1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

304 Nâng cao khả năng vốn đầu tư nước ngoài trong quá trình phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bình Dương giai đoạn 2006 - 2010

93 701 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Khả Năng Vốn Đầu Tư Nước Ngoài Trong Quá Trình Phát Triển Kinh Tế Xã Hội Tỉnh Bình Dương Giai Đoạn 2006 - 2010
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế - Luật
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Đề Tài Nghiên Cứu
Năm xuất bản 2010
Thành phố Bình Dương
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 548,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

304 Nâng cao khả năng vốn đầu tư nước ngoài trong quá trình phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bình Dương giai đoạn 2006 - 2010

Trang 1

MỤC LỤC

CHƯƠNG MỞ ĐẦU 1

1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Nội dung nghiên cứu 3

CHƯƠNG 1: ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM 4

1.1 Đầu tư nước ngoài và các hình thức đầu tư nước ngoài 4

1.1 1 Đầu tư nước ngoài 4

1.1.2 Các hình thức đầu tư nước ngoài 4

1.1.3 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài và những tác động của nó 5

1.1.3.1 Đối với các nước tiếp nhận đầu tư 6

1.1.3.2 Tác động của FDI đối với chính bản thân các nước xuất khẩu tư bản 9

1.2 Các yếu tố cơ bản thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 10

1.3 Cơ sở lý thuyết thu hút đầu tư nước ngoài tại Bình Dương: 11

1.4 Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong qúa trình phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam 12

1.4.1 Khái lược tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam 12

1.4.2 Những tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với nền kinh tế Việt Nam 13

1.4.2.1 Những tác động tích cực 13

1.4.2.2 Những tác động không thuận lợi 14

Trang 2

1.4.3 Nhận định về tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 16

1.5 Kinh nghiệm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở một số nước trong khu vực 18

1.5.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc, Singapore và Thái Lan 18

.1.5.2 Một số bài học kinh nghiệm rút ra về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài cho Bình Dương nói riêng và cả nước nói chung 20

CHƯƠNG 2: THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI Ở BÌNH DƯƠNG HIỆN NAY 23

2.1 Tổng quan về tỉnh Bình Dương 23

2.1.1 Các yếu tố cơ bản trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 23

2.1.2 Các giai đoạn phát triển kinh tế xã hội của Bình Dương 23

2.2 Tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Bình Dương 24

2.2.1 Khái lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ năm 1987 đến nay 24

2.2.2 Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Bình Dương theo ngành 26

2.2.3 Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Bình Dương theo vùng, lãnh thổ 27

2.3 Những tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với quá trình phát triển ở Bình Dương .28

2.3.1 Những tác động tích cực 28

2.3.2 Những tác động tiêu cực 36

2.4 So sánh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài giữa Bình Dương với một số tỉnh ở Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam 39

2.5 Những thành công và tồn tại trong thu hút trực tiếp đầu tư nước ngoài ở Bình Dương44 2.5.1 Những kinh nghiệm thành công 44

2.5.2 Một số tồn tại hạn chế 46

Trang 3

2.6 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ trong thu hút đầu tư trực tiếp nước

ngoài ở tỉnh Bình Dương hiện nay 48

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO KHẢ NĂNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI BÌNH DƯƠNG GIAI ĐOẠN 2006-2010

3.1 Mục tiêu, định hướng và quan điểm đề xuất giải pháp 51

3.1.1 Mục tiêu đề xuất giải pháp 51

3.1.2 Định hướng đề xuất giải pháp 51

3.1.3 Quan điểm đề xuất giải pháp 52

3.2 Giải pháp vĩ mô nhằm nâng cao khả năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam .52

3.2.1 Hoàn thiện thể chế phát triển thị trường các yếu tố 52

3.2.2 Nâng cao năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp trong nước 53

3.2.3 Thúc đẩy quá trình hội nhập 54

3.2.4 Hình thành hệ thống doanh nghiệp phụ trợ 54

3.3 Nhóm giải pháp nâng cao khả năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Bình Dương giai đoạn 2006-2010 54

3.3.1 Giải pháp phát huy những tác động tích cực 55

3.3.1.1 Cải cách thủ tục hành chính 55

3.3.1.2 Quy hoạch và phát triển cơ sở hạ tầng 58

3.3.1.3 Đổi mới và nâng cấp khả năng tiếp thị đầu tư 60

3.3.1.4 Thực hiện các đồng bộ giải pháp hổ trợ các nhà đầu tư 61

3.3.15 Liên kết khu vực và tránh đối đầu cạnh tranh 62

3.3.2 Giải pháp hạn chế những tác động tiêu cực 63

3.3.2.1 Chính sách thu hút những công ty lớn, đa quốc gia 63

Trang 4

3.3.2.2 Chính sách thu hút đầu tư ở những ngành kỹ thuật cao, thu hút xây dựng

các khu kỹ nghệ thông tin 64

3.3.2.3 Khuyến khích các dự án sử dụng nguyên liệu và lao động trong nước 3.3.2.4 Kiểm soát hoạt động chuyển giá và trốn thuế 65

3.3.2.5 Giải pháp đào tạo và khắc phục những bất cập về nguồn nhân lực 66

3.3.2.6 Chú trọng giải quyết các vấn đề ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội 67

3.4 Các kiến nghị 68

KẾT LUẬN 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1

PHỤ LỤC 2

PHỤ LỤC 3

PHỤ LỤC 4

Trang 5

CHƯƠNG MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

Tỉnh Bình Dương với dân số trên 976 ngàn người nằm ở miền Đông Nam Bộ Trên 13 năm trước đây, tỉnh chủ yếu phát triển về nông nghiệp, thì nay với cơ cấu công nghiệp và dịch vụ chiếm đến 88%GDP, Bình Dương trở thành một trong những tỉnh phát triển năng động nhất ở Việt Nam có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao (thời kỳ 2001-2004 là 15,3% so vơí của cả nước là 7,7%) Tính đến hết năm 2004, tỉnh đã thu hút 962 dự án đầu tư nước ngoài với tổng số thu hút là 4.209,85 triệu USD Trong đó lĩnh vực công nghiệp các dự án đầu tư nước ngoài đóng góp 68,21% giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh; chiếm 66,98% kim ngạch xuất khẩu; chiếm 71,74% kim ngạch nhập khẩu; hơn 60,1% lượng lao động làm trong khu vực đầu tư nước ngoài

so với tổng các thành phần kinh tế … Quan trọng hơn cả, các dự án đầu tư nước ngoài mang lại sức bật chung cho cho sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; trong đổi mới kỹ thuật công nghệ, trong việc tạo mội trường cạnh tranh kích thích các doanh nghiệp trong nước phát triển … Với những đóng góp

to lớn đó, thu hút đầu tư nước ngoài là một nhân tố quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Bình Dương

Tuy nhiên, trong thời gian qua các dự án ở Bình Dương chủ yếu còn ở mức quy mô nhỏ, vốn đầu tư trung bình còn thấp; trình độ kỹ thuật công nghệ ở mức trung bình, trung bình khá; chưa có những dự án tầm cở làm nòng cốt cho sự phát triển cao… Trong bối cảnh cả nước Việt Nam tiếp tục kêu gọi thu hút đầu tư nước ngoài, nghĩa là tất cả các tỉnh thành đều mời gọi đầu

tư nước ngoài, những vùng, lãnh thổ lân cận cùng khu vực cũng có những chính sách mời gọi đầu tư nước ngoài rất hấp dẫn thì ở Việt Nam nói chung, Bình Dương nói riêng có những giải

Trang 6

pháp gì để cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài về đầu tư Chính vì vậy, rất cần thiết có những công trình khoa học nghiên cứu những giải pháp, những chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của tỉnh Bình Dương Đây là lý do để chúng tôi chọn đề tài “Giải pháp nâng cao khả năng thu hút đầu tư nước ngoài trong qúa trình phát triển kinh tế xã hội ở tỉnh Bình Dương giai đoạn 2006-2010” với kỳ vọng là một phần kết qủa nghiên cứu của đề tài sẽ được ứng dụng trong thực tế

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hóa lý luận về đầu tư nước ngoài

- Phân tích tình hình thực hiện thu hút FDI tại Bình Dương

- Đối chiếu việc thu hút FDI với các quốc gia và tỉnh khu vực qua đó rút ra bài học kinh nghiệm và đánh giá khả năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng như tác động của nó trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở Bình Dương

- Đề ra các giải pháp nhằm nâng cao khả năng thu hút đầu tư nước ngoài ở tỉnh Bình Dương

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng: nghiên cứu khả năng thu hút đầu tư nước ngoài tại Bình Dương trong các thời kỳ trước đây và trong giai đoạn 2006-2010

- Phạm vi nghiên cứu:

o Phạm vi vấn đề nghiên cứu: chỉ nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, làm rõ vai trò của thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh Bình Dương

o Phạm vi về thời gian: từ năm 1988 đến đầu năm 2005, trong đó số liệu chủ yếu là năm 2004

4 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng chủ yếu các phương pháp sau:

Trang 7

- Phương pháp phân tích thống kê

- Phương pháp chuyên gia

- Phương pháp tổng hợp

5 Nội dung nghiên cứu:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Nội dung của luận văn gồm

3 chương như sau:

- Chương 1: Đầu tư nước ngoài và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam

- Chương 2: Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở Bình Dương hiện nay

- Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nâng cao khả năng cao thu hút đầu tư nước ngoài tại Bình Dương giai đoạn 2006-2010

Trang 8

CHƯƠNG 1: ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC

TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM

1.1 Đầu tư nước ngoài và hình thức đầu tư nước ngoài

1.1.1 Đầu tư nước ngoài: Đầu tư nước ngoài có thể hiểu một cách tổng quát đó là các hình

thức mà người nước ngoài trực tiếp hoặc gián tiếp bỏ vốn thông qua các loại hình khác nhau đầu tư vào sản xuất kinh doanh ở một nước khác nhằm thu lợi nhuận thông qua việc tận dụng các lợi thế sẵn có của các nước tiếp nhận đầu tư, cụ thể như: nhân công, nguyên liệu, thị trường tiêu thụ … hoạt động trong khuôn khổ pháp luật của nước sở tại và thông lệ quốc tế Theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam sửa đổi năm 2000 thì: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc các nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ một loại tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam

Căn cứ vào nội dung của Luật này, nhà nước Việt Nam khuyến khích và tạo điều kiện để các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam nhằm tăng cường hợp tác hơn nữa với các nước trên thế giới trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền và tuân thủ đầy đủ pháp luật Việt Nam, bình đẳng cùng có lợi

1.1.2 Các hình thức đầu tư nước ngoài: Đầu tư nước ngoài thường có 2 dạng chủ yếu: đầu tư

trực tiếp và đầu tư gián tiếp

Đầu tư trực tiếp là loại hình đầu tư mà nhà đầu tư có thể bỏ 100% vốn hoặc toàn bộ thiết bị để đầu tư vào một lĩnh vực sản xuất kinh doanh hay dịch vụ nào đó Cũng có một hình thức khác được xem là đầu tư trực tiếp khi nhà đầu tư nước ngoài mua lại toàn bộ hoặc từng phần một doanh nghiệp của nước sở tại để kinh doanh hoặc hợp tác kinh doanh Loại hình này chỉ được xem là trực tiếp với điều kiện nhà đầu tư nước ngoài phải mua được số cổ phiếu hoặc hiện vật đủ có thể chi phối, ra quyết định hoặc kiểm soát được công ty đó Hiểu một cách tổng quát

Trang 9

thì đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hình thức mà nhà đầu tư có thể trực tiếp và chủ động kiểm soát và quản lý được nguồn vốn tham gia đầu tư

Đầu tư gián tiếp là loại hình đầu tư mà nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần trong doanh nghiệp hoặc chứng khoán trên thị trường tài chính nhằm thu lợi nhuận Nếu loại hình đầu

tư trực tiếp mà nhà đầu tư thu lợi nhuận trực tiếp từ hoạt động sản xuất kinh doanh thì đầu tư gián tiếp thu lợi nhuận qua cổ tức (thu nhập qua cổ phiếu hoặc qua chứng khoán)

Ngoài ra, còn có một hình thức phổ biến khác, đó là tín dụng quốc tế kể cả dưới dạng ODA Hình thức này tuy có những đặc điểm riêng so với đầu tư trực tiếp và gián tiếp nhưng theo chúng tôi nó chỉ là một hình thức đặc biệt của đầu tư gián tiếp

Theo thông lệ chung của quốc tế, vốn đầu tư nước ngoài có thể đóng góp dưới dạng sau:

- Các loại ngoại tệ mạnh hoặc tiền nội địa

- Hiện vật hữu hình bao gồm tư liệu sản xuất, nhà xưởng, nguyên vật liệu, hàng hóa, tài nguyên (kể cả mặt đất, mặt biển)

- Hàng hóa vô hình: sức lao động, công nghệ, bí quyết công nghệ, bằng phát minh, nhãn hiệu và uy tín thương hiệu…

Hiện nay ở Việt Nam tồn tại cả 2 loại hình đầu tư nước ngoài trực tiếp và gián tiếp Theo xu thế phát triển, các hình thức đầu tư nước ngoài ở Việt Nam chắc chắn sẽ đa dạng hơn nữa trong từng loại hình đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp

1.1.3 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài và những tác động của nó:

Đầu tư trực tiếp nước ngoài có vị trí rất quan trọng góp phần tăng trưởng và phát triển kinh tế không chỉ riêng đối với các nước tiếp nhận đầu tư mà còn đối với bản thân các nước xuất khẩu tư bản Ngày nay trong xu thế tòan cầu hóa, hợp tác và phân công quốc tế, hội nhập và cùng phát triển là vấn đề mang tính quy luật Lợi ích của việc xuất khẩu tư bản và tiếp nhận đầu tư đều có ý nghĩa như nhau Tuy nhiên lợi ích sẽ không thể chia đều, nó chỉ có thể được tận

Trang 10

dụng một khi đôi bên đều biết phát huy tốt nhất những lợi thế, hạn chế tối đa những mặt trái và khiếm khuyết Trên tinh thần đó, để hiểu rõ vai trò và vị trí của đầu tư nước ngoài nên xem xét tác dụng của nó từ ở cả hai phía

1.1.3.1 Đối với các nước tiếp nhận đầu tư:

Hiện nay nguồn FDI không phải chỉ đầu tư vào các nước có nền kinh tế chậm phát triển và đang phát triển mà còn ở cả những nước tư bản phát triển Nguồn FDI đều có những tác dụng như sau:

a Tác động tích cực: bao gồm 2 nhóm

(i) Tác động trực tiếp, cụ thể là:

− FDI là nguồn vốn quan trọng làm tăng vốn đầu tư, giúp các nước tiếp nhận đầu tư cơ cấu lại nền kinh tế, thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội, phát triển sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng

− Ngoài FDI, các nhà đầu tư còn mang vào nước tiếp nhận đầu tư các khoa học công nghệ mới cũng như mô hình tổ chức quản lý của các chuyên gia… Để khai thác tốt nguồn vốn, đem lại hiệu quả kinh tế cao, chuyển giao công nghệ trở thành tất yếu Thực tiễn cho thấy, chỉ khi nào đội ngũ những người lao động ở các nước tiếp nhận đầu tư có khả năng sử dụng thành thạo các thiết bị hiện đại, có năng lực tổ chức quản lý giỏi, nguồn FDI mới có điều kiện phát huy tác dụng

- FDI là phương thức quan trọng làm tăng kim ngạch xuất khẩu do góp phần vào việc khai thác các lợi thế về tài nguyên, nhân lực nhằm tạo ra những sản phẩm xuất khẩu và thay thế hàng nhập khẩu có giá trị, nâng cao khả năng cạnh tranh và hội nhập của nền kinh tế trong xu thế tòan cầu hóa Nhờ có công nghệ hiện đại, các doanh nghiệp có vốn đầu tư tạo ra nhiều sản phẩm đa dạng, chất lượng tốt, giá cả hợp lý, thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của các tầng lớp nhân dân

Trang 11

- FDI góp phần vào việc tăng quy mô hoạt động các doanh nghiệp thành lập, các ngành kinh doanh mới, phát triển sản xuất, thu hút thêm lao động, làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, giải quyết công ăn việc làm cho lao động ở các nước đầu tư và nhận đầu tư Đây là điều kiện và môi trường tốt nhất để giải quyết tình trạng lao động dư thừa ở các nước chậm phát triển, đồng thời cũng là cơ hội tốt nhất để những người lao động ở các nước nhận đầu tư có điều kiện tiếp nhận khoa học công nghệ, rèn luyện kỹ năng lao động và năng lực tổ chức quản lý ở một trình độ cao

- FDI còn đem lại một số lợi thế khác cho các nước tiếp nhận đầu tư như góp phần làm tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước từ các khoản thuế và thu lợi nhuận, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, mở thêm một số ngành dịch vụ phục vụ cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

- FDI do tạo ra một lượng hàng xuất khẩu, tăng nguồn ngọai tệ góp phần hỗ trợ cán cân thanh toán, sẽ giúp ổn định kinh tế vĩ mô và đẩy nhanh quá trình hội nhập hợp tác giữa nước tiếp nhận đầu tư với các nước khác trên thế giới Nguồn lực quan trọng này chính là nhân tố bảo đảm cho các nước chậm và đang phát triển có điều kiện rút ngắn khỏang cách cách biệt, nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Thực tiễn cho thấy, không ở đâu có điều kiện nâng cao khả năng tiếp cận công nghệ hiện đại và phương thức quản lý có hiệu quả bằng các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Trong các lợi ích mà FDI mang lại thì lợi ích về vấn đề tạo công ăn việc làm và nâng cao trình độ tay nghề cho thế hệ những người lao động mới, là vấn đề có giá trị và ý nghĩa to lớn hơn cả

(ii) Tác động gián tiếp (còn gọi là tác động tràn): là tác động từ các doanh nghiệp FDI đối

với các doanh nghiệp trong nước, bao gồm các tác động chính:

- FDI tạo nên sức ép cạnh tranh trên thị trường thể hiện ở 2 mặt

+ Doanh nghiệp FDI làm cho đối thủ cạnh tranh suy yếu hơn có nguy cơ bị thu hẹp thị phần, làm giảm sản xuất, thậm chí rút lui khỏi thị trường

Trang 12

+ Chính sự cạnh tranh lại kích thích các đối thủ đầu tư đổi mới vươn lên đứng vững trên thị trường, từ đó năng suất được cải thiện

- FDI giúp chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp FDI sang doanh nghiệp trong nước

- FDI giúp liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước để sản xuất sản phẩm mới

- FDI giúp lưu chuyển lao động từ doanh nghiệp FDI sang các doanh nghiệp trong nước

b Các mặt hạn chế:

Tuy nhiên thu hút đầu tư nước ngoài cũng có một số hạn chế mà các nước tiếp nhận đầu tư cần nhận thấy:

Nguồn FDI chủ yếu do các công ty xuyên quốc gia chi phối Vì vậy các nước nhận đầu tư phải phụ thuộc vào vốn, công nghệ, thị trường và hệ thống mạng lưới tiêu thụ của các nước xuất khẩu tư bản Nếu các nước nhận đầu tư chỉ biết dựa vào FDI mà không chú trọng đúng mức đến việc khai thác các nguồn đầu tư khác từ nội lực của nền kinh tế thì nguy cơ lệ thuộc và mất độc lập về kinh tế là khó tránh khỏi Các công ty xuyên quốc gia có thể dùng quyền lực kinh tế của mình gây ảnh hưởng bất lợi đến tình hình kinh tế xã hội của nước chủ nhà

− Mục tiêu của bất kỳ nhà đầu tư nào cũng đều mong muốn thu hồi vốn nhanh và có được lợi nhuận nhiều Do đó việc chuyển giao công nghệ cũng cơ bản là nhằm mục đích này

Có hai khuynh hướng thường xảy ra:

o Đưa các thiết bị công nghệ hiện đại vào nhằm thu hồi vốn và lợi nhuận nhanh mà không tính đến chất lượng và số lượng lao động hiện có của nước sở tại Kết quả là mặc dù tăng vốn đầu tư, mở rộng sản xuất, có thêm nhiều ngành nghề mới nhưng người lao động vẫn thiếu việc làm Số lượng lao động dư thừa vẫn không được giải quyết

o Tận dụng các thiết bị công nghệ đã cũ và lạc hậu chuyển giao các nước tiếp nhận đầu

tư Do máy móc thiết bị lạc hậu nên chi phí sản xuất lớn, giá thành sản phẩm cao, khả năng

Trang 13

cạnh tranh thấp, nhóm các nước thuộc dạng này khó có thể đuổi kịp các nước phát triển Đó là chưa tính đến các tác hại khác như ô nhiễm môi trường, không có điều kiện tiếp nhận khoa học công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực hiện đại…

Bên cạnh đó do ưu thế về vốn, công nghệ hiện đại, thị trường, trình độ tổ chức quản lý, mạng lưới tiêu thụ sản phẩm… các nước xuất khẩu tư bản hoàn toàn có đủ điều kiện để giành thế chủ động trong sản xuất kinh doanh ngay tại nước tiếp nhận đầu tư Do đó bằng con đường cạnh tranh hợp quy luật các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoàn toàn có thể thôn tính các công ty nội địa là một thực tế Dĩ nhiên đó là một thực tế với điều kiện các công ty nội địa tự đánh mất chính mình

Ngoài ra, ảnh hưởng của FDI đối với cán cân thanh toán là một vấn đề rất được chú trọng Thông thường nhà nước sở tại rất khó kiểm sóat được giao dịch ngoại thương của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, bởi hầu hết các giao dịch này là giao dịch trong nội bộ công ty của các tập đòan tư bản xuyên quốc gia Nhờ giao dịch trong nội bộ, các công ty có vốn đầu tư có thể định giá các sản phẩm do mình sản xuất ra hoặc các nguồn đầu tư theo mức giá có lợi nhất cho họ nhằm để trốn thuế hoặc né tránh sự kiểm soát của Nhà nước sở tại Đặc điểm này đã khiến các nước tiếp nhận đầu tư khó có khả năng kiểm soát nguồn ngọai tệ để duy trì và làm chủ cán cân thanh toán, gây trở ngại cho việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, giảm tác động tích cực của FDI lên cán cân thanh toán của nước chủ nhà

Như vậy đối với các nước tiếp nhận đầu tư, tác dụng của FDI phải được nhìn nhận thấu đáo trên cả hai mặt biểu hiện cụ thể của nó

1.1.3.2 Tác động của FDI đối với chính bản thân các nước xuất khẩu tư bản

- Nhờ xuất khẩu tư bản, các công ty xuyên quốc gia có điều kiện nâng cao hiệu quả sử dụng vốn bằng cách khai thác tối đa những lợi thế về nhân lực và tài nguyên ở các nước tiếp nhận đầu tư để giảm giá thành, tìm kiếm tỷ suất lợi nhuận cao

Trang 14

- Mở rộng phạm vi ảnh hưởng sang nhiều quốc gia nhằm khẳng định sức mạnh về kinh tế và nâng cao uy tín về chính trị trên quốc tế, đồng thời thông qua việc cho vay vốn với số lượng lớn, lãi suất thấp để áp đặt các điều kiện về chính trị và kinh tế buộc các nước tiếp nhận đầu tư phải lệ thuộc vào mình

- Đầu tư vốn ra nước ngoài giúp các công ty xuyên quốc gia mở rộng sản xuất sang nhiều nước, nhằm tránh những bất lợi về kinh tế và chính trị trong nước mình (phân tán vốn để tránh những rủi ro), đồng thời tận dụng lợi thế của nước khác để phân công lại lao động chuyển dịch

cơ cấu kinh tế theo hướng có lợi nhất cho các công ty trong hệ thống tập đoàn tư bản xuyên quốc gia Tạo môi trường mới để cạnh tranh, thúc đẩy và mở rộng sản xuất

- Tận dụng cơ chế hoạt động đầu tư của mỗi nước khác nhau để thực hiện việc chuyển giá, tránh mức thuế cao nhằm tối ưu hóa lợi nhuận

- Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, ổn định và duy trì sản xuất ở một trình độ cao, trong đó đáng chú ý là khai thác được nguyên liệu giá rẽ từ các nước tiếp nhận đầu tư

Dĩ nhiên xuất khẩu tư bản cũng có những rủi ro nhất định, trước hết là khả năng kiểm soát và quản lý nguồn vốn trước những biến động chính trị xã hội ở các nước tiếp nhận đầu tư Mặt khác các nước xuất khẩu tư bản cũng đang phải đối phó với những hạn chế về năng lực quản lý, hệ thống chính sách và pháp luật chưa cụ thể, thiếu đồng bộ, đội ngũ công nhân trình độ thấp, quy hoạch dàn trải thiếu khoa học của nước sở tại Tất cả những biểu hiện trên đều tạo ra những trở ngại nhất định cho các nhà đầu tư

1.2 Các yếu tố cơ bản thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài: Có 4 yếu tố cơ bản thu hút đầu

tư nước ngoài là tình hình chính trị xã hội ổn định: ổn định là điều kiện tiên quyết để đảm bảo

các cam kết của chính phủ đối với các nhà đầu tư về sở hữu vốn đầu tư, các chính sách ưu tiên

đầu tư và định hướng phát triển (cơ cấu đầu tư) của nước nhận đầu tư; chính sách kinh tế vĩ mô ổn

định: ổn định các chính sách kinh tế vĩ mô trong nước giúp cho các nhà đầu tư có thể giảm bớt

Trang 15

các yếu tố không lường trước được trong quá trình đầu tư và dự tính khá chính xác kết quả đầu

tư của mình; cơ sở hạ tầng đảm bảo cho đầu tư phát triển: bảo đảm sự vận hành liên tục, thông

suốt các luồng của cải vật chất, các luồng thông tin và dịch vụ Sự phát triển của cơ sở hạ tầng và dịch vụ sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi và giảm những chi phí phát sinh cho các hoạt

động đầu tư; và chính sách khuyến khích và hỗ trợ đầu tư : trong đó các khuyến khích về tài

chính luôn chiếm vị trí quan trọng và được coi là điểm mấu chốt để hấp dẫn đầu tư nước ngoài, bao gồm các mức thuế ưu đãi, thời hạn miễn giảm thuế, hoàn thuế, ưu đãi tín dụng, lệ phí, quy

định thời gian khấu hao

1.3 Cơ sở lý thuyết thu hút đầu tư nước ngoài tại Bình Dương: “đàn ngỗng bay”

Trong các lý thuyết ngoại thương, theo tôi, ngoài lý thuyết về lợi thế so sánh thì nổi bật lên là lý thuyết về “đàn ngỗng bay” Nhà kinh tế học người Nhật Bản, Akamatsu, đã đưa ra mô hình lý thuyết về sự di chuyển của các ngành công nghiệp (thường gọi là mô hình đàn ngỗng bay) Các nước dịch chuyển trên cùng một hướng với khoảng cách khác nhau đối với nước dẫn đầu; các ngành công nghiệp thâm dụng lao động với công nghệ đơn giản trở nên không có khả năng sinh lời khi giá trị gia tăng phụ trội từ ngành đó làm cho tiền công tăng cao và các ngành đó sẽ được chuyển sang “ con ngỗng” kế tiếp trong hàng

Ở Châu Á, con ngỗng đầu đàn là Nhật Bản, những con ngỗng trong hàng kế tiếp là Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore; tiếp đến là những “con ngỗng” Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia, Philipne, Việt Nam … Để minh chứng thêm cho lập luận này, hai tác giả Ito và Orio đã khảo sát sự biến đổi giữa các tiểu ngành của Châu Á (năm 2000), trong quyển “ Suy gẫm sự thần kỳ của Đông Á” Các ngành nghề khảo sát của 2 tác giả này chủ yếu là các ngành nghề công nghiệp, chủ yếu ở 3 nhóm ngành sau:

- Ngành L: bao gồm các ngành sản xuất thực phẩm, đồ uống thuốc lá, dệt may, các sản phẩm từ da, giày, gỗ và đồ gỗ gia dụng (chủ yếu là hàng tiêu dùng)

Trang 16

- Ngành C bao gồm các ngành sản xuất giấy, xuất bản và in ấn, hóa dầu, cao su, chất dẻo, phi kim loại (gốm sứ, xi măng, thủy tinh…), kim loại màu (hàng công nghiệp)

- Ngành T gồm các ngành chế tạo máy, điện tử, vận tải, công nghiệp chính xác (hàng công nghệ cao)

Ito và Orii nhận thấy rằng tỷ trọng của ngành L trong giá trị gia tăng sẽ giảm dần theo thời gian ở hầu hết các nước, trong khi của ngành C thì ban đầu tăng lên nhưng sau đó giảm xuống khi thu nhập của nước đó đạt đến mức cao Còn ngành T, khi thu nhập thấp thì chiếm tỷ trọng khiêm tốn nhưng nó sẽ mở rộng khi đạt đến một giai đoạn phát triển kinh tế nhất định

Hình thái tái diễn của 3 ngành này khá rõ ràng, những nước đi sau lặp lại sự chuyển dịch cơ cấu ngành của nước đi trước trong tiến trình công nghiệp hóa Các quốc gia Châu Á dường như đang rất thành công trong việc chuyển giao các lợi thế so sánh trong lĩnh vực sản xuất từ những nước đi trước đến những nước theo sau

1.4 Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam hiện nay:

1.4.1 Khái lược tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam :

Luật đầu tư nước ngoài có hiệu lực trên lãnh thổ Việt Nam từ tháng 12 năm 1987 Mục tiêu của bộ luật này là nhằm thu hút vốn, công nghệ hiện đại khai thác tốt nhất lợi thế về tài nguyên và nguồn lực con người, phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm, nâng cao khả năng xuất khẩu thu ngoại tệ, cải thiện kỹ năng của các nhà quản lý và rèn luyện tay nghề cho công nhân thông qua việc tiếp cận công nghệ, năng lực quản lý và marketing hiện đại, kích thích tính cạnh tranh trên thị trường nội địa và từng bước thâm nhập thị trường thế giới Qua thực tế phát triển năm

1990 nước ta chủ động sửa đổi và bổ sung nhiều chính sách thông thoáng nữa nhằm giảm bớt các hạn chế để tăng tính hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài, cũng như hoàn thiện thêm một lần nữa bộ luật về thu hút đầu tư nước ngoài năm 2000 Bộ Luật đầu tư năm 2000 của Việt

Trang 17

Nam là bộ luật tương đối hoàn chỉnh và thể hiện những ưu đãi nổi trội trong chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam so với các nước khác trong khu vực và trên thế giới Trong đó xác định các lĩnh vực được ưu tiên khuyến khích đầu tư như: sản xuất hàng tiêu dùng xuất khẩu; nuôi trồng chế biến nông, lâm, thủy, hải, sản; ưu tiên các ngành có sử dụng công nghệ cao, kỹ thuật hiện đại, xây dựng cơ sở hạ tầng, các ngành có khả năng sử dụng nhiều lao động và tập trung khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam Và trong năm 2005 này, Việt Nam đang soạn thảo Luật doanh nghiệp thống nhất và Luật đầu tư nhằm đẩy mạnh hơn nữa thu hút đầu tư nước ngoài

1.4.2 Những tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với nền kinh tế Việt Nam:

1.4.2.1 Những tác động tích cực:

Gần 18 năm thực hiện thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong nền kinh tế Mười tám năm qua, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã có nhiều đóng góp quan trọng cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của nước nhà Có thể nhận thấy những đóng góp quan trọng đó được biểu hiện trên một số khía cạnh sau:

- Thứ nhất, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã cung cấp nguồn vốn quan trọng cho việc thực

hiện các mục tiêu kinh tế xã hội ở nước ta; bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển , góp phần khai thác, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nước, tạo thế và lực phát triển mới cho nền kinh tế

- Thứ hai, nguồn vốn FDI đã đóng góp quan trọng vào việc thúc đẩy, thực hiện chuyển

dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa, nâng cao năng lực sản xuất Ngoài các ngành công nghiệp , phát triển khu vực có FDI còn kéo theo nhiều ngành dịch vụ khác, góp phần nâng cao tỷ trọng các ngành dịch vụ lên

Trang 18

- Thứ ba, đóng góp FDI đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế, dòng FDI đổ vào Việt Nam

liên tục tăng, hoạt động khu vực đầu tư nước ngoài cũng tương đối ổn định, trong suốt thời kỳ

1988 –1997, doanh thu của FDI tăng trung bình hàng năm trên 50%

- Thứ tư, đóng góp của FDI với phát triển công nghệ mới, thúc đẩy áp dụng tiến bộ khoa

học kỹ thuật, quản lý hiện đại vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của nhiều ngành nghề và lĩnh vực kinh tế

- Thứ năm, tác động đến tính cạnh tranh của thị trường Việt Nam, mở rộng thị trường,

tăng kim ngạch xuất khẩu, nâng tính cạnh tranh và vị thế của hàng Việt Nam trên thị trường thế giới

- Thứ sáu, tác động của FDI đối với xuất khẩu và góp phần đẩy nhanh tiến độ hội nhập

Đầu tư nước ngoài đặc biệt có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển ngoại thương của đất nước Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã đóng góp quan trọng trong việc gia tăng nhanh chóng kim ngạch xuất khẩu

- Thứ bảy, thu hút 860.000 lao động trực tiếp và lao động gián tiếp trong các doanh

nghiệp xây dựng, dịch vụ, góp phần quan trọng giải quyết việc làm cho người lao động

Tóm lại, hoạt động của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài đã đóng góp rất nhiều cho tiến trình hội nhập của Việt Nam, những tiến bộ kỹ thuật để sản xuất các sản phẩm có chất lượng cao, đạt yêu cầu xuất khẩu, giá thành sản xuất thấp Đầu tư nước ngoài đã giúp cho Việt Nam tăng cường xuất khẩu, thiết lập những kênh phân phối, thông qua thị trường của nước đầu tư và các thị trường có quan hệ thương mại với họ Mặc dù tỷ trọng xuất khẩu của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài chưa cao, nhưng số lượng các công ty tham gia vào hoạt động xuất khẩu ngày càng tăng, mang lại nhiều cơ hội cho các quốc gia trên thế giới biết đến và dành quan tâm hơn nữa về nhiều phương diện đối với Việt Nam

Trang 19

1.4.2.2 Những tác động không thuận lợi :

Nhận rõ những mặc tích cực để khai thác và hạn chế để khắc phục và rất cần thiết trong xu thế hội nhập và cạnh tranh gay gắt hiện nay Có thể khái quát bên cạnh những mặt tích cực, FDI đang đặt chúng ta trước những thách thức gay gắt

- Thứ nhất, FDI chưa phục vụ đúng mức các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam

o Bất hợp lý trong đầu tư theo ngành: có những ngành chúng ta cần đầu tư thì các doanh nghiệp nước ngoài không bỏ vốn, cũng có những ngành cung vượt quá cầu như khách sạn, nhà hàng, văn phòng cho thuê… nước ngoài vẫn tập trung đầu tư

o Bất hợp lý trong đầu tư theo vùng: phần lớn đầu tư nước ngoài tập trung ở các thành phố lớn có cơ sở hạ tầng tốt, các vùng cần thu hút đầu tư ở nông thôn, miền núi tỷ lệ rất thấp

o Bất hợp lý về cơ cấu đầu tư theo đối tác: phần lớn các doanh nghiệp đến đầu tư là từ các nước Châu Á

- Thứ hai, tác động chưa thuận lợi đến cán cân thanh toán và thương mại của Việt Nam

Mặc dù đã chuyển sang kinh tế thị trường, nhiều doanh nghiệp có FDI đã tham gia xuất nhập khẩu nhưng cán cân thương mại của Việt Nam thường xuyên bị thâm hụt

- Thứ ba, tác động tiêu cực đến các công ty nội địa Loại hình đầu tư trực tiếp nước ngoài

phổ biến nhất ở Việt Nam là hình thức liên doanh đầu tư, mà trong đó đối tác trong nước chính là các doanh nghiệp nhà nước vừa và nhỏ (SMEs) Nếu các liên doanh này làm ăn không hiệu quả, chính phủ sẽ phải gánh những trách nhiệm về thua lỗ cũng như thanh toán nợ nần của các đối tác Việt Nam

- Thứ tư, hoạt động định giá và những tác động tiêu cực của nó đối với nền kinh tế Việt

Nam Định giá cao hơn giá cả thị trường đối với máy móc thiết bị, công nghệ, nguyên liệu

Trang 20

nhập khẩu và định giá thấp hơn giá thị trường đối với các sản phẩm và dịch vụ xuất khẩu trong nội bộ các MNEs là một đặc điểm khá phổ biến của các công ty FDI và hiện cũng đang xảy ra khá phổ biến ở Việt Nam

- Thứ năm, tác động đến sự phân hóa XH Có thể xét tác động trên sự phân hóa XH trên

ba mặt sau đây: phân hóa giàu nghèo qua thu nhập; phân hóa khu vực thành thị nông thôn; phân hóa giữa các ngành kinh tế và các thành phần kinh tế dẫn đến cạnh tranh thiếu lành mạnh

1.4.3 Nhận định về tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam:

Đánh giá tổng quát, thu hút FDI ở Việt Nam đã đạt được một số mặt tích cực và bộc lộ một số mặt hạn chế sau:

* Về ưu điểm:

- Dòng vốn FDI đã mang lại hiệu quả đáng kể cho nền kinh tế, đặc biệt sự phát triển của các lĩnh vực xuất khẩu, công nghiệp,… Nhờ có sự tham gia của dòng FDI, khả năng cạnh tranh của Việt Nam so với các nước trong khu vực và trên thế giới được cải thiện rất nhiều Điều này đóng vai trò quan trọng trong việc giúp cho Việt Nam hướng tới xu thế tự do hóa thương mại, sẵn sàng cho quá trình hội nhập

- Mặc dù còn sự phân bổ không đồng đều của FDI giữa các ngành kinh tế, nhưng nhờ có chính sách ưu tiên tương đối hợp lý, FDI đang từng bước được phân bổ một cách khá phù hợp với mục tiêu công nghiệp hóa đất nước Một lượng lớn FDI đã được tập trung vào các ngành công nghiệp chủ chốt để góp phần thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế, làm tăng tiến trình công nghiệp hóa nền kinh tế, tăng sản lượng sản xuất các sản phẩm công nghiệp xuất khẩu

- Thu hút FDI đã giúp Việt Nam có quan hệ với nhiều nước, trong đó nhiều dự án thực hiện bởi các MNCs có tầm cở như IBM, Motorolla… Và chỉ đứng sau Trung Quốc, Việt Nam cũng rất hấp dẫn các nhà đầu tư Nhật Bản là một trong những nhà đầu tư lớn với máy móc thiết

Trang 21

bị công nghệ hiện đại Bên cạnh đó, Hiệp định thương mại Việt Mỹ được ký kết cũng tạo cơ hội cho các nhà đầu tư lớn từ quốc gia thuộc loại giàu nhất thế giới này đầu tư vào Việt Nam

- Để có được sự phát triển cân đối giữa các vùng trong nước, Việt Nam đang áp dụng nhiều chính sách khuyến khích và các biện pháp kinh tế hữu hiệu để kéo các nhà đầu tư nước ngoài tới những vùng còn kém hoặc chưa phát triển của đất nước, mà Khu kinh tế mở Chu Lai là một ví dụ Kết quả là rất nhiều vùng trong cả nước nhận được đầu tư trực tiếp nước ngoài bao gồm cả những vùng sâu vùng xa như: Lai Châu, Hà Giang, Yên Bái, Quảng Ngãi, Tây Ninh, Gia Lai… Những thành tựu này đã góp phần làm tăng hiệu quả của thu hút đầu tư nhờ giảm tổn thất do phân hóa theo thu nhập và phát triển không đồng đều

- So với thới kỳ đầu tiên thi hành luật đầu tư nước ngoài, các cơ quan quản lý và các chuyên gia đã có những tiến bộ đáng kể Công tác quản lý đầu tư nước ngoài đã dần đi vào nề nếp, trình độ chuyên môn của các cán bộ quản lý đã được nâng lên… chúng ta đã mạnh dạn áp dụng nhiều hình thức đầu tư có lợi nhất cho nền kinh tế (điển hình là vào ngày 03/8/2005 Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã trao giấy phép đầu tư nước ngoài theo mô hình công ty mẹ -công ty con đầu tiên ở Việt Nam cho công ty Panasonic Việt Nam, với 2 công ty một sản xuất hàng gia dụng ở Hà Nội và một sản xuất ti vi ở thành phố Hồ Chí Minh ) Sự trưởng thành về năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý là sự ổn định một bước về hệ thống chính sách là rất đáng trân trọng

* Một số mặt hạn chế cần nhận rõ:

- Nền kinh tế Việt Nam có xuất phát điểm thấp, tốc độ tăng trưởng thiếu bền vững và không ổn định là một trở ngại không thể khắc phục nhanh chóng

- Sự chênh lệch giữa các vùng và mất cân đối giữa các ngành kinh tế (thành thị, nông thôn; nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ) quá lớn Hệ thống chính sách chưa đồng bộ, chưa có

Trang 22

những chính sách hấp dẫn và thông thoáng để thu hút đầu tư vào các khu vực này Sự chênh lệch và bất cập kéo dài cũng là một trở ngại thu hút đầu tư

- Bộ máy quản lý chưa theo kịp yêu cầu phát triển, hệ thống chính sách chưa đồng bộ và thiếu nhất quán dẫn tới các tiêu cực và nhiều tệ nạn xã hội làm nảy sinh nhiều trở ngại cho các nhà đầu tư

- Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam mới chủ yếu từ các nước Châu Aù và Đông Nam Á Phần lớn thiết bị của các nước này ở trình độ chưa cao Ngoài ra, do quy mô nhỏ nên không đủ năng lực tài chính chi trả các hợp đồng chuyển giao công nghệ tiên tiến Điều đó làm cho năng lực cạnh tranh và xu thế hội nhập của Việt Nam hạn chế, làm cho sức hấp dẫn của các nhà đầu

tư quốc tế giảm

- Chuyển sang kinh tế thị trường, kinh tế cá thể, một đối tác chiến lược của thu hút FDI đang ở trình độ xuất phát điểm thấp, năng lực nhỏ bé, không tương xứng để thu hút FDI của các nhà đầu tư lớn Vì thế, các doanh nghiệp trong nước không đủ sức thu hút các lao động có tay nghề cao từ doanh nghiệp FDI về công ty nội địa

- Đội ngũ những người lao động ở nước ta phần lớn chưa qua đào tạo, năng lực chuyên môn thấp, khiến khả năng hấp thu công nghệ thấp, chưa có tác phong công nghiệp, chưa quen và thích ứng với môi trường lao động công nghiệp cũng là một trở ngại

Trong bối cảnh hiện tại, Việt Nam đang trên con đường tiếp tục tiến trình hội nhập với các quốc gia trên thế giới, cần phải cạnh tranh và thu hút FDI ngày càng nhiều Tìm kiếm các giải pháp kinh tế hữu hiệu nhằm giải quyết các vấn đề tồn tại và phát huy những thành tựu đã đạt được là rất cần thiết để thu hút FDI Chỉ có trên cơ sở nhận rõ những điểm mạnh và điểm yếu, việc thu hút đầu tư mới hy vọng đạt ngày càng nhiều và có hiệu quả hơn

Trang 23

1.5 Kinh nghiệm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở một số nước trong khu vực:

1.5.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc, Singapore và Thái Lan:

kinh nghiệm thu hút FDI được nghiên cứu ở 3 quốc gia có những điều kiện tương đồng và gần Việt Nam là Sigapore, Thái Lan và Trung Quốc, đồng thời đạt những thành công nhất định

(Chi tiết được trình bày ở Phụ lục 2) Qua mô hình chúng tôi rút được các bài học kinh nghiệm

sau đây:

Kinh nghiệm thu hút trực tiếp đầu tư nước ngoài ở Trung Quốc:

Trung Quốc không có Luật đầu tư nước ngoài mà thông qua các đạo luật riêng rất cụ thể về từng lĩnh vực như: Luật về các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, Luật về xí nghiệp liên doanh cổ phần, Luật về các xí nghiệp liên doanh hợp tác …

Trung Quốc còn thành lập các đặc khu kinh tế với nhiều chính sách ưu đãi về thuế, quyền sử dụng đất, lao động, chuyển lợi nhuận về nước … rất hấp dẫn

Cùng với những chính sách thông thoáng là sự hình thành và vận dụng rất linh hoạt các loại hình đầu tư Hiện nay Trung Quốc có rất nhiều loại hình đầu tư rất đa dạng, hấp dẫn, phù hợp với rất nhiều đối tượng và cách thức đầu tư khác của các chủ đầu tư từ nhiều nước

Kinh nghiệm thu hút trực tiếp đầu tư nước ngoài ở Singapore:

Singapore là một nước không ban hành Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài, Nhà nước căn cứ vào mục tiêu chiến lược cụ thể của từng thời kỳ mà xác định những thành phần kinh tế động lực để khuyến khích đầu tư Chính phủ cho phép các doanh nghiệp nước ngoài được đầu tư không giới hạn về vốn mà các lĩnh vực mà Nhà nước khuyến khích đầu tư, giảm mức thuế đánh vào các doanh nghiệp không định cư tại Singapore Tạo mọi điều kiện để các nhà đầu tư có thể

cư trú và nhập cảnh dễ dàng, được hồi hương vốn và chuyển lợi nhuận ra nước ngoài Đặc biệt, họ tập trung kinh phí xây dựng cơ sở hạ tầng, tìm kiếm đất cho các nhà đầu tư và ưu tiên chú trọng phát triển giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực

Trang 24

Kinh nghiệm thu hút trực tiếp đầu tư nước ngoài ở Thái Lan:

Hình thành 2 khu chế xuất với 2 loại chính sách đặc thù nhằm thu hút vốn tập trung hướng vào phục vụ xuất khẩu ở các trong và ngoài nước Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được quyền bán, chuyển nhượng, bảo tồn vốn khi có những rủi ro, những nguyên nhân khách quan bất khả kháng, được chuyển đổi lợi nhuận về nước…

Tóm lại nếu so sánh với Singapore, Thái Lan, Trung Quốc và một số nước trong khu vực, tuy có nhiều nỗ lực nhưng ở Việt Nam sự đổi mới các chính sách còn chưa thật thông thoáng và đồng bộ Nhiều chính sách còn hạn chế thậm chí có những chính sách còn quá chặt chẽ Thu hút FDI trong bối cảnh cạnh tranh rất quyết liệt hiện nay, việc tìm hiểu các quốc gia khá thành công trong thu hút đầu tư nước ngoài để tự đổi mới mình là một quyết sách đúng nhằm khắc phục những yếu kém, chủ động hội nhập

1.5.2 Một số bài học kinh nghiệm rút ra về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài cho Bình Dương nói riêng và cả nước nói chung:

Chúng ta không thể phủ định, mặc dù còn nhiều bất cập nhưng thu hút FDI đang là một trong những nguồn lực đóng góp quan trọng vào việc thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế Việc phân tích những mặt tích cực và hạn chế của thu hút FDI nhằm phát huy những mặt mạnh đưa nước ta mau chóng hội nhập cùng với các nước trong khu vực và trên thế giới là một chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta

Là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời là một trong những tỉnh có thu hút FDI hàng đầu của cả nước, Bình Dương rất quan tâm đến vấn đề này Qua phân tích các hoạt động thu hút đầu tư ngoài nước thời gian vừa qua, ta có thể rút ra một số nhận định sau:

- Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đã có nhiều đóng góp quan trọng vào tốc độ phát triển kinh tế, tuy nhiên những năm gần đây có sự giảm sút về số vốn đăng ký Nhiều dự án đầu tư nước ngoài đã được cấp giấy phép đầu tư nhưng triển khai thực

Trang 25

hiện còn chậm, có thể bị mất cơ hội kinh doanh thuận lợi cho nhà đầu tư Số vốn đầu tư bị giải thể hoặc rút giấy phép trước thời hạn có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây, đã làm cho vốn đầu tư nước ngoài đã ít lại càng ít hơn Những nhà doanh nghiệp gặïp phải khó khăn trong quá trình hoạt động, thậm chí thua lỗ sẽ ảnh hưởng không tốt đến nhà đầu tư tiềm năng

- Các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm tới môi trường đầu tư Khi gặp những bất lợi, sự biến động môi trường đầu tư họ thường tìm cách rút vốn hoặc ngưng đầu tư Điểm này gây nên những biến động bất lợi cho nền kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư Chính vì vậy việc phải tạo ra môi trường đầu tư thật sự ổn định về chính trị xã hội là vô cùng cần thiết

- Kinh nghiệm cho thấy để dành thế chủ động trong việc thu hút đầu tư nước ngoài, mỗi địa phương cần phải có một chiến lược phát triển kinh tế thật cụ thể phù hợp với chiến lược phát triển chung Trên cơ sở đó mà lựa chọn những ngành cần ưu tiên có tính chất động lực để thu hút đầu tư tạo ra những tố chất mới cho lĩnh vực này phát triển

- Để phát huy đúng mức nguồn vốn FDI, việc phát huy và khuyến khích nguồn đầu tư trong nước phải được đặc biệt chú trọng bởi vì vốn trong nước là nguồn đối tác quan trọng nhằm hạn chế tiếp nhận đầu tư gián tiếp thông qua hình thức tham gia cổ phần, mua tín dụng Vì thế khuyến khích đầu tư trong nước cũng phải được xem là một giải pháp hỗ trợ cho việc thu hút đầu tư FDI, thậm chí kể cả việc khuyến khích mở rộng đầu tư đầu tư ở trong nước ra thị trường nước ngoài

Bên cạnh đó, một số mặt trái của việc thu hút đầu tư sẽ diễn ra nếu ta không kiểm soát được, như:

- Do cạnh tranh thiếu lành mạnh và khả năng kiểm soát của Nhà nước ở khía cạnh này còn nhiều bất cập nên công ty FDI dễ dàng đẩy các công ty trong nước đi đến phá sản, chèn ép nền sản xuất nội địa

- Các nước tiếp nhận đầu tư thường bị chuyển giao những công nghệ lạc hậu, không thích hợp, gây ô nhiễm môi trường sinh thái Ngoài ra, còn bị các nhà đầu tư khai tăng giá nhằm trục lợi, biến nước tiếp nhận đầu tư phụ thuộc vào các nước có nguồn vốn đầu tư về kinh tế, từ đó dẫn đến phụ thuộc về chính trị

Trang 26

- Sự phân hóa giàu nghèo diễn ra nhanh chóng cùng với các tiêu cực xã hội làm ảnh hưởng đến mục tiêu tăng trưởng bền vững của Việt Nam

Một số vấn đế có thể khắc phục những hạn chế và khai thác tốt các mặt mạnh này là:

- Thứ nhất, vai trò của đầu tư nước ngoài đã được khẳng định trong các Hội nghị Đảng, nhưng

nó chưa được quán triệt thông suốt nên cách hiểu còn chưa thống nhất và quan điểm còn khác nhau nên cách xử lý các vấn đề về đầu tư nước ngoài còn khác nhau Cần phải thông suốt, cụ thể cách nghĩ bằng thực tiễn hành động

- Thứ hai, Chính phủ cần cụ thể hóa các chính sách của mình một cách toàn diện Cơ chế

điều hành phải nhất quán, ổn định

- Thứ ba, công tác quản lý Nhà nước đối với FDI còn nhiều bất cập, vừa buông lỏng vừa can

thiệp sâu vào hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

- Thứ tư, công tác quy hoạch còn chậm, chất lượng chưa cao, lại thiếu cụ thể, còn coi nhẹ yếu

tố đầu tư nước ngoài Một số quy hoạch đã được phê duyệt chỉ đề cập đến kế hoạch của một số tổng công ty lớn, sử dụng nguồn vốn Nhà nước là chủ yếu (ngành thép, xi măng…)

- Thứ năm, cần cải thiện các chi phí có liên quan đến đầu tư nước ngoài như chi phí đầu vào

tạo nên hàng hóa, chi phí dịch vụ hỗ trợ hoạt động sản xuất còn rất cao như chi phí cảng biển, cước viễn thông, phí đăng kiểm, phí giải phóng mặt bằng… đặc biệt là các tiêu cực phí

Trang 27

CHƯƠNG 2: THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI Ở BÌNH

DƯƠNG HIỆN NAY

2.1 Tổng quan về tỉnh Bình Dương:

2.1.1 Các yếu tố cơ bản trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài:

Các yếu cơ bản trong thu hút đầu tư nước ngoài Bình Dương đã hội tụ gần như khá đầy đủ về đất, nước, rừng, khoáng sản, dân cư, nguồn nhân lực (được trình bày chi tiết Phụ lục 1) Đây là điểm thuận lợi của Bình Dương trong công tác thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

2.1.2 Các giai đoạn phát triển kinh tế xã hội của Bình Dương:

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Bình Dương là một phần của tỉnh Sông Bé cùng cả nước bước vào thời kỳ khắc phục những hậu quả của chiến tranh, khôi phục xây dựng và phát triển kinh tế Có thể khái quát thành tựu mà Sông Bé đã đạt được trong giai đoạn 1975-

1995 như sau: Công nghiệp có bước phát triển cả về số lượng cũng như kết quả sản xuất; Nông nghiệp vẫn duy trì được mức tăng trưởng đều đặn qua các thời kỳ kế hoạch 5 năm; Thu ngân sách đã phấn đấu từ chỗ thu không đủ chi phải nhờ vào sự viện trợ của Trung ương, đến nay đã tự trang trải và đã làm được nghĩa vụ với Trung ương…

Đến thời điểm năm 1997, tỉnh Sông Bé được tách ra thành Bình Dương và Bình Phước Kể từ đó, Bình Dương đã đạt được một số kết quả khả quan Bình Dương trong 10 năm qua, từ 1997-2005 tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục tăng cao, đạt 14,15%/năm thời kỳ 1997-2000, 15,3%/năm thời kỳ 2001-2004 Về giá trị tuyệt đối, GDP của tỉnh đạt 2.325 tỷ đồng năm 1996, đến năm 2000 là 3.946,7 tỷ đồng và năm 2004 GDP của tỉnh là 6.962 tỷ đồng Dự kiến hết năm

2005 là 8.024 tỷ đồng (giá so sánh năm 2004) Thu nhập bình quân đầu người liên tục tăng nhanh, năm 1996 đạt 4,83 triệu đồng/người, năm 2004 là 13,1 triệu đồng/người Ước tính 2005

Trang 28

là 15 triệu đồng/người Tốc độ tăng trưởng của các ngành công nghiệp – xây dựng tăng rất nhanh, thời kỳ 1997-2000 tăng 21,8%/năm, dự kiến thời kỳ 2001-2005 tăng bình quân 18,57%/năm Trong thời kỳ tương ứng, khu vực dịch vụ tăng trưởng 9%/năm, 14,6% năm; các ngành nông lâm ngư nghiệp có tốc độ tăng trưởng ổn định, xấp xỉ khoảng 3,58%/năm cho các năm (xem chi tiết Phụ lục 1)

2.2 Tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Bình Dương:

2.2.1 Khái lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ năm 1987 đến nay:

Từ khi Luật đầu tư nước ngoài được ban hành năm 1987 đã khơi dậy khả năng đầu tư của mọi thành phần kinh tế vào sản xuất kinh doanh, tạo môi trường pháp lý để thu hút vốn FDI góp phần thực hiện chiến lược phát triển kinh tế của đất nước nói chung và của tỉnh Bình Dương nói riêng

Hiện nay, tỉnh Bình Dương có tốc độ tăng trưởng kinh tế và số vốn đầu tư nước ngoài khá cao Nhìn chung, trong giai đoạn 1987-2004, nhịp độ thu hút FDI trên địa bàn tỉnh Bình Dương tăng nhanh, có thể tạm chia làm 4 giai đoạn như sau:

- Giai đoạn từ 1987-1992 là giai đoạn khởi động của hoạt động đầu tư nước ngoài Lúc này các nhà đầu tư chỉ biết đến Việt Nam nói chung và tỉnh Bình Dương nói riêng như một miền đất mới, vừa xa lạ, vừa hấp dẫn nên rất thận trọng, không dám mạo hiểm, chỉ thử để thăm dò cơ hội Vì thế, số dự án và vốn đầu tư trong thời gian này không nhiều

- Giai đoạn 1993-1996 là giai đoạn tăng trưởng nhanh về số lượng lẫn chất lượng của hoạt động FDI tại Bình Dương Chỉ tính riêng số vốn đầu tư và số dự án trong năm 1993 đã gần bằng cả bốn năm trước cộng lại Quy mô dự án cũng tăng khá nhanh, đặc biệt năm 1994 quy mô dự án lên đến 18,96 triệu USD/dự án Đây là giai đoạn quy mô của dự án cao nhất từ trước đến nay tại Bình Dương nói riêng và Việt Nam nói chung

Trang 29

- Giai đoạn 1997-1999 hoạt động FDI có xu hướng chựng lại, chủ yếu do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực Đông Nam Á

- Giai đoạn 2000-2004 giai đoạn tăng trưởng vượt bậc về số dự án FDI tại Bình Dương vì số lượng dự án đầu tư hàng năm đã vượt qua số 100 và tổng vốn đầu tư cũng tăng

Xem Phụ lục 3 (Bảng 2.1 : Tình hình thu hút FDI tại Bình Dương 1989-2004)

Tốc độ FDI vào Bình Dương trong những năm 1989-2004 tăng nhanh Bình quân trong 16 năm 1989-2004 số dự án đã tăng 52,8% trên năm và vốn đầu tư tăng hơn 103% trên năm Trong hai năm 1997, 1998 tốc độ đầu tư giảm sút rõ rệt biểu hiện qua việc giảm số vốn đầu tư chỉ còn một nửa do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ của khu vực và cũng do xuất hiện một số vướng mắc trong các thủ tục đầu tư chưa được khai thông, tạo ra tâm lý e dè, nghi ngại của một số nhà đầu tư Trong giai đoạn 2001-2004, tốc độ đầu tư FDI tăng nhẹ và có dấu hiệu suy giảm Nguyên nhân khách quan chủ yếu là do một số nền kinh tế có ảnh hưởng đến nguồn cung cấp FDI tăng trưởng chậm như Anh, Đức, Nhật Bản và kinh tế Hoa Kỳ trong 6 tháng đầu năm 2003 Luồng vốn FDI trên thế giới và khu vực cũng đã chịu tác động trực tiếp của chiến tranh Irắc, hoạt động khủng bố và dịch SARS

Quy mô dự án được cấp phép ở Bình Dương tương đối thấp, thường là quy mô nhỏ, tập trung vào các ngành công nghiệp chế biến, nông lâm sản, may mặc và hóa chất… Nếu như những năm đầu mở cửa, giai đoạn 1989-1992, vốn đăng ký bình quân của mỗi dự án nhỏ, gần 4,3 triệu USD, thì sau đó quy mô vốn tăng lên dần cho đến 1996, bình quân là 11 triệu USD/dự án Nhưng cho đến nay, quy mô đầu tư của một dự án giảm dần, chỉ còn 2,7 triệu USD năm

2004 Đây là hiện tượng chung của các tỉnh trong hoạt động thu hút FDI Vào nữa đầu thập kỷ

90, Bình Dương cũng như các tỉnh khác tập trung thu hút các dự án lớn, sử dụng công nghệ hiện đại, hoặc đầu tư nhiều vào cơ sở hạ tầng Nhưng điều này đã không diễn ra lâu bởi gặp khó khăn khi cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực xảy ra Trước tình hình đó, Bình Dương đã có

Trang 30

những điều chỉnh kịp thời: kêu gọi ngay các dự án quy mô nhỏ, công nghệ ở mức trung bình,

thâm dụng nhiều lao động Do đó, trong những năm gần đây, tổng vốn đầu tư vào Bình Dương

chỉ ở mức 300 triệu USD mỗi năm nhưng số dự án lại tăng lên gấp nhiều lần

2.2.2 Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Bình Dương theo ngành:

Tính đến hết năm 2004, tỷ trọng các dự án có vốn đầu tư nước ngoài theo ngành của Bình

Dương như sau:

Bảng 2.2: Số dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép năm 1989-2004

phân theo ngành kinh tế (ĐVT: triệu USD)

Chỉ tiêu

Số dự án

Tỷ trọng

Vốn đăng ký

Tỷ trọng

(Nguồn: Niên giám Thống kê Bình Dương năm 2004)

Qua bảng trên, chúng ta thấy các dự án FDI hoạt động ở hầu hết các ngành kinh tế quốc

dân và có sự chuyển dịch phù hợp hơn với yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế

tỉnh Lĩnh vực công nghiệp thu hút số dự án và vốn đầu tư lớn nhất, cụ thể: chiếm tỷ trọng

97,51% trong tổng số dự án và chiếm 92,94% trong tổng vốn FDI Đứng thứ hai là khu vực dịch

vụ chiếm 0,83% số dự án và 4,06% tổng vốn đầu tư Trong đó, chủ yếu tập trung vào dịch vụ

kho lạnh và vận chuyển hàng hóa , dịch vụ xuất nhập khẩu … còn hoạt động văn hóa thể thao

chỉ có 1 dự án chiếm 0.12% số dự án và 0.67% vốn đăng ký Đứng thứ 3 là nông, lâm nghiệp

chỉ chiếm 0,83% số dự án và 1,93% tổng vốn đầu tư Vốn đầu tư thu hút vào lĩnh vực nông

Trang 31

nghiệp luôn ở mức thấp không chỉ xãy ra ở Bình Dương mà đây là tình trạng chung của cả nước Và cuối cùng là khu vực giao thông vận tải, bưu điện chiếm tỷ trọng thấp, 0,17% tổng vốn đầu tư với 2 dự án Tình hình trên đây cho thấy, xu hướng chung, các nhà đầu tư nước ngoài chỉ chú trọng đến các lĩnh vực có khả năng thu hút hồi vốn nhanh, hiệu quả kinh tế cao Do đó để thực hiện tốt mục tiêu chuyển dịch cơ cấu theo đúng hướng, Nhà nước cần có nhiều chính sách thông thoáng hơn nữa

2.2.3 Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Bình Dương theo vùng, lãnh thổ:

Qua 15 năm thu hút đầu tư nước ngoài, kể từ dự án đầu tiên của Hồng Kông đến nay đã có hơn 34 quốc gia và vùng lãnh thỗ đầu tư vào tỉnh Bình Dương Trong đó, xuất hiện ngày càng nhiều các tập đoàn, công ty xuyên quốc gia có năng lực về tài chính và công nghệ Đặc biệt tỷ lệ các nhà đầu tư châu Á chiếm vị trí cao nhất với 811 dự án chiếm 84,3% tổng số dự án và

81,95% tổng vốn đầu tư vào Bình Dương Xem Phụ lục 3 (Hình 2.1: 5 Vùng, lãnh thổ đầu tư vào Bình Dương cao nhất đến 2004)

Trong số 962 dự án từ 1989-2004 thì riêng nhà đầu tư Đài Loan đã có 424 dự án (chiếm 44,07% tổng dự án) dẫn đầu về số dự án đầu tư vào Bình Dương với tổng vốn đầu tư là 1.411,84 triệu USD (chiếm 33,54%) Đài Loan bắt đầu tham gia đầu tư vào Bình Dương từ cuối năm 1992 sau hơn 5 năm nghiên cứu tình hình thị trường Hiện nay, các chủ đầu tư Đài Loan đã có hẵn một KCN riêng và chính các KCN ấy cũng do họ đầu tư Các dự án của Đài Loan thường là các dự án vừa và nhỏ, trung bình một dự án khoảng 3,33 triệu USD vì các dự án nhỏ sẽ ít bị ảnh hưởng khi có sự cố tài chính, dễ lựa chọn và thuê nhân công, đầu tư nhanh có lời nhanh Họ chủ trương là vốn đầu tư ban đầu thấp, sau đó tùy theo tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh mà ra quyết định tăng vốn hay giảm vốn đầu tư Đứng thứ hai là nhà đầu tư Singapore với vốn đầu tư 536,57 triệu USD cho 62 dự án Tuy số dự án thấp nhưng Singapore lại có vốn đầu tư cao nên vốn đầu tư trung bình của một dự án là 8,65 triệu USD Nhật Bản,

Trang 32

một con hổ Châu Á, cũng có mức vốn đầu tư trung bình cũng giống như Singapore là 8,66 triệu USD/ dự án, số dự án đầu tư của Nhật Bản là 48 dự án

Quy mô đầu tư cao nhất tại Bình Dương là các dự án của Hồng Kông, 9,79 triệu USD /dự án với tổng số dự án là 32 dự án Trung Quốc, Hàn Quốc cũng là những quốc gia có số lượng dự án đầu tư vào Bình Dương khá cao, quy mô của các dự án này khoảng 2,2 triệu USD /dự án, chủ yếu là các dự án trong ngành công nghiệp gốm sứ, điện tử, điện, may mặc, sản xuất trang thiết bị, phụ tùng xe hơi…

Bên cạnh các quốc gia Châu Á có số dự án đầu tư lớn vào Bình Dương còn có các nước Châu Aâu và Bắc Mỹ với số dự án đầu tư ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong tổng lượng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam nói chung và tỉnh Bình Dương nói riêng Các nước này khi đầu tư vào Bình Dương đã đem đến một nguồn công nghệ hiện đại và phương thức quản lý tiên tiến góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Điển hình là Hoa Kỳ chiếm 3,33% tổng số dự án, về vốn trung bình là 5,15 triệu USD, một quốc gia được dự báo là sẽ tăng lượng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong 3 năm tới

Xem Phụ lục 3 (Bảng 2.3: Số dự án FDI 1988-2004 phân theo đối tác đầu tư )

2.3 Những tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với quá trình phát triển ở Bình Dương:

2.3.1 Những tác động tích cực :

Hơn 16 năm thực hiện Luật đầu tư nước ngoài tại tỉnh Bình Dương cho thấy: vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã, đang và sẽ là một bộ phận quan trọng của kinh tế tỉnh Thật vậy, vốn FDI đã có những đóng góp tích cực cho quá trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh trong các lĩnh vực sau:

Trang 33

(1) FDI bổ sung nguồn vốn quan trọng cho tăng trưởng kinh tế:

Trong những năm bắt đầu thời kỳ đổi mới, khi nguồn đầu tư trong nước còn hạn chế, luật đầu tư nước ngoài được ban hành kịp thời đã bổ sung nguồn vốn quan trọng cho tăng trưởng phát triển kinh tế của tỉnh, chúng ta thật khó hình dung bức tranh kinh tế của Bình Dương nếu không có hình ảnh của những nhà đầu tư nước ngoài

Theo quyết định của Chính phủ, năm 1997, Bình Dương được thành lập, tách ra từ tỉnh Sông Bé, tập trung phát triển công nghiệp, dịch vụ, đặc biệt là tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài

Do đó, kinh tế Bình Dương đã đạt được tốc độ tăng trưởng GDP khá cao và duy trì được tốc độ này trong suốt giai đoạn 1997-2004

Bảng 2.4: Tốc độ tăng GDP và tốc độ tăng của FDI 1997-2004

Tốc độ tăng trưởng

Tốc độ tăng FDI (%) 8,1 25,61 -8,36 -20,5 -29,2 -31,4 7,22 3,46

(Nguồn: Niên giám Thống kê Bình Dương năm 2004)

FDI đóng góp vào tăng trưởng GDP của tỉnh nhà, tuy có những năm GDP tăng nhưng FDI lại giảm như gia đoạn 1999-2001 Thu hút FDI trong năm không có nghĩa là việc thu hút này có tác dụng làm tăng GDP ngay trong năm đó, mà nó còn phải mất nhiều thời gian để triển khai dự án, nên tác dụng của nó sẽ kéo dài trong nhiều năm Tốc độ tăng trưởng GDP trung bình trong giai đoạn 1997-2000 là 14,15%, giai đoạn 2001-2004 là 15,3% Năm 1997 là năm có tốc độ tăng GDP cao nhất, năm 1998 lại có tốc độ tăng FDI cao nhất khoảng thời gian 1997-2004 Có mối quan hệ gắn bó giữa tăng trưởng kinh tế với FDI Hơn nữa, với vốn FDI, Bình Dương vừa bổ sung nguồn vốn cho tăng trưởng kinh tế vừa không làm tăng nợ nước ngoài như vốn ODA hay vốn vay ngắn hạn

Trang 34

(2) Đầu tư nước ngoài làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH:

Cơ cấu thu hút vốn đầu tư FDI của Bình Dương thay đổi theo chiều hướng ngày càng phù hợp hơn với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế: công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu Hiện nay, vốn FDI chủ yếu tập trung vào lĩnh vực sản xuất vật chất và tăng nhanh qua các năm

Đến hết năm 2004, các dự án hoạt động ở hầu hết các ngành kinh tế nhưng tập trung phần lớn là ở các ngành: trong đó lớn nhất là công nghiệp chiếm 97,51% tổng số dự án và 92,14% tổng số vốn đầu tư, rãi trên 24 ngành công nghiệp chế biến và 2 ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, gas, khí đốt, nước Rồi kế đến là ngành dịch vụ chiếm 0,83% tổng số dự án , 4,06% tổng vốn đầu tư , và chủ yếu là dịch vụ văn phòng cho thuê, kho lạnh, dịch vụ khác Còn nông lâm nghiệp mặc dù là khu vực tập trung hơn 70% dân số tỉnh nhưng chỉ thu hút 0,83% số dự án và chiếm 1,93% trên tổng vốn đầu tư Nhìn chung:

- Trong những năm đầu, nhà đầu tư nước ngoài chủ yếu đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến nông lâm sản, dựa trên nguồn nguyên liệu sẵn có ở địa phương như: chế biến gỗ, sản xuất đủa tre, sản phẩm cao su … Trong những năm sau này, vốn FDI tập trung nhiều vào ngành công nghiệp kỹ thuật cao như : sản xuất hàng linh kiện điện tử, phụ tùng xe ô tô, xe máy, sản xuất nhựa PVC, kính cao cấp, ti vi, tủ lạnh, máy điều hòa …

- Với xu hướng thu hút FDI như hiện nay, khu vực có vốn FDI ngày càng đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế của Bình Dương, đặc biệt làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH thông qua giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực này luôn có tốc độ tăng trưởng cao (gần 50%/năm) và chiếm tỷ trọng lớn trong ngành công nghiệp của tỉnh (năm 2004

là 52,96%)

(3) Đầu tư nước ngoài góp phần phát triển kinh tế vùng:

Đến nay các dự án FDI trên địa bàn tỉnh Bình Dương đều được bố trí vào các cụm quy hoạch phát triển sản xuất công nghiệp (hay KCN), theo đúng địa giới hành chính của tỉnh nhằm khai

Trang 35

thác đúng tiềm năng của từng khu vực để tạo sự phát triển cân đối giữa các khu vực, tạo ra vành đai công nghiệp phát triển bao bọc trung tâm thị xã Thủ Dầu Một Tất cả các huyện, thị đều có dự án đầu tư nước ngoài dù có những huyện chỉ có 1 dự án đầu tư như vào huyện Phú Giáo, huyện Dầu Tiếng Đầu tư FDI tại Bình Dương rất thuận lợi bởi gần nguồn nguyên liệu, thị trường tiêu thụ sản phẩm, hơn nữa, giá đất lại tương đối rẻ hơn so với TP Hồ CHí Minh, hệ thống giao thông được nâng cấp và hoàn thiện tạo điều kiện cho lưu thông hàng hóa được dễ dàng

Xem Phụ lục 3 (Bảng 2.5: Số dự án FDI phân theo địa bàn 1989-2004)

Tính đến hết năm 2004, Bình Dương có 12 KCN được Chính phủ cấp giấy phép với tổng diện tích là 2.431 ha và 01 khu Liên hợp Công nghiệp dịch vụ Đô thị diện tích 4.196 ha Các KCN đã thu hút 422 dự án đầu tư nước ngoài (chiếm 43,86% số dự án FDI vào tỉnh Bình Dương) Riêng năm 2004 các KCN đã giải quyết việc làm cho 26.000 lao động, chiếm 78% số lao động được giải quyết việc làm trong năm của tỉnh Theo định hướng của tỉnh vẫn là tăng cường thu hút các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào các KCN và hiện đang mở rộng một số KCN ở phía Bắc, trước đây là các vùng chuyên sản xuất nông nghiệp

Có thể nói rằng, việc gia tăng các dự án FDI gắn liền với việc hình thành các KCN ở Bình Dương đã làm gia tăng đáng kể năng lực sản xuất của các huyện thị, từ đó, làm thay đổi bộ mặt kinh tế của toàn tỉnh, góp phần cải tạo cơ cấu kinh tế tỉnh thông qua việc giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ

(4) Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần phát triển khoa học công nghệ:

Thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp, các nhà đầu tư nước ngoài đã tiến hành chuyển giao công nghệ Nhiều công nghệ mới đã được nhập vào Bình Dương như lắp ráp sản xuất ô tô, tổng đài điện thoại kỹ thuật số, sản xuất cáp quang, dây chuyền tự động lắp ráp hàng điện tử … Một số thiết bị đã qua sử dụng đã được nâng cấp trước khi đưa vào Bình Dương Nhằm đạt được lợi

Trang 36

nhuận trong bối cảnh ngày càng cạnh tranh gay gắt, các nhà đầu tư nước ngoài buộc phải

chuyển giao các kỹ thuật hiện đại và từng bước nâng lên vì: thứ nhất, kinh tế thị trường buộc

các nhà kinh doanh nói chung phải cải tiến kỹ thuật, nếu không về lâu dài sẽ không tồn tại

được; thứ hai, do chính sách mở cửa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, nên các nhà đầu tư nước

ngoài dù rất muốn độc quyền công nghệ nhưng vì phải cạnh tranh với nhiều nước khác hoạt động cùng ngành trong tỉnh Bình Dương hoặc ở các tỉnh khác nên phải từng bước nâng cao kỹ

thuật, thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ; thứ ba, là phải kể đến các doanh nghiệp Việt

Nam trong việc tiếp nhận khoa học công nghệ Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của cơ chế mở, để tồn tại và phát triển, rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam trong tỉnh đã tự thay đổi dây chuyền công nghệ, tự trang bị mới thiết bị, nâng cao chất lượng và mẫu mã, đồng thời học tập kinh nghiệm của các nhà đầu tư nước ngoài về quản lý và tổ chức sản xuất

Ngoài ra, để đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả nhất định, các nhà đầu tư nước ngoài thường tổ chức đào tạo và nâng cao tay nghề cho người lao động, kể cả lao động trực tiếp và đội ngũ quản lý

Như vậy, thông qua hoạt động chuyển giao công nghệ, FDI không chỉ góp phần tạo ra những sản phẩm mới chất lượng cao đạt các tiêu chuẩn Việt Nam và quốc tế, mà còn đào tạo nên một đội ngũ lành nghề và cán bộ quản lý có trình độ cho địa phương, đồng thời tạo môi trường cạnh tranh, thúc đẩy doanh nghiệp trong tỉnh phải tự đổi mới để tồn tại

(5) FDI có tác động tích cực đến cân đối tài chính của tỉnh:

Nhìn chung, các dự án FDI đã dần đi vào ổn định, tăng doanh thu, nên góp phần rất lớn trong việc gia tăng nguồn thu ngân sách của tỉnh Nếu năm 1996, một năm trước khi tách tỉnh, khu vực FDI chỉ đóng góp 35,941 tỷ đồng, chiếm 5,1% trong tổng thu ngân sách thì sang năm 2004, số nộp vào ngân sách của các doanh nghiệp này đã là 968 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 37% và đã

Trang 37

tăng hơn 20 lần so với năm 1997 Sở dĩ có sự tăng cao này là do sự thay đổi tích cực của chính sách thuế, sự chuyển biến tích cực trong lĩnh vực xuất nhập khẩu

Bảng 2.6: Đóng góp vào ngân sách của khu vực FDI

Thu ngân sách (tỷ đồng) 35,941 141,05 161,22 270,75 427,46 968Tỷ trọng trong tổng thu ngân

(Nguồn: Niên giám Thống kê tỉnh Bình Dương năm 2004)

Phải nhìn nhận rằng, khu vực FDI có tác động tích cực đến cân đối tài chính của tỉnh Bình Dương Thật vậy, ngoài việc gia tăng nguồn thu ngân sách, tạo khả năng chủ động hơn trong cân đối ngân sách tỉnh, khu vựa FDI góp phần cải thiện cán cân vãng lai, lành mạnh hóa cán cân thương mại Vì hiện nay ở khu vực này, tuy giá trị kim ngạch xuất khẩu luôn thấp hơn giá trị nhập khẩu nhưng việc nhập khẩu này là tích cực vì nó tạo ra tài sản cố định và khả năng phát triển sản xuất, tạo ra sản phẩm mới, làm tăng giá trị gia tăng trong từng ngành kinh tế hiện hữu Hơn nữa xét ở góc độ khác, tốc độ tăng giá trị nhập khẩu đang có xu hướng giảm dần từ 59,43% năm 1997 và đến năm 2004 thì tốc độ tăng này chỉ còn là 41,06% Trong khi đó, giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh từ 42,905 ngàn USD năm 1996 và 2004 kim ngạch xuất khẩu của tỉnh đã đạt là 1.353 ngàn USD

Giải thích cho sự tăng trưởng này là những năm đầu tham gia thị trường Việt Nam, các doanh nghiệp FDI nhắm vào thị trường nội địa Với chính sách ưu đãi, khuyến khích xuất khẩu của Chính phủ, các doanh nghiệp này đã chú trọng đầu tư và gia tăng hàng xuất khẩu dẫn đến sự gia tăng tỷ trọng trong kim ngạch xuất khẩu Không những đóng góp trong giá trị kim ngạch xuất khẩu, các doanh nghiệp FDI còn góp phần đa dạng hóa hàng xuất khẩu của Bình Dương Nếu trước đây, Bình Dương chỉ xuất khẩu chủ yếu những mặt hàng thâm dụng lao động thì

Trang 38

trong những năm gần đây có xu hướng chuyển sang các mặt hàng công nghiệp thâm dụng kỹ

thuật

Mặt khác, cùng với việc gia tăng xuất khẩu, khu vực FDI còn tạo ra nguồn thu ngoại tệ tại

chỗ, đóng góp tiềm năng cho các ngành khách sạn, du lịch, góp phần cải thiện cán cân vãng lai

Hơn nữa nguồn vốn FDI chủ yếu là tư nhân từ nước ngoài, do họ tự cân đối hoặc bảo lãnh cho

vay, nên vừa bổ sung nguồn vốn quan trọng cho quá trình tăng trưởng kinh tế, vừa không gây

ảnh hưởng đến nợ Chính phủ, vừa có độ an toàn cao hơn so với các dự án sử dụng viện trợ

(Nguồn: Niên giám Thống kê tỉnh Bình Dương năm 2004)

(6) FDI tác động đến các mặt của đời sống xã hội Bình Dương

Tính đến cuối năm 2004, khu vực FDI đã thu hút khoảng 189.162 nghìn người lao động

trực tiếp và cả lao động gián tiếp ( lao động tham gia trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, sản xuất

nguyên vật liệu và các dịch vụ cung ứng …) Khu vực tập trung FDI không chỉ thu hút lao động

ở địa bàn tỉnh Bình Dương mà còn thu hút lao động từ các địa phương khác đến, chiếm gần

Trang 39

90% Đồng thời, đầu tư nước ngoài cũng góp phần chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động tạo ra đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ cao, công nhân lành nghề có khả năng tiếp thu và sử dụng công nghệ tiên tiến Ngoài ra cung cách quản lý của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, kể cả doanh nghiệp trong nước do gián tiếp chịu sự tác động của khu vực FDI đã thay đổi và tiến bộ rõ nét Năng suất lao động của khu vực FDI cao hơn rất nhiều so với mức trung bình của Bình Dương (từ 3- 6,5 lần)

Mặt khác, đầu tư trực tiếp nước ngoài còn có tác động rất lớn trong việc nâng cao mức sống của người dân thông qua thu nhập: thu nhập của người lao động trong các doanh nghiệp ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài thường cao hơn so với các doanh nghiệp khác trong tỉnh Với mức lương bình quân từ 700.000/tháng đến 900.000/ tháng Nên đây cũng là một lý do mà lao động thường có xu hướng chọn các doanh nghiệp nước ngoài làm nơi làm việc

(7) FDI góp phần cải thiện môi trường đầu tư :

Bên cạnh những tác động tích cực về mặt kinh tế, FDI cũng có những đóng góp tích cực trong việc đổi mới cơ chế quản lý, cải cách thủ tục hành chính, nâng cấp cơ sở hạ tầng cũng như kích thích các ngành dịch vụ phục vụ đầu tư nước ngoài ở Bình Dương phát triển

Thật vậy, trong thời gian qua, Bình Dương ra sức trong việc cải tạo môi trường đầu tư với chính sách “trải thảm đỏ” mời gọi các nhà đầu tư nước ngoài Đặc biệt, chính quyền địa phương đã thực hiện một cách có hiệu quả cơ chế quản lý “một cửa, tại chỗ”, giúp giải quyết nhanh chóng những khó khăn, vướng mắc của các nhà đầu tư, góp phần tích cực vào việc cải cách thủ tục hành chính, làm cho việc quản lý Nhà nước trở thành dịch vụ công quyền, phục vụ tốt cho các nhà đầu tư Với những cải cách tích cực như trên, Bình Dương trở thành một địa chỉ đỏ trong hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài ở Việt Nam

Nhiều dự án FDI đã đầu tư vào lĩnh vực bưu chính viễn thông, giao thông vận tải, năng lượng, làm đường cao tốc … đã góp phần làm cải thiện rõ nét hệ thống giao thông, bộ mặt đô thị,

Trang 40

nâng cấp nhanh chóng cơ sở hạ tầng – kỹ thuật của tỉnh, từ đó thúc đẩy các ngành và các lĩnh vực khác phát triển Đặc biệt là kích thích các ngành dịch vụ phục vụ hoạt động đầu tư nước ngoài phát triển, thể hiện ở sự xuất hiện ngày càng nhiều nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi giải trí, khu du lịch trên địa bàn tỉnh

Từ những phân tích và số liệu cụ thể trên, có thể khẳng định, hoạt động FDI đã có nhiều đóng góp tích cực cho quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Bình Dương

Tuy nhiên trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài, bên cạnh những đóng góp tích cực vẫn tồn tại không ít những vấn đề cần được quan tâm giải quyết, khắc phục, để nâng cao hiệu quả của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế ở Bình Dương

2.3.2 Những tác động tiêu cực :

Mặc dù là một trong năm tỉnh thành dẫn đầu cả nước về FDI, trong những năm qua FDI đã có những đóng góp to lớn trong quá trình phát triển chung của tỉnh nhưng nhìn chung vẫn còn một số mặt hạn chế, tiêu cực cần được khắc phục Đó là:

(1) FDI chưa tạo được động lực phát triển nhanh, bền vững cho nền kinh tế địa phương:

Tuy Bình Dương là một trong những tỉnh đứng đầu cả nước về thu hút đầu tư nước ngoài nhưng Bình Dương vẫn chưa có một chiến lược và cơ chế chính sách thu hút các dự án đầu tư có chọn lọc để đảm bảo tính hiệu quả bền vững cho quá trình phát triển kinh tế địa phương Cho nên, đa số các KCN của Bình Dương đều ở trong tình trạng ai xin đầu tư cũng cho mà chưa chú trọng thu hút những dự án vốn lớn, đầu tư lâu dài để làm đòn bẩy thúc đẩy tăng trưởng và phát triển liên ngành Điều này dẫn đến hệ quả là các dự án đều nhỏ về quy mô, chỉ từ 1 đến 2 triệu USD một dự án, công nghệ sử dụng giản đơn, các dự án chủ yếu đầu tư vào các ngành dệt, may, da, lắp ráp, chế biến thực phẩm, chế biến gỗ … là những ngành thâm dụng lao động nhiều Các dự

Ngày đăng: 27/03/2013, 16:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chu Viết Luân (2003), Bình Dương thế và lực mới trong thế kỷ 21, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình Dương thế và lực mới trong thế kỷ 21
Tác giả: Chu Viết Luân
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2003
2. GS.TS Võ Thị Thanh Thu (2003), Quan hệ kinh tế quốc tế, NXB Thống Kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ kinh tế quốc tế
Tác giả: GS.TS Võ Thị Thanh Thu
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 2003
3. Trần Văn Tùng (2003), Chất lượng tăng trưởng nhìn từ Đông Á, NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng tăng trưởng nhìn từ Đông Á
Tác giả: Trần Văn Tùng
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2003
5. Philip Kotler, Marketing Asia Places, Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright Hà Nội tháng 11/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marketing Asia Places
6. Josepb E.Stigliz và Shahid Yusuf (2002), Suy gẫm lại sự thần kỳ Đông Á, NXB Chính trị quoác gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy gẫm lại sự thần kỳ Đông Á
Tác giả: Josepb E.Stigliz và Shahid Yusuf
Nhà XB: NXB Chính trị quoác gia
Năm: 2002
11. Báo cáo tổng hợp (2004), Định hướng chuyển dịch cơ cấu nội bộ các ngành kinh tế Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, UBND tp Hồ Chí Minh – Viện Kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng chuyển dịch cơ cấu nội bộ các ngành kinh tế Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Tác giả: Báo cáo tổng hợp
Năm: 2004
14. Kỷ yếu hội thảo (2005), Thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Bình Dương và những giải pháp, UBND tỉnh Bình Dương.Tieáng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Bình Dương và những giải pháp
Tác giả: Kỷ yếu hội thảo
Năm: 2005
15. Dragon Capital (2005), Vietnam Quiet Outperformance, Newyork Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vietnam Quiet Outperformance
Tác giả: Dragon Capital
Năm: 2005
16. Kenichi Ohno (2004), Designing a comprehensive and realistic industrial strategy, Vietnam development forum No.1 (E) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Designing a comprehensive and realistic industrial strategy
Tác giả: Kenichi Ohno
Năm: 2004
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Nghị quyết hội nghị lần thứ 9 TW khóa IX Khác
7. Cục Thống kê Bình Dương (2005), Niên giám thống kê Bình Dương 2004 Khác
8. Sở Kế hoạch và Đầu tư Bình Dương (2001), Chiến lược phát triển kinh tế xã hội Bình Dương giai đoạn 2001-2010 Khác
9. Tổng cục Thống kê (2005), Niên giám thống kê Việt Nam 2004 Khác
10. UBND tỉnh Bình Dương (2005), Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bình Dương đến năm 2020 Khác
12. Hiệp hội các doanh nghiệp KCN Tp Hồ Chí Minh (2004), Chương trình hội thảo về KCN – KCX Vieọt Nam Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Số dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép năm 1989-2004  phân theo ngành kinh tế  (ĐVT: triệu USD) - 304 Nâng cao khả năng vốn đầu tư nước ngoài trong quá trình phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bình Dương giai đoạn 2006 - 2010
Bảng 2.2 Số dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép năm 1989-2004 phân theo ngành kinh tế (ĐVT: triệu USD) (Trang 30)
Bảng 2.4: Tốc độ tăng GDP và tốc độ tăng của FDI   1997-2004 - 304 Nâng cao khả năng vốn đầu tư nước ngoài trong quá trình phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bình Dương giai đoạn 2006 - 2010
Bảng 2.4 Tốc độ tăng GDP và tốc độ tăng của FDI 1997-2004 (Trang 33)
Bảng 2.6: Đóng góp vào ngân sách của khu vực FDI - 304 Nâng cao khả năng vốn đầu tư nước ngoài trong quá trình phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bình Dương giai đoạn 2006 - 2010
Bảng 2.6 Đóng góp vào ngân sách của khu vực FDI (Trang 37)
Bảng 2.7: Kim ngạch xuất nhập khẩu của khu vực FDI  giai đoạn 1996-2004 - 304 Nâng cao khả năng vốn đầu tư nước ngoài trong quá trình phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bình Dương giai đoạn 2006 - 2010
Bảng 2.7 Kim ngạch xuất nhập khẩu của khu vực FDI giai đoạn 1996-2004 (Trang 38)
Hình 2.2: Vốn thu hút FDI ở VKTTĐPN năm 2004 - 304 Nâng cao khả năng vốn đầu tư nước ngoài trong quá trình phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bình Dương giai đoạn 2006 - 2010
Hình 2.2 Vốn thu hút FDI ở VKTTĐPN năm 2004 (Trang 44)
Hình 2.3: Số dự án đầu tư nước ngoài thu hút qua các năm ở Bình Dương - 304 Nâng cao khả năng vốn đầu tư nước ngoài trong quá trình phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bình Dương giai đoạn 2006 - 2010
Hình 2.3 Số dự án đầu tư nước ngoài thu hút qua các năm ở Bình Dương (Trang 45)
Hình 2.5: Tỷ trọng ngành C trong trong cơ cấu công nghiệp một số tỉnh - 304 Nâng cao khả năng vốn đầu tư nước ngoài trong quá trình phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bình Dương giai đoạn 2006 - 2010
Hình 2.5 Tỷ trọng ngành C trong trong cơ cấu công nghiệp một số tỉnh (Trang 47)
Hình 2.6: Tỷ trọng ngành T trong trong cơ cấu công nghiệp một số tỉnh - 304 Nâng cao khả năng vốn đầu tư nước ngoài trong quá trình phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bình Dương giai đoạn 2006 - 2010
Hình 2.6 Tỷ trọng ngành T trong trong cơ cấu công nghiệp một số tỉnh (Trang 48)
Bảng 2.1: Tình hình thu hút FDI tại Bình Dương 1989-2004 - 304 Nâng cao khả năng vốn đầu tư nước ngoài trong quá trình phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bình Dương giai đoạn 2006 - 2010
Bảng 2.1 Tình hình thu hút FDI tại Bình Dương 1989-2004 (Trang 89)
Bảng 2.3: Số dự án FDI 1988-2004 phân theo đối tác đầu tư - 304 Nâng cao khả năng vốn đầu tư nước ngoài trong quá trình phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bình Dương giai đoạn 2006 - 2010
Bảng 2.3 Số dự án FDI 1988-2004 phân theo đối tác đầu tư (Trang 90)
Bảng 2.5: Số dự án FDI phân theo địa bàn 1989-2004 - 304 Nâng cao khả năng vốn đầu tư nước ngoài trong quá trình phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bình Dương giai đoạn 2006 - 2010
Bảng 2.5 Số dự án FDI phân theo địa bàn 1989-2004 (Trang 91)
Bảng 2.9:  5 địa phương thu hút FDI cao nhất Việt Nam 1988-2004 - 304 Nâng cao khả năng vốn đầu tư nước ngoài trong quá trình phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bình Dương giai đoạn 2006 - 2010
Bảng 2.9 5 địa phương thu hút FDI cao nhất Việt Nam 1988-2004 (Trang 92)
Hình 2.1: 5 Vùng, lãnh thổ đầu tư vào Bình Dương cao nhất đến 2004  5 Vùng, lãnh thổ đầu tư vào Bình Dương cao nhất - 304 Nâng cao khả năng vốn đầu tư nước ngoài trong quá trình phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bình Dương giai đoạn 2006 - 2010
Hình 2.1 5 Vùng, lãnh thổ đầu tư vào Bình Dương cao nhất đến 2004 5 Vùng, lãnh thổ đầu tư vào Bình Dương cao nhất (Trang 93)
Bảng 2.11: FDI ở khu vực miền Đông Nam Bộ từ 1988 – 2005  ( đến 15/8/2005 chỉ tính các dự án còn hiệu lực) - 304 Nâng cao khả năng vốn đầu tư nước ngoài trong quá trình phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bình Dương giai đoạn 2006 - 2010
Bảng 2.11 FDI ở khu vực miền Đông Nam Bộ từ 1988 – 2005 ( đến 15/8/2005 chỉ tính các dự án còn hiệu lực) (Trang 93)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w