Trong bối cảnh đó, việc phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp hội viên của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - với tư cách là tổ chức quốc gia tập hợp và đại diện cho cộng đồng doan
Trang 1Nguyễn thị nhung
PHáT TRIểN DịCH Vụ CHO DOANH NGHIệP HộI VIÊN CủA PHòNG THƯƠNG MạI Và CÔNG NGHIệP
VIệT NAM ĐếN NĂM 2020
chuyên ngành: kinh tế và quản lý thương mại
Người hướng dẫn khoa học:
TS TRẦN VĂN BÃO
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là luận văn được nghiên cứu độc lập
của riêng tôi Các số liệu trong luận văn là trung thực Tôi xin
hoàn toàn chịu trách nhiệm về luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2012
Người cam đoan
Nguyễn Thị Nhung
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
TÓM TẮT LUẬN VĂN i
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ CỦA PHÒNG THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM 6
1.1 Vai trò của VCCI đối với sự phát triển của doanh nghiệp và sự cần thiết phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp của VCCI 6
1.2 Nội dung phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp 9
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của dịch vụ 9
1.2.2 Phát triển dịch vụ 13
1.2.3 Các hình thức dịch vụ cho doanh nghiệp, nhà cung cấp và khách hàng sử dụng dịch vụ 14
1.2.4 Nội dung phát triển dịch vụ và các hoạt động phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp 18
1.3 Chỉ tiêu đánh giá và nhân tố tác động 21
1.3.1 Chỉ tiêu đánh giá về số lượng và chất lượng: 21
1.3.2 Nhân tố tác động đến phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp 23
1.4 Kinh nghiệm của một số Phòng Thương mại trên thế giới trong việc phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp 30
1.4.1 Phòng Thương mại Hoa Kỳ 31
1.4.2 Phòng Thương mại và Công nghiệp Trung Quốc: 32
1.4.3 Phòng Thương mại và Công nghiệp Versailles - Pháp 34
1.4.4 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 35
Trang 4CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ CHO DOANH NGHIỆP HỘI VIÊN CỦA PHÒNG THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006 – 2012 37 2.1 Đặc điểm của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp hội viên 37
2.1.1 Cơ chế hoạt động của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam 372.1.2 Một số kết quả hoạt động của VCCI những năm gần đây 39
2.2 Thực trạng phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp hội viên của VCCI giai đoạn 2006 – 2012 44
2.2.1 Đặc điểm dịch vụ cho doanh nghiệp hội viên của VCCI 442.2.2 Thực trạng phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp hội viên của VCCI giai đoạn 2006 – 2012 46
2.3 Hoạt động phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp hội viên của VCCI giai đoạn 2006 – 2012 66
2.3.1 Hoạt động phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp hội viên của VCCI 662.3.2 Đánh giá của doanh nghiệp hội viên đối với dịch vụ của VCCI 68
2.4 Đánh giá phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp hội viên của VCCI giai đoạn 2006-2012 72
2.4.1 Những mặt đạt được 732.4.2 Hạn chế và nguyên nhân : 78
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ CHO DOANH NGHIỆP HỘI VIÊN CỦA PHÒNG THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 80 3.1 Phương hướng phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp hội viên của VCCI đến năm 2020 80
3.1.1 Bối cảnh kinh tế và tình hình phát triển của doanh nghiệp 803.1.2 Xu hướng phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp 833.1.3 Phương hướng phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp hội viên của VCCI đến năm 2020 84
Trang 53.1.4 Chiến lược phát triển cầu đối với dịch vụ cho doanh nghiệp hội viên của VCCI 86
3.2 Giải pháp phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp hội viên của Phòng
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đến năm 2020 86
3.2.1 Hoàn thiện và nâng cao chất lượng các dịch vụ truyền thống 86
3.2.2 Phát triển các dịch vụ mới: 92
3.2.3 Nâng cao nguồn lực nội bộ VCCI đảm bảo phát triển các dịch vụ cho doanh nghiệp hội viên 96
3.3 Một số kiến nghị với Nhà nước 100
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 Tiếng Việt
2 Tiếng Anh
viết tắt
Coorperation
Hội nghị Thượng đỉnh kinh tế các nước Châu Á – Thái Bình Dương
2 ASEAN Association of Southeast
10 R&D Research & Development Nghiên cứu và phát triển
Commerce and Industry
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng biểu:
Bảng 2.1 : Bảng tổng thu – chi của VCCI hàng năm 40
Bảng 2.2 : Số liệu doanh nghiệp tham gia các dịch vụ của VCCI 47
Bảng 2.3 : Dịch vụ khảo sát thị trường của VCCI 53
Bảng 2.4 : Tình hình sử dụng dịch vụ của VCCI năm 2011 của DN hội viên 69
Bảng 2.5 : Tình hình sử dụng từng loại dịch vụ năm 2011 của DN hội viên 69
Bảng 2.6 : Đánh giá của DN hội viên về tầm quan trọng của các dịch vụ 70
Bảng 2.7: Bảng đánh giá của DN hội viên về hiệu quả của dịch vụ 71
Bảng 2.8 : Miễn phí và giảm phí dịch vụ cho DN Hội viên 74
Biểu đồ: Biểu đồ 2.1 : Số lượt cung cấp thông tin cho doanh nghiệp 49
Biểu đồ 2.2: Hoạt động tư vấn cho doanh nghiệp hội viên của VCCI 51
Biểu đồ 2.3: Số lượt DN sử dụng dịch vụ khảo sát thị trường 54
Biểu đồ 2.4 : Số cuộc hội nghị hội thảo VCCI tổ chức 56
Biểu đồ 2.5: Số lượt DN sử dụng dịch vụ hội nghị hội thảo 57
Biểu đồ 2.6: Số cuộc Hội chợ triển lãm do VCCI tổ chức 60
Biểu đồ 2.7 : Số lượt doanh nghiệp tham gia Hội chợ triển lãm 61
Biểu đồ 2.8 : Dịch vụ đào tạo của VCCI (số lớp) 62
Biểu đồ 2.9 : Dịch vụ đào tạo của VCCI (lượt học viên) 63
Biểu đồ 2.10 : Dịch vụ cấp C/O của VCCI 65
Sơ đồ: Sơ đồ 1.1: Môi trường các dịch vụ cho doanh nghiệp ở VN 25
Trang 9TÓM TẮT LUẬN VĂN
Doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng của nền kinh tế, là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP) Những năm gần đây, hoạt động của doanh nghiệp đã có bước phát triển đột biến, góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như: Tạo việc làm, xoá đói, giảm nghèo
Yêu cầu đặt ra là phải nhanh chóng xây dựng đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; lớn mạnh về số lượng; có năng lực cạnh tranh vững vàng đủ sức kinh doanh trên thị trường quốc tế Tuy nhiên, để doanh nghiệp phát triển, ngoài những cố gắng của chính các doanh nghiệp, rất cần có sự hỗ trợ từ bên ngoài của Chính phủ và các tổ chức phi Chính phủ
Trong bối cảnh đó, việc phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp hội viên của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - với tư cách là tổ chức quốc gia tập hợp và đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp, người sử dụng lao động và các hiệp hội doanh nghiệp ở Việt Nam - là một yêu cầu cấp thiết Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là phân tích thực trạng phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp hội viên của VCCI trong giai đoạn 2006-2012 và đề xuất các giải pháp đến năm 2020 Để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
mại và Công nghiệp Việt Nam
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2012
hội viên của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đến năm 2020
Trang 10Chương 1
Những vấn đề cơ bản về phát triển dịch vụ của Phòng Thương mại
và Công nghiệp Việt Nam
Nhiệm vụ nghiên cứu của Chương 1 là làm rõ vai trò của VCCI và sự cần thiết phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp của VCCI Đồng thời, hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp Mục tiêu chính của Chương 1 là đưa ra khái niệm về phát triển dịch vụ, chỉ tiêu và nhân tố ảnh hưởng; phân tích làm rõ nội dung, hình thức và vai trò của dịch vụ cho doanh nghiệp; nghiên cứu kinh nghiệm của một số Phòng Thương mại trên thế giới trong việc phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp làm cơ sở vận dụng cho Việt Nam nói chung và VCCI nói riêng
1.1 Vai trò của VCCI đối với sự phát triển của doanh nghiệp và sự cần thiết phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp của VCCI
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam có vai trò bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của cộng đồng doanh nghiệp, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp và xây dựng đội ngũ doanh nhân Thể hiện qua một số vai trò cụ thể như: đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp tham mưu cho Đảng và Nhà nước xây dựng chính sách, phát luật cải thiện môi trường kinh doanh; liên kết doanh nghiệp và hỗ trợ doanh nghiệp tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu; đại diện cho giới sử dụng lao động và xây dựng quan hệ lao động hài hòa trong doanh nghiệp; xây dựng và phát triển đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân; xúc tiến thương mại - đầu tư hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển kinh tế đất nước và yêu cầu của doanh nghiệp trong giai đoạn hội nhập sâu sắc, toàn diện vào nền kinh tế thế giới và khu vực, đòi hỏi VCCI cần phải phát triển hơn nữa dịch vụ cho doanh nghiệp của mình
để có thể mở rộng phạm vi và nâng cao hiệu quả hỗ trợ doanh nghiệp
Trang 111.2 Nội dung phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp
Có nhiều khái niệm khác nhau về dịch vụ nhưng có thể đưa ra khái niệm chung nhất : dịch vụ là những hoạt động lao động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình thái vật thể, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thoả mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của con người
Dịch vụ có những đặc điểm sau :
- Tính không mất đi
- Tính vô hình hay phi vật chất
- Tính không thể phân chia và không lưu giữ được
- Tính không ổn định và khó xác định được chất lượng
- Hàm lượng trí thức trong dịch vụ chiếm tỷ lệ lớn
- Sự nhạy cảm của dịch vụ với tốc độ thay đổi nhanh chóng của công nghệ
Về vai trò của dịch vụ, ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam, dịch vụ đã và đang phát triển đồng thời chứng tỏ vai trò ngày càng quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế nói chung cũng như sự phát triển của doanh nghiệp nói riêng Dịch
vụ mang lại những lợi ích trực tiếp cho doanh nghiệp, cầu nối giữa các yếu tố đầu vào và đầu ra, thúc đẩy phân công lao động trong nội bộ doanh nghiệp và trong phạm vi toàn xã hội
Phát triển dịch vụ là phương pháp hoàn thiện dịch vụ ngày càng đáp ứng tốt những mong đợi của khách hàng bằng việc hoàn thiện dịch vụ hiện tại mình cung cấp và phát triển thêm các tính năng mới của dịch vụ
Các nhân tố tác động đến phát triển dịch vụ gồm : Môi trường chính trị pháp luật ; môi trường kinh tế như tốc độ tăng trưởng, lãi suất… ; môi trường vi mô như đối thủ cạnh tranh, khách hàng, nhà cung cấp ; môi trường nội bộ
Có nhiều hình thức cung cấp dịch vụ cho doanh nghiệp, phân loại theo các tiêu chí khác nhau như dịch vụ tác nghiệp, dịch vụ chiến lược, dịch vụ do Chính phủ
Trang 12cung cấp, dịch vụ do các tổ chức phi Chính phủ cung cấp, dịch vụ chuyên nghiệp, dịch vụ phổ thông
Về nhà cung cấp dịch vụ : bao gồm các cơ quan, các tổ chức xúc tiến thương mại, các quỹ hỗ trợ doanh nghiệp của Chính phủ, các tổ chức và các nhà tài trợ quốc tế, các tổ chức đại diện của doanh nghiệp, thông thường là các Phòng Thương mại và các Hiệp hội doanh nghiệp, các tổ chức xúc tiến thương mại phi Chính phủ
Khách hàng sử dụng dịch vụ gồm doanh nghiệp lớn, các DNNVV và các doanh nghiệp siêu nhỏ, các hộ kinh doanh Việc phân chia giữa doanh nghiệp lớn và DNNVV phụ thuộc vào quy định của từng quốc gia theo các tiêu thức khác nhau
Nội dung phát triển dịch vụ :
- Phát triển về chất lượng dịch vụ : là làm thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng hay doanh nghiệp Trong đó cần hoàn thiện dịch vụ hiện có về hình thức, hoàn thiện dịch vụ hiện có về nội dung, hoàn thiện dịch vụ hiện có cả về hình thức lẫn nội dung
- Phát triển về số lượng dịch vụ: là tạo ra các dịch vụ mới như tăng sản phẩm mới, đổi mới hoặc điều chỉnh tính năng của dịch vụ, liên kết tạo ra dịch vụ mới
Một số hoạt động để phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp:
- Nghiên cứu nhu cầu của doanh nghiệp nhằm cung cấp dịch vụ phù hợp với nhu cầu thực tế;
- Xây dựng chương trình, kế hoạch tổ chức thực hiện đảm bảo mục tiêu tiết kiệm thời gian, chi phí, nguồn lực;
- Triển khai và kiểm tra đánh giá, nghiên cứu phát triển dịch vụ mới
1.3 Chỉ tiêu đánh giá và nhân tố tác động
Chỉ tiêu đánh giá về số lượng: bao gồm số lượng doanh nghiệp đang nhận được dịch vụ, doanh số bán của các nhà cung ứng dịch vụ, tỷ lệ % doanh nghiệp nhận thức được sự cần thiết (hay vai trò) của dịch vụ
Trang 13Chỉ tiêu đánh giá về chất lượng:
- Tăng hiệu quả tác động gồm tăng sự hài long của khách hàng, tăng khách hàng sử dụng, tăng khách hàng được lợi từ dịch vụ
- Tăng tính bền vững và hiệu quả chi phí: tăng lợi nhuận, giảm chi phí
Nhân tố khách quan như tình hình phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp trên thị trường quốc tế, môi trường kinh doanh trong nước, thực trạng phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp ở Việt Nam
Nhân tố chủ quan như chính sách hỗ trợ doanh nghiệp hội viên của VCCI, mạng lưới cung cấp dịch vụ của VCCI, nguồn lực của VCCI
1.4 Kinh nghiệm của một số Phòng Thương mại trên thế giới trong việc phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp
Qua nghiên cứu tổ chức hoạt động và dịch vụ cho doanh nghiệp của Phòng Thương mại Hoa Kỳ, Phòng Thương mại Trung Quốc, Phòng Thương mại Versailles,
có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam và VCCI như sau:
Một là, các Phòng Thương mại có vai trò quan trọng trong việc cung cấp
dịch vụ cho doanh nghiệp nhằm phát triển kinh doanh và phát triển kinh tế quốc gia
Hỗ trợ các Phòng thương mại để thông qua các tổ chức này gián tiếp hỗ trợ doanh nghiệp là biện pháp hỗ trợ hiệu quả nhất của Chính phủ
Hai là, các dịch vụ cho doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp hội viên
nói riêng được ưu tiên đầu tư của các Phòng Thương mại là hoạt động đào tạo, tư vấn kinh doanh, cung cấp thông tin, nghiên cứu và phát triển
Thứ ba, kinh nghiệm thành công của các Phòng Thương mại cho thấy, để có thể
phát triển các dịch vụ cho doanh nghiệp một cách hiêu quả và thiết thực, các Phòng Thương mại cần xây dựng mối quan hệ hợp tác chặt chẽ với Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương
Trang 14Chương 2 Thực trạng phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp hội viên của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
giai đoạn 2006-2012
Trong Chương 2, luận văn phân tích đặc điểm của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam ảnh hưởng đến phát triển dich cho doanh nghiệp hội viên, đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp hội viên của VCCI trong giai đoạn 2006 – 2012, từ đó đánh giá những ưu điểm, tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại làm cơ sở để để xuất các giải pháp trong Chương 3
2.1 Đặc điểm của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp hội viên
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam có 2 chức năng cơ bản là (1) Đại diện để thúc đẩy và bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của cộng đồng doanh nghiệp và người sử dụng lao động ở Việt Nam (2) Thúc đẩy sự phát triển doanh nghiệp, doanh nhân, sự liên kết giữa các doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, xúc tiến và hỗ trợ các hoạt động thương mại đầu tư, hợp tác khoa học – công nghệ và các hoạt động kinh doanh khác của doanh nghiệp ở Việt Nam và nước ngoài
Một số nhiệm vụ chính của VCCI là: tập hợp, nghiên cứu ý kiến và thực trạng của cộng đồng doanh nghiệp để tham mưu cho Nhà nước các vấn đề về pháp luật, chính sách kinh tế - xã hội; tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại hỗ trợ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ; đại diện cho giới sử dụng lao động giải quyết hài hòa quan hệ lao động trong doanh nghiệp
Tổ chức bộ máy của VCCI theo cơ chế Ban Chấp hành là cơ quan được bầu
ra để lãnh đạo mọi hoạt động của VCCI Ban Thường trực được Ban Chấp hành cử làm cơ quan trực tiếp lãnh đạo và các bộ phận giúp việc khác thực hiện chức năng nhiệm vụ được giao để hỗ trợ Ban Thường trực hoàn thành nhiệm vụ
Trang 15Thực hiện phương hướng, nhiệm vụ công tác trọng tâm được đề ra tại Đại hội lần thứ V(nhiệm kỳ 2008-2013), VCCI đã đạt được một số kết quả như:
Về tốc độ tăng trưởng, VCCI đều có sự tăng trưởng năm sau cao hơn năm
trước Cao nhất là năm 2006 với mức tăng trưởng 40% so với năm 2005 Mức tăng trưởng trung bình giai đoạn 2006-2011 là 21,4%
Về duy trì ổn định tài chính: Nhìn chung ngân sách của VCCI bảo đảm được
cân đối thu chi cho các hoạt động Công tác quản lý tài chính của VCCI được thực hiện theo mục tiêu vừa bảo đảm yêu cầu chi thường xuyên vừa phải đầu tư cho sự phát triển nhanh và bền vững, đồng thời đáp ứng được yêu cầu tiết kiệm, chống lãng phí
Về các hoạt động thực hiện nhiệm vụ chính trị của VCCI : nghiên cứu tổng
kết thực tiễn, tập hợp ý kiến doanh nghiệp góp ý xây dựng chính sách, pháp luật cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; nâng cao vai trò đại diện cho người sử dụng lao động, xúc tiến xây dựng quan hệ lao động thuận hòa và tiến bộ trong doanh nghiệp ; xúc tiến thương mại - đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp hội nhập, đẩy mạnh xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
2.2 Thực trạng phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp hội viên của VCCI giai đoạn 2006 – 2012
Dịch vụ của VCCI là dịch vụ phi tài chính, phi lợi nhuận và phục vụ cho tất
cả các doanh nghiệp thuộc mọi ngành nghề, lĩnh vực, quy mô có nhu cầu sử dụng
Dịch vụ cung cấp thông tin: bao gồm thông tin pháp luật, chính sách trong nước; thông tin pháp luật, tập quán thương mại quốc tế; thông tin về thị trường, sản phẩm, đối tác; thông tin về hội nhập kinh tế quốc tế và các thông tin khác như thông tin về bảo hộ sở hữu trí tuệ, phát minh sáng chế, chuyển giao công nghệ, tình hình quốc tế và khu vực…Các kênh cung cấp thông tin được triển khai đa dạng thông qua các báo, tạp chí, các ấn phẩm, qua Internet và các cơ sở dữ liệu; tỷ lệ tăng trưởng trung bình giai đoạn 2006-2011 là 30%
Dịch vụ tư vấn : được tiến hành dưới nhiều hình thức văn bản viết hoặc trực tiếp trả lời cho doanh nghiệp Không chỉ đáp ứng số lượng nhu cầu tư vấn ngày
Trang 16càng nhiều của doanh nghiệp, VCCI còn nâng cao chất lượng dịch vụ như nâng cao trình chuyên gia tư vấn, nội dung tư vấn… Tốc độ tăng trưởng dịch vụ tư vấn của VCCI đạt mức tăng trưởng bình quân gần 23% mỗi năm (giai đoạn 2006-2011)
Dịch vụ khảo sát thị trường: bao gồm dịch vụ khảo sát thị trường trong nước
và dịch vụ khảo sát thị trường nước ngoài Giai đoạn 2006-2012, hiệu quả dịch vụ ngày một nâng cao, hình thức triển khai ngày càng chuyên nghiệp Số đoàn và số lượt doanh nghiệp thamg gia năm sau đều tăng cao hơn năm trước Nhất là đối với dịch vụ khảo sát thị trường nước ngoài đã tạo cơ hội cho nhiều doanh nghiệp Việt Nam gặp gỡ, ký kết thỏa thuận hợp tác và hợp đồng kinh doanh với các đối tác nước ngoài trị giá hàng chục tỷ đô la Mỹ
Dịch vụ tổ chức hội nghị hội thảo là một hoạt động quan trọng và thường xuyên của VCCI, trên thực tế đã thành một kênh thông tin quan trọng giữa Chính phủ và Doanh nghiệp trong việc giải quyết những khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, đóng góp tích cực vào việc xây dựng pháp luật, chính sách và là một kênh chắp mối đầu tư- kinh doanh có hiệu quả
Dịch vụ tổ chức hội chợ, triển lãm của VCCI là việc tổ chức cho các doanh nghiệp tham gia các hội chợ, triển lãm trong nước và quốc tế và trực tiếp tổ chức các hội chợ, triển lãm để thu hút doanh nghiệp trong nước và nước ngoài tham gia
Ưu điểm nổi bật của dịch vụ tổ chức hội chợ, triển lãm do VCCI tổ chức là đã gắn kết hoạt động hội chợ triển lãm với các hoạt động xúc tiến thương mại- đầu tư
Dịch vụ đào tạo của VCCI bao gồm các hoạt động nhằm trang bị kiến thức, phát triển nguồn nhân lực cho doanh nghiệp nhằm phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Theo tổng hợp phiếu điều tra doanh nghiệp hội viên năm
2011 về tình hình sử dụng từng loại hình dịch vụ của VCCI, dịch vụ đào tạo là dịch
vụ có tỷ lệ doanh nghiệp hội viên sử dụng cao nhất với hơn 53% doanh nghiệp hội viên được khảo sát có sử dụng Nhìn chung, dịch vụ đào tạo của VCCI ngày càng chuyên nghiệp hóa, đội ngũ giảng viên có chuyên môn, nội dung, hình thức thì đa dạng, đem lại ý nghĩa và kết quả thiết thực cho các đối tượng doanh nghiệp
Trang 17Dịch vụ cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa xuất khẩu (Certification of Origin- C/O) là dịch vụ chứng nhận cho một loại hàng hóa xuất khẩu được sản xuất
ở quốc gia nào, hay nói cách khác là chứng nhận xuất xứ của sản phẩm Thông qua hoạt động cấp C/O, VCCI đã tư vấn và hỗ trợ doanh nghiệp trong việc bảo đảm tỷ
lệ nội địa hóa trong sản phẩm, đầu tư đổi mới máy móc công nghệ để sản xuất các sản phẩm, linh kiện bán thành phẩm, phụ trợ
2.3 Hoạt động phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp hội viên của VCCI giai đoạn 2006 – 2012
Về công tác nghiên cứu nhu cầu của doanh nghiệp: Hàng năm, VCCI đều
tổ chức tiến hành điều tra khảo sát doanh nghiệp hội viên thông qua phiếu điều tra, hòm thư góp ý , qua đó VCCI có thể nắm bắt được nhu cầu thực tế của doanh nghiệp Kết quả điều tra có vai trò lớn trong việc nâng cao chất lượng các dịch vụ cho doanh nghiệp của VCCI cũng như thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp
Về công tác xây dựng chương trình kế hoạch và tổ chức triển khai thực hiện: là đề ra mục tiêu và lập kế hoạch những nội dung hoạt động trong năm kế hoạch;
nghiên cứu góp phần đổi mới, hoàn thiện các dịch vụ
Về công tác kiểm tra, đánh giá và nghiên cứu phát triển dịch vụ: định kỳ
đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ, hiệu quả công việc, chất lượng của dịch vụ cho các doanh nghiệp, từ đó phát hiện những sai lệch và đưa ra những quyết định điều chỉnh phù hợp
2.4 Đánh giá phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp hội viên của VCCI giai đoạn 2006-2012
Trang 18VCCI có đội ngũ cán bộ và có đội ngũ cộng tác viên là các nhà khoa học, chuyên gia kinh tế, luật sư trong nước và quốc tế đông đảo, có trình độ và giàu kinh nghiệm, tổ chức cung cấp các dịch vụ mang lại hiệu quả cao
VCCI có mối quan hệ tốt và rộng rãi với các bộ ngành địa phương cũng như các tổ chức xúc tiến thương mại trên thế giới – hỗ trợ cho VCCI rất nhiều trong việc cung cấp các dịch vụ cho doanh nghiệp
VCCI có mạng lưới các các trung tâm xúc tiến thương mại, các chi nhánh, văn phòng đại diện trong toàn quốc
Hạn chế
Chất lượng dịch vụ chưa mang lại kết quả như mong muốn của doanh nghiệp Dịch vụ của VCCI chưa phong phú, đa dạng Nhiều dịch vụ của VCCI cung cấp còn đơn lẻ Nguồn nhân lực và nguồn lực tài chính còn hạn chế
Nguyên nhân
VCCI chưa có đầu tư đúng mực vào đối tượng là doanh nghiệp hội viên Các hoạt động vẫn thiên về số lượng, chưa được quan tâm đúng mực về mặt chất lượng
và chưa có sự đổi mới để phù hợp với xu thế phát triển mới
Khó khăn về nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực tài chính cũng không cho phép VCCI triển khai các hoạt động ở phạm vi rộng hơn, quy mô lớn hơn, chuyên sâu hơn cho các doanh nghiệp Doanh nghiệp chưa nhận thức đầy đủ được mục đích cũng như vai trò các dịch vụ cho doanh nghiệp của VCCI
Trang 19Chương 3 Phương hướng và giải pháp phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp hội viên của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt
- Các dịch vụ ngày càng được chuyên môn hoá sâu sắc
- Các dịch vụ có hàm lượng trí tuệ, hàm lượng chất xám chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng số các dịch vụ
- Các dịch vụ dưới hình thức giảm phí, miễn phí có xu hướng giảm
- Đối tượng sử dụng dịch vụ không chỉ là các DNNVV và doanh nghiệp siêu nhỏ mà là tất cả các doanh nghiệp của nền kinh tế, kể cả các doanh nghiệp lớn, các tập đoàn kinh tế
- Các nhà cung ứng dịch vụ bao gồm cả khu vực công và tư, nhưng chủ yếu thuộc khu vực tư nhân và phi Chính phủ
- Các dịch vụ không chỉ hoạt động trong phạm vi quốc gia mà còn hoạt động
Trang 20- Nâng cao chất lượng dịch vụ, đảm bảo tính cạnh tranh trên thị trường
- Xây dựng cơ sở dữ liệu nhằm làm giảm chi phí dịch vụ
- Phát triển các dịch vụ mới, đáp ứng được nhu cầu doanh nghiệp và điều kiện kinh doanh mới
3.2 Giải pháp phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp hội viên của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đến năm 2020
Hoàn thiện 7 nhóm dịch vụ truyền thống : theo hướng nâng cao chất lượng
dịch vụ, có hàm lượng chất xám cao, nâng cao tính thực tiễn và mang lại hiệu quả thiết thực cho doanh nghiệp
Phát triển dịch vụ mới :
- Dịch vụ hỗ trợ DN xây dựng và phát triển thương hiệu: nâng cao nhận thức về vai trò của thương hiệu trong hoạt động kinh doanh; xây dựng chiến lược phát triển thương hiệu mạnh ; đăng ký thương hiệu, bảo vệ thương hiệu khi có tranh chấp xảy ra
- Dịch vụ hỗ trợ nghiên cứu và phát triển: kết nối các tập đoàn quốc tế lớn phối hợp với doanh nghiệp Việt Nam đầu tư cho công tác nghiên cứu và phát triển Kết nối giữa các nhà khoa học và doanh nghiệp mang lại lợi ích thiết thực, hỗ trợ chắp mối các hợp đồng hợp tác kinh doanh và chuyển giao công nghệ
- Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp thiết lập các kênh phân phối: Hố trợ các doanh nghiệp thâm nhập có hiệu quả vào hệ thống phân phối của các thị trường thông qua việc tư vấn các thủ tục pháp lý, xây dựng các trung tâm giới thiệu sản phẩm hỗ trợ doanh nghiệp giới thiệu hàng hóa, dịch vụ, xây dựng cổng thông tin điện tử trực tuyến trao đổi thông tin hàng hóa và dịch vụ…
Nâng cao nguồn lực nội bộ VCCI đảm bảo phát triển các dịch vụ cho doanh nghiệp hội viên : Kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao tính chuyên
nghiệp trong việc cung ứng các dịch vụ cho doanh nghiệp hội viên Có chiến lược đảm bảo nguồn lực tài chính bền vững phục vụ cho việc cung cấp các dịch
vụ cho doanh nghiệp hội viên Khai thác và nâng cao hiệu quả hợp tác, hỗ trợ
Trang 21của các đơn vị, tổ chức bên ngoài Tăng cường quảng bá các dịch vụ của VCCI đến doanh nghiệp hội viên
3.3 Một số kiến nghị với Nhà nước
- Giao cho VCCI xây dựng và thực hiện các chương trình quốc gia về phát triển doanh nghiệp, đặc biệt là DNNVV, chương trình phát triển doanh nghiệp, chương trình xúc tiến thương mại và đầu tư quốc gia
- Hỗ trợ VCCI thành lập các trung tâm xúc tiến xuất khẩu tại các trung tâm kinh tế của đất nước, các văn phòng và trung tâm giới thiệu sản phẩm xuất khẩu ở nước ngoài …
- Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực của VCCI để tăng cường năng lực của cán
bộ VCCI
- Do VCCI là tổ chức phi chính phủ, tự cân đối về tài chính, do đó Nhà nước cần có cơ chế để VCCI tạo nguồn thu như cho thu phí cấp C/O
Trang 22Nguyễn thị nhung
PHáT TRIểN DịCH Vụ CHO DOANH NGHIệP HộI VIÊN CủA PHòNG THƯƠNG MạI Và CÔNG NGHIệP
VIệT NAM ĐếN NĂM 2020
chuyên ngành: kinh tế và quản lý thương mại
Người hướng dẫn khoa học:
TS TRẦN VĂN BÃO
Trang 23LỜI NÓI ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng của nền kinh tế, là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP) Những năm gần đây, hoạt động của doanh nghiệp đã có bước phát triển đột biến, góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như: Tạo việc làm, xoá đói, giảm nghèo
Yêu cầu đặt ra là phải nhanh chóng xây dựng đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; lớn mạnh về số lượng; có năng lực cạnh tranh vững vàng đủ sức kinh doanh trên thị trường quốc tế Tuy nhiên, để doanh nghiệp phát triển, ngoài những cố gắng của chính các doanh nghiệp, rất cần có sự hỗ trợ từ bên ngoài của Chính phủ và các tổ chức phi Chính phủ
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) là tổ chức quốc gia tập hợp và đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp, người sử dụng lao động và các hiệp hội doanh nghiệp ở Việt Nam nhằm mục đích phát triển, bảo vệ và hỗ trợ các doanh nghiệp, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thúc đẩy các quan
hệ hợp tác kinh tế, thương mại và khoa học - công nghệ giữa Việt Nam với các nước trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi
Hội viên của Phòng là các doanh nghiệp, các tổ chức sản xuất, kinh doanh, người sử dụng lao động, các hiệp hội doanh nghiệp có đăng ký và hoạt động hợp pháp ở Việt Nam Khi là hội viên, các doanh nghiệp sẽ được hỗ trợ về nhiều mặt, cụ thể là doanh nghiệp có cơ hội giao dịch với bạn hàng trong và ngoài nước; tư vấn về pháp lý và các vấn đề liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; tham gia các hội chợ triển lãm, hội nghị, hội thảo và các lớp đào tạo; xin cấp bằng sáng chế và giải pháp hữu ích, đăng ký nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu
Trang 24dịch vụ của doanh nghiệp trong và ngoài nước; xin cấp giấy chứng nhận xuất xứ và chứng nhận các chứng từ cần thiết khác trong giao dịch thương mại theo tập quán quốc tế; giải quyết những tranh chấp có thể nảy sinh trong các quan hệ kinh doanh
Hiện nay Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam có gần 76.000 hội viên, đây là con số khá khiêm tốn so với hơn 640.000 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh trên cả nước Điều này cho thấy nhiều doanh nghiệp chưa nhận thức hết vai trò đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, đồng thời thể hiện các dịch vụ của Phòng chưa đủ sức thu hút các doanh nghiệp quan tâm và trở thành hội viên
Nhận thức được sự cần thiết của việc phát triển các dịch vụ cho doanh nghiệp hội viên của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam thời gian tới, tác giả đã
chọn đề tài: “Phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp hội viên của Phòng Thương mại và
công nghiệp Việt Nam đến năm 2020” để làm luận văn thạc sỹ kinh tế
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu
Quá trình khu vực hóa, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày càng sâu sắc, để sản xuất kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp cần có các hoạt động nhằm đảm bảo quá trình kinh doanh diễn ra bình thường như thị trường, thông tin, quảng cáo, đào tạo, tài chính – kế toán – văn phòng Để giải quyết những nhu cầu này, trong trường hợp có đủ nguồn lực, doanh nghiệp có thể tự tổ chức hoạt động đó một cách hiệu quả, không thuê dịch vụ từ bên ngoài Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ nguồn lực để cung cấp các dịch vụ cho hoạt động kinh doanh của mình, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa do hạn chế về nguồn lực
và quy mô nên sẽ có nhu cầu thuê mua dịch vụ từ bên ngoài
Đứng trước yêu cầu thực tiễn đó, trên phương diện lý thuyết đã có một số công trình nghiên cứu về các dịch vụ phát triển kinh doanh cho doanh nghiệp như: Viện nghiên cứu quản lý Trung ương (2003) “Môi trường Pháp lý cho Dịch vụ Phát triển kinh doanh tại Việt Nam”, (2004) “Thị trường dịch vụ phát triển kinh doanh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam – Thực trạng, các vấn đề và giải pháp” –
Trang 25Nghiên cứu khoa học; Phạm Ngọc Thắng (2007) “Dịch vụ hỗ trợ phát triển kinh doanh ở Việt Nam” – Luận văn thạc sỹ
Bên cạnh đó cũng đã có một số nghiên cứu về các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp của VCCI Có thể kể ra một số nghiên cứu như: Vũ Tiến Lộc (2002),
“Phương hướng và giải pháp tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế”- Luận án Tiến sĩ; Phan Hồng Giang (2005) “Hoàn thiện hệ thống dịch vụ hỗ trợ phát triển kinh doanh của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam” – Luận án tiến sĩ; Trương Thị Minh Huệ (2009) “Thúc đẩy hoạt động xúc tiến thương mại của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam nhằm hỗ trợ xuất khẩu cho doanh nghiệp”
Nhưng cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu nào về phát triển các dịch vụ cho doanh nghiệp hội viên của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, doanh nghiệp hội viên của hiệp hội doanh nghiệp hay một tổ chức đại diện cho doanh nghiệp Đề tài: “Phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp hội viên của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đến năm 2020” có đối tượng, phạm vi nghiên cứu riêng là các doanh nghiệp hội viên của VCCI nên không trùng lắp với các nghiên cứu trên
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các giải pháp phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp hội viên của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đến năm 2020
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa lý luận về phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp
- Phân tích các đặc điểm của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp hội viên
- Phân tích thực trạng phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp hội viên của VCCI giai đoạn 2006 – 2012, từ đó rút ra những mặt được, những tồn tại và nguyên nhân của các tồn tại
Trang 26- Phân tích bối cảnh tình hình kinh tế trong nước và quốc tế có ảnh hưởng, tác động đến phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp hội viên để từ đó đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm phát triển các dịch vụ cho doanh nghiệp hội viên của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đến năm 2020
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu lý luận và thực tiễn phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp
5 Phương pháp nghiên cứu:
Để mang lại hiệu quả cho luận văn, tác giả đã sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như:
Phương pháp luận duy vật biện chứng: coi các các vấn đề nghiên cứu trong trạng thái luôn phát triển và xem xét nó trong mối quan hệ với các sự vật, hiện tượng khác
Phương pháp duy vật lịch sử: Không chỉ nghiên cứu những mặt riêng biệt của vấn đề, mà nghiên tất cả các mặt, các quan hệ, các quá trình có liên hệ nội tại và tác động lẫn nhau đến vấn đề cần nghiên cứu
Phương pháp thống kê kinh nghiệm: là phương pháp thu thập số liệu, tổng hợp, trình bày số liệu, tính toán các đặc trưng của đối tượng nghiên cứu nhằm phân tích, dự đoán và làm rõ các vấn đề và mục tiêu nghiên cứu đã đề ra
Tìm hiểu thông tin trên internet, báo chí
Trang 276 Đóng góp dự kiến của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn này sẽ là cơ sở lý luận và thực tiễn cho Ban Lãnh đạo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam có cái nhìn tổng quan về các dịch vụ cho doanh nghiệp hội viên của VCCI thời gian qua Qua đó có những điều chỉnh tổ chức, phương thức hoạt động, quản lý để phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp hội viên của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đến năm 2020
7 Kết cấu của Luận văn:
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương sau:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về phát triển dịch vụ của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp hội viên của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2012
Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp hội viên của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đến năm 2020
Trang 28CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ CỦA PHÒNG THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
1.1 Vai trò của VCCI đối với sự phát triển của doanh nghiệp và sự cần thiết phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp của VCCI
Đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam đã có bước phát triển nhanh về
số lượng và chuyển biến về chất lượng Mỗi năm ở nước ta có gần 80.000 doanh nghiệp ra đời Hiện nay, cả nước đã có trên 600.000 doanh nghiệp và 1 triệu hộ kinh doanh cá thể, 133 ngàn hợp tác xã và trang trại Nếu chỉ tính mỗi doanh nghiệp có
từ 2-3 doanh nhân và mỗi hộ kinh doanh cá thể và trang trại có một doanh nhân thì
cả nước đã có trên 2 triệu doanh nhân
Là lực lượng có vai trò to lớn trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, do đó, việc tháo gỡ khó khăn, tạo môi trường thuận lợi cho đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân phát triển lớn mạnh mẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, sự phát triển nhanh, bền vững, độc lập, tự chủ của nền kinh tế
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) – là một tổ chức chính trị - xã hội nghề nghiệp, đại diện cho đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân và người
sử dụng lao động Việt Nam, và cũng là tổ chức xúc tiến thương mại đầu tư lớn nhất của Việt Nam, có vai trò bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của cộng đồng doanh nghiệp, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp và xây dựng đội ngũ doanh nhân Thể hiện qua một số vai trò cụ thể sau :
- Đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp tham mưu cho Đảng và Nhà nước xây dựng chính sách, phát luật cải thiện môi trường kinh doanh : Thông qua việc triển khai nhiều hoạt động nghiên cứu tổng kết thực tiễn phát triển kinh tế và doanh nghiệp, phát hiện những vấn đề phát sinh từ thực tiễn, từ cơ sở đó góp phần vào việc xây dựng chính sách và pháp luật, đặc biệt là môi trường chính sách pháp luật
Trang 29tạo động lực và cơ chế cho sự thành lập và phát triển của doanh nghiệp, góp phần quan trọng vào việc hình thành thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế
- Vai trò liên kết doanh nghiệp và hỗ trợ doanh nghiệp tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu: Trên cơ sở Chính phủ đóng vai trò quy hoạch chung cũng như quy hoạch phát triển kinh tế và doanh nghiệp, VCCI có vai trò kết nối các địa phương, các cơ quan hữu quan, doanh nghiệp và các Hiệp hội doanh nghiệp để nắm bắt tình hình thực tế phát triển của doanh nghiệp nhằm hỗ trợ tổ chức xúc tiến thương mại, thúc đẩy các liên kết dọc cũng như hình thành các khu vực kinh tế trọng điểm thu hút đầu tư trong và ngoài nước, tạo liên kết với các tập đoàn đa quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu
- Đại diện cho giới sử dụng lao động và xây dựng quan hệ lao động hài hòa trong doanh nghiệp VCCI xây dựng và triển khai các hoạt động trong khuôn khổ cơ chế hợp tác ba bên ở cấp quốc gia và hợp tác hai bên ở cấp doanh nghiệp trong việc xây dựng và thực hiện pháp luật lao động và quan hệ lao động nhằm xúc tiến xây dựng quan hệ lao động ở Việt Nam, góp phần xây dựng quan hệ lao động lành mạnh, thuận hòa và tiến bộ trong doanh nghiệp, bảo đảm thực hiện quyền lợi và trách nhiệm của người lao động và người sử dụng lao động theo quy định của pháp luật; góp phần xây dựng giai cấp công nhân và đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Xây dựng và phát triển đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân: là xúc tiến nâng cao vai trò, vị trí và hình ảnh doanh nghiệp, doanh nhân trong xã hội thông qua các hoạt động tuyên truyền, quảng bá về doanh nghiệp, doanh nhân, cổ vũ và khuyến khích tinh thần kinh doanh trong xã hội, tổ chức đối thoại, gặp gỡ giữa các cơ quan Chính phủ với doanh nghiệp và tôn vinh doanh nghiệp, doanh nhân khuyến khích, động viên doanh nghiệp, doanh nhân đầu tư phát triển sản xuất - kinh doanh, làm giàu cho mình và cho đất nước
- Xúc tiến thương mại - đầu tư hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh: hỗ trợ và cung cấp các thông tin nghiệp vụ cần thiết và chính xác, kịp thời ; cầu nối
Trang 30giúp doanh nghiệp nghiên cứu thị trường và tìm kiếm khách hàng ; dự báo xu hướng thị trường để tư vấn và hỗ trợ doanh nghiệp đạt hiệu quả; đào tạo nâng cao năng lực và trình độ quản lý của doanh nghiệp, ứng dụng công nghệ thông tin một cách có hiệu quả
Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển kinh tế đất nước và yêu cầu của doanh nghiệp trong giai đoạn hội nhập sâu sắc, toàn diện vào nền kinh tế thế giới và khu vực, đòi hỏi VCCI cần phải phát triển hơn nữa dịch vụ cho doanh nghiệp của mình
để có thể mở rộng phạm vi và nâng cao hiệu quả hỗ trợ doanh nghiệp, vì:
Thứ nhất, cung cấp các dịch vụ cần thiết, dịch vụ chất lượng tốt cho doanh
nghiệp, đóng vai trò quan trọng đối với việc tăng cường hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là các DNNVV Ở hầu hết các quốc gia cũng như Việt Nam, nhu cầu về sự cần thiết của các chính sách phù hợp nhằm phát triển thị trường dịch vụ cho doanh nghiệp cũng như khuyến khích việc cung cấp và sử dụng các dịch vụ này ngày càng tăng lên
Thứ hai, các dịch vụ cho doanh nghiệp được coi là nhân tốt quan trọng nhằm
tăng cường hoạt động trong các lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp Ở các nước công nghiệp, các dịch vụ cho doanh nghiệp là một lĩnh vực kinh tế quan trọng có tính chiến lược và đang phát triển nhanh, trung bình là 10%/năm
Thứ ba, thúc đẩy phát triển các dịch vụ cho nghiệp góp phần thúc đẩy quá
trình chuyên môn hóa của doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Các doanh nghiệp sẽ tập trung vào một số các hoạt động chính chứ không cần phải đảm nhận tất cả các khâu như trước đây
Thứ tư, tạo điều kiện cho DNNVV tập trung nguồn lực vào quá trình sản
xuất kinh doanh, tránh sự phân tán nguồn lực dẫn đến hiệu quả thấp DNNVV luôn được nhắc đến với một trong những đặc điểm là nguồn lực rất hạn chế, đặc biệt là vốn kinh doanh, vì vậy, nếu các doanh nghiệp này tự cung cấp các dịch vụ thì nguồn lực phân tán và chi phí cao Do đó trong nhiều trường hợp, việc sử dụng các dịch vụ thuê ngoài sẽ hiệu quả hơn
Trang 31Thứ năm, các dịch vụ cho doanh nghiệp là cầu nối trong quan hệ giữa doanh
nghiệp với các cơ quan nghiên cứu, các trường đại học thông qua việc tư vấn của chuyên gia hoặc các nghiên cứu khoa học mang tính ứng dụng Do đó, việc phát triển các dịch vụ cho doanh nghiệp đồng nghĩa với việc nâng cao chất lượng các chuyên gia tư vấn và các nghiên cứu ứng dụng phục vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.2 Nội dung phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của dịch vụ
1.2.1.1 Khái niệm về dịch vụ:
Ngày nay vai trò quan trọng của dịch vụ trong nền kinh tế ngày càng được nhận thức rõ hơn Có một định nghĩa rất hình tượng nhưng cũng rất nổi tiếng về dịch vụ hiện nay, mà trong đó dịch vụ được mô tả là "bất cứ thứ gì bạn có thể mua
và bán nhưng không thể đánh rơi nó xuống dưới chân bạn"
C Mác cho rằng : "Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, khi
mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông thông suốt, trôi chảy, liên tục để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao đó của con người thì dịch vụ ngày càng phát triển"
Philip Kotler định nghĩa dịch vụ: Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất
Khi kinh tế càng phát triển thì vai trò của dịch vụ ngày càng quan trọng và dịch vụ đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khác nhau: từ kinh tế học đến văn hóa học, luật học, từ hành chính học đến khoa học quản lý Do vậy mà
có nhiều khái niệm về dịch vụ theo nghĩa rộng hẹp khác nhau
- Theo nghĩa rộng: dịch vụ được xem là một ngành kinh tế thứ 3 Với cách hiểu này, tất cả các hoạt động kinh tế nằm ngoài 2 ngành nông nghiệp và công nghiệp đều được xem là thuộc ngành dịch vụ
Trang 32- Theo nghĩa hẹp: dịch vụ được hiểu là phần mềm của sản phẩm, hỗ trợ cho khách hàng trước, trong và sau khi bán
Như vậy có thể định nghĩa một cách chung nhất: dịch vụ là những hoạt động lao động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình thái vật thể, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thoả mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của con người
Việc quan niệm theo nghĩa rộng hẹp khác nhau về dịch vụ, một mặt tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia trong một thời kỳ lịch sử cụ thể; mặt khác, còn tùy thuộc vào phương pháp luận kinh tế của từng quốc gia Những quan niệm khác nhau sẽ có ảnh hưởng khác nhau đến chất lượng dịch vụ, đến qui mô, tốc độ phát triển cũng như tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia
1.2.1.2 Những đặc điểm cơ bản của dịch vụ
Dịch vụ được chia thành 3 nhóm, đó là: các dịch vụ kinh doanh, các dịch vụ tiêu dùng, các dịch vụ công Cụ thể:
- Các dịch vụ kinh doanh: Gồm vận tải, thông tin liên lạc, tài chính, bảo
hiểm, kinh doanh bất động sản, các dịch vụ nghề nghiệp…
- Các dịch vụ tiêu dùng: Các hoạt động bán buôn, bán lẻ, du lịch, các dịch
vụ cá nhân…
- Các dịch vụ công: Gồm dịch vụ hành chính công, các hoạt động đoàn thể…
Dịch vụ có các đặc điểm cơ bản sau:
- Tính không mất đi: Kỹ năng dịch vụ không mất đi sau khi đã cung ứng
- Tính vô hình hay phi vật chất: Dịch vụ chỉ có thể nhận thức được bằng tư
duy hay giác quan chứ ta không thể "sờ mó" sản phẩm dịch vụ được, dịch vụ cũng không thể đo lường được bằng các phương pháp đo lường thông thường về thể tích, trọng lượng
Trang 33- Tính không thể phân chia và không lưu giữ được: Quá trình sản xuất và
tiêu thụ dịch vụ diễn ra đồng thời Khác với sản xuất vật chất, sản xuất dịch vụ không thể làm sẵn để lưu kho sau đó mới đem tiêu thụ Hay dịch vụ không thể lưu giữ được
- Tính không ổn định và khó xác định được chất lượng: Chất lượng dịch
vụ thường dao động trong một biên độ rất rộng, tùy thuộc vào hoàn cảnh tạo ra dịch
vụ (ví dụ, người cung ứng, thời gian, địa điểm cung ứng phục vụ)
- Hàm lượng trí thức trong dịch vụ chiếm tỷ lệ lớn: Người ta không cần các
nguyên vật liệu đầu vào hữu hình như dây chuyền sản xuất hay nhà máy để sản xuất ra dịch vụ, mà giữ vai trò quan trọng nhất trong hoạt động dịch vụ là yếu tố con người
- Sự nhạy cảm của dịch vụ đối với tốc độ thay đổi nhanh chóng của công nghệ: Ðây là đặc điểm nổi bật và quan trọng nhất của dịch vụ, thể hiện ở chất lượng
dịch vụ không ngừng được tinh vi hoá, chuyên nghiệp hóa và quan trọng hơn là sự xuất hiện liên tục những dịch vụ mới
1.2.1.3 Vai trò của dịch vụ
Vai trò của dịch vụ đối với sự phát triển kinh tế:
Sự phát triển của ngành dịch vụ trong những thập kỷ gần đây đã tạo nên một cơn sốt toàn cầu Bản thân các ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng trên 60% tổng thu nhập quốc gia tại các nước phát triển và đang phát triển Các ngành dịch vụ luôn đi đầu trong sự phát triển tổng thể tại các quốc gia Tại Mỹ là 80%, Đức, Anh là 73%, Canada là 69%
Ở Việt Nam, ngành dịch vụ có mối quan hệ và tác động tới tất cả các ngành kinh tế khác cũng như tới toàn bộ cuộc sống của con người Dịch vụ đã và đang phát triển đồng thời chứng tỏ vai trò ngày càng quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế nói chung Trong bối cảnh hội nhập và phát triển kinh tế - thương mại, bênh cạnh những dịch vụ truyền thống như thương mại, vận tải, bưu chính… các
Trang 34dịch vụ mới đã hình thành và ngày càng phát triển như viễn thông, tài chính, tư vấn đầu tư, pháp lý, kinh doanh…
Chiếm gần 40% tỷ trọng trong GDP đã thực sự đưa dịch vụ trở thành khu vực kinh tế quan trọng trong sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước
Vai trò của dịch vụ đối với doanh nghiệp:
Để việc khởi nghiệp cũng như phát triển sản xuất kinh doanh được thuận lợi, việc sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp từ bên ngoài đã dần dần trở thành xu hướng chung của các doanh nghiệp Vì:
- Các dịch vụ cho doanh nghiệp từ bên ngoài mang lại lợi ích trực tiếp cho các doanh nghiệp và lợi ích chung cho toàn bộ nền kinh tế Thông qua đó, doanh nghiệp có điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động, năng lực cạnh tranh và thu được lợi nhuận
- Các dịch vụ có vai trò hỗ trợ cho doanh nghiệp trong điều kiện các doanh nghiệp, nhất là DNNVV do gặp khó khăn và hạn chế về nguồn lực nên không đủ khả năng tự tổ chức được các dịch vụ hỗ trợ cho các hoạt động kinh doanh của mình
- Các dịch vụ cho doanh nghiệp là công cụ quan trọng giúp doanh nghiệp tiết kiệm được thời gian và chi phí để có thể tập trung vào thực hiện nhiệm vụ chính của mình là tổ chức sản xuất- kinh doanh, tạo cơ sở cho việc thực hiện chuyên môn hoá và tái cơ cấu của doanh nghiệp
- Các dịch vụ là cầu nối giữa các yếu tố đầu vào và đầu ra trong quá trình sản xuất, tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp, thúc đẩy phân công lao động trong nội bộ doanh nghiệp và trong phạm vi toàn xã hội
- Các dịch vụ cho doanh nghiệp có vai trò kích cầu, phục vụ khách hàng tốt hơn, giúp doanh nghiệp nắm bắt được nhu cầu và thị hiếu khách hàng để xây dựng chiến lược kinh doanh, chiến lược phát triển sản phẩm và thị trường phù hợp
- Các dịch vụ tạo điều kiện cho doanh nghiệp đổi mới công nghệ, áp dụng quy trình quản lý chất lượng, nâng cao năng lực quản lý, giúp doanh nghiệp phát triển nhanh và bền vững
Trang 351.2.2 Phát triển dịch vụ
1.2.2.1 Khái niệm phát triển dịch vụ
Phát triển là khuynh hướng vận động đã xác định về hướng của sự vật: hướng đi lên từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Nhưng nếu hiểu sự vận động phát triển một cách biện chứng toàn diện, sâu sắc thì trong tự bản thân sự vận động phát triển đã bao hàm sự vận động thụt lùi, đi xuống với nghĩa là tiền đề, điều kiện cho sự vận động đi lên, hoàn thiện
Phát triển dịch vụ là phương pháp hoàn thiện dịch vụ ngày càng đáp ứng tốt những mong đợi của khách hàng bằng việc hoàn thiện dịch vụ hiện tại mình cung cấp và phát triển thêm các tính năng mới của dịch vụ
1.2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của dịch vụ
a Môi trường chính trị - pháp luật:
- Yếu tố chính trị là yếu tố rất phức tạp, tùy theo điều kiện cụ thể yếu tố này
sẽ tác động đến sự phát triển kinh tế trong phạm vi quốc gia hay quốc tế Các nhà quản trị chiến lược muốn phát triển thị trường nói chung và thị trường dịch vụ nói riêng cần phải nhạy cảm với tình hình chính trị ở mỗi khu vực địa lý, dự báo diễn biến chính trị trên phạm vi quốc gia, khu vực, thế giới để có các quyết định chiến lược thích hợp và kịp thời
- Luật pháp: Việc tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh hay không lành mạnh hoàn toàn phụ thuộc vào yếu tố pháp luật và quản lý nhà nước về kinh tế Việc ban hành hệ thống luật pháp có chất lượng là điều kiện đầu tiên đảm bảo môi trường kinh doanh bình đẳng
- Chính phủ: Chính phủ có vai trò to lớn trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh
tế thông qua các chương trình chi tiêu của mình Điều quan trọng là phải nắm bắt được những quan điểm, quy định cũng như các chương trình hành động mà Chính phủ ban hành để có chiến lược phát triển dịch vụ cần thiết đạt hiệu quả
Trang 36b Môi trường kinh tế
Những diễn biến của môi trường kinh tế bao giờ cũng chứa đựng những cơ hội cũng như thách thức khác nhau đối với từng đơn vị, doanh nghiệp trong các ngành, lĩnh vực khác nhau và có ảnh hưởng lớn cũng như có sự tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh Các yếu tố của môi trường kinh tế như: Tốc độ tăng trưởng kinh tế, lãi suất…
c Môi trường vi mô: Bao gồm: đối thủ tiềm tàng, đối thủ cạnh tranh hiện
tại, khách hàng, nhà cung cấp, sản phẩm thay thế
Những hiểu biết về đối thủ cạnh tranh cũng như giữ mối quan hệ tốt với khách hàng, nhà cung cấp có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của đơn vị, doanh nghiệp Khi nghiên cứu môi trường kinh doanh để hoạch định chiến lược, nhà quản trị cần cập nhật, phân tích môi trường vi mô để xử lý kịp thời hoặc đưa ra những chiến lược phát triển thích hợp
d Môi trường nội bộ: Bao gồm hệ thống các yếu tố hữu hình và vô hình, tồn tại trong các quá trình hoạt động của một đơn vị, tổ chức hay doanh nghiệp và
có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động và quá trình phát triển Đó là nguồn nhân lực, nguồn lực vật chất, nguồn lực vô hình Mỗi đơn vị, doanh nghiệp có môi trường nội
bộ khác nhau, có cả điểm mạnh lẫn điểm yếu và thay đổi theo thời gian Điều quan trọng là mỗi đơn vị, doanh nghiệp cần nắm bắt và phát huy điểm mạnh đồng thời hạn chế những điểm yếu của mình để tránh rủi ro trong quá trình hoạt động
1.2.3 Các hình thức dịch vụ cho doanh nghiệp, nhà cung cấp và khách hàng sử dụng dịch vụ
1.2.3.1 Các hình thức dịch vụ cho doanh nghiệp
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế – xã hội và yêu cầu của doanh nghiệp, dịch vụ cho doanh nghiệp phát triển ở tất cả mọi lĩnh vực của nền kinh tế Có nhiều cách phân loại dịch vụ cho doanh nghiệp dựa theo các tiêu chí khác nhau:
- Căn cứ vào vai trò của dịch vụ đối với chiến lược hoạt động của doanh nghiệp thì được phân chia thành dịch vụ tác nghiệp và dịch vụ chiến lược Dịch vụ
Trang 37tác nghiệp hay dịch vụ “hoạt động” là những dịch vụ cần thiết cho hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp như quản lý sổ sách, kế toán, thông tin liên lạc Dịch vụ chiến lược là các dịch vụ được sử dụng để xử lý các vấn đề mang tính trung và dài hạn của doanh nghiệp nhằm cải thiện khả năng hoạt động của doanh nghiệp, khả năng tham gia thị trường và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, chẳng hạn dịch
vụ quản lý chất lượng, tư vấn đầu tư, thiết kế sản phẩm, marketing
- Căn cứ vào chủ thể cung ứng dịch vụ có thể chia thành dịch vụ cung cấp từ Chính phủ; dịch vụ cung cấp từ các tổ chức quốc tế; dịch vụ cung cấp từ các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp; dịch vụ cung cấp từ các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp và xúc tiến thương mại và dịch vụ cung cấp từ khu vực tư nhân Cũng có cách phân loại khác chia các chủ thể cung cấp dịch vụ thành hai loại là dịch vụ công
và dịch vụ tư hoặc dịch vụ cung cấp từ các tổ chức Chính phủ và từ các tổ chức phi Chính phủ
- Căn cứ vào mức độ chuyên nghiệp của dịch vụ có thể chia thành dịch vụ chuyên nghiệp (như thiết kế mẫu mã sản phẩm, tư vấn pháp luật, kiểm toán, đào tạo ) và dịch vụ phổ thông (như đánh máy vi tính, photocopy )
Ngoài ra, các dịch vụ cho doanh nghiệp còn có thể chia thành các “dịch vụ nội bộ” mà doanh nghiệp tự tổ chức (như tư vấn, kế toán, marketing, phát triển thị trường ) và các dịch vụ từ bên ngoài (như thông tin, đào tạo, vận tải, kiểm toán )
là phổ biến pháp luật, chính sách, hội thảo, tọa đàm, đào tạo, cung cấp thông tin
Trang 38- Các tổ chức và các nhà tài trợ quốc tế Các tổ chức này sử dụng ngân sách của các Chính phủ và các tổ chức quốc tế thông qua các chương trình, dự
án tài trợ cho các quốc gia đang phát triển hoặc các chương trình, dự án hợp tác
ký kết giữa các quốc gia Đối tượng sử dụng dịch vụ mà các chương trình, dự
án hướng tới thông thường là khu vực doanh nghiệp tư nhân và hỗ trợ phát triển kinh tế vùng sâu, vùng xa Các dịch vụ chủ yếu là đào tạo, cung cấp thông tin, tiếp cận thị trường và các vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế
- Các tổ chức đại diện của doanh nghiệp Thông thường là các Phòng Thương mại và các Hiệp hội doanh nghiệp Đây là các tổ chức đại diện để bảo
vệ quyền và lợi ích của các doanh nghiệp theo ngành nghề, lĩnh vực, quy mô hoặc địa bàn nhất định Hầu hết các tổ chức này là các tổ chức phi Chính phủ hoạt động theo nguyên tắc phi lợi nhuận Các tổ chức này sử dụng một phần nguồn ngân sách của Chính phủ, các nhà tài trợ quốc tế để cung cấp các dịch
vụ Tuy nhiên, ngân sách hoạt động của các tổ chức này dựa chủ yếu vào hoạt động tạo nguồn thu từ chính việc cung cấp các dịch vụ cho doanh nghiệp theo nguyên tắc lấy thu bù chi, phi lợi nhuận Đối tượng của các dịch vụ của các tổ chức này là các doanh nghiệp trong nền kinh tế, trong đó có chú trọng đến khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa Các dịch vụ được cung cấp rất đa dạng tùy thuộc vào yêu cầu của doanh nghiệp
- Các tổ chức xúc tiến thương mại phi Chính phủ Hoạt động của các tổ chức này tương tự như các tổ chức xúc tiến thương mại Chính phủ, tuy nhiên nguồn ngân sách chủ yếu dựa vào nguồn thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ của các tổ chức này Ngoài ra, các Chính phủ, các nhà tài trợ cũng thông qua các tổ chức này để triển khai các chương trình, dự án hỗ trợ doanh nghiệp
Khách hàng sử dụng dịch vụ là các doanh nghiệp, bao gồm doanh
nghiệp lớn, các DNNVV và các doanh nghiệp siêu nhỏ, các hộ kinh doanh Việc phân chia giữa doanh nghiệp lớn và DNNVV phụ thuộc vào quy định của từng quốc gia theo các tiêu thức khác nhau (chủ yếu là hai yếu tố vốn và lao
Trang 39động), tuy nhiên nhìn chung các DNNVV chiếm khoảng 90- 95% trong nền kinh tế, còn lại là các doanh nghiệp lớn Các doanh nghiệp lớn và DNNVV được gọi là khu vực kinh doanh chính thức (có đăng ký kinh doanh) Ngoài ra còn có khu vực doanh nghiệp siêu nhỏ, kinh tế hộ và kinh doanh cá thể không đăng ký kinh doanh được coi là khu vực kinh doanh phi chính thức
Các doanh nghiệp lớn có ưu thế về nguồn lực nên có thể tự tổ chức một
số hoạt động như đào tạo, kế toán, tổ chức mạng lưới thông tin để bảo đảm thực hiện chức năng kinh doanh của mình Nhiều tập đoàn kinh tế còn thành lập các công ty xúc tiến thương mại, các viện nghiên cứu, các trường đại học để
hỗ trợ cho các ngành kinh doanh chính Tuy nhiên, các doanh nghiệp lớn vẫn
có nhu cầu về các dịch vụ cơ bản để có thể tiết kiệm nguồn lực, tập trung cho việc thực hiện chuyên môn hóa sản xuất- kinh doanh Đồng thời các doanh nghiệp này có nhu cầu về một số loại dịch vụ có chất lượng cao như nghiên cứu thị trường, phát triển thương hiệu, nghiên cứu và phát triển do các doanh nghiệp này hoặc không thể tự tổ chức các hoạt động này hoặc tổ chức không hiệu quả so với các nhà cung ứng chuyên nghiệp
Các DNNVV, doanh nghiệp siêu nhỏ và kinh tế hộ là đối tượng khách hàng chủ yếu của các nhà cung ứng dịch vụ cho doanh nghiệp do khu vực doanh nghiệp này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số doanh nghiệp của toàn bộ nền kinh tế Ngoài ra, do khu vực doanh nghiệp này có nhiều khó khăn và hạn chế về nguồn lực nên họ không thể tự tổ chức các hoạt động phục vụ cho quá trình kinh doanh hoặc tổ chức không hiệu quả, đồng thời gặp khó khăn trong việc chi trả dịch vụ Chính phủ và các tổ chức cung ứng dịch vụ cho doanh nghiệp cũng chú trọng hỗ trợ khu vực DNNVV này do các DNNVV có vai trò quan trọng trong việc đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, tạo sự năng động và phát triển bền vững cho nền kinh tế Các dịch vụ cung cấp cho khu vực doanh nghiệp này, nhất là các doanh nghiệp siêu nhỏ và kinh tế hộ gia đình chủ yếu là miễn phí hoặc hỗ trợ một phần tiền phải trả cho các dịch vụ
Trang 401.2.4 Nội dung phát triển dịch vụ và các hoạt động phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp
1.2.4.1 Nội dung phát triển dịch vụ
Phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp là quá trình không chỉ gia tăng số lượng các dịch vụ mà còn cả việc nâng cao chất lượng các dịch vụ cũng như hoàn thiện các điều kiện cung ứng
Phát triển về chất lượng dịch vụ:
Chủ thể cung cấp dịch vụ nỗ lực làm thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng hay doanh nghiệp khiến họ có sự hài lòng và có ấn tượng tốt hơn khi sử dụng những dịch vụ Trong đó cần hoàn thiện dịch vụ hiện có về hình thức, hoàn thiện dịch vụ hiện có về nội dung, hoàn thiện dịch vụ hiện có cả về hình thức lẫn nội dung
Chất lượng các dịch vụ cho doanh nghiệp cần đảm bảo 5 nhóm yếu tố:
Sự tin cậy (Reliability)
Sự đáp ứng (Responsiveness)
Năng lực phục vụ (Assurance)
Sự đồng cảm (Empathy)
Yếu tố hữu hình (Tangibles)
Kết quả của việc nâng cao chất lượng dịch vụ là tăng thu nhập từ các dịch
vụ, tăng tần suất và cường độ sử dụng dịch vụ của khách hàng, tăng sự đa dạng và lợi thế cạnh tranh của dịch vụ
Phát triển về số lượng dịch vụ: Là tạo ra các dịch vụ mới, bao gồm các dạng