309 Nâng cao tài chính hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở tỉnh Vĩnh long giai đoạn 2005-2010
Trang 1MỤC LỤC MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU - 1
CHƯƠNG I: DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM - 4
1.1 Khái quát về doanh nghiệp nhỏ và vừa: - 4
1.1.1 Khái niệm về DNNVV - 4
1.1.2 Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế thị trường - 6
1.1.3 Những ưu thế và hạn chế của DNNVV trong nền kinh tế thị trường - 9
1.2 Vai trò của chính sách tài chính trong việc phát triển DNNVV -11
1.3 Các chính sách hỗ trợ DNNVV ở Việt Nam từ phía nhà nước: -12
1.3.1 Chính sách tài chính tín dụng -12
1.3.2 Chính sách thuế -14
1.3.3 Chính sách thương mại -14
1.3.4 Chính sách đầu tư -15
1.3.5 Chính sách đất đai -15
1.3.6 Chính sách công nghệ và đào tạo -15
1.4 Kinh nghiệm của một số nước trong việc sử dụng chính sách tài chính hỗ trợ phát triển DNNVV: -16
1.4.1 Chính sách tài chính hỗ trợ phát triển DNNVV ở một số nước -16
1.4.2 Một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam -24
CHƯƠNG II: CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH TRONG VIỆC HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở TỈNH VĨNH LONG HIỆN NAY -27
2.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của Tỉnh Vĩnh Long -27
2.2 Đặc điểm của DNNVV ở Tỉnh Vĩnh Long: -33
2.2.1 Tình hình phát triển DNNVV ở Tỉnh Vĩnh Long: -33
a Về số lượng -33
b Đóng góp cho ngân sách nhà nước của các DNNVV -37
c Về lao động -38
d Về Vốn -42
e Về công nghệ -44
f Về cơ cấu ngành nghề -47
g Về cơ cấu lãnh thổ -48
Trang 2h Về tình hình xuất khẩu -49
2.2.2 Những khó khăn chủ yếu của DNNVV Tỉnh Vĩnh Long hiện nay và nguyên nhân: -53
a Khó khăn về tài chính -53
b Máy móc thiết bị lạc hậu -54
c Trình độ quản lý - lao động thấp -55
d Thiếu đất làm mặt bằng kinh doanh -56
e Thiếu thông tin thương mại -57
f Sức cạnh tranh kém -58
g Thiếu cơ chế thực hiện chính sách hỗ trợ của nhà nước -59
2.3 Thực trạng chính sách tài chính hỗ trợ phát triển DNNVV ở Tỉnh Vĩnh Long: - 60
2.3.1 Thực chính sách tài chính tín dụng -60
2.3.2 Thực trạng về chính sách thuế -63
2.3.3 Thực trạng về chính sách xuất nhập khẩu -64
2.3.4 Thực trạng về chính sách đầu tư -65
2.3.5 Thực trạng về chính sách đất đai -67
2.3.6 Thực trạng về chính sách công nghệ và đào tạo -68
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở TỈNH VĨNH LONG GIAI ĐOẠN 2005 – 2010 -70
3.1 Mục tiêu tổng quát phát triển kinh tế Tỉnh Vĩnh Long đến năm 2010: -70
3.1.1 Về tốc độ tăng trưởng GDP -70
3.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế -71
3.1.3 GDP bình quân đầu người -71
3.2 Định hướng chiến lược phát triển DNNVV ở Tỉnh Vĩnh Long đến năm 2010: -71
3.2.1 Hỗ trợ phát triển DNNVV là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh -72
3.2.2 Ưu tiên phát triển DNNVV ở nông thôn là bộ phận quan trọng nhất của chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn -73
3.2.3 Ưu tiên phát triển DNNVV trong hoạt động sản xuất công nghiệp đối với một số lĩnh vực, ngành mà DNNVV có khả năng và ưu thế -73
3.2.4 Phát triển DNNVV trong mối liên kết công nghiệp bền vững, chặt chẽ với các DN lớn, nhằm tạo ưu thế và nâng cao năng lực cạnh tranh của DNNVV nói riêng và DN TỉnhVĩnh Long nói chung -74
Trang 33.2.5 Trước tiên tập trung hóa DNNVV ở một số địa bàn trọng điểm, một số thị
xã, thị trấn, các khu công nghiệp -74
3.3 Giải pháp tài chính hỗ trợ phát triển DNNVV ở Tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2005-2010: -74
3.3.1 Các giải pháp về thuế -74
a Hợp lý hóa thuế thu nhập cá nhân -75
b Đối với thuế thu nhập DN -75
c Tiếp tục cải cách thuế giá trị gia tăng -79
d Cần giải quyết các vướng mắc về thuế của DNNVV -81
3.3.2 Giải pháp tạo vốn cho các DNNVV: -82
a Tạo vốn qua hình thức tín dụng -82
b Cải cách và đổi mới các định chế tài chính -85
c Tạo vốn vay hình thức liên doanh, liên kết -87
d Coi trọng và tạo thuận lợi để hỗ trợ các DNNVV tiếp cận các nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước -87
3.3.3 Phát triển thị trường chứng khoán (tập trung và phi tập trung), tạo điều kiện cho các DNNVV tham gia vào thị trường -88
3.3.4 Một số giải pháp khác: -90
a Khuyến khích các ngân hàng thương mại cung cấp tín dụng hoặc góp vốn vào các DNNVV cùng hợp tác kinh doanh -90
b Cho phép các DNNVV khấu hao nhanh tài sản cố định -91
c Hỗ trợ mặt bằng SXKD -92
d Hoàn thiện chính sách đầu tư -94
e Hỗ trợ thông tin kinh tế, thị trường, xuất nhập khẩu -95
f Hỗ trợ về công nghệ và đào tạo -97
3.4 Một số điều kiện để thực hiện các giải pháp: -98
3.4.1 Duy trì sự ổn định kinh tế - xã hội của Tỉnh -99
3.4.2 Kết hợp đồng bộ các giải pháp tài chính với các công cụ quản lý vĩ mô -99
3.4.3 Thành lập cơ quan quản lý Nhà nước và tổ chức đại diện của DNNVV -100
3.4.4 Các điều kiện khác -101
KẾT LUẬN -104
PHỤ LỤC
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Trong lịch sử phát triển kinh tế của các nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển, đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi, DNNVV luôn luôn đóng vai trò và có tác dụng hết sức quan trọng trong tăng trưởng và phát triển kinh tế nhờ những ưu thế và những thành quả mà nó mang lại cho nền kinh tế
Ở nước ta, do trình độ kinh tế còn thấp, quy mô kinh tế hạn hẹp và nhu cầu phát huy mọi nguồn lực sẵn có để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc chú trọng phát triển DNNVV càng có ý nghĩa quan trọng hơn bao giờ hết Sau hơn 15 năm đổi mới, ý thức được tầm quan trọng đó, chính phủ Việt Nam đã có những chính sách khuyến khích phát triển DNNVV Những chính sách này đã đem lại những kết quả nhất định như: tạo công ăn việc làm cho người lao động, gia tăng khối lượng sản phẩm, khai thác các tiềm năng trong nhân dân, làm cho nền kinh tế năng động hơn, tăng thu cho ngân sách nhà nước …
Ở tỉnh Vĩnh Long hiện nay, số lượng DNNVV chiếm tỷ lệ áp đảo, trên 99% tổng số DN toàn tỉnh, các DNNVV đã có nhiều đóng góp to lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Tuy nhiên, cũng như tình hình chung của cả nước, các DNNVV của tỉnh vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động SXKD như: thiếu vốn, công nghệ lạc hậu, trình độ lao động thấp, trình độ cán bộ quản lý yếu kém, thiếu mặt bằng sản xuất, thông tin thương mại … ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của các DNNVV trên thị trường trong nước, khu vực và thế giới, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập hiện nay Do đó, bên cạnh những nỗ lực của bản thân các DNNVV, sự hỗ trợ từ phía chính quyền địa phương là vô cùng cần thiết và quan trọng, đặc biệt là hỗ trợ về tài chính để phát triển các DNNVV, góp phần tăng trưởng kinh tế của tỉnh Vĩnh Long ổn định và bền vững
Các chính sách hỗ trợ trong thời gian qua, sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung vẫn chưa hoàn thiện để thực sự tạo điều kiện cho các DNNVV phát triển
Trang 5mạnh mẽ Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài “Giải pháp tài chính hỗ trợ phát triển DNNVV tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2005-2010” để nghiên cứu, từ đó đưa ra một số kiến nghị về giải pháp nhằm góp phần giải quyết các vấn đề vướng mắc trong chính sách hỗ trợ DNNVV trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài:
- Đánh giá thực trạng các DNNVV và chính sách tài chính hỗ trợ phát triển DNNVV ở tỉnh Vĩnh Long hiện nay
- Đề nghị một số giải pháp tài chính hỗ trợ phát triển DNNVV ở tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2005-2010
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu các vấn đề về DNNVV của tỉnh Vĩnh Long, DNNVV của tỉnh là các cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, phân loại kết hợp cả 2 tiêu chí: có số vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng và số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người, theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ “Về trợ giúp phát triển DNNVV”
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi tập trung phân tích những tác động tích cực và tiêu cực của các chính sách tài chính, các chính sách kinh tế vĩ mô, của khung pháp lý và các thủ tục hành chính đối với sự phát triển các DNNVV ở tỉnh Vĩnh Long Chúng tôi cũng cố gắng đưa ra những kiến nghị về các biện pháp cần thiết cho việc cải thiện các chính sách trên nhằm khắc phục những vướng mắc trong quá trình phát triển các DNNVV, giúp các DN này phát huy hết tiềm năng của mình, vì đó là động lực phát triển kinh tế của tỉnh Vĩnh Long
4 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm
cơ sở để xem xét các vấn đề nghiên cứu
Thông qua việc thu thập thông tin từ các phương tiện, kết hợp với việc khảo sát, điều tra thu thập tư liệu nhằm thống kê, tổng hợp, so sánh, mô hình
Trang 6hóa và phân tích để làm sáng tỏ các quan điểm của chúng tôi những vấn đề nghiên cứu đặt ra
5 Cấu trúc của đề tài:
Cấu trúc của đề tài bao gồm các chương:
Chương I: DNNVV và vai trò của chính sách tài chính trong việc phát
triển DNNVV ở Việt Nam
Chương II: Thực trạng chính sách tài chính hỗ trợ phát triển DNNVV ở
tỉnh Vĩnh Long hiện nay
Chương III: Giải pháp tài chính hỗ trợ phát triển DNNVV ở tỉnh Vĩnh Long
giai đoạn 2005 - 2010
Trang 7CHƯƠNG I DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM
1.1 KHÁI QUÁT VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA:
1.1.1 Khái niệm về DNNVV:
DNNVV là loại DN được phân loại theo qui mô Nhiều nước trên thế giới, trong đó có những nước có điều kiện kinh tế và trình độ phát triển gần giống Việt Nam, sử dụng 3 tiêu chí để phân loại DN là vốn, số lao động và doanh thu, trong đó vốn và số lao động được nhiều nước áp dụng nhất Chỉ số bình quân ở các nước này là nếu DN có số vốn kinh doanh nhỏ hơn 1 triệu USD và có ít hơn 200 lao động được coi là DNNVV Tuy nhiên các tiêu chí này không cố định, chúng phụ thuộc vào chính sách và khả năng hỗ trợ của mỗi chính phủ trong từng thời kỳ, thậm chí trong cùng một nước cũng có trường hợp các tổ chức hỗ trợ có tiêu chí riêng để xác định DN đủ điều kiện nhận hỗ trợ
Bảng 1.1 Tiêu chí xác định DNNVV ở một số nước
giá trị tài sản Doanh thu Úc < 500 trong công nghiệp, DV
Canada < 500 trong công nghiệp, DV < 20 triệu đô la
Canada
Hong Kong < 100 trong công nghiệp
< 50 trong dịch vụ
giá trị tài sản Doanh thu Indonexia < 100 < 0,6 tỷ Rupiah < 2 tỷ Rupiah Nhật < 100 trong buôn bán < 30 triệu Yên
Trang 8< 50 trong bán lẻ
< 300 trong các ngành khác
< 10 triệu Yên
< 100 triệu Yên
- Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI ) xác định:
+ Đối với ngành công nghiệp: những DN có vốn từ 5–10 tỷ đồng và số lao động trung bình hàng năm từ 200-500 người là DN vừa, DN có vốn dưới 5 tỷ đồng và số lao động trung bình dưới 200 người là DN nhỏ
+ Đối với ngành thương mại: những DN có vốn từ 5-10 tỷ đồng và số lao động trung bình hàng năm từ 50-100 người là DN vừa, DN có vốn dưới 5 tỷ đồng và lao động trung bình dưới 50 người là DN nhỏ
- Trung tâm phát triển ngoại thương và đầu tư (FTDC) căn cứ vào dự án của Liên Hiệp Quốc nghiên cứu về DNNVV ở Việt Nam xác định: DN vừa là những DN có quy mô vốn từ 1 tỷ đến 4 tỷ đồng và có công nhân từ 30 đến
200 người, DN nhỏ là DN có quy mô vốn dưới 1 tỷ đồng và số công nhân dưới
30 người
- Ngân Hàng Công Thương Việt Nam xác định DNNVV là những DN có số lao động thường xuyên dưới 500 người, vốn cố định dưới 10 tỷ đồng, vốn lưu động dưới 8 tỷ đồng và doanh thu hàng năm dưới 20 tỷ đồng
- Theo công văn số 681/CP-KTN ngày 20/6/1998 của Văn phòng Chính phủ, DNNVV là những DN có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và có số lao động
Trang 9Nghị định 90/2001/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV, định nghĩa DNNVV
là cơ sở SXKD độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người
Tuy nhiên căn cứ tình hình kinh tế - xã hội cụ thể ở từng địa phương, căn cứ vào các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau mà địa phương có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả 2 tiêu chí vốn và lao động hoặc một trong hai tiêu chí trên cho phù hợp vì hai tiêu chí trên thường không luôn luôn tương thích với nhau, nhất là trong điều kiện hiện nay có những DN hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao, có số vốn hoặc doanh thu khá lớn như số lao động lại rất
ít vì đó là những lao động có chuyên môn kỹ thuật cao
Theo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới, nên có tiêu chí riêng cho các DNNVV hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau (công nghiệp, thương mại, dịch vụ,…) và cần có điều chỉnh qua từng thời kỳ tùy thuộc vào yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước, giúp thực hiện tốt những chính sách khuyến khích phát triển DNNVV của nhà nước
1.1.2 Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế thị trường:
Theo số liệu thống kê, nước ta hiện nay có khoảng trên 90% tổng số
DN là DNNVV với các hình thức: DNNN, DNTN, công ty TNHH, công ty cổ phần…; DNNVV đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế nước ta, thể hiện ở một số mặt sau:
- Tạo việc làm cho người lao động, góp phần ổn định xã hội:
Đây là thế mạnh rõ rệt của DNNVV và là nguyên nhân chủ yếu khiến
ta phải đặc biệt chú trọng phát triển DNNVV ở nước ta hiện nay
Giải quyết công ăn việc làm luôn là vấn đề bức xúc của hầu hết các nước trên thế giới Phát triển DNNVV là một giải pháp hữu hiệu giải quyết vấn đề thất nghiệp Lý do đơn giản là DNNVV thường được dễ dàng tạo lập với một lượng vốn không lớn, và thường xuyên đáp ứng được những thay đổi của thị trường Vì vậy, mặc dù số lượng lao động trong một DNNVV không nhiều, nhưng theo quy
Trang 10luật số đông, một số lượng lớn DNNVV trong nền kinh tế sẽ tạo ra phần lớn công ăn việc làm cho xã hội
Theo thống kê của Tổng Cục Thống Kê, năm 2000 cả nước có 1.447.000 người trong độ tuổi lao động không có việc làm, trong đó khu vực thành thị chiếm 48%, khu vực nông thôn chiếm 52% Dự báo từ nay đến năm
2010, mặc dù dân số có thể tăng chậm lại nhưng nguồn lao động vẫn tăng nhanh liên tục do tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động tiếp tục tăng (mỗi năm có thêm khoảng 1,8 triệu người bước vào tuổi lao động), đòi hỏi giải quyết việc làm cấp bách
Khu vực DNNVV thuộc các thành phần kinh tế hiện thu hút khoảng 26% lực lượng lao động phi nông nghiệp cả nước nhưng triển vọng thu hút thêm lao động rất lớn vì suất đầu tư cho một chỗ làm việc ở đây thấp hơn rất nhiều so với DN lớn, chủ yếu là do chi phí thấp và thu hút được các nguồn vốn rải rác trong dân, là nơi có nhiều thuận lợi nhất để tiếp nhận số lao động ở nông thôn tăng thêm mỗi năm, số lao động từ các DNNVV dôi ra qua việc cổ phần hóa, bán, khoán, cho thuê,…
25 DNNVV cung cấp một khối lượng lớn, đa dạng phong phú về sản phẩm, đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế:
Với số lượng đông đảo trong nền kinh tế, DNNVV tạo ra một khối lượng sản phẩm đáng kể cho xã hội Mặt khác, do đặc tính linh hoạt, mềm dẻo, DNNVV có khả năng đáp ứng những nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú và độc đáo của người tiêu dùng, đặc biệt là những sản phẩm có tính chất linh tinh, lặt vặt không thích hợp với các DN lớn
Ở Việt Nam, mỗi năm DNNVV đóng góp khoảng 26% GDP của cả nước Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, khu vực DNNVV đóng góp ước tính 30% giá trị tổng sản lượng công nghiệp hàng năm Một số ngành nghề như chiếu cói, hàng thủ công mỹ nghệ…DNNVV tạo ra 100% giá trị sản lượng hàng hóa
- DNNVV góp phần khai thác tiềm năng phong phú trong dân:
Trang 11Dựa trên những ưu thế của DNNVV như thành lập với số vốn ít, thu hồi vốn nhanh, sử dụng các tiềm năng về nguồn vốn lao động và nguyên vật liệu sẳn có ở địa phương, sử dụng các sản phẩm phụ hoặc phế phẩm, phế liệu của các DN lớn, DNNVV thu hút được một khối lượng lớn về vốn nhàn rỗi của các tầng lớp dân cư, đồng thời thu hút được nhiều lao động vào tham gia sản xuất mà không đòi hỏi trình độ cao hay mất nhiều thời gian đào tạo
Ngoài ra DNNVV có nhiều thuận lợi trong khai thác các tiềm năng về trí tuệ, tay nghề tinh xảo, bí quyết nghề nghiệp,… Việc phát triển các DN sản xuất các ngành nghề truyền thống ở nông thôn là một trong những hướng quan trọng để sử dụng tay nghề của các nghệ nhân, mà hiện nay đang bị mai một dần, nhằm thu hút lao động nông thôn và phát huy lợi thế của từng vùng để phát triển kinh tế
- Bảo đảm cho nền kinh tế năng động hơn:
Do yêu cầu vốn ít, qui mô nhỏ, DNNVV có nhiều khả năng thay đổi mặt hàng, chuyển hướng sản xuất, đổi mới công nghệ,… Đối với DN lớn, DNNVV còn có thể làm đại lý, vệ tinh, tiêu thụ hàng hóa hoặc cung cấp vật tư đầu vào với giá rẻ hơn, góp phần hạ giá thành, nâng cao hiệu quả sản xuất cho
Chính sự phát triển DNNVV là phương tiện quan trọng trong việc tạo lập sự cân đối giữa các vùng Nó giúp cho vùng sâu, vùng xa, các vùng nông thôn có thể khai thác được tiềm năng của vùng, địa phương để phát triển các
Trang 12ngành sản xuất, dịch vụ, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các thành phần kinh tế, giữa các ngành và các vùng lãnh thổ, đặt biệt là khu vực nông nghiệp và nông thôn
1.1.3 Những ưu thế và hạn chế của DNNVV trong nền kinh tế thị trường:
a Một số ưu thế của DNNVV:
- Dễ khởi nghiệp, ban đầu không đòi hỏi gì nhiều mọi mặt như vốn, số lượng nhân công, mặt bằng SXKD,… chính vì vậy mà DNNVV tồn tại và phát triển ở hầu hết các ngành, các lĩnh vực và chiếm tỷ lệ lớn trong các thành phần kinh tế
- Bộ máy quản lý gọn nhẹ, giàu tính mềm mại, linh hoạt, năng động, thích ứng nhanh với những thay đổi của môi trường thể chế, chế độ kinh tế - xã hội
- Có khả năng chuyển hướng kinh doanh nhanh và ít bị tổn thất khi thị trường có biến động do vốn đầu tư ít, thu hồi nhanh
- Đặc biệt thích nghi với việc phát huy mọi tiềm năng của địa phương và
cơ sở Do quy mô nhỏ, DNNVV dễ dàng được thiết lập và phát triển ở mọi khu vực, mọi khoảng trống nhỏ của thị trường để tiếp cận và phát huy tiềm năng của địa phương, nơi mà những DN lớn không thể len lỏi vào được
- Thuận lợi để kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội DNNVV hơn hẳn các DN lớn về ảnh hưởng tích cực ra môi trường xung quanh vì đây là thành phần kinh tế thu hút nhiều lao động, đặc biệt là lao động trung bình và thấp, góp phần rất lớn trong giải quyết công ăn việc làm cho xã hội, tạo sự phát triển cân bằng giữa các khu vực
- Là sự bổ sung thiết yếu cho chính sự sinh tồn và phát triển của các DN lớn DNNVV là những mắt xích nhỏ nhưng rất quan trọng đối với các DN lớn
vì DNNVV thường sản xuất hoặc gia công các sản phẩm làm đầu vào hoặc đầu ra cho quá trình sản xuất của các DN lớn
b Một số hạn chế của DNNVV:
- Do vốn ít nên thiếu nguồn lực để tiến hành những công trình nghiên
Trang 13nghệ, tất yếu dẫn tới trình độ kỹ thuật yếu kém, lạc hậu, chất lượng sản phẩm thấp, khó có khả năng xuất khẩu, mở rộng thị trường
- Tài lực và nhân lực ít, không đủ sức thực hiện những dự án lớn về đầu
tư, chuyển đổi cơ cấu, tiếp thị, đào tạo,… Để theo kịp và tận thu lợi ích của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
- Không có ưu thế của kinh tế quy mô để có được những thành quả và lợi ích đặt biệt mà chỉ có những quy mô đủ lớn mới có được
- Thường bị “lép vế” trong các mối quan hệ với nhà nước, ngân hàng, khách hàng, các trung tâm khoa học,… vì qui mô nhỏ, uy tín không đủ để gây sự chú ý, quan tâm của các đối tác này trong việc tìm kiếm sự hỗ trợ về chính sách, tài chính, thông tin, công nghệ,…
- Thiếu sức phòng tránh và chống rủi ro
- Rất khó trong việc tập hợp thành một lực lượng thống nhất và mạnh để có vị thế chi phối về kinh tế, chính trị, xã hội vì số lượng quá lớn mà rải rác khắp mọi nơi
1.2 VAI TRÒ CỦA CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN
DNNVV:
1.2.1 Kích thích thúc đẩy các tầng lớp dân cư bỏ vốn đầu tư trực tiếp tạo lập
DN mới hoặc mở rộng qui mô hoạt động của DNNVV, góp phần tích cực vào việc phát triển nên kinh tế:
Bằng chính sách ưu đãi thuế, miễn giảm thuế, hoàn thuế, chính sách tín dụng ưu đãi, chính sách đầu tư bảo lãnh tín dụng…, nhà nước đã khuyến khích các tầng lớp dân cư bỏ vốn thành lập DN mới hoặc khuyến khích DN đang hoạt động mở rộng qui mô SXKD
1.2.2 Góp phần thúc đẩy tăng khả năng tự tích lũy và mở rộng khả năng huy
động vốn từ bên ngoài, giúp cho DNNVV tăng cường tài chính để phát triển SXKD:
Hạn chế lớn nhất của các DNNVV là vốn ít, từ đó hạn chế đến việc trang bị máy móc, thiết bị và công nghệ tiên tiến, đồng thời cũng rất khó khăn
Trang 14nước đã giúp DN tăng thêm vốn kinh doanh Khi nhà nước cho vay vốn với lãi suất thấp trên thực tế là đã thực hiện một khoản trợ cấp tài chính cho DNNVV Mặt khác, cho vay vốn với lãi suất thấp được xem như một cách giảm chi phí đầu tư, nâng cao khả năng thu lợi nhuận, khả năng tích lũy cho
DN
1.2.3 Góp phần quan trọng hướng dẫn và điều tiết các hoạt động của
DNNVV vào các ngành nghề và khu vực cần phát triển theo định hướng của nhà nước:
Nhà nước sử dụng chính sách ưu đãi, miễn giảm thuế, chính sách tín dụng ưu đãi chính sách đầu tư để hướng các DNNVV phát triển ở những ngành nghề cần ưu tiên phát triển, những vùng hải đảo, miền núi xa xôi hẻo lánh để khai thác tiềm năng nhỏ bé tại địa phương, góp phần xóa bỏ sự chênh lệch giữa nông thôn và thành thị, giữa đồng bằng và miền núi…
Bên cạnh đó, đầu tư của nhà nước là đầu tư có tính chất châm ngòi Ngoài việc đầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầng, nhà nước tập trung đầu tư vào các ngành mũi nhọn, những DN có tầm quan trọng Kết quả là tạo ra sự phát triển của một số trung tâm kinh tế lớn, kém theo sự tạo lập và phát triển của hàng loạt các DN mà chủ yếu là DNNVV có tính chất như những DN vệ tinh xung quanh
1.2.4 Tăng khả năng hoạt động kinh doanh và khả năng cạnh tranh của các
DNNVV trên thị trường trong nước và quốc tế:
Cùng với chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tạo môi trường SXKD thuận lợi, nhà nước còn sử dụng chính sách tài trợ trực tiếp và gián tiếp cho hoạt động kinh doanh của các DNNVV như trợ giá xuất khẩu, hỗ trợ đào tạo cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật, hỗ trợ về công nghệ, xúc tiến thương mại… nhằm giúp các DNNVV nâng cao khả năng hoạt động SXKD và khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế
Trang 151.3 CÁC CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ DNNVV Ở VIỆT NAM TỪ PHÍA NHÀ NƯỚC:
1.3.1 Chính sách tài chính tín dụng:
Thông qua hình thức tín dụng ngân hàng, nhà nước hỗ trợ tài chính cho các DNNVV bằng cách cho các ngân hàng thương mại quốc doanh vay, đồng thời xây dựng hành lang pháp lý tạo điều kiện cho các ngân hàng nới lỏng điều kiện cho vay vốn ở giới hạn cho phép, để các ngân hàng thương mại chủ động hỗ trợ các DNNVV trong việc lập dự án SXKD đủ tiêu chuẩn vay vốn ngân hàng
Tuy nhiên do quy mô vốn và uy tín của các DNNVV trên thị trường còn hạn chế nên khó tiếp cận rộng rãi đến các nguồn vốn tín dụng ngân hàng Khắc phục điểm này, Chính phủ đã thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV để bảo lãnh cho các DNNVV khi không đủ tài sản thế chấp, cầm cố, vay vốn của các tổ chức tín dụng Theo qui định của pháp luật, để được bảo lãnh tín dụng, các DN này phải có dự án đầu tư, phương án SXKD khả thi và đủ khả năng hoàn trả vốn vay, các DN phải có tổng giá trị tài sản thế chấp, cầm cố tại tổ chức tín dụng tối thiểu gần 30% giá trị khoản vay; đồng thời tình hình tài chính lành mạnh, không có các khoản nợ đọng thuế, nợ quá hạn tại các tổ chức tín dụng hoặc các tổ chức kinh tế khác Quỹ bảo lãnh tín dụng sẽ cấp bảo lãnh tín dụng tối đa bằng 80% phần chênh lệch giữa giá trị khoản vay và giá trị tài sản thế chấp, cầm cố của DNNVV tại tổ chức tín dụng Phí bảo lãnh tín dụng bằng 0,8%/năm tính trên số tiền được bảo lãnh Tuy rằng phí bảo lãnh cộng với lãi suất tiền vay có thể cao hơn so với chi phí tiền vay của các tổ chức tín dụng, nhưng điều quan trọng là trước mắt các DNNVV vay được vốn ngân hàng mà không đòi hỏi phải có tài sản thế chấp nhiều
Chính phủ khuyến khích, thành lập các tổ chức, các quỹ, chương trình hỗ trợ DNNVV như chương trình cho vay của ngân hàng thế giới được quản lý thông qua ngân hàng nhà nước Việt Nam (WB- SB) trong lĩnh vực công nghiệp hóa nông thôn, hay Quỹ phát triển DNNVV do EU tài trợ (SMEDF) cho vay thông qua các ngân hàng thương mại Việt Nam…Nhằm phát triển sản xuất và tạo công ăn việc làm cho xã hội
Trang 16Ngoài ra việc đầu tư của ngân sách vào cải tạo khôi phục và đầu tư mới các cơ sở hạ tầng kỹ thuật trọng yếu của nền kinh tế như đường xá, cầu cống, viễn thông, sân bay, bến cảng,… cũng hỗ trợ đáng kể trong việc giảm chi phí đầu tư, chi phí lưu thông hàng hóa, rút ngắn chu kỳ kinh doanh, tăng vòng quay vốn không chỉ riêng đối với DNNVV mà còn có tất cả các loại DN khác
1.3.2 Chính sách thuế:
Chính phủ dùng thuế như một công cụ hỗ trợ tài chính cho DNNVV thông qua chế độ ưu đãi về thuế suất, miễn giảm thuế cho loại DN này, đặc biệt là cho các DNNVV mới thành lập, các DNNVV có những đầu tư mới trong việc cải tiến máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ, lĩnh vực, các vùng mà chính phủ khuyến khích
1.3.3 Chính sách thương mại:
Các Bộ, ngành, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo, tạo điều kiện để DNNVV tiếp cận các thông tin về thị trường, giá cả hàng hóa, trợ giúp DNNVV trưng bày, giới thiệu, quảng cáo, tiếp thị các sản phẩm có tiềm năng, mở rộng thị trường, tiêu thụ sản phẩm
Chính phủ tạo điều kiện để các DNNVV tham gia cung ứng hàng hóa và dịch vụ theo kế hoạch mua sắm bằng nguồn ngân sách nhà nước, các bộ ngành và địa phương có kế hoạch ưu tiên đặt hàng và các đơn hàng theo hạn ngạch phân bổ cho các DN sản xuất hàng hóa và dịch vụ bảo đảm chất lượng và đáp ứng yêu cầu
Chính phủ khuyến khích phát triển hình thức thầu phụ công nghiệp tăng cường sự liên kết giữa các DNNVV với DN khác hợp tác sản xuất sản phẩm, sản xuất linh kiện, phụ kiện, phụ tùng, nhận thầu xây dựng,… Nhằm thúc đẩy chuyển giao công nghệ, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh của các DNNVV
Khuyến khích DNNVV tăng cường xuất khẩu, tạo điều kiện thuận lợi để các DNNVV liên kết hợp tác với nước ngoài, mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ Thông qua chương trình trợ giúp xúc tiến xuất khẩu, trợ giúp một
Trang 17phần chi phí cho DNNVV khảo sát, học tập, trao đổi hợp tác và tham dự hội chợ, triển lãm giới thiệu sản phẩm, tìm kiếm thị trường nước ngoài Chi phí trợ giúp được bố trí trong Quỹ hỗ trợ xuất khẩu
Các Bộ, ngành tạo điều kiện thuận lợi để các DNNVV tham gia các chương trình xuất khẩu của nhà nước
1.3.4 Chính sách đầu tư:
Chính phủ trợ giúp đầu tư thông qua biện pháp về tài chính, tín dụng, áp dụng trong một thời gian nhất định đối với các DNNVV đầu tư vào một số ngành nghề bao gồm ngành nghề truyền thống và các địa bàn cần khuyến khích
Chính phủ khuyến khích các tổ chức tài chính, các DN và thể nhân góp vốn đầu tư vào các DNNVV
1.3.5 Chính sách đất đai:
Trên cơ sở quy hoạch phát triển kinh tế xã hội và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn tỉnh, thành phố đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tạo điều kiện thuận lợi cho các DNNVV có mặt bằng sản xuất phù hợp, dành quỹ đất và thực hiện các chính sách khuyến khích để xây dựng các khu, cụm công nghiệp cho các DNNVV có mặt bằng xây dựng tập trung cơ sở sản xuất hoặc
di dời từ nội thành, nội thị ra, đảm bảo cảnh quan môi trường
DNNVV được hưởng các chính sách ưu đãi trong việc thuê đất, chuyển nhượng, thế chấp và các quyền khác về sử dụng đất đai theo qui định của pháp luật
1.3.6 Chính sách công nghệ và đào tạo:
Thông qua các chương trình trợ giúp, chính phủ tạo điều kiện cho các DNNVV đổi mới công nghệ, trang thiết bị máy móc, phát triển sản phẩm mới, hiện đại hóa quản lý
Chính phủ, các Bộ, ngành và UBND địa phương cung cấp các thông tin cần thiết qua các ấn phẩm và qua mạng internet cho các DNNVV, thông qua
Trang 18Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Cục phát triển DNNVV) phối hợp với các cơ quan liên quan và các tổ chức xã hội nghề nghiệp trợ giúp DNNVV
Chính phủ trợ giúp kinh phí để tư vấn và đào tạo nguồn nhân lực cho DNNVV thông qua chương trình trợ giúp đào tạo Kinh phí trợ giúp về đào tạo được bố trí từ ngân sách nhà nước
Chính phủ khuyến khích các tổ chức trong và ngoài nước trợ giúp các DNNVV trong việc cung cấp thông tin, tư vấn và đào tạo nguồn nhân lực
Chính phủ khuyến khích việc thành lập các “vườn ươm DNNVV” để hướng dẫn, đào tạo danh nhân trong bước đầu thành lập doanh nghiệp
1.4 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG VIỆC SỬ DỤNG CHÍNH
SÁCH TÀI CHÍNH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN DNNVV:
1.4.1 Chính sách tài chính hỗ trợ phát triển DNNVV ở một số nước:
Hiện nay, ở hầu hết các nước trên thế giới, DNNVV đều đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội Mặt khác, sự phát triển của các DNNVV phục thuộc rất lớn vào sự trợ giúp của Chính phủ Trong thời gian gần đây, Chính phủ nhiều nước đã dành nhiều sự quan tâm, khuyến khích và giúp đỡ DNNVV thông qua các chính sách và chương trình hỗ trợ trên các phương diện khác nhau nhằm tạo điều kiện thuận lợi và thúc đẩy sự phát triển của các DNNVV Mỗi nước có điều kiện và trình độ phát triển kinh tế khác nhau, và do đó, chính sách của Chính phủ mỗi nước trong việc khuyến khích phát triển DNNVV cũng có những điểm khác nhau Tuy nhiên có thể thấy, các nước đều sử dụng chính sách tài chính như là một công cụ quan trọng để khuyến khích sự tăng trưởng và phát triển DNNVV Các nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Cộng hòa liên bang Đức… và các nước trong khu vực như Malaysia, Hàn Quốc đều tập trung vào một vấn đề chủ yếu sau:
a Miễn giảm thuế thúc đẩy đầu tư :
Chính sách thuế là một trong những công cụ chủ yếu được nhiều nước sử dụng để thúc đẩy sự phát triển DNNVV Ở Mỹ, sau cuộc cải cách thuế năm 1986 đã áp dụng thuế suất khác nhau đối với thuế thu nhập công ty:
Trang 19Thu nhập Thuế suất
Theo bảng trên, những công ty có tổng thu nhập từ 335.000 USD trở lên thì mức thuế suất thuế thu nhập công ty là 34% Như vậy, đối với những công ty có thu nhập dưới 335.000USD mà thường là DNNVV chỉ phải chịu thuế suất trung bình thấp hơn 34% Đây chính là cách giảm thuế cho DNNVV của Chính phủ Mỹ
Ở Cộng hòa liên bang Đức, từ tháng 1/1990, các DN nhỏ không phải nộp thuế doanh thu (nếu doanh thu hoạt động SXKD hàng năm không vượt quá 25.000 DM, và nếu thu nhập hàng năm của DN dưới 2 triệu DM thì DN được giảm 50% số thuế phải nộp
Tại Nhật Bản, Chính phủ đã có nhiều giải pháp để hỗ trợ cho DNNVV Chính sách thuế thu nhập công ty quy định những DNNVV có mức thu nhập dưới 8 triệu Yên/năm thì chỉ phải nộp thuế thu nhập với thuế suất là 28%, trong khi đó các công ty lớn phải nộp thuế thu nhập công ty với thuế suất 37,5%
Để hỗ trợ các DNNVV mới thành lập, Chính phủ Hàn Quốc quy định DNNVV được miễn giảm thuế thu nhập từ 50% đến 100% trong 4 năm đầu hoạt động và miễn giảm 20–30% thuế thu nhập trung 2 năm tiếp theo Đối với các DNNVV hoạt động ở vùng nông thôn, Chính phủ có hình thức khuyến khích như miễn toàn bộ thuế thu nhập trong vòng 3 năm đầu và giảm 50% thuế thu nhập trong 2 năm tiếp theo
Trang 20Ở Malaysia, hệ thống ưu đãi thuế có tính mềm dẻo, phù hợp với đường lối phát triển kinh tế của Chính phủ trong từng thời kỳ Từ năm 1971 đến năm
1985, việc miễn thuế được thực hiện trên cơ sở khuyến khích DN sử dụng nhiều lao động Từ năm 1986 đến nay, việc miễn giảm thuế được thực hiện theo đạo luật về khuyến khích đầu tư năm 1986 Nội dung quan trọng nhất trong đạo luật khuyến khích đầu tư là quy chế đi tiên phong Chính phủ định kỳ công bố danh sách các sản phẩm, ngành nghề cần khuyến khích đầu tư Các DN được thành lập và đầu tư vào lĩnh vực này được miễn thuế 5 năm đầu
b Cho phép khấu hao nhanh tài sản cố định:
Để giúp cho các DNNVV tăng khả năng tài chính và tạo điều kiện cho các DN này nhanh chóng đổi mới tài sản cố định, nhiều nước thực hiện chính sách hoãn thuế cho DNNVV bằng cách cho phép DN thực hiện khấu hao nhanh tài sản cố định
Theo luật cải cách thuế năm 1986 của Mỹ, các DNNVV được phép khấu hao nhanh khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp Tương tự như ở Mỹ, các quốc gia thành viên EU và Nhật Bản cũng cho phép các DNNVV được khấu hao nhanh khi tính thuế
Đối với Hàn Quốc, Chính phủ áp dụng những chương trình khấu hao ưu tiên đối với các loại đầu tư và các DN khác nhau như DN có thu nhập ngoại tệ, DN khai khoáng, DN có sử dụng công nghệ mới, đầu tư cho nghiên cứu và triển khai…
c Thực hiện tín dụng ưu đãi:
Ngoài các chính sách ưu đãi về thuế, hầu hết các nước trên thế giới đều rất chú trọng đến các biện pháp cung cấp tín dụng cho các DNNVV Nhiều nước đã thực hiện tín dụng ưu đãi đối với các DNNVV đồng thời với việc thành lập các tổ chức tín dụng của Nhà nước tạo ra một kênh cung ứng riêng về vốn cho các DNNVV
Mỹ là nước có nền kinh tế mạnh vào bậc nhất trên thế giới, nhưng các DNNVV với những đặc tính vốn có của mình vẫn gặp rất nhiều khó khăn
Trang 21trong việc vay vốn của các ngân hàng thương mại Để giúp đỡ các DNNVV, Chính phủ Mỹ đã thành lập “Ngân hàng cho DN nhỏ” nhằm cung cấp tín dụng cho các DN nhỏ với lãi suất ưu đãi và thực hiện các dịch vụ về tín dụng cho các DN này
Với tiềm lực tài chính mạnh, Chính phủ Cộng hòa liên bang Đức đã thực hiện có hiệu quả chính sách tín dụng ưu đãi và trợ cấp cho các DNNVV Chính sách của Chính phủ hỗ trợ cho các DNNVV trước hết nhằm đảm bảo cho các DN này có đủ tiềm lực về tài chính Chính phủ Đức có nhiều chương trình tín dụng ưu đãi cho các DNNVV Ngân hàng tái thiết nước Đức có chương trình tín dụng ưu đãi cho các DNNVV thuộc lĩnh vực công nghiệp và thương mại Các DNNVV thuộc các ngành này có doanh số dưới 1 tỷ DM/năm được vay tối đa 10 triệu DM trong thời hạn 10 năm với lãi suất 5,25%/năm với 2 năm đầu không phải trả lãi Ngân hàng cân đối Đức có chương trình tín dụng ưu đãi dành cho các DNNVV mới thành lập…
Ở nước EU khác, các DNNVV có thể được vay ưu đãi trong khuôn khổ
“Chương trình tái thiết Châu Âu” Bên cạnh đó, Chính phủ các nước EU cũng thành lập các tổ chức tín dụng của Nhà nước thực hiện cung cấp tín dụng cho các DNNVV như ở Pháp có quỹ tín dụng về trang thiết bị cho DNNVV, Quỹ tín dụng quốc gia cũng thực hiện cung cấp một phần tín dụng ưu đãi cho các DNNVV…
Tại Nhật Bản có 3 tổ chức tín dụng của Chính phủ chuyên cung cấp tín dụng cho các DNNVV: Tổ chức tài chính nhân dân; Tổ chức tài chính Nhật Bản cho các DNNVV; Ngân hàng công thương Tổ chức tài chính nhân dân với chức năng chủ yếu là cho các DNNVV vay, đặc biệt là cho vay đối với các
DN nhỏ có tính chất gia đình Tổ chức tài chính Nhật Bản cho các DNNVV chủ yếu cung cấp bổ sung vốn dài hạn cần thiết cho các DNNVV, đồng thời cung cấp các dịch vụ tư vấn về quản lý, dịch vụ trung gian về đối tác… Ngân hàng công thương chủ yếu cung cấp vốn bổ sung tín dụng cho các DNNVV nhằm thực hiện chính sách của địa phương trong việc phát triển DNNVV
Trang 22Đối với Hàn Quốc, Chính phủ cũng thành lập các tổ chức tài chính chuyên đảm nhận việc cung cấp tín dụng ưu đãi cho các DNNVV và các DN mới thành lập Ngân hàng công nghiệp vừa và nhỏ (SMIB) do Chính phủ thành lập nhằm chuyên môn hóa trong công tác tài trợ cho các DNNVV Quỹ phát triển công nghiệp vừa và nhỏ được hình thành từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, chịu sự quản lý của Ngân hàng công nghiệp vừa và nhỏ và Ngân hàng quốc gia cho công dân Quỹ phát triển công nghiệp vừa và nhỏ cung cấp tín dụng với lãi suất ưu đãi cho các DN được đánh giá là có tiềm năng tăng trưởng cao và thuộc các ngành công nghiệp ưu tiên theo quy định của Chính phủ
Ở Malaysia, một số tổ chức tài chính và các chính sách của Chính phủ đã được thiết lập nhằm cung cấp tín dụng nhiều hơn cho các DNNVV Các tổ chức tài chính đó là Ngân hàng công nghiệp, Ngân hàng Pembangunan Malaysia Berhad (BPMB), tổ chức tài chính phát triển công nghiệp Malaysia Để phát triển hơn nữa các DNNVV, Quỹ này cung cấp vốn trên cơ sở xem xét tính thích hợp của những cơ sở công nghiệp cụ thể nhằm giúp nghiên cứu khả thi, phát triển và thiết kế sản phẩm cũng như các hoạt động nghiên cứu và phát triển
d Bảo đảm và bảo lãnh tín dụng:
Các DNNVV với khả năng tài chính hạn chế thường gặp rất nhiều khó khăn trong việc vay vốn ngân hàng Chính phủ nhiều nước đã áp dụng các biện pháp bảo đảm tín dụng cho các DNNVV Ở Anh, chương trình bảo đảm tín dụng cho các DN nhỏ được triển khai từ năm 1981 Từ năm 1985, Hà Lan thực hiện kế hoạch bảo đảm 100% tín dụng thương mại cho các DNNVV
Tại Nhật Bản, các biện pháp nhằm bổ sung khả năng vay vốn các ngân hàng cho các DNNVV được khởi xướng từ năm 1931 Và đến năm 1958 đã hình thành hệ thống bảo hiểm và bảo đảm tín dụng cho DNNVV Hệ thống này giúp cho các DNNVV có khả năng phát triển nhưng không có tài sản thế chấp, có thể vay vốn các ngân hàng thương mại Trong hệ thống đó, Hội bảo đảm tín dụng DNNVV là tổ chức tài chính công cộng đứng ra bảo lãnh cho
Trang 23các DNNVV vay vốn các ngân hàng thương mại Hỗ trợ cho hoạt động của Hội bảo đảm tín dụng là hội đồng bảo hiểm tín dụng DNNVV do Chính phủ lập ra Hội đồng bảo hiểm tín dụng hoạt động như người thực hiện tái bảo hiểm khoản tín dụng mà Hội đồng bảo hiểm tín dụng đứng ra bảo lãnh cho DNNVV Nhờ hệ thống bảo đảm và bảo hiểm tín dụng như vậy, các DNNVV của Nhật Bản mở rộng được khả năng vay vốn từ các ngân hàng
Hệ thống bảo đảm tín dụng cho DNNVV đã được hầu hết các nước ở Châu Á như Hàn Quốc, Đài Loan, Ấn Độ, Nêpan, Srilanca, Inđonêxia, Malaysia, Thái Lan, Philipin thực hiện Năm 1976, Hàn Quốc đã thành lập quỹ bảo đảm tín dụng do Chính phủ và các thể chế tài chính đồng tài trợ Quỹ này bảo đảm cho DNNVV vay vốn ngân hàng thương mại Ở Malaysia, công ty bảo đảm tín dụng được thành lập năm 1972 Công ty này thực hiện những chương trình quan trọng nhằm cải thiện khả năng các DNNVV được vay vốn của hệ thống ngân hàng
Ngoài biện pháp bảo đảm tín dụng, để tăng khối lượng tín dụng cung cấp cho các DNNVV, Chính phủ một số nước còn áp dụng biện pháp quy định bắt buộc các tổ chức tín dụng phải dành một tỷ lệ nhất định về tín dụng để cung cấp cho các DNNVV Ở Hàn Quốc, Chính phủ quy định tỷ lệ bắt buộc đối với ngân hàng thương mại quốc gia là phải dành 45% tín dụng cho các DNNVV vay, còn đối với các ngân hàng thương mại địa phương thì tỉ lệ đó tối thiểu phải là 80% Ngay các chi nhánh ngân hàng nước ngoài cũng bị yêu cầu phải dành 35% tín dụng để cho các DNNVV vay Đối với một số tổ chức trung gian tài chính khác như các công ty tài chính và đầu tư, công ty bảo hiểm sinh mạng cũng là các đối tượng bị bắt buộc phải cung cấp tín dụng cho các DNNVV Ngoài ra, ngân hàng trung ương Hàn Quốc có thể thực hiện việc tài trợ hoặc tái chiết khấu cho các khoản vay đó Ở Inđônêxia, từ năm 1990, Chính phủ cũng áp dụng các biện pháp quy định bắt buộc đối với các ngân hàng thương mại phái dành ít nhất là 20% tổng số tín dụng để cho các DNNVV vay
Trang 24e Hỗ trợ tài chính nhằm thúc đẩy đổi mới thiết bị và công nghệ:
Chính phủ nhiều nước đã áp dụng các biện pháp để thúc đẩy các DNNVV nhanh chóng đổi mới thiết bị và công nghệ Ngoài các biện pháp giúp đỡ như tư vấn và cung cấp thông tin về kỹ thuật và công nghệ, Chính phủ còn sử dụng các biện pháp về thuế, tín dụng và trợ cấp
Chính phủ Cộng hòa liên ban Đức sử dụng biện pháp tài trợ cho các chương trình nghiên cứu khoa học, ứng dụng và đổi mới các DNNVV Trong 3 năm từ 1989 đến 1990, Chính phủ Cộng hòa liên ban Đức đã chia ra 2.159,3 triệu DM tài trợ cho các chương trình này Khác với biện pháp tài trợ của Đức, Chính phủ Nhật Bản đã áp dụng các quy chế miễn, giảm thuế đối với những khoản chi phí dành cho nghiên cứu, đổi mới kỹ thuật và thực hiện cho vay ưu đãi đối với các dự án nghiên cứu chế tạo công nghệ mới, chế tạo sản phẩm mới…
Ở Hàn Quốc, Chính Phủ cho phép giảm trừ khỏi thu nhập chịu thuế các khoản chi phí đầu tư vào phát triển công nghệ và con người Các khoản thu nhập từ chuyển giao công nghệ cũng không thuộc diện tính vào thu nhập chịu thuế Ngoài ra, Chính phủ còn thành lập các công ty phát triển công nghệ vừa và nhỏ nhằm điều phối việc cung cấp, trợ giúp về tài chính và kỹ thuật cho DNNVV như lập và thực hiện chương trình hiện đại hóa, chương trình cho thuê trang thiết bị, hỗ trợ thành lập DN…
f Hỗ trợ tài chính đẩy mạnh xuất khẩu:
Trong xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế ngày càng mạnh mẽ, Chính phủ các nước đã áp dụng nhiều biện pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu và ngày càng chú ý đến việc lôi cuốn, thu hút các DNNVV tham gia việc sản xuất hàng xuất khẩu
Để khuyến khích các DNNVV tham gia xuất khẩu, Chính phủ Cộng hòa liên bang Đức đã đề ra hàng loạt biện pháp như miễn, giảm thuế, trợ cấp xuất khẩu, bảo hiểm thiệt hại xuất khẩu… tạo điều kiện để DNNVV nhận gia công cho các công ty nước ngoài, gia công hàng hóa xuất khẩu
Trang 25Tại Hàn Quốc, Chính phủ đã áp dụng mạnh mẽ các biện pháp tài chính để thúc đẩy xuất khẩu, trong đó chú trọng đến việc ưu đãi về tín dụng và ưu đãi về thuế Chính phủ thực hiện việc miễn thuế nhập khẩu đối với những nguyên liệu dùng để sản xuất hàng xuất khẩu và giảm thuế xuất khẩu Về chính sách tín dụng ưu đãi đối với xuất khẩu, các đơn vị sản xuất hàng xuất khẩu được vay ưu đãi với lãi suất chỉ bằng 50% so với lãi suất cho vay thông thường
Cùng với việc đẩy mạnh xuất khẩu, các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển đều áp dụng các biện pháp để bảo hộ các ngành sản xuất non trẻ Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia đã bảo hộ nhiều ngành công nghiệp của họ bằng hàng rào thuế quan và các biện pháp phi thuế quan cho tới khi các ngành này có thể cạnh tranh được trên thị trường quốc tế
Ngoài ra, để thúc đẩy các DNNVV phát triển, Chính phủ các nước còn chú ý đến việc trợ giúp đào tạo cán bộ quản lý, cung cấp thông tin về thị trường và công nghệ… Mặt khác, để tạo ra tiền đề thuận lợi cho việc đầu tư, Chính phủ các nước như Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia đều chú trọng đến việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cung cấp mặt bằng SXKD cho các DNNVV
1.4.2 Một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam:
Qua việc nghiên cứu chính sách tài chính hỗ trợ phát triển DNNVV ở một số nước trên thế giới có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm trong việc phát triển DNNVV ở Việt Nam
a Hỗ trợ của Nhà nước, trong đó hỗ trợ về tài chính là hình thức hỗ trợ thiết yếu để phát triển DNNVV:
Trên thế giới, Nhà nước đóng vai trò to lớn trong việc hỗ trợ, thúc đẩy sự phát triển của DNNVV nhằm phát huy vai trò tích cực của các DNNVV trong đời sống kinh tế - xã hội của mỗi nước Sự hỗ trợ của Nhà nước được thực hiện trên rất nhiều mặt, nhưng sự hỗ trợ về tài chính là hình thức hỗ trợ hết sức cần thiết và có tác động trực tiếp, mạnh mẽ đến sự hình thành và phát triển của DNNVV trong nền kinh tế
Trang 26b Phải đa dạng hóa các công cụ tài chính trong quá trình hỗ trợ phát triển các DNNVV:
Trong quá trình sử dụng các giải pháp tài chính để khuyến khích phát triển DNNVV, cần phải đa dạng hóa các công cụ tài chính nhằm giúp cho các DNNVV vượt qua được những khó khăn, có khả năng tự phát triển, tăng cường khả năng cạnh tranh
Ngoài 2 công cụ chủ yếu thường được sử dụng là ưu đãi về thuế và tín dụng, Chính phủ các nước đã sử dụng nhiều công cụ tài chính khác để hỗ trợ và thúc đẩy các DNNVV phát triển như đầu tư và tài trợ Và điều cần quan tâm là phải xem xét mức độ tác động và hiệu quả của các giải pháp tài chính Nếu mức độ hỗ trợ của các công cụ tài chính quá nhỏ sẽ ít có tác dụng trong việc khuyến khích phát triển các DNNVV Ngược lại, nếu mức độ hỗ trợ của Nhà nước quá nhiều và kéo dài sẽ làm suy yếu khả năng cạnh tranh của các
DN
c Chú trọng tạo điều kiện và thúc đẩy DNNVV tự tích lũy vốn, đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận và sử dụng các nguồn vốn từ bên ngoài: Để giúp các DNNVV tăng trưởng và phát triển ổn định, bền vững, hầu hết các nước trên thế giới đều sử dụng các công cụ như ưu đãi miễn giảm thuế, cung cấp tín dụng ưu đãi… nhằm tạo điều kiện cho các DN tăng khả năng tự tích lũy vốn, tăng vốn chủ sở hữu, chủ động trong hoạt động SXKD
Ngoài các biện pháp giúp cho các DNNVV tăng được khả năng tự tích lũy vốn, Chính phủ các nước luôn tạo điều kiện thuận lợi cho các DNNVV tiếp cận và sử dụng các nguồn vốn từ bên ngoài Một trong những biện pháp quan trọng mà hầu hết các nước sử dụng là Nhà nước thực hiện bảo đảm tín dụng cho các DNNVV có dự án khả thi nhưng không đủ tài sản thế chấp để vay vốn
d Thực hiện hỗ trợ tài chính theo những chương trình và mục tiêu cụ thể qua các tổ chức hỗ trợ:
Để thực hiện có hiệu quả việc khuyến khích phát triển DNNVV, sự hỗ trợ tài chính của Nhà nước cho các DNNVV cần được thực hiện theo những
Trang 27chương trình và mục tiêu cụ thể như hỗ trợ cho việc thành lập DN mới, hỗ trợ phát triển công nghệ, hỗ trợ thúc đẩy xuất khẩu… Việc hỗ trợ của Nhà nước phải được thực hiện thông qua hệ thống tổ chức hỗ trợ do Nhà nước trực tiếp thành lập hoặc các tổ chức khác được Nhà nước ủy quyền nhằm tránh tình trạng phân tán, tùy tiện và góp phần nâng hiệu quả của các giải pháp hỗ trợ
e Thúc đẩy phát triển các loại thị trường:
Trong quá trình chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường, các DN luôn phải đối mặc với những khó khăn, thách thức do những yếu tố thị trường chưa được tạo lập và phát triển đồng bộ, hầu hết các loại thị trường hoặc chưa thành lập hoặc đang hoạt động dưới dạng sơ khai Đặc biệt là đối với các DNNVV, do khả năng về tài chính nhỏ bé luôn được coi là hạn chế lớn nhất thì việc thúc đẩy phát triển các loại thị trường sẽ tạo thêm nhiều cơ hội cho các DNNVV tiếp cận, sử dụng các loại thị trường phục vụ cho việc phát triển SXKD của DN
Vì vậy, thúc đẩy phát triển các loại thị trường, trong đó có thị trường vốn trung và dài hạn, thị trường dịch vụ tài chính sẽ tạo điều kiện hỗ trợ, giúp đỡ về tài chính cho các DNNVV
Như vậy có thể thấy rằng, DNNVV có vai trò rất quan trọng trong điều kiện kinh tế thị trường và do đó, sự tồn tại và phát triển DNNVV trong nền kinh tế thị trường là một tất yếu khách quan Tuy nhiên, trong quá trình tồn tại và phát triển, DNNVV cũng gặp phải một số khó khăn về vốn, về công nghệ và trình độ quản lý… Vì vậy, để giúp cho khu vực DNNVV tồn tại và phát triển, thực hiện được vai trò to lớn của mình đối với nền kinh tế, Nhà nước phải có sự trợ giúp, hỗ trợ để phát triển doanh nghiệp Và trong các công cụ hỗ trợ phát triển DNNVV thị các công cụ tài chính có vai trò cực kỳ quan trọng, đặc biệt trong điều kiện mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế như Việt Nam
Trang 28CHƯƠNG II CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH TRONG VIỆC HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
Ở TỈNH VĨNH LONG HIỆN NAY
2.1 VÀI NÉT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA TỈNH
VĨNH LONG:
Là Tỉnh nằm ở trung tâm Đồng bằng Sông Cửu Long, Vĩnh Long có diện tích tự nhiên 1.472,04 km2, chiếm 0,44% diện tích cả nước, nhỏ nhất Đồng bằng Sông Cửu Long và dân số trên 1 triệu người chiếm 1,3% dân số cả nước Phía đông nam giáp Tỉnh Trà Vinh, phía tây nam giáp Tp.Cần Thơ, phía tây bắc giáp Tỉnh Đồng Tháp và phía đông bắc Tỉnh Tiền Giang và Bến Tre
Năm giữa sông Tiền Giang và Hậu Giang là hai cửa ngõ đổ ra biển rất thuận lợi của Vĩnh Long và vùng Đồng bằng Sông Cửu Long Vĩnh Long có quốc lộ 1 chạy qua, có Cầu Mỹ Thuận vừa xây dựng xong, cầu Cần Thơ chuẩn bị xây dựng, có quốc lộ 53, 54, 57 nối với Tỉnh Trà Vinh và Đồng Tháp cùng với giao thông đường thủy khá thuận lợi nối liền Vĩnh Long với các Tỉnh trong vùng và cả nước, tạo cho Vĩnh Long có một vị thế rất quan trọng trong chiến lược phát triển và hợp tác kinh tế với cả vùng Nằm trong vùnh ảnh hưởng của vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía nam và giữa 2 thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ, tạo cho Vĩnh Long có lợi thế trong giao lưu kinh tế, mở rộng thi trường tiêu thụ sản phẩm và thu hút vốn đầu tư, song đó cũng là những thách thức lớn trong điều kiện cạnh tranh thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thu hút nhân tài và chiếm lĩnh thị trường trong vùng
Tài nguyên thiên nhiên phong phú, đất đai màu mỡ, nước ngọt quanh năm phù hợp với các loại cây trồng nhiệt đới Tài nguyên khoáng sản không đáng kể, toàn bộ khoáng sản ở Tỉnh hầu như tập trung vào nguồn đất sét cho sản xuất vật liệu xây dựng, gốm mỹ nghệ và cát sông cho san lấp mặt bằng xây dựng
Trang 29Kinh tế của Tỉnh chủ yếu là sản xuất nông nghiệp và có đầy đủ các thành phần kinh tế hoạt động trong các ngành sản xuất Tham gia của khu vực kinh tế nhà nước trong GDP chiếm tỷ trọng thấp, khu vực kinh tế tư nhân và cá thể phát triển khá nhanh và chiếm tỷ trọng cao trong GDP
Bảng 2.1: GDP của Tỉnh Vĩnh Long theo giá hiện hành phân theo thành phần kinh tế năm 2003, 2004
GDP (Triệu đồng)
Tỷ trọng (%)
1 Khu vực kinh tế trong nước: 5.556.996 99,67 6.745.637 99,91
(Nguồn: Niên giám thống kê Tỉnh Vĩnh Long năm 2004)
Tốc độ tăng trưởng GDP của Tỉnh Vĩnh Long qua 5 năm khá cao, đặc biệt là năm 2004 (9,63%):
Trang 30Bảng 2.2: Tỷ lệ tăng trưởng GDP của Tỉnh Vĩnh Long
giai đoạn 2000-2004
quân Tỷ lệ tăng trưởng GDP của Tỉnh (%) 6,68 6,33 7,95 8,24 9,63 7,77
(Nguồn: Niên giám thống kê Tỉnh Vĩnh Long năm 2004)
Biểu đồ 1: Quá trình tăng trưởng GDP của Tỉnh Vĩnh Long
giai đoạn 2000-2004
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Tỉnh theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và thương mại dịch vụ; giảm tỷ trọng nông, ngư nghiệp:
Trang 31Bảng 2.3 Cơ cấu GDP theo giá hiện hành phân theo khu vực kinh tế giai đoạn 2000-2004
Cơ cấu GDP
1 Nông, ngư nghiệp 59,20 % 57,53 % 57,19 % 54,84 % 54,76 %
2 Công nghiệp, xây dựng 11,93 % 12,55 % 12,68 % 14,00 % 14,62 %
3 Thương mại, dịch vụ 28,87 % 29,92 % 30,13 % 31,16 % 30,62 %
(Nguồn: Niên giám thống kê Tỉnh Vĩnh Long năm 2004)
Biểu đồ 2: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Tỉnh Vĩnh Long sau 5 năm
- Nông nghiệp là ngành sản xuất truyền thống, diện tích nông nghiệp 225.916 ha, trong đó diện tích lúa 2-3 vụ/năm là 208.041 ha Sản lượng lương thực quy ra thóc năm 2000: 942.163 tấn, năm 2001: 912.551 tấn, năm 2002: 965.350 tấn, năm 2003: 938.193 tấn, năm 2004: 965.155 tấn Các loại sản phẩm chủ lực của ngành nông nghiệp, thủy sản có: gạo, trái cây (bưởi năm roi, cam sành, quýt…), nấm rơm, tôm, cá basa, cá tra, cá diêu hồng…
- Ngành công nghiệp, xây dựng có giá trị tổng sản lượng tăng đều qua các năm nhưng về tỷ trọng trong GDP còn khá khiêm tốn (14,62% năm
Nông, ngư nghiệp 59,2%
Nông, ngư nghiệp 54,76%
Trang 322004), chưa thể hiện rõ sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Tỉnh theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - thương mại - dịch vụ và giảm tỷ trọng nông - lâm - thủy sản Các ngành hàng chủ lực gồm có: gốm mỹ nghệ, may mặc, giày da, viên nang (Capsule), ống bơm tiêm các loại…
- Ngành thương mại, dịch vụ chủ yếu tiêu dùng nội Tỉnh Thương mại quốc doanh nắm giữ phân phối một số mặt hàng chiến lược như xăng dầu, sắt thép, xi măng, các loại lúa gạo… còn lại một số mặt hàng tiêu dùng thiết yếu khác do các DN thuộc các thành phần kinh tế còn lại thực hiện Du lịch sinh thái là dịch vụ có nhiều tiềm năng của Tỉnh Vĩnh Long
- Kim ngạch xuất khẩu năm 2000: 67,521 triệu USD, năm 2001: 56,264 triệu USD, năm 2002: 42,238 triệu USD, năm 2003: 81,726 triệu USD, năm 2004: 94,234 triệu USD Các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu gồm: gạo, thủy sản đông lạnh, hột vịt muối, hàng thủ công mỹ nghệ, nấm rơm,…
- Hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển đã được xây dựng mới nhiều kể từ khi tái lập Tỉnh Vĩnh Long:
+ Về giao thông đường bộ: có 4 quốc lộ chạy xuyên ngang dọc địa bàn Tỉnh với chiều dài 142,3 km và 3 phà do TW quản lý, tạo điều kiện lưu thông thông suốt 5 Tỉnh lộ tổng chiều dài 109 km nối liền với quốc lộ và đã xây dựng hoàn chỉnh theo tiêu chuẩn Tỉnh lộ, 59 đường liên xã tổng chiều dài 417
km
+ Chương trình điện khí hóa nông thôn có nhu cầu vốn rất lớn nhưng gặp khó khăn do ngân sách địa phương và ngân sách TW cấp còn hạn hẹp; nhiều hệ thống điện đã xây dựng trước đây chưa đảm bảo tiêu chuẩn, chưa phù hợp với quy hoạch nên hầu hết phải cải tạo lại để phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất
+ Hệ thống thủy lợi tự nhiên theo dòng chảy là chủ yếu; bằng nguồn vốn TW, địa phương và nhân dân đóng góp từng bước thực hiện đắp bờ vùng, xây dựng cống đập khép kín, đã thực sự phục vụ sản xuất từ 2 đến 3 vụ lúa/năm
Trang 33- Dân số bình quân năm 2004 là 1.044.898 người, đứng hàng thứ 9/13 Tỉnh
thành ĐBSCL, bằng 1,3% dân số cả nước, mật độ dân số 700 người/km2 Thu
nhập bình quân đầu người 282 USD/năm Những năm qua, trình độ dân trí được
nâng lên, người dân được chăm sóc sức khỏe tốt hơn, từng bước giảm được chỉ số
nghèo tổng hợp (thu nhập - y tế - giáo dục)
Tóm lại, sự tác động của kinh tế thị trường đã từng bước nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần của người dân Tỉnh Vĩnh Long, nhưng kèm theo đó
là sự cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế diễn ra khốc liệt hơn, sự phân
hóa giàu nghèo diễn ra nhanh hơn, chênh lệch giữa thành thị và nông thôn
ngày càng rộng hơn
2.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA DN NHỎ VÀ VỪA Ở TỈNH VĨNH LONG:
2.2.1 Tình hình phát triển DNNVV ở Tỉnh Vĩnh Long:
a Về số lượng:
Sự hình thành và phát triển các DNNVV ở Tỉnh Vĩnh Long cũng như cả
nước ta gồm hai loại: DNNVV thuộc khu vực kinh tế nhà nước và DNNVV
thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh Nếu xét cả 2 tiêu chí là vốn và lao
động theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP của chính phủ ngày 23/11/2001 về
“Trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa”, thì tính đến thời điểm
31/12/2004, tổng số DNNVV của Tỉnh là 1.308 DN, chiếm tỷ lệ 99,77% tổng
số DN toàn Tỉnh (1.311 DN), trong đó: DNNN có 7 DN và DN ngoài quốc
doanh có 1.301 DN (Xem bảng 2.4)
Bảng 2.4 Bảng thống kê số lượng DNNVV Tỉnh Vĩnh Long đến 31/12/2004
Cộng 1.308
(Nguồn: Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với DN
Trang 34Hiện nay, Tỉnh đang thực hiện cải cách mạnh mẽ khu vực kinh tế nhà nước dưới nhiều hình thức như: cổ phần hóa, chuyển DN về trung ương quản lý, hợp nhất,… do đó số lượng DNNN ngày càng giảm Đến cuối năm 2004 chỉ còn 7 DNNN so với hơn 19 DN vào năm 2000 Bảy DNNN còn lại đều là DNNVV
Trong khi đó, với sự khuyến khích của Đảng và nhà nước, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng phát triển mạnh Năm 1990, cả Tỉnh không có một DN tư nhân nào, thì đến cuối năm 2004 đã có 1.304 DNNQD, trong đó DNNVV là 1.301 chiếm 99,77% tổng số các DNNQD Đây khu vực cung cấp số lượng DNNVV chủ yếu cho kinh tế của Tỉnh
Theo số liệu của Cục thống kê Tỉnh, tại thời điểm cuối năm 1999, tổng số
DN trên toàn Tỉnh là 604 DN, trong đó có 601 DNNVV chiếm tỷ lệ 99,5%, trong đó: số lượng DNNVV nhà nước có 19 DN Từ khi Luật doanh nghiệp chính thức
đi vào hoạt động ngày 1/1/2000 đến cuối năm 2004, có 707 DN mới được thành lập, có số vốn trung bình trên dưới 1 tỷ đồng nên hầu hết các DN này cũng có qui mô nhỏ và vừa, nâng tổng số DNNVV của toàn Tỉnh lên 1.308 DN Nếu xét theo chỉ tiêu lao động dưới 300 người thì DNNVV đạt khoảng 1.298 DN, chiếm tỷ lệ 99,01% tổng số DN
Như vậy, xét về mặt số lượng thì DN ở Tỉnh Vĩnh Long hầu hết có qui mô nhỏ và vừa, trong đó phần lớn là DNNVV ngoài quốc doanh
Bảng 2.5: Thống kê số lượng DNNVV giai đoạn 1999-2004
Tỷ lệ tăng
trưởng về số
lượng DNNVV
11,2% 13,0% 17,5% 17,9% 14,0% 21,9%
(Nguồn: Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với DN trên địa
bàn Tỉnh Vĩnh Long – UBND Tỉnh Vĩnh Long – Tháng 1/2005)
Trang 35Biểu đồ 3: Quá trình phát triển DNNVV ở Tỉnh Vĩnh Long
Biểu đồ 4: Tỷ lệ tăng trưởng DNNVV Tỉnh Vĩnh Long
Trang 36Qua biểu trên ta thấy tốc độ hình thành và phát triển DNNVV ở Tỉnh Vĩnh Long trong giai đoạn 1999-2004 là tương đối nhanh, tăng đều qua các năm (từ 11,2% đến 21,9%), đặc biệt từ năm 2003 đến 2004 đạt tỷ lệ tăng trưởng 21,9%, chủ yếu từ sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân và các DNNN được cổ phần hóa
Mặt dù có tốc độ tăng trưởng về số lượng DNNVV khá cao trong thời gian
5 năm, nhưng so với tiềm lực của Tỉnh và so với các Tỉnh lân cận thì số lượng DNNVV hiện có của Tỉnh Vĩnh Long là khá ít
Số liệu thống kê trên chưa kể 33.754 hộ kinh doanh cá thể đăng ký trên địa bàn Tỉnh tính đến ngày 31/12/2004 theo Nghị Định 02/2000/NĐ-CP của chính phủ về đăng ký kinh doanh ngày 03/02/2000; 54 hợp tác xã, chủ yếu đơn
vị kinh tế rất nhỏ, có số vốn dưới 1 tỷ đồng, số lao động dưới 50 người trong công nghiệp và 30 người trong thương mại dịch vụ; và 363 chi nhánh, 21 văn phòng đại diện
b Đóng góp cho ngân sách của các DNNVV Tỉnh Vĩnh Long:
Các DNNVV Tỉnh Vĩnh Long đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước của địa phương, năm 2004, tổng số thuế các DNNVV đã nộp vào ngân sách nhà nước là 315.909.964.000 đồng, chiếm tỷ lệ 35,82% tổng thu ngân sách của Tỉnh Điều đáng lưu ý là với số lượng DNNVV khá lớn nhưng ngân sách của tỉnh lại dựa trên nền tảng số thu từ 3 đơn vị kinh tế: Xổ số kiến thiết Vĩnh Long, Nhà máy thuốc lá Vĩnh Long và dịch vụ quảng cáo của Đài phát thanh truyền hình Vĩnh Long, như vậy hiện trạng thu ngân sách Tỉnh là không ổn định và bền vững Do đó, để phát triển mạnh mẽ kinh tế, tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu ngân sách nhà nước… thì phải hỗ trợ các DNNVV phát triển một cách quyết liệt hơn
Trang 37Bảng 2.6 Tình hình nộp thuế của DNNVV Tỉnh Vĩnh Long năm 2004
Đơn vị: đồng
(Nguồn: Báo cáo số thu thuế năm 2004, Cục Thuế Vĩnh Long)
c Về lao động:
DNNVV là nhân tố quan trọng thu hút một lực lượng lao động khá đông trong và ngoài Tỉnh Theo số liệu Cục thống kê Tỉnh Vĩnh Long: Năm 2001, DNNVV đã sử dụng 76.098 lao động bằng 13,52% tổng số lao động trong các ngành kinh tế của Tỉnh; đến ngày 1/7/2004, DNNVV thu hút khoảng 94.587 lao động, chiếm 17,01% tổng số lao động trong các ngành kinh tế của Tỉnh Như vậy, chỉ trong vòng 4 năm phát triển, DNNVV đã tạo thêm việc làm cho 18.489 lao động trong và ngoài Tỉnh, tỷ lệ tăng 24,30%
Trang 38Bảng 2.7 Tỷ trọng lao động của DNNVV
so với toàn ngành năm 2004
Ngành kinh tế
Số lượng lao động toàn ngành
Số lượng lao động tại các DNNVV
Tỷ trọng lao động của DNNVV so với toàn ngành
(Nguồn: Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước
đối với DN trên địa bàn Tỉnh Vĩnh Long–UBND Tỉnh Vĩnh Long–Tháng 1/2005,
Niên giám thống kê Tỉnh Vĩnh Long năm 2004)
Biểu đồ 5: Tỷ trọng lao động trong DNNVV so với toàn ngành
của Tỉnh Vĩnh Long năm 2004
Tỷ trọng DNNVV
Dịch vụThương mạiCông nghiệp, xây dựng
Nông nghiệp, thủy sản
68,18%
42,16%
1,20%
73,36%
Trang 39Biểu đồ trên cho thấy: Trong ngành thương nghiệp - dịch vụ, lao động trong các DNNVV chiếm đa số số lượng lao động của toàn ngành (Thương mại 73,36%; dịch vụ 68,18%); công nghiệp - xây dựng, lao động trong DNNVV cũng chiếm 42,16%; tỷ trọng lao động trong DNVVV ngành nông nghiệp so với toàn ngành thấp 1,20% nguyên nhân do phần lớn lao động nông nghiệp tập trung ở các hộ kinh tế cá thể không là đối tượng xem xét của đề tài này Sự lớn mạnh của các DNNVV đặc biệt là DNNVV ngoài quốc doanh đang thể hiện là nơi giải quyết việc làm cho người lao động một cách hiệu quả nhất, hạn chế tệ nạn xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho mọi tầng lớp dân cư trong Tỉnh
Trình độ tay nghề của người lao động: Trình độ tay nghề của người lao động trong các DNNVV là một điều đáng báo động Điều tra năm 2003 ở các DNNVV ngoài nhà nước cho biết trong số người đang làm việc có trình độ chuyên môn kỹ cao đẳng, đại học chiếm 4,83%, trung học chuyên nghiệp 4,99%, công nhân kỹ thuật nhân viên nghiệp vụ chiếm 7,42% và lao động phổ thông chiếm 82,76% Đối với số lao động có tay nghề, hầu hết được đào tạo theo các chương trình đã lạc hậu nên khả năng tiếp nhận và vận hành thiết bị công nghệ tiên tiến còn hạn chế
Bảng 2.8 Trình độ lao động đang làm việc trong các DNNVV ngoài nhà nước năm 2003
Chia theo loại hình
Tổng số Doanh
nghiệp tư nhân
Công ty TNHH ngoài nhà nước
Công ty cổ phần không có vốn NN
Trang 40- Trung học chuyên nghiệp 512 301 210 1
- CNKT,nhân viên nghiệp vụ 781 530 247 4
(Nguồn: Số liệu điều tra của đề tài Nghiên cứu và đề xuất giải pháp hỗ trợ phát triển
kinh tế tư nhân Tỉnh Vĩnh Long, năm 2004 )
Trình độ văn hóa của đội ngũ lao động trong các DNNVV nhìn chung còn thấp, không ít người chưa tốt nghiệp tiểu học hoặc mới qua tiểu học:
Bảng 2.9 Trình độ văn hóa của lao động đang làm việc trong các DNNVV năm 2003
Nông, thủy sản
Công nghiệp, xây dựng
Thương mại, dịch vụ
Tổng
- Tốt nghiệp phổ thông CS 20,40 33,02 21,12 28,45
- Tốt nghiệp phổ thông TH 66,38 28,39 61,67 41,60
(Nguồn: Quy hoạch mạng lưới dạy nghề Tỉnh Vĩnh Long thời kỳ 2002 – 2010)
Trình độ quản lý: Chậm được đổi mới, đội ngũ giám đốc, chủ DNNVV đều do cá nhân người có vốn hoặc có đóng góp vốn nhiều nhất nắm giữ Việc thuê giám đốc còn là một điều xa lạ Trình độ thực tế của chủ doanh nghiệp, giám đốc DNNVV 2003 như sau:
ĐVT: %