259 Giải pháp thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế Quốc tế
Trang 1ĐỀ TÀI : GIẢI PHÁP THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
TẠI VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP
VỚI NỀN KINH TẾ QUỐC TẾ
MỞ ĐẦU
Một nền kinh tế muốn phát triển, tăng trưởng nhanh và bền vững trước hết phải đảm bảo đủ nhu cầu về vốn đầu tư Đồng thời muốn có vốn đầu tư lớn và dài hạn đòi hỏi phải gia tăng tiết kiệm trong nước cũng như tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài Tăng trưởng kinh tế cao sẽ tạo điều kiện để tăng tỷ lệ tiết kiệm và từ đó tăng khả năng cung ứng vốn để đầu tư Đây chính là mối quan hệ nhân quả và là nền tảng để phát triển kinh tế xã hội, mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập quốc dân và cải thiện đời sống người dân
Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, nền kinh tế
thế giới đã có những bước phát triển nhẩy vọt Đồng thời các công ty đa quốc gia cũng phát triển rất mạnh, chủ trương của các công ty đa quốc gia là liên kết chiếm vị thế độc quyền sản phẩm Để thu được lợi nhuận cao nhất, các quốc gia cũng như các công ty đa quốc gia đều muốn xâm nhập xác lập thị phần tại các nước khác Từ đó xu thế toàn cầu hoá là kết qủa tất yếu của quá trình phát triển kinh tế Toàn cầu hoá xét về bản chất là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, sự tác động và phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các nước và các khu vực Tiến trình toàn cầu hoá kinh tế xuất hiện và phát triển cùng với sự phát triển của thị trường thế giới Sự gia tăng xu hướng này được thể hiện ở sự mở rộng mức độ và quy mô thương mại thế giới và sự luân chuyển của các dòng vốn, lao động trên phạm vi toàn cầu
Các công ty đa quốc gia để mở rộng kinh doanh quốc tế đều hướng vào những yếu tố :
• Lý thuyết lợi thế cạnh tranh
Trang 2• Lý thuyết thị trường không hoàn hảo
• Lý thuyết về chu kỳ sản phẩm
Cả ba lý thuyết này trùng lắp ở một mức độ và có thể bổ xung cho nhau trong việc triển khai một lý do căn bản về phát triển kinh doanh quốc tế
Ơû các quốc gia khác nhau, trình độ phát triển, lợi thế đều khác nhau Các nước đang phát triển nhu cầu cần vốn đầu tư cho tăng trưởng và phát triển là vô cùng cần thiết Do vậy việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài là kênh huy động vốn rất quan trọng cho tăng trưởng và phát triển đặc biệt những nước bắt đầu phát triển như Việt Nam Nguồn vốn đầu tư nước ngoài trên thị trường quốc tế đều khác nhau giữa các nước do những lợi thế các nước khác nhau như đã trình bày ở trên Nguồn vốn để tài trợ cho đầu tư bao gồm tiết kiệm trong nước và vốn đầu
tư nước ngoài Trong đó huy động vốn đầu tư nước ngoài qua các hình thức :
1 Đầu tư trực tiếp
2 Đầu tư gián tiếp
Đầu tư gián tiếp bao gồm :
Mục đích nghiên cứu của đề tài :
Mặc dù đã có một số đề tài nghiên cứu về vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, song đề tài này sẽ tiếp cận với những số liệu thống kê mới nhất để đánh giá xu hướng đầu tư nước ngoài trên thế giới, đánh giá cách tiếp cận của một số
Trang 3hút vốn tại Việt nam để đề ra những chiến lược thu hút nguồn vốn này cho tăng trưởng và phát triển bền vững nền kinh tế
Đối tựơng và phạm vi nghiên cứu :
Đối tượng là dòng vốn đầu tư nước ngoài quốc tế và dòng vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu : dòng vốn đầu tư nước ngoài tại Việt nam từ khi chúng ta bắt đầu thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế
Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu hiện tượng kinh tế về dòng vốn thu hút đầu tư nước ngoài sử dụng phương pháp nhận thức khoa học Phép biện chứng duy vật, học thuyết về những mối liên hệ, những quy luật chung nhất của sự phát triển là cơ sở của việc nghiên cứu khoa học Phương pháp nghiên cứu sử dụng phương pháp duy vật biện chứng cho việc nghiên cứu đề tài
Những điểm mới của đề tài :
Đánh giá thực trạng dòng vốn đầu tư nước ngoài trên thế giới và Việt Nam, xu hướng vận động của dòng vốn này trong bối cảnh nền kinh tế cũng như tình hình chính trị hiện nay trên thế giới và Việt nam có rất nhiều thay đổi, đề từ đó đề ra những giải pháp thu hút nguồn vốn này cho phát triển nền bền vững nền kinh tế của Việt Nam
Nội dung kết cấu của đề tài :
Đề tài được chia thành 3 chương :
Chương 1 : Khái quát lý luận về đầu tư nước ngoài
Chương 2 : Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam
Chương 3 : Giải pháp để thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 4CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
1 1 Khái niệm về đầu tư nước ngoài
Là sự bỏ vốn của chủ đầu tư vào kinh doanh thương mại quốc tế hoặc kinh doanh một lĩnh vực nào đó ở nước ngoài nhằm mục đích kiếm lời
Đầu tư nước ngoài được xét theo mức độ quản lý của nhà đầu tư vào đối tượng bỏ vốn :
1.1.1 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ( Foreign Direct Investment - FDI )
Theo quan điểm vĩ mô : Chủ đầu tư trực tiếp đưa vốn và kỹ thuật vào nước nhận đầu tư, thực hiện quá trình sản xuất, kinh doanh, trên cơ sở thuê mướn, khai thác các yếu tố cơ bản ở nước sở tại như tài nguyên, sức lao động, cơ sở vật chất… Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu là nguồn vốn đầu tư của các công
ty xuyên quốc gia, đầu tư ra nước ngoài
Theo quan điểm vi mô : Chủ đầu tư góp một lượng vốn lớn, đủ để họ trực tiếp tham gia vào việc quản lý, điều hành đối tượng bỏ vốn
1.1.1.1 Các hình thức đầu tư trực tiếp
Có nhiều hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tùy theo luật đầu tư của các nước và thường có các hình thức sau : hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, hợp đồng xây dựng-vận hành-chuyển giao ( BOT )… Các hình thức này thường được thực hiện tại các khu vực đầu tư đặc biệt như : khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung, đặc khu kinh tế, thánh phố mở…
Hợp đồng hợp tác kinh doanh ( Contractual business cooperation ) là văn
bản được ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên ( các bên tham gia ) trong đó quy
Trang 5định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên tham gia để tiến hành đầu tư kinh doanh ở nước chủ nhà
Doanh nghiệp liên doanh ( Joint venture Enterprise ) là doanh nghiệp
được hình thành trên cơ sở liên kết của các DN trong và ngoài nước theo luật pháp của nước chủ nhà; các bên tham gia liên doanh sẽ chịu trách nhiệm lẫn nhau trong phạm vi phần vốn góp của mình vào liên doanh
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài ( Enterprise With one hundred
percent foreign owned capital ) là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà đầu
tư nước ngoài tại nước chủ nhà, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh Dưới hình thức này cũng có các dạng công ty : Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty tư nhân…
Hợp đồng “ Xây dựng – kinh doanh – chuyển giao “ ( BOT ) là các văn bản mà chính phủ chủ nhà ký với các nhà đầu tư bên ngoài để xây dựng, kinh doanh các công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định đủ để thu hồi vốn, lãi Khi hết hạn công trình sẽ được nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao cho nước chủ nhà mà không đòi bồi hoàn Có nhiều loại hình tương tự như BOT như : “ Xây dựng – chuyển giao – kinh doanh – ( BTO ), “ Xây dựng – chuyển giao “ ( BT )
1.1.1.2 Đặc điểm của đầu tư trực tiếp :
Thứ nhất, tỷ lệ vốn của các nhà ĐTNN trong vốn pháp định đạt mức độ tối thiểu theo luật đầu tư của từng quốc gia quy định Chẳng hạn tại Việt Nam quy định chủ ĐTNN phải góp tối thiểu 30% vốn pháp định của dự án, ở Mỹ quy định phải góp tối thiểu 10% vốn pháp định, còn một số nước khác là 20%
Thứ hai, các chủ đầu tư trực tiếp quản lý, điều hành và chịu trách nhiệm về các hoạt động của dự án phù hợp với số vốn mà họ đã bỏ ra Việc phân chia kết quả kinh doanh cho các bên tham gia dựa trên tỷ lệ góp vốn
Trang 6Thứ ba, đầu tư trực tiếp thường được thực hiện thông qua các phương thức : Xây dựng mới, mua lại toàn bộ hay từng phần của một cơ sở đang hoạt động, mua cổ phiếu của các công ty cổ phần để thao túng hay sáp nhập
1.1.2 Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài ( Foreign Indirect Investment - FII )
Theo quan điểm vĩ mô : Nước chủ nhà nhận vốn từ nước ngoài vào dưới hình thức
vay vốn hoặc nhận viện trợ của một tổ chức quốc tế hoặc một nước nào đó Nước chủ nhà sử dụng vốn vay cho mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của quốc gia hoặc cho các DN trong nước vay lại vốn vay từ nước ngoài Sau một khoảng thời gian nhất định chính phủ nước chủ nhà phải hoàn trả cả gốc và lãi dười hình thức tiền tệ hay hàng hoá
Theo quan điểm vi mô : Chủ đầu tư góp một phần vốn vào công ty dười hình thức
cho vay, mua cổ phần, cổ phiếu…, họ không tham gia trực tiếp vào việc điều hành, chi phối hoạt động của đối tượng được đầu tư, mà chỉ đơn thuần được nhận một phần lợi nhuận theo tỷ lệ vốn góp
1.1.2.1 Đặc điểm của đầu tư gián tiếp
Nhà đầu tư không trực tiếp kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh
Thường đi kèm theo các điều kiện ưu đãi gắn với chính trị ( Vốn nhà nước ) Thường bị giới hạn bởi luật đầu tư của nước sở tại Chẳng hạn khi mua cổ phiếu các nhà đầu tư nước ngoài thường bị khống chế ở mức 10-25% vốn pháp định Các chủ ĐTNN nhận thu nhập qua hình thức lãi suất cho vay hay lợi tức cổ phần Đầu tư gián tiếp có độ rủi ro thấp vì kinh doanh có lời lỗ như thế nào nhà đầu tư cũng nhận được phần thu nhập của mình dưới hình thức lãi suất ( Đối với phần vốn cho vay ) Rủi ro chỉ có đối với hình thức mua cổ phiếu, tuy nhiên phần này cũng ít do bị hạn chế bởi luật pháp của nước sở tại
1.1.2.2 Vốn đầu tư gián tiếp bao gồm các hình thức đầu tư :
Trang 7Là hình thức đầu tư mà người chủ đầu tư mua các chứng khoán có giá trên thị trường chứng khoán Các chứng khoán thường là các trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty và các cổ phiếu
Đầu tư trái phiếu thực chất là một khoản cho vay của nhà đầu tư đối với chính phủ, hoặc các tổ chức kinh tế của một quốc gia vay một lượng vốn nhất định, theo một lãi suất đã định trước trong một thời gian nhất định
Đầu tư cổ phiếu là nhà đầu tư tiến hành mua cổ phiếu của các công ty Tuỳ theo quy định của từng quốc gia, việc mua cổ phiếu của các công ty trong khoảng từ 10-25% vốn pháp định Người nắm cổ phiếu là chủ đầu tư của công ty và hưởng lợi tức cổ phần
1.1.2.2.2 Cho vay thương mại
Cho vay thương mại là hình thức các nhà đầu tư ( các ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính, tín dụng nước ngoài … ), cho các đối tác ( có thể chính phủ một nước, hay tư nhân ) vay một khoản tín dụng Sau một thời gian nhất định, chủ đầu tư sẽ được nhận lại khoản vốn của mình kèm một khoản thu nhập theo lãi suất thị trường tài chính-tiền tệ thế giới
1.1.2.2.3 Vốn hỗ trợ phát triển chính thức ( ODA )
Khái niệm ODA ( Official Development Assistance ) được ủy ban viện trợ phát triển ( DAC- Development Assistance Committee ) của OECD chính thức đề cập đến vào năm 1969; nhưng đến nay chưa có định nghĩa hoàn chỉnh về ODA Tuy nhiên sự khác biệt giữa các định nghĩa không nhiều, có thể thấy qua một số
ý kiến sau :
Theo ủy ban viện trợ phát triển : Viện trợ phát triển chính thức ODA là nguồn vốn hỗ trợ chính thức từ bên ngoài bao gồm các khoản viện trợ và cho vay với các điều kiện ưu đãi; ODA được hiểu là nguồn vốn giành cho các nước đang và kém phát triển, được các cơ quan chính thức của các chính phủ trung ương và
Trang 8địa phương hoặc các cơ quan thừa hành của chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ tài trợ Vốn ODA phát sinh từ nhu cầu cần thiết của một quốc gia, một địa phương, một ngành, được các tổ chức quốc tế hay nước bạn xem xét và cam kết tài trợ, thông qua một hiệp định quốc tế được đại diện có thẩm quyền hai bên nhận và hỗ trợ vốn ký kết Hiệp định quốc tế hỗ trợ này được chi phối bởi công pháp quốc tế
Nghị định 87/CP của Chính phủ Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 20/8/1997 định nghĩa ODA ( theo chương trình phát triển của Liên hiệp quốc ) : ODA là viện trợ không hoàn lại hoặc là cho vay ưu đãi của các tổ chức nước ngoài, với phần viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25% giá trị của khoản vốn vay
Theo định nghĩa của Nhật Bản : Một loại viện trợ muốn là ODA phải có đủ
3 yếu tố :
• Do chính phủ hoặc cơ quan thực hiện của chính phủ cấp
• Có mục đích góp phần phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi cho nước nhận viện trợ
• Tính ưu đãi phải trên 25%
Trong đó, tính ưu đãi là một chỉ số tổng hợp từ 3 yếu tố : Lãi suất, thời hạn trả nợ và thời gian hoãn trả nợ ( thời gian ân hạn ) trong tương quan so sánh với các yếu tố tương tự của ngân hàng thương mại Ví dụ : Viện trợ không hoàn lại trong ODA có tính ưu đãi là 100%, còn tính ưu đãi chung cho ODA Nhật năm
1994 là 76,6%
Như vậy, hỗ trợ phát triển chính thức ODA đúng như tên gọi của nó là nguồn vốn từ các cơ quan chính thức bên ngoài hỗ trợ cho các nước đang và kém phát triển hoặc các nước đang gặp khó khăn về tài chính thông qua các cơ quan chính thức, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc phát triển kinh tế, xã hội của các nước đó
Trang 91.2 Đặc điểm của đầu tư nước ngoài
Đầu tư nước ngoài đó là quá trình phát triển tất yếu của quá trình phát triển kinh tế là quá trình vận động khách quan của lịch sử đồng thời xu hướng tự
do hoá gắn liền với hội nhập nền kinh tế quốc tế Một khi sản xuất trong nước đã phát triển mạnh, tiết kiệm cho đầu tư gia tăng, tất yếu các DN cũng như chính phủ các nước sẽ quan tâm đến lợi nhuận cao khi đầu tư vốn ra nước ngoài Đầu tư thế giới liên tục tăng mạnh, thống kê của tổ chức thương mại và phát triển của Liên hiệp quốc, tổng mức ĐTNN trên thế giới năm 1967 là 112,4 tỷ USD, năm
1983 tăng đến 600 tỷ USD, năm 1990 là 1.700 tỷ, năm 2000 tăng đến 4.000 tỷ USD
Đầu tư nước ngoài làm cho xã hội hoá sản xuất với quy mô lớn trên phạm
vi toàn cầu, xác lập vai trò quyết định và năng động của công tác quản lý
Đầu tư nuớc ngoài làm bổ sung giữa các thị trường trên phạm vi toàn cầu Các hoạt động đầu tư buộc mọi nền kinh tế đều tham gia vào một kiểu thị trường thế giới thống nhất, “ một sân chơi chung “ bình đẳng cho mọi nền kinh tế, bất kể đó là nền kinh tế thuộc trình độ và xuất phát điểm như thế nào Các nền kinh tế của các quốc gia tự nguyện mở cửa nền kinh tế của quốc gia mình trên cơ sở các lợi thế so sánh vốn có sẽ hội nhập hiệu quả vào thị trường khu vực và thế giới Tính bổ sung giữa các thị trường thông qua đầu tư đã khiến cho mục tiêu trực tiếp của các công ty đa quốc gia là chiếm lĩnh thị trường đồng thời gia tăng lợi nhuận cao nhất cho các cổ đông
Đầu tư nước ngoài sẽ làm cho các quốc gia có chủ quyền không còn là chủ thể duy nhất có vai trò chế định chính sách kinh tế mà là sự tồn tại đồng thời của nhiều định chế khác có thể đảm nhận được vai trò này một cách có hiệu quả như liên kết kinh tế, các định chế kinh tế quốc tế như WB, IMF, WTO và các công ty
đa quốc gia, các tổ chức phi chính phủ
Trang 101.3 Những tác động của đầu tư nước ngoài
Vốn ĐTNN có tác động lớn đến tăng trưởng và phát triển kinh tế các nước nhận vốn đầu tư, đồng thời cũng tác động đến tăng trưởng và phát triển đến nền kinh tế toàn cầu Nền kinh tế các nước phát triển sẽ tạo ra sự ổn định về kinh tế cũng như làm tăng thu nhập của toàn xã hội, góp phần ổn định chính trị và càng làm gia tăng tỷ lệ tiết kiệm để phục vụ cho đầu tư Nhưng vốn ĐTNN cũng có thể làm ảnh hưởng đến nền kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư, đến nền kinh tế các nước trong khu vực và trên phạm vi toàn cầu như đã sảy ra cuộc khủng khoảng kinh tế Đông Nam Á năm 1997
1.3.1 Lợi ích của đầu tư nước ngoài
1.3.1.1 Đối với chủ đầu tư nước ngoài Tác dụng của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài thúc đẩy rất mạnh cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, gia tăng quy mô hoạt động, đặc biệt là sự lớn mạnh hoạt động của các công ty đa quốc gia Chính sự tăng trưởng này đưa lại sự tăng trưởng cao cho nền kinh tế thế giới Sự lớn mạnh của các công ty đa quốc gia sẽ mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm trực tiếp tại quốc gia được đầu tư, khai thác tốt lợi thế so sánh đầu tư để mang lại hiệu quả cao nhất chuyển về lại nước đầu tư
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, do lợi dụng được những yếu tố đầu vào giá rẻ ở nước nhận đầu tư, làm giảm giá thành sản phẩm, gia tăng lợi nhuận
Phân tán rủi ro trong đầu tư nếu tình hình kinh tế, chính trị tại nước chủ đầu tư bất ổn định
Xây dựng được thị trường cung cấp nguyên liệu, các yếu tố đầu vào như lao động, vốn hàng hoá … một cách ổn định
Trang 11Bành trướùng sức mạnh về kinh tế và nâng cao vị thế trên trường quốc tế, ĐTNN giúp các công ty được hưởng ưu đãi từ nước chủ nhà nên tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch, đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu
Tác dụng nguồn vốn đầu tư gián tiếp :
Tác dụng của nguồn vốn đầu tư vào thị trường chứng khoán và cho vay đầu tư :
Sử dụng cho vay hoặc đầu tư vào thị trường chứng khoán nước sở tại cũng không nằm ngoài mục tiêu là gia tăng lợi nhuận đầu tư Vốn đầu tư gián tiếp thường được sử dụng vào các nước đang phát triển có những ngành công nghệ mũi nhọn mang tính độc quyền cao, hay đầu tư vào các nước đang thực hiện tiến trình cổ phần hoá các DN nhà nước có tỷ suất lợi nhuận cao như tại Trung Quốc, các nước Đông Aâu hoặc như tại Việt Nam Đầu tư gián tiếp nước ngoài tạo ra sự vận động của các dòng vốn trên thị trường chứng khoán quốc tế, tạo sự tăng trưởng và phát triển cho các nền kinh tế được đầu tư
Tác dụng nguồn vốn ODA :
Viện trợ song phương tạo điều kiện cho các công ty của bên cung cấp hoạt động thuận lợi hơn tại các nước nhận viện trợ một cách gián tiếp Các công ty này nhận được sự ưu đãi của nước sở tại trong công việc kinh doanh như :
Giành được quyền ưu tiên trong các cuộc đầu thầu, bán sản phẩm; làm cho các sản phẩm của họ tăng thêm tính cạnh tranh so với các sản phẩm cùng loại có xuất xứ từ các nước khác
Số dự án đầu tư của bên viện trợ tăng lên, kéo theo sự gia tăng buôn bán giữa hai quốc gia
Ngoài những nguồn lợi về kinh tế, nước viện trợ còn đạt được những mục đích về chính trị; chẳng hạn một số nhà tài trợ yêu cầu Việt Nam ngừng can thiệp
Trang 12vào Campuchia mới tiếp tục công việc viện trợ ( Như Nhật, Pháp…) vào năm
1989
Nhà thầu của bên cung cấp thường trúng thầu, giành được quyền trực tiếp thực hiện dự án theo nội dung hỗ trợ vốn ODA mà chính phủ hai nước đã chấp thuận, trúng thầu bởi những ràng buộc cho bên dự thầu khó có thể thực hiện được Do vậy nước viện trợ đương nhiên đã tiêu dùng một phần nguồn vốn viện trợ để thực hiện dự án như : tiêu thụ thiết bị máy móc, nhân công, kể cả một số loại vật liệu đặc chủng
1.3.1.2 Đối với chủ nhà tiếp nhận vốn đầu tư Tác động của đầu tư trực tiếp
Theo các chuyên gia kinh tế : yếu tố then chốt giúp cho nền kinh tế các nước giữ được tốc độ tăng trưởng cao là vốn đầu tư nước ngoài, mặc dù nguồn vốn trong nước cũng là một nhân tố quan trọng tác động vào sự tăng trưởng đó
• FDI bổ xung nguồn vốn trong nước và là động lực thúc đẩy quá trình luân chuyển vốn ở nước sở tại, vì khi bỏ vốn đầu tư, chủ đầu tư luôn tìm kiếm giải pháp tối ưu về công nghệ, về quản lý, tận dụng tài nguyên của nước sở tại, vì vậy các doanh nghiệp trong nước có cơ hội tiếp nhận vốn và công nghệ mới, trình độ quản lý hiện đại của nước ngoài
• FDI thúc đẩy quá trình sử dụng vốn nội địa linh hoạt và hiệu quả hơn : Thường khi đầu tư vào nước sở tại, nhà đầu tư nước ngoài thường chọn những địa điểm thuận lợi về cơ sở hạ tầng, chi phí về vật liệu, nhân công thấp, từ đó kích thích nguồn vốn trong lĩnh vực này hoạt động có hiệu quả hơn
• Hơn nữa khi tiếp nhận nguồn vốn FDI, nước chủ nhà phải tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài sản xuất, kinh doanh như ở trong nước; ngược lại sự năng động của các nhà đầu tư nước ngoài sẽ làm cho các
Trang 13ngành sản xuất trong nước hoạt động mạnh hơn, nhằm đáp ứng nhu cầu hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
• Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước tiếp cận với thị trường thế giới; giúp nước nhận đầu tư mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm và là cầu nối trung gian giúp doanh nghiệp xuất nhập khẩu vươn ra thị trường quốc tế
• Là động lực phát triển nhanh loại hình TNC, các công ty mẹ ở nước ngoài chuyển vốn vào nước sở tại để thực hiện đầu tư nhằm thu lợi nhuận cao
• Đầu tư nước ngoài là nhân tố tác động rất mạnh đến quá trình quản lý và đào tạo nguồn nhân lực đối với các nước đang phát triển
• Đầu tư nước ngoài giúp nước sở tại giải quyết được một số vấn đề về kinh tế-xã hội như thất nghiệp, lạm phát, thu nhập…
• Làm gia tăng thu ngân sách từ việc thu các loại thuế từ hoạt động của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
Tác động của đầu tư gián tiếp
Tác dụng của nguồn vốn đầu tư vào thị trường chứng khoán và cho vay đầu
tư :
Tăng cường những nhà đầu tư chuyên nghiệp cho thị trường chứng khoán và bổ sung được lượng vốn thiếu hụt cho đầu tư phát triển , bổ sung một lượng vốn lớn những nhà đầu tư tiềm năng cho thị trường mà từ đó các doanh nghiệp cũng như quốc gia nhận được đầu tư có điều kiện mở rộng sản xuất, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm và tăng giá trị tài sản cổ đông
Tác dụng của nguồn vốn ODA :
Nguồn viện trợ song phương thường chiếm tỷ trọng lớn, trong khi các nước đang phát triển lại thiếu vốn trầm trọng, nên ODA song phương là nguồn bổ sung cho quá trình phát triển kinh tế-xã hội
Trang 14Nguồn vốn ODA mang lại nguồn lực cho đất nước thông qua những tác động tích cực của nó đối với sự phát triển kinh tế-xã hội ở những nước chậm và đang phát triển Trước hết ở những nước nghèo, ODA đã thực sự trở thành một nguồn vốn quan trọng đáp ứng những nhu cầu cấp bách về cân đối ngân sách và cán cân xuất nhập khẩu Tình trạng thiếu vốn đầu tư được ODA bù đắp để chính phủ thực hiện những kế hoạch phát triển kinh tế Vì vậy nó được coi như một biện pháp giúp các nước nghèo tìm điểm cất cánh phù hợp với sự phát triển kinh tế của nước đó trong thời kỳ quá độ
Đối với người nghèo, thông qua chính phủ nước tiếp nhận, ODA sẽ là những khoản tài trợ giúp cho họ thoát khỏi cảnh nghèo đói, ví vụ : những chương trình viện trợ cho công cuộc xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam do các nhà tài trợ quốc tế thực hiện đã tham gia vào giúp Việt nam giảm tỷ lệ đói nghèo trong thời gian vừa qua và được tổ chức Quốc tế đánh giá cao
ODA còn là nguồn vốn quan trọng giúp các nước lâm vào tình trạng khủng khoảng có thể phục hồi giá trị đồng nội tệ thông qua khoản hỗ trợ lớn của các tổ chức tài chính quốc tế, như viện trợ khẩn cấp của IMF cho Mêxico 40tỷ USD đã cứu nước này thoát khỏi khủng khoảng nghiêm trọng vào năm 1994 năm 1998 các tổ chức tài chính quốc tế cũng đã hỗ trợ giúp Thái Lan, Hàn Quốc vượt qua khủng khoảng tài chính nặng nề
Đối với những dự án phát triển hạ tầng cơ sở, ODA giúp nước nhận viện trợ có điều kiện tốt hơn để xây dựng những công trình đòi hỏi vốn lớn, mức sinh lời thấp như đướng xá, cầu, cảng, sân bay…nhưng lại là những dự án mang lại lợi ích kinh tế-xã hội lớn, tạo nền móng cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng cho đầu tư lâu dài, tạo ra sức hấp dẫn cho các nhà đầu tư quốc tế
Trang 15ODA giúp các nước nhận viện trợ nhập khẩu thiết bị từ các nước phát triển, thông qua kỹ thuật viện trợ ODA, nước nhận viện trợ có cơ hội tiếp xúc, sử dụng những thiết bị mới
Lượng vốn ODA nhận được từ các tổ chức tài chính quốc tế càng cao, càng chứng tỏ độ tin cây của cộng đồng quốc tế đối với nước tiếp nhận viện trợ càng lớn
ODA giúp các nước nghèo cải cách hành chính kinh tế thông qua các chương trình viện trợ dự án, làm cho cơ chế quản lý kinh tế ở những nước này tiếp cận với những chuẩn mực chung quốc tế
Việc sử dụng viện trợ ở các nước đang phát triển nhằm loại bỏ sự thiếu vốn và ngoại tệ, tăng đầu tư đến điểm mà ở đó sự tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện cho các nước này đạt được đến quá trình tự duy trì và phát triển
Ơû các nước mới phát triển, tình trạng nợ tồn đọng do những khoản vay từ trước đã tới thời hạn hoàn trả, nhưng chính phủ chưa có đủ khả năng chi trả sẽ được ODA giúp đỡ, tạo điều kiện để các nước này có thể vay thêm vốn của các tổ chức quốc tế, thực hiện việc thanh toán nợ đến hạn
ODA tác động tích cực đến quá trình phát triển kinh tế – xã hội của các địa phương và vùng lãnh thổ, đặc biệt là ở các thành phố lớn, nguồn vốn này trực tiếp giúp cải thiện điều kiện vệ sinh, y tế, cung cấp nước sạch, bảo vệ môi trường Đồng thời nguồn vốn ODA cũng góp phần tích cực trong việc phát triển
cơ sở hạ tầng kinh tế, phát triển nông nghiệp, xoá đói giảm nghèo… những công trình về cơ sở hạ tầng về giao thông nông thôn, điện khí hoá nông thôn, mở rộng mạng lưới thông tin nông thôn
Thông qua bên cung cấp ODA, nước nhận viện trợ có thêm cơ hội tham gia vào các tổ chức tài chính quốc tế, đạt được sự giúp đỡ lớn hơn về vốn từ các tổ
Trang 16chức này Nước viện trợ ODA đóng vai trò là chiếc cầu nối giữa nước cần vốn với các tổ chức quốc tế
1.3.2 Hạn chế của đầu tư nước ngoài
1.3.2.1 Đối với nước tiếp nhận vốn đầu tư Đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài :
Nếu tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn hơn 50% tổng vốn đầu tư của toàn xã hội, các công ty nước ngoài sẽ chi phối hoạt động kinh tế sẽ ảnh hưởng tới tính tự chủ của nước sở tại
Tạo ra môi trường cạnh tranh khốc liệt, do các chủ đầu tư nước ngoài đều muốn chạy đua giành thị phần, phô trương sức mạnh để thôn tính Vì vậy với những nền kinh tế chưa đủ mạnh, sản xuất trong nước rất dễ bị tổn thương và dễ
bị thôn tính, đầu tư trong nước sẽ sụt giảm
Dễ rơi vào tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán do các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện việc sản xuất và xuất khẩu sản phẩm, chuyển ngoại tệ về nước bằng ngoại tệ làm cho cán cân thanh toán bị ảnh hưởng Do đó nhiều nước thu hút FDI thường khuyến khích nhà đầu tư hướng vào xuất khẩu và tái đầu tư tại thị trường nội địa
Những nước chậm phát triển dễ rơi vào tình trạng nhập khẩu thiết bị lạc hậu do chưa đủ trình độ kiểm tra, thẩm định phần giá trị sử dụng còn lại của thiết
bị đó
Những nước chậm và đang phát triển thiếu vốn đầu tư và công nghệ lạc hậu sẽ bị lệ thuộc vào các nước lớn đầu tư
Đối với đầu tư gián tiếp nước ngoài :
Hình thức này có hạn chế khi thu hút vốn đầu tư nước ngoài vì theo luật đầu tư của các nước sở tại vốn đầu tư sẽ bị khống chế phần trăm
Trang 17Hiệu quả sử dụng vốn này thường không cao vì một mặt nước tiếp nhận thường là những nước kém phát triển, thiếu kinh nghiệm và trình độ quản lý, sử dụng vốn
Vốn đầu tư dưới hình thức này dù có lãi suất thấp, nhưng thời gian vay dài và vốn vay lớn nên càng tăng khả năng nợ của các nước được vay, dẫn đến khả năng một số nước không có khả năng trả nợ
Loại hình đầu tư này hạn chế khả năng tiếp thu kỹ thuật công nghệ và kinh nghiệm quản lý từ chủ đầu tư nước ngoài do quá trình sử dụng vốn như thế nào là của nước nhận đầu tư
Với các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp có tiềm lực tài chính hùng mạnh rất dễ gây sốc thị trường, đặc biệt đối với các thị trường các nước đang phát triển, dự trữ ngoại tệ không đủ mạnh để có thể can thiệp khi thị trường biến động
Hạn chế đối với nguồn vốn viện trợ ODA :
Hạn chế rõ nhất của ODA là bên nhận phải đáp ứng các yêu cầu của bên cấp viện trợ, mức độ đáp ứng càng cao thì viện trợ tăng lên càng nhiều
Thông thường bên cung cấp viện trợ đều sử dụng viện trợ như là một công cụ buộc các nước đang phát triển phải thay đổi chính sách kinh tế-xã hội, chính sách ngoại giao cho phù hợp với lợi ích của bên cung cấp
Một số điều kiện được đưa ra bị xem như là những trói buộc :
Thứ nhất các nước viện trợ yêu cầu 25% khoản viện trợ phải được sử dụng để mua hàng hoá và dịch vụ của chính họ Việc mua hàng hoá của bên cung cấp với giá cao khiến cho giá trị thực tế của các khoản viện trợ giảm đi rất nhiều, vì nó được gắn chặt với những lĩnh vực do nhà cung cấp chọn lựa Vì vậy nước nhận được tiền viện trợ sẽ không làm chủ những dự án viện trợ
Trang 18Thứ hai, hoặc bên tiếp nhận bị ép buộc phải trả nợ hoặc tiền lãi vay bằng những hàng xuất khẩu lặt vặt mà giá bình quân tính ra rất thấp so với giá chung trên thị trường Ngoài ra còn có những khoản vốn lớn cần chi cho bên nhận viện trợ phải chi tiêu vào cơ sở hạ tầng mà hiệu quả đầu tư mang lại chưa cao
Khi đồng tiền viện trợ lên giá cũng làm cho các nước đi vay ODA lâm vào khó khăn hơn Tác động này thường sảy ra đối với viện trợ song phương khi đơn
vị tiền tệ của nước cấp viện trợ khác đơn vị tiền tệ của nước nhận viện trợ Nếu đồng tiền viện trợ tăng giá so với đồng tiền thu được từ xuất khẩu thì nước nhận viện trợ sẽ phải trả thêm một khoản nợ bổ sung phát sinh do chênh lệch tỷ giá ở thời điểm vay và thời điểm trả nợ
Nhiều nước châu Á như Malaysia, Indonesia vay những khoản tiền lớn thông qua hình thức ODA hay vay thương mại từ Nhật trong những năm đồng yên tăng giá mạnh so với đồng USD, mà nguyên tắc cho vay của Nhật là vay bằng đồng Yên Nhật thì trả bằng đồng Yên, từ đó đã làm cho các nước vay nợ càng thêm nặng nợ
Nguồn vốn ODA mặc dù có ưu điểm giúp nước tiếp nhận khôi phục và phát triển kinh tế, nhưng cũng có mặt tiêu cực là dễ tạo ra nạn tham nhũng trong các quan chức chính phủ, hoặc phân hoá giầu nghèo trong các tầng lớp dân chúng, nếu không có biện pháp kiểm soát và quản lý chặt chẽ việc sử dụng nguồn vốn này ở nước sử dụng
Ngay trong nước nhận viện trợ ODA, tình trạng tập trung ODA vào các thành phố lớn, khu vực trọng điểm cũng tạo nên sự mất cân đối trong cơ cấu kinh
tế -xã hội của quốc gia đó, làm cho hố ngăn cách giầu nghèo giữa thành thị và nông thôn ngày càng trầm trọng
1.3.2.2 Đối với các nước đầu tư : Đối với đầu tư trực tiếp :
Trang 19Ngoài những lợi ích do đầu tư trực tiếp nước ngoài là to lớn, cũng nẩy sinh những thách thức do đầu tư này mang lại :
Đầu tư nước ngoài đặc biệt là đầu tư trực tiếp mà chủ yếu do các công ty đa quốc gia thực hiện thường sử dụng hoạt động chuyển giá để thu lợi nhuận cao nhất Hoạt động chuyển giá thường sử dụng đó là :
• Bên nước ngoài nâng giá tài sản và công nghệ góp vào liên doanh nhằm tăng tỷ lệ vốn góp
• Hoặc các công ty đa quốc gia tính giá nguyên liệu, phụ tùng nhập khẩu từ công ty mẹ vào nước được đầu tư giá cao hơn thực tế
• Hoặc tính giá mua nhập khẩu hàng hoá-dịch vụ giữa các công ty trong cùng một tập đoàn, hệ thống cao hơn thực tế
• Tính giá bán sản phẩm xuất khẩu cho các công ty trong cùng một tập đoàn, hệ thống thấp hơn giá thực tế …
• Đặc biệt hoạt động chuyển giá thường xảy ra ở những tập đoàn có công ty mẹ độc quyền cung cấp một loại hàng hoá nào đó
Đối với đầu tư gián tiếp
Đầu tư gián tiếp là nguồn vốn có tính lỏng cao, lượng vốn di chuyển vào hoặc ra nhanh chóng Nếu như không có các quy định chế tài phù hợp, nhạy bén và linh hoạt trong sử lý các vấn đề phát sinh sẽ dễ dẫn đến rút vốn ồ ạt ra khỏi thị trường gây ra khủng khoảng tài chính tiền tệ ở nước nhận đầu tư mà hậu quả khó lường Các nhà đầu cơ thường lợi dụng triệt để các yếu tố tiêu cực của thị trường chứng khoán để khai thác, dẫn đến các giao dịch chứng khoán không phản ánh đúng cung – cầu trên thị trường Thông tin kinh tế sai lệch, chi phối bởi các nhà đầu cơ chứng khoán, dẫn đến các nhà đầu tư đưa ra những quyết định đầu tư sai lầm, ảnh hưởng đến giá chứng khoán trên thị trường
Đối với nguồn vốn ODA :
Trang 20Bản thân nguồn vốn ODA cũng hàm chứa trong đó những vấn đề mang sắc thái kinh tế-chính trị tiêu cực, xuất phát tư bên cấp vốn áp đặt các thể chế hoặc từ tác động khách quan bất lợi của mội trường kinh tế thế giới hoặc chủ quan thuộc về bên nhận viện trợ
Điều nguy hiểm nhất có thể sảy ra của viện trợ ODA, là nước cung cấp không nhằm cải thiện kinh tế-xã hội của nước đang phát triển mà nhằm vào mục đích quân sự Các nhà phân tích phương Tây chỉ ra rằng : Mỹ là nước cung cấp một khối lượng viện trợ khổng lồ, đã giành trọn ¼ trong tổng số 21 tỷ USD ngân sách viện trợ nước ngoài dưới hình thức viện trợ quân sự và cũng số này được giành chủ yếu chi cho quốc gia Israel và Ai Cập Báo chí Anh đã từng lên án về việc Malaysia phải gián tiếp cho các công ty quốc phòng của Anh thắng thầu trong một số hợp đồng mua bán vũ khí để được nhận 300 triệu Bảng tài trợ cho dự án xây đập Pergau vào năm 1994
1.4 Tình hình vốn đầu tư nước ngoài thời gian qua đối với các nước đang phát triển và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Theo tổ chức thương mại và phát triển của Liên Hợp Quốc ( UNCTAD ) thu hút đầu tư nước ngoài giảm trong 3 năm đầu của thế kỷ mới, nhưng đã phục hồi và tăng trở lại trong 2 năm 2004 và 2005 năm 2004 tăng 27% so với năm
2003 đạt 710,8 tỷ USD và năm 2005 tiếp tục tăng 29% so với năm 2004 lên đến 916,3 tỷ USD
Trong tổng lượng vốn năm 2005, vốn đầu tư nước ngoài chảy vào các nước phát triển đạt 542 tỷ USD, trong khi các nước đang phát triển đạt 334 tỷ USD, đây là con số thu hút đầu tư nước ngoài cao nhất từ trước đến nay Các nước phát triển chiếm 59,2% thu hút đầu tư nước ngoài toàn cầu, tỷ lệ này của các nước đang phát triển là 36,5% và của các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi là 4,3% Anh là nước phát triển thu hút đầu tư nước ngoài cao nhất : 165 tỷ USD,
Trang 21tiếp theo là Mỹ Trong các nước đang phát triển, Trung Quốc đứng đầu đạt 72 tỷ USD, tiếp theo là Hồng Kông ( Trung Quốc ), Singgapore, Mexico và Brazil
Đầu tư ra nước ngoài năm 2005 là 779 tỷ USD Các nước phát triển vẫn là nguồn chủ yếu đầu tư ra nước ngoài Hà Lan đầu tư ra nước ngoài lớn nhất 119 tỷ USD, tiếp theo là Anh và Pháp Các nước đang phát triển đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài Nếu như đầu những năm 80 của thế kỷ trước đầu tư ra nước ngoài của các nước đang phát triển không đáng kể, thì năm 2005 đã đạt 133 tỷ USD chiếm 17% tổng vốn toàn cầu Hồng Kông ( Trung Quốc ) đầu tư ra nước ngoài
33 tỷ USD, lớn nhất trong các nền kinh tế đang phát triển
Hoạt động sáp nhập và mua lại sôi động và đầu tư vào dịch vụ tăng nhanh Hoạt động sáp nhập và mua lại xuyên quốc gia năm 2005 tiếp tục sôi động đạt
716 tỷ USD, tăng 88% so với năm 2004, số lượng các giao dịch là 6.134 giao dịch, tăng 20% so với năm 2004, trong số này có 141 giao dịch lớn với tổng số vốn 454 tỷ USD, chiếm 63% tổng vốn toàn cầu
Dịch vụ là lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài nhiều nhất, tập trung vào tài chính, viễn thông và bất động sản Nếu như tỷ trọng dịch vụ trong những năm 1989-1991 chiếm 54% thì đến những năm gần đây đã tăng lên gần 70% tổng số vốn thu hút đầu tư nước ngoài toàn cầu Thu hút đầu tư nước ngoài giảm mạnh trong công nghiệp chế tạo, ngoại trừ dầu khí có tăng
Các công ty xuyên quốc gia ( TNC ) chủ yếu tập trung khu vực tam giác Mỹ, EU và Nhật Bản, chiếm 85 trong số 100 TNC hàng đầu thế giới Đứng đầu trong danh sách 100 TNC không thuộc lĩnh vực tài chính là General Electric, Vondafon và Ford với tổng giá trị tài sản chiếm tới 17% tổng giá trị tài sản của
100 TNC nêu trên Các TNC sản xuất ôtô có số lượng nhiều nhất, tiếp đến là các hãng sản xuất thuốc tân dược
Trang 22Các hãng của các nước đang phát triển đang gia tăng hoạt động đầu tư ra nước ngoài trên thị trường toàn cầu Năm 2005, tổng tài sản các TNC các nước đang phát triển là 1.900 tỷ USD, thu hút 6 triệu lao động Năm 2004, có 5 TNC các nước đang phát triển có trụ sở tại Châu Á trong danh sách 100 TNC hàng đầu thề giới Đó là Huchion Whampoa ( Hồng Kông, Tung Quốc ), Petronas ( Malaysia ), Singtel ( Singapore ), SamSung Electric ( Hàn Quốc ) và tập đoàn Citic ( trung Quốc ), trong số này có 3 là doanh nghiệp nhà nước Trong 100 TNC hàng đầu các nước đang phát triển có 40 thuộc Hồng Kông và Đài Loan, 14 đến từ Singapore và 10 của Trung Quốc, số còn lại của Châu Phi và Mỹ La tinh
Nhiều TNC của nước đang phát triển trong khu vực Nam, Đông và Đông Nam Á đang có dự trữ lớn, dẫn đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài sống động ( Năm 2006 đạt 68 tỷ USD ) Năm 2006, Temasek ( Singapore ) đã mua 11% cổ phần của Standard Chartered ( Anh ), CNPC ( Trung Quốc ) đã thôn tính Petrokazakhtan ( Khazakhtan ) năm 2005 Trung quốc và Aán Độ đang tích cực tìm kiếm mua lại các công ty dầu, thậm chí họ cùng hợp tác thầu một số dự án trong lĩnh vực này
Thị trường toàn cầu tiếp tục tự do hoá ĐTNN, song cũng xuất hiện sự bảo hộ Xu hướng tự do hoá đầu tư được tiếp tục thể hiện trong các luật, quy định Đó là đơn giản hoá thủ tục đầu tư , ưu đãi, giảm thuế và mở hơn cho các nhà ĐTNN Tuy nhiên, cũng đã xuất hiện xu hướng đi ngược lại tự do hoá toàn cầu
Năm 2005 đã có 93 nước sửa đổi, bổ xung 205 quy định về ĐTNN, trong đó 164 thuận lợi hơn và 41 khó khăn hơn Các thoả thuận quốc tế cũng tiếp tục tăng
Khu vực EU và Mỹ, các siêu tập đoàn thực hiện việc mua lại tăng lên, nhằm độc chiếm thị trường Đầu năm 2006, hãng quản lý tầu biển và cảng DP Word ( Tiểu vương quốc Arập thống nhất ) đã mua P&O của Anh Theo đó một
Trang 23số cảng của Mỹ bị vụ mua bán này kiểm soát, dẫn đến việc Mỹ phản đối do ảnh huởng đến an ninh Một số quy định điều tiết về hạn chế sự cạnh tranh đầu tư nước ngoài hoặc tăng sự can thiệp của chính phủ trong một số lĩnh vực công nghiệp nhằm bảo hộ nền kinh tế Các hạn chế này chủ yếu trong một số lĩnh vực đầu tư chiến lược như dầu khí và kết cấu hạ tầng Thí dụ, các hãng dầu lửa Mỹ
La Tinh bị ảnh hưởng qua sự kiện Chính phủ Bolovia quốc hữu hoá ngành công nghiệp này tháng 5/2006
Trong các nước phát triển, Đông Á và Đông Nam Á tiếp tục là sự lựa chọn
ưa chuộng của các nhà đầu tư nước ngoài Thu hút đầu tư vào Nam á, Đông Á và Đông Nam Á năm 2005 đạt 165 tỷ USD bằng 18% dòng chảy đầu tư thế giới Hai phần ba số này chảy vào Trung Quốc ( 72 tỷ USD ) và Hồng Kông ( 36 tỷ USD ) Khu vực Đông Nam Á thu hút được 37 tỷ USD, dẫn đầu là Singapore ( 20 tỷ USD ), tiếp đến là Indonesia ( 5 tỷ USD ) và Malaysia và Thái lan cùng đạt gần 4 tỷ USD
Hơn một nửa dòng chảy vốn đầu tư trong khu vực Nam Á, Đông Á và Đông Nam Á có được chỉ từ các nước đang phát triển, tập trung chủ yếu trong khu vực Tỷ trọng vốn đầu tư từ các nước đang phát triển tăng đáng kể trong thập kỷ qua từ 44% năm 1995 đến năm 2004 lên 65%, tỷ lệ của các nước phát triển giảm tương ứng
Thu hút đầu tư nước ngoài đã tăng rất nhanh vào một số nước trở thành thành viên mới của WTO Đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc năm 2005 đạt 72 tỷ USD, năm 2005 tăng hơn một nửa so với năm 2001 khi Trung Quốc gia nhập WTO Đặc biệt, nhờ tác động là thành viên WTO, năm 2005 Campuchia đã thu được kết quả về thu hút ĐTNN tăng gần gấp 3 lần so với năm 2004 ( 381 triệu USD của năm 2005 so với 131 triệu USD của năm 2004 )
Bài học kinh nghiệm về đầu tư nước ngoài đối với Việt Nam :
Trang 24Bên cạnh những xu hướng ĐTNN của các nước phát triển cũng như đang phát triển, rất nhiều điều kiện thuận lợi để chúng ta thu hút dòng vốn đầu tư quốc tế Chúng ta là thành viên chính thức WTO kể từ ngày 11/1/2007, chúng ta tổ chức thành công hội nghị Apec 14 tại Hà Nội tháng 11/2006 Đồng thời với những động thái tích cực của ĐTNN sau khi chúng ta là thành viên chính thức WTO, dòng vốn đầu tư trực tiếp cũng như dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đã tăng lên mạnh mẽ Nhưng cũng xuất hiện những cản trở cho sự thu hút nguồn vốn đầu
tư này Cản trở lớn nhất hậu WTO là sự yếu kém về năng lực cạnh tranh xét cả trên ba cấp độ : Quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm Để đánh giá và xếp hạng được năng lực cạnh tranh của một quốc gia, tổ chức diễn đàn kinh tế thế giới ( WEF ) dựa trên 9 nhóm chỉ tiêu gồm : Thể chế, kết cấu hạ tầng, kinh tế vĩ mô, giáo dục và y tế phổ thông, giáo dục đại học, hiệu quả thị trường, độ sẵn sàng về công nghệ, mức độ hài lòng củaDN, mức độ sáng tạo
Năm 2006, WEF xếp Việt Nam hạng 77/125 quốc gia, tụt 3 bậc so với năm 2005, trong đó những yếu tố kém hơn mức chung gồm : giáo dục đại học thứ
90, mức độ hài lòng doanh nghiệp thứ 86, độ sẵn sàng công nghệ thứ 85, kết cầu hạ tầng thứ 83; những yếu tố khá hơn mức chung : kinh tế vĩ mô thứ 53, y tế và giáo dục phổ thông thứ 56, hiệu quả thị trường thứ 73 và mức độ sáng tạo thứ 75 trong số các nước Asean được xếp hạng, Việt Nam chỉ xếp trên Campuchia ( thứ
103 ), Singapore dẫn đầu về năng lực cạnh tranh toàn khối, tiếp theo là Malaysia thứ 26, Thái Lan thứ 35, Indonesia thứ 50, Philipin thứ 71
Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới ( WB ) và Công ty tài chính quốc tế ( IFC ) về mức độ thuận lợi của môi trường kinh doanh, năm 2006 Việt Nam được xếp hạng 104/175 nền kinh tế, tụt 6 bậc so với năm 2005 xét trong khu vực Chấu Á-Thái Bình Dương, Việt Nam chỉ xếp thứ 17 trên 23 nền kinh tế , tụt rất xa so
Trang 25với các nước trong khu vực như Singapore thứ 1/23, Thái Lan 3/23, Malaysia 4/23
Theo đánh giá của UNCTAD về chỉ số tiềm năng thu hút FDI, giai đoạn 2000-2002 Việt Nam được xếp hạng 67/140 quốc gia, giai đoạn 2001-2003 là 68/140 quốc gia, gia đoạn 2002-2004 là 74/141 quốc gia; về chỉ số thực hiện thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài giai đoạn 2000-2002 Việt Nam được xếp hạng 51/140 quốc gia, giai đoạn 2002-2004 là 50/140 quốc gia, giai đoạn 2003-2005 là 53/141 quốc gia
Để thu hút vốn ĐTNN các nước đều có chính sách ưu tiên phát triển kết cấu hạ tầng Hạ tầng kỹ thuật chi phối quyết định đầu tư của DN Đầu tư cơ sở hạ tầng xã hội, cải tiện đời sống, tăng sức hấp dẫn đối với người lao động, nhất là lao động có trình độ tay nghề cao
Các chính sách về giá cước cần áp dụng theo vùng để giảm chi phí, tạo lợi thế cạnh tranh Các giải pháp hỗ trợ tài chính khác dành cho DN như hỗ trợ đầu
tư, cho vay với lãi suất ưu đãi, các khoản hỗ trợ về lãi, bảo lãnh, thế chấp, giảm giá thuê đất …
Các nước có chính sách hỗ trợ thông tin và tư vấn nhanh chóng kịp thời, chính xác về cơ hội đầu tư, thủ tục thuận lợi, nhanh chóng
Phi tập trung hoá đô thị và khu cụm công nghiệp, giảm sức hút đồng thời là cũng giảm áp lực vào các cực tăng trưởng
Trang 26
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
2.1 Tình hình vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam từ năm 1988 đến năm 2006
2.1.1 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI )
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ năm 1988 đến hết năm 2006 đã đạt được 60,461 tỷ USD, từ năm 1988 đến hết năm 2005 đạt 50,534 tỷ USD và riêng trong năm 2006 đã đạt con số kỷ lục là 9,927 tỷ USD Trong đó tỷ trọng đầu tư vào công nghiệp nặng lớn nhất với tỷ lệ 24,22%, tiếp đến là dầu khí 16,90%, công nghiệp nhẹ 11,69%, các ngành khác chiếm tỷ trọng nhỏ hơn Qua số liệu trên ta thấy rằng do ngành công nghiệp nặng chúng ta chưa phát triển, đất nước phát triển chủ yếu từ nông nghiệp vì vậy tiềm năng để phát triển công nghiệp nặng là rất lớn, đồng thời với nguồn tài nguyên tương đối phong phú, các nhà đầu
tư có thể tận dụng lợi thế nguyên liệu tại chỗ với giá thành rẻ để tiến hành sản xuất kinh doanh với lợi thế so sánh hơn hẳn các nước trong khu vực Ngành dầu khí cũng là ngành mà chúng ta chưa phát triển, với nguồn tài nguyên dồi dào, nguồn thu từ khai thác liên doanh dầu khí đã đem lại một nguồn thu lớn cho đất nước Đầu tư nước ngoài tăng trưởng liên tục qua các năm, đặc biệt là trong năm
2006, chúng ta là thành viên của WTO, tình hình chính trị ổn định, các chính sách thu hút vốn ĐTNN thông thoáng hơn đã tạo điều kiện cho các nhà đầu tư an tâm bỏ vốn đầu tư tại Việt Nam, một thị trường mới nổi
Trong các khu vực đầu tư, các địa phương có điều kiện phát triển về cơ sở hạ tầng, về điều kiện nguồn nhân lực đã thu hút mạnh mẽ vốn đầu tư nước ngoài Điển hình là thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đồng Nai, Bình Dương, ngoài những chính sách thu hút đầu tư của chính phủ, các địa phương đều có những chính sách ưu đãi mời gọi đầu tư, tạo những điều kiện thuận lợi về các thủ tục
Trang 27caỏp pheựp cuừng nhử taùo ủieàu kieọn cho hoaùt ủoọng saỷn xuaỏt kinh doanh cuỷa caực nhaứ ủaàu tử coự hieọu quaỷ
Vieọt Nam ủaừ thu huựt voỏn ẹTNN bao goàm 72 nửụực keồ caỷ nhửừng nửụực ụỷ nhửừng chaõu luùc xa xoõi ủeàu tham gia nhử Chaõu Myừ, Chaõu Aõu, chửựng toỷ vieọc thu huựt voỏn ủaàu tử nửụực ngoaứi ủaừ ủửụùc sửù quan taõm ủaàu tử mang tớnh chaỏt toaứn caàu Caực nửụực ủaàu tử maùnh meừ nhử ẹaứi Loan chieỏm 15,7%, Singapore 15,04%, Nhaọt Baỷn 12,26%, Haứn Quoỏc 10,45% ẹaởc bieọt sửù quan taõm cuỷa caực nhaứ ủaàu tử Hoa Kyứ, keồ tửứ khi Vieọt Nam laứ thaứnh vieõn thửự 150 cuỷa WTO vaứ Toồng thoỏng G.Bush ủaừ thoõng qua quy cheỏ bỡnh thửụứng vúnh vieón vụựi Vieọt Nam thaựng 12/2006, ủaàu tử cuỷa Hoaứ Kyứ vaứo Vieọt Nam ủaừ taờng leõn raỏt maùnh Theo soỏ lieọu thoỏng keõ cuỷa Boọ keỏ hoaùch-ẹaàu tử, ủaàu tử cuỷa Hoa Kyứ vaứoVieọt Nam ủaùt 4 tyỷ USD, moọt soỏ dửù aựn ủang ủaứm phaựn chuaồn bũ hoaứn taỏt, neỏu caực dửù aựn naứy thửùc thieọn trong naờm 2007 naứy soỏ voỏn ủaàu tử seừ taờng gaỏp ủoõi Caực nhaứ ủaàu tử Hoa kyứ ủaừ ủửụùc sửù uỷng hoọ maùnh meừ cuỷa cuỷa chớnh phuỷ nửụực sụỷ taùi, ủaởc bieọt laứ sửù uỷng hoọ cuỷa Toồng thoỏng Hoa Kyứ, khoõng nhửừng laứm cho caực nhaứ ủaàu tử Hoa Kyứ an taõm maứ coứn coự taực ủoọng lụựn cho caực nhaứ ủaàu tử cuỷa nửụực khaực an taõm boỷ voỏn ủaàu tử
Caực soỏ lieọu thoỏng keõ sau cho chuựng ta thaỏy roừ hụn thu huựt ẹTNN cuỷa Vieọt Nam :
Bảng 2.1 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành 1988-2005
(tính tới ngμy 20/12/2005 - chỉ tính các dự án còn hiệu lực)
STT Chuyên ngμnh
Số dự
án TVĐT Vốn pháp định
Đầu tư thực hiện
Công nghiệp
3.983
30.670.134.046
13.194.306.153
18.454.818.329
CN dầu khí
27
1.891.191.815
1.384.191.815
4.556.250.381
CN nhẹ
1.667
8.334.820.162
3.757.445.407
3.152.121.254
CN nặng
1.717
13.313.466.747
5.267.467.433
6.531.053.276
CN thực phẩm
261
3.135.296.403
1.357.851.161
1.894.416.334
1.427.350.337
2.320.977.084
Trang 281.612.768.526
1.815.757.877
1.478.591.145
1.660.316.464
134.177.381
155.441.413
Dịch vụ
1.163
16.134.892.288
7.652.459.899
6.692.470.457
GTVT-B ưu điện 161
2.917.439.255
2.317.916.195
735.916.214 Khách sạn-Du
lịch
163
2.863.768.774
1.247.338.654
2.335.371.047
738.895.000
642.870.077 Văn hóa-Ytế-
Giáo dục
201
904.212.251
384.212.797
283.224.479
700.683.000
51.294.598
1.375.208.984
1.769.533.870
387.519.597
526.521.777
500.685.672
347.738.395
Tổng số
5.918
50.534.589.677
22.459.534.578
26.963.046.663
( Nguoàn : Cuùc ủaàu tử nửụực ngoaứi-Boọ keỏ hoaùch vaứ ủaàu tử )
Bảng 2.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoμi theo hỡnh thửực ủaàu tử 1988-2005
(tính tới ngμy 20/12/2005 - chỉ tính các dự án còn hiệu lực)
Hình thức đầu tư
Số dự
án TVĐT Vốn pháp định
Đầu tư thực hiện
100% vốn nớc ngoμi
4.404
25.593.808.666
10.938.536.402
9.869.300.658 Liên doanh
1.316
19.184.069.204
7.422.064.856
11.141.697.385 Hợp đồng hợp tác kinh
doanh
183
4.172.824.616
3.591.025.725
5.067.527.156 BOT
6
1.370.125.000
411.385.000
724.824.892 Công ty cổ phần
8
199.314.191
82.074.595
159.696.572 Công ty quản lý vốn
1
14.448.000
14.448.000
-
Tổng số
5.918
50.534.589.677
22.459.534.578
26.963.046.663
( Nguoàn : Cuùc ủaàu tử nửụực ngoaứi-Boọ keỏ hoaùch vaứ ủaàu tử )
Trang 29Bảng 2.3 C¬ cÊu FDI theo ngμnh 1988-2005 (tÝnh tíi ngμy 20/12/2005 - chỉ tÝnh c¸c dù ¸n cßn hiƯu lùc)
( Nguồn : Cục đầu tư nước ngoài-Bộ kế hoạch và đầu tư )
Bảng 2.4 C¬ cÊu FDI theo hình thức đầu tư 1988-2005 (tÝnh tíi ngμy 20/12/2005 - chỉ tÝnh c¸c dù ¸n cßn hiƯu lùc)
Trang 30Bảng 2.5 FDI từ 01/01 đến 18/12/2006
cấp phép (Dự án) Tổng số Trong đĩ: Vốn pháp định
Nguồn : Bộ kế hoạch và Đầu tư
Thông qua biểu đồ sau chúng ta sẽ thấy rõ chính sách thu hút FDI của Việt
Nam trong những năm qua có xu hướng tăng, đặc biệt trong những năm gần đây
Hình 2.1 Đồ thị vốn FDI từ 1988 đến 2006
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 1988-2006
341.7 525.5735
1291.5 2208.5 3037.4 4188.4 6937.2 10164.1
5590.7 5099.9
2565.42838.9 3142.82998.83191.2
4547.6 6839.8 9927
Vốn Đăng ký
Nguồn : Tổng cục thống kê
Trang 312.1.2 Vốn đầu tư gián tiếp thông qua thị trường chứng khoán
Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài tại Việt Nam có thể chia thành 3 giai đoạn :
Giai đoạn 1 từ 1988-1997 : Đây là thời kỳ mở đầu cho dòng vốn FII vào Việt Nam theo xu hướng đổi mới và mở cửa, thực hiện chính sách đổi mới của Đảng từ đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 6 trong thời gian này đã có 7 qũy đầu
tư nước ngoài được thành lập với tổng số vốn được huy động khoảng 400 triệu USD
Giai đoạn 2 từ năm 1998 đến 2002 : đây là thời kỳ khủng khoảng tài chính tiền tệ châu Á và hậu thời kỳ khủng khoảng, do vậy trong thời gian này dòng vốn đầu tư gián tiếp giảm mạnh tại Việt nam nói riêng cũng như đầu tư tại khu vực châu Á nói chung Trong số 7 quỹ đầu tư nói trên có đến 5 quỹ rút khỏi Việt Nam, 1 quỹ thu hẹp trên 90% quy mô qũy, chỉ còn duy nhất Qũy VietNam Enterprise Investment Fund được thành lập vào tháng 7/1995 với quy mô 35 triệu USD là còn hoạt động cho đến ngày hôm nay Qũy này là một qũy nhỏ nhất trong
7 quỹ hoạt động trên
Giai đoạn 3 từ 2003 đến nay : đây là thời kỳ bắt đầu phục hồi và phát triển đầu tư gián tiếp vào Việt Nam Cùng với sự cải thiện môi trường đầu tư của Chính phủ, quyết tâm cổ phần hoá mạnh các doanh nghiệp nhà nước, đồng thời thành lập sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 7/2000 và thị trường chứng khoán Hà Nội vào tháng 3/2005 Chính phủ cũng quy định nới lỏng tỷ lệ nắm giữ cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp nhà nước lớn được cổ phần hoá từ 30% lên 49% ( Quyết định số 238/2005/QĐ-TTg ngày 24/10/2005 của Thủ tướng chính phủ ) Tính đến tháng 11/2006, cả nước đã có 49 công ty niêm yết với số vốn trên 3 tỷ USD Tổng giá trị các công ty giao dịch trên thị trường OTC khoảng gần 6 tỷ USD Nếu so sánh
Trang 32với đầu tư trực tiếp nước ngoài đến hết tháng 12/2006 là 58,099 tỷ USD thì đầu tư gián tiếp này còn khá khiêm tốn, đặc biệt nếu so sánh các nước trong khu vực tỷ lệ trung bình từ 30-40% của đầu tư trực tiếp thì việc thú hút đầu tư gián tiếp này của Việt Nam còn rất nhỏ bé
Trên thị trường chứng khốn hiện nay, nhà đầu tư nước ngồi vẫn luơn chiếm khối lượng giao dịch lớn, thậm chí các nhà đầu tư này cịn làm cho sức cầu trên thị trường chứng khốn tăng hay giảm Việc tăng khả năng tham gia thị trường chứng khốn cho các nhà đầu tư nước ngồi càng làm cho thị trường chứng khốn Việt Nam càng sơi động, đặc biệt sự tăng trưởng quá nĩng của thị trường chứng khốn từ tháng 11, tháng 12/2006 và những ngày đầu tháng 1/2007, chỉ số VN-Index đã đạt đến 1.040,70 điểm ( vào ngày 23/01/2007), cao nhất từ khi hình thành thị trường chứng khốn đến nay Sự tăng trưởng thị trường chứng khốn này cĩ sự tác động rất mạnh của các nhà đầu tư nước ngồi, với tiềm lực tài chính của các nhà đầu tư lớn và mang tính chuyên nghiệp
Hình 2.2 Đồ thị Chỉ số VN-Index từ tháng 10/2006 đến tháng 01/2007
Trở về Chỉ số Vn-Index Basic chart Technical Analysist
Thời gian:5d 1m 3m 6m 1y 2y Kiểu đồ thị: Line
So sánh:
VNINDEX với Compare
Trang 33Chỉ số Index: 1,040.7
Ngày Index: 23/01/2007 Thay đổi: 13 (1.26%)
Chỉ số trước: 1,027.7
Tổng K.Lg khớp:84,851,900 (CK) Giá trị khớp: 930,520,000,000 (VNĐ)
Bảng 2.6 THỐNG KÊ Q ũy GIAO DỊCH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGỒI
trường ĐTNN
% tồn
TT
Tồn thị trường ĐTNN
trường ĐTNN % tồn TT Tồn thị trường ĐTNN % Tồn TT
Mua 30.224.979.22552.506.713.95614.427.662.908 27102.614.432.829 15.797.316.317 15 Bán 19.824.818.433 04.027.502.116 8 0 15.797.316.317 15 Mua - bán 22.169.974.993 01.369.653.409- 0 0 0 0
Trang 34
QUY MƠ GIAO DỊCH CỦA NHÀ ĐTNN TRONG 12 THÁNG
Nguồn : TTCK Tp Hồ Chí Minh
2.1.3 Vốn vay : vốn vay của chính phủ, vốn vay của các khu vực DN
Nợ nước ngoài của chính phủ gồm các khoản nợ cũ hình thành trước năm
1993, những khoản vay này phần lớn là những khoản vay từ Liên Xô trước đây, các nước Đông Aâu, Trung Quốc và một số tổ chức tài chính quốc tế Thời kỳ trước năm 1993 là thời kỳ đặc biệt khó khăn về tài chính của Việt Nam , các khoản nợ đến hạn không trả được chuyển sang nợ quá hạn Để giải quyết vấn đề trên, câu lạc bộ Pari năm 1993 và câu lạc bộ Luân Đôn 1997 đã cơ cấu lại các khoản nợ quá hạn cho Việt Nam Kể từ sau năm 1993 các khoản vay nước ngoài của chính phủ thông qua phát hành công trái và trái phiếu chính phủ để bù đắp ngân sách cho đầu tư phát triển Đặc biệt vào cuối năm 2005, chúng ta đã phát hành thành công trái phiếu chính phủ dành cho doanh nghiệp 750 triệu USD
Trang 35Theo số liệu của Bộ tài chính, tỷ lệ nợ nước ngoài/ GDP của Việt Nam giai đoạn 2000-2005 vào khoảng 35,6% ( tổng số nợ hiện vào khoảng 13-14 tỷ USD ) Tỷ lệ này dự đoán sẽ tăng từ 37,5% năm 2006 lên 38% vào năm 2008 và sẽ giảm xuống còn khoảng 37% vào năm 2010, do GDP của Việt Nam tăng lên đồng thời với việc Việt Nam tích cực trả các khoản nợ vay đến hạn
Để theo dõi thường xuyên tình hình nợ nước ngoài, nhằm xác định sớm các rủi ro tiềm ẩn đối với danh mục nợ quốc gia và những tồn tại liên quan trong công tác quản lý nợ, Thủ tướng chính phủ đã ban hành quy chế xây dựng và quản lý hệ thống chỉ tiêu đánh giá giám sát tình trạng nợ nước ngoài của quốc gia theo quyết định số 231/2006/QĐ-TTG ngày 16/10/2006 Mục đích của quyết định này để đảm bảo duy trì bền vững nợ quốc gia về trung – dài hạn, đảm bảo an ninh tài chính tiền tệ, tối ưu hoá các phương án huy động vốn và giảm thiểu rủi ro và chi phí cho ngân sách nhà nước và nền kinh tế
Hiện tại theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, nợ nước ngoài so với GDP ở ngưỡng an toàn là 45%, nợ nước ngoài so với kim ngàch xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ ngưỡng an toàn là 200% Nợ nước ngoài Việt Nam chúng ta vẫn đang nằm trong tỷ lệ an toàn trên
Năm 1993, sau khi nối lại quan hệ với các định chế tài chính quốc tế, đến nay đã có khoảng 26 nhà tài trợ song phương, 21 nhà tài trợ đa phương và 350 tổ chức chính phủ với khoảng 1500 chương trình, dự án dành cho Việt Nam Đứng đầu trong các tổ chức trên là Nhật Bản, Ngân hàng thế giới ( WB ), ngân hàng phát triển châu Á ( ADB ) ( Chiếm khoảng 70-80 % tổng nguồn vốn ODA hàng năm mà các nhà tài trợ dành cho Việt Nam )
Trang 36Hình 2.3 Đồ thị vốn ODA giai đoạn 1993-2006 :
TÌNH HÌNH THU HÚT VỐN ODA 1993-2006
(Nguồn: www.vneconomy.com.vn và kinh tế đối ngoại VN- trang 392)
Với việc thu hút và giải ngân nguồn vốn ODA, đồng thời các cơ chế tiếp
nhận viện trợ, quy trình thủ tục, thể chế chính sách tiếp tục được hoàn thiện để
nâng cao hiệu quả của nguồn vốn này Về giải ngân ODA, theo đánh giá của Bộ
kế hoạch-Đầu tư, mặc dù chúng ta chưa tạo được bước đột phá lớn, song so với
những năm trước, năm 2006 tỷ lệ giải ngân đã được cải thiện Chính phủ cũng đã
ban hành Nghị định 131/2006/NĐ-CP về quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA
Nghị định này đã khắc phục được những bất cập trong thu hút, quản lý và thực
hiện vốn ODA Cụ thể đã phân cấp mạnh cho các Bộ, ngành, địa phương, đơn
Trang 37Cụ thể, Chính phủ chỉ quyết định đầu tư các chương trình, dự án quan trọng quốc gia và phê duyệt chương trình, dự án kèm theo khung chính sách, chương trình dự án hỗ trợ kỹ thuật trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng Lãnh đạo cơ quan chủ quản tổ chức thẩm định và quyết định đầu tư hoặc phê duyệt các chương trình dự án không thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ Việc phân cấp như trên sẽ tinh giản quy trình, thủ tục trình duyệt, đồng thời nâng cao vai trò, trách nhiệm quản lý của các Bộ, ngành, địa phương trong việc sử dụng nguồn vốn ODA
2.1.5 Vốn kiều hối chuyển về từ khoản thu nhập cá nhân ở nước ngoài
Theo thông tin từ Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, cuối năm 2006 lượng kiều hối chảy về Việt Nam tăng mạnh, so với năm 2005 tăng 11% Dự kiến lượng kiếu hối chuyển về Việt Nam trong năm 2006 khoảng trên 4 tỷ USD Riêng khu vực thành phố Hồ Chí Minh lượng kiều hối đạt từ 2,8 đến 3 tỷ USD Theo thống kê của Western Union lượng kiều hối chuyển qua mạng lưới dịch vụ này năm 2005 đạt 3,8 tỷ USD Trong điều kiện hiện nay của Việt nam đang thiếu vốn đầu tư thì lượng kiều hối này góp phần không nhỏ cho việc thực hiện chiến lược đầu tư phát triển của quốc gia
Hình 2.4 Đồ thị Lượng kiều hối chuyển về Việt Nam từ 1991-2006
LƯỢNG KIỀU HỐI CHUYỂN VỀ TỪ 1991-2006
Lượng kiều hối
( Nguồn : Ngân hàng ngoại thương Việt Nam –Năm 2006 dự kiến )
Trang 382.2 Những lợi ích của vốn đầu tư nước ngoài cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Tác động tích cực của đầu tư nước ngoài đối với Việt Nam được biểu hiện
ở một số điểm :
Đầu tư nước ngoài đã góp phần tích cực vào quá trình tăng trưởng và thay đổi cơ cấu nền kinh tế Đất nước chúng ta xuất phát điểm từ một nước nông nghiệp lạc hậu, sản xuất phân tán, trải qua nhiều năm chiến tranh tàn phá nặng nề, thu nhập người dân rất thấp, thuộc một trong những nước nghèo trên thế giới Nước ta từ một nước sản xuất theo kế hoạch hoá tập trung, chuyển sang nền kinh tế thị trường, trong khi vốn dành cho đầu tư phát triển kinh tế còn rất nhỏ Từ đại hội đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 chúng ta mới bắt đầu chuyển sang nền kinh tế thị trường, nguồn vốn nước ngoài có vai trò rất quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Tính chung từ năm 1988 đến 2004, vốn đầu tư nước ngoài đã tạo
ra khoảng 14,3% tổng GDP của Việt Nam Nguồn vốn từ bên ngoài bao gồm cả vốn ODA và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 40% tổng vốn đầu tư của toàn xã hội cho nền kinh tế giai đoạn 1991-1997 khu vực kinh tế đầu tư nước ngoài luôn giữ vai trò đầu tầu tăng trưởng Tỷ lệ đóng góp của khu vực đầu tư nước ngoài trong GDP tăng dần qua các năm : năm 1995 là 6,3%, năm 1998 là 10,1%, năm 2000 là 13,3% và năm 2003 đã tăng lên 14,5% Tăng trưởng kinh tế là kết quả của của tăng đầu tư trong nước và tăng đầu tư nước ngoài, trong đó nguồn vốn mới đổ thêm vào và nguồn vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động Tốc độ tăng trưởng GDP của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng đầu tư nhà nước và đầu tư tư nhân trong nước
Đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng góp phần vốn bổ xung quan trọng vào tổng đầu tư xã hội, đồng thời kích thích huy động vốn đầu tư trong nước Vai trò tạo ra bước đột phá là cực kỳ quan trọng, nhất là trong giai đoạn đầu, khi mức tích luỹ của nền kinh tế còn thấp
Trang 39Về mức tuyệt đối vốn ĐTNN tăng dần và đạt đỉnh điểm trong các năm
1996 và năm 1997, giảm dần cho đến năm 1999 rồi tiếp tục tăng cho đến nay
Năm 2005 vốn đầu tư đăng ký là 6,8 tỷ USD, vốn thực hiện là 3,5 tỷ USD Trên
thực tế vốn ĐTNN có những biến động rất lớn trong những tháng cuối năm 2006
khi Việt Nam chuẩn bị là thành viên chính thức của WTO vào tháng 1/2007 và
Việt Nam vửa tổ chức thành công hội nghị thượng đỉnh APEC vào tháng 11/2006
tại thủ đô Hà Nội đồng thời vào ngày 21/12/2006 Tổng thống Hoa Kỳ G.Bush ký
thông qua dự luật quan hệ bình thường vĩnh viễn với Việt Nam ( PNTR )
Về giá trị tương đối : xét theo tỷ lệ so với GDP, vốn ĐTNN tăng liên tục
trong suất 20 năm qua, từ 2% năm 1991 lên 17% năm 2004
Tính theo tỷ trọng trong vốn đầu tư xã hội : trong giai đoạn 1991-1997 vốn
ĐTNN chiếm tỷ trọng khá lớn, từ 17% năm 1991 lên đỉnh điểm là 31% năm
1994, từ 1998 tỷ trọng giảm hẳn từ 28% năm 1997 xuống 21% và sau đó duy trì ở
mức 17-18% tổng vốn đầu tư toàn xã hội Năm 2005 vốn ĐTNN chiếm 17,34%
đạt 43.000 tỷ đồng, năm 2006 chiếm 16,3% tổng mức vốn đầu tư toàn xã hội đạt
giá trị 65.020,7 tỷ VND
Bảng 2.8 Đầu tư nước ngoài trong tổng đầu tư xã hội
Bảng cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội
Cơ cấu vốn
đầu tư Giá trị ( Ngàn
tỷ Đ)
Tỷ trọng (%)
Giá trị (Ngàn tỷ Đ)
Tỷ trọng (%)
Giá trị (Ngàn tỷ Đ)
Tỷ trọng (%)
Giá trị (Ngàn tỷ Đ)
Tỷ trọng (%)
Trang 40Hình 2.5 Đồ thị Cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội
0 50 100
150
200
Cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội
Đầu tư nước ngoài làm kích thích đầu tư trong nước
Trong khi đầu tư nước ngoài tính theo tỷ lệ so với GDP tăng liên tục trong
20 năm qua thì không có bằng chứng rõ rệt về việc vốn trong nước bị thay thế
hay sút giảm Bảng dưới đây cho thấy tỷ lệ vốn đầu tư trong nước thay đổi tăng
giảm không phụ thuộc vào biến động của vốn đầu tư nước ngoài
Bảng 2.9 Tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP ( % )
( Nguồn : số liệu đến năm 2000 : Báo cáo Bộ kế hoạch và Đầu tư Số liệu từ
2001-2004 : Báo cáo kinh tế hàng năm của CIEM 2005-2006-TC Thống kê )