343 Giải pháp đẩy mạnh việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Bình Thuận đến năm 2010
Trang 1MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 3
1.1 Khái niệm và đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài 3 1.1.1 Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài 3
1.2.Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong phát triển kinh tế 4
1.3 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 7
1.4 Kinh nghiệm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Trung Quốc và một
1.5 Kinh nghiệm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của một số tỉnh, thành
1.5.2 Kinh nghiệm của tỉnh Đồng Nai đầu tàu về xây dựng các khu công
Trang 2Nam nói chung và tỉnh Bình Thuận nói riêng
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI
2.2 Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Bình Thuận đến hết
2.2.1 Tình hình số dự án được cấp phép, thu hồi, điều chỉnh vốn 26
2.2.8 Tình hình phát triển khu công nghiệp để hỗ trợ việc đầu tư FDI 37 2.2.8.1 Tình hình quy hoạch các khu công nghiệp 37 2.2.8.2 Tình hình đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng 38 2.2.8.3 Diện tích đất đã cho thuê ở khu công nghiệp Phan Thiết 382.3 Những thành tựu đạt được từ hoạt động FDI đối với kinh tế Bình Thuận 392.4 Những tồn tại trong công tác thu hút FDI tại tỉnh Bình Thuận 442.5 Nguyên nhân dẫn đến tồn tại trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp
2.5.1 Nguyên nhân chủ quan của các chủ thể đầu tư trực tiếp nước ngoài 49
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH VIỆC THU HÚT ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH THUẬN
ĐẾN NĂM 2010
54
3.1 Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Thuận đến năm 2010 54 3.1.1 Quan điểm phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Bình Thuận 54 3.1.2 Các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Bình Thuận 553.2 Những thuận lợi và khó khăn trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước
Trang 33.3 Định hướng phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Bình Thuận 57
3.4 Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh việc thu hút đầu tư trực tiếp nước
3.4.2 Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình thu hút và
3.4.3 Đẩy mạnh việc phát triển cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng dịch
vụ
61
3.4.4.Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật có liên quan đến
đầu tư trực tiếp nước ngoài, nâng cao tính cạnh tranh của môi trường kinh
3.4.5 Để đảm bảo tính thực thi pháp luật cho các bên tham gia hoạt động
FDI, Nhà nước cần tổ chức ra một hệ thống trọng tài kinh tế, tòa án kinh tế 65 3.4.6 Tiếp tục giữ vững an ninh chính trị xã hội 65 3.4.7 Đẩy mạnh hoạt động vận động, xúc tiến đầu tư 66 3.4.8 Tạo điều kiện cho thành phần kinh tế ngoài quốc doanh nhập cuộc
3.4.9 Hoàn thiện cơ chế chính sách đối với FDI tại Bình Thuận 68
3.4.10 Nâng cao năng lực quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài tại địa
3.4.10.1 Nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước 69 3.4.10.2 Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính 70 3.4.10.3 Hoàn thiện tổ chức quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ 70 3.4.11 Tìm hiểu kỹ phong tục tập quán của từng nhà đầu tư 71 3.4.12 Kết hợp phát triển các khu công nghiệp với việc đô thị hóa vùng
nông thôn phụ cận, đồng thời xây dựng chính sách thu hút các công ty xuyên
quốc gia
72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1.Y hĩa và tính
iệcĐa
Ù ng cấp thiết của đề tài:
thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI) vào Việt Nam đã được ûng và Nhà nước coi là một chủ trương quan trọng nhằm góp phần khai thác các nguồn lực trong nước, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển đất nước Để tăng cường hoạt động thu hút FDI vào nước ta Nghị quyết Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ IX chỉ rõ nhiệm vụ của nhà nước ta trong thời gian tới là: “Tạo
điều kiện để kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển thuận lợi, hướng vào xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm Cải thiện môi trường kinh tế pháp lý để thu hút mạnh vốn
đầu tư nước ngoài”
V
Riêng hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài tại tỉnh Bình Thuận trong những năm qua nhờ có vị trí địa lý thuận lợi, tài nguyên khá đa dạng đã thu được một số kết quả đáng kể Tuy nhiên, số dự án cùng với số vốn FDI vào tỉnh vẫn chưa tương xứng so với tiềm năng, lợi thế sẵn có; là do lĩnh vực này tương đối mới mẻ đòi hỏi phải có một bề dày kinh nghiệm, nên việc thu hút, định hướng, quản lý và sử dụng FDI vẫn còn một số hạn chế, thiếu sót nhất định.Và hơn nữa, trong tương lai trước
xu thế hội nhập diễn ra gay gắt, trước sự phát triển không ngừng của các tỉnh lân cận như Bình Dương, Đồng Nai thì vấn đề đặt ra là làm sao tạo hình ảnh Bình Thuận có sức hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài, để không ngoài mục đích thúc đẩy việc gia tăng nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Bình Thuận ngày một nhiều hơn Do đó, tác giả xác định tên đề tài làm luận văn thạc sĩ cho mình là:
“GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH VIỆC THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI TỈNH BÌNH THUẬN ĐẾN NĂM 2010”.
2.Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở lý luận về vai trò của việc thu hút vốn FDI, mục đích nghiên cứu của luận văn là tìm kiếm và đề xuất một số giải pháp thu hút FDI nhằm tạo ra sức bật mới với một tỉnh đầy tiềm năng và cơ hội đầu tư như Bình Thuận có thể cùng
Trang 5cả nước góp phần đưa đất nước phát triển và tăng trưởng mạnh mẽ, vững chắc, đạt được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: là lĩnh vực FDI về các phương diện: hình thức đầu tư, số lượng, qui mô, cơ cấu, thực trạng, tác động, xu hướng vận động… Với tư cách là các nhân tố quan trọng miêu tả bức tranh về hoạt động FDI một đòn bẩy then chốt trong công cuộc phát triển kinh tế của đất nước
Phạm vi nghiên cứu: Để đảm bảo tính logic, tính hệ thống và cô đọng, luận văn giới hạn trình bày nội dung là hoạt động FDI tại tỉnh Bình Thuận
4.Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu là duy vật biện chứng , phương pháp phân tích định lượng và định tính, phân tích hệ thống, phương pháp mô hình hóa, phương pháp so sánh, đối chiếu, suy luận logic, lý thuyết hệ thống, phương pháp điều tra … để làm sáng tỏ và cụ thể hóa nội dung nghiên cứu, đồng thời tiếp thu có phê phán, chọn lọc những kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài
5.Nội dung của luận văn bao gồm:
-Lời mở đầu
-Chương 1: Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài
-Chương 2: Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Bình Thuận
-Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bình Thuận đến năm 2010
-Kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục
Trong quá trình nghiên cứu, do thiếu kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong sự lượng thứ của quý Thầy-Cô và người đọc
Em xin cảm ơn quý Thầy Cô khoa Sau Đại Học của Trường Đại Học Kinh tế TP.HCM đã tận tình dạy bảo Xin cám ơn PGS.TS.NGUYỄN NGỌC HÙNG, người hướng dẫn khoa học, đã giúp đỡ em rất nhiều cho luận văn được hoàn thành
Trang 6CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1.KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI: 1.1.1 Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI):
Đầu tư là việc bỏ vốn trong một thời gian tương đối dài để xây dựng mới hoặc cải tạo các đối tượng hiện có nhằm mục đích thu được lợi ích kinh tế – xã hội
Trong quản lý kinh tế, có nhiều cách phân loại đầu tư Căn cứ vào phương cách bỏ vốn và sử dụng vốn, người ta chia đầu tư thành hai hình thức: đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp
Đầu tư gián tiếp là đầu tư mà trong đó, người ta bỏ vốn và người sử dụng vốn không cùng là một chủ thể Đầu tư trực tiếp là đầu tư mà trong đó người bỏ vốn và người sử dụng vốn cùng một chủ thể, có nghĩa họ là chủ sở hữu có quyền chiếm hữu, sử dụng định đoạt tài sản của mình, có quyền sở hữu đối với thu nhập hợp pháp có được do đầu tư sản xuất, kinh doanh theo qui định của pháp luật
Đầu tư trực tiếp của nước ngoài chịu sự điều chỉnh bởi Luật đầu tư nước ngoài(ĐTNN) tại Việt Nam Trong Luật ĐTNN tại Việt Nam, đầu tư trực tiếp của nước ngoài được định nghĩa như sau: Đầu tư trực tiếp của nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu tư
Đầu tư trực tiếp của nước ngoài tại Việt Nam theo Luật ĐTNN được thực hiện từ cuối năm 1987 và cho đến nay đã trở thành một nguồn vốn quan trọng để đầu tư phát triển nền kinh tế quốc dân
1.1.2 Đặc điểm đầu tư trực tiếp nước ngoài:
-Các chủ ĐTNN phải đóng góp một số vốn tối thiểu, tùy theo quy định của luật đầu tư từng nước, ví dụ như Luật đầu tư của Việt Nam quy định “số vốn đóng góp tối thiểu của phía nước ngoài phải bằng 30% vốn pháp định của dự án” hay Luật đầu tư của Nam Tư cũ trước đây quy định “phần của bên đối tác nước ngoài đóng góp không dưới 5% tổng số vốn đầu tư”
-Quyền hành quản lý xí nghiệp phụ thuộc vào mức độ góp vốn, nếu đóng góp 100% vốn thì xí nghiệp hoàn toàn do chủ ĐTNN điều hành
Trang 7-Lợi nhuận của các chủ ĐTNN thu được phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của xí nghiệp Lời và lỗ được chia theo tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp định sau khi đã nộp thuế lợi tức cho nước chủ nhà
-Đầu tư trực tiếp được thực hiện dưới các hình thức:
+Đóng góp vốn để xây dựng xí nghiệp mới
+Mua lại toàn bộ hoặc từng phần xí nghiệp đang hoạt động
+Mua cổ phiếu để thôn tính hoặc sát nhập
1.2 VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ:
Trong xu hướng hội nhập quốc tế, vai trò của FDI ngày càng quan trọng, nó gắn liền với phát triển kinh tế đất nước Vai trò này không những quan trọng đối với nước đầu tư mà còn rất quan trọng đối với các nước tiếp nhận đầu tư
1.2.1 Đối với nước xuất khẩu đầu tư :
Trong thời gian qua, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã phát triển rất nhanh và ngày càng phổ biến trên thế giới Đối với các chủ đầu tư , nó đã thể hiện các ưu điểm như sau:
-Thông qua việc sử dụng những lợi thế sản xuất tại nơi tiếp nhận đầu tư , đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp các chủ đầu tư nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, giúp hạ giá thành sản phẩm, nâng cao tỷ suất lợi nhuận đồng thời nó tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình xây dựng thị trường nguyên liệu với giá rẻ và ổn định
-Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp cho các quốc gia đầu tư nâng cao sức mạnh kinh tế và uy tín trên thị trường quốc tế Thông qua hoạt động của các nhà máy sản xuất ở nước ngoài mà các chủ đầu tư có thể mở rộng thị trường tiêu thụ vàø tránh được hàng rào mậu dịch ở các nước
-Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp các chủ đầu tư phân tán rủi ro do tình hình kinh tế chính trị trong nước bất ổn định
-Một mục đích khác rất quan trọng đối với đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các nhà đầu tư là nhằm gia nhập thị trường không độc quyền dễ phân chia quyền lợi hoặc dễ mua một công ty nào đó có nhiều hứa hẹn phát triển nhằm tránh được sự cạnh tranh trong tương lai có thể mất thị trường xuất khẩu
Trang 8Có thể nói động cơ của chủ đầu tư khi bỏ vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đều xuất phát từ mục đích của nhà đầu tư là tận dụng những điều kiện thuận lợi của môi trường ĐTNN để tối đa hóa lợi nhuận Tuy nhiên đầu tư nước ngoài chỉ có thể thực hiện được trên nguyên tắc đảm bảo hai bên cùng có lợi Như vậy FDI phải có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với nước tiếp nhận đầu tư
1.2.2 Đối với nước tiếp nhận đầu tư :
Đối với các nước có nền kinh tế phát triển cao thì ĐTNN cũng góp phần quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế Bên cạnh đầu tư ra nước ngoài để tìm kiếm lợi nhuận thì đây cũng là một nơi thu hút một nguồn vốn ĐTNN rất lớn Vì lẽ, các quốc gia này là một thị trường tiêu thụ rộng lớn thu hút các nhà đầu tư ĐTNN đã góp phần gia tăng tài sản cho quốc gia thông qua thu nhập của người lao động, thuế thu được làm cho nền kinh tế phát triển với tốc độ nhanh chóng Đầu tư vào các quốc gia này thường là các dự án đòi hỏi trình độ khoa học kỹ thuật cao như tin học, sinh học và thông qua quá trình cạnh tranh gay gắt, những dự án hiệu quả thấp sẽ bị đào thải
Đối với các nước đang phát triển thì ĐTNN là một nguồn vốn rất quan trọng để phát triển kinh tế đất nước Mặc dù tài nguyên thiên nhiên còn dồi dào, nguồn nhân lực lớn, nhưng do tốc độ phát triển kinh tế chậm chạp kết hợp với tỷ lệ gia tăng dân số nhanh đã làm các nước đang phát triển thiếu vốn để đầu tư sản xuất và tự biến mình thành thị trường tiêu thụ hàng hóa của các nước khác Để đánh thức các tiềm năng, lợi thế của đất nước nhằm phát triển kinh tế quốc gia, các nước đang phát triển rất cần vốn đầu tư Do vậy, ngoài nguồn vốn hạn hẹp trong nước, các nước đang tăng cường thu hút nguồn đầu tư dồi dào ở nước ngoài
- Quá trình phát triển kinh tế cũng đồng thời là quá trình tích tụ và tăng trưởng các nguồn nội lực như vốn, kỹ năng lao động, công nghệ Các nước nghèo thường bị vướng vào một vòng luẩn quẩn: thu nhập thấp do đó tích lũy thấp dẫn đến thiếu vốn đầu tư, vốn đầu tư thấp dẫn đến không phát triển được sản xuất kinh doanh, không nâng cao được thu nhập của người lao động, thu nhập thấp lại dẫn đến tích lũy thấp Do đó ĐTNN, đặc biệt là đầu tư trực tiếp sẽ là nguồn vốn bổ sung rất cần thiết cho các nước nghèo trong quá trình phát triển kinh tế
Trang 9- Đầu tư nước ngoài giúp giải quyết về lao động Thất nghiệp hiện đang là vấn nạn của các quốc gia, đặc biệt là ở các nước đang và chậm phát triển Theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, số người thất nghiệp và bán thất nghiệp của các nước chậm và đang phát triển khoản 35-38% tổng số lao động
- Đầu tư nước ngoài góp phần nâng cao khả năng quản lý kinh doanh
Do được tiếp xúc với trình độ quản lý kinh doanh tiên tiến của các nước, công
ty đa quốc gia, xuyên quốc gia đã giúp các nhà quản lý kinh doanh trong nước nâng cao trình độ quản lý kinh doanh của mình, từ đó nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh
- Đầu tư nước ngoài đẩy nhanh tiến trình cải tiến máy móc, công nghệ Thông qua đầu tư nước ngoài, các nước nhận đầu tư đã có dịp tiếp cận với máy móc, công nghệ hiện đại, giúp rút ngắn khoảng cách về khoa học kỹ thuật với các nước tiên tiến
- Đầu tư nước ngoài giúp cải thiện cơ sở hạ tầng Ngoài việc các nhà đầu tư tham gia đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, nước chủ nhà cũng tích cực cải thiện cơ sở hạ tầng của mình để thu hút vốn đầu tư nước ngoài cũng như nhằm đáp ứng sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Tuy nhiên, đầu tư nước ngoài cũng chứa đựng mặt trái gây tác hại cho nước chủ nhà, đó là:
-Đánh giá cao các nhân tố đầu vào: các nhà đầu tư thường đánh giá cao hơn mặt bằng quốc tế những nhân tố đầu vào như những nguyên liệu, bán thành phẩm, máy móc thiết bị… mà họ nhập vào để thực hiện đầu tư Việc làm này đã tạo nhiều lợi ích không chính đáng cho các nhà đầu tư, chẳng hạn như: trốn được thuế của nước chủ nhà đánh vào lợi nhuận cao của các nhà đầu tư Ngược lại, làm cho chi phí sản xuất cao ở các nước chủ nhà và nước chủ nhà phải mua hàng hóa với giá cao hơn
-Chuyển giao công nghệ lạc hậu; các nước đầu tư thường chuyển giao công nghệ lạc hậu vào nước họ đầu tư để đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm của chính nước họ Điều này đã gây nhiều thiệt hại cho nước nhận đầu tư vì rất khó xác định được giá trị thực của máy móc thiết bị đã được chuyển giao nên thường bị thiệt hại khi tính tỷ lệ vốn góp trong các xí nghiệp liên doanh và hậu quả là bị thiệt hại khi chia lợi nhuận
Trang 10-Nhà đầu tư chỉ đầu tư vào những nơi có lợi nhất Vì thế, nhiều khi lượng vốn nước ngoài đã làm gia tăng thêm sự mất cân đối giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị Sự mất cân đối này có thể gây nên sự bất ổn về chính trị
- Vi phạm về mặt chính trị - văn hóa - xã hội: Trực tiếp hoặc gián tiếp gây sức ép để buộc nước chủ nhà thay đổi đường lối, chính sách; nới lỏng các biện pháp kiểm soát đầu tư nước ngoài; tuyên truyền, chuyển tải văn hóa không lành mạnh vào cộng đồng dân cư các nước tiếp nhận đầu tư; bóc lột sức lao động, xâm phạm nhân phẩm người lao động bản xứ…
Những mặt trái của FDI không có ý nghĩa là phủ nhận những lợi thế cơ bản của nó Cần lưu ý rằng không nên hy vọng quá nhiều vào FDI mà cần phải có những chính sách thích hợp, những biện pháp kiểm soát hữu hiệu để phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của FDI Bởi vì, mức độ thiệt hại mà FDI gây ra cho nước nhận đầu tư nhiều hay ít phụ thuộc rất nhiều vào chính sách, năng lực, trình độ quản lý, trình độ chuyên môn của nước này
1.3 CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM:
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ra đời tháng 12/1987 Từ đó đến nay luật đã trải qua 5 lần sửa đổi và luật hiện hành thừa nhận có 4 hình thức FDI cơ bản và 4 hình thức đầu tư đặc biệt khác:
1.3.1.Hợp đồng hợp tác kinh doanh :
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh ở Việt Nam mà không thành lập pháp nhân
1.3.2 Doanh nghiệp liên doanh :
Là doanh nghiệp mới được thành lập trên cơ sở góp vốn hai bên hoặc nhiều bên Việt Nam và nước ngoài
1.3.3 Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài :
Đây là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài lập tại Việt Nam, tự tổ chức quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh của mình
1.3.4 Hình thức doanh nghiệp cổ phần:
Nghị định 38/2003 của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 15/4/2003 về việc chuyển đổi một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sang hoạt động
Trang 11công ty cổ phần Trong Nghị định này nêu rõ: “Doanh nghiệp cổ phần là doanh
nghiệp có vốn điều lệ được chia làm nhiều phần bằng nhau gọi là: “cổ phần”, trong đó các cổ đông sáng lập nước ngoài nắm giữ ít nhất 30% vốn điều lệ; được tổ chức hoạt động theo hình thức công ty cổ phần ….được hưởng các đảm bảo của nhà nước
Việt Nam và ưu đãi theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam”
Ngoài ra còn có các hình thức đầu tư đặc thù khác:
* Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT):
Là văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho nhà nước Việt Nam
*Hình thức Xây dựng – Chuyển giao – Kinh doanh (BTO):
Là văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng ; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho nhà nước Việt Nam, Chính phủ Việt Nam dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý
*Hình thức Xây dựng – Chuyển giao (BT):
Là văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho nhà nước Việt Nam
*Hình thức khu chế xuất :
Đây là một khu vực lãnh thổ được nhà nước quy hoạch riêng nhằm thu hút các nhà đầu tư trong nước và quốc tế vào hoạt động để chế biến ra hàng công nghiệp phục vụ xuất khẩu
* Hình thức phát triển khu công nghiệp :
Theo Nghị định số 192/CP của Chính phủ ban hành ngày 28/12/1994, khu công nghiệp tại Việt Nam được định nghĩa như sau: là khu do Chính phủ quyết định thành lập, có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống
Trang 121.4 KINH NGHIỆM THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA TRUNG QUỐC VÀ MỘT SỐ NƯỚC ASEAN:
Với sự nỗ lực thu hút FDI, Trung Quốc và một số nước ASEAN đã không ngừng cải thiện môi trường FDI và đạt được thành công nhất định trong quá trình tạo dựng cho mình một môi trường đầu tư hấp dẫn, thông thoáng, rõ ràng, ổn định và mang tính cạnh tranh cao
1.4.1.Kinh nghiệm của Trung Quốc:
FDI vào Trung Quốc từ năm 1978 đến nay đã góp phần cải cách cơ cấu kinh tế, phát triển công nghiệp, hiện đại hóa đất nước, rút ngắn khoảng cách với thế giới về khoa học-công nghệ thúc đẩy hội nhập vào nền kinh tế thế giới, nâng cao
vị thế của Trung Quốc trên trường quốc tế Năm 2001, khu vực kinh tế có vốn FDI đóng góp 1/3 tổng sản lượng công nghiệp, 1/5 giá trị gia tăng công nghệ cao, 51,7% xuất khẩu (đưa Trung Quốc trở thành nước xuất khẩu lớn thứ 6 trên thế giới so với
vị trí thứ 37 vào cuối những năm 1970), 19% tổng thu thuế của Trung Quốc, thu hút gần 23 triệu lao động, chiếm 10% lực lượng lao động ở thành thị Hiện nay, Trung Quốc dẫn đầu các nước đang phát triển về thu hút vốn FDI Sở dĩ Trung Quốc đạt được những thành tựu to lớn chủ yếu do chính phủ Trung Quốc đã ban hành kịp thời các chính sách mới hấp dẫn nhằm tăng cường thu hút FDI như: mở cửa cho FDI vào các lĩnh vực nhạy cảm (bưu chính, viễn thông, bảo hiểm, tài chính, ngân hàng, kinh doanh bán buôn, bán lẻ, xuất-nhập khẩu….); bổ sung, sửa đổi kịp thời các cơ chế, chính sách ưu đãi; giảm nhanh chi phí đầu tư, cải tiến các thủ tục hành chính góp phần tạo sự hấp dẫn cho các nhà đầu tư (giảm cước phí bưu chính viễn thông, giá điện, phí vận tải, giá nhân công, giá thuê đất….); đa dạng hóa các hình thức, các đối tác đầu tư (tăng dần tỷ trọng của các nhà đầu tư từ Mỹ, EU, Nhật Bản, đồng thời tranh thủ đầu tư của Hoa kiều từ Hồng Kông, Đài Loan và các nước trong khu vực); giải quyết hợp lý mối quan hệ lợi ích giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài (các nhà ĐTNN được đối xử bình đẳng như các nhà đầu tư trong nước: giá vé máy bay, vé ô tô, vé phà, phí nhập cảnh và các loại phí khác, được áp dụng theo một hệ thống thuế, thậm chí các doanh nghiệp nước ngoài được hưởng một số biểu thuế ưu đãi hơn trong các hoạt động kinh doanh)
Để cải thiện nhanh môi trường đầu tư Trung Quốc đã tập trung vào việc:
-Tăng cường hoàn thiện hệ thống pháp luật và các quy chế khác có liên
Trang 13quan đến FDI:Trong vòng 20 năm, chính phủ Trung Quốc đã ban hành trên 500 văn bản luật và dưới luật liên quan đến ĐTNN Luật ĐTNN đã được xem xét, bổ sung thay đổi hoặc bãi bỏ nhiều quy định không còn phù hợp.Trung Quốc liên tục cải thiện môi trường thể chế để theo kịp các quy định của WTO và tiêu chuẩn quản lý quốc tế - Để tăng cường bảo vệ các quyền sở hữu trí tuệ, Trung Quốc đã có một hệ thống luật gồm: Luật sáng chế, Luật thương hiệu, Luật bản quyền và các quy định về bảo vệ phần mềm máy tính; Để bảo vệ quyền sáng chế và thương hiệu Trung Quốc đưa ra nhiều biện pháp mạnh chống tình trạng ăn cắp bản quyền Trung Quốc có nhiều cố gắng tuân theo những tiêu chuẩn TRIPS của WTO
-Để bảo đảm quyền ra quyết định của các nhà ĐTNN trong quản lý và bảo vệ lợi ích của nhà ĐTNN Trung Quốc đã tăng cường công tác thực thi pháp luật; xây dựng một hệ thống dịch vụ pháp luật giải quyết khiếu kiện tốt hơn, hiệu quả hơn
-Nâng cao hiệu quả điều hành của chính phủ, giảm thủ tục hành chính: Công khai các quy định về thủ tục đầu tư, tạo thuận lợi cho việc thẩm định và phê chuẩn dự án ĐTNN Trong một số vùng ở Trung Quốc, đã áp dụng hệ thống phê chuẩn liên ngành nhằm giảm thủ tục đăng ký đầu tư, cải cách hệ thống quản lý của hải quan nhằm thu hút mạnh mẽ FDI Cấm thanh tra, kiểm tra, áp đặt phí, hoặc tiền phạt không đúng đối với doanh nghiệp ĐTNN
1.4.2 Kinh nghiệm của một số nước ASEAN:
FDI đã đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong sự phát triển của nhiều nền kinh tế Đông Nam Aù trong ba thập kỷ qua Trong thập niên 80 và nửa đầu thập niên 90, dòng vốn FDI vào khu vực đã tăng tương đối đều và trong số các nước đang phát triển ASEAN đã trở thành khu vực dẫn đầu trong việc tiếp nhận FDI Mặc dù bị ảnh hưởng nặng nề sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 nhưng vốn FDI vào ASEAN đã có chiều hướng gia tăng trong năm 2003 và nhiều ý kiến cho rằng triển vọng thu hút FDI của khu vực trong tương lai là tương đối sáng sủa
1.4.2.1.Kinh nghiệm của Singapore:
Singapore tuy là một nước có quy mô nhỏ, dân số ít, tài nguyên thiên nhiên rất hạn hẹp, nhưng lại là một trong những quốc gia rất thành công trong việc hội nhập ở mức độ cao với các thị trường quốc tế (cả về mậu dịch hàng hóa cũng như thị trường vốn)
Trang 14Để tiến hành công nghiệp hóa chính phủ Singapore đã ban hành những chính sách khuyến khích, thu hút các dự án đầu tư có quy mô lớn, mạnh dạn mở cửa và tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các công ty xuyên quốc gia đến đầu tư hoạt động kinh doanh tại nước mình Để đạt được điều đó, chính phủ Singapore đã dự kiến trước và đưa ra bảng phân loại các xí nghiệp, các ngành sản xuất cần gọi vốn đầu tư và đi cùng với nó là các chế độ ưu đãi cụ thể, có phân biệt Đến nay, nguồn vốn nước ngoài đã chiếm trên 60% tổng vốn đầu tư phát triển xã hội và tập trung phần lớn vào khu công nghiệp (KCN), dịch vụ
Singapore cho phép các nhà đầu tư quốc tế đầu tư qua các hình thức: doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, liên doanh, khu chế xuất, hợp tác kinh doanh Trong đó hình thức liên doanh được chú ý nhiều hơn
Về đối tác đầu tư, Singapore chủ trương không phân biệt để tận dụng khả năng về vốn của các công ty nhiều nước khác Tuy nhiên các đối tác được Singapore quan tâm nhiều hơn là các công ty của Mỹ, Nhật Bản, Hà Lan Vấn đề hướng đầu tư cũng được xác định rõ trong các thời kỳ Ban đầu, do cơ sở kinh tế ở điểm xuất phát thấp, Singapore chủ trương thu hút FDI vào các ngành tạo ra sản phẩm xuất khẩu như ngành dệt may, lắp ráp các thiết bị điện và phương tiện giao thông Bước sang những năm 1980, hướng đến việc thu hút vốn đầu tư tập trung vào những ngành như sản xuất máy vi tính, hàng điện tử, hàng bán dẫn dân dụng, công nghiệp lọc dầu và kỹ thuật khai thác mỏ
Cùng với những chủ trương về đối tác và về cách thức huy động vốn FDI, chính phủ Singapore trong các thời kỳ đã áp dụng những biện pháp khuyến khích rất mạnh mẽ và năng động, cụ thể là:
-Tạo ra sự ổn định cho các nhà ĐTNN yên tâm bỏ vốn đầu tư, kinh doanh lâu dài, chính phủ Singapore đã công khai khẳng định không quốc hữu hóa các doanh nghiệp của nước ngoài
-Những quy định ưu đãi về thuế và những thuận lợi trong việc chuyển lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh ra nước ngoài cũng là một hấp dẫn đáng kể đối với các nhà đầu tư quốc tế khi hoạt động ở Singapore Các chủ ĐTNN sẽ được miễn thuế khi nhập thiết bị và nguyên liệu; đầu tư vào các xí nghiệp mũi nhọn hoặc cơ sở có số lượng vốn trên 1 triệu SGD(tương đương trên 400.000 USD) sẽ được giảm thuế thu nhập trong 5 năm; doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu được miễn tới 90%
Trang 15thuế lợi tức trong 8 năm, việc miễn thuế có thể kéo dài trong 15 năm nếu có số vốn cố định trên 150 triệu SGD; nếu kinh doanh thua lỗ sẽ được kéo dài thêm thời hạn miễn thuế, không bị đánh thuế hai lần và chính phủ sẽ giảm mức thuế cho các chủ sở hữu không cư trú tại Singapore
-Khi kinh doanh có lợi nhuận, nhà ĐTNN được tự do chuyển lợi nhuận về nước Singapore áp dụng chính sách ưu đãi rất đặc biệt đối với các nhà ĐTNN so với các quốc gia khác Đó là ưu đãi về quyền cư trú và nhập cảnh hay còn gọi là đặc quyền về nhập cảnh và nhập quốc tịch Nhà đầu tư nào có số vốn ký thác tại Singapore từ 250.000 SGD trở lên và có dự án đầu tư thì gia đình họ được hưởng quyền công dân Singapore
-Một yếu tố khác được chính phủ Singapore tạo lập tuy không mang lại lợi ích kinh tế trực tiếp nhưng có tính hấp dẫn cao đối với các nhà đầu tư quốc tế vào Singapore đó là tình trạng rất có trật tự, kỷ cương của lực lượng lao động Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật nhằm quản lý chặt chẽ lao động trong các doanh nghiệp Trong đó các điều khoản về thời giờ làm việc, tiền công, điều kiện tuyển dụng, chuyển ngành, sa thải, nâng lương, mức lương tối thiểu được quy định một cách rõ ràng, chi tiết Tình trạng đình công, bãi công rất hiếm khi xảy ra ở Singapore
Và một trong những nguyên nhân khiến Singapore trở thành nơi có lượng đầu tư lớn nhất trong các nước ASEAN, là do chính phủ đã chủ động tạo dựng một hạ tầng hoàn hảo hấp dẫn đối với các nhà đầu tư Ngay từ những ngày đầu công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu, nước này đã quan tâm đến vấn đề quản lý đất đai, qui hoạch đô thị, nâng cấp thông tin viễn thông Chính vì vậy, cơ sở hạ tầng của Singapore xếp vào hàng hiện đại nhất thế giới Trong đó, sân bay Changi được xếp vào hàng sân bay tốt nhất, cảng biển Singapore là cảng lớn nhất xếp thứ hai sau Rotherdam, hệ thống giao thông hiện đại đảm bảo không ùn tắc thông suốt
1.4.2.2 Kinh nghiệm của Malaysia:
Trước khủng hoảng, nền kinh tế Malaysia được coi là thành công nhất trong số các nước mới công nghiệp hoá ở ASEAN Trong giai đoạn 1987-1996, kinh tế Malaysia tăng trưởng với tỷ lệ bình quân 8,8%, thu nhập đầu người tăng từ 1859 USD lên 4425 USD Sau năm 1997, Chính phủ Malaysia đã áp dụng nhiều biện
Trang 16pháp tăng cường sự hồi phục kinh tế với GDP vào năm 2000 đạt mức tăng 8,5% và đã tạo lòng tin cho giới ĐTNN vào Malaysia
Malaysia luôn duy trì một chế độ tự do đối với các nhà ĐTNN và Chính phủ công nhận những đóng góp của FDI vào sự nghiệp đổi mới nền kinh tế và cạnh tranh quốc tế FDI được tìm kiếm không chỉ với tư cách là một nguồn vốn và ngoại hối mà quan trọng hơn nữa nó là phương tiện để đáp ứng nhu cầu lớn về công nghệ, chuyên môn quản lý, bí quyết và mạng lưới tiếp thị để đạt được mức độ cao hơn về tăng trưởng, việc làm, năng suất và xuất khẩu
Sau Singapore, Malaysia cũng là nước tập trung nâng cấp và phát triển cơ sở hạ tầng để thu hút ĐTNN Theo đó đã chú ý nâng cao chất lượng các trang thiết bị mạng lưới truyền thông, nâng cấp hệ thống giao thông và các công trình phúc lợi Lợi thế đầu tiên mà Malaysia đang có là một cơ sở hạ tầng mà các nước láng giềng khó có thể so sánh được Sau cuộc khủng hoảng năm 1997, nhằm tạo môi trường cơ sở hạ tầng thuận lợi hơn cho các nhà ĐTNN, hơn 4 tỷ RM đã được dành riêng cho việc làm đường sá, cầu cống, đường sắt, cảng, hàng không dân dụng Chính phủ Malaysia đã cho phát triển một số con đường được xem là tốt nhất Châu Aù, một hệ thống đường sắt, đường hàng không và thông tin liên lạc có hiệu quả với 7 sân bay quốc tế hoạt động tại Kuala Lămpơ, Penang, Kota Kinabalu, Johor Nahru Bên cạnh đó, Malaysia tiếp tục thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ để ổn định môi trường ĐTNN, phục hồi lại khu vực tài chính – ngân hàng, nới lỏng những hạn chế về ĐTNN trong ngành chế tạo (người nước ngoài có thể sở hữu 100% vốn cổ phần trong việc đầu tư mới các ngành công nghiệp chế tạo trong giai đoạn 2000-2003), cho phép người nước ngoài được mua các tài sản chiến lược của quốc gia và được quản lý một số sân bay của đất nước, nới lỏng quy định về sở hữu bất động sản đối với người nước ngoài, tiếp tục tự do hoá ngành dịch vụ (đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính ngân hàng và bảo hiểm), dành 13,5 tỷ RM cho các việc phát triển các cơ sở hạ tầng giáo dục, tiếp tục thực hiện chính sách “Hướng Đông”- ưu tiên thu hút đầu tư và chuyển giao công nghệ từ phía Nhật Bản, Hàn Quốc- từ đó tạo cơ sở vững chắc cho việc mở rộng chính sách “Hướng Tây”
1.4.2.3.Kinh nghiệm của Thái Lan:
Thái Lan là một trong những nước có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam về điều kiện tự nhiên (đất đai, khí hậu, tài nguyên…), về xã hội (một số tập quán,
Trang 17nhân văn, dân số đông và phần lớn sống ở nông thôn, dung lượng thị trường tiềm năng lớn…)và về trình độ phát triển kinh tế (có ưu thế phát triển một nền nông nghiệp nhiệt đới, công nghiệp còn ở trình độ phát triển thấp…)
Những thập kỷ gần đây, chính nhờ FDI đã góp phần thúc đẩy nền kinh tế Thái Lan trở thành những “ngôi sao” mới của khu vực Đông Á Chính phủ Thái Lan đã rất khéo léo trong việc kết hợp các chính sách của từng thời kỳ Để có thể triển khai các dự án đầu tư nhanh, thuận lợi và có hiệu quả, chính phủ Thái Lan đã có chính sách khuyến khích mạnh các nguồn vốn trong nước cùng tham gia đầu tư với các dự án có vốn FDI
Sau khủng hoảng tài chính-tiền tệ 1997, Thái Lan đã điều chỉnh chính sách trong việc thu hút FDI Bộ luật khuyến khích đầu tư đã quy định chống quốc hữu hóa và độc quyền nhà nước, các nhà ĐTNN được giao quyền sở hữu đất đai, được phép nhập cảnh cư trú và được chuyển ngoại tệ ra nước ngoài một cách thuận lợi Vừa qua Thái Lan đã xây dựng chiến lược thu hút ĐTNN mới với 9 biện pháp chủ yếu như:
-Giải quyết và loại bỏ các trở ngại nhằm tạo môi trường đầu tư thực sự lành mạnh, khuyến khích và phối hợp đầu tư phát triển hạ tầng cơ sở
-Chủ động áp dụng các biện pháp khuyến khích đầu tư, phát triển các ngành như công nghiệp phục vụ nông nghiệp, chế biến nông sản; sản xuất ôtô; công nghệ thông tin-viễn thông…
-Tăng cường xây dựng mạng lưới đầu tư rộng khắp, trong đó có việc thiết lập quan hệ hợp tác trực tiếp cấp tỉnh giữa Thái Lan với nước ngoài, xây dựng quan hệ hợp tác đầu tư với các ngân hàng, tập đoàn tài chính lớn…
-Nâng cao trình độ hiểu biết về luật liên quan đến lĩnh vực đầu tư quốc tế nhằm chủ động có đối sách đối với mọi biến động
-Nâng cao năng lực quản lý trong công tác khuyến khích đầu tư; tăng cường hiệu quả và mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ khép kín, giảm trung gian, loại bớt trở ngại cho nhà ĐTNN
-Hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp Thái Lan thông qua khuyến khích hợp tác sản xuất giữa các công ty lớn với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong và ngoài nước để phát huy lợi thế của các doanh nghiệp và tăng cường hoạt động chuyển giao công nghệ
Trang 18-Thực hiện các biện pháp hỗ trợ tài chính, thông tin thị trường giúp các doanh nghiệp Thái Lan có khả năng sản xuất, xuất khẩu và cung cấp dịch vụ đầu tư đạt tiêu chuẩn quốc tế
-Nâng cao phương tiện thiết bị làm việc, tin học hóa phục vụ hệ thống thông tin một cửa, áp dụng công nghệ thông tin trong cung cấp dịch vụ đầu tư; thành lập ngân hàng cơ sở dữ liệu về đầu tư
-Chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực: tổ chức đào tạo và đào tạo lại từ cấp lãnh đạo quản lý cho tới cán bộ, nhân viên nhằm nâng cao tay nghề và năng lực tổng hợp, phân tích dữ liệu, cung cấp dịch vụ, kỹ năng sử dụng công nghệ mới…
Để thực hiện chiến lược thu hút đầu tư trên đây Thái Lan đã thành lập cơ quan chuyên trách về đầu tư của chính phủ do Thủ tướng làm chủ nhiệm (Hội đồng đầu tư-BOI) có trách nhiệm thúc đẩy việc thực thi Bộ luật khuyến khích đầu tư và định hướng chính sách tổng thể phù hợp với nội dung của chiến lược
1.5 KINH NGHIỆM THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA MỘT SỐ TỈNH, THÀNH PHỐ TRONG NƯỚC :
1.5.1.Kinh nghiệm của tỉnh Bình Dương:
Bình Dương được các nhà ĐTNN đánh giá là tỉnh có cơ chế, chính sách và thủ tục cấp phép đầu tư thông thoáng Trước đây mỗi dự án cấp phép phải mất 30 ngày thẩm định, sau đó rút ngắn xuống còn 15 ngày, rồi 7 ngày và hiện tại chỉ còn
3 ngày Thậm chí có những dự án được cấp phép trong ngày, sau khi có ý kiến thỏa thuận của các Bộ, ngành Trung ương và phù hợp với quy định của Chính phủ phân cấp cho tỉnh cấp phép với những dự án dưới 5 triệu USD, riêng Ban quản lý KCN Việt Nam – Singapore được uỷ quyền cấp phép đến 40 triệu USD/dự án
Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ban hành quy chế về trình tự, thủ tục cấp phép đầu
tư và các biện pháp hỗ trợ nhà đầu tư sau cấp phép Các khâu thủ tục hành chính
“hậu” cấp phép thuộc thẩm quyền của các sở, ngành trên địa bàn và mức thời gian được quy định cụ thể là: cấp mã số thuế không quá 7 ngày; mã số hải quan 7 ngày; xác nhận kế hoạch xuất-nhập khẩu 7 ngày; thủ tục thiết kế, xây dựng 10 ngày; các quy trình đo đạc lập bản đồ địa chính, cấp sổ đỏ trong 20 ngày, thủ tục khắc con dấu tối đa 4 ngày…
Định kỳ, lãnh đạo UBND tỉnh sắp xếp chương trình đến làm việc với doanh nghiệp, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, giúp doanh nghiệp yên tâm
Trang 19trong quá trình sản xuất, kinh doanh Để tạo niềm tin cho các doanh nghiệp, UBND tỉnh đã quan tâm chỉ đạo, cố gắng cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, đặc biệt thực hiện cơ chế “một cửa” Do đó, công tác xúc tiến thẩm định và quản lý dự án sau cấp phép trong các năm qua đã có những cải cách đáng kể về thời gian cũng như trình tự, thủ tục Các sở, ngành (trong đó có Cục Hải quan Bình Dương) luôn tạo điều kiện cho các nhà đầu tư triển khai dự án sớm nhất và giảm thiểu mọi phiền hà thủ tục hành chính
Ngoài việc không ngừng cải tiến môi trường đầu tư, lợi thế về vị trí địa lý (nằm tiếp giáp với thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu…) đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp giao lưu với nhau về kinh tế, văn hoá, khoa học, kỹ thuật Đặc biệt trong 6 năm qua, kể từ khi tái lập tỉnh Bình Dương đã tập trung mọi nguồn lực tài chính từ ngân sách nhà nước, vốn doanh nghiệp để đầu tư phát triển hệ thống giao thông (dưới các hình thức BOT,BT )
Tính đến năm 2003, tổng số dự án ĐTNN đã thu hút được trên địa bàn tỉnh Bình Dương là 668 dự án với tổng số vốn đầu tư là 3,18 tỷ USD Toàn tỉnh hiện có
9 KCN đang hoạt động với diện tích 1.800 ha, trong đó gồm 327 doanh nghiệp ĐTNN và 119 doanh nghiệp trong nước đang hoạt động, tỷ lệ diện tích cho thuê đất
ở các KCN bình quân khoảng 60%
Qua đó cho thấy, FDI là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ (theo thống kê 97% dự án FDI vào lĩnh vực công nghiệp ) Đến nay cơ cấu kinh tế của tỉnh là công nghiệp 60,6%, dịch vụ 25,6%, nông nghiệp 13,5% Hơn 3 tỷ USD nguồn vốn FDI (tương đương với hơn 45.000 tỷ đồng) ở tỉnh Bình Dương là nguồn vốn lớn, góp phần đáng kể bổ sung nguồn vốn đầu tư cho địa phương Đồng thời, FDI góp phần tạo công ăn việc làm thường xuyên cho hơn 265.000 lao động, tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 35%, thu hút FDI đạt 300 triệu USD, tổng thu mới ngân sách tăng 8%
1.5.2.Kinh nghiệm của tỉnh Đồng Nai đầu tàu về xây dựng các KCN :
Trước năm 1975, Biên Hòa 1 là KCN duy nhất của miền Nam Nhưng sau khi có đường lối đổi mới của Đảng, đặc biệt từ năm 1992 tới nay, Đồng Nai đã xây dựng và phát triển nhanh cả về số lượng lẫn chất lượng với 15 KCN, đã cho thuê được 1.851 ha đất, đạt gần 56% tổng diện tích đất dùng cho thuê; thu hút được :629
Trang 20dự án đầu tư trong nước và 448 dự án FDI đi vào hoạt động, giải quyết việc làm cho hơn 160.000 người Các KCN ở Đồng Nai thu hút khoảng 80% dự án ĐTNN và chiếm khoảng 90% tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn Đồng Nai Riêng năm
2004, các doanh nghiệp trong KCN Đồng Nai ước thực hiện doanh thu khoảng 4,2 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu 1,9 tỷ USD Sở dĩ có được xây dựng và phát triển thành công các KCN như vậy là nhờ tỉnh Đồng Nai đã có một tầm nhìn và định hướng chiến lược đúng đắn trong việc nắm bắt thời cơ mở cửa cùng với việc xác định địa thế và giao thông thuận lợi đã nhanh chóng triển khai công tác quy hoạch, sớm tìm ra hướng đi thích hợp trong bối cảnh mô hình về KCN ở nước ta lúc bấy giờ còn quá mới mẻ
Tuy đạt được những kết quả trên nhưng cũng nhiều thách thức mới trên con đường công nghiệp hóa của Đồng Nai; Là do phát triển nhanh các KCN nên Đồng Nai đã và đang đối diện với những thách thức mới như: phát triển các dịch vụ phục vụ cho việc phát triển các KCN không theo kịp với nhịp độ tăng tốc; hạ tầng ngoài hàng rào KCN chưa tương xứng; chưa có các dịch vụ phúc lợi cho người lao động như nhà ở, nơi vui chơi văn hóa Công tác quy hoạch cũng không theo kịp nên nhiều KCN gặp khó khăn trong việc đền bù, giải phóng mặt bằng giao cho nhà đầu tư; trong nội bộ các KCN cũng chưa có sự quy hoạch phân chia ngành nghề rõ ràng nên đa số các KCN trở thành KCN đa ngành; công ty kinh doanh hạ tầng nào cũng
lo lấp đầy diện tích nên không có sự kén chọn dự án Chất lượng xây dựng cơ sở hạ tầng ở mỗi KCN cũng có sự khác nhau do tuỳ thuộc vào vốn của công ty kinh doanh hạ tầng, do vậy không ít KCN chưa có hệ thống xử lý nước thải chung Nhiều nhà đầu tư còn phàn nàn về tình trạng cung cấp điện không ổn định, thông tin liên lạc chưa tốt, hệ thống giao thông chật chội, nguồn nhân lực đã thiếu lại yếu về tay nghề kỹ thuật…
1.5.3 Kinh nghiệm Thủ đô Hà Nội trong việc đẩy mạnh thu hút vốn FDI: Đến
nay đã có 601 dự án đã được cấp giấy phép đầu tư, với tổng số vốn đầu tư đăng ký là hơn 9,1 tỷ USD , trong đó gồm 345 dự án liên doanh, 227 dự án 100% vốn nước ngoài, 29 dự án hợp doanh Có 5 KCN tập trung, diện tích 784 ha và số vốn đầu tư cho hạ tầng cơ sở khoảng trên 250 triệu USD Nguồn vốn FDI đã góp phần quan trọng trong việc dịch chuyển cơ cấu kinh tế Hà Nội Có được những thành quả như
Trang 21vậy là nhờ Hà Nội đã và đang triển khai hệ thống các giải pháp trong đó tập trung theo hướng sau:
-Nâng cao chất lượng quy hoạch đầu tư: để tránh tình trạng đầu tư dàn trải, đầu tư theo phong trào làm lãng phí nguồn lực, giảm hiệu quả các dự án FDI, làm giảm lòng tin của nhà ĐTNN thì khi đưa ra định hướng và giải pháp thu hút vốn FDI phải gắn chặt với quy hoạch phát triển các ngành, các vùng lãnh thổ và đặt trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, khai thác những tiềm năng và lợi thế so sánh của Hà Nội, nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả của nền kinh tế
-Phát triển đồng bộ, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng kỹ thuật:Dành một nguồn ngân sách nhà nước cho việc xây dựng hạ tầng ngoài hàng rào KCN Cho phép vay
ưu đãi vào các công trình trọng điểm Ngoài ra, còn khuyến khích tư nhân đầu tư vốn vào phát triển cơ sở hạ tầng trong KCN Aùp dụng BOT, BTO, BT vào các dự án, địa bàn trọng điểm
-Mở rộng tự do hoá đầu tư và tăng cường xúc tiến vận động đầu tư :
+Khuyến khích các thành phần kinh tế trong nước hợp tác đầu tư với nước ngoài thành lập công ty cổ phần trong nước có vốn FDI
+Cho phép doanh nghiệp có vốn FDI được phép phát hành cổ phiếu, trái phiếu để mở rộng quy mô đầu tư Một số tập đoàn có nhiều dự án đầu tư được phép thành lập công ty quản lý vốn để điều hành chung và hỗ trợ các dự án đã đầu tư
+Cho phép các nhà ĐTNN được phép: thuê đất để xây dựng nhà ở cho thuê hoặc bán cho người nước ngoài; kinh doanh rộng rãi hơn trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, nhất là bảo hiểm, ngân hàng và một số lĩnh vực dịch vụ khác; lựa chọn hình thức đầu tư, đối tác đầu tư, ngành nghề và địa điểm đầu tư
+Xử lý linh hoạt việc chuyển đổi các hình thức đầu tư Xem xét linh hoạt hơn việc chuyển đổi hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đối với các dự án sử dụng công nghệ cao, xuất khẩu phần lớn sản phẩm, xây dựng hạ tầng KCN ở nơi khó khăn về kinh tế, xem xét việc cho phép dự án quảng cáo theo hình thức liên doanh
+Gắn công tác vận động, xúc tiến đầu tư với chương trình dự án, đối tác, địa bàn cụ thể Bộ, ngành, UBND phải có trách nhiệm hướng dẫn các nhà đầu tư trong khâu tìm hiểu, chuẩn bị dự án, xem xét cấp giấy phép và triển khai
Trang 22+Nhanh chóng xây dựng danh mục kêu gọi FDI với chất lượng cao, từng dự án cần được mô tả khái quát về nội dung, sản phẩm, địa điểm, khả năng thị trường, dự kiến vốn đầu tư, thời gian triển khai dự án, đối tác trong nước để các nhà ĐTNN nghiên cứu các thông tin này có thể ra quyết định đầu tư
+Tích cực cung cấp thông tin đầu tư như in ấn tài liệu giới thiệu các chính sách, các ưu đãi, các điều kiện kết cấu hạ tầng kỹ thuật, giá thuê đất, giá điện, nước ở Hà Nội để các doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài nghiên cứu, so sánh và dễ dàng hơn trong việc ra quyết định thành lập dự án FDI, nên cung cấp miễn phí tài liệu này cho họ
+Xây dựng nội dung trên mạng Internet (trang Web Hà Nội), các tạp chí quốc tế, các dự án, các công trình, chính sách kêu gọi FDI vào Hà Nội để các doanh nghiệp, tư nhân nước ngoài, các tổ chức Việt kiều danh mục các dự án FDI cần thu hút đầu tư Tổ chức các kỳ hội nghị với các doanh nghiệp nước ngoài, các nhà tài trợ, các cuộc họp mặt, tiếp xúc với nhà đầu tư để giới thiệu cơ hội đầu tư và lắng nghe ý kiến của họ để sửa đổi chính sách cho phù hợp với thực tế
Các đoàn công tác từ thành phố đến các sở, ban, ngành khi đi công tác nước ngoài cần được giao nhiệm vụ giới thiệu các cơ hội đầu tư ở Hà Nội, đồng thời thu thập thông tin về thị trường nước ngoài để cung cấp cho doanh nghiệp Việt Nam
-Tăng cường hoạt động của đường dây nóng ở Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội, trả lời miễn phí các câu hỏi của các doanh nghiệp nước ngoài có ý định đầu tư tạo niềm tin và cơ hội cho các nhà ĐTNN
-Tạo điều kiện thuận lợi và đơn giản thủ tục mở văn phòng đại diện, mở chi nhánh của các công ty nước ngoài hoạt động ở Hà Nội Thường xuyên tổ chức các hội nghị văn phòng đại diện nước ngoài để nắm bắt những thuận lợi và khó khăn của các doanh nghiệp FDI, từ đó tìm ra hướng giải quyết
Đồng thời, chuyển mạnh hướng thu hút vốn đầu tư sang các công ty, tập đoàn của Liên minh châu Aâu (EU), Bắc Mỹ, Nhật Bản nhằm tranh thủ công nghệ, kỹ thuật hiện đại để nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Tăng cường khai thác những lĩnh vực mà họ có thế mạnh: điện tử, viễn thông, điện, cơ khí, hóa chất, công nghệ thông tin, xử lý môi trường… Tiếp tục thu hút vốn đầu tư của các nước và vùng lãnh thổ trong khu vực như Hồng Kông, Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc, đối với các dự án mà họ có thế mạnh
Trang 23-Xúc tiến môi giới thành lập doanh nghiệp liên doanh thông qua hệ thống ngân hàng, các tổ chức tư vấn pháp luật, các hãng chuyên môn kỹ thuật, cung cấp thông tin và tạo ra tiền đề ban đầu cho các nhà ĐTNN Trong trường hợp xảy ra, các công tác này phải chịu trách nhiệm đối với phần công việc của mình
1.5.4 Kinh nghiệm Vĩnh Phúc về cải thiện môi trường đầu tư – ưu đãi mời gọi đối tác:
Một trong những lĩnh vực mà Vĩnh Phúc quan tâm hiện nay là xã hội khu đô thị mới Chính sách ưu đãi ở Vĩnh Phúc không thực hiện thống nhất trên toàn bộ địa bàn, có nghĩa là ngay từ khi có hướng kêu gọi các đối tác đầu tư vào những vùng nông thôn, vùng khó khăn thì sẽ được ưu đãi hơn những vùng thuận lợi Đây cũng chính là hình thức đưa dự án về nông thôn có thể sử dụng được nguồn lao động tại chỗ Việc làm này đảm bảo cho những người dù phải làm ở nhà máy xí nghiệp nhưng vẫn có điều kiện sinh hoạt tại nhà riêng, không phải thuê trọ
Cụ thể là: các chế độ ưu đãi FDI vào KCN sẽ được miễn tiền thuê đất, hỗ trợ đền bù, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ tiền vay, hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề cho lao động của tỉnh, hỗ trợ xây dựng kết cấu hạ tầng, thủ tục hành chính Chẳng hạn: dự án đầu tư vào lĩnh vực sản xuất tại địa bàn huyện Lập Thạch và các xã miền núi của các huyện Tam Dương, Mê Linh, Bình Xuyên được miễn thêm 8 năm Đầu tư vào các KCN, cụm công nghiệp và các địa bàn khác được miễn thêm 5 năm
Các dự án thỏa mãn một trong các điều kiện sau đây được miễn 100% tiền thuê đất:
-Đầu tư cho khu chung cư cao tầng (từ 3 tầng trở lên) để cho thuê, phục vụ KCN, cụm công nghiệp
-Đầu tư xây dựng các công trình văn hóa, thể thao, vui chơi, giải trí phục vụ nhân dân
-Đầu tư chế biến nông sản , thực phẩm sử dụng trên 30% nguồn nguyên liệu tại Vĩnh Phúc
Chính nhờ có chính sách thu hút như đã nêu trên nên tính đến nay Vĩnh Phúc đã thu hút được 276 dự án FDI với tổng số vốn 13.762 tỷ đồng, thu ngân sách ở năm 2003 đạt trên 1.700 tỷ đồng, GDP hàng năm bình quân tăng trưởng trên 15% cao hơn nhiều mức bình quân chung cả nước, riêng năm 2003 GDP tăng 17%
Trang 241.5.5 Kinh nghiệm Đà Nẵng trong việc phát huy vai trò“đầu tàu” trong việc thu hút FDI cho vùng kinh tế trọng điểm miền Trung:
Trong gần 20 năm thực hiện chính sách đổi mới, thành phố Đà Nẵng đã vượt qua nhiều khó khăn, khai thác tiềm năng, lợi thế, huy động nội lực, tranh thủ các nguồn ngoại lực bên ngoài để xây dựng và phát triển thành phố xứng tầm là đô thị loại 1 cấp quốc gia duy nhất ở khu vực miền Trung Năm 2004, thành phố Đà Nẵng đã ban hành hàng loạt các cơ chế chính sách mời gọi đầu tư như Quyết định số 50/2004/QĐ-UB về việc ban hành một số chính sách ưu đãi nhằm thu hút FDI trên địa bàn thành phố; Quyết định số 02/2004/QĐ-UB về việc ban hành quy chế xét thưởng khuyến khích xuất khẩu…đây được coi là tiền đề để Đà Nẵng có những bước đột phá trong việc thu hút FDI trong những năm tiếp theo Tính đến hết quý I năm 2005 Đà Nẵng đã thu hút được 70 dự án FDI với tổng số vốn đầu tư là 447.894.240 USD, số vốn thực hiện là 156.827.502 USD Trong đó: 23 doanh nghiệp liên doanh, 39 doanh nghiệp 100% vốn FDI, 3 hợp đồng hợp tác kinh doanh và 5 chi nhánh sản xuất Một nửa số dự án FDI được đầu tư trong KCN Và có 19 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp vào Đà Nẵng FDI đã góp phần tạo việc làm cho 22.000 lao động và 10.000 lao động gián tiếp với thu nhập cao hơn mặt bằng chung của thành phố
Nếu so sánh với tình hình FDI của các tỉnh, thành phố như : Bình Dương, Đồng Nai, Hà Nội, Vĩnh Phúc thì kết quả thu hút vốn đầu tư của Đà Nẵng đại diện cho khu vực miền Trung còn khá khiêm tốn
Có thể kết luận rằng, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tập trung ở hai đầu của đất nước với những nơi có điều kiện kinh tế – xã hội đầy thuận lợi
1.6 BÀI HỌC KINH NGHIỆM THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI ĐỐI VỚI VIỆT NAM NÓI CHUNG VÀ TỈNH BÌNH THUẬN NÓI RIÊNG:
Từ những thành công và những bước tiến mới về cơ chế, chính sách và giải pháp của các nước trong khu vực, từ thực tiễn của một số tỉnh thành trong nước nói trên có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm chung cho cả nước và riêng cho Bình Thuận chủ yếu những vấn đề sau:
Trang 25* Thống nhất nhận thức về vị trí, vai trò quan trọng của FDI trong nền kinh tế phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước, trên cơ sở đó có các chủ trương, chính sách và các giải pháp tổ chức, thực hiện tập trung thống nhất, đồng bộ
*Tăng cường mở rộng địa bàn, lĩnh vực và đối tác đầu tư, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các nhà ĐTNN (Trung Quốc khi vào WTO đã mở cửa cho FDI vào các lĩnh vực nhạy cảm như bưu chính viễn thông, bảo hiểm, tài chính-ngân hàng, kinh doanh bán buôn bán lẻ, phân phối xuất nhập khẩu…)
*Không ngừng bổ sung, sửa đổi kịp thời các cơ chế, chính sách ưu đãi giảm nhanh chi phí đầu tư và cải tiến mạnh mẽ các thủ tục hành chính để tạo sự hấp dẫn cho các nhà đầu tư (Trung Quốc đã thực hiện giảm nhanh cước phí bưu chính viễn thông, giá điện, giá vận tải, giá thuê đất…)
*Đa dạng hóa các hình thức đầu tư, các đối tác đầu tư nhằm tạo điều kiện thu hút ngày càng nhiều hơn FDI (Trung Quốc đã tăng dần tỷ trọng của các nhà đầu tư từ Mỹ, EU, Nhật Bản, đồng thời tranh thủ đầu tư của Hoa kiều từ Hồng Kông, Đài Loan và các nước trong khu vực)
*Giải quyết tốt mối quan hệ lợi ích giữa nhà đầu tư, doanh nghiệp trong nước và nhà đầu tư, doanh nghiệp nước ngoài(Trung Quốc và các nước trong khu vực đã xây dựng luật đầu tư thống nhất giữa đầu tư trong nước và ĐTNN, giữa các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân)
*Tổ chức và thực hiện tốt công tác xúc tiến đầu tư với các hình thức đa dạng như quảng cáo, tuyên truyền, chủ động kêu gọi các nhà đầu tư ; tạo điều kiện cho việc kêu gọi các nhà ĐTNN có hiệu quả (Nhiều nước đã có tổ chức xúc tiến đầu tư thống nhất từ trung ương đến địa phương và có các cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài)
* Trong chiến lược thu hút các nhà đầu tư lớn của các nước, nên bắt đầu bằng việc thu hút các nhà đầu tư có quan hệ mật thiết trong lịch sử, có những nét tương đồng về văn hoá
Thực tế cho thấy, không chỉ Malaysia mà các nước khác trong khu vực đều đã tiến hành thực hiện ưu tiên thu hút đầu tư và chuyển giao công nghệ từ phía Nhật Bản, Hàn Quốc- những nước vừa có vị trí địa lý khá gần gũi lại vừa có những nét tương đồng về văn hoá- từ đó tạo cơ sở vững chắc cho việc mở rộng chính sách hướng tới các nhà đầu tư Châu Âu và Bắc Mỹ Ngoài chính sách thu hút FDI của
Trang 26Hoa Kiều, Trung Quốc cũng thực hiện chiến lược thu hút FDI ở tất cả các quốc gia trên thế giới và cụ thể hoá bằng các chính sách khuyến khích, thúc đẩy mạnh mẽ các nhà ĐTNN thành lập trung tâm nghiên cứu hay thu hút đầu tư của các công ty
đa quốc gia hàng đầu thế giới trong lĩnh vực công nghệ
*Thu hút FDI của các nước thì phải gắn liền với quá trình đào tạo và phát
triển nguồn nhân lực:
Để thu hút FDI vào các ngành công nghệ có hiệu quả nhất thiết phải có một đội ngũ nhân viên có tay nghề cao, có ý thức và tác phong công nghiệp Ở Trung Quốc, Singapore điều này được thực hiện thông qua các hình thức khuyến khích các công ty nước ngoài đào tạo nhân lực, kết hợp giữa các tổ chức đào tạo trong nước với các tổ chức đào tạo của các nước hay của các công ty nước ngoài Nhiều công ty xuyên quốc gia như Siemen, Motorola, Ericson đã lập các trường đại học hay cao đẳng kỹ thuật để đào tạo nguồn nhân lực cho Trung Quốc
*Cơ sở hạ tầng phát triển cũng là nhân tố quan trọng thu hút mạnh FDI : Các nước như Singapore, Malaysia, Trung Quốc và Thái Lan rất chú trọng phát triển cơ sở hạ tầng hiện đại ở các khu công nghệ cao với mục đích đạt trình độ phù hợp đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư lớn Trong đó có thể nói Singapore và Malaysia có một cơ sở hạ tầng mà các nước láng giềng khó có thể so sánh được Các nước Trung Quốc, Thái Lan đều là những nước có cơ sở hạ tầng tốt hơn Việt Nam Đây chính là một trong những nhân tố tác động khiến FDI vào Việt Nam trong những năm qua không đạt nhiều thành công như các nước này
Trang 27CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI TỈNH BÌNH THUẬN
2.1 GIỚI THIỆU VỀ TIỀM NĂNG CỦA TỈNH BÌNH THUẬN
Tỉnh Bình Thuận thuộc vùng kinh tế Đông Nam Bộ, nằm trong địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam, phía Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng và Ninh Thuận, phía Tây giáp tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa –Vũng Tàu, phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông Bình Thuận cách Tp HCM 200km, nằm trên các tuyến đường giao thông chính ( quốc lộ 1 A , và có tuyến đường sắt Bắc - Nam ) nên khá thuận lợi trong việc phát triển kinh tế và cũng như giao lưu kinh tế , tiếp thu công nghệ , khoa học – kỹ thuật với các vùng khác
Ngoài vị trí địa lý khá thuận lợi; Bình Thuận với diện tích tự nhiên 7.854
km2 Hơn nữa còn có đấát đai, rừng, biển, khoáng sản, cảnh quan du lịch, chỉ mới khai thác một phần, vẫn còn tiềm năng khá lớn cùng với giá thuê đất và nhân công rẻ là các lợi thế quan trọng để thu hút đầu tư
2.1.1.Tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên:
- TThủy sản : Biển Bình Thuận là một trong ba ngư trường lớn nhất cả nước,
với vùng biển rộng 52.000 km , trữ lượng hải sản trên 250.000 tấn Toàn tỉnh có trên 6.000 tàu thuyền với tổng công suất trên 230.000 CV, sản lượng hải sản khai thác hàng năm đạt trên 130.000 tấn
2
- Nông - Lâm nghiệp: Bình Thuận có đồi cát và cồn cát ven biển, có gò đồi
và vùng núi thấp, khí hậu thuận lợi cho nhiều loại cây trồng nhiệt đới, phát triển rừng và chăn nuôi, với tổng diện tích là 400.000 ha rừng và đất lâm nghiệp Theo qui hoạch, trên địa bàn tỉnh Bình Thuận sẽ hình thành các vùng cây trồng chuyên canh như : Bông vải 45.000 ha, mì 20.000 ha, bắp lai 10.000 ha, mía 8.000 ha, điều 30.000 ha, cao su 25.000 ha, thanh long 15.000 ha, nho 2.000 ha,
- Khoáng sản : có nhiều loại với trữ lượng lớn , đáng chú ý là một số mỏ
nước khoáng có giá trị phục vụ tiêu dùng và chữa bệnh như Nước khoáng Vĩnh Hảo, Đa Kai, Văn Lâm Cát thủy tinh có 4 mỏ lớn tại Hàm Thuận Bắc , Bắc Bình và Hàm Tân trữ lượng trên 500 triệu m3 ; Đá Granit có trữ lượng rất lớn , phân bổ
Trang 28khắp nơi Sét Bentonit dùng trong công nghiệp hoá chất và khai thác dầu mỏ, trữ
lượng khoảng 20 triệu tấn
- Du lịch : Bờ biển Bình Thuận dài 192km, có khí hậu quanh năm nắng ấm,
nhiều bãi biển sạch đẹp, cảnh quan tự nhiên, có nhiều núi non, hồ thác, sông suối
đẹp như Núi Takou, Núi Ông- Biển Lạc, Thác Bà, Thác Reo, Hồ sông Quao, Hồ
Hàm Thuận- Đa Mi… có thể phát triển các loại hình du lịch dã ngoại, du lịch sinh
thái kết hợp với tham quan nghiên cứu tự nhiên, gần địa điểm giao thông thuận lợi
Tại các khu vực như Phan Thiết, Hàm Tân, Tuy Phong đã và đang hình thành các
quần thể du lịch - nghỉ mát - thể thao - leo núi - du thuyền - câu cá - sân golf - nghỉ
dưỡng - chữa bệnh, khu vui chơi giải trí
2.1.2 Dân số và lao động:
Dân số Bình Thuận có cơ cấu tuổi khá trẻ Theo thống kê của Sở Lao động
thương binh và xã hội tỉnh Bình Thuận đến cuối năm 2004 khoảng 1.140.170 người
Cụ thể xem bảng 2.1
Bảng 2.1: TÌNH HÌNH DÂN SỐ TỈNH BÌNH THUẬN PHÂN THEO NHÓM TUỔI
Nhóm tuổi Số lượng(người) Cơ cấu (%)
-Nhỏ hơn 15 tuổi
-Từ 15 đến 59 tuổi
-Từ 60 tuổi trở lên
366.615 652.864 120.691
32,15 57,26 10,59
Nguồn : Sở Lao động thương binh – xã hội Bình Thuận (Tính đến 31/12/2004)
Qua bảng 2.1 ta nhận thấy, số lượng trong nhóm tuổi chưa đến tuổi lao động
là 366.615 người chiếm hơn 32,15% dân số toàn tỉnh Điều này cho thấy cơ cấu dân
số tỉnh Bình Thuận là khá trẻ, khả năng cung cấp nguồn lực lao động trong tương
lai khá lớn và dồi dào
Để đánh giá thêm về tình hình lao động được thu hút vào làm việc tại khu
vực FDI chúng ta xem bảng 2.2
Trang 29Bảng 2.2: TÌNH HÌNH DÂN SỐ TRONG ĐỘ TUỔI LAO ĐỘNG PHÂN THEO
TÌNH TRẠNG LAO ĐỘNG CỦA TỈNH BÌNH THUẬN
TT Khoản mục Số lượng (người) Cơ cấu (%)
1 Dân số hoạt động kinh tế (lực lượng lao động) 590.644 90,47
- Đang làm việc trong các ngành kinh tế 526.000 80,57
- Nội trợ và có việc làm tạm thời 37.644 5,766
2 Dân số không hoạt động kinh tế (đi học) 62.220 9,53
Nguồn : Sở lao động thương binh – xã hội Bình Thuận(Tính đến 31/12/2004)
Qua bảng trên ta nhận thấy, trong số dân ở độ tuổi lao động thì ở khu vực FDI mới chỉ thu hút 0,216% lực lượng lao động Trong khi đó, số người chưa tham gia vào thị trường lao động của Tỉnh là 126.864 người, chiếm 19,4% (chưa kể đến số người mất khả năng lao động) trong tổng số lực lượng lao động toàn Tỉnh Cho thấy nguồn cung cấp lao động cho khu vực FDI còn rất phong phú và đa dạng Tuy nhiên, lực lượng lao động này có đủ chất lượng để đáp ứng thị trường lao động nói chung cũng như trong khu vực FDI nói riêng hay không cũng còn là vấn đề cần được xem xét kỹ
2.2 THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI TỈNH BÌNH THUẬN ĐẾN HẾT THÁNG 12/2004:
2.2.1.Tình hình số dự án được cấp phép, thu hồi, điều chỉnh vốn:
Từ khi Luật Đầu tư nước ngoài được ban hành vào năm 1987, Trung ương đã chỉ định cho tất cả các tỉnh, thành trong cả nước thực hiện mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài và Bình Thuận cũng không nằm ngoài số ấy Tuy nhiên, Bình Thuận chỉ thực sự mở cửa thông thoáng kể từ năm 1993
Năm 1993, là năm tỉnh Bình Thuận khởi đầu hoạt động hợp tác đầu tư trực tiếp nước ngoài với 2 dự án của các nhà đầu tư Hoa Kỳ: Dự án thành lập Công ty liên doanh du lịch Phan Thiết giữa Cty du lịch Bình Thuận với Cty Orton International-Hồng Kông để cải tạo nâng cấp khách sạn Vĩnh Thủy tại Phan Thiết thành khách sạn tiêu chuẩn quốc tế 4 sao (Novotel) và dự án thành lập Cty Golf và câu lạc bộ golf Phan Thiết để xây dựng 1 sân golf 18 lổ tiêu chuẩn quốc tế đầu tiên
Trang 30của khu vực miền Trung Việt Nam; từ các dự án được cấp giấy phép đầu tư này đã chính thức mở ra mối quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế tại tỉnh Bình Thuận
Tính đến 31/12/2004 đã thu hút 41 dự án ĐTNN, bình quân mỗi năm thu hút khoảng 3,4 dự án, tuy nhiên cũng trong thời gian này đã có 5 dự án bị rút giấy phép đầu tư trước thời hạn, trong số này có 3 dự án đã bị rút Giấy phép đầu tư là Cty liên doanh chế biến hải sản HWABICO (vốn đầu tư 1,0 triệu USD-là dự án liên doanh giữa Cty Thaimex và Cty MEIHWA-Hàn Quốc), dự án liên doanh chế biến gỗ Bình Thuận-Boi (vốn đầu tư 1 triệu USD-là liên doanh giữa Cty Lâm sản Bình Thuận và Cty InvestBois-Pháp), dự án Hợp tác kinh doanh khai thác chế biến đá xây dựng Tàzôn 6 (giữa Cty công trình giao thông 610 và Cty World Kaihatsu Kogyo-Nhật Bản) cùng 2 dự án đã có giấy phép nhưng Chủ đầu tư không triển khai thực hiện là dự án nuôi tôm Puree Farming của tập đoàn Galore (Đài loan- vốn đầu tư 7 triệu USD) và dự án sản xuất Bắp giống của Cty Cargill (Hoa Kỳ-vốn đăng ký 0,7 triệu USD) Số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài còn hiệu lực trên địa bàn tỉnh Bình Thuận là 36 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký là 148,2613 triệu USD và tổng vốn pháp định là 57,6054 triệu USD
Bảng 2.3 : TÌNH HÌNH CẤP PHÉP VÀ VỐN FDI TẠI BÌNH THUẬN
(Tính tới 31/12/2004 – chỉ tính các dự án còn hiệu lực)
Giai đoạn Số dự án
(cái)
Vốn đầu tư đăng ký (triệu USD)
Vốn bình quân (triệu USD/cái)
6,7634 1,1 1,19243 5,28
(Nguồn : Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Thuận )
Qua bảng 2.3 ta nhận thấy rằng việc thu hút đầu tư nước ngoài trên địa bàn Tỉnh trong mấy năm gần đây đã có nhiều chuyển biến và khởi sắc hơn, được thể hiện qua từng giai đoạn sau:
- Giai đoạn 1993 – 1995: Bình Thuận xem đây là giai đoạn khởi động vừa
phải với tổng số dự án là 5, và tổng số vốn đầu tư 33,817 triệu USD, nhưng đã có đến 4 dự án đầu tư cho ngành du lịch ( khởi đầu là Cty Khu nghỉ mát Phan Thiết,
Trang 31kế đến là Cty Golf và CLB Golf, Cty làng nghỉ mát Hàm Tiến, Cty làng du lịch Phan Thiết-Victoria) – vốn dĩ du lịch là tiềm năng của Tỉnh Xét về đối tác đầu tư thì thu hút từ Mỹ có 2 dự án vào Bình Thuận.Và cũng nói lên một điều rằng, ngay sau khi áp dụng Luật đầu tư nước ngoài cùng với việc xoá bỏ lệnh cấm vận của Mỹ đối với Việt Nam đã khuyến khích cho các nhà đầu tư bỏ vốn vào Việt Nam
- Giai đoạn 1996 – 1999 : chỉ thu hút được 2 dự án và tổng số vốn đầu tư là
2,2 triệu USD so với giai đoạn 1993-1995 giảm 3 dự án, giảm vốn đầu tư 31,617 triệu USD tức là giảm khoảng 93,49%; đây là giai đoạn thấp nhất từ trước đến nay Nguyên nhân của tình hình sa sút này là do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính – tiền tệ ở Châu Á và khu vực Hơn nữa, giai đoạn này chủ yếu thu hút đầu tư ở hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài
- Giai đoạn 2000 – 2001 : chỉ trong vòng 2 năm thu hút được tổng vốn đầu tư
là 11,9243 triệu USD với 10 dự án tăng gấp 5 lần so với giai đoạn (1996-1999) Riêng năm 2001 đã thu hút được 7 dự án; có thể nói lên rằng khi Đảng và Nhà nước ta thể hiện quyết tâm cao trong việc đẩy mạnh hoạt động thu hút FDI bằng việc ban hành Nghị quyết số 09/2001/ NQ-CP(ngày 28 tháng 8 năm 2001) “Về tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài thời kỳ 2001-2005”, điều này không chỉ phù hợp với quy luật phát triển chung của nền kinh tế đất nước và kinh tế thế giới mà còn là sự tranh thủ thời cơ cần thiết trước sự phục hồi kinh tế sau thời kỳ khủng hoảng tài chính tiền tệ của khu vực và thế giới
- Giai đoạn 2002 – 2004 : thu hút được 19 dự án và tổng số vốn đầu tư đạt
đến 100,320 triệu USD với một con số đạt được tuy không lớn so với các tỉnh, thành khác trong cả nước nhưng không nhỏ đối với Bình Thuận Có thể xem đây là giai đoạn thành công nhất từ trước đến nay
*Về tổng số vốn thực hiện: cũng tăng đáng kể chủ yếu tập trung ở các
doanh nghiệp sau : Cty liên doanh khoáng sản quốc tế Hải Tinh, Cty du lịch Cát Trắng, Cty làng du lịch Phan Thiết – Victoria, Cty khu nghỉ mát Phan thiết, Cty du lịch lặn biển ScuBa, Cty CPHH VEDAN Việt Nam, Cty TNHH nuôi tôm Bio, Cty TNHH TOMSER, Cty LD Hòa Phú, Cty TNHH du lịch Việt Pháp… Nâng tổng số vốn thực hiện của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN đến tháng 12 năm 2004 là 42,532 triệu USD chiếm 28,69% tổng vốn đăng ký đầu tư
Trang 32*Về cấp GP điều chỉnh: trong năm 2004 có 03 doanh nghiệp xin điều chỉnh
tăng vốn, với vốn tổng điều chỉnh tăng thêm là 1,95 triệu USD: gồm dự án khu du lịch Cát Trắng xin điều chỉnh tăng vốn từ 0,75 triệu USD lên 1,2 triệu USD , dự án khu du lịch Victoria tăng từ 4,5 triệu USD lên 5,5 triệu USD để mở rộng quy mô đầu tư lên thêm 1 ha, dự án nuôi tôm của công ty Việt – Úc xin điều chỉnh tăng vốn từ 0,5 lên 1 triệu USD để đầu tư khu nuôi tôm giống tại Vũng Mú – Tuy Phong
So với cả nước (tính tại thời điểm tháng12/2004), mức độ thu hút vốn FDI của tỉnh Bình Thuận xếp thứ 27 về vốn đầu tư và xếp thứ 17 về số dự án Tuy là một tỉnh nhỏ, các điều kiện cần thiết để thu hút FDI chưa thuận lợi so với nhiều địa phương khác, nhưng vị trí tương đối ở trên đã thể hiện những nổ lực lớn của tỉnh đồng thời phần nào cũng phản ánh được tiềm năng trong thu hút đầu tư nước ngoài tại Bình Thuận
Qua kết quả 12 năm thực hiện chủ trương thu hút vốn FDI vào tỉnh, bình quân hàng năm trên địa bàn tỉnh Bình Thuận có thêm 3 dự án mới được cấp giấy phép đầu tư với vốn đăng ký tăng thêm khoảng 12,35 triệu USD Tuy nhiên trong thực tế số lượng dự án và tổng vốn đầu tư của các dự án còn hiệu lực qua từng năm thường không ổn định, có sự biến động khá lớn Chẳng hạn như có những năm đạt kết quả khả quan và thu hút từ 6-8 dự án (năm 2001,2002,2003), nhưng có những năm chỉ có 1 dự án được cấp giấy phép (các năm 1996,1997,1998), thậm chí có năm không có dự án nào được cấp giấy phép đầu tư (năm 1999) Sự biến động trên thể hiện sự bị động của tỉnh trong công tác thu hút vận động FDI Như vậy, tình hình thu hút ĐTNN tại Tỉnh Bình Thuận trong giai đoạn (1993-2004) tuy trải qua nhiều thăng trầm khác nhau nhưng cũng chứng minh được sự thành công trong công tác này, đặc biệt giai đoạn (2002 – 2004) là đỉnh cao của việc thu hút các dự án cùng nguồn vốn kêu gọi được và sẽ là nguồn động lực to lớn khích lệ sự phát triển hơn nữa cho Bình Thuận trong tương lai
2.2.2 Qui mô thu hút vốn FDI:
Về qui mô thu hút vốn, theo thống kê của Sở Kế hoạch và Đầu tư Bình Thuận đến hết ngày 31/12/2004 Bình Thuận đã có 1 dự án FDI có qui mô vốn trên
40 triệu USD (chiếm 33,73% tổng số vốn FDI được cấp phép còn hiệu lực); 3 dự án FDI có qui mô từ 10-40 triệu USD; 1 dự án có qui mô vốn từ 5 -10 triệu USD và có
Trang 33đến 21 dự án FDI (chiếm 58,33% số dự án ) có qui mô vốn từ 1-5 triệu USD (xem
bảng 2.4)
Bảng 2.4: QUI MÔ THU HÚT VỐN FDI CỦA DỰ ÁN TẠI BÌNH THUẬN
(Tính đến 31/12/2004 – chỉ tính các dự án còn hiệu lực)
Số dự án Vốn FDI Qui mô vốn Tổng số
(cái)
Cơ cấu (%)
Tổng số (triệu USD)
Cơ cấu (%)
-Vốn dưới 1 triệu USD
-Vốn từ 1-5 triệu USD
-Vốn từ 5-10 triệu USD
-Vốn từ 10-40 triệu USD
-Vốn từ 40 -100 triệu USD
5,7343 41,727 5,5 45,3
50
3,87 28,14 3,71 30,55 33,73
(Nguồn: Sở Kế hoạch – Đầu tư tỉnh Bình Thuận và tính toán tổng hợp)
Nếu phân tích theo xu hướng thì số dự án FDI có qui mô dưới 1 triệu USD,
có xu thế tăng dần qua các năm và đạt 10 dự án tính đến hết tháng 12/2004, tuy
chiếm 27,77% tổng số dự án, nhưng chiếm tỷ lệ nhỏ về tổng vốn đầu tư (3,87%)
FDI được cấp phép Bên cạnh việc xây dựng một số công trình có qui mô lớn, có ý
nghĩa then chốt đối với nền kinh tế Bình Thuận Việc gia tăng các doanh nghiệp có
qui mô vừa và nhỏ trong một số lĩnh vực là bước đầu tạo ra hướng đi thích hợp, vừa
sử dụng tiềm năng sẳn có về tài nguyên và nguồn lao động dồi dào, vừa phù hợp
với năng lực tổ chức quản lý, dễ đổi mới thiết bị và phương án sản xuất, dễ thích
nghi với những thay đổi của cơ chế thị trường
2.2.3 Phân theo đối tác, nhóm khu vực đầu tư :
Hiện đang có 14 nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Bình Thuận, gồm : Nhật
Bản, Đài Loan, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Hàn Quốc, Hồng Kông, Hoa Kỳ,
Pháp, Anh, Bỉ, Thụy Sỹ, Luxumbua, Úc Cụ thể xem bảng 2.5
Trang 34Bảng 2.5 : PHÂN CHIA ĐỐI TÁC THEO KHU VỰC ĐẦU TƯ (1993 – 2004)
Khu vực Số đối tác Tên nước Số dự án Vốn đăng ký
(triệu USD)
Tỷ lệ % Vốn đầu tư
Đài Loan Thái Lan Malaysia Singapore Hàn Quốc Hồng Kông
2
3,45 1,72 0,61 0,5 1,35 10,02 1,35
Anh
Bỉ Thụy Sỹ Luxumbua
2
4
6,08 0,81 15,09 1,35 2,7
(Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Thuận)
Nhìn vào bảng 2.5 cho thấy Châu Á là khu vực có nhiều đối tác đầu tư nhất
với 7 quốc gia và tổng vốn đầu tư là 28,16 triệu USD, số dự án là 20, trong số đó
thì chỉ có 3 dự án là các nước nằm trong khu vực ASEAN ( Thái Lan, Malaysia,
Singapore) với số vốn của từng dự án rất ít ỏi Châu Aâu cũng có đến 5 quốc gia đầu
tư vào Bình Thuận với tổng số vốn là 38,6013 triệu USD và nhiều nhất là Bỉ Hơn
nữa, trong tổng số 14 nước đầu tư vào Bình Thuận thì Hàn Quốc là quốc gia có
nhiều dự án đầu tư nhất với 9 dự án chiếm đến 25 % trong tổng số dự án.Tuy nhiên
các dự án của Hàn Quốc chỉ là những dự án nhỏ và vừa với số vốn đầu tư không
đáng kể Trong khi đó, Hoa Kỳ chỉ có 4 dự án nhưng tổng vốn đóng góp rất cao
79,3 triệu USD chiếm 53,49% tổng số vốn đầu tư vào Bình Thuận và có 2 dự án
đang hoạt động rất hiệu quả (Cty khu nghỉ mát Phan Thiết Novotel , Cty Golf và
Trang 35CLB golf) Như vậy có thể xem Hoa Kỳ là đối tác mạnh, với vốn đầu tư dồi dào cần được quan tâm nhiều hơn nữa trong tương lai Chúng ta cũng nhận thấy Úc là quốc gia có cùng số dự án như Đài Loan, Pháp, Bỉ nhưng vốn đầu tư của Úc vào Bình Thuận rất ít, cần phải có giải pháp thu hút lượng vốn đầu tư của nước Úc vào tỉnh nhiều hơn
Trong 12 năm qua, phần lớn nhà ĐTNN vào tỉnh là từ các nước Châu Á Điều này có nguyên nhân khách quan về mặt địa lý, song cũng do công tác xúc tiến thiếu các biện pháp có hiệu quả để tạo quan hệ cân đối giữa các Châu lục, các vùng trên thế giới đầu tư vào tỉnh Thực tế đó dẫn đến tình trạng khó thu hút được lượng vốn lớn, khó tranh thủ được công nghệ kỹ thuật cao do phần lớn các nước Châu Á không phải là các nước có trình độ khoa học kỹ thuật phát triển cao ; hơn nữa do ảnh hưởng phong cách kinh doanh của nhiều ĐTNN ở Châu Á thiên về thu lợi trước mắt, hay luôn chú ý đến việc khai thác sơ hở của luật pháp và bộ máy tổ chức của ta sẽ tạo ra những cản trở khi chúng ta muốn chuyển hướng thu hút sang Châu Aâu và Châu Mỹ Mặt khác do chiếm tỷ trọng lớn trong số dự án đầu tư vào tỉnh nên khi kinh tế các nước Châu Á nếu có khủng hoảng xảy ra thì tình hình đầu
tư trực tiếp nước ngoài dễ bị tác động lớn
2.2.4 Cơ cấu đầu tư theo ngành :Việc thu hút FDI vào các ngành nghề của Bình
Thuận cho thấy từng bước đã có sự dịch chuyển theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, cụ thể xem bảng 2.6
Bảng 2.6: PHÂN TÍCH CƠ CẤU ĐẦU TƯ THEO NGÀNH KINH TẾ ( 1993 – 2004 )
(Nguồn : Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Thuận )
Ngành Số dự án Tỷ trọng
dự án
Tổng số vốn đăng ký (triệu USD)
Tỷ trọng về vốn
Ngành du lịch : Thực hiện chủ trương thu hút vốn ĐTNN để phát triển kinh
tế-xã hội của tỉnh trong đó trọng điểm là phát triển du lịch, Tỉnh Bình Thuận đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà ĐTNN vào phát triển kinh doanh du lịch Số dự
Trang 36án đã được thu hút tính đến năm 2004 là 16 dự án chiếm tỉ lệ 44,44% tổng số dự án của Tỉnh và tổng vốn đầu tư là 103,717 triệu USD chiếm khoảng 69,96 % trong tổng số vốn đăng ký và có những đóng góp quan trọng trong việc phát triển ngành
du lịch địa phương những năm qua, song nguồn FDI vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và nhu cầu đầu tư của tỉnh Các dự án có quy mô lớn với các sản phẩm du lịch đa dạng, các công trình đầu tư cơ sở hạ tầng của ngành du lịch cần vốn lớn vẫn chưa được các nhà ĐTNN quan tâm Trong những năm gần đây, lượng vốn ĐTNN còn thấp nhiều so với lượng vốn đầu tư trong nước Việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào ngành du lịch cũng chưa đồng bộ, chỉ mới tập trung vào nhà hàng khách sạn chưa có nhiều dự án đầu tư vào các dịch vụ du lịch khác cũng như chưa khai thác cảnh quan thiên nhiên, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa, nhà nghỉ dưỡng cao cấp - vốn dĩ là lĩnh vực quan trọng khác để thu hút và lưu giữ du khách và nhà ĐTNN vào tỉnh Sự phát triển mạnh mẽ của du lịch Bình Thuận vẫn thiếu bóng dáng của những nhà đầu tư lớn, chuyên nghiệp của nước ngoài
Ngành thủy sản: đứng sau du lịch về số dự án đầu tư là 12 nhưng tổng vốn
là 13,910 triệu USD lại xếp thứ 3 sau ngành công nghiệp chiếm 9,38% trong tổng vốn thu hút được Như vậy, ngành thủy sản cũng là lĩnh vực được quan tâm sau du lịch trong tương lai vì chúng ta không thể phủ nhận rằng Bình Thuận là 1 trong 3 ngư trường đánh bắt cá lớn trong cả nước Do đó ngành này cần được đầu tư hơn nữa nhằm khai thác hiệu quả hơn những nguồn lợi thuỷ sản sẵn có của Tỉnh
Ngành công nghiệp : thu hút được 7 dự án ( chiếm 19,4 % trên tổng số dự
án) và vốn đầu tư là 29,1343 triệu USD ( chiếm 19,65 % trên tổng vốn đầu tư) Điều này chứng tỏ công nghiệp không thu hút đầu tư nước ngoài mạnh như trong lĩnh vực du lịch vì nhiều lý do khác nhau trong đó là do hệ thống cơ sở hạ tầng của Tỉnh còn quá yếu kém , chưa đáp ứng đủ cho những yêu cầu phát triển các ngành công nghiệp mà đặc biệt là công nghiệp nặng Nói như vậy ta thấy được sự hạn chế của đầu tư trong công nghiệp Các nhà đầu tư sợ đầu tư vào sẽ phải tốn kém thêm chi phí cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng Do vậy, trong tương lai cần khắc phục hạn chế này, kêu gọi nhiều hơn nữa đầu tư vào công nghiệp, dựa vào các nguồn nguyên liệu tự nhiên như cát trắng , gỗ …
Ngành nông nghiệp : chỉ mới thu hút được duy nhất 1 dự án của Đài Loan –
dự án trồng và xuất khẩu cây thanh long từ năm 1998 , với số vốn đầu tư là 1,5
Trang 37triệu USD (chiếm 1,01% trong tổng vốn đầu tư vào Tỉnh ) Lĩnh vực này không được các nhà ĐTNN quan tâm đến bởi lý do họ cho rằng việc đầu tư vào Nông nghiệp rất khó thu lại vốn nhanh nên các nhà đầu tư hay e ngại bỏ vốn vào lĩnh vực này Và cũng có thể do tiềm năng về nông nghiệp còn hạn hẹp chẳng hạn cơ cấu cây trồng không đa dạng, chúng ta chưa thể cạnh tranh trái cây với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, tỉnh chỉ mới xuất khẩu nổi trội nhất là trái thanh long; năng suất cây trồng không cao do ảnh hưởng của điều kiện khí hậu không thuận lợi
Cho đến nay vẫn chưa thấy một nhà ĐTNN nào vào các ngành : xây dựng; vận tải-bưu điện; tài chính - tín dụng; kinh doanh bất động sản, tư vấn … Cũng có nghĩa là các dự án hạ tầng kỹ thuật và xã hội ; các ngành cơ khí chính xác, tin học, vật liệu mới, sinh học chưa nhận được sự quan tâm của các nhà đầu tư Như vậy có thể nói rằng, cơ cấu ngành nghề của vốn đầu tư chủ yếu dựa vào ý định của các nhà ĐTNN và còn mang nặng tính tự phát Sở dĩ có nguyên nhân trên là do việc ban hành chính sách còn dàn đều, chưa có nhiều ưu đãi cho các lĩnh vực cần ưu tiên, còn tình trạng ngồi chờ dự án Bên cạnh đó tỉnh còn chịu áp lực về chỉ tiêu số lượng thu hút vốn nên chưa thật sự chủ động trong việc điều chỉnh cơ cấu đầu tư nước ngoài vào các ngành kinh tế Có thể nói ngoài sự tác động tương đối rõ vào việc phát triển các ngành dịch vụ, nguồn vốn ĐTNN chưa góp phần đáng kể vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh như mong muốn
2.2.5 Phân theo địa bàn đầu tư:
Xét về mặt tổ chức hành chính, tỉnh Bình Thuận có 9 đơn vị, trong đó có thành phố Phan Thiết và 8 huyện (đặc biệt có 1 huyện hải đảo Phú Quý) Nhưng trong số 36 dự án hoạt động tại Bình Thuận đều tập trung vào các địa bàn có điều kiện kinh tế- xã hội thuận lợi hơn, cụ thể xem bảng 2.7
Bảng 2.7: TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ FDI PHÂN THEO ĐỊA BÀN TẠI BÌNH THUẬN Số TT Khu vực đầu tư Số dự án
(cái)
Tổng số vốn đăng ký (triệu USD)
Tỷ trọng vốn (%)
Thành phố Phan Thiết
Huyện Tuy Phong
Huyện Bắc Bình
Huyện Hàm Tân
Huyện Hàm Thuận Nam
50 8,35
50,69 5,98 33,72 3,98 5,63
Trang 38(Nguồn : Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Thuận)
Qua bảng số 2.7 ta có thể nhận thấy rằng, hoạt động thu hút FDI vào tỉnh phân bố chưa đều ( đã có mặt ở 5/9 huyện thành phố), phần lớn các dự án tập trung chủ yếu tại khu vực TP.Phan Thiết Nếu so với các huyện khác trong tỉnh, thì TP Phan Thiết nhờ những thuận lợi cơ bản về vị trí địa lý kinh tế, điều kiện cơ sở hạ tầng và các hệ thống cơ sở dịch vụ khá đầy đủ nên đã thu hút 20 dự án chiếm 50,69% trên tổng số vốn đầu tư; cùng với loại hình đầu tư khá đa dạng, đủ các lĩnh vực công nghiệp, thủy sản, du lịch-dịch vụ
Đối với các địa bàn còn lại, dự án ĐTNN vào đầu tư cũng trên cơ sở phát huy tiềm năng lợi thế riêng của từng địa phương, thể hiện rõ như: Khu vực huyện Tuy Phong với lợi thế về biển nên đã thu hút chủ yếu các dự án về sản xuất tôm giống và du lịch; khu vực huyện Hàm Thuận Nam với lợi thế về đất nông nghiệp nên thu hút chủ yếu các dự án về chế biến nông sản (chế biến tinh bột mỳ) và trồng cây Thanh long; khu vực huyện Hàm Tân với lợi thế là vùng ven biển nên thu hút chủ yếu các dự án về chế biến sa khoáng biển và nuôi tôm…
Các khu vực gồm 4 huyện còn lại (Đức Linh, Tánh Linh, Hàm Thuận Bắc, Phú Quý) đều chưa tiếp nhận dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài nào cả
2.2.6 Về hình thức đầu tư :
Bình Thuận thu hút đầu tư nước ngoài chủ yếu qua 2 hình thức : 100% vốn nước ngoài và liên doanh, chưa được đa dạng hóa các hình thức đầu tư Ngoài ra, các hình thức khác như hợp tác kinh doanh , BOT kết hợp đổi đất lấy cơ sở hạ tầng cũng không có , với lý do là vì tỉnh Bình Thuận chưa có biện pháp thu hút các dự án công nghiệp có quy mô vừa và nhỏ do chính sách ưu đãi về hỗ trợ hạ tầng kỹ thuật còn rất kém, cũng có một dự án tuy đã được cấp phép nhưng rất khó triển khai thực hiện do phạm vi áp dụng không rộng, điều kiện thực hiện phức tạp, mất nhiều thời gian để giải quyết những thủ tục đàm phán, ký kết hợp đồng và các vấn đề khác; trong khi đó mô hình này đã được một số nước áp dụng khá thành công (xem bảng 2.8):
Trang 39Bảng 2.8 : CƠ CẤU THU HÚT FDI PHÂN THEO HÌNH THỨC ĐẦU TƯ
(Tính đến 31/12/2004 – chỉ tính các dự án còn hiệu lực)
Hình thức đầu tư Số dự án
135,3943 12,867
91,32 8,68
( Nguồn : Sở Kế hoạch và Đầu tư Bình Thuận )
Trong tổng số 36 dự án thì đầu tư theo hình thức liên doanh có 7 dự án chiếm tỷ lệ 19,44% tương ứng vốn đầu tư 12,867 triệu USD với tỷ lệ 8,68% và 100% vốn nước ngoài có đến 29 dự án với tỷ lệ là 80,56 % tương ứng vốn đầu tư 135,3943 triệu USD với tỷ lệ 91,32% Như vậy ta thấy rằng chủ yếu nước ngoài đầu tư vào Bình Thuận theo hình thức 100% vốn nước ngoài, liên doanh không được ưa thích Nguyên nhân là do hình thức liên doanh bộc lộ nhiều hạn chế chẳng hạn khi tham gia liên doanh chúng ta thường góp vốn với tỷ lệ thấp hơn so với bên nước ngoài ( có thể là 30 % vốn pháp định ), và chủ yếu là bằng quyền sử dụng đất Do vậy, tiếng nói của ta không có trọng lượng cho mấy khi quyết định các vấn đề có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh Hơn nữa, xu hướng lỗ trong liên doanh của các doanh nghiệp này ngày càng tăng chưa có hướng giải quyết thỏa đáng khi doanh nghiệp liên doanh hoạt động không hiệu quả Mặt khác, trong liên doanh thường xuyên xuất hiện hiện tượng bên chúng ta càng ngày càng ít vốn lại, khả năng tăng vốn rất khó vì thật sự chúng ta rất yếu về mặt tài chính, rồi cuối cùng các công ty liên doanh cũng vào tay đối tác nước ngoài Một nguyên nhân nữa cũng khá quan trọng đó là vì sau một thời gian làm ăn tại nước ta, các nhà đầu tư đã hiểu được cách làm, phong tục tập quán và luật pháp của ta, họ muốn tự quản lý, tự quyết định chiến lược kinh doanh mà không bị ràng buộc bởi các cán bộ Việt Nam mà họ cho là khó hợp tác; Mặt khác xu hướng đó cũng do chính sách của Nhà nước ta đối xử bình đẳng giữa các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài với các doanh nghiệp liên doanh Thế nên, sau khi Luật ĐTNN sửa đổi, bổ sung thêm hình thức mới 100% vốn nước ngoài thì các nhà đầu tư đã chuyển toàn bộ từ liên doanh qua 100 % vốn nước ngoài
Trang 402.2.7.Về thiết bị công nghệ:
Theo thống kê của Sở Khoa học – Công nghệ và Môi trường Bình Thuận thì các doanh nghiệp của tỉnh hiện hữu có trình độ công nghệ đã được chuyển giao ở mức trung bình Chẳng hạn như : sản xuất phân bón hữu cơ của công ty Greenfield cần phải được áp dụng công nghệ kỹ thuật mới, với dây chuyền sản xuất tự động và bán tự động để đạt năng suất lao động cao, nhưng thực tế chỉ áp dụng công nghệ trình độ trung bình nên ảnh hưởng đến năng suất lao động thấp Ngoài ra, một số doanh nghiệp khác tuy có hệ thống thiết bị máy móc đều được trang bị mới, nhưng đánh giá chỉ ở mức trung bình vì tất cả được sản xuất từ những năm 90-95
Tuy công nghệ nước ngoài chuyển giao qua hình thức FDI đạt trình độ trung bình nhưng nếu như không có những máy móc thiết bị này thì không thể sản xuất
ra các mặt hàng đạt tiêu chuẩn xuất khẩu Điều này cũng cho thấy được các dự án đầu tư vốn nước ngoài đã góp phần tích cực vào việc đổi mới thiết bị, công nghệ trên địa bàn tỉnh
Nguyên nhân của việc chuyển giao công nghệ lạc hậu vào các liên doanh là
do lợi dụng những sơ hở của đối tác Việt Nam như thiếu thông tin, đàm phán không cụ thể, kiểm tra thiếu chặt chẽ Trong quá trình nhập khẩu thiết bị, vật tư… để triển khai xây dựng doanh nghiệp liên doanh, phần đông các đối tác nước ngoài thường có xu hướng muốn kê giá lên cao hơn giá thực hoặc thay đổi chất lượng thiết bị để hạ vốn ngành thực góp
2.2.8.Tình hình phát triển khu công nghiệp để hỗ trợ việc đầu tư FDI:
2.2.8.1 Tình hình quy hoạch các khu công nghiệp (KCN):
Căn cứ quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bình Thuận thời kỳ 2001-2010 đã được HĐND Tỉnh thông qua và UBND Tỉnh phê duyệt tại quyết định số 07/2001/QĐ-UBBT ngày 7/2/2001 đã xác định: vùng kinh tế Phan Thiết, Hàm Thuận Nam, Hàm Tân, Phú Quý là vùng kinh tế động lực của Tỉnh, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Đây là vùng có nhiều tiềm năng về tài nguyên biển và ven biển, khoáng sản và nhiều nguồn nguyên liệu để phát triển các ngành công nghiệp chế biến nông lâm hải sản, thực phẩm, … và nhiều tiềm năng du lịch, dịch vụ Có hệ thống giao thông vận tải, cơ sở hạ tầng và dịch vụ khá phát triển
Vì vậy, với việc hình thành KCN Phan Thiết giai đoạn I theo Quyết định số 827/QĐ - TTg ngày 11/9/1998 của Thủ tướng Chính phủ với quy mô 68 ha, vốn đầu