thông thường Hàm lượng vốn, thiết bị tương đối lớn Bù lại, năng suất lao động của công nghiệp công nghệ cao tương đối cao Trong một số ngành công nghiệp, năng suất lao động trung bình cao hơn từ 30 – 40 % Công nghệ cao có cấu trúc sản phẩm khá phức tạp và đòi hỏi sự hỗ trợ của nhiều ngành công nghiệp do tính
đa dạng của công nghệ và sản phẩm đầu vào Công nghệ cao có tiền năng thị trường lớn, thị trường của sản phẩm công nghệ cao được mở rộng cùng sự phát triển của nền kinh tế và sự gia tăng nhu cầu tiêu dùng Sản xuất công nghệ cao và sản phẩm của nó sử dụng rất ít nguyên liệu, năng lượng bởi lẽ chúng được phát triển với mục tiêu hạn chế chi phí các nguồn nguyên liệu và năng lượng có hạn, cũng như bảo vệ môi trường Đặc điểm này làm cho giá các sản phẩm
Trang 23công nghệ cao trở nên khá đắt trên thị trường Hơn nữa, công nghệ cao có sự phân công lao động trên phạm vi toàn cầu Mạng lưới sản xuất toàn cầu trở nên hiện thực nhờ sự đổi mới trong giao thông và truyền thông Phương thức kinh doanh công nghiệp công nghệ cao, trong nhiều trường hợp là kinh doanh “mạo hiểm cao và được bù đắp cao” Việc đổi mới các hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) liên tục cũng như việc thường xuyên tìm kiếm các thị trường mới rất tốn kém và mạo hiểm Lợi nhuận cao là phần bù đắp thỏa đáng cho những hoạt động kinh doanh có độ mạo hiểm cao này
Theo định nghĩa trên, ta thấy công nghệ cao không chỉ là công nghệ mũi nhọn, mà còn là chỉ công nghệ mới có mục đích kinh tế trực tiếp Mục tiêu cuối cùng của phát triển công nghệ cao là cho ra một sản phẩm có giá trị gia tăng cao có thể chiếm lĩnh thị trường Như vậy, đặc trưng chủ yếu của công nghệ cao là: Tính sáng tạo: công nghệ cao trên cơ sở sử dụng rộng rãi kết quả khoa học công nghệ hiện có, qua đầu tư nghiên cứu phát triển với chi phí đắt, cùng với việc phát triển và tích lũy tri thức, không ngừng sáng tạo ra công nghệ mới Tính trí tuệ: công nghệ cao là công nghệ mới tập trung hàm lượng trí thức, công nghệ và vốn, để thúc đẩy công nghệ cao phát triển nguồn nhân lực quan trọng hơn nguồn vốn, công nghệ cao chủ yếu dựa vào con người và trí lực của họ, tiếp đó mới là vốn Tính ảnh hưởng: công nghệ cao có sức ảnh hưởng to lớn đối với việc phát triển kinh tế, nó có thể tác động tới các ngành nghề truyền thống, thúc đẩy công nghệ của các ngành nghề trong xã hội phát triển Tính chiến lược: công nghệ cao là thực lực chiến lược được thể hiện bằng khoa học công nghệ, trực tiếp quan hệ tới địa vị kinh tế chính trị quân sự của quốc gia, nó là bộ phận quan trọng tạo nên sức mạnh quốc gia, không thể xem nhẹ Tính rủi ro: việc tìm ra công nghệ cao ở vào tuyến đầu của khoa học công nghệ, rất khó xác định thành bại, bất kỳ một ý tưởng, một thiết kế và việc thực thi tính mở đường, đều có thể đem đến thành công, cũng có thể gặp thất bại Tính thời gian: Trong thị trường công nghệ cao, cạnh tranh rất quyết liệt, tính hiệu quả về thời gian rất rõ Chỉ có đưa kết quả mới nhất vào thị trường đúng lúc mới có thể đạt được hiệu quả tốt nhất, nếu không khi thời gian – điều kiện qua đi, cũng có nghĩa là đã thất bại
Trang 24Vì những đặc điểm và đặc trưng cơ bản của công nghệ cao nêu trên, ta thấy chiến lược phát triển công nghệ cao là một nhiệm vụ quan trọng, được tất cả các nước, các nền kinh tế quan tâm đầu tư xây dựng và đẩy mạnh phát triển nhanh chóng Đặc điểm của chiến lược phát triển công nghệ cao, một là phát triển công nghệ cao, hình thành ngành nghề mới; hai là đầu tư mức độ cao; ba là thu được lợi nhuận lớn; bốn là sản phẩm luôn đổi mới, dễ dàng chiến lĩnh thị trường; năm là bảo mật mức độ cao Do vậy, chiến lược này nhất định được bảo đảm bằng thực lực kinh tế hùng hậu và thực lực mạnh về khoa học công nghệ
2.2 Vai trò của vốn mạo hiểm trong việc phát triển công nghệ cao
2.2.1 Hỗ trợ và ươm tạo doanh nghiệp
Các nhà tư bản mạo hiểm cung cấp nhiều thuận lợi cho các doanh nghiệp và thị trường đang hoạt động nhưng thiếu vốn Nó là một quá trình đóng vai trò chất xúc tác nhằm tăng cường khả năng doanh nghiệp Ngoài vốn, quá trình tham gia của vốn mạo hiểm còn mang lại khả năng chuyên môn về quản lý, cụ thể hoá kế hoạch kinh doanh và thông tin Đây là điểm khác biệt giữa vốn mạo hiểm và việc tài trợ vốn thông thường: vốn mạo hiểm còn hơn cả việc đầu tư, hơn cả việc tạo dựng sự giàu có cá nhân; nó đang tạo dựng các công ty
- Khả năng chuyên môn về quản lý: Trước khi cung ứng vốn vào một dự án của doanh nghiệp, một nhà đầu tư mạo hiểm đã dành nhiều thời gian và năng lực nghiên cứu khả năng thành công của dự án Một trong những nhân tố chủ yếu của quá trình đầu tư mạo hiểm là phải đảm bảo rằng một đội ngũ quản lý có đủ năng lực đang nắm quyền hoặc sẽ được thành lập để giải quyết công việc quản lý của công ty Vốn mạo hiểm được hoạch định để hỗ trợ các doanh nhân và giúp ra các quyết định đúng đắn hơn Các nhà tư bản mạo hiểm tham gia lập kế hoạch chiến lược, định giá công nghệ, phân tích thị trường, định giá rủi ro/lợi nhuận, và tăng cường bổ sung vào công tác quản lý
- Kế hoạch kinh doanh: Quy trình tham gia vốn mạo hiểm cũng đảm bảo rằng doanh nhân có suy nghĩ đúng đắn và kế hoạch của họ được xây dựng cụ thể với kế hoạch kinh doanh được chuẩn bị đầy đủ rõ ràng Thật sự thì nhà tư bản mạo hiểm hỗ trợ doanh nhân triển khai kế hoạch kinh doanh, không chỉ
Trang 25giúp doanh nhân có được một cái nhìn sâu hơn về dự án mà còn cho cả nhà tư bản mạo hiểm để kiểm tra lại khả năng thành công của dự án
- Thông tin: quỹ đầu tư mạo hiểm giữ vai trò của một người cung cấp thông tin bằng những nỗ lực thu thập thông tin Họ có khả năng tập hợp thông tin với chi phí thấp hơn các nhà đầu tư Vì nhà tư bản mạo hiểm thu thập thông tin dựa trên một số lượng lớn các nhà đầu tư, ho có thể tận dụng lợi thế quy mô của các ngành kinh tế Họ cũng có lợi thế về quy mô các ngành kinh tế, cụ thể là tạo lập được một mạng lưới các nguồn thông tin tham khảo, các nhà cung cấp các dịch vụ và các mối liên hệ với các ngành nghề Các nhà tư bản mạo hiểm được lợi khi hiểu biết thêm những lĩnh vực mới, những kỹ năng mới Thông tin thu được từ một dự án thông thường hữu ích cho những dự án tiếp theo
- Tính bảo mật: Nguồn tài trợ vốn mạo hiểm cũng cung cấp sự bảo mật cho các doanh nhân Nguồn tài trợ từ công chúng yêu cầu rất nhiều về việc công bố và tiết lộ thông tin, phần nhiều có thể là quyền sở hữu
- Danh tiếng: Vốn mạo hiểm cung cấp cho các doanh nghiệp danh tiếng và uy tín, những thứ được xem là một loại tài sản vô hình khác và rất có giá trị khi giao dịch với khách hàng, nhà cung ứng và các đối tác khác có liên quan
2.2.2 Thúc đẩy đổi mới khoa học công nghệ
Thời gian gần đây, trên các phương tiện thơng tin đại chúng, người ta hay
đề cập đến những vấn đề đại loại vị thế cạnh tranh, sức hút đầu tư …Tại sao vậy? Thật đơn giản, bất kỳ một nền kinh tế, một ngành cơng nghiệp một lĩnh vực sản xuất nào muốn tăng tốc đều cần đến các nguồn đầu tư lớn Khoa học công nghệ
cũng khơng là một ngoại lệ Một trong những lý do quan trọng để sản xuất phần mềm nước ta lâu nay vẫn trong tình trạng làm ăn nhỏ lẻ, manh mún và chưa thể trở thành một ngành cơng nghiệp thực sự, đĩ chính là thiếu vốn đầu tư Và quỹ mạo hiểm chính là một loại hình đầu tư phổ biến cĩ thể giúp cho ngành cơng nghiệp phần mềm ở nước ta cĩ thể cất cánh!
Một ví dụ nhỏ là việc cơng ty phần mềm Lạc Việt đã được quỹ Mekong đầu
tư số tiền 745.000 USD cho phát triển, mở rộng kinh doanh Và mới đây nhất là quyết định đầu tư 100 triệu USD của IDG thành lập quỹ mạo hiểm IDG Việt Nam
từ nay cho đến 2010 Hugo Shong - Phĩ chủ tịch cấp cao tập đồn IDG cho biết:
Trang 26"Đầu tư mạo hiểm khác với đầu tư truyền thống, đầu tư mạo hiểm khơng thực sự nhắm tới việc hỗ trợ sản xuất sản phẩm mà hướng tới việc tạo ra cơng ty, vì vậy vốn đầu tư mạo hiểm sẽ giúp tạo ra các cơng ty sản xuất sản phẩm, cĩ tiềm năng thị trường lớn Đĩ là tất cả những gì liên quan đến vốn đầu tư mạo hiểm, thêm vào
đĩ là khả năng tạo việc làm mới Điều đĩ giải thích tại sao vốn đầu tư mạo hiểm rất hữu ích đối với Việt Nam"
Với sự ra đời của nguồn vốn đầu tư mạo hiểm, nó đã thúc đẩy khoa học kỹ thuật và công nghệ ngày càng phát triển Với việc đầu tư vốn mạo hiểm, các nhà đầu tư đã đóng góp rất lớn vào sự hình thành và phát triển của ngành công nghiệp, thúc đẩy các ngành công nghệ cao, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin phát triển
Theo điều tra của trường đại học Harvard, 1 USD vốn mạo hiểm sẽ tạo
ra được một lượng bằng phát minh sáng chế nhiều gấp từ 3 đến 5 lần so với chi cho công tác nghiên cứu triển khai (chủ yếu trong lĩnh vực công nghệ cao) Nước Mỹ đã phải mất 85 năm để có được 1 triệu bằng phát minh trong khi bằng phát minh sáng chế từ 5 triệu đến 6 triệu thì chỉ mất 8 năm
Nguyên tắc hoạt động của vốn mạo hiểm là đầu tư vào những dự án tiềm năng, có rủi ro cao hơn mức bình quân Do đó, các công ty quản lý quỹ luôn luôn phải nâng cao trình độ và năng lực quản lý của mình và hỗ trợ tư vấn cho các doanh nghiệp Chính điều này đã giúp cho quá trình nghiên cứu, tìm kiếm, thử nghiệm và phát triển một ý tưởng khoa học công nghệ thành phát minh sáng chế và từ đó thương mại hoá thành sản phẩm Quá trình biến một ý tưởng thành một sản phẩm đòi hỏi một lượng vốn tài trợ rất lớn Nếu không đủ nguồn vốn tài trợ thì nhiều khả năng các ý tưởng sẽ bị bỏ ngõ và sẽ mãi mãi là
ý tưởng Khi càng nhiều ý tưởng được tài trợ thì các quỹ đầu tư mạo hiểm càng có nhiều khả năng thu được những lợi nhuận, và cứ như vậy theo quy luật thì kết qủa của việc gia tăng vốn đầu tư mạo hiểm thì khoa học công nghệ càng phát triển
2.2.3 Thúc đẩy phát triển kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là một bộ phận quan trong của đời sống kinh tế xã hội và là một trong những chỉ tiêu then chốt để đánh giá sự phát triển của một quốc gia Có nhiều yếu tố tác động đến sự tăng trưởng của nền kinh tế và tuỳ
Trang 27vào giai đoạn lịch sử của các yếu tố đó được ưu tiên xem xét ở các mức độ khác nhau Theo truyền thống thì tăng trưởng chủ yếu dựa vào tỷ lệ tiết kiệm, tích lũy tư bản và vốn vật chất thì ngay nay tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào nguồn nhân lực, công nghệ, thể chế chính trị và truyền thống văn hóa, trong đó sự phát triển của khoa học công nghệ là động lực chính của quá trình tăng trưởng
Có nhiều mô hình khác nhau đề cập đến mối quan hệ giũa khoa học công nghệ với tăng trưởng kinh tế Theo Cobb-Douglas thì sản lượng Y = AK a
L(1-a), với A là yếu tố thay đổng công nghệ, K là dòng chảy của các dịch vụ từ vốn, L là số ngày làm việc của lao động, a là tỷ trong đóng góp của vốn và 1-a là phần đóng góp từ lao động Trong mô hình này, A là tham số quan trọng và cũng là số đo nhân tố năng suất tổng hợp sản xuất (TFP) TFP là một cách đo lường năng suất của cả vốn lẫn lao động trong một hoạt động cụ thể hay cho cả nền kinh tế Có nhiều yếu tố làm TFP tăng lên như: chất lượng của lao động và vốn, tiến bộ công nghệ, mức độ cạnh tranh, phân bổ nguồn lực, chính sách kinh tế…, trong đó yếu tố công nghệ đóng vai trò quan trọng Công nghệ góp phần tăng năng suất lao động và làm hiệu quả nguồn vốn đầu tư Khả năng chuyển đổi những tiến bộ khoa học công nghệ thành những sản phẩm mới đã trở thành yếu tố quyết định sự khác biệt trong nhịp độ tăng trưởng kinh tế giữa các quốc gia
Tuy nhiên, việc đầu tư nghiên cứu công nghệ cao để phát triển khoa học công nghệ đòi hỏi phải gia tăng nguồn vốn đầu tư và vấn đề thiếu vốn đã trở thành một vòng lẩn quẩn Vốn ít dẫn đến mức đầu tư cho công nghệ thấp, dẫn đến năng suất lao động thấp và tốc độ tăng trưởng thấp Đến lượt tốc độ tăng trưởng thấp tất yếu dẫn đến mức độ tích luỹ vốn cho nền kinh tế thấp Để phá vỡ vòng lẫn quẩn đó đòi hỏi phải tập trung hơn nhiều nguồn vốn khác nhau để tài trợ cho khoa học công nghệ và trong đó vốn mạo hiểm là một trong những nguồn tài trợ then chốt cho việc phát triển công nghệ tiên tiến., làm tăng nhân tố tổng hợp TFP và do đó thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển bền vững cho nền kinh tế
Ngoài ra, thu hút vốn mạo hiểm nhất là từ các nguồn nước ngoài và khu vực tư nhân trong nước sẽ làm giảm áp lực về vốn đầu tư cho khoa học công
Trang 28nghệ, kỷ năng và kinh nghiệm quản lý của các nhà đầu tư mạo hiểm sẽ dẫn đến vốn đầu tư được sử dụng có hiệu qủa hơn, tạo cơ hội phát triển các ngành nghề mới, các ý tưởng mới, các doanh nghiệp mới, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giảm tỷ lệ thất nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững hơn
2.2.4 Thúc đẩy phát triển thị trường chứng khoán
Bên cạnh khuyến khích sự phát triển khoa học kỹ thuật, vốn đầu tư mạo hiểm còn có những đóng góp đáng kể cho việc hoàn thiện thị trường tài chính và phát triển thị trường chứng khoán
Một trong những kênh thoát vốn hiệu qủa nhất của quỹ đầu tư mạo hiểm là phát hành cổ phiếu của doanh nghiệp đầu tư lần đầu tiên ra công chúng (IPO) Chính điều này làm cho hàng hoá trên thị trường chứng khoán ngày càng phong phú và đa dạng, giúp các nhà đầu tư chứng khoán có nhiều cơ hội lựa chọn danh mục đầu tư để đa dạng hoá đầu tư và giảm thiểu rui ro, từ đó thu hút được nhiều nhà đầu tư, tăng tính thanh khoản của thị trường Đến lượt mình, sự phát triển của thị trường chứng khoán cũng là một trong những nhân tố thúc đẩy thị trường vốn mạo hiểm phát triển Một thị trường chứng khoán phát triển toàn diện không những cung cấp cho các quỹ một kênh thoát vốn thuận lợi, dễ dàng mà còn phản ánh chính xác giá trị doanh nghiệp trên thị trường, thể hiện sự thành công của doanh nghiệp nhận đầu tư cũng như các quỹ đầu tư mạo hiểm và từ đó nâng cao uy tín trên thị trường
Ngày nay, với xu thế hội nhập kinh tế, vốn đầu tư mạo hiểm đã tạo ra một kênh huy động mới, tận dụng mọi nguồn lực tài chính cả trong lẫn ngoài nước Từ đó giúp cho các tổ chức, doanh nghiệp có nhiều cơ hội lựa chọn nguồn tài trợ cho các dự án của mình Các quỹ đầu tư mạo hiểm thu hút vốn nhàn rỗi từ các cá nhân, các tổ chức, các định chế tài chính… để tài trợ vốn cho các doanh nghiệp đầu tư phát triển Các doanh nghiệp này không chỉ đem lại lợi nhuận cho chính bản thân doanh nghiệp và các quỹ đầu tư mạo hiểm mà còn góp phần giải quyết việc làm và các khoản nộp ngân sách nhà nước
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN QUỸ ĐẦU TƯ MẠO HIỂM TẠI MỘT SỐ
NƯỚC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Trang 293.1 Vốn mạo hiểm tại một số nước
3.1.1 Tại Mỹ
Mỹ cĩ một ngành tư bản mạo hiểm lâu đời nhất và phát triển nhất trong số các nước thuộc tổ chức hợp tác phát triển kinh tế (OECD) Chính phủ Mỹ đã đĩng một vai trị quan trọng trong việc phát triển thị trường vốn mạo hiểm bắt đầu
từ năm 1958 bằng việc khuyến khích đầu tư tư nhân với những khối lượng vốn lớn thơng qua Chương trình Cơng ty Đầu tư Doanh nghiệp Nhỏ (SBIC) Luật Bảo đảm lương hưu cho người làm cơng (ERISA) đã cho phép các quỹ lương hưu cĩ thể đầu tư một phần tài sản vào cổ phiếu tư nhân Điều này được áp dụng cùng với một sự giảm đáng kể tỷ lệ thuế lãi vốn Thị trường chứng khốn cấp hai NASDAQ của Mỹ được thành lập vào năm 1971 đã mang lại một loạt các phương án lựa chọn cĩ khả năng mang lại lợi nhuận cao cho các nhà tư bản mạo hiểm Đầu tư của các nhà đầu tư mạo hiểm tư nhân (cịn gọi là các thiên sứ kinh doanh) và các doanh nghiệp đã trở nên cĩ giá trị rất lớn
Các quy định về đầu tư: Các chính sách của Chính phủ Mỹ đã đĩng một
vai trị then chốt trong việc khuyến khích các tổ chức đầu tư vào cổ phiếu tư nhân
và thúc đẩy sự tăng trưởng thị trường vốn mạo hiểm Cĩ hơn 7% số tài sản đầu tư của các tổ chức (trong đĩ cĩ các quỹ lương hưu và bảo hiểm) ở Mỹ được phân bổ dưới các dạng cổ phần tư nhân (kể cả mua tồn bộ cổ phần), trong khi ở các nước OECD khác, tỷ lệ này chỉ đạt chưa đến 1%, như ở các nước Anh và Canada Mốc lịch sử quan trọng về đầu tư vốn mạo hiểm đĩ là sự ra đời của bộ Luật ERISA vào năm 1978, cho phép các quỹ lương hưu được phân bổ một phần các nguồn lực của mình vào đầu tư mạo hiểm
Các tổ chức tài chính: các quy định về đầu tư được nới lỏng vào năm
1999 Luật Hiện đại hĩa Tài chính (hay cịn gọi là điều luật Gramm-Leach-Bliley)
đã quy định lại khung pháp lý cho ngành dịch vụ tài chính Bộ luật này cho phép các ngân hàng, các cơng ty bảo hiểm và các cơng ty chứng khốn cĩ quyền sáp nhập và bán cho nhau các sản phẩm đầu tư Bộ luật này cịn giải quyết những vấn
đề kém hiệu quả trong hệ thống luật pháp bảo hiểm hiện thời giữa các bang bằng cách yêu cầu các bang phải thống nhất các quy định đối với các nhà cung cấp dịch
vụ bảo hiểm
Các biện pháp khuyến khích về thuế: Đầu tư vốn mạo hiểm tại Mỹ được
thúc đẩy bằng cả hai địn bẩy: tỷ lệ đánh thuế đối với lãi vốn thấp và các khuyến khích thuế mục tiêu Việc giảm thuế đánh vào lãi vốn - từ 49% năm 1978 xuống 20% trong thời gian từ 1981 đến 1986 - đã cĩ tác động lớn đến sự phát triển tồn
Trang 30bộ ngành vốn mạo hiểm của Mỹ Tuy nhiên, các triển vọng tăng thuế lãi vốn cao hơn vào năm 1996 đã làm cho có ít các công ty hơn muốn đăng ký kinh doanh trên
thị trường chứng khoán cấp hai
Các chương trình vốn cổ phần: Chương trình SBIC thành lập năm 1958
là xúc tiến trực tiếp đầu tiên của Chính phủ Liên bang nhằm khuyến khích sự phát triển ngành vốn mạo hiểm của Mỹ Trong những năm 60, chương trình SBIC đã cung cấp được khoảng 3 tỷ USD cho các công ty non trẻ, cao hơn gấp ba lần tổng lượng đầu tư tư nhân trong cùng thời kỳ SBIC còn hỗ trợ cho việc đào tạo các nhà quản lý vốn mạo hiểm và tạo cơ sở cho sự phát triển các quỹ tư nhân Tuy nhiên, Chương trình này đã gặp phải một số vấn đề về thiết kế và đã suy yếu trong những năm 80 Năm 1992, Luật Tăng cường Cổ phần Doanh nghiệp Nhỏ đã điều chỉnh lại chương trình này và chấm dứt việc cho vay tài chính bằng cổ phiếu Biện pháp này đã gỡ bỏ trách nhiệm thuế đối với các tổ chức đầu tư được khấu trừ thông thường và cho phép Chính phủ, thông qua cơ quan Quản lý Doanh nghiệp Nhỏ (SBA) có thể góp phần tham gia về kinh tế vào các rủi ro và lợi nhuận của chương trình Các thị trường cổ phiếu tư nhân từ đó đã trở nên trưởng thành, các công ty thành công hàng đầu đã có thể rút ra khỏi chương trình và cả sự giám sát vốn được
coi là rất quan liêu của Chính phủ
Mạng lưới các nhà tư bản mạo hiểm tư nhân: Tuy khó có thể thiết lập
chính xác được quy mô của thị trường vốn mạo hiểm tư nhân (Angel Market) ở
Mỹ, do bản chất không chính thức của nó, nhưng SBA ước tính rằng ở Mỹ có khoảng 250.000 nhà tư bản mạo hiểm tư nhân, cam kết mỗi năm đầu tư khoảng 20
tỷ USD cho hơn 30.000 công ty tư nhân So với ngành vốn mạo hiểm chính thức, các nhà tư bản mạo hiểm tư nhân đầu tư những khối lượng nhỏ hơn, trong khoảng
từ 200.000 USD đến 1,5 triệu USD vào các doanh nghiệp hoạt động ở giai đoạn ban đầu Vào giữa những năm 90, mạng lưới không chính thức gồm các nhà đầu
tư mạo hiểm tư nhân đã bắt đầu hình thành, chẳng hạn như Nhóm các Thiên sứ tại
Thung lũng Silicon hay Dinner Clubs tại khu vực miền Trung Atlantic Tiếp theo
là sự hình thành các thực thể vì lợi nhuận, cung cấp các dịch vụ kết nối giữa các nhà doanh nghiệp và các nhà đầu tư mạo hiểm chủ yếu là thông qua mạng Internet,
trong đó có các tổ chức như American Venture Capital Exchange, Capital
Matchmaker, FinanceHub, MoneyHunter
Vào năm 1995, SBA đã thành lập một Hệ thống Tư bản mạo hiểm hay còn
gọi là mạng ACE-Net, liên kết các nhà đầu tư tư nhân, SBIC và các tổ chức đầu tư
mạo hiểm với các công ty nhỏ thông qua một cơ sở dữ liệu trên Internet Các dịch
vụ cố vấn cho các nhà doanh nghiệp và các nhà đầu tư cũng được cung cấp thông
Trang 31qua các nhà vận hành ACE-Net khu vực Năm 2001, ACE-Net đã được tư nhân hĩa, do vai trị của Chính phủ đã được hồn thành Gần đây, SBA đã triển khai Mạng Cơng nghệ hay TECH-Net, một giao diện tìm kiếm thơng tin và nguồn lực liên quan đến các doanh nghiệp cơng nghệ cao
Cùng với Anh, Mỹ cĩ các mạng lưới các nhà tư bản mạo hiểm tư nhân phát triển nhất trong số các nước OECD Để thành lập được các mạng lưới này, ban đầu cần cĩ vai trị tổ chức của Chính phủ và các xúc tiến ban đầu của Chính phủ khơng chỉ dừng ở dịch vụ lên danh sách các cơng ty và các nhà đầu tư, mà điều quan trọng là phải tạo điều kiện tiếp xúc giữa các cá nhân Các chương trình kết nối mạng định hướng địa phương thường rất thành cơng, đặc biệt là khi nĩ được thiết kế phù hợp với thế mạnh và yếu điểm của địa phương Lý tưởng hơn nếu cĩ
sự phối hợp giữa các hệ thống tư bản mạo hiểm tư nhân và Nhà nước ở các cấp địa phương, khu vực và quốc gia, nhằm tránh sự trùng lắp và thiếu hụt thơng tin
3.1.2 Tại Nhật Bản
Trong vài năm trở lại đây, nhiều ngân hàng tại Nhật đã gia tăng việc đầu tư vốn cho các công ty mới thành lập nhất là các Công ty trong lĩnh vực công nghệ thông tin trong đó Fuji Bank là một trong những ngân hàng đi tiên phong Vào năm 1977, khi mới bắt đầu hoạt động, Fuji Bank đã đầu tư 54,7 triệu Yên (tương đương 486.000 USD) cho 14 Công ty được lựa chọn từ 205
Công ty
3.1.3 Tại Singapore
Từ năm 1995, Chính phủ đã thiết lập một trung tâm để luân chuyển Vốn mạo hiểm Đến nay, tại Singapore đã có 82 Quỹ đầu tư mạo hiểm với tổng vốn 5,28 tỷ USD và đã đầu tư 921 triệu USD trong đó 17% vốn đã được đầu tư cho
40 Công ty trong nước
3.1.4 Tại Ấn Độ
Quỹ đầu tư mạo hiểm được đề cập rất sớm từ những năm 70, tuy nhiên vốn mạo hiểm tại nước này được xem là thực sự hoạt động trong hai giai đoạn cụ thể như sau:
Giai đoạn 1986-1995: nhà nước can thiệp hoạt động đầu tư mạo hiểm thông
qua các chính sách như sau:
Trang 32- Khuyến khích nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới trong các lĩnh vực công nghiệp điện tử, phần mềm, truyền thông và các ngành công nghiệp mới thông qua chính sánh phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chính sách thuế, tài tợ vốn từ các quỹ phát triển công nghiệp – là quỹ phôi thai cho việc hình thành quỹ đầu tư mạo hiểm ở Ấn Độ
- Xây dựng cơ sở pháp lý cho việc hình thành quỹ đầu tư mạo hiểm như: quy chế hoạt động của các công ty đầu tư mạo hiểm từ các tổ chức tài chính nhà nước, khuyến khích phát triển công nghệ cao, quy định về ưu đãi thuế…
- Cho phép tổ chức quốc tế (WB) tham gia xây dựng thể chế và cung cấp nguồn vốn cho hoạt động đầu tư mạo hiểm
Giai đoạn 1996-2000: Vốn mạo hiểm phát triển nhanh chóng theo sự bùng
nổ của “dot.com” trên toàn cầu, nguyên nhân là do:
- Chính phủ ban hành các đạo luật khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài, ban hành luật về đầu tư mạo hiểm, luật về vốn mạo hiểm nước ngoài
- Khuyến khích khu vực tư nhân trong nước tham gia vào các quỹ đầu tư mạo hiểm, không có sự phân biệt đối xử giữa các định chế đầu tư mạo hiểm
- Đa dạng hoác cánh hình thức đầu tư mạo hiểm, các nguồn vốn đầu tư (ngân hàng, bảo hiểm, quỹ đầu tư khác…) và linh hoạt trong lối thoát cho các nhà đầu tư
- Chính phủ xúc tiến hoạt động đầu tư ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, cung cấp các dịch vụ làm gia tăng giá trị tài sản cho các nhà đầu tư như thông tin, tài chính, nhân lực…
- Sự thành công của các nhà kinh doanh Ấn Độ tại thung lũng Silicon vào những năm 80 cùng với sự bùng nổ ngành CNTT trong giai đoạn này đã kích thích mạnh mẽ dóng vốn đầu tư mạo hiểm chảy về Ấn Độ
- Nguồn lao động có tay nghề cao, giá nhân công rẻ thúc đẩu các doanh nghiệp từ Mỹ và các nước phát triển chuyển hướng đầu tư vào Aán Độ và kéo theo cả dòng vốn đầu tư mạo hiểm
Ngoài ra, để hỗ trợ các doanh nghiệp nghiên cứu và phát triển phần mềm (R&D), chính phủ cung cấp 3/5 kinh phí R&D cho các doanh nghiệp Bộ CNTT bắt buộc một số công ty lớn phải bỏ ít nhất 2%/doanh thu để đầu tư cho CNTT Từ năm 1986 chính phủ đã bắt đầu quan tâm đến việc đầu tư mạo hiểm và lập
vườn ươm cho công ty phần mềm
Trang 333.1.5 Tại Đài Loan
Hầu hết nguồn vốn đầu tư vào lĩnh vực phát triển công nghệ cao của các công ty tư nhân Bên cạnh đó là các quỹ đầu tư mạo hiểm của Mỹ như Hantech Venture và Hanrong Venture Capital cũng đã tham gia đầu tư vào các lĩnh vực như điện tử, viễn thông
3.1.6 Tại Trung Quốc
Trong quyết định của TW Đảng Cộng sản và Chính phủ Trung Quốc (20/8/1999) đã khẳng định “khoa học và công nghệ đang đổi thay hàng ngày, công nghệ cao lấy công nghệ thông tin và công nghệ sinh học làm đại diện và ngành nghề hóa chúng đang phát triển vô cùng nhanh và mạnh mẽ, có ảnh hưởng sâu sắc trên các mặt chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa…”, trong báo cáo này nhận định sáng tạo công nghệ là xí nghiệp ứng dụng tri thức, công nghệ và kỹ thuật mới, nâng cao chất lượng sản phẩm, triển khai sản phẩm mới, cung cấp dịch vụ mới, chiếm lĩnh thị trường và thực hiện giá trị thị trường Xí nghiệp là chủ thể của sáng tạo công nghệ Sáng tạo công nghệ là tiền đề quan trọng phát triển khoa học công nghệ cao, thực hiện ngành nghề hóa Qua đó Trung Quốc ưu tiên phát triển các công ty công nghệ cao với nhiều hỗ trợ phát triển, trong đó hỗ trợ về mặt tài chính thể hiện qua chính sách và biện pháp sau:
- Xây dựng cơ chế đầu tư tài chính và cơ chế khen thưởng mới
- Thành lập quỹ sáng tạo công nghệ cho các xí nghiệp KHCN cao vừa và nhỏ nhằm cung cấp vốn cho hoạt động chuyển hóa thành quả công nghệ cao
- Xây dựng chế độ được quyền, được tin tưởng ứng, hoàn thiện biện pháp quản lý quỹ, tăng các hình thức cho vay, mở ra các phương thức bảo đảm, mở rộng đầu tư cho vay công nghệ cao
- Nuôi dưỡng thị trường vốn cho phát triển ngành nghề công nghệ cao, từng bước xây dựng chế độ đầu tư mạo hiểm Phát triển công ty đầu tư mạo hiểm và quỹ đầu tư mạo hiểm, xây dựng cơ chế đầu tư và từ chối đầu tư mạo hiểm, tăng mức ủng hộ đối với ngành nghề công nghệ cao Giới thiệu và đào tạo nhân tài quản lý đầu tư mạo hiểm, đẩy nhanh việc xây dựng pháp quy chính sách có liên quan, xây dựng quy phạm về hành vi thị trường của đầu tư mạo hiểm, ưu tiên ủng hộ xí nghiệp công nghệ cao có điều kiện đi vào thị trường vốn trong nước và quốc tế
Trang 343.1.7 Tại Thái Lan
Được thành lập từ năm 1987 từ nguồn vốn trong nước, sau 10 năm hoạt động quỹ đầu tư mạo hiểm sôi nổi hơn nhờ các quỹ từ Hồngkong, Singapore Hoạt động đầu tư mạo hiểm được khuyến khích trong một số ngành nhất định, tuy nhiên không có ưu đãi về thuế Nhu cầu vốn mạo hiểm không cao do các công ty có thể tiếp cận nguồn tài trợ từ ngân hàng hoặc các công ty tài chính với chi phí thấp
3.1.8 Tại Malaysia
Vào cuối 1996 đã có 22 quỹ đầu tư mạo hiểm đặt ở Malaysia, tuy nhiên chỉ có 5 quỹ đầu tư mạo hiểm ở Malaysia thực sự hoạt động Hoạt động này được sự tài trợ vốn của chính phủ ngay gian đoạn đầu (năm 1991) và chủ yếu tập trung vào lãnh vực công nghệ
Môi trường định chế được xem là ổn định và thuận lợi, các biện pháp khuyến khích thuế đã được áp dụng cho quỹ đầu tư mạo hiểm Nhu cầu về vốn tăng cao do các doanh nhân ngày càng có trình độ và chuyên nghiệp hơn Đa số các khoản đầu tư được thu hồi trên thị trường chứng khoán
3.2 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Tuỳ thuộc vào mức độ tự do hoá kinh tế mà mỗi quốc gia sẽ có những chính sách khác nhau nhằm thu hút hiệu qủa vốn đầu tư mạo hiểm vào quá trình đổi mới công nghệ Nếu như Trung Quốc, Aán Độ và kể cả một số quốc gia Châu Á có những chính sách can thiệp trực tiếp và mạnh mẽ đến đầu tư mạo hiểm thì ở Mỹ chính phủ chỉ can thiệp gián tiếp nhằm truyền dẫn những thông tin định hướng đến các thị trường cho hoạt động đầu tư vốn mạo hiểm Một số bài học rút ra từ kinh nghiệm các nước cho hoạt động đầu tư vốn mạo hiểm tại Viện Nam bao gồm:
- Khung pháp lý cho hoạt động đầu tư mạo hiểm nói chung và đầu tư mạo hiểm vào lãnh vực công nghệ cao nói riêng cần phải rỏ ràng và đầy đủ
- Chính phủ các nước khuyến khích các công ty tư nhân và các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia vào quá trình đổi mới công nghệ
- Chính sách thuế ưu đãi cho các công ty đầu tư mạo hiểm và hoạt động đầu
tư vào công nghệ cao
- Thị trường tài chính tiền tệ ổn định và phát triển trong đó thị trừơng chứng khoán là yếu tố quan trọng cho việc thu hút vốn đầu tư mạo hiểm
Trang 35- Cơ sở hạ tầng cho quá trình đổi mới công nghệ đầy đủ và phát triển bao gồm: các khu công nghệ, trung tâm nghiên cứu, trường đại học, trung tâm R&D…
- Đội ngũ tri thức có trình độ công nghệ cao và đội ngũ những nhà quản lý doanh nghiệp chuyên nghiệp
- Hệ thống thông tin cho quá trình đổi mới công nghệ thông suốt, thị trường tư vấn công nghệ và quản lý phát triển
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 đã đề cấp đến những vấn đề có tính chất tổng quan về quỹ đầu tư mạo hiểm và vai trò của quỹ đầu tư mạo hiểm trong quá trình phát triển công nghệ cao Đầu tư vốn mạo hiểm đã xuất hiện từ lâu và ngày càng phổ biến trong xu hướng phát triển mạnh mẽ của kinh tế tri thức toàn cầu Với đặc điểm quỹ đầu tư mạo hiểm chỉ tập trung vào các lĩnh vực có tỷ suất sinh lợi cao đồng thời có rủi ro lớn Vốn đầu tư mạo hiểm đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích các tổ chức, cá nhân có tinh thần mạo hiểm và sáng tạo tham gia vào nghiên cứu công nghệ cao Tạo dựng và phát triển các mối quan hệ song hành giữa những nhà đầu tư mạo hiểm có vốn và kinh nghiệm với các tổ chức, cá nhân có tinh thần kinh doanh và năng lực công nghệ đã dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ của thị trường vốn mạo hiểm Đến lượt mình, sự phát triển mạnh mẽ của thị trường vốn mạo hiểm sẽ có những đóng góp tích cực đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của quốc gia thông qua việc tăng tỷ lệ đóng góp của những nhân tố năng suất tổng hợp trong cơ cấu các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế Thực tiển phát triển của nền công nghiệp đầu tư mạo hiểm tại một số quốc gia là minh chứng cụ thể cho những lợi ích mà vốn đầu tư mạo hiểm mang lại Những lý luận tổng quan và kinh nghiệm thực tiễn này sẽ là nền tảng để tiếp tục nghiên cứu thực trạng và giải pháp cho việc khuyến khích đầu tư vốn mạo hiểm vào quá trình phát triển công nghệ cao tại Việt Nam
Trang 36CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC
QUỸ ĐẦU TƯ MẠO HIỂM TẠI VIỆT NAM
1 HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC QUỸ ĐẦU TƯ MẠO HIỂM TẠI VIỆT
NAM
Triệu USD
1.1 Huy động vốn
Quỹ đầu tư mạo hiểm vẫn còn là một đề tài khá mới tại Việt Nam mặc dù dòng vốn mạo hiểm đầu tiên đã vào Việt Nam từ năm 1991 với sự ra đời của các quỹ đầu tư mạo hiểm Cho đến nay đã có 8 quỹ đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam và chủ yếu là các tổ chức nước ngoài như: Mekong Capital Ltd, Mekong Project Development Facility, Vietnam Fund Management Co Ltd, Dragon Capital Group Ltd, Finansa Ltd, Indochina Asset Management Ltd, Indochina Capital Corporation, International Finance Corporation Hình thức quỹ đầu tư mạo hiểm nội địa vẫn chưa phát triển và vốn đầu tư mạo hiểm vẫn chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong luồng vốn FDI chảy vào hàng năm Trong giai đoạn từ 1991 đến 2002, vốn đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam được thể hiện qua biểu đồ sau:
0 50 100
1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002
Nguồn: AVCJ
Hình 2: Vốn đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam giai đoạn 1991-2002
Trang 37Giai đoạn 1990 – 2000: Những chính sách về đổi mới kinh tế tại Đại hội
Đảng lần thứ VII (06-1991) đã tạo ra những dự báo tích cực về tăng trưởng kinh tế và môi trương kinh doanh tại Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút các dòng vốn đầu tư vào Việt Nam trong giai đoạn 1991-1995, vốn đầu
tư mạo hiểm cũng nhanh chóng có mặt tại Việt Nam nhằm tìm kiếm những cơ hội đầu tư vào các dự án có tiềm năng Các nhà đầu tư rất lạc quan về khả năng sinh lời của các dự án đầu tư do làng sóng công nghiệp hoá đang lan rông tại khu vực Đông Nam Á đã tạo ra môi trường thuận lợi cho việc thu hút vốn FDI vào các nước trong khu vực trong đó có Việt Nam Bên cạnh đó, sự kỳ vọng của các nhà đầu tư về một thị trường chứng khoán sớm ra đời theo dự định của chính phủ là một nhân tố thúc đẩy việc gia tăng vốn đầu tư mạo hiểm vào những năm đầu của thập niên 90 tại Việt Nam Đến cuối năm 1994, mặc dù vốn huy động tại các quỹ chưa thực hiện hết nhưng giá giao dịch các quỹ trên thị trường chứng khoán đã có những dự báo rất hấp dẫn cho các nhà đầu
tư Đến năm 1995, tốc độ tăng trưởng của vốn đầu tư mạo hiểm đã có sự suy giảm, mặc dù trong giai đoạn này dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn có tốc độ tăng trưởng mạnh tại Việt Nam và dòng vốn đầu tư mạo hiểm tiếp tục gia tăng tại khu vực Châu Á Cho đến năm 2002, tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam vẫn chưa có dấu hiệu khôi phục mặc dù trong giai đoạn này Việt Nam vẫn được đánh giá là một trong những thị trường ổn định
và hấp dẫn nhiều nhà đầu tư
Trong giai đoạn này hàng loạt các quỹ đầu tư mạo hiểm được thành lập trong những năm đầu thập niên 90 đã rút khỏi Việt Nam hoặc hoạt động cầm chừng như: Vietnam Fund, Vietnam Frontier Fund, Lazard Vietnam Fund, Templeton Vietnam Opportunities Fund Mặc khác cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 càng làm cho việc thu hút nguồn vốn đầu tư mạo hiểm vào Việt Nam càng thêm khó khăn Vốn đầu tư mạo hiểm lúc này tập trung vào các công ty ở các quốc gia có sự tác động mạnh của cuộc khủng hoảng nhưng có tiềm năng phục hồi nhanh chóng (đây là đặc trưng cơ bản của vốn đầu tư mạo hiểm: tiềm kiếm khả năng sinh lợi cao từ các công ty có tiềm năng nhưng đang gặp khó khăn về tài chính) Riêng trong năm 1999, vốn đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam tăng khá mạnh do chính phủ ban hành hàng loạt các quy định khuyến khích các
Trang 38nhà đầu tư nước ngoài góp vốn vào các công ty tư nhân trong nước Bên cạnh đó, thông tin về khai trương trung tâm giao dịch chứng khoán đầu tiên của Việt Nam tại Tp HCM vào năm 2000 cũng góp phần gia tăng dòng vốn mạo hiểm chảy vào Việt Nam
Giai đoạn 2000 – 2005: Trong khi hoạt động đầu tư mạo hiểm có có xu
hướng giảm sút tại Việt Nam thì sự ra đời của Mekong Enteprise Fund vào năm
2002 đã đánh dấu cho sự phục hồi của dòng vốn đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam Mekong Enteprise Fund được sự góp vốn của các tổ chức có uy tín như ADB, Nordic Development Fund và nhà tư vấn hoạt động là tổ chức MPDF đã
khơi nguồn cho làn sóng đầu tư mạo hiểm thứ hai tại Việt Nam
Cùng với Mekong Enteprise Fund, Vietnam Opportunity Fund cũng chính thức đi vào hoạt động tháng 11/2003, một số quỹ đầu tư khác cũng triển khai kế hoạch kinh doanh tại Việt Nam như tập đoàn IDG của Mỹ với số vốn dự kiến 80 triệu USD, quỹ Phanxipang của các nhà đầu tư Châu Aâu và Đông Á với số vốn dự kiến 25 triệu USD, quỹ FMO của Thụy Sỹ, DEG của Đức… cũng đang trong quá trình thăm dò thị trường và tìm kiếm đối tác tại Việt Nam
Đối với đầu tư mạo hiểm từ các quỹ nội địa, năm 2002 Bộ Khoa học Công nghệ cùng với Ban quản lý Khu công nghệ cao Hòa Lạc cũng đã lập đề án “Quỹ đầu tư phát triển công nghệ cao Viettech” trình chính phủ xem xét Hình thức tổ chức của quỹ được thực hiện theo mô hình công ty hợp danh hữu hạn với số vốn góp từ phía Mỹ là 20-30 triệu USD, phía Việt Nam góp 2-3 triệu USD lấy từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, hoạt động theo luật pháp Mỹ có trụ sở chi nhánh đặt tại Việt Nam Tuy nhiên cho đến nay đề án này vẫn chưa được chính phủ phê duyệt do nhiều nguyên nhân liên quan đến luật pháp Mỹ, vấn đề mô hình chi nhánh quỹ tại Việt Nam, vấn đề tiến độ xây dựng Khu công ghệ cao Hòa Lạc… Tại Thành phố Hồ Chí Minh, vấn đề đầu tư mạo hiểm diễn ra sôi nổi tại Hội thảo Khu công nghệ cao Tp HCM tháng 12/2003 với sự tham gia của các nhà khoa học, các Việt Kiều… Hội doanh nghiệp trẻ Tp HCM cũng đã kiến nghị thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm
Như vậy, sự trở lại của các nhà đầu tư mạo hiểm đã cho thấy môi trường kinh doanh tại Việt Nam bắt đầu xuất hiện những yếu tố tích cực cho việc hình thành các cơ hội đầu tư hấp dẫn Hơn nữa, Việt Nam vẫn là quốc gia đang
Trang 39trong quá trình chuyển đổi và xây dựng nền kinh tế thị trường, đang khởi động các dự án về phát triển công nghệ cao, công nghệ thông tin… sẽ là động cơ kích thích các dòng vốn mạo hiểm chảy vào Việt Nam
1.2 Sử dụng vốn
Vào đầu thập niên 90, giới đầu tư quốc tế cũng như các phương tiện thông tin đại chúng trên khắp thế giới đều đánh giá tiềm năng tăng trưởng của Việt Nam Kết quả là các nguồn vốn đầu tư ồ ạt chảy vào Việt Nam và giá trị cổ phiếu của những dự án đầu tư vào Việt Nam cũng tăng lên cao trên các sàn giao dịch quốc tế và các quỹ đầu tư mạo hiểm cũng không thoát khoải trào lưu này Về lý thuyết, một đất nước có tiềm năng kinh tế tăng trưởng cao và rất nhiều cơ hội đầu tư như ở Việt Nam thì việc sử dụng vốn đã huy động được sẽ là điều không mấy khó khăn Nhưng thực tế qua một thời gian hoạt động thì mọi việc không phải dễ dàng và các quỹ đầu tư đã nhận ra được rằng họ không biệt đầu tư vào đâu với số tiền nhiều như thế Với gần 400 triệu USD huy động được, các quỹ đầu tư mạo hiểm bắt đầu bắt tay vào tìm các đối tác Việt Nam, tiến hành thẩm định dự án và bỏ vốn đầu tư Tuy nhiên sau một thời gian, mặc dù đã tham gia vào nhiều lĩnh vực, từ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thực phẩm cho đến du lịch, tài chính ngân hàng, bất động sản… nhưng các quỹ đầu tư mạo hiểm chỉ sử dụng hết 172 triệu USD, chiếm 46,23% trên tổng số vốn huy động được cho đến cuối năm 1999
VỐN ĐÃ ĐẦU TƯ
USD %
Beta Vietnam Fund 52.200.000 34.446.000 65.99
Beta Mekong Fund 17.900.000 4.222.000 23.59
Dragon Capital 27.000.000 23.700.000 87.78
Vietnam Frontier Fund 53.100.100 37.300.000 70.24
Lazard Vietnam Fund 59.000.000 10.000.000 19.95
Templeton Vietnam Fund 110.000.000 22.000.000 20.00
Nguồn : The Vietnam Bussiness Journal
Bảng 1: Vốn đầu tư của các quỹ đầu tư mạo hiểm vào Việt Nam (đến
cuối1999)
Trang 40Templeton Vietnam Fund đã quyết định từ bỏ cuộc chơi với mục tiêu
nhắm vào các dự án lớn Khó khăn lớn được đánh giá đó là việc khai thác và tìm kiếm các cơ hội đầu tư đã khiến cho các nhà lãnh đạo của những tổ chức này quyết định cơ cấu lại vốn đầu tư, một phần trả lại cho các cổ đông, một phần chuyển qua các quỹ khác để tìm kiếm các cơ hội đầu tư tại những khu vực khác
Lazard Vietnam Fund đã phải bán lại 6.6 triệu USD phần hùn của họ
trong liên doanh sản xuất đường với tập đoàn Nagarjuna cho bên lên doanh và 6.6% phần hùn trong công ty cơ điện lạnh Ree (dưới hình thức cổ phần) cho Dragon Capital với giá trị khoản 1 triệu USD
Vietnam Frontier Fund cũng không ngoại lệ, ngay giai đoạn đầu
Vietnam Frontier Fund đã đầu tư được 37.3 triệu USD trong tổng số 53.1 triệu USD huy động được Nhưng sau một thời gian dài làm ăn không hiệu qủa, Vietnam Frontier Fund đã quyết định rút khỏi Việt Nam Tuy nhiên các quỹ này vẫn cử người ở lại theo dõi các dự án đang hoạt động với mục đích chủ yếu là thu hồi vốn Tháng 7 năm 2004, Vietnam Frontier Fund đã quyết định chuyển nhượng vốn đầu tư khoản 30 triệu USD còn lại trong các doanh nghiệp Việt Nam để giải thể và đóng quỹ
Vietnam Fund là quỹ có mặt sớm nhất tại Việt Nam, cho đến năm 1998
đã đầu tư được 41.04 triệu USD trong tổng số 54.83 triệu USD huy động được (chiếm 75.47% vốn của quỹ) vào lĩnh vực ngân hàng Sau một thời gian, nhiều khó khăn nảy sinh đã buộc các nhà quản lý quỹ án binh bất động, trả lại 17.8 Triệu USD cho các cổ đông để giảm bớt chi phí cho việc quản lý số tiền chưa đầu tư được cho công ty quản lý quỹ Ngoài ra Vietnam Fund cũng nhận được khoản thanh lý từ ba dự án lờn đóù là: Johnson Suisse (Asia) 2.07 triệu USD, Maritime Bank 2.03 triệu USD, Dragon Property (Hanoi Plaza)4.9 triệu USD Trong đó dự án Hanoi Plaza là dự án chưa thực hiện được do những bất đồng về quy hoạch và bên liên doanh đang gặp những khó khăn bởi cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 Hoạt động của quỹ ở khu vực tư nhân cũng đã gặp không ít rủi ro, các công ty Việt Nam đã được Vietnam Fund đầu tư đó là Công ty Huy Hoàng, công ty nhựa Hừng Sáng, VP Bank với tổng vốn đầu tư lên đến 9 triệu USD Tuy nhiên do những sai lầm trong quá trình hoạt động