Do vậy giá thành tiêu thụ được tính theo công thức: Giá thành toàn bộ = Giá thành + Chi phí quản lý + Chi phí của sản phẩn tiêu thụ sản xuất sản phẩm doanh nghiệp tiêu thụ SP Ngoài ra,
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
CƠ SỞ THANH HÓA – KHOA KINH TẾ
- -CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP
CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG
TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ DỊCH VỤ THƯƠNG MẠI
Trang 2THANH HÓA, THÁNG 06 NĂM 2013
Trang 3CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHÍ PHÍ SẢN XUẤT
VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM.
1.1 Khái niệm, phân loại chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp.
1.1.1 Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp 1.1.1.1 Khái niệm chi phí sản xuất.
Chi phí là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí về lao động sống, lao động vật hóa
và các hao phí cần thiết khác mà Doanh nghiệp bỏ ra để tiến hành hoạt động sản xuất thi công trong một thời kỳ nhất định
Chi phí sản xuất của DN xây lắp phát sinh thường xuyên trong suốt quá trình tồn tại và hoạt động sản xuất của DN, nhưng để phục vụ cho quản lý và hạch toán kinh doanh, chi phí sản xuất phải được tính toán tập hợp cho từng kỳ phù hợp với kỳ báo cáo
kế toán Trong đó, những chi phí sản xuất mà DN bỏ ra trong kỳ mới được tính vào chi phí sản xuất trong kỳ
1.1.1.2 Phân loại chi phí sản xuất
Phân loại theo mục đích công dụng của chi phí:
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất được chia ra như sau:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là tất cả những chi phí về nguyên vật liệu chi
ra để cấu tạo nên thực thể công trình như vật liệu chính ( gạch, đá, cát, xi măng, sắt thép…) các cấu kiện bê tông và các phụ gia khác Giá trị vật liệu kể trên được tính theo giá thực tế gồm giá mua trên hóa đơn của người bán và các khoản chi phí thu mua thực tếnhư vận chuyển, bốc dỡ, chi phí thuê kho bãi
Trong chi phí nguyên vật liệu không bao gồm các laoij vật liệu phụ, nhiên liệu dung cho máy thi công, các loại vật liệu làm công trình tạm như lán che mưa, các chi phí vận cuyển trên công trường nằm ngoài cự ly định mức lao động và định mức sử dụng máy thi công
Trang 4- Chi phí nhân công trực tiếp: Là toàn bộ tiền lương chính, lương phụ, phụ cấp, tiền thưởng và các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp sản xuất làm công tác xây lắp, công nhân vận chuyển vật liệu trong thi công, công nhân làm nhiệm vụ bảo dưỡng, quét đường, công nhân dọn dẹp vật liệu trên công trường, công nhân tháo ghép cốp pha, giàn giáo… Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm tiền lương trả theo thời gian, trả theo sản phẩm, trả giờ làm thêm, trả tiền thưởng về tăng năng suất lao động Nhưng khoản mục này không bao gồm tiền lương và các khoản có tính chất lương của công nhânđiều khiển máy móc thi công, tiền lương công nhân vận chuyển vật liệu ngoài cự ly thi công.
- Chi phí sử dụng máy thi công: Là các khoản chi phí trực tiếp liên quan đến việc sử dụng máy móc để sản xuất sản phẩm xây lắp bao gồm tiền khấu hao máy móc, tiền lương chính của công nhân điều khiển máy, chi phí về nhiên liệu, động lực dùng cho máy thi công
- Chi phí sản xuất chung: Chi phí sản xuất chung là khoản mục chi phí trực tiếp phục vụ cho sản xuất của đội công trình xây dựng nhưng không được tính cho một đối tượng cụ thể Nội dung của chi phí sản xuất chung bao gồm: tiền lương của bộ phận quản lý đội, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn trích theo tỷ lệ quy định, khấu hoa TSCĐ dùng cho quản lý đội, chi phí hội họp, tiếp khách, điện thoại, điện nước
và các chi phí bằng tiền khác
Phân loại chi phí theo quan hệ của chi phí với đối tượng chịu chi phí
Theo cách phân loại này, chi phí có thể chia ra thành chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
- Chi phí trực tiếp: Là chi phí là chi phí có liên quan trực tiếp tới quá trình sản xuất
và tạo ra sản phẩm, một công việc nhất định, bao gồm nguyên vật liệu xây dựng, tiền lương công nhân sản xuất, khấu hao máy móc thiết bị thi công
- Chi phí gián tiếp: Là những chi phí sản xuất có liên quan tới việc tạo ra nhiều loại sản phẩm, công việc Kết cấu của chi phí gián tiếp cũng tương tự như chi phí chi phí
Trang 5trực tiếp nhưng những chi phí này phát sinh ở bộ phận quản lý đội, phân xưởng sản xuất của đơn vị xây lắp Vì vậy, kế toán phải phân bổ cho các đối tượng liên quan theo một tiêu thức thích hợp.
Phân loại theo nội dung kinh tế của chi phí ( theo yếu tố chi phí )
Theo cách phân loại này toàn bộ chi phí được chia ra thành các yếu tố chi phí sau:
- Chi phí nguyên vật liệu: Bao gồm các chi phí nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ,nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ sử dụng vào sản xuất thi công xây lắp
- Chi phí nhân công: Là các chi phí về tiền lương, tiền công phải trả cho người lao động và các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ trên tiền lương, tiền công
- Chi phí khấu hao TSCĐ: Là toàn bộ chi phí khấu hao của TSCĐ trong DN
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là số tiền phải trả cho các dịch vụ mua ngoài phục
vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong DN
- Chi phái khác bằng tiền: Là các chi phí khác bằng tiền phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh ngoài các yếu tố chi phí nói trên
Phân loại theo mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng sản phẩm hoàn thành.
Theo cách này, chi phí được phân theo cách ứng xử của chi phí hay là xem xét sự biến động của chi phí khác theo mức hoạt động thay đổi chi phí này được phân thành:
- Biến phí: Là những chi phí thay đổi về tổng số khi có sự thay đổi về mức độ hoạtđộng của DN
- Định phí: Là những khoản chi phí cố định khi khối lượng công việc hoàn thành thay đổi
- Chi phí hỗn hợp: Là loại chi phí mà bản thân nó gồm cả các yếu tố biến phí và định phí
1.1.2 Khái niệm giá thành sản phẩm xây lắp
1.1.2.1 Khái niệm
Giá thành sản phẩm là chi phí sản xuất kinh doanh tính cho một khối lượng
Trang 6Giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ chi phí chi ra như: chi phí vật tư, chi phí nhân công, chi phí máy thi công tính bằng tiền để hoàn thành khối lượng một sản phẩm xây lắp nhất định
Sản phẩm xây lắp có thể là kết cấu công việc hoặc giai đoạn công việc có thiết kế
và dự toán riêng, có thể là hạng mục công trình hoặc công trình hoàn thành toàn bộ Giá thành hạng mục công trình hoặc công trình hoàn thành toàn bộ là giá thành cuối cùng củasản phẩm xây lắp
Giá thành sản phẩm xây lắp là chi tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh chất lượng hoạt động sản xuất, phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản, vật tư, lao động, tiềnvốn trong quá trình sản xuất cũng như các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà DN đã thực hiện nhằm đạt muc đích sản xuất được khối lượng sản phẩm nhiều nhất với chi phí tiết kiệm nhằm hạ giá thành
1.1.2.2 Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp.
Để đáp ứng các yêu cầu của quản lý, hạch toán và kế hoạch hóa giá thành cũng như yêu cầu xây dựng giá cả hàng hóa, giá thành được xem xét dưới nhiều góc độ, nhiều phạm vi tính toán khác nhau Dưới đây là một số cách phân loại giá thành
Theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành
+ Giá thành kế hoạch: Được xác định trước khi bước vào kinh doanh trên cơ sở giá thành thực tế kỳ trước và các định mức, các dự toán chi phí của kỳ kế hoạch
+ Giá thành định mức: Được xác định trước khi bắt đầu sản xuất sản phẩm Tuy nhiên, khác với giá thành kế hoạch được xây dựng trên cơ sở các định mức bình quân tiên tiến và không biến đổi trong suốt cả kỳ kế hoạch, thì giá thành định mức lại được xây dựng trên cơ sở xác định mức chi phí hiện hành tài từng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch ( thường là ngày đầu tháng ) nên giá thành định mức luôn thay đổi phù hợp với thayđổi của các định mức chi phí trong quá trình sản xuất sản phẩm
+ Giá thành thực tế: Là chỉ tiêu được xác sau khi kết thúc quá trình sản xuất sản phẩm trên cơ sở các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm Cách phân loại
Trang 7này có tác dụng trong việc quản lý và giám sát chi phí, xác định được nguyên nhân vượt hay hụt định mức chi phí trong kỳ hạch toán Từ đó điều chỉnh kế hoạch hoặc định mức chi phí cho phù hợp.
Theo phạm vi phát sinh chi phí
+ Giá thành sản xuất ( giá thành công xưởng): Là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng, bộ sản xuất, bao gồm chi phí vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp và chí phí sản xuất chung
+Giá thành tiêu thụ (giá thành toàn bộ): là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm (chi phí sản xuât, chi phí quản lý và chi phí bán hàng ) Do vậy giá thành tiêu thụ được tính theo công thức:
Giá thành toàn bộ = Giá thành + Chi phí quản lý + Chi phí của sản phẩn tiêu thụ sản xuất sản phẩm doanh nghiệp tiêu thụ SP
Ngoài ra, trong xây dựng cơ bản còn sử dụng hai chỉ tiêu sau:
Giá đấu thầu xây lắp: là một loại giá thành dự toán xây lắp do chủ đầu tư đề ra để các doanh nghiệp xây lắp ráp dựa vào đó tính toán giá thành ( còn gọi là giá thành dự thầu công tác xây lắp) Nếu thấy giá thành của doanh nghiệp thấp hơn giá đấu thầu thì sẽ tang giá đấu thầu công tác xây lắp công trình
Giá dự thầu công tác xây lắp: là loại giá thành công tác xây lắp ghi trong hợp đồngđược ký kết giữa chủ đầu tư và doanh nghiệp xây lắp sau khi thỏa thuận giao nhận thầu
Đó cũng chính là giá thành của doanh nghiệp xây lắp thắng dầu và được chủ đầu
tư thỏa thuận ký hợp đồng giao nhận thầu Về nguyên tắc giá thành hợp đồng chỉ được nhỏ hơn hoặc bằng giá đấu thầu ông tác lắp ráp
1.1.3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai khái niệm riêng biệt nhưng lại có
Trang 8đều cùng biểu hiện bằng tiền nhưng hao phí về động sống và lao động vật hóa bỏ ranhưng khác nhau về mặt lượng khi nói đến chi phí sản xuât là giới hạn cho chúng mộtthời kỳ nhất định, không phân biệt là cho loại sản phẩm nào, đã hoàn thành hay chưa, cònnói đến giá thành sản phẩm là xác định một lượng chi phí sản xuất nhất định tính cho mộtđại lượng kết quả hoàn thành nhất định.
Đứng trên góc độ quá trình hoạt động để xem xét thì quá trình sản xuất là một quá trình hoạt động liên tục, còn việc tính giá thành sản phẩm thực hiện tại một thời điểm có tính chất chu kỳ để so sánh chi phí với khối lượng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ hoàn thành.Tại thời điểm tính giá thành có thể là một khối lượng sản phẩm chưa hoàn thành chứa đựng một lượng chi phí cho nó – đó là chi phí dở dang cuối kỳ Tương tự như vậy, đầu kỳ
có thể có một khối lượng sản phẩm sản xuất chưa hoàn thành ở kỳ trước chuyển sang để tiếp tục tạo sản phẩm chứa đựng một lượng chi phí cho nó – đó là chi phí dở dang đầu kỳ.Như vậy giá thành sản phẩm hoàn thành trong kỳ bao gồm chi phí sản xuất của kỳ trước chuyển sang và một phần của chi phí sản xuất sản phẩm trong kỳ
Z = Dư ĐK + PS + Dư CK
Trong đó:
Z – Tổng giá thành sản phẩm hoàn thành
Dư ĐK – Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ
PS – Chi phí sản xuất sản phẩm phát sinh trong kỳ
Dư CK – Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ
Hơn nữa giá thành sản xuất mang tính chất chủ quan, việc tính giá thành sản phẩm gồm những chi phí nào còn thuộc vào quyết định tính toán xác định chi phí, đốitượng, kết quả cũng như quy định của chế độ quản lý kinh tế tào chính, kế toán hiện hành Chi phí sản xuất trong kỳ bao gồm cả những chi phí sản xuất đã trả trước nhưng chưa phân bổ cho kỳ này và những chi phí phải trả kỳ trước nhưng kỳ này mới phát sinh nhưng không bao gồm chi phí trả trước của kỳ trước phân bổ cho kỳ này và những chi phí phải trả kỳ này nhưng chưa thực tế phát sinh Ngược lại, giá thành sản phẩm lại chỉ liên quan đến chi phí phải trả trong kỳ và chi phí trả trước được phân bổ trong kỳ
Trang 91.2Đặc điểm của doanh nghiệp xây lắp ảnh hưởng đến chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp.
1.2.1 Đặc điểm của sản phẩm xây lắp trong ngành xây dựng
Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất độc lập có chức năng tái sản xuất TSCĐ cho tất cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân Nó làm tang sức mạnh về kinh tế,quốc phòng, tạo nên cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội Một đất nước có một cơ sở hạ tầng vững chắc thì đất nước đó mới có điều kiện phát triển Như vậy, việc xây dựng cơ sở
hạ tầng bao giờ cũng phải tiến hành trước một bước so với các ngành khác
Muốn cơ sở hạ tầng vững chắc thì xây dựng là một ngành không thể thiếu được
Vì thế một phần lớn của thu nhập quốc dân nói chung và quỹ tích lũy nói riêng, cùng vớivốn đầu tư tài trợ từ nước ngoài có trong lĩnh vực xây dựng cơ bản.Vì vậy, ngành xây dựng cơ bản là một ngành khác hẳn với các ngành khác Các đặc điểm kỹ thuật đặc trưng được thể hiện rất rõ ở sản phẩm xây lắp và qua trình tạo ra sản phẩm của ngành Được thể hiện cụ thể như sau:
+ Sản phẩm xây dựng có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, thời gian xây dựng dài, có giá trị rất lớn Nó mang tính cố định, nơi sản xuất ra cũng là nơi sản phẩm hoàn thành đưa vào sử dụng và phát huy tác dụng Nó mang tính đơn chiếc, mỗi công trình được xây dựng theo một kiểu thiết kế riêng, có giá trị dự đoán riêng biệt và tại một thời điểm nhất định Điều đặc biệt sản phẩm xây dựng mang nhiều ý nghĩa tổng hợp về mặt kinh tế, xã hội,chính trị, kỹ thuật, mỹ thuật…
+ Quá trình từ khởi công xây dựng đến khi hoàn thành bàn giao sử dụng là một con đường dài, nó phụ thuộc vào quy mô và tính chất phức tạo về kỹ thuật của từng công trình Quá trình thi công thường được chia thành nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn thi công bao gồm nhiều công việc khác nhau Khi đi vào từng công trình cụ thể, do chịu ảnh hưởng lớn từ thời tiết khí hậu làm ngừng quá trình sản xuất và làm giảm tiến độ thi công công trình Sở dĩ có hiện tượng này vì phần lớn các công trình đều được thi công ngoài trời do vậy mà điều kiện thi công không ổn định, luôn biến động theo địa điểm xây dựng
và theo từng giai đoạn thi công công trình
Trang 10+ Các công trình được ký kết tiến hành đều được dựa trên đơn đặt hàng, hợp đồng
cụ thể của bên giao thầu xây lắp Cho nên phụ thuộc vào nhu cầu của khách hàng và thiết
kế kỹ thuật của công trình đó Khi có khối lượng xây lắp hoàn thành đơn vị xây lắp phải đảm bảo bàn giao đúng tiến độ, đúng thiết kế kỹ thuật, đảm bảo đúng chất lượng công trình thi công
1.2.2 Yêu cầu của công tác quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm xây lắp
Do đặc thù của xây dựng và sản phẩm của ngành xây dựng nên việc quản lý về đầu tư xây dựng cơ bản khó khan phức tạp hơn các ngành khác Chính vì thế trong quá trình quản
lý đầu tư xây dựng cơ bản phải đạp ứng yêu cầu sau:
- Công tác quản lý đầu tư và xây dựng cơ bản phải đảm bảo tạo ra những sản phẩm, dịch vụ được xã hội và thị trường chấp nhận về giá cả, chất lượng, đáp ứng các mụctiêu phát triển kinh tế
- Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân
- Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn đầu tư trong và ngoài nước vào ViệtNam, khai thác tốt tiềm năng lao động trong nước, tài nguyên đất đai và mọi tiềm lực khác nhằm khai thác hết tiềm năng của đất nước, phục vụ cho quá trình tang trưởng, phát triển kinh tế, đồng thời đảm bảo bền vững mỹ quan đất nước
Từ trước tới nay, XDCB là một “ lỗ hổng lớn “ làm thất thoát vốn đầu tư của nhà nước Để hạn chế sự thất thoát này nhà nước thực hiện việc quản lý giá thành xây dựng thông qua ban hành các chế độ chính sách về giá, các phương pháp nguyên tắc lập dự toán và các căn cứ (định mức kinh tế kỹ thuật đơn giá XDCB, xuất vốn đầu tư) để xác định tổng mức vốn đầu tư, tổng dự đoán công trình và cho từng hạng mục công trình
Giá thành công trình là giá trúng thầu, các điều kiện ghi trong hợp đồng giữa chủ đầu tư và đơn vị xây dựng Giá trúng thầu không vượt quá tổng dự đoán được duyệt
Trang 11Đối với doanh nghiệp xây dựng, đảm bảo thi công đúng tiến độ, ký thuật, đảm bảochất lượng các công trình với chi phí hợp lý Bản thân các doanh nghiệp phải có biện pháp tổ chức quản lý sản xuất, quản lý chi phí sản xuất chặt chẽ hợp lý có hiệu quả.Hiện nay trong lĩnh vực XDCB chủ yếu áp dụng phương pháp đấu thầu, giao thầu xây dựng Để trúng thầu các doanh nghiệp phải xây dựng một giá thầu hợp lý cho công trình dựa trên cơ sở các định mức đơn giá XDCB do nhà nược ban hành trên cơ sở giá cảthị trường và khả năng của doanh nghiệp Mặt khác phải đảm bảo sản xuất kinh doanh
có lãi
Tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp ở nước ta hiện nay phổ biến theo phương thức “khoán gọn” các công trình, hạng mục công trình, khối lượng hoặc công việc cho các các đơn vị trong nội bộ Doanh nghiệp (Đội, Xí nghiệp…) Trong giá khoán gọn không chỉ có tiền lương mà có đủ các chi phí về vật liệu, công cụ dụng cụ thi công, chi phí chung của bộ phận nhận khoán
Để thực hiện các yêu cầu trên, đòi hỏi doanh nghiệp phải tăng cường các công tác quản lý kinh tế đặc biệt là quản lý chi phí sản xuất – giá thành, trong đó trọng tâm là công chi phí sản xuật và tính giá thành sản phẩm
* Đặc điểm hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp
Xuất phát từ quy định về lập dự toán công trình xây dựng cơ bản là phải lập theo từng hạng mục công trình và phải phân tích theo tưng khoản mục chi phí cũng như đặc điểm tại các đơn vị nhận thầu, hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành xây lắp có các đặc điểm sau:
- Đối tượng hạch toán chi phí có thể là công trình, hạng mục công trình, các đơn đặt hàng, các giai đoạn của hạng mục hay nhón hạng mục … Vì thế phải lập - dự toán chiphí và tính giá thành theo tưng hạng mục hay giai đoạn của hạng mục công trình
-Giá thành công trình lắp đặt thiệt bị không bao gồm bản thân giá trị thiệt bị do chủ đầu tư đưa vào lắp đặt mà chỉ bao gồm những chi phí do doanh nghiệp xây lắp bỏ ra liên quan đến xây lắp công trình
Trang 12-Giá thành công tác xây dựng và lắp đặt kết cấu bao gồm giá trị vật kết cấu và giá trị thiết bị kèm theo như các thiết bị vệ tinh, thông gió, thiết bị sưởi ấm , điều hòa nhiệt
- Xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất phù hợp với tổ chức sảnxuất của doanh nghiệp đồng thời xác định đúng đối tượng tính giá thành
- Phản ánh đầy đủ chính xác kịp thời toàn bộ chi phí sản xuất thực tế phát sinh
- Kiểm tra tình hình thực hiện các định mức chi phí, vật tư, nhân công sử dụng máy thi công…và các dự toán chi phí khác Phát hiện kịp thời các khoản chênh lệch
so với định mức dự toán các khoản chi phí ngoài kế hoạch, các khoaanr thiệt hại, mất mát, hư hỏng trong sản xuấ để ngăn chặn kịp thời
- Tính toán chính xác, kịp thời giá thành sản phẩm xây lắp các sản phẩm là lao vụ hoàn thành của doanh nghiệp
- Kiểm tra việc thực hiện hạ giá thành của DN theo từng công trình, hạng mục công trình, từng loại sản phẩm…vạch ra khả năng và các mức hạ giá thành hợp lý, hiệu quả
- Xác định đúng đắn, hợp lý bàn giao thanh toán kịp thời khối lượng công tác xây lắp hoàn thành Định kỳ kiểm tra và đánh giá khối lượng thi công dở dang theo quy định
- Đánh giá đúng đắn kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của từng công trình, hạng mục công trình, từng bộ phận thi công, tổ đội sản xuất…trong từng thời kỳ
Trang 13nhất định Kịp thời lập báo cáo kế toán về chi phí sản xuất và tính giá thành công tác xây lắp Cung cấp chính xác, nhanh chóng các thông tin về chi phí sản xuất và tính giá thành phục vục cho yêu cầu quản lý của lãnh đạo DN.
1.3 Vai trò ý nghĩa của công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp hiện nay
Đối với doanh nghiệp xây lắp việc hạch toán sẽ cung cấp các sô liệu một cách chính xác, kiệp thời đầy đủ phục vụ cho công việc phân tích, đánh giá tình hình thựchiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Từ đó đề ra các biện pháp quản lý
và tổ chức sản xuất phù hợp với yêu cầu hạch toán
Hạch toán kế toán là vấn đề trung tâm của công tác hạch toán trong xây lắp Tập hợp chi phí sản xuất giúp doanh nghiệp nắm bắt được tình hình thực tế so với kếhoạch là bao nhiêu, từ đó xác định được mức tiết kiệm hay lãng phí để có giải pháp khắc phục Việc tính giá thành thể hiện toàn bộ chất lượng hoạt động kinh doanh và quản lý kinh tế tài chính của đơn vị
Ý nghĩa Giúp cho công việc quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu
tư của nhà nước Đáp ứng yêu cầu quản lý thông qua việc cung cấp đầy đủ chính xác các thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.3.1 Yêu cầu quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành trong doanh nghiệp xây
Trang 14Do đặc thù của ngành xây dựng cơ bản và của sản phẩm xây lắp đã làm cho việc quản lý về đầu tư xây dựng cơ bản gặp khó khăn và phức tạp hơn các ngành xây dựng vậtchất khác Vì vậy đòi hỏi trong quá trình quản lý đầu tư xây dựng cơ bản phải đáp ứng được yêu cầu:
- Công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản phải đảm bảo tạo những sản phẩm, dịch
vụ được xã hội chấp nhận cả về giá cả và chất lượng, đáp ứng được mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội trong từng thời kỳ Đồng thời phải đảm bảo doanh nghiệp kinh doanh cólãi
- Xây lắp đúng tiến độ, chất lượng cao với chi phí hợp lý và thực hiện bảo hành công trình
- Quá trình thi công đòi hỏi phải có sự quản lý chặt chẽ vật tư, tài sản… đảm bảo
sử dụng chi phí tiết kiệm, hiệu quả cao Điều đó đòi hỏi việc tổ chức quản lý sản xuất và hạch toán sản phẩm xây lắp phải lập dự toán ( cả dự toán trong thiết kế và dự toán trong thi công ) Quá trình sản xuất xây lắp phải so sánh với dự toán, lấy dự toán làm thước đo, đồng thời để giảm bớt rủi ro phải mua bảo hiểm cho công trình xây lắp
Để thực hiện được yêu cầu trên đòi hỏi doanh nghiệp tăng cường công tác quản lý kinh tế Trước hết là quản lý chi phí, giá thành, trong đó tập trung là công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp
1.3.2 Nhiệm vụ kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh
nghiệp xây lắp.
Hạ giá thành sản phẩm có thể tạo ra điều kiện cho các đơn vị xây dựng giảm bớt được vốn lưu động sử dụng vào sản xuất hoặc có thể mở rộng thêm sản xuất sảnphẩm xây lắp Để thực hiện được mục tiêu tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm thì đơn vị xây dựng thường áp dụng nhiều biện pháp khác nhau Đứng trên góc độ quản lý, cần phải biết các nhân tố hay nội dung cấu thành giá thành, để từ đó biết được nguyên nhân cơ bản nào làm giảm giá thành Trên cơ sở đó, người quản lý mới đề ra được các biện pháp cẩn thiết để hạn chế, loại trừ những ảnh hưởng của các nhân tố tiêu
Trang 15cực, phát huy và động viên những nhân tố tích cực, khai thác khả năng tiềm tang quản lý,
sử dụng các nguồn vật tư, lao động và tiền vốn
Một trong những biện pháp giữ vị trí quan trọng và không thể thiếu được phải kể đến biện pháp quản lý của công cụ kế toán Bởi vậy, phải tính đúng, tính đủ chi phí sản xuất vào giá thành mới đảm bảo phát huy được tác dụng của công cụ kế toán đối với việc quản lý sản xuất Do đó, nhiệm vụ chủ yếu cho công tác hạch toán đói với việc quản lý sản xuất Do đó, nhiệm vụ chủ yếu cho công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành là: Xác định chính xác đói tượng tập hợp chi phí phù hợp với các điều kiện thực tế của doanh nghiệp, thỏa mãn yêu cầu quản lý đặt ra, vận dụng phương pháp hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành một cách hợp lý, khoa học Đảm bảo cung cấp mộtcách kịp thời, chính xác, đầy đủ các số liệu cần thiết cho công tác quản lý
Cụ thể là:
- Phản ánh đầy đủ, chính xác, kịp thời toàn bộ chi phí phát sinh
- Kiểm tra tình hình thực hiện các định mức chi phí vật tư, nhân công, sử dụng máy thi công và các khoản dự toán chi phí sản xuất khác Phát hiện kịp thời các khoản chênh lệch so với định mức, dự toán, các khoản chi phí ngoài kế hoạch, các khoản thiệt hại, mất mát, hư hỏng trong sản xuất để đề ra các biện pháp kịp thời
- Kiểm tra việc thực hiện hạ giá thành của DN theo từng công trình, hạng mục công trình, từng bộ phân thi công trong từng thời kỳ nhất định Kịp thời lập các báo cáo
về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm phục vụ cho yêu cầu quản lý của DN
1.3.3 Vai trò của công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp
Đối với các DN xây lắp, việc hạch toán sẽ cung cấp số liệu một cách chính xác, kịp thời đầy đủ, phục vụ cho việc phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của DN, từ đó đề ra các biện pháp quản lý và tổ chức uản lý phù hợp với yêu cầu hạch toán
Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành công tác xây lắp là vấn đề
Trang 16nắm bắt được tình hình thực hiện các định mức về chi phí vật tư, nhân công, máy thi công là bao nhiêu so với dự toán và kế hoạch, từ đó xác định được mức tiết kiệm hay lãng phí chi phí sản xuất để đưa ra các biện pháp thích hợp Việc tính giá thành công tác xây lắp thể hiện toàn bộ chất lượng sản phẩm sản xuất kinh doanh và quản lý kinh tế tài chính của đơn vị.
1.4 Nội dung cơ bản của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp trong doanh nghiệp xây lắp
1.4.1 Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trong DN xây lắp là phạm vi và giới hạn để tập hợp chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ theo phạm vi và giới hạn đó
Việc xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là khâu đầu tiên trong việc tổ chức kế toán CPSX Thực chất của việc xác định đối tượng tập hợp CPSX làxác định nơi gây ra chi phí hoặc đối tượng chịu chi phí Để xác định đối tượng kế toán tập hợp CPSX trong DN xây lắp cần dựa vào các căn cứ sau:
- Căn cứ vào mục đích sử dụng
- Căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất, tính chất sản xuất, loại hình sản xuất sản phẩm
- Căn cứ vào đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất
- Căn cứ vào yêu cầu và trình độ quản lýNhìn chung đối tượng kế toán chi phí sản xuất trong DN xây lắp có thể là công trình, hạng mục công trình, các giai đoạng quy ước của hạng mục công trình có dự toán công trình riêng hay nhóm công trình, các đơn vị thi công ( đọi thi công xây lắp )
1.4.2 Đối tượng kế toán tính giá thành sản phẩm
Đối tượng tính giá thành là các sản phẩm, công việc lao vụ mà DN đã sản xuất hoàn thành đòi hỏi phải tính giá thành
Trang 17Trong DN xây lắp do tổ chức sản xuất đơn chiếc nên đối tượng tính giá thành là từng công trình hạng mục, các giai đoạn quy ước của hạng mục công trình có giátrị dự toán riêng hoàn thành.
Cũng như xác định đối tượng kết toán CPSX việc xác định đối tượng giá thành là khâu đầu tiên trong toàn bộ công tác tính giá thành Bộ phận kế toán giá thành khi xác định đối tượng tính giá thành phải căn cứ vào :
- Đặc điểm tổ chức sản xuất, loại hình sản xuất, tính chất của từng loại sản phẩm cụ thể của DN
- Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm
- Yêu cầu và trình độ của cán bộ kế toán
1.4.3 Mối quan hệ giữa kế toán tập hợp chi phí sản xuất & kế toán tính giá thành sản phẩm
Đối tượng kế toán tập hợp chi phí là căn cứ mở sổ kế toán chi tiết để tập hợp CPSX mở tài khoản chi phí, đảm bảo cung cấp số liệu cho công tác tính giá thành kịp thời, chính xác, tạo điều kiện tăng cường quản lý, hạch toán chi phí nội bộ
Đối tượng tính giá thành là căn cứ để kế toán tổ chức các bảng tính giá thành sản phẩm theo từng đối tượng nhất định, lựa chọn phương pháp tính giá thành phù hợp để tổ chức việc tính giá thành khoa học, hợp lý, phục vụ kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch giá thành Tuy vậy, giữa đối tượng kế toán CPSX với tính giá thành lại có mối quan hệ mật thiết vơi nhau: Một đối tượng tập hợp chi phí có thể tương ứng phù hợp với một hoặcnhiều đối tượng tính giá thành Tương ứng với nhiều đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
có thể là một đối tượng tính giá thành
Xem xét mối quan hệ giữa đối tượng kế toán CPSX và tính giá thành để vận dụng phương pháp tính giá thành phù hợp
1.4.4 Kỳ tính giá thành
Trang 18Là khoảng thời gian cần thiết tiến hành tổng hợp CPSX để tính tổng giá thành và giá thành đơn vị kết quả hoàn thành Thông thường, kỳ tính giá thành có thể là hàng tháng, quý, năm và được chọn trùng với kỳ báo cáo kế toán.
Đơn vị tính giá thành: LÀ đơn vị thừa nhận trong nền kinh tế quốc dân và thường được sử dụng phổ biến nhất Đơn vị tính giá thành trong thực tế cần phải thống nhất tính giá thành đã ghi trong kế hoạch giá thành sản phẩm của DN
1.5 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất
1.5.1 Kế toán chi phí NVL trực tiếp
Nội dung và phương pháp tập hợp
Trong tổng hợp chi phí sản xuất xây lắp thì chi phí NVL chiếm một tỷ trọng tương đốilớn Chi phí NVL trực tiếp trong xây lắp là những chi phí vật liệu chính, phụ, các bộ phận
kế cấu công trình, vật liệu luân chuyển tham gia cấu thành thực tế công trinh xây lắp hoặcgiúp cho việc hoàn thành công trình xây lắp Chi phí NVL trực tiếp không bao gồm vật liệu, nhiên liệu sử dụng cho máy thi công và sử dụng cho quản lý đội công trình
Chi phí NVL cho công trình gồm nhiều loại khác nhau như giá trị thực tế của vật liệu chính ( gạch, đá, vôi, cát, xi măng…) vật liệu phụ như sơn, CCDC…
Giá trị hạch toán được tính vào khoản mục này, ngoài giá trị thực tế người bán cung cấp còn có chi phí thu mua, vận chuyển từ nơi mua tới nơi nhập kho hay xuất thẳng tới công trình Vật liệu sử dụng cho xây dựng công trình, hạng mục công trình nào thì phải tính trực tiếp cho công trình, hạng mục công trình đó trên cơ sở chứng từ gốc, theo giá thực tế vật liệu và theo số lượng thực tế vật liệu đã sử dụng
Kế toán áp dụng phương pháp tập hợp trực tiếp đối với những chi phí vật liệu liên quan đến một công trình, hạng mục công trình Trường hợp vật liệu xuất dùng cóliên quan đến nhiều đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất thì không thể hạch toán trực tiếp vào đối tượng thì phải áp dụng phương pháp phân bổ gián tiếp để phân bổ chi phí cho các đối tượng có liên quan Tiêu thức phân bổ có thể là định mức chi phí NVL trực tiếp hoặc số giờ máy chạy hay theo khối lượng sản phẩm, công việc đã hoàn thành
Trang 19Cuối kỳ hạch toán hoặc khi công trình hoàn thành phải tiến hành kiểm kê sốvật liệu chưa sử dụng hết ở các công trình, bộ phận sản xuất để tính số liệu thực tế sử dụngcho từng công trình, đồng thời hạch toán đúng đắn số phế liệu thu hồi ( nếu có ) theo từng đối tượng công trình.
Tài khoản sử dụng
Để phản ánh chi phí NVL sử dụng trực tiếp cho hoạt động xây lắp, kế toán sử dụng TK 154 – Chi phí SXKD dở dang, tài khoản được mở chi tiết cho từng công trình, hạng mục công trình, khối lượng xây lắp, các giai đoạn quy ước đạt điểm dừng kỹ thuật
có dự toán riêng
- Vật liệu xuất kho cho công trình
Nợ TK 154: Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
Có TK 152: Nguyên liệu, vật liệu
Có TK 111,112,331…
- Quyết toán tạm ứng
Nợ TK 154: Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
Có TK 141: Tạm ứng
- Vật liệu sử dụng không hết nhập lại kho
Nợ TK 152: Nguyên liệu, vật liệu
Nợ TK 632: Giá vốn hàng bán
Có TK 154: Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
Trang 20
TK 152 TK154 – Chi phí SXKD dở dang TK 152
VL xuất kho sử dụng trực tiếp VL không sử dụng hết
cho công trình xây lắp cuối kỳ nhập lại kho
VL sử dụng không hết cuối kỳ
nhưng không nhập lại kho ( ghi âm)
TK 111, 112, 141, 331 TK 632
Mua VL sử dụng ngay cho công Chi phí NVL vượt trên
trình không qua kho mức bình thường
Trang 211.5.2 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
Nội dung phương pháp tập hợp
Chi phí NCTT bao gồm tiền lương, tiền công phải trả cho số ngày công lao động của công nhân trực tiếp thực hiện khối lượng công tác xây lắp, công nhân phục vụ xây lắp, kể cả công nhân vận chuyển, bốc dỡ vật liệu trong phạm vi mặt bằng thi công chuẩn
bị, kết thúc thu dọn hiện trường thi công, không phân biệt công nhân trong danh sách haycông nhân thuê ngoài
Việc hạch toán tiền lương của công nhân trong DN thì dựa trên bảng chấm công, theo dõi từng tổ sản xuất, đội xây dựng Bảng chấm công cho biết ngày giờ làm việc thực
tế, số ngày nghỉ của từng người sau khi đã được kiểm tra và chuyển lên phòng lao động
để ghi chép, theo dõi sau đó làm căn cứ cho phòng kế toán tính lương và phân bổ tiền lương
Về nguyên tắc chi phí nhân công trực tiếp cũng được tập hợp giống chi phí về NVL trực tiếp
Tiền lương, tiền công phải trả cho công nhân liên quan đến công trình, hạng mục, công trình nào thì được hạch toán trực tiếp cho công trình, hạng mục đó Trong điều kiện xây lắp không cho phép tính trực tiếp chi phí nhân công cho từng công trình, hạng mục công trình thì kế toán phải phân bổ NCTT cho các đối tượng theo tiền lương định mức hay mức giá công định mức
Trang 22cho CN trực tiếp sản xuất mức bình thường
TK 141
Quyết toán tạm ứng về giá trị
KLXL giao khoán hoàn
Trang 231.5.3 Kế toán chi phí sử dụng máy thi công.
Nội dung, phương pháp tập hợp
Máy thi công là loại xe máy chạy bằng động lực (điện, xăng, dầu, khí nén) được
sử dụng trực tiếp để thi công xây lắp các công trình
Chi phí sử dụng máy thi công là toàn bộ các chi phí về vật liệu, nhân công, và các chi phí khác có liên quan đến sử dụng máy thi công
Tài khoản sử dụng
Để tập hợp và phân bổ chi phí sử dụng máy thi công phục vụ trực tiếp cho hoạt động xây lắp, kế toán sử dụng tài khoản 154 “Chi phí SXKD dở dang” Chi phí sử dụng máy thi công có liên quan đến công trình nào thì hạch toán cho công trình đó Không hạch toán vào tài khoản này các khoản trích theo lương (BHXH, BHYT, KPCĐ) của công nhân sử dụng máy thi công
Trang 24- Cuối kỳ, kết chuyển chi phí sử dụng MTC:
- Biên bản thanh lý hợp đồng thuê máy
- Bảng đề nghị thanh toán tiền thuê thiết bị thi công
- Bảng kê chi phí sử dụng máy thi công
- Bảng tổng hợp chi phí trực tiếp thi công công trình
Trình tự kế toán một số nghiệp vụ chủ yếu
Sơ đồ 1.3
TK 334 TK154 – Chi phí SXKD dở dang TK 632 Tiền lương phải trả cho Kết chuyển chi phí sử dụng máy
cho CN điều khiển máy dưới công suất và chi phí khác
vượt mức
TK 152, 153, 142, 111, 331…
Xuất kho mua VL, NL, CCDC
sử dụng cho máy thi công
TK 133
Thuế GTGT
( nếu có )
TK 141
Trang 25Quyết toán tạm ứng về giá trị
KLXL giao khoán hoàn
1.5.4 Kế toán chi phí sản xuất chung
Nội dung và phương pháp tập hợp
Chi phí sản xuất chung của hoạt động xây lắp là những chi phí có liên quan đến việc tổ chức, phục vụ và quản lý công của các đội xây lắp ở các công trường xây dựng.Chi phí sản xuất chung được tập hợp cho từng đối tượng theo phương thức gián tiếp
- 627.4 Chi phí khấu hao TSCĐ
- 627.7 Chi phí dịch vụ mua ngoài
Trang 26đội xây dựng và tiền ca ăn p.bổ vào giá thành SX
được ghi vào GVHB
Trang 27- Bảng thanh toán tiền lương.
- Bảng phân bổ tiền lương
- Phiếu xuất kho
- Bảng phân bổ chi phí trả trước
- Bảng phân bổ khấu hao TSCĐ
- Hóa đơn hàng hóa, dịch vụ mua ngoài
- Các chứng từ khác có liên quan
1.5.5 Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất xây lắp
Nội dung, phương pháp tập hợp:
Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất để tính giá thành sản phẩm xây lắp thường được tiến hành vào cuối kỳ kế toán hoặc khi công trình hoàn thành toàn bộ, trên cơ sở các bảngtính toán phân bổ các chi phí phát sinh cho các đối tượng tập hợp chi phí đã được xác định Việc tổng hợp chi phí sản xuất, tính giá thành phải được thực hiện theo công trình, hạng mục công trình và các khoản mục chi phí đã quy định
Trang 28+ Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất là cách thức kế toán sử dụng để tập hợp, phân loại các khoản mục chi phí sản xuất trong kỳ theo các đối tượng tập hợp chi phí đã xác định và mở số chi tiết cho phù hợp.
Tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể của doanh nghiệp xây lắp có thể vận dụng phương pháp tập hợp chi phí trực tiếp hoặc phương pháp phân bổ gián tiếp
- Phương pháp tập hợp chi phí trực tiếp:
Phương pháp này áp dụng với những chi phí phát sinh chỉ liên quan đến một đối tượng tập hợp chi phí Khi chi phí phát sinh sẽ được quy nạp trực tiếp cho đối tượng đó
Trường hợp doanh nghiệp xác định đối tượng tập hợp chi phí là công trình hay hạng mục công trình thì hàng tháng căn cứ vào các chi phí phát sinh có liên quan đến công trình hay hạng mục công trình nào thì tập hợp chi phí cho công trình đó
- Phương pháp tập hợp và phân bổ gián tiếp: Theo phương pháp này các chi phí liênquan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí đã xác định mà kế toán không thể tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng thì kế toán sẽ tập hợp toàn bộ chi phí sau đó tiến hành phân bổ cho từng đối tượng cụ thể theo tiêu chuẩn hợp lý
Để phân bổ cho các đối tượng phải chọn tiêu thức phân bổ và tính hệ số phân bổ chi phí
Công thức: H = C/T
Trong đó: H: hệ số phân bổ chi phí
C: Tổng chi phí cần phân bổT: Tổng đại lượng của tiêu thức phân bổMức chi phí phân bổ cho từng đối tượng tính theo công thức sau:
Ci = H x Ti
Trong đó: Ci: Chi phí sản xuất phân bổ cho đối tượng i
Ti: Đại lượng của tiêu chuẩn phân bổ của đối tượng iTrường hợp đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là đội thi công hay công trường thì chi phí sản xuất phải tập hợp theo đội thi công hay công trường Cuối kỳ tổng số chi phí
Trang 29tập hợp phải được phân bổ cho từng công trình, hạng mục công trình để tính giá thành sản phẩm riêng.
Tài khoản sử dụng:
Kế toán sử dụng tài khoảng 154 “Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang”
TK 154 được mở rộng chi tiết theo địa điểm phát sinh chi phí ( Đội sản xuất, công trường, phân xưởng…), theo từng công trình, hạng mục công trình hoặc nhóm hạng mục công trình, chi tiết cho tưng loại sản phẩm, lao vụ, dịch vụ khác
TK154 có 4 tài khoản câp 2 :
TK 1541 – Xây lắp
TK 1542 – Sản phẩm khácTK1543 – dịch vụ
TK1544 – Chi phí bảo hành xây lắp
Một số nghiệp vụ kế toán chủ yếu:
- Tập hợp chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ bao gồm chi phí NVL trực tiếp, chi
phí công nhân trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung
Nợ TK 154 – Chi phó SXKD dở dang
Có TK 152, 153, 142, 242, 214, 334, 338, 111…
- Vật liệu thừa sử dụng không hết nhập lại kho
Nợ TK 152 – Nguyên liệu, vật liệu
Trang 30NỢ TK 632 – Giá vốn hàng bán
CÓ TK 154 – Chi phí SXKD dở dang
1.6 Đánh giá sản phẩm dở dang trong doanh nghiệp xây lắp.
Sản phẩm dở dang trong xây dựng có thể là công trình, hạng mục công trình dở dang chưa hoàn thành, khối lượng xây lắp thi công dở dang chưa được bên chủ thầu đầu
tư nghiệm thu, thanh toán
Đánh giá sản phẩm dở dang theo là tính toán, xác định phần chi phí sản xuất cho khối lượng dở cuối kỳ theo những nguyên tắc nhất định
Chi phí sản xuất tính cho sản phẩm xây lắp dở dang cuối kỳ được tính toán trên cơ
sở phân bổ chi phí xây lắp thực tế phát sinh cho các khối lượng công việc hay giai đoạn xây lắp chưa hoàn thành trên cơ sở tiêu thức phân bố là giá trị dự toán hay chỉ phí dự toán Trong đó các công việc hay giai đoạn xây lắp dở dang có thể được tính theo mức hoàn thành
Chi phí thực tế của khối lượng hay giai đoạn xây lắp dở dang cuối kỳ được xác định như sau:
theo dự toán kỳ theo dự toán
1.7 Phương pháp giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp
Trang 31Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất để tính giá thành sản phẩm xây lắp được tiến hành vào cuối kỳ kế toán hoặc khi công trình hoàn thành toàn bộ trên cơ sở các bảng tính toán phân bố các chi phí phát sinh cho các đối tượng tập hợp chi phí đã được xác định.
Tùy theo được điềm của từng đối tựng tính gái thành và mối quan hệ giữa đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành mà áp dụng phương pháp giá thành thích hợp
Do ảnh hưởng bởi đặc điểm doanh nghiệp xây lắp nên thông thường kế toán áp dụng phương pháp trực tiếp, phương pháo đơn đặt hàng để tính giá thành sản phẩm Trong một số trường hợp công trình được chia ra nhiều hạng mục, để tính giá thành sản phẩm là tưng hạng muc công trinh, kế toán có thể áp dụng kết hợp với các phương pháp khác nhau như phương pháp tỷ lệ, hệ số, tính theo chi phí định mức …
1.7.1 Phương pháp tính giá thành giản đơn.
Phương pháp này áp dụng với trường hợp đối tượng tính giá thành trùng với đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, kỳ tính giá thành phù hợp với báo cáo Theo từng phươngpháp này, đối tượng tính giá thành là khối lượng xây dựng từng công trình, hạng mục công trình hoàn thành Toàn bộ chi phí phát sinh được tập hợp cho công trình, hạng mục công trình từ khi khởi công đến khi hoàn thành chính là giá thành thực tế của công trình, hạng mục công trình
Trong trường hợp công trình, hạng mục công trình chưa được hoàn thành toàn bộ
mà khối lượng xây lắp hoàn thành bàn giao thì:
Giá thành công chi phí SX Chi phí SX Chi phí SX Chi phí loại trình hay hạng = dở dang + phát sinh - dở dang - trừ giá thànhmục công trình đầu kỳ trong kỳ cuối kỳ
1.7.2 Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng
Trang 32Phương pháp này phù hợp chi trường hợp đói tượng tính giá thành là từng công trình, từng hạng mục công trình hoàn thành Theo phương pháp này thì khi bắt đầu thực hiện thi công, mỗi đơn đặt hàng được mở một phiếu tính giá thành Chi phí xây dựng được tập hợp riêng cho từng đơn đặt hàng.
Trong kỳ, đơn đặt hàng nào hoàn thành, kế toán tập hợp chi phí phát sinh để tính giá thành đơn đặt hàng đó ( không đợi đến cuối kỳ ) Đến cuối kỳ, đơn đặt hàng nào chưa hoàn thành thi toàn bộ chi phí phát sinh trên từng đơn đặt hàng từ đầu đến thời điểm đó làchi phí sản xuất dở dang cuối kỳ
1.7.3 Phương pháp tính giá thành định mức.
Phương pháp này áp dụng cho trường hợp doanh nghiệp xây dựng thực hiện
phương pháp kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo định mức
Giá thành thực tế Giá thành Chênh lệch do thay Chênh lệch do thoátsản phẩm xây dựng = định mức +/- đổi định mức +/- ly định mức
1.8 Hình thức sổ kế toán
1.8.1 Hình thức sổ kế toán nhật ký chung
Tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều phải ghi vào sổ nhật ký mà trọng tâm là
sổ nhật ký chung, theo trình tự thời gian phát sinh và định khoản nghiệp vụ đó Sau đó, lấy số liệu trên các sổ nhật ký để ghi vào sổ cái theo từng nghiệp vụ phát sinh
Trang 33Căn cứ đề nghị vào NKSC là các chứng từ gốc hoặc bảng tổng hợp chứng từ gốc.
- Nhật ký sổ cái
- Các sổ, thẻ kế toán chi tiết
1.8.3 Hình thức sổ nhật ký chứng từ ghi sổ
Căn cứ trực tiếp để ghi là chứng từ ghi sổ, việc ghi bao gồm:
- Ghi theo trình tự thời gian trên sổ đăng ký chứng từ ghi sổ
- Ghi theo nội dung kinh tế ghi trên sổ cái
Chứng từ ghi sổ do kế toán lập trên cơ sở chứng từ gốc hoặc bảng tổng hợp cùng loại, cùng nội dung kinh tế
2.1 Tổng quan về công ty CPXD & DVTM Hoàng Thành
2.1.1 Khái quát về quá trình hình thành công ty CPXD & DVTM Hoàng Thành
+ Tên công ty: Công ty CPXD &DVTM Hoàng Thành
+ Địa chỉ trụ sở: Xã Quảng Tâm, TP Thanh Hóa, Tỉnh Thanh Hóa
+ Người đại diện: Lê Thanh Trang Chức vụ: Giám đốc công ty
+ Tài khoản số: 3500211350073 tại Phòng giao dịch Môi Ngân hàng nông nghiệp
và phát triển nông thôn Thanh Hóa
+ Mã số thuế: 2800950935
Vốn điều lệ: 4.500.000.000
Quyết định thành lập
Trang 34Công ty CPXD & DVTM Hoàng Thành được thành lập theo giấy phép kinh doanh
số : 2602000572 ngày 30 tháng 9 năm 2006 do sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Thanh Hóa cấp
- Đặc điểm hoạt động và cơ cấu sản suất kinh doanh, tổ chức bộ máy quản lý của công ty
- Ngành nghề kinh doanh của công ty
Xây dựng dân dụng, giao thông, thủy lợi
Xây lắp công trình thủy điện đến 35KV
San lấp mặt bằng
Kinh doanh vận tải hàng hóa đường bộ
Khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng
- Thị trường của công ty: Tự tìm kiếm thị trường, trực tiếp giao dịch ký hợp đồng với các giao dịch trong nước
- Vị trí, vị thế của công ty
Công ty nằm ở vị trí tương đối thuận lợi cho việc sản xuất kinh doanh với một bên
là TP Thanh Hóa một bên là Thị xã Sầm sơn nơi có quốc lộ 47 chạy qua Là khu vực pháttriển rất mạnh mẽ về các ngành nghề xây dựng và du lịch
Công ty có đội ngũ cán bộ có trình độ Trung – Đại học đã có nhiều năm trực tiếp tham gia lãnh đạo cộng thêm một đội ngũ cán bộ công nhân viên sản xuất có lòng yêu nghề say mê đã giúp cho công ty hoàn thành kế hoạch
Ban giám đốc rất chú trọng mua sắm trang thiết bị hiện đại đổi mới công nghệ và trang bị nhiều thiết bị máy móc hiện đại
Công ty có hơn 60 cán bộ công nhân viên trong và ngoài hợp đồng Công ty luôn có100% việc làm cho công nhân viên lương thu nhập tương đối ổn định, thu nhập bình quânngười/ tháng là 3.000.000đ/tháng
2.1.2 Đặc điểm tổ chức sản xuất tại công ty CPXD & DVTM Hoàng Thành
Sơ đồ: 2.1: Quy trình sản xuất của công ty CPXD & DVTM Hoàng Thành
Trang 35Quá trình sản xuất của công ty bắt đầu từ khi công ty tham gia đấu thầu hoặc được
giao thầu xây dựng Sauk hi nhận nghiên cứu hồ sơ mời thầu xây lắp của khách hàng thì
công ty lập hồ sơ dự thầu bao gồm đơn xin dự thầu, thuyết minh về giá, đơn cam kết, các giấy tờ chứng minh về kinh nghiệm và khả năng thi công, bố trí nhân sự…gửi cho đơn vị mời thầu Sau khi trúng thầu hoặc được giao thầu thì hợp đồng giao nhận thầu xây lắp
được thực hiện giữa hai bên thực hiện quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong đó phải ghi
rõ các thõa thuận về giá trị công trình, thời gian thi công, công thức thanh toán…Khi hợp đồng xây lắp có hiệu lực công ty tiến hành tổ chức thi công Với đặc điểm của sản phẩm
xây lắp có giá trị lớn nên cần được lập một cách chi tiết và bao quát toàn bộ quá trình từ
khi bắt đầu thực hiện đến khi kết thúc công việc và trong quá trình sản xuất luôn luôn so
sánh thực tế và dự toán, lấy dự toán làm thước đo
Công ty thực hiện thi công theo từng giai đoạn từ khâu đào móng, xây thô ( phần
thân ), đổ bê tông ( phần mái ) và hoàn thiện công trình
Đào móngXây thô
Phần mái và
hoàn thiện
Quyết toán và thanh lý hợp đồng
Lập kế hoạch xây lắp công trình
Mua sắm vật liệu, thuê nhân công
Trang 36 Các giai đoạn thi công móng gồm 6 bước :
Công tác chuẩn bị mặt bằng và giác móng
San lấp mặt bằng
Công tác đào đất móng, bê tông gạch vỡ lót móng
Công tác thi công bê tông móng, cốt thép móng
Công tác đệm cát nền, bê tông gạch vỡ nền
Công tác xây móng và cổ móng
Giai đoạn xây thô gồm 2 bước :
Công tác xây tường
Công tác ván khuôn, cốt thép, bê tông phần thân
Giai đoạn phần mái và hoàn thiện gôm 3 bước :
Công tác thi công lập mái
Giàn ráo trát, công tác trát tường, ốp lát
Thi công cửa, quét vôi, thi công điện, cấp thoát nước
Sau khi hoàn thiện bên giao thầu sẽ nghiệm thu công trình, công ty tiến hành quyếttoán và bên giao thầu có nhiệm vụ thanh toán như hợp đồng xây lắp đã ký kết
Tuy nhiên, đối với những công trình có giá trị nhỏ hoặc những hạng mục công trình không cần tham gia đấu thầu thì công ty chỉ cần gửi bản báo giá tới khách hàng và sau đó ký kết hợp đồng và thi công công việc theo hợp đồng như đã thỏa thuận
2.1.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý tại công ty CPXD & DVTM Hoàng Thành
GIÁM ĐỐC
Trang 37Sơ đồ 2.2: Tổ chức quản lý và tổ chức sản xuất tại Công ty
Nhiệm vụ chức năng của các phòng ban:
Giám đốc:
Là người đại diện pháp nhân của công ty , đại diện là ông Lê Thành Trang , tổchức điều hành, kiểm tra các hoạt động của công ty , nhân danh công ty ký kết các hợpđồng
Tổ chức bộ máy quản lý , chuẩn bị các nguồn nhân lực cần thiết để duy trì cáchoạt động của công ty.Chỉ đạo cac bộ phận chiến lược phát triển của công ty , xem xéttình hình phù hợp của hệ thống chất lượng và quyết định cải tiến chất lượng.Là ngườichịu trách nhiệm toàn bộ kết quả kinh doanh và nghĩa vụ đối với nhà nước theo pháp luậthiện hành, điều hành hoạt động hàng ngày của công ty, quyết định các vấn đề liên quanđến hoạt động của công ty
Trang 38Phòng kế toán – tài chính: Gồm 5 người trong đó có:
+ 1 kế toán trưởng+ 1 kế toán kho+ 1 kế toán tiền lương
Phòng nhân sự:
+ Quản lý nhân viên trong toàn công ty
+ Tiếp nhận nhân viên mới, giới thiệu, làm quen với công ty+ Thu hút những người có năng lực về làm việc tại công ty+ Căn cứ vào nhiệm vụ, kế hoạch, tính chất thời vụ công việc để xác định
và bổ sung nhân lực cho công ty
+ Tổ chức các lớp học, khóa học đào tạo và phát triển nhân viên+ Báo cáo với lãnh đạo kết quả đánh giá năng lực thực hiện công việc của nhân viên
+ Theo dõi, chấm công cho nhân viên+ Tính lương, thưởng cho CNV+ Đề xuất việc khen thưởng, kỷ luật, tăng lương cho CNV
2.1.4 Tổ chức bộ máy kế toán và bộ sổ kế toán tại Công ty CPXD & DVTM Hoàng Thành.
2.1.4.1 Tổ chức bộ máy kế toán.
Bộ máy kế toán của Công ty được tổ chức theo loại hình kế toán tập trung Bộmáy kế toán là bộ phận theo dõi quản lý toàn bộ hồ sơ chứng từ về sổ chế độ chỉ tiêutrong toàn công ty Đồng thời quản lý tài sản vốn và mọi chế độ chỉ tiêu trong toàn công
ty, đảm bảo đúng chế độ chính sách của Nhà nước, sử dụng vốn có hiệu quả cao, chịutrách nhiệm trược ban Giám đốc về các số liệu thông tin trên các báo cáo vi phạm toàncông ty, lập và báo cáo tài chính đúng thời hạn quy định, cung cấp kịp thời đầy đủ cácbáo cáo theo yêu cầu của Giám đốc
Tổ chức bộ máy kế toán của Công ty được thể hiện theo sơ đồ sau
SƠ ĐỒ BỘ MÁY KẾ TOÁN CÔNG TY
Trang 39Sơ đồ 2.3: Bộ máy kế toán tâị công ty CPXD & DVTM Hoàng Thành
- Kế toán trưởng : Có nhiệm vụ tổ chức, điều hành toàn bộ hệ thống kế toán của
Công ty CPXD & DVTM Hoàng Thành, tổ chức kiểm tra kế toán nội bộ của công ty, các
bộ phận trong phòng kế toán chịu sự quản lý của kế toán trưởng
- Kế toán tiền: Là kế toán liên quan đến các khoản tiền và tương đương tiền Lập
phiếu thu, phiếu chi, báo cáo kịp thời tình hình tồn quỹ tiền mặt tại đơn vị
- Kế toán kho: Là kế toán liên quan đến quản lý và theo dõi hàng tồn kho Lập
phiếu nhập kho, phiếu xuất kho, lập và báo cáo kịp thời nhập xuất và tồn kho
- Kế toán lương và các khoản trích theo lương: Là kế toán liên quan đến các
khoản phải trả người lao động bao gồm: lương, thưởng, các khoản trích theo lương.Chịutrách nhiệm chấm công, tính lương và thanh toán lương đúng thời hạn cho người laođộng
- Kế toán chi phí và giá thành: Là kế toán liên quan đến tập hợp chi phí và tính
giá thành xây dựng Kế toán tập hợp chi phí liên quan đến từng hàng mục công trình từ
đó tính giá thành của từng hạng mục theo phương pháp đã xác định
2.1.4.2 Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán:
Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán tại công ty bao gồm : việc ghi chép các nghiệp
vụ kinh tế phát sinh vào các chứng từ đầy đủ chính xác kiểm tra hoàn thiện chứng từ tổchức luân chuyển chứng từ theo từng loại cho các bộ phận liên quan theo một trình tựnhất định để theo dõi
Kế toán trưởng
Kế toán tiền Kế toán kho Kế toán tiền lương
Kế toán chi phí
& giá thành
Trang 40Kế toán trưởng công ty quyết định trình tự xử lý, luân chuyển chứng từ kế toán và người lập chứng từ kế toán.
+ Chứng từ kế toán tiền gửi và tiền mặt là các phiếu thu, phiếu chi, giấy báo nợ, giấy báo có, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi
+ Chứng từ kế toán tài sản cố định là các biên bản giao nhận, biên bản giao nhận, biên bản thanh lý, biên bản đánh giá lại TSCĐ
+ Chứng từ kế toán vật liệu, công cụ dụng cụ là các phiếu nhập, phiếu xuất
+ Chứng từ kế toán tiền lương là các bảng chấm công, bảng thanh toán tiền lương
và thanh toán bảo hiểm xã hội
2.1.4.3 Tổ chức vận dụng tài khoản kế toán.
Tại Công ty sử dụng tài khoản doanh nghiệp ban hành theo quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/09/2006 của Bộ Tài Chính cùng với những văn bản sửa đổi bổ sung
Hệ thống tài khoản kế toán công ty được xây dựng phù hợp yêu cầu của nền kinh
tế thị trường
2.1.4.4 Tổ chức hình thức kế toán:
Hình thức kế toán Công ty đang sử dụng để ghi chép, hệ thống hóa và tổng hợp số liệu từ các chứng từ kế toán là hình thức kế toán chứng từ ghi sổ