Khái niệm rủi ro thị trường Rủi ro thị trường RRTT được định nghĩa là rủi ro giá trị của các trạng tháinội hoặc ngoại bảng cân đối kế toán CĐKT chịu ảnh hưởng bất lợi bởi những biếnđộng
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO THỊ TRƯỜNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1 Khái niệm rủi ro thị trường trong hoạt động của Ngân hàng thương mại 4
1.1.1 Khái niệm rủi ro thị trường 4
1.1.2 Phân loại rủi ro thị trường, các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thị trường 4
1.2 Các loại rủi ro thị trường chủ yếu trong hoạt động của Ngân hàng thương mại 10
1.2.1 Rủi ro hối đoái 10
1.2.2 Rủi ro lãi suất 13
1.2.3 Rủi ro thanh khoản 19
1.3 Công ước Basel II và các phương pháp quản trị rủi ro thị trường theo chuẩn mực Basel 22
1.3.1 Nhận dạng và xác định các loại rủi ro thị trường 23
1.3.2 Đo lường và định lượng rủi ro thị trường 26
1.3.2.1 Phương pháp chuẩn hoá 26
1.3.2.2 Phương pháp sử dụng mô hình nội bộ 30
1.3.3 Giám sát và kiểm soát rủi ro thị trường 30
1.4 Khung quản trị rủi ro thị trường 32
1.4.1 Khái niệm và mục tiêu quản trị rủi ro thị trường 32
1.4.2 Khung quản trị rủi ro thị trường 32
1.4.3 Các công cụ quản lý rủi ro thị trường 34
1.4.3.2 Công cụ phân tích kịch bản rủi ro: Stress Test, What - if scenario… 40
1.4.3.3 Công cụ bảo hiểm RRTT ( hedging): Các sản phẩm phái sinh 41
1.4.3.4 Công cụ kiểm soát RRTT: sử dụng các hạn mức 46
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO THỊ TRƯỜNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 48
Trang 22.1 Tổng quan về môi trường kinh doanh của các Ngân hàng thương
mại Việt Nam 48
2.1.1 Tổng quan hệ thống NHTM Việt Nam 48
2.1.2 Môi trường kinh doanh của các NHTM Việt Nam hiện nay 49
2.1.2.1 Khủng hoảng tài chính thế giới 2007 đến nay 49
2.1.2.2 Tác động của cuộc khủng hoảng đối với kinh tế thế giới và Việt Nam 54
2.2 Diễn biến các rủi ro thị trường chính yếu ở Việt Nam thời gian qua .57
2.3 Thực trạng công tác quản trị rủi ro thị trường tại các NHTM Việt Nam .61
2.3.1 Thực trạng quản lý rủi ro hối đoái 63
2.3.1.1 Đánh giá chung 63
2.3.1.2 Các biện pháp quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối 65
2.3.1.3 Các quy định nhằm quản lý rủi ro hối đoái tại một số NHTM Việt Nam 68
2.3.1.4 Vai trò của bộ phận quả lý rủi ro chuyên trách 75
2.3.2 Thực trạng quản lý rủi ro lãi suất 77
2.3.2.1 Chính sách quản lý rủi ro lãi suất 77
2.3.2.2 Các công cụ quản lý rủi ro lãi suất 79
2.3.2.3 Vai trò của bộ phận quản lý rủi ro chuyên trách 84
2.3.3 Thực trạng quản lý rủi ro thanh khoản 84
2.3.3.1 Chính sách quản lý rủi ro thanh khoản 84
2.3.3.2 Công cụ quản lý rủi ro thanh khoản 86
2.4 Các hạn chế trong việc quản trị rủi ro thị trường và nguyên nhân 89
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO THỊ TRƯỜNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 92
3.1 Yêu cầu đối với công tác quản trị nói chung, quản trị rủi ro nói riêng của các NHTM Việt Nam hiện nay 92
3.1.1 Nhận định diễn biến thị trường thời gian tới 92
Trang 33.1.2 Yêu cầu quản trị đối với các NHTM Việt Nam 100
3.1.3 Những nội dung pháp lý liên quan đến công tác QTRRTT cần chú ý 102
3.2 Đề xuất nhằm nâng cao chất lượng công tác quản trị rủi ro thị trường tại các NHTM Việt Nam 104
3.2.1 Áp dụng mô hình giá trị chịu rủi ro (VaR) nhằm lượng hóa rủi ro thị trường 104
3.2.2 Áp dụng mô hình thời lượng trong quản lý rủi ro lãi suất 108
3.2.3 Xây dựng hệ thống quản lý tài sản nợ - tài sản có 113
3.2.4 Áp dụng các công cụ mới trong quản lý rủi ro thanh khoản 118
3.2.5 Sử dụng các sản phẩm phái sinh để bảo hiểm rủi ro 120
3.2.6 Quản lý rủi ro chứng khoán và rủi ro hàng hóa 122
3.2.7 Một số giải pháp khác 123
3.2.7.1 Nâng cao năng lực tài chính 123
3.2.7.2 Hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý 123
3.2.7.3 Mua sắm, trang bị phần mềm quản trị rủi ro thị trường 124
3.2.7.4 Hoàn thiện mô hình tổ chức quản trị rủi ro thị trường 127
3.2.7.5 Đào tạo nguồn nhân lực quản lý rủi ro 127
3.3 Một số kiến nghị 128
3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ, Bộ, Ngành liên quan 128
3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng nhà nước 129
3.3.3 Kiến nghị với Hiệp hội Ngân hàng 130
KẾT LUẬN 131
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 133
PHỤ LỤC 135
Trang 4DANH MỤC PHỤ LỤC, BẢNG BIỂU, HÌNH MINH HOẠ
Hình 1.1: Hệ thống quản trị rủi ro của ngân hàng UOB (United Overseas Bank
Group) 33
Hình 1.2 Quá trình quản lý rủi ro thị trường 34
Hình 1.3 Tham khảo mẫu báo cáo VaR của Bank of New York Mellon 39
Hình 1.4: Đánh giá rủi ro (stress test) cho một danh mục đầu tư 40
Hình 1.5: Hệ thống các hạn mức RRTT của NHTM 47
Đồ thị 2.1: Diễn biến thay đổi của chính sách lãi suất tại Mỹ 2001 - 2009 51
Đồ thị 2.2 Diễn biến thay đổi giá nhà ở trong thời kỳ bong bóng thị trường nhà ở 52
Đồ thị 2.3: Tình hình phá sản 2007 - 20008 53
Điều thị 2.4: Chỉ số bình quân công nghiệp Dow-Jones giảm liên tục từ quý III/2007 54
Đồ thị 2.5: Biến động giá dầu (USD/thùng) 56
Bảng 2.1: Các mốc thay đổi LSCB, LS tái cấp và LS tái chiết khấu theo QĐ của NHNNVN 58
Đồ thị 2.6: Biến động lãi suất VND liên ngân hàng 2008 - 2009 59
Đồ thị 2.7 Biến động tỷ giá USD/VND đầu năm 2008 đến nay 60
Bảng 2.3 Trạng thái ngoại tệ và các hạn mức giao dịch, hạn mức lỗ 70
Bảng 2.4 Trạng thái ngoại tệ của NHTM X 71
Bảng 2.7 Trạng thái ngoại tệ và mức lỗ tối đa 76
Bảng 2.8: Khe hở nhạy cảm lãi suất của NHTM X thời điểm 31/12/2007 79
Bảng 2.9: Khe hở nhạy cảm lũy kế trên tổng tài sản 80
Bảng 2.10: Giá trị chịu rủi ro đối với danh mục đầu tư cho vay VND trên thị trường liên ngân hàng của NHTM X tại thời điểm x/x/2009 82
Bảng 2.11: Thử nghiệm khủng hoảng: LS liên ngân hàng tăng đến 25% (NHTM X) .83 Bảng 2.12: Một số chỉ số phản ánh khả năng thanh khoản 88
Bảng 3.1: Dự báo chỉ số kinh tế Việt Nam đến 2011 94
Bảng 3.2: Các chỉ số kinh tế chính của Việt Nam 2007 - 2009 95
Hình 3.1: Cấu trúc bảng CĐKT và các chênh lệch thanh khoản/lãi suất 116
Đồ thị 3.1: Cơ cấu lợi nhuận/ rủi ro đối với quyền chọn mua 121
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng phát triển Châu Á ISDA International Swaps and
Derivatives Association Hiệp hội Quốc tế về Hoánđổi và Phái sinh
-ALCO Ban quản lý tài sản nợ - tài sản có ISMA International securities
market association - Hiệphội thị trường chứngkhoán thế giới
ALM Quản lý tài sản nợ - tài sản có KHTK Khe hở thanh toán
BOE Bank of England - Ngân hàng
trung ương Anh
LSCB Lãi suất cơ bản
BOJ Bank of Japan - Ngân hàng trung
ương Nhật Bản
LSCĐ Lãi suất cố địnhCDO Giấy nợ đảm bảo bằng tài sản LSBĐ Lãi suất biến đổi
ECB European Central Bank - Ngân
Thị trường phi tập trungFDI Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
FED Federal Reserve System - Quỹ dự
Rủi ro hối đoái
FRA Thoả thuận giá kỳ hạn RRLS Rủi ro lãi suất
FTP Định giá điều chuyển vốn RRTK Rủi ro thanh khoản
GDP Tổng thu nhập quốc dân RRTT Rủi ro thị trường
Trang 6-HĐQT Hội đồng quản trị TCTD Tổ chức tín dụng
HTLS Hỗ trợ lãi suất WTO Tổ chức thương mại thế
giớiIRS Hợp đồng hoán đổi lãi suất IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay đã trở thành một xu thế của thời đại và diễn
ra ngày càng sâu về nội dung, rộng về quy mô trên nhiều lĩnh vực Việt Nam nóichung, ngành ngân hàng - tài chính Việt Nam nói riêng cũng đã và đang tích cựctham gia vào xu thế đó Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức thương mại thế giớiWTO đã được 3 năm và những ảnh hưởng của quá trình hội nhập ngày càng thểhiện rõ, đặc biệt đối với hoạt động Ngân hàng thương mại (NHTM) Các Tổ chứctín dụng (TCTD) nước ngoài xuất hiện tại Việt Nam ngày càng nhiều với phạm vihoạt động ngày càng mở rộng, đe doạ đến thị phần nội địa của các NHTM ViệtNam Ngược lại, hoạt động của các NHTM Việt Nam cũng đang được mở ra trườngquốc tế và chịu nhiều ảnh hưởng hơn từ những biến động kinh tế thế giới Bối cảnhtrên khiến các NHTM Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro từ thị trường hơnbao giờ hết Cuộc chạy đua lãi suất và tình hình căng thẳng về thanh khoản trongnăm 2008, cũng như những diễn biến trên thị trường hối đoái từ 2008 đến nay là hồichuông cảnh báo về những nguy cơ rủi ro thị trường ngày càng gia tăng đối với cácNHTM Việt Nam Tuy nhiên, việc quản trị rủi ro thị trường (QTRRTT) một cáchbài bản, khoa học và hiệu quả nhằm tăng cường hiệu quả kinh doanh, đảm bảo tính
an toàn và phát triển bền vững rõ ràng đang là một nghiệp vụ rất mới và chưa đượcquan tâm đúng mức đối với nhiều NHTM Việt Nam
Với mục tiêu dự đoán được chuyển động của thị trường (tỷ giá, lãi suất…)nhằm cắt giảm nguy cơ thua lỗ trong hoạt động kinh doanh, đồng thời phát hiệnnhững cơ hội đầu tư có lãi hơn cho ngân hàng; công tác QLRRTT đã được cácNHTM lớn trên thế giới triển khai hiệu quả từ rất lâu; bao gồm từ việc nghiên cứu,đánh giá, phân tích, dự đoán thị trường và từ đó lập ra các phương án dự phòng tìnhtrạng đột biến xấu của thị trường
Thực tế cho thấy nhiều NHTM lớn đã áp dụng thành công và hiệu quả côngtác QLRRTT để vượt qua những đột biến trên thị trường tài chính thế giới sau sựkiện ngày 11 tháng 9 và đặc biệt là cuộc khủng hoảng tài chính thế giới thời gian
Trang 8qua Các NHTM không làm đầy đủ và chuẩn xác công tác QLRRTT thường phảichịu những hậu quả nghiêm tọng trong hoạt động kinh doanh của mình và thườngxuyên phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ trầm trọng hoặc phá sản, mà sự sụp đổ của
89 ngân hàng tại Mỹ đến nay là một minh chứng điển hình Rủi ro thị trườngthường chiếm một tỷ trọng khá lớn trong tổn thất của NHTM
Từ cuối năm 2002, nhằm tăng cường hơn nữa khả năng chịu đựng của từngNHTM trước các tình huống xấu trong hoạt động kinh doanh cũng như để đảm bảotính an toàn của cả hệ thống, Uỷ ban giám sát hoạt động ngân hàng có trụ sở tạiBasle đã ban hành các quy định để chuẩn hoá QLRRTT Bên cạnh đó, các công cụ
và các phương pháp để lượng hoá các giá trị chịu RRTT đã và đang được nghiêncứu cải tiến và đầu tư liên tục
Tuy nhiên do vẫn còn thiếu kinh nghiệm cũng như chưa có cái nhìn đầy đủ vềcông tác QLRR nói chung và QLRRTT nói riêng, việc áp dụng và triển khaiphương pháp QLRRTT tiên tiến và đúng theo thông lệ quốc tế hiện hành vào hoạtđộng của các NHTM Việt Nam còn nhiều khó khăn
Với thực trạng nói trên, chúng tôi nhận thấy một đề tài nghiên cứu khoa họcmang tính ứng dụng về phương pháp QLRRTT đối với các NHTM Việt Nam là rấtcần thiết Đó chính là lý do để chúng tôi quyết định lựa chọn nghiên cứu đề tài:
"Phương pháp quản trị rủi ro thị trường tại các NHTM Việt Nam" Đề tài
nghiên cứu các lý luận cơ bản về RRTT và phương pháp QLRRTT, đánh giá thựctrạng QLRRTT ở các NHTM Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra một số giải phápnâng cao hiệu quả công tác QLRRTT tại NHTM Việt Nam
2 Mục tiêu nghiên cứu
1 Nguy cơ rủi ro thị trường trong hoạt động của các NHTM Việt Nam
2 Yêu cầu đối với công tác QLRRTT tại các NHTM Việt Nam
3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác QLRRTT tại cácNHTM Việt Nam
4 Tham mưu cho các cơ quan chức năng trong việc xây dựng các định hướng,quy định, hướng dẫn thực hiện phương pháp QLRRTT phù hợp với thông
lệ quốc tế
Trang 93 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm:
5 Hệ thống lý luận về rủi ro thị trường và quản lý RRTT
6 Phương pháp thực hành quản lý RRTT tại các NHTM trên thế giới
7 Thực trạng RRTT và phương pháp QLRRTT trong hoạt động kinh doanhtại các NHTM Việt Nam
Trong phạm vi đề tài này, bước đầu nhóm nghiên cứu xin đưa ra những vấn đềtổng quan về phương pháp và các công cụ QLRRTT qua tham khảo và học hỏinhững phương pháp thực hành tiên tiến từ các NHTM trên thế giới Việc nghiêncứu chi tiết hơn từng biện pháp QLRR cụ thể với từng loại rủi ro thị trường cụ thể(rủi ro hối đoái, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản…), nhóm nghiên cứu đề nghịđược phát triển tiếp ở các công trình tiếp theo
4 Phương pháp nghiên cứu
Là một đề tài thuộc lĩnh vực khoa học ứng dụng, đề tài sử dụng phối hợp cácphương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống và hiện đại sau:
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Nghiên cứu quá trìnhxây dựng và phát triển phương pháp QLRRTT tại các NHTM Việt Nam trong trạngthái động, do tác động của các nhân tố khách quan
- Phương pháp logic: Nghiên cứu những diễn biến trong sự tác động của cácyếu tố nội tại với nhau, trong đó có các tác nhân chủ yếu, quyết định
- Phương pháp thống kê và tổng hợp: Đề tài sử dụng các tư liệu trong nhữngnăm gần đây của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, của các NHTM, của các khảo sátquốc tế… được phân bổ theo các tiêu thức khác nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứucủa từng chủ đề
- Các phương pháp nghiên cứu khác: so sánh, quy nạp và diễn dịch…
5 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận và các biểu số liệu kèm theo, đề tài được cấutrúc thành 03 chương như sau:
1 Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro thị trường của Ngân hàng thương mại
2 Thực trạng công tác quản trị rủi ro thị trường tại các NHTM Việt Nam
3 Đề xuất nhằm nâng cao chất lượng công tác quản trị rủi ro thị trường tại cácNHTM Việt Nam
Trang 10CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO THỊ TRƯỜNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Khái niệm rủi ro thị trường trong hoạt động của Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm rủi ro thị trường
Rủi ro thị trường (RRTT) được định nghĩa là rủi ro giá trị của các trạng tháinội hoặc ngoại bảng cân đối kế toán (CĐKT) chịu ảnh hưởng bất lợi bởi những biếnđộng trong các thị trường chứng khoán, lãi suất, tỷ giá hối đoái hay giá cả hàng hóa.RRTT có thể được phát hiện một cách rõ ràng tỏng các danh mục đầu tư như chứngkhoán, hàng hóa… do các loại hình đầu tư này được giao dịch một cách trực tiếp.Tuy nhiên, rủi ro thị trường chịu ảnh hưởng không nhỏ bởi một yếu tố ngầm đó làrủi ro lãi suất, phát sinh do có sự không khớp đúng về thời hạn hay quy mô huyđộng và sử dụng vốn, ảnh hưởng đến lưu chuyển tiền tệ của ngân hàng Bên cạnh đóRRTT còn xuất hiện bởi nhiều nguyên nhân khác mà không được thể hiện trên bảngCĐKT
Hiểu một cách tổng quan nhất thì RRTT là khả năng hứng chịu một kết quảthu lỗ trong kinh doanh khi mà thị trường có những biến động và thay đổi ngượcchiều so với dự đoán của ngân hàng Các yếu tố rủi ro chính trên thị trường đượcxác định qua sự chênh lệch về lãi suất, tỷ giá, chứng khoán và giá cả hàng hóa
1.1.2 Phân loại rủi ro thị trường, các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thị trường
Nhìn chung, RRTT bao gồm rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái, rủi ro chứng khoán
và rủi ro hàng hóa Ngoài ra, nhiều NHTM cũng xem rủi ro thanh khoản như là mộtphần trong danh mục RRTT đối với hoạt động NHTM
Rủi ro lãi suất (RRLS) là rủi ro điều kiện tài chính của ngân hàng chịu
những biến động bất lợi về lãi suất Những thay đổi về lãi suất ảnh hưởng đến thunhập của ngân hàng thông qua việc làm thay đổi thu nhập lãi thuần của ngân hàng
Trang 11và các khoản thu nhập khác liên quan đến lãi và chi phí hoạt động Mục đích điềuchỉnh lãi suất nhằm đạt lợi nhuận tối ưu theo từng thời kỳ là một phần quan trọngtrong chiến lược kinh doanh của ngân hàng, tuy nhiên việc điều chỉnh nay không dễdàng chút nào bởi sự chênh lệch giữa các khoản huy động và cho vay là rất khó cânđổi một cách chính xác, đồng thời lãi suất thị trường cũng thường xuyên biến động.Nguyên nhân cốt lõi của việc biến động lãi suất liên quan chủ yếu đến các chínhsách điều hành kinh tế vĩ mô của mỗi quốc gia Căn cứ theo tình hình phát triển, tốc
độ tăng trưởng nền kinh tế, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, thâm hụt cán cânthương mại… mà chính phủ các nước sẽ điều chỉnh tăng hoặc giảm lãi suất cơ bản(LSCB) Các NHTM căn cứ vào nhu cầu thực tế về sử dụng vốn cho các hoạt độngkinh doanh của mình trong từng thời kỳ mà có sự điều chỉnh lãi suất tương ứng, daođộng xung quanh mức LSCB nêu trên
Thực tế lãi suất trên thị trường luôn biến động hàng ngày Tuỳ theo từng thời
kỳ, từng loại tiền tệ; tuỳ theo nhu cầu vốn của các ngân hàng cũng như kỳ hạn củacác khoản vay và cho vay trên thị trường vốn mà biến động lãi suất tăng hay giảmvới các biên độ khác nhau Biến động lãi suất ảnh hưởng đến bảng cân đối tài sảncủa NHTM đồng thời tác động đến các hoạt động tự doanh trên thị trường vốn Biếnđộng lãi suất là nguyên nhân gây rủi ro, nhưng đồng thời cũng có thể là cơ hội tìmkiếm lợi nhuận cho NH nếu có những dự đoán chính xác
Thay đổi tỷ lệ lãi suất là nguyên nhân trực tiếp gây nên rủi ro lãi suất, bêncạnh đó có nhiều nguyên nhân gián tiếp ảnh hưởng đến mức độ rủi ro lãi suất Theocác nguyên nhân đó, có thể phân nhỏ rủi ro lãi suất thành:
- Rủi ro định giá lại: Đó là rủi ro lãi suất phát sinh từ những chênh lệch về kỳ
hạn (đối với lãi suất cố định LSCĐ) và định giá lại (đối với lãi suất thả nổi LSBĐ) đối với các tài sản có (TSC), tài sản nợ (TSN) và các trạng thái ngoại bảngcủa ngân hàng
-Một ngân hàng tài trợ cho một khoản vay dài hạn với LSCĐ bằng lãi suất bằngtiền gửi ngắn hạn có thể sẽ bị sụt giảm thu nhập trong tương lai phát sinh từ trạngthái này và sụt giảm giá trị ngân hàng nếu lãi suất tăng Những sụt giảm này phátsinh vì các luồng tiền của khoản vay này là cố định trong toàn bộ kỳ hạn, trong khi
Trang 12đó lãi suất phải trả cho nguồn tài trợ là thả nổi và tăng sau khi khoản tiến gửi ngắnhạn này đáo hạn.
- Rủi ro đường lợi tức: Những chênh lệch về định giá lại có thể làm cho ngân
hàng chịu rủi ro với những thay đổi về độ dốc và hình dạng của đường lợi tức Rủi
ro đường lợi tức phát sinh khi những dịch chuyển không dự báo trước của đường lợitức có những ảnh hưởng bất lợi đối với thu nhập hay giá trị kinh tế của ngân hàng
- Rủi ro cơ sở: Rủi ro cơ sở phát sinh từ tương quan không hoàn hảo trong sự
điều chỉnh các lãi suất thu được và phải trả đối với các công cụ khác nhau có nhữngđặc điểm định giá tương tự
Khi lãi suất thay đổi những chênh lệch này có thể tạo ra những thay đổi khônglường trước được trong luồng tiền và chênh lệch thu nhập giữa tài sản có, tài sản nợ
và công cụ ngoại bảng có kỳ hạn tương tự hay tần suất định giá lại tương tự
- Rủi ro tính tuỳ chọn: Một nguồn rủi ro lãi suất ngày càng trở nên quan trọng
phát sinh từ các tuỳ chọn trong nhiều tài sản, tài sản nợ và danh mục đầu tư ngoạibảng của ngân hàng
Ví dụ về các công cụ có chứa quyền chọn bao gồm nhiều loại trái phiếu vàchứng chỉ với quyền chọn mua hoặc bán, các khoản vay cho phép bên vay có quyềntrả nợ trước hạn, các loại hình công cụ tiền gửi không có kỳ hạn khác cho người gửitiền quyền rút tiền tại bất kỳ thời điểm nào mà không phải chịu phạt Nếu khôngđược quản lý đầy đủ, các đặc tính hoàn trả không đối xứng của công cụ có quyềnchọn có thể gây rủi ro đáng kể, đặc biệt cho những người bán quyền chọn, do nhữngquyền chọn độc lập hay phụ thuộc, thường được thực hiện với lợi thế thuộc vềngười nắm giữ và bất lợi thuộc về người phát hành Hơn nữa, một loạt các quyềnchọn có thể liên quan đến hệ số nợ lớn, làm tăng thêm ảnh hưởng (tích cực và tiêucực) của các trạng thái quyền chọn đối với tình hình tài chính của công ty)
Rủi ro hối đoái (RRHĐ) là khả năng rủi ro hiện tại hoặc tương lai phát
sinh đối với thu nhập và vốn do những biến động bất lợi về tỷ giá hối đoái Cụ thể,RRHĐ chỉ sự ảnh hwongr của các biến động bất lợi về tỷ giá lên giá trị trạng tháingoại tệ mở của NHTM Trạng thái ngoại tệ mở của một ngoại tệ là chênh lệch giữaTSC và TSN (nội và ngoại bảng) của ngoại tệ đó tại một thời điểm Song song với
Trang 13RRHĐ, các ngân hàng đồng thời cũng đứng trước rủi ro về lãi suất, phát sinh do sựmất cân đối về thời gian đáo hạn của các trạng thái ngoại tệ Bên cạnh đó, tronghoạt động kinh doanh ngoại tệ, ngoài rủi ro về biến động tỷ giá các ngân hàng cũngphải đối mặt với rủi ro vỡ nợ của các đối tác trên thị trường, hay chính là rủi rothanh toán Sự chênh lệch múi giờ, phát sinh do quá chậm trễ về thời gian trong việcthanh toán một đồng tiền tại một trung tâm và việc thanh toán một đồng tiền khác ởmúi giờ khác cũng là nguyên nhân gây RRHĐ mà ngân hàng phải gánh chịu.
Nguyên nhân cốt lõi của RRHĐ bắt nguồn từ chính sách tiền tệ và điều hành
tỷ giá khác nhau của mỗi quốc gia, được thể hiện qua các môi trường tiền tệ sau:
Môi trường tiền tệ thả nổi hoàn toàn: Giá trị đối ngoại của đồng tiền biến
động một cách tự do không ấn định một biên độ dao động cụ thể nào, tăng lên hoặcgiảm xuống tuỳ theo tác động của yếu tố thị trường (như tăng hoặc cắt giảm LSCB,ảnh hưởng bởi chỉ số giá tiêu dùng, tỷ lệ thất nghiệp, cung cầu ngoại tệ…)
Môi trường tiền tệ có kiểm soát: Giá trị đối ngoại của đồng tiền được ấn định
theo một loại ngoại tệ nhất định (ví dụ: VNĐ/USD) và có biên độ dao động cụ thể
Môi trường tiền tệ bị thay đổi theo chính sách điều hành: Giá trị đối ngoại của
đồng tiền từ có kiểm soát sang thả nội hoặc ngược lại
Mặt khác, nhân tố trực tiếp tác động đến tỷ giá hối đoái chính là sự dịchchuyển đường cung và cầu trên thị trường ngoại hối, dưới ảnh hưởng của 4 yếu tốsau:
- Cán cân thương mại: trong điều kiện các yếu tố khác không đổi nếu nhập
khẩu của một nước tăng thì đường cung tiền của nước ấy sẽ dịch chuyển về phíabên phải, tỷ giá hối đoái giảm xuống, nếu xuất khẩu tăng thì đường cầu về tiền tệcủa nước ấy sẽ dịch chuyển sang trái, tỷ giá hối đoái tăng lên
- Tỷ lệ lạm phát tương đối: Mức chênh lệch lạm phát của hai nước cũng ảnh
hưởng đến sự biến động của tỷ giá Giả sử tỏng điều kiện cạnh tranh lành mạnh,năng suất lao động của hai nước tương đương nhau, cơ chế quản lý ngoại hối tự do,khi đó tỷ giá biến động phụ thuộc vào mức chênh lệch lạm phát của hai đồng tiền.Nước nào có mức độ lạm phát lơn hơn thì đồng tiền của nước đó bị mất giá so vớiđồng tiền nước còn lại
Trang 14- Sự vận động của vốn: Lãi suất có ảnh hưởng lớn đến quyết định đầu tư vốn
của các nhà đầu tư nước ngoài Khi mức lãi suất của nước này tăng lên một cáchtương đối so với các nước khác thì các tài sản tài chính của nước đó tạo ra tỷ lệ lợitức dự tính cao hơn và các nhà đầu tư nước ngoài muốn đầu tư vào nước đó Điềunày làm cho đường cầu về tiền của nước đó dịch chuyển sang phải và làm tăng tỷgiá hối đoái Đây là một trong những ảnh hưởng quan trọng nhất tới tỷ giá ở cácnước phát triển cao
- Dự trữ phương tiện thanh toán, đầu cơ: Các hoạt động này có thể làm dịch
chuyển đường cung và cầu tiền tệ Đặc biệt, hoạt động đầu cơ có thể gây ra nhữngthay đổi khổng lồ về cung/cầu tiền, đặc biệt trong điều kiện thông tin liên lạc vàcông nghệ máy tính hiện đại có thể trao đổi hàng tỷ USD giá trị tiền tệ mỗi ngày.Ngoài ra, một số nhân tố khách quan khác cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến
tỷ giá hối đoái như: hệ số tín nhiệm đối với các đồng tiền trên thị trường tài chínhtrong nước và quốc tế, các cú sốc kinh tế, các công bố thống kê kinh tế, những thayđổi chính sách lớn…
Rủi ro chứng khoán và rủi ro hàng hóa (Euity& Commodity risk): là
rủi ro giá cả (price risk), do sự biến động bất lợi về giá chứng khoán, giá hàng hóaliên quan đến các danh mục đầu tư làm ảnh hưởng đến thu nhập hoặc vốn của ngânhàng
Rủi ro giá cả có hai dạng: rủi ro hệ thống và rủi ro không hệ thống Rủi ro hệthống chỉ mức độ nhạy cảm của giá trị danh mục đầu tư đối với những thay đổi tổngthể của các mức giá chứng khoán, hàng hóa Rủi ro không hệ thống liên quan đếnbiến động giá được xác định bởi các đặc trưng cụ thể của doanh nghiệp
Rủi ro chứng khoán phát sinh do biến động tăng hoặc giảm giá chứng khoántheo chiều hướng bất lợi Biến động giá chứng khoán chịu ảnh hưởng của 3 nhómyếu tố Thứ nhất, chính sách của nhà nước, biến động lãi suất, tỷ lệ lạm phát… cóthể gây rủi ro chung cho toàn thị trường chứng khoán, ảnh hưởng đến mọi công tykhi niêm yết cổ phiếu trên sàn giao dịch, đây chính là rủi ro hệ thống Thứ hai, cácyếu tố gây tác động xấu đến một lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh riêng biệthay một ngành nghề cụ thể nào đó cũng sẽ là nhân tố gây nên rủi ro giá chứng
Trang 15khoán của các công ty hoạt động trong ngành Thứ ba, kết quả hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến giá chứng khoán của chínhdoanh nghiệp đó.
Đối với rủi ro hàng hóa, sự biến động về giá cả hàng hóa theo chiều hướng bấtlợi là nguyên nhân gây rủi ro cho nhà đầu tư, cho các ngân hàng có hoạt động kinhdoanh trong lĩnh vực này Cung và cầu hàng hóa sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến biếnđộng giá cả hàng hóa Bên cạnh đó, các yếu tố như nhu cầu tiêu dùng của conngười, yếu tố thời vụ các mặt hàng, mức độ khan hiếm, các chính sách về xuất nhậpkhẩu, biến động tỷ giá, lãi suất hay các hoạt động có tính chất đầu cơ trên thị trườnghàng hóa đều có ảnh hưởng đến giá cả hàng hóa Như vậy, các nhân tố gây biếnđộng giá hàng hóa là rất phong phú, đa dạng và khả năng tạo rủi ro đồng thời tạo cả
cơ hội kiếm lời cũng rất cao
Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, mảng hoạt động tự doanh, đầu cơ muabán hàng hóa chịu ảnh hưởng chính từ rủi ro hàng hóa Bên cạnh đó, các sản phẩmliên quan đến thị trường hàng hóa như các hợp đồng mua bán hàng hóa kỳ hạn, hợpđồng quyền hạn… cũng khiến cho ngân hàng vừa có cơ hội kiếm lời, vừa có khảnăng phải chịu tổn thất khi thị trường hàng hóa biến động không như dự đoán củangân hàng
Cả bốn loại rủi ro trên đều có ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh ngân hàngvới bản chất là sử dụng vốn tự có và vốn huy động từ các nguồn khác nhau để chovay, đầu tư kinh doanh hay phát triển các dịch vụ ngân hàng phục vụ nhu cầu thanhtoán, tiêu dùng, kinh doanh… Tuy nhiên, đối với các NHTM Việt Nam, rủi ro lãisuất và rủi ro hối đoái có ảnh hưởng bởi lẽ đa phần các NHTM Việt Nam chưa pháttriển hoạt động tự doanh chứng khoán và hàng hóa Rủi ro lãi suất và rủi ro hối đoáikhông chỉ đơn thuần ảnh hưởng đến các khoản mục đầu tư, kinh doanh của ngânhàng mà còn có tầm ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ bảng cân đối tài sản của ngânhàng Các loại rủi ro chứng khoán và rủi ro hàng hóa chỉ ảnh hưởng đến hoạt độngkinh doanh của một bộ phận trong ngân hàng Hơn nữa, nếu phân tích sâu xanguyên nhân của biến động giá chứng khoán và hàng hóa thì lãi suất và tỷ giá hốiđoái là hai tác nhân rất quan trọng
Trang 16 Rủi ro thanh khoản là khả năng ngân hàng không đáp ứng được các yêu
cầu về vốn khả dụng của mình khi phát sinh các khoản phải trả được yêu cầu thanhtoán, dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh toán Rủi ro thanh khoản có ảnh hưởngrất lớn, có thể làm ngân hàng phá sản nếu như việc cân đối các luồng tiền vào vàluồng tiền ra của ngân hàng không hợp lý hoặc thiếu chính xác
Phần tiếp theo sẽ tập trung vào phân ích quá trình phát sinh, quy mô và mức
độ ảnh hưởng của rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái và rủi ro thanh khoản đối với hoạtđộng ngân hàng
1.2 Các loại rủi ro thị trường chủ yếu trong hoạt động của Ngân hàng thương mại
1.2.1 Rủi ro hối đoái
a Nguyên nhân phát sinh RRHĐ
Trong hoạt động ngân hàng, yếu tố trực tiếp gây nên rủi ro hối đoái là các hoạtđộng mua bán ngoại tệ và hoạt động trên TSC và TSN bằng ngoại tệ của ngân hàng,tạo nên trạng thái ngoại tệ mở Chẳng hạn, ngân hàng mua và bán ngoại tệ chokhách hàng nhằm mục đích thanh toán hợp đồng ngoại thương, nhằm điều chỉnhtrạng thái ngoại hối của đồng tiền hoặc mua và bán ngoại tệ nhằm mục đích đầu cơkhi có những dự tính về biến động tỷ giá… Khi tỷ giá trên thị trường thay đổi cũngđồng nghĩa với việc các tài sản bằng ngoại tệ, trạng thái ngoại tệ mở sẽ bị ảnhhưởng và rủi ro xảy ra nếu như biến động tỷ giá không theo như nhận định của ngânhàng Ngoài ra sự không cân xứng về ky hạn giữa TSC (TSC) và TSN (TSN) đốivới từng loại ngoại tệ cũng gây nên rủi ro hối đoái Hai ví dụ sau sẽ mô tả rõ hơn vềrủi ro tỷ giá hối đoái
Ví dụ 1: Một ngân hàng duy trì trạng thái ngoại hối tại thời điểm x/x/20…
Bán trongngày
Trạng thái
NT cuốingày
Ý nghĩa kinh tế
- Lãi khi giá USD tăng
Trang 17- Lỗ khi giá USD giảm
Trạng thái ngoại tệ đoản
- Lãi khi giá EUR giảm
- Lỗ khi giá EUR tăng
Trạng thái ngoại tệ trường
- Lãi khi giá JPY tăng
- Lỗ khi giá JPY giảm
Qua bảng trên ta thấy được rủi ro tỷ giá hối đoái chỉ phát sinh khi ngân hàngduy trì trạng thái ngoại tệ mở
b Cơ chế phát sinh rủi ro hối đoái được miêu tả rõ nhất thông qua ba phương pháp cơ bản để thu lãi trong hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng.
Lãi phát sinh khi ngân hàng tạo trạng thái ngoại hối (Exchange Position):
Ngân hàng tạo trạng thái ngoại hối bằng cách mua bán một đồng tiền nào đó, chờcho tỷ giá biến động, sau đó cân bằng trạng thái ngoại hối và thu lãi
Ví dụ: Ngân hàng A dự đoán USD sẽ giảm giá mạnh so với VND trong nay
mai, ngay lập tức ngân hàng này tiến hành bán USD vào ngày hôm nay với tỷ giá1USD = 16.000 VNĐ, sau một thời gian, tỷ giá giảm xuống còn 1USD=15.500VNĐ, ngân hàng lại tiến hành mua USD để cân bằng trạng thái, lãi kinh doanh
Trang 18ngoại hối thu được là 500VNĐ/USD (ở đây ta chỉ tập trung vào yếu tố tỷ giá, mà bỏqua chênh lệch lãi suất phát sinh giữa hai đồng tiền) Bằng bảng luồng tiền, ta biểudiễn quy trình kinh doanh như sau:
Chúng ta thấy ngay rằng, nếu tỷ giá trên thị trường thực sự không giảm, mà lạităng thì đương nhiên là ngân hàng A phải chịu khoản lỗ ngoại hối
Lãi thu được từ kinh doanh chênh lệch tỷ giá: là việc tại cùng một thời
điểm mua một đồng tiền ở nơi có giá thấp và bán lại đồng tiền này ở nơi có giá caohơn để hưởng chênh lệch tỷ giá Hành vi mua bán diễn ra tại cùgn một thời điểmvới số lượng bằng nhau, nên kinh doanh chênh lệch tỷ giá không chịu RRHĐ (vìkhông tạo trạng thái ngoại hối) và không phải bỏ vốn
Ngân hàng sẽ kinh doanh chênh lệch tỷ giá như sau:
Tuy nhiên biến động tỷ giá trên thị trường ngoại hối quốc tế là rất lớn vớinhiều thiết bị công nghệ tiên tiến hỗ trợ, cho nên chênh lệch tỷ giá giữa các ngânhàng là rất nhỏ và rất khó có thể kiểm lời từ hoạt động kinh doanh này
Lãi thu được từ chênh lệch tỷ giá mua vào và bán ra: Do tỷ giá mua vào
bao giờ cũng thấp hơn tỷ giá bán ra, nên chênh lệch tỷ giá mua bán chính là thunhập của ngân hàng Về thực chất, trong giao dịch này, ngân hàng đóng vai trò lànhà cung cấp dịch vụ mua hộ, bán hộ cho khách hàng, nên không chịu RRHĐ vàkhông cần bỏ vốn
Trang 19Qua phân tích cho thấy, nhà kinh doanh ngoại hối chỉ chịu RRHĐ khi duy trìtrạng thái ngoại hối mở (open position) Tất cả các giao dịch làm phát sinh sựchuyển giao quyền sở hữu về ngoại tệ (hiện tại và tương lai) đều tạo ra trạng tháingoại tệ, trong đó thông qua giao dịch mua bán là chủ yếu Đối với mỗi ngoại tệ, tạimột thời điểm, nếu tổng TSC lớn hơn tổng TSN (nội và ngoại bảng) thì ngoại tệ đó
ở trạng thái trường Khi đồng tiền này lên giá làm phát sinh lãi ngoại hối; và ngượclại, khi đồng tiền này giảm giá sẽ phát sinh lỗ ngoại hối Nếu tổng TSC nhỏ hơntổng TSN, thì ngoại tệ đó ở trạng thái đoản Khi đồng tiền này lên giá làm phát sinh
lỗ ngoại hối; và ngược lại, khi đồng tiền này giảm giá sẽ phát sinh lãi ngoại hối.Ngoài ra, nếu ngân hàng đầu cơ kinh doanh ngoại hối trên thị trường ngoại hốiquốc tế thì phải tạo trạng thái và lợi dụng sự biến động liên tục của tỷ giá các loạiđồng tiền để kiếm lời Như vậy nguồn phát sinh RRHĐ cũng bắt nguồn từ việc mởrộng trạng thái giao dịch ngoại tệ
1.2.2 Rủi ro lãi suất
a Tác động của rủi ro lãi suất đối với hoạt động NHTM:
Cần được xem xét theo ba khía cạnh sau:
- Khía cạnh thu nhập: Bộ phận thu nhập trước đây được quan tâm nhiều nhất
là thu nhập lãi thuần (chênh lệch giữa tổng thu nhập lãi và tổng chi phí lãi) Sự tậptrung này phản ánh tầm quan tọng của thu nhập lãi thuần trong tổng thu nhập củangân hàng và mối liên hệ trực tiếp và dễ hiểu của nó với những thay đổi về lãi suất.Tuy nhiên do các ngân hàng chuyển sang thực hiện các hoạt động tạo ra thu nhậpdựa trên phí và cá thu nhập ngoài lãi khác, người ta ngày càng tập trung vào tổngthu nhập lãi thuật bao gồm cả thu nhập và chi phí ngoài lãi Ví dụ một số ngân hàngcung cấp chức năng thanh toán nghĩa vụ nợ và quản lý khoản vay đối với các khoảnvay cầm cố để lấy phí dựa trên doanh số tài sản được quản lý Khi lãi suất giảm,ngân hàng làm dịch vụ có thể bị giảm thu nhập phí do các khoản cầm cố trước đượctrả trước Ngoài ra, thậm chí những nguồn thu nhập ngoài lãi truyền thống khác nhưphí thực hiện giao dịch ngày càng trở nên nhạy cảm với lãi suất
- Khía cạnh giá trị kinh tế: Thay đổi lãi suất thị trường có thể ảnh hưởng tới
giá trị kinh tế của các tài sản có, tài sản nợ và các trạng thái ngoại bảng của ngân
Trang 20hàng Nói đến giá trị của một công cụ hàm ý giá trị hiện tại của các luồng tiền thuần
dự kiến thu được từ công cụ đó, được chiết khấu để phản ánh lãi suất thị trường.Nói rộng hơn, giá trị kinh tế của một NH được hiểu là giá trị hiện tại của luồng tiền
mà NH sẽ thu được trong tương lai Theo đó, giá trị kinh tế chịu tác động của haiyếu tố: sự thay đổi về luồng tiền tương lai, và mức lãi suất chiết khấu được sử dụng
để tính toán giá trị hiện tại của luồng tiền đó Do vậy, xét theo khía cạnh giá trị kinh
tế thì RRLS tiềm ẩn những ảnh hưởng dài hạn đối với ngân hàng
- Các tổn thất ngầm: Các khía cạnh về thu nhập và giá trị kinh tế tập trung vào
những thay đổi trong tương lai ảnh hưởng như thế nào đến tình hình tài chính củangân hàng Khi đánh giá mức độ rủi ro lãi suất ngân hàng sẵn sàng và có khả năngchấp nhận, ngân hàng cần cân nhắc cả ảnh hưởng của lãi suất trong quá khứ đối vớitình hình tài chính trong tương lai Ví dụ một khoản vay dài hạn có lãi suất cố địnhđược ký kết khi lãi suất thấp và sau đó được tài trợ bằng các tài sản nợ có lãi suấtcao hơn trong thời hạn còn lại có thể làm giảm các nguồn lực của ngân hàng
b Nguồn phát sinh rủi ro lãi suất đối với các NHTM
Như đã nêu ở phần trên, RRLS xuất hiện khi có sự thay đổi lãi suất thị trườnghoặc những yếu có liên quan đến lãi suất, dẫn đến tổn thất về tài sản hoặc làm giảmthu nhập của ngân hàng RRLS xuất hiện khi có sự không cân xứng về kỳ hạn giữaTSC và TSN NHTM áp dụng các loại lãi suất khác nhau trong quá trình huy độngvốn và cho vay Trường hợp ngân hàng huy động vốn với LSCĐ nhưng cho vay,đầu tư với LSBĐ: khi lãi suất giảm, RRLS sẽ xuất hiện vì chi phí lãi phải trả lớnhơn lãi thu được, làm giảm lợi nhuận Ngược lại, khi ngân hàng huy động vốn vớiLSBĐ nhưng cho vay, đầu tư với LSCĐ: khi lãi suất tăng, RRLS sẽ xuất hiện vì chiphí lãi phải trả lớn hơn lãi thu được
Mặt khác, RRLS cũng phát sinh do có sự không phù hợp về khối lượng, thờihạn giữa nguồn vốn huy động với việc sử dụng nguồn vốn đó để cho vay Bên cạnh
đó, tỷ lệ lạm phát dự kiến không phù hợp với tỷ lệ lạm phát thực tế làm cho vốn củangân hàng không được bảo toàn sau khi cho vay cũng là một nguồn phát sinhRRLS Ngoài ra, khi lãi suất thị trường thay đổi, ngân hàng còn có thể gặp rủi rogiảm giá trị tài sản Khi RRLS xuất hiện sẽ làm tăng chi phí nguồn vốn của ngân
Trang 21hàng; giảm thu nhập từ tài sản của ngân hàng, làm giảm giá thị trường của TSC vàvốn chủ sở hữu của ngân hàng.
Như vậy, RRLS đối với NHTM phát sinh từ 2 nguồn chính:
- Thứ nhất là sự không phù hợp về kỳ hạn của nguồn vốn và tài sản được đo bằng khe hở lãi suất:
"Khe hở lãi suất" = "Tài sản nhạy cảm lãi suất" - "Nguồn vốn nhạy cảm lãi suất"Các tài sản và nguồn nhạy cảm thường là các loại mà số dư nhanh chóng đượcchuyển sang áp dụng lãi suất mới khi lãi suất thị trường thay đổi có lợi; ví dụ nhưcác khoản tiền gửi ngắn hạn, các khoản cho vay và đi vay trên thị trường liên ngânhàng, chứng khoán ngắn hạn của chính phủ, các khoản cho vay ngắn hạn… Các loại
ít nhạy cảm như tài sản và nguồn vốn trung và dài hạn với lãi suất cố định Ví dụ,một khoản tiền gửi tiết kiệm 3 tháng (100 tỷ VND) với lãi suất 10%/năm Khi lãisuất thị trường thay đổi tăng hoặc giảm, thì khoản tiền này (100 tỷ VNĐ) sẽ nhanhchóng chuyển sang áp dụng lãi suất mới Ngược lại với khoản tiết kiệm 3 năm, khilãi suất thị trường thay đổi, chỉ một phần nhỏ sắp đến hạn, hoặc mới gửi có khảnăng chuyển sang áp dụng lãi suất mới Ngân hàng có khe hở lãi suất dương nếu tàisản nhạy cảm lơn hơn nguồn nhạy cảm (kỳ hạn huy động vốn dài hơn sử dụng) vàngược lại
- Thứ hai là sự thay đổi của lãi suất thị trường khác với dự kiến của ngân hàng và việc ngân hàng sử dụng LSCĐ trong các hợp đồng.
Lãi suất thị trường thường xuyên thay đổi, ngân hàng luôn nghiên cứu và dựbáo lãi suất Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp ngân hàng không thể dự báo chínhxác mức độ thay đổi của lãi suất Khi đó tuỳ theo tình trạng khe hở lãi suất của ngânhàng và biến động lãi suất trên thị trường mà ngân hàng phải chịu tổn thất hoặc cólời Cụ thể, nếu ngân hàng duy trì khe hở lãi suất dương, khi lãi suất trên thị trườngtăng, chênh lệch lãi suất tăng; khi lãi suất trên thị trường giảm, chênh lệch lãi suấtgiảm Ngược lại, nếu ngân hàng duy trì khe hở lãi suất âm, khi lãi suất trên thịtrường tăng, chênh lệch lãi suất giảm; khi lãi suất trên thị trường giảm, chênh lệchlãi suất tăng
c Các nhân tố phản ánh quy mô rủi ro lãi suất:
Trang 22- Khe hở lãi suất (interest rate gap): Các nhà quản lý ngân hàng đã dùng khe
hở lãi suất như là tiêu chí đo khả năng thu nhập giảm khi lãi suất thay đổi Khe hởlãi suất hình thành do chênh lệch tài sản và nguồn nhạy cảm Có nhiều nhân tố ảnhhưởng tới quy mô của nguồn và tài sản nhạy cảm, qua đó ảnh hưởng đến khe hở lãisuất:
+ Nhu cầu về kỳ hạn của người sử dụng;
+ Khả năng về kỳ hạn của người gửi và cho vay;
+ Chuyển hoán kỳ hạn của nguồn
Sự khác biệt về kỳ hạn của nguồn và tài sản là tất yếu Kỳ hạn để phân loại tàisản và nguồn nhạy cảm không phải là kỳ hạn danh nghĩa mà là thời hạn tài sản vànguồn được xác định lại lãi suất Ví dụ, một nguồn tiền huy động 2 năm với lãi suất10%/năm và đã duy trì được 1 năm 10 tháng, vậy vào thời điểm tính toán, nguồnnày chỉ còn 2 tháng là đến hạn Nếu lãi suất thị trường thay đổi, nguồn này sẽ đượcđịnh lại giá (xác định lại lãi suất)
Ngân hàng khó có thể và cũng không cần thiết duy trì sự phù hợp tuyệt đối về
kỳ hạn giữa các nguồn và các loại tài sản khác nhau trong mọi thời kỳ Trước hết,
kỳ hạn trên thị trường là do khách hàng đi vày và gửi tiền quyết định Thứ hai, sựthay đổi của các lãi suất rất khác nhau và mức độ nhạy cảm của nguồn và tài sản đốivới lãi suất cũng khác nhau Thứ ba, sự khác biệt về nguồn và tài sản nhạy cảm cóthể tạo thu nhập cao hơn cho ngân hàng, bởi lẽ khi ngân hàng duy trì khe hở nhạycảm khác 0, nếu lãi suất thay đổi theo hướng phù hợp thì thu nhập của ngân hàng sẽtăng Giả sử lãi suất thay đổi với mức độ nào đó không có lợi cho ngân hàng, mức
độ giảm thu nhập từ lãi của ngân hàng sẽ tỷ lệ thuận với quy mô khe hở lãi suất
- Mức độ thay đổi của lãi suất thị trường cũng ảnh hưởng đến quy mô RRLS.
Trong trường hợp ngân hàng duy trì khe hở lãi suất dương, tức la ngân hàng dựđoán sẽ lãi suất tăng; nếu lãi suất tài sản và nguồn nhạy cảm cùng tăng như nhau,ngân hàng sẽ có lợi Ngược lại, nếu chúng giảm xuống cùng mức độ, chênh lệch lãisuất của ngân hàng sẽ giảm làm giảm thu nhập từ lãi suất Trong trường hợp ngânhàng đang duy trì khe hở lãi suất âm tức là ngân hàng dự đoán lãi suất sẽ giảm Nếulãi suất tài sản và nguồn nhạy cảm lại tăng với cùng mức độ, chênh lệch lãi suất của
Trang 23ngân hàng sẽ giảm, làm giảm thu nhập từ lãi suất.
Như vậy trạng thái tài sản và nguồn (tạo nên khe hở lãi suất) không phải là yếu
tố duy nhất gây nên RRLS Trạng thái trên kết hợp với sự thay đổi lãi suất ngoàimong muốn của nhà quản lý ngân hàng sẽ gây nên RRLS Do khả năng dự đoánbiến động lãi suất là có hạn trước những thay đổi của môi trường kinh doanh, khe
hở lãi suất trở thành yếu tố đo RRLS tiềm năng Nếu khe hở lãi suất càng lớn thì rủi
ro cũng càng lớn
(số dư bình quân trong kỳ, đơn vị tỷ động, lãi suất bình quân % kỳ):
Tài sản Số dư Lãi suất Nguồn Số dư Lãi suất
Chênh lệch lãi suất của ngân hàng trong kỳ:
(80x5% + 120x7% - 120x4% - 80x6%) x100
=1,4%
200Nếu lãi suất của thị trường tăng thêm 1%, chênh lệch lãi suất của ngân hàng:(80x6% + 120x7% - 120x5% - 80x6%) x100
=1,2 (giảm 0,2%)200
Khe hở nhạy cảm 80 - 120 = -40
Vậy từ khe hở nhạy cảm ta có thể dự đoán tổn thất khi lãi suất thay đổi:
Thu nhập từ lãi giảm (-)
Khe hở
Mức gia tăngcủa lãi suất
Từ ví dụ trên ta có: Thu nhập từ lãi giảm (-) = -40x1% = -0,4 (đơn vị)
Chênh lệch từ lãi suất
giảm (-) hoặc tăng (+)
Khe hở nhạy cảm x Mức gia tăng của lãi suất
Tổng tài sản sinh lời-0,4 x 100
=0,2%
200
d Các diễn biến của RRLS:
Lãi suất thay đổi không cùng mức độ: Để thấy ảnh hưởng của trạng thái tài sản
và nguồn nhạy cảm đối với RRLS, chúng ta giả định lãi suất nguồn và tài sản nhạy
Trang 24cảm thay đổi với cùng mức độ Song trên thực tế, các mức lãi suất thay đổi theo cácmức độ khác nhau cũng gây ra RRLS dù độ lớn và dấu của khe hở lãi suất như thếnào.
Ví dụ: Một ngân hàng với số dư bình quân kỳ, lãi suất bình quân như sau:
Tài sản Số dư Lãi suất Nguồn Số dư Lãi suất
Hiện tại, chênh lệch thu chi từ lãi của ngân hàng là:
20x4%+10x2%+50x6%+120x7T-30x3%-30x4%-60x5%-80x6% = 2,5
Chênh lệch lãi suất của ngân hàng là: (2,5x100)/200 = 1,25%
Khi lãi suất tăng cùng mức độ, do khe hở lãi suất âm, thu nhập từ lãi sẽ giảm.Song nếu mức lãi suất thay đổi không giống nhau thì tổn thất có thể rất lớn, hoặcngược lại ngân hàng có thể được lợi
Giả sử lãi suất thị trường dự tính thay đổi như sau: chứng khoán ngắn hạn tăngthêm 0,3%; tiền gửi tại các ngân hàng tăng thêm 0,2%; cho vay ngắn hạn tăng thêm0,8%; tiền thanh toán tăng thêm 0,3%; tiền gửi có kỳ hạn ngắn tăng thêm 0,6%; tiềngửi tiết kiệm ngắn tăng thêm 0,9% Vậy chênh lệch thu chi từ lãi suất dự tính trong
kỳ tới của ngân hàng là:
20x4,3%+10x2,2%+50x6,8%+120x7%-30x3,3%-30x4,6%-60x5,9%-80x6% = 2,17Chênh lệch lãi suất dự tính của ngân hàng là: (2,17 x 100)/200 = 1,085%
Mức độ nhạy cảm lãi suất: Kỳ hạn nguồn và tài sản quyết định độ lớn của khe
hở lãi suất Để đơn giản, ta giả định các tài sản và nguồn ngắn hạn (từ 12 tháng trởxuống) là nhạy cảm lãi suất (mức độ nhạy cảm như nhau) Tuy nhiên, trên thực tếcác kỳ hạn khác nhau sẽ có mức nhạy cảm khác nhau Tiền gửi tại NHNN, tiền gửithanh toán là tài sản và nguồn có mức độ nhạy cảm lớn nhất Tiền gửi tiết kiệm 9tháng (sau 9 tháng mới định giá lại) có mức độ nhạy cảm thấp hơn tiền tiết kiệmloại 12 tháng Nguồn 12 có thể chuyển thành tài sản kỳ hạn 2 tháng và 24 tháng để
Trang 25tạo ra khe hở lãi suất bằng 0 Khi lãi suất thay đổi trong một khoảng thời gian dựtính, tỷ lệ các tài sản và nguồn nhạy cảm được định giá lại cũng khác nhau Ví dụkhi lãi suất tăng, 100% tiền gửi thanh toán được chuyển sang lãi suất mới chỉ trongvòng 1 vòng, trong khi đó chỉ một phần tiền gửi 3 tháng được chuyển sang lãi suấtmới trong vòng 1 tháng Do vậy, nhà quản lý cần kết hợp quy mô và kỳ hạn cá biệtcủa từng loại tài sản và nguồn để tính kỳ hạn trung bình của tài sản và nguồn,nghiên cứu mức độ nhạy cảm của chúng đối với lãi suất.
Nguồn và TSC kỳ hạn trên 1 năm với lãi suất cố định được coi là kém nhạycảm với lãi suất Song mức độ nhạy cảm của mỗi loại cũng khác nhau và đều có tácđộng tới khe hở lãi suất Một nguồn huy động 3 năm để cho vay 3 năm với lãi suất
cố định thì không có RRLS Tuy nhiên, trên thực tế nhiều khách hàng vay là doanhnghiệp lớn có thể thay lãi suất khi lãi suất trên thị trường giảm Các doanh nghiệpnày có thể trả trước hạn, vay ngân hàng khác để trả, thoả thuận với ngân hàng đểgiảm lãi suất ghi trong hợp đồng… Khi tình hình cho vay trở nên khó khăn các ngânhàng buộc phải chấp nhận yêu cầu của khách hàng, thực tế này tạo ra tổn thất chongân hàng
1.2.3 Rủi ro thanh khoản
a Bản chất cốt lõi của rủi ro thanh khoản là sự mất cân xứng giữa cung thanhkhoản và cầu thanh khoản do cân đối không chính xác luồng tiền ra và luồng tiềnvào hoặc do tác động từ bên ngoài mà không lường trước được nên dẫn đến rủi rothanh khoản Rủi ro thanh khoản là rủi ro đặc thù của các NHTM được phản ánh rõnét thông qua nguồn vốn có độ thanh khoản cao (bản chất tiền gửi), tài sản có độthanh khoản thấp (bản chất cho vay, hay tài sản có tính lỏng thấp) và dựa trên uytín, độ tín nhiệm của ngân hàng
b Nguyên nhân gây ra rủi ro thanh khoản: Có 2 nguyên nhân chính sau:
khoản của ngân hàng, thể hiện ở các điểm chính sau:
- Ngân hàng không dự tính trước được nhu cầu tài trợ khoản cho vay
- Ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu rút tiền ngay
- Ngân hàng thiếu đa dạng hoá các loại hình tài trợ, các loại tiền
Trang 26- Ngân hàng mất cân đối về thời gian đáo hạn các khoản vay, cho vay
- Rủi ro thanh khoản cục bộ trong từng loại tiền tệ, do mất cân đối giữa luồngtiền ra và luồng tiền vào
- Ngân hàng giảm sút uy tín đối với công chúng
gây rủi ro như khủng hoảng kinh tế tài chính khu vực, các tin đồn thất thiệt gây ảnhhưởng đến uy tín ngân hàng và các khoản cho vay đến hạn nhưng không nhận đượcthanh toán từ phía khách hàng do làm ăn thua ỗ, phá sản hoặc gặp thiên tai
c Các nhân tố phản ánh rủi ro thanh khoản
Các chỉ tiêu thanh khoản: là các giá trị được xác định để phản ánh khả
năng thanh khoản của ngân hàng theo từng tiêu chí như tài sản có tính thanh khoảncao, các khoản đầu tư vào tài sản có tính thanh khoản kém… Trong hoạt động ngânhàng các chỉ tiêu thanh khoản gồm có 6 loại sau:
- Chỉ tiêu trạng thái ngân quỹ: Dùng để đánh giá tỷ trọng tài sản có tính thanhkhoản cao nhất trong tổng tài sản của ngân hàng
- Chỉ tiêu hệ số về năng lực: Đánh giá phần tài sản được phân bổ vào nhữngtài sản có tính thanh khoản kém nhất;
- Chỉ tiêu cho vay cho thuê ròng với tổng tiền gửi: Đánh giá phần tiền gửiđược đầu tư vào những tài sản kém tính thanh khoản nhất;
- Chỉ tiêu đầu tư ngắn hạn so với tài sản tính sinh lời cao dài hạn: Đánh giá cáctài sản có tính thanh khoản cao, được sử dụng ngay để bù đắp cho những tài sảnsinh lời dài hạn;
- Chỉ tiêu hệ số tiền nóng: so sánh TSC trên thị trường tiền tệ (giấy tờ có giángắn hạn) với TSN trên thị trường tiền tệ (tiền gửi vốn vay ngắn hạn), nếu hệ số nàycàng cao thì khả năng thanh khoản của ngân hàng càng dồi dào;
- Chỉ tiêu chứng khoán ngắn hạn (1 năm): tỷ lệ chứng khoán sẽ đáo hạn trongvòng 1 năm so với tổng tài sản của ngân hàng
vốn thực tế và sử dụng vốn thực tế theo các kỳ đáo hạn để xác định khả năng thanhkhoản của ngân hàng
Trang 27Ví dụ, một ngân hàng có kỳ hạn các nguồn vốn huy động và sử dụng như sau:
Khe hở thanh toán: khe hở thanh khoản cho ngân hàng thấy sự chênh lệch
giữa cung và cầu thanh khoản của ngân hàng, phản ánh sự thiếu hụt hay thặng dưhoặc đủ để bù đắp cho nhu cầu về vốn khả dụng của ngân hàng khi các khoản bắtbuộc phải trả đến hạn, hay trong trường hợp khách hàng bất ngờ rút tiền gửi
Khe hở thanh khoản (KHTK) = Cung thanh khoản - Cầu thanh khoản
- Nếu KHTK = 0, đồng nghĩa với việc ngân hàng có đủ vốn khả dụng để đápứng nhu cầu thanh khoản;
- Nếu KHTK<0, đồng nghĩa với việc ngân hàng không đáp ứng đủ nhu cầu vềthanh khoản, nói cách khác là thiếu hụt thanh khoản Như vậy ngân hàng phải tăngcung thanh khoản hoặc giảm cầu thanh khoản
- Nếu KHTK>0, ngân hàng thặng dư thanh khoản Như vậy ngân hàng cầnphải mở rộng kinh doanh đầu tư vào các tài sản sinh lời trong tương lai
1.3 Công ước Basel II và các phương pháp quản trị rủi ro thị trường theo chuẩn mực Basel
Uỷ ban giám sát ngân hàng hay chính là Uỷ ban Basel được các ngân hàngtrung ương của 10 nước kinh tế phát triển thành lập năm 1974, với mục đích hoạt
Trang 28động chính là xây dựng những khuôn khổ chung để kiểm soát các rủi ro và giám sát
an toàn đối với những NH hoạt động quốc tế Ngày 26 tháng 6 năm 2004, Uỷ banchính thức ban hành Công ước Basel II trong đó đưa ra những yêu cầu và hướngdẫn cụ thể liên quan đến việc tính toán và duy trì mức vốn cần thiết đủ để cácNHTM tự bảo vệ mình trước những rủi ro không lường trước được, trong đó cóRRTT
Mục tiêu của việc lượng hoá RRTT là nhằm tính toán chi phí vốn chịu RRTTtối thiểu mà NH cần nắm giữ để xử lý tổn thất trong trường hợp xảy ra RRTT Theo
đó Công ước Basel II đưa ra hai phương pháp tính toán chi phí vốn RRTT Tuynhiên RRTT liên quan đến nhiều mảng rủi ro nhỏ bên trong, đặc biệt điểm cốt lõikhi muốn tính toán chính xác lượng vốn RRTT là phải xác định một cách thốngnhất và chính xác phạm vi áp dụng các tiêu chuẩn về vốn RRTT
Cụ thể, Công ước Basel II yêu cầu các NH phải đo lường và áp dụng các tiêuchuẩn về vốn RRTT, theo đó những rủi ro cần thực hiện theo yêu cầu nay bao gồm:rủi ro về các chứng khoán và công cụ có liên quan tới lãi suất trong sổ sách kinhdoanh, rủi ro hàng hóa và rủi ro ngoại hói của cả NH Bên cạnh đó, Công ước Baselcũng đưa ra quy định một số các phương pháp đo lường rủi ro giá cả của tất cả cácloại quyền chọn
Các tiêu chuẩn về vốn đối với các chứng khoán và công cụ có liên quan đếnlãi suất sẽ được áp dụng với giá trị thị trường hiện tại của các khoản mục trong sổsách kinh doanh của NH Sổ sách kinh doanh được định nghĩa là các trạng tháiriêng của NH về các công cụ tài chính được nắm giữ một cách có mục đích để bánlại trong ngắn hạn và/hoặc với mục đích thu lợi nhuận trong ngắn hạn từ sự khácbiệt trên thực tế/ hoặc dự tính giữa giá mua và giá bán, hoặc từ sự biến động về giá
cả hoặc lãi suất; các trạng thái được nắm giữ để bảo hiểm (hedge) cho các khoảnmục khác trong sổ sách kinh doanh… Để xây dựng một cơ sở hợp lý cho việc đolường các RRTT trong sổ sách kinh doanh, mọi khoản mục cần được tính theo giátrị trường
Các yêu cầu về vốn đối với rủi ro ngoại hối và rủi ro hàng hóa áp dụng chotổng các trạng thái về hàng hóa và tiền tệ của NH có thể được linh hoạt ở mức độ
Trang 29nào đó để loại bỏ các trạng thái ngoại hối mang tính cơ cấu Tức là một số trongnhững trạng thái này được báo cáo và định giá tại mức giá trị thị trường nhưng một
số khác lại được báo cáo và định giá ở mức giá trị sổ sách Các yêu cầu về vốn đốivới RRTT được áp dụng trên cơ sở không tính các giao dịch nội bộ
1.3.1 Nhận dạng và xác định các loại rủi ro thị trường
Các NHTM nếu áp dụng phương pháp đo lường rủi ro thị trường nội bộ thìcần đáp ứng các yêu cầu về Basel II về việc nhận dạng và xác định các yếu tố gâyrủi ro thị trường, tức là các mức giá trên thị trường có ảnh hưởng tới giá trị cáctrạng thái kinh doanh của ngân hàng Các yếu tố gây rủi ro được đưa vào hệ thống
đo lường rủi ro thị trường cần đủ để kiểm soát các rủi ro trên danh mục đầu tư củangân hàng kể cả các trạng thái nội bảng hay ngoại bảng Dù các ngân hàng được tự
do lựa chọn các yếu tố gây rủi ro cho mô hình nội bộ của mình, các hướng dẫn sauđây cần được thực hiện
a) Đối với lãi suất, phải có một tập hợp các yếu tố gây rủi ro tương ứng với lãisuất của từng đồng tiền mà ngân hàng có trạng thái nội hay ngoại bảng chịu tácđộng của lãi suất
Hệ thống đo lường rủi ro cần mô hình hoá các đường cong lãi suất sử dụngmột trong số các phương pháp được chấp nhận rộng rãi, ví dụ như bằng việc ướctính mức giá kỳ hạn của các giấy tờ coupon bằng 0 Đường cong lãi suất cần đượcchia thành những đoạn kỳ hạn để kiểm soát sự thay đổi về mức biến động của lãisuất dọc theo đường cong; sẽ có một yếu tố gây rủi ro tương ứng với từng đoạn kỳhạn Đối với rủi ro về sự biến động lãi suất của các đồng tiền mạnh và trên các thịtrường lớn, ngân hàng cần mô hình hoá đường cong lãi suất sử dụng ít nhất 6 yếu tốgây rủi ro Tuy nhiên, số lượng yếu tố gây rủi ro được sử dụng cần phù hợp vớichiến lược kinh doanh của ngân hàng Ví dụ, một ngân hàng có nhiều loại chứngkhoán trên nhiều điểm của đường cong lãi suất và tham gia vào những chiến lượcacbit (arbitrage) phức tạp cần có số lượng yếu tố gây rủi ro lớn hơn để đo lường rủi
ro lãi suất một cách chính xác
Hệ thống đo lường rủi ro phải tính tới các yếu tố gây rủi ro riêng biệt để kiểmsoát rủi chênh lệch (ví dụ giữa trái phiếu và hoán đổi) Một vài phương pháp có thể
Trang 30được sử dụng để kiểm soát rủi ro chênh lệch phát sinh từ các biến động khôngtương quan hoàn hảo giữa các chứng khoán của chính phủ và chứng khoán có thunhập cố định, chẳng hạn như xác định một đường cong riêng cho các công cụ có thunhập cố định không phải do chính phủ phát hành (ví dụ hoán đổi hoặc chứng khoán
đô thị) hoặc ước lượng mức chênh lệch so với lãi suất của chính phủ tại các điểmtrên đường cong lãi suất
b) Đối với tỷ giá (có thể bao gồm cả vàng), hệ thống đo lường rủi ro cần tínhtới các yếu tố gây rủi ro tương ứng với từng ngoại tệ riêng lẻ mà ngân hàng có nắmgiữ trạng thái Do các con số về giá trị rủi ro được tính toán bởi các hệ thống đolường rủi ro được thể hiện bằng đồng bản tệ nên các trạng thái ròng được ghi bằngngoại tệ có thể gặp phải rủi ro hối đoái Vì vậy, cần có các yếu tố gây rủi ro tươngứng với tỷ giá giữa đồng nội tệ và từng ngoại tệ mà ngân hàng có nắm giữ một trạngthái đáng kể
c) Đối với giá chứng khoán, cần có các yếu tố gây rủi ro tương ứng với từngthị trường chứng khoán mà ngân hàng nắm giữ trạng thái đáng kể: Tối thiểu cần cómột yếu tố gây rủi ro được thiết kế để kiểm soát các biến động về giá chứng khoántrên toàn thị trường (ví dụ chỉ số thị trường) Đồng thời, cần có một phương phápchi tiết hơn để có được các yếu tố gây rủi ro tương ứng với các bộ phận của thịtrường chứng khoán (ví dụ, các ngành theo chu kỳ hoặc không theo chu kỳ).Phương pháp rộng nhất là có các yếu tố gây rủi ro đối với mức độ biến động củatừng chứng khoán đơn lẻ Mức độ tân tiến và bản chất của các kỹ thuật mô hình hoáđối với một thị trường cụ thể cần phù hợp với mức độ rủi của ngân hàng trên cả thịtrường nói chung cũng như sự tập trung vào một số loại chứng khoán trên thị trườngđó
d) Đối với giá hàng hoá, cần có các yếu tố gây rủi ro tương ứng với từng thịtrường hàng hóa mà ngân hàng nắm giữ trạng thái đáng kể Đối với các ngân hàng
có trạng thái tương đối hạn chế về các công cụ dựa trên hàng hóa thì việc xác địnhcác yếu tố gây rủi ro một cách trực tiếp là chấp nhận được Việc xác định trực tiếp
có thể đưa ra một yếu tố gây rủi ro cho từng giá cả hàng hóa mà ngân hàng có thểchịu rủi ro Trong trường hợp tổng các trạng thái là nhỏ thì việc sử dụng một yếu tố
Trang 31gây rủi ro duy nhất cho một nhóm con gồm tương đối nhiều hàng hóa cũng đượcchấp nhận (ví dụ, một yếu tố gây rủi ro cho toàn bộ các loại dầu) Đối với các ngânhàng có trạng thái nhiều hơn, mô hình cần phải thể hiện được sự khác biệt trong lợinhuận từ quyền sở hữu trực tiếp đối với hàng hóa hữu hình (ví dụ, khả năng thu lợi
từ sự thiếu hụt hàng hóa tạm thời trên thị trường) và chịu ảnh hưởng bởi các điềukiện thị trường và các yếu tố như chi phí lưu kho, giữa các trạng thái về các công cụphái sinh như kỳ hạn và hoán đổi và trạng thái giao ngay đối với hàng hóa đó
d) Hướng dẫn đối với rủi ro thanh khoản
Mặc dù không đưa rủi ro thanh khoản vào danh mục các loại rủi ro thị trường,tuy nhiên Uỷ ban Basel cũng đã ban hành riêng biệt tài liệu giới thiệu các nguyêntắc thực hành QLRRTT đối với các tổ chức hoạt động ngân hàng từ năm 2000.Tháng 2 năm 2008, nhằm cập nhật với những phát triển mới trong thị trường tàichính cũng như bài học từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới diễn từ giữa năm
2007, Uỷ ban Basel đã đưa ra bản sửa đổi về các nguyên tắc QLRRTT đối với ngânhàng với những nội dung chính như sau:
- Yêu cầu thiết lập mức ngưỡng đối với rủi ro thanh khoản
- Yêu cầu duy trì tỷ lệ thanh khoản tương xứng, bao gồm cả việc sử dụng tấmđệm dự phòng là các tài sản tính lỏng cao
- Phân bổ các chi phí thanh khoản, các lợi ích và rủi ro tới tất cả các hoạt độngkinh doanh
- Việc xác định và đo lường danh mục rủi ro thanh khoản đầy đủ, bao gồm cảcác rủi ro thanh khoản bất ngờ
- Thiết kế và sử dụng các kịch bản kiểm định khủng hoảng (stress test)
- Xây dựng kế hoạch huy động vốn khẩn cấp
- Yêu cầu quản lý rủi ro thanh khoản trong ngày
- Yêu cầu công khai tình hình quản lý rủi ro thanh khoản
Bên cạnh đó, tháng 5 vừa qua Uỷ ban Basel cũng ban hành tài liệu hoàn chỉnh
về hướng dẫn các nguyên tắc thực hành kiểm định khủng hoảng (Stress test) đối vớirủi ro thanh khoản Tài liệu này nêu rõ những điểm yếu trong các chương trình kiểmđịnh khủng hoảng của các ngân hàng, đã bộc lộ rõ nét hơn bao giờ hết qua cuộc
Trang 32khủng hoảng tài chính vừa qua; đồng thời đề nghị các NHTM cần xây dựng nhữngnguyên tắc tương xứng nhằm quản trị, xây dựng và triển khai các chương tình kiểmđịnh khủng hoảng tại ngân hàng mình.
1.3.2 Đo lường và định lượng rủi ro thị trường
1.3.2.1 Phương pháp chuẩn hoá
Phương pháp được tiêu chuẩn hoá sử dụng những nền tảng mà từ đó các rủi ro
cụ thể và RRTT nói chung phát sinh từ các khoản nợ và các trạng thái chứng khoánđược tính toán riêng biệt Tiêu chuẩn về vốn được tính theo phương pháp tiêu chuẩnhoá là tổng số các rủi ro lãi suất, rủi ro chứng khoán, rủi ro ngoại hối, rủi ro hànghóa và rủi ro giá cả của tất cả các loại quyền chọn tính được theo mô tả dưới đây
a Rủi ro lãi suất: Tiêu chuẩn vốn đối phó rủi ro các trạng thái về chứng khoán
nợ và các công cụ có liên quan tớ lãi suất khác trong sổ sách kinh doanh của ngânhàng
Mức yêu cầu vốn tối thiểu được Công ước Basel đưa ra trong 2 phần riêngbiệt:
(i) Đối với rủi ro cụ thể
Yêu cầu về vốn để đối phó với những rủi ro cụ thể được đưa ra để bảo vệ ngânhàng trước những biến động bất lợi về lãi suất của một loại chứng khoán nợ đơn lẻ
do những tác động của những yếu tố có liên quan tới người phát hành chứng khoán
đó Các chứng khoán nợ và công cụ liên quan lãi suất được chia thành các nhóm,đối với mỗi nhóm sẽ có các yêu cầu vốn đối với rủi ro cụ thể
(ii) Đối với rủi ro thị trường chung hay rủi ro lãi suất trong danh mục đầu tư
khi các trạng thái thừa và thiếu đối với các chứng khoán và các công cụ có thể dược
bù trừ: ngân hàng có thể lựa chọn một trong hi phương pháp đo lường rủi ro chính
là phương pháp "đáo hạn" và phương pháp "khoảng thời gian" Trong mỗi phươngpháp, tiêu chuẩn về vốn là tổng của bốn thành phần sau:
- Trạng thái thừa hoặc thiếu trong toàn bộ sổ sách kinh doanh của ngân hàng;
- Một tỷ lệ % nhỏ tính trên các trạng thái được cân đối trong từng nhóm thờihạn (phần tính thêm khi bù trừ trong từng nhóm)
- Một tỷ lệ % lớn hơn tính trên các trạng thái được cân đối giữa các nhóm thời
Trang 33hạn (phần tính thêm khi bù trừ giữa các nhóm).
- Một khoản ròng cho các trạng thái về quyền chọn khi thích hợp
Chi tiết về hai phương pháp đo lường rủi ro thị trường chung xem Phụ lục 1.
(iii) Xử lý các công cụ phái sinh về lãi suất
Việc đo lường rủi ro cần phải tính tới tất cả các công cụ phái sinh về lãi suất
và các công cụ ngoại bảng trong sổ sách kinh doanh chịu ảnh hưởng của sự biếnđộng lãi suất (ví dụ như các thoả thuận giá kỳ hạn (FRA), các hợp đồng kỳ hạnkhác, các giao dịch tương lai về trái phiếu, các giao dịch hoán đổi lãi suất… giữacác đồng tiền và các giao dịch kỳ hạn về tiền tệ)
b Rủi ro chứng khoán: Tiêu chuẩn vốn tối thiểu để đối phó với các rủi ro
từ việc nắm giữ các trạng thái đối với chứng khoán trong sổ sách kinh doanh.
Các yêu cầu về vốn cho các rủi ro cụ thể của việc nắm giữ tổng trạng thái đốivới một chứng khoán (tức là tổng các trạng thái thừa và tổn các trạng thái thiếu) là8% trừ khi danh mục đầu tư được cho là vừa có tính thanh khoản tốt, vừa được đadạng hoá tốt thì được áp dụng mức 4% Các yêu cầu cho RRTT chung đối với phầnchênh lệch giữa tổng trạng thái và tổng trạng thái thiếu (tức là trạng thái ròng trongmột thị trường chứng khoán) là 8% Trạng thái thừa hoặc thiếu cần được tính chotừng thị trường riêng biệt Các công cụ phái sinh về chứng khoán và các trạng tháingoại bảng chịu ảnh hưởng bởi sự biến động giá cả chứng khoán (trừ các giao dịchquyền còn được xem xét riêng ở phần a.5) cần được đưa vào hệ thống đo lường
c Rủi ro hối đoái: Các tiêu chuẩn vốn tối thiểu để đối phó với rủi ro nắm giữ các trạng thái ngoại tệ, bao gồm cả vàng: Vàng được đối xử như là ngoại tệ
hơn là như hàng hóa vì sự biến động của nó liên hệ chặt chẽ với ngoại tệ hơn và cácngân hàng vàng tương tự như quản lý ngoại tệ Việc tính toán yêu cầu về vốn chocác rủi ro hối đoái cần có 2 giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất là tính toán rủi ro trong trạng thái của từng đồng tiền:
trạng thái mở ròng của từng đồng tiền được tính toán bằng cách tính tổng của:
- Trạng thái giao ngay ròng (tức là tất cả các khoản mục tài sản có trừ cáckhoản mục tài sản nợ bao gồm cả lãi suất của cùng một đồng tiền)
- Trạng thái kỳ hạn ròng (tưc là tất cả các khoản phải thu trừ các khoản phải
Trang 34trả trong các giao dịch hối đoái tiền tệ, bao gồm cả các giao dịch tương lai và giá trịcủa giao dịch hoán đối không được tính vào trạng thái giao ngay).
- Các khoản bảo lãnh (hoặc các công cụ tương tự) chắc chắn phải trả và không
có khả năng thu hồi
- Các chi phí/ thu nhập tương lai chưa thu được nhưng đã được bảo hiểm(hedge) toàn bộ (tuỳ theo ngân hàng báo cáo)
- Các khoản mục khác thể hiện các khoản lỗ hoặc lãi bằng ngoại tệ tuỳ theochuẩn mực kế toán ở mỗi quốc gia
Giai đoạn thứ hai là đo lường rủi ro hối đoái trong danh mục đầu tư các trạng thái ngoại tệ và vàng
Các ngân hàng được lựa chọn giữa hai phương pháp; một phương pháp "làmtắt" đối xử với các ngoại tệ như nhau và một phương pháp sử dụng mô hình nội bộtrong đó có tính tới mức độ rủi ro thực tế theo cơ cấu của danh mục đầu tư của ngânhàng Các điều kiện cho việc sử dụng mô hình nội bộ được đưa ra ở phần 1.2.2.2.Theo phương pháp "làm tắt", giá trị (hay giá trị hiện tại ròng) của trạng tháiròng đối với từng ngoại tệ và đối với vàng được chuyển đổi về tỷ giá giao ngay củaloại tiền tệ báo cáo Trạng thái ròng chung được đo lường bằng việc tính tổng của
"số lớn hơn giữa tổng các trạng thái thiếu ròng hoặc tổng các trạng thái thừa ròng"cộng với "trạng thái ròng (thiếu hoặc thừa) đối với vàng không kể dấu dương hayâm" Yêu cầu về vốn sẽ là 8% tổng trái thái mở ròng
d Rủi ro hàng hóa: Tiêu chuẩn vốn tối thiểu để đối phó với rủi ro nắm giữ các trạng thái về hàng hóa, bao gồm cả kim loại quý không phải là vàng.
Một hàng hóa được định nghĩa là một sản phẩm hữu hình được hoặc có thểđược mua bán trên một thị trường thứ cấp, ví dụ các sản phẩm nông nghiệp, khoángchất (bao gồm cả dầu) và kim loại quý Rủi ro giá cả hàng hóa thường phức tạp vànhiều biến động hơn với tiền tệ và lãi suất Thị trường hàng hóa cũng có thể kémthanh khoản hơn thị trường tiền tệ và thị trường hối đoái, và do đó, sự biến độngcung cầu có thể có ảnh hưởng lớn tới giá cả và sự biến động Những tính chất nàycủa thị trường gây khó khăn cho sự minh bạch về giá cả, khiến cho việc bảo hiểm(hedge) một cách hiệu quả để phòng ngừa rủi ro hàng hóa khó khăn hơn
Trang 35Đối với các giao dịch hữu hình hoặc giao ngay, rủi ro định hướng phát sinh từ
sự thay đổi mức giá giao ngay là rủi ro quan trọng nhất Tuy nhiên, các ngân hàng
sử dụng các chiến lược về danh mục đầu tư có liên quan tới các hợp đồng kỳ hạn vàcông cụ phái sinh có thể phải đối mặt với nhiều loại rủi ro khác có thể lớn hơn đáng
kể so với rủi ro định hướng, bao gồm:
- Rủi ro cơ sở (do mối quan hệ giữa giá cả các hàng hóa tương tự có thể thayđổi)
- Rủi ro lãi suất (rủi ro về sự thay đổi chi phí trong việc thực hiện các trạngthái kỳ hạn và quyền chọn);
- Rủi ro vênh kỳ hạn (rủi ro giá kỳ hạn có thể thay đổi vì những lý do ngoài sựthay đổi về lãi suất)
Ngoài ra, các ngân hàng phải đối mặt với rủi ro đối tác tín dụng trong các giaodịch phái sinh OTC Việc tài trợ cho các trạng thái rủi ro hàng hóa có thể làm ngânhàng phải đối mặt với rủi ro lãi suất và rủi ro ngoại hối và nếu như vậy thì các trạngthái liên quan cần được áp dụng các rủi ro lãi suất và ngoại hối được mô tả trongphần (a) và (c)
Các ngân hàng kinh doanh nhiều về hàng hóa cần sử dụng phương pháp môhình nội bộ theo những quy định ở Phần 1.3.2.2 Các ngân hàng thực hiện việc kinhdoanh hàng hóa với quy mô tương đối hạn chế có thể dùng phương pháp sử dụngthang kỳ hạn và phương pháp được đơn giản hoá
1.3.2.2 Phương pháp sử dụng mô hình nội bộ
Phương pháp này cho phép các ngân hàng sử dụng cách đo lường rủi ro từ các
mô hình quản lý rủi ro nội bộ của mình trên cơ sở đảm bảo 7 bộ điều kiện, bao gồm:
- Các tiêu chí chung có liên quan tới sự đầy đủ của mô hình quản lý rủi ro;
- Các tiêu chuẩn định tính cho việc giám sát việc sử dụng mô hình trong nội
bộ, đặc biệt là việc giám sát của các cán bộ quản lý;
- Hướng dẫn cho việc xác định các yếu tố gây RRTT phù hợp (bao gồm giá cả
và các tỷ lệ của thị trường có ảnh hưởng tới giá trị của các trạng thái của ngânhàng);
- Các tiêu chuẩn định lượng quy định việc sử dụng các tham số thống kê
Trang 36chung tối thiểu cho việc đo lường rủi ro;
- Hướng dẫn cho việc thực hiện kiểm định khủng hoảng (Stress testing)
- Các thủ tục đánh giá mô hình từ bên ngoài
- Các quy tắc ngân hàng sử dụng kết hợp cả mô hình nội bộ và phương phápđược tiêu chuẩn hoá
Ngoài các điều kiện trên, Công ước Basel cũng đưa ra các tiêu chuẩn bổ sung
mà một ngân hàng phải đáp ứng để được cơ quan giám sát công nhận mô hình rủi ro
cụ thể và các tiêu chuẩn đánh giá mô hình
1.3.3 Giám sát và kiểm soát rủi ro thị trường
Bốn nguyên tắc giám sát chung của Công ước Basel II đưa ra trong Trụ cột 2.Đối với rủi ro thị trường nói riêng, Công ước Basel II yêu cầu sự giám sát của hộiđồng quản lý (HĐQT) và Ban điều hành (BĐH) đối với RRTT qua 3 nguyên tắcsau:
Nguyên tắc 1: Để thực hiện các trách nhiệm của mình, HĐQT một ngân ngân
hàng cần phê duyệt các chiến lược và chính sách liên quan đến QLRRTT và bảođảm rằn BĐH thực hiện các bước cần thiết để theo dõi và kiểm soát các rủi ro nàytheo các chiến lược và chính sách đã được phê duyệt HĐQT cần được thông báothường xuyên về RRTT của ngân hàng để đánh giá việc theo dõi và kiểm soátnhững rủi này theo hướng dẫn của HĐQT về mức rủi ro mà ngân hàng có thể chấpnhận
HĐQT có trách nhiệm cuối cùng trong việc hiểu rõ bản chất và mức độ RRTT
mà ngân hàng chấp nhận HĐQT cần phê duyệt các chính sách và chiến lược kinhdoanh lớn điều chỉnh hay ảnh hưởng đến RRTT của ngân hàng Hội đồng cần đánhgiá các mục tiêu tổng thể của ngân hàng RRTT và bảo đảm cung cấp hướng dẫn rõràng về mức độ RRTT mà ngân hàng chấp nhận được HĐQT cũng cần phê duyệtcác chính sách nhằm phân định thẩm quyền và trách nhiệm quản lý RRTT
Nguyên tắc 2: BĐH phải bảo đảm rằng cơ cấu hoạt động của ngân hàng và
mức độ RRTT mà ngân hàng gánh chịu được quản lý hiệu quả, các chính sách vàthủ tục được thiết lập để kiểm soát và hạn chế những rủi ro này, và các nguồn lực cósẵn để đánh giá và kiểm soát RRTT BĐH có trách nhiệm bảo đảm rằng ngân hàng
Trang 37có đầy đủ chính sách và thủ tục để QLRRTT trên cơ sở dài hạn cũng như hàng ngày
và duy trì các thẩm quyền và trách nhiệm rõ ràng về quản lý và kiểm soát rủi ro đó.Lãnh đạo có trách nhiệm duy trì:
- Giới hạn chấp nhận rủi ro thích hợp;
- Đầy đủ các hệ thống và tiêu chuẩn đo lường rủi ro
- Các tiêu chuẩn định giá các trạng thái và đo lường hiệu quả
- Quá trình báo cáo RRTT và đánh giá QLRRTT toàn diện;
- Hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả
Các báo cáo về RRTT cho BĐH cần có thông tin tổng thể cũng như những chitiết cần thiết để cho phép lãnh đạo đánh giá mức độ nhạy cảm của ngân hàng vớithay đổi điều kiện thị trường và các yếu tố rủi ro quan trọng khác BĐH cũng cầnđịnh kỳ đánh giá các chính sách và thủ QLRRTT của ngân hàng để bảo đảm tínhthích hợp và đúng đắn của chúng BĐH cũng cần khuyến khích và tham gia vàothảo luận với các thành viên HĐQT và nếu quy mô và mức độ phức tạp của ngânhàng yêu cầu thì phải thảo luận với các nhân viên QLRR về các thủ tục đo lường,báo cáo và quản lý rủi ro
Nguyên tắc 3: Các ngân hàng cần quy định rõ các cá nhân và/hoặc các uỷ ban
chịu trách nhiệm QLRRTT và bảo đảm rằng có sự phân định rõ ràng nhiệm vụtrong các yếu tố chính của quá trình QLRR để tránh khả năng xung đột lợi ích.Ngân hàng cần có các bộ phận đo lường, theo dõi và kiểm soát rủi ro với nhiệm vụ
rõ ràng và độc lập với các bộ phận kinh doanh của ngân hàng và báo cáo rủi ro trựctiếp cho BĐH và HĐQT Các ngân hàng lớn hay phức tạp hơn phải có đơn vị độclập chuyên chịu trách nhiệm thiết kế và quản lý các bộ phận đo lường, theo dõi vàkiểm soát RRTT
1.4 Khung quản trị rủi ro thị trường
1.4.1 Khái niệm và mục tiêu quản trị rủi ro thị trường
Các NHTM muốn QTRRTT một cách bài bản, có hệ thống và hiệu quả, trướchết cần phải hiểu rõ bản chất của quản trị rủi ro nói chung, quản trị rủi ro thị trườngnói riêng Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và
có hệ thống nhằm nhận dạng, đo lường, đánh giá, kiểm soát, phòng ngừa và giảm
Trang 38thiểu những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro đối với hoạt động kinh doanh và vốn củangân hàng.
QTRRTT bao gồm tất cả các hoạt động nội bảng và ngoại bảng củ ngân hàngnhằm kiểm soát mức độ RRTT, sao cho nó nằm trong giới hạn hay các mức ngưỡng
mà ngân hàng có thể chấp nhận Nói cách khác, QTRRTT là quản lý mức độ chịurủi ro tối đa do ảnh hưởng của các sự kiến RRTT dự kiến cũng như không dự kiến.Như vậy, QTRRTT không có nghĩa bằng mọi cách phải triệt tiêu RRTT vì thịtrường là luôn luôn biến động, là cơ hội tạo ra lợi nhuận nhưng cũng kèm theo rấtnhiều rủi ro tiềm ẩn QTRRTT nhằm vào 3 mục tiêu chính:
Trước hết là hạn chế rủi ro ở mức tối đa khi thị trường biến động theo chiềuhướng bất lợi đối với các hoạt động nội bảng và ngoại bảng của ngân hàng
Thứ hai, cảnh báo sơm những khả năng xảy ra RRTT đối với các hoạt độngkinh doanh của ngân hàng
Thứ ba, nâng cao giá trị và uy tín của ngân hàng
1.4.2 Khung quản trị rủi ro thị trường
Hoạt động ngân hàng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, trong đó rủi ro thị trường là một
bộ phận Bởi thế, khung QTRRTT cũng nằm trong khuôn khổ hệ thống QTĐ thốngnhất, đồng bộ của một NHTM Như vậy, có rất nhiều vấn đề bao hàm trong mộtkhung QTRRTT: từ việc hình thành nên chiến lược đối với RRTT, trong đó baogồm các mục tiêu, nhiệm vụ chính; khẩu vị rủi ro; văn hoá quản lý rủi ro… củangân hàng; đồng thời phải hình thành nên cấu trúc tổ chức QTRRTT - là nền tảngcho toàn bộ ngân hàng trong tất cả các hoạt động QLRRTT
Hình 1.1: Hệ thống quản trị rủi ro của ngân hàng UOB (United Overseas Bank Group)
Trang 39Bên cạnh đó là vấn đề lựa chọn các phương pháp luận RRTT - tức là lựa chọncác công cụ và kỹ thuật QLRRTT, vấn đề về xây dựng hệ thống thông tin tươngxứng phục vụ QLRRTT, xây dựng các kênh báo cáo QLRRTT… Và quan trọngkhông kém là việc triển khai vào thực tế toàn bộ quản lý QLRRTT, bao gồm cácbước xác định, đo lường, giám sát và quản lý rủi ro.
Trang 40Hình 1.2 Quá trình quản lý rủi ro thị trường
1.4.3 Các công cụ quản lý rủi ro thị trường
Quản trị rủi ro thị trường đã được các NHTM trên thế giới nghiên cứu và pháttriển không ngừng từ nhiều năm qua, theo đó ngày càng nhiều công cụ đã được sửdụng hiệu quả nhằm QLRRTT Phần này xin giới thiệu một số công cụ QLRRTTchính đang được sử dụng bởi nhiều NHTM lớn trên thế giới
1.4.3.1 Công cụ đo lường RRTT: giá trị chịu rủi ro VaR, Back testing
a Khái niệm
Quan trọng nhất của việc quản lý rủi ro là làm sao có thể đo lường được mức
độ rủi ro mà ngân hàng có thể chịu được và đưa ra mức tối thiểu có thể bù đắp đượccho những rủi ro đó Như vậy đối với rủi ro thị trường, ngân hàng phải xác địnhđược đâu là mức độ chịu rủi ro tối đa khi thị trường tài chính có những biến độngbất lợi làm ảnh hưởng đến khả năng sinh lời cho các hoạt động ngoại bảng và nộibảng của toàn hệ thống ngân hàng Một công cụ thường được sử dụng để đo lườngmức độ chịu rủi ro tối đa, đó là giá trị chịu rủi ro, thuật ngữ tiếng Anh là VaR(Value at Risk)
VaR của một danh mục tài sản tài chính được định nghĩa là khoản tiền lỗ tối
đa trong một thời hạn nhất định, nếu ta loại trừ những trường hợp xấu nhất (worst