1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại nhno&ptnt huyện đông sơn thanh hoá

65 250 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 227,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khác với các doanh nghiệp khác, NHTM không trực tiếp tham gia sản xuất và lưu thông hàng hóa, nhưng nó góp phần phát triển nền kinh tế xã hội thông qua việc cung ứng vốn tín dụng cho nền

Trang 1

Nhận xét của giảng viên hướng dẫn

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

PHOTO

QUANG TU N Ấ

T:

Đ

Trang 2

MỤC LỤC TRANG

DANH MỤC BẢNG

Trang 3

RRHĐ : Rủi ro hối đoái

HĐKD : Hoạt động kinh doanh

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Với mục tiêu phát triển nền kinh tế thị trường, định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà Nước, trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà Nước, nền kinh tế nước ta đã có những bước phát triển, tăng trưởng toàn diện và bền

vững Biểu hiện ở tốc độ tăng GDP đạt ở mức tương đối cao, những năm gần đây luôn ở mức gần 10%, từ đó thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành nghề, đồng thời cải thiện được nhiều lĩnh vực đời sống của nhân dân Có được những thành tựu đó một phần không nhỏ là sự đóng góp của các NHTM Với các chức năng của mình đặc biệt là chức năng trung gian tín dụng, các NHTM thực sự là đòn bẩy thúc đẩy nền kinh tế phát triển Bên cạnh những đóng góp chung cho nền kinh tế, bản thân các NHTM còn tìm kiếm lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của mình Khi đó tất yếu họ phải đối mặt với những rủi ro

Với các NHTM thực hiện quá trình kinh doanh nhằm mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận nhưng việc tìm kiếm lợi nhuận vẫn chủ yếu từ hoạt động tín dụng.Các NHTM hiện nay đều có chiến lược mở rộng thị phần tín dụng vì thế RRTD sẽ gây

ra những thiệt hại rất lớn cho các NH và nó trở thành vấn đề nổi cộm cần được các

NH quan tâm giải quyết Để đảm bảo an toàn cho hoạt động của các NH trên con đường tìm kiếm lợi nhuận thì việc phòng ngừa và hạn chế RRTD là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, từ đó đảm bảo an toàn vốn, kết hợp ở mức tối ưu những lợi nhuận và rủi ro, nâng cao mức cạnh tranh, từ đó bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển bền vững của mỗi NH Do đó phòng ngừa và hạn chế RRTD đã

và đang là vấn đề được quan tâm hàng đầu của các NHTM hiện nay

Từ những nhận thức đó cùng với những gì đã được học ở trường Đại học

Công nghiệp TP.Hồ Chí Minh em đã chọn đề tài” Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT Huyện Đông Sơn Thanh Hoá” để làm

chuyên đề tốt nghiệp của mình

Trang 5

Thực hiện đề tài này giúp em đánh giá được những vấn đề mang tính lý luận

về RRTD trong HĐKD của NHTM nói chung từ đó vận dụng thực tiễn vào quá trình công tác sau khi ra trường

KẾT CẤU CHUYÊN ĐỀ GỒM 3 CHƯƠNG:

Chương 1: Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường

Chương 2: Thực trạng rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá

Chương 3: Những giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT

huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá.

Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo, các cô chú, anh chị cán bộ, công nhân viên của Chi nhánh NHNo&PTNT Đông Sơn, đặc

biệt là của thầy giáo: Giảng viên Ths.Trần Thị Hường – người đã nhiệt tình

hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này

Trang 6

Khác với các doanh nghiệp khác, NHTM không trực tiếp tham gia sản xuất và lưu thông hàng hóa, nhưng nó góp phần phát triển nền kinh tế xã hội thông qua việc cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế, thực hiện chức năng trung gian thanh toán và dịch vụ Ngân hàng.

1.1.2 Vai trò của ngân hàng thương mại

Cùng với sự nghiệp đổi mới và đi lên của đất nước thì không thể phủ nhận vai trò đóng góp to lớn của ngành Ngân hàng Ngành Ngân hàng đã có bước chuyển

Trang 7

biến mạnh mẽ, tiếp tục đổi mới và đã đạt được những thành tựu đáng kể Các NHTM đã hỗ trợ tích cực về vốn đầu tư, là “giá đỡ” về vốn cho các doanh nghiệp, giúp các doanh nghiệp tăng cường thêm cơ sở vật chất-kỹ thuật, đổi mới công nghệ, tạo công ăn việc làm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện mức sống của dân cư, ổn định thu chi của Chính phủ Trong nền kinh tế hiện đại, với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật thì nhu cầu về vốn đổi với việc cải tiến công nghệ kỹ thuật cho sản xuất kinh doanh rất lớn, nên vai trò của NHTM được phát huy một cách tích cực và có hiệu quả Các vai trò của NHTM được thể hiện:

Thứ nhất: NHTM là công cụ quan trọng thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển:

NHTM không những cung ứng tín dụng các loại cho các doanh nghiệp mà còn thông qua chức năng làm trung gian tài chính đã thực hiện việc tập trung các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế xã hội (nghiệp vụ tiền gửi) Mặt khác, nó dùng chính số tiền đã huy động được để cho vay đối với các thành phần kinh tế trong xã hội khi có nhu cầu bổ sung vốn Qua đó các doanh nghiệp được đầu tư thêm vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh khi doanh nghiệp có nhu cầu Đồng thời thông qua các hoạt động của NHTM thực hiện phát hành và tạo nên các công

cụ tín dụng thay thế cho tiền mặt làm phương tiện thanh toán, làm hạn chế, giảm khối lượng tiền mặt cần thiết, cung ứng cho lưu thông khi làm trung gian thanh toán, Ngân hàng tạo điều kiện tăng nhanh tốc độ thanh toán, đảm bảo an toàn chi trả, bảo quản và tiết kiệm chi phí lưu thông không cần thiết cho nền kinh tế xã hội Nhờ vậy mà việc giao lưu hàng hóa của các thành phần kinh tế được thuận tiện, an toàn và có hiệu quả Cũng do vậy NHTM có thể tư vấn và hỗ trợ đầu tư vốn kịp thời cho hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp lựa chọn và

có hướng đi đúng trong hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao hơn

Trang 8

Những năm qua, nước ta đang trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường theo hướng “mở”, song lại có nhiều thách đố đặt ra cần tháo gỡ: một nền công nghiệp lạc hậu, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho xây dựng và phát triển kinh tế vừa thiếu vừa lạc hậu, đội ngũ cán bộ khoa học nhìn chung còn bất cập về số lượng

và trình độ, nền tài chính quốc gia còn eo hẹp chưa đáp ứng ở mức cần thiết nhu cầu phát triển kinh tế xã hội Hiện nay, tất cả các thành phần kinh tế đều có quyền bình đẳng tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh Song để cho hoạt động đó có hiệu quả góp phần vào sự phát triển nền kinh tế thì cũng cần phải có vốn đầu tư Mặt khác, với xu hướng “mở cửa” nền kinh tế, để thu hút các dự án đầu tư, chương trình xây dựng cơ bản, áp dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật công nghệ tiên tiến hiện đại thì nhu cầu về vốn cho sản xuất là rất lớn Khắc phục tình trạng trên và nhằm thực hiện đường lối công nghiệp hóa đất nước, thì một trong những điều kiện tiền đề nhằm phát triển kinh tế là phải có vốn Trước đây C.Mác cho rằng” “Một mặt ngân hàng là sự tập trung tư bản tiền tệ của những người có tiền cho vay, mặt khác nó là sự tập trung các người đi vay” Vậy vốn đầu tư của ngân hàng đã đóng vai trò quan trọng từ buổi sơ khai đến mô hình ngân hàng hiện đại ngày nay Theo kinh nghiệm của các nước có nền kinh tế thị trường thì không phải các ngân hàng ngồi chờ khách hàng đến xin vay mà phải chủ động đi tìm khách hàng để cho vay, đáp ứng mọi yêu cầu của khách hàng Với quan điểm đó, các NHTM đã không ngừng mở rộng và phát triển các nghiệp vụ kinh doanh đa dạng

và phong phú phục vụ nhu cầu về vốn cho khách hàng Để đáp ứng đòi hỏi các NHTM đã tham gia vào quá trình tài trợ các dự án đầu tư, các chương trình xây dựng cơ bản, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật của đất nước bằng nguồn vốn tín dụng của mình Đồng thời, vốn tín dụng của NHTM là đòn bẩy cho sản xuất kinh doanh được tiến hành thuận lợi và tạo điều kiện áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại tiên tiến

Trang 9

Như vậy có thể từ việc đầu tư vốn để mua máy móc thiết bị đầu vào, đến việc tác động tới hiệu quả đồng vốn thì NHTM đã thực sự phát huy vai trò của mình trong việc thúc đẩy phát triển nền kinh tế đất nước.

Ngoài ra, qua các hoạt động nghiệp vụ của NHTM làm tăng cường việc giám sát kỷ luật tài chính quốc gia trong quá trình triển khai và thực thi các hoạt động tiền tệ, tín dụng và thanh toán

Tóm lại, thông qua nguồn vốn tín dụng của mình, NHTM đã góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, giúp các thành phần kinh tế sử dụng vốn có hiệu quả hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư

Thứ hai: NHTM là công cụ thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương:

Với sự phân định rõ chức năng quản lý nhà nước và chức năng kinh doanh, trong đó Ngân hàng Trung ương làm nhiệm vụ kiểm soát và quản lý vĩ mô về tiền

tệ đối với các công ty tài chính, các NHTM (tổ chức tín dụng) với một mạng lưới rộng khắp để cung ứng tín dụng, và dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế Vì vậy, thông qua các công cụ như tín dụng, lãi suất, cùng với các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ khác, các NHTM đã góp phần to lớn trong việc thực thi các mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia của Ngân hàng Trung ương như việc điều hòa lưu thông tiền tệ, ổn định giá trị đồng tiền Việt Nam, kiểm soát lạm phát và giúp tăng trưởng nền kinh tế ở mức khá cao Đồng thời, phần lớn các công cụ thực thi chính sách tiền tệ chỉ có hiệu quả khi có sự kết hợp với các hoạt động nghiệp vụ của NHTM như dự trữ bắt buộc, tái chiết khấu, tái cấp vốn, cho đến các quy chế về thanh toán, cho vay, đầu tư Mặt khác, với tư cách là nhà tài trợ lớn cho nền kinh tế, NHTM góp phần quan trọng trong việc thực thi các dự án phát triển kinh tế xã hội, tạo cơ

sở vật chất kỹ thuật cho đất nước thông qua nghiệp vụ cho vay, đầu tư, tư vấn

Trang 10

Qua các hoạt động nghiệp vụ của NHTM không những là công cụ để thực thi chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương mà còn góp phần tăng cường lực lượng sản xuất, lưu thông hàng hóa được ổn định, mở rộng và phát triển, tăng thu nhập cho nền kinh tế xã hội, thúc đẩy nền kinh tế thị trường phát triển.

Đặc biệt đối với Việt nam hiện nay, vị trí và vai trò của các NHTM càng được coi trọng hơn, bên cạnh việc góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà Đảng và Nhà nước ta đã chọn thì nó tạo đà cho

xu thế hội nhập nền kinh tế nước nhà vơí nền kinh tế khu vực và thế giới

1.1.3 Hoạt động của NHTM:

1.1.3.1 Hoạt động tạo lập nguồn vốn:

Nguồn vốn của NHTM bao gồm toàn bộ các giá trị tiền tệ do Ngân hàng tạo lập được từ các chức năng và nghiệp vụ nhận tiền gửi của Ngân hàng Thông thường nguồn vốn của Ngân hàng được hình thành từ:

Thứ nhất: Vốn tự có và coi như tự có của Ngân hàng:

Để có thể thành lập một Ngân hàng thì chủ sở hữu phải có một số vốn cần thiết nhất định ban đầu theo pháp luật quy định còn gọi là vốn điều lệ (hay vốn riêng) Nó là cơ sở ban đầu để hình thành và giúp Ngân hàng đi vào hoạt động, tuy nhiên nó thường chiếm tỷ trọng rất nhỏ dưới 10% trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng Vốn này được gia tăng trong quá trình hoạt động kinh doanh bằng cách trích

từ lợi nhuận, hoặc bằng cách tăng mức đóng góp của các chủ sở hữu Bên cạnh vốn điều lệ, các NHTM còn phải trích lập các quỹ dự trữ như: quỹ dự trữ thông thường, quỹ dự trữ đặc biệt

Quỹ dự trữ thông thường là quỹ được trích lập từ lợi nhuận hàng năm để bổ sung cho vốn lưu động khi đã đạt được một quy mô nhất định

Trang 11

Ngoài ra, NHTM còn có vốn coi như tự có được thể hiện như: quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ khấu hao TCSĐ

Thứ hai: Hoạt động huy động vốn trong xã hội:

Với chức năng làm trung gian tài chính nên các NHTM đã thực hiện huy động vốn tiền tệ nhàn rỗi trong xã hội Để có tiền cho vay, đầu tư và kinh doanh cho mọi thành phần kinh tế trên các lĩnh vực khác nhau thì đòi hỏi các NHTM không thể chỉ dựa vào vốn tự có của mình mà phải huy động vốn trên thị trường Đây là một hoạt động quan trọng hàng đầu của mỗi NHTM, bởi vì thông thường nguồn vốn huy động này chiếm tỷ trọng rất lớn trong nguồn vốn của NHTM (70%-80%) Từ hoạt động này đã hình thành và tạo lập nên nguồn vốn chủ lực trong kinh doanh của bất kỳ một NHTM nào NHTM huy động vốn dưới các hình thức như: nhận tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán trong đó tiền gửi bao gồm tiền gửi không

kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn Với loại tiền gửi không kỳ hạn thì khách hàng có thể gửi và rút ra một cách dễ dàng, tuỳ theo nhu cầu của họ nên nguồn vốn này thường xuyên biến động dễ dẫn đến rủi ro, nhưng nó lại là nguồn vốn quan trọng Còn tiền gửi có kỳ hạn nó tạo nên nguồn vốn khá ổn định cho NHTM Ngoài ra NHTM còn phát hành thêm chứng chỉ tiền gửi như trái phiếu ngân hàng, kỳ phiếu Một nguồn vốn quan trọng khác trong hoạt động huy động vốn của các NHTM là nguồn vốn

đi vay ngân hàng khác ở trong và ngoài nước Hay vốn tạo được qua việc làm trung gian thanh toán

Thứ ba: Nguồn vốn đi vay của Ngân hàng khác:

Nguồn vốn đi vay của các Ngân hàng khác là nguồn vốn được hình thành bởi các mối quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với nhau hoặc giữa các tổ chức tín dụng với NHTW Nguồn vốn này bao gồm:

Nguồn vốn đi vay của các tổ chức tín dụng:

Trang 12

Trong quá trình kinh doanh của bất kì một doanh nghiệp nào cũng có lúc phát sinh tình trạng tạm thời thừa thốn Và ngược lại cũng phát sinh tình trạng tạm thời thiếu vốn Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng cũng không tránh khỏi tình trạng

đó Đối với Ngân hàng, cũng có lúc Ngân hàng tập trung huy động được vốn nhưng lại không cho vay hết, trong khi đó vẫn phải trả lãi tiền gửi Tương tự, có thời điểm nhu cầu cho vay vốn lớn nhưng khả năng nguồn vốn mà Ngân hàng huy động được lại không đáp ứng đủ Vì vậy, trong những trường hợp đi Ngân hàng có thể đi vay của ngân hàng khác có phát sinh tình trạng thừa vốn để nhằm khôi phục khả năng thanh toán của mình

Nguồn vốn vay của NHTW:

NHTW đóng vai trò là Ngân hàng của các Ngân hàng, là người cho vay cuối cùng của nền kinh tế Vì vậy khi có nhu cầu, các NHTM sẽ được NHTW cho vay vốn

Việc cho vay của NHTW đối với các NHTM thông qua hình thức tái cấp vốn Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng có đảm bảo của NHTW nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và các phương tiện thanh toán cho các NHTM

Trang 13

Hoạt động cho vay là hoạt động chủ yếu nhất của NHTM với nhiều hình thức khác nhau tuỳ theo đối tượng vay vốn Nếu căn cứ vào thời hạn cho vay thì có cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và dài hạn

Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn đến 12 tháng và được sử dụng

để bù đắp sự thiều hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân

Cho vay trung và dài hạn: Là loại cho vay để thực hiện các chương trình, dự

án phát triển kinh tế xã hội hoặc các nhu cầu đầu tư của các doanh nghiệp như mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ Một mặt nó đáp ứng nhu cầu vay vốn trung và dài hạn của xã hội về mở rộng ngành nghề sản xuất kinh doanh cũng như đầu tư xây dựng cơ bản Mặt khác chúng cũng còn phù hợp với khả năng huy động vốn ngày một tăng lên của NHTM và nhu cầu sử dụng vốn của

xã hội

Hoạt động đầu tư của NHTM thể hiện dưới các hình thức như: mua chứng khoán, trái phiếu của Chính phủ hoặc của doanh nghiệp và các nghiệp vụ liên doanh liên kết

Một hoạt động nữa trong việc khai thác và sử dụng nguồn vốn của NHTM là

Trang 14

các khách hàng qua nghiệp vụ: quỹ tiền mặt, tiền gửi ở các Ngân hàng khác và NHNN, hoặc các nghiệp vụ chứng khoán ngắn hạn.

Trong điều kiện nền kinh tế mở có xu thế hội nhập với nền tài chính tiền tệ khu vực và quốc tế, các NHTM hiện nay cũng rất chú trọng đến hoạt động kinh doanh ngoại tệ như: nhận tiền gửi và cho vay bằng ngoại tệ, mua bán ngoại tệ, làm dịch vụ thanh toán quốc tế

Ngoài các hoạt động cơ bản trên thì NHTM còn làm dịch vụ uỷ thác hay còn gọi là hoạt động trung gian của NHTM Nó bao gồm các hoạt động như thanh toán tiền hàng, cung cấp thông tin và tư vấn kinh doanh các hoạt động này được thực hiện trên cơ sở uỷ thác của khách hàng, để hưởng thù lao

Qua các hoạt động trên của NHTM ta thấy, hoạt động cho vay là một trong các hoạt động lớn nhất và chủ yếu nhất của NHTM, là nơi để điều chuyển vốn từ nơi tạm thời thừa đến nơi tạm thời thiếu, vì vậy lợi nhuận của Ngân hàng chủ yếu

là thu từ lãi cho vay là chiếm tỷ trọng lớn nhất Hơn nữa, hiện nay các NHTM có thể huy động rất lớn nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế qua nhiều hình thức, vì vậy các Ngân hàng phải tìm cách để cho vay hết số vốn đó, một mặt là đảm bảo cho hoạt động của Ngân hàng được diễn ra bình thường, mặt khác để đảm bảo thanh toán cho số tiền huy động đó khi đến hạn Vậy nên hiệu quả trong hoạt động cho vay quyết định đến hiệu quả hoạt động nói chung của Ngân hàng Do hoạt động cho vay được coi là hoạt động quan trọng nhất nên ở khâu này bao giờ cũng gắn liền với các rủi ro, thậm chí bị tổn thất Mặc dù khi cho vay bao giờ Ngân hàng cũng thực hiện các bảo đảm để tối thiểu các rủi ro có liên quan đến tiền vay như: phân tích khách hàng quy định mức cho vay, yêu cầu thế chấp, thỏa thuận tiền vay, trả nợ Nhưng dẫu sao Ngân hàng cũng không thể đánh giá được hết các bất ngờ, rủi ro một cách chính xác được Bởi lẽ, việc cho vay vẫn phần lớn phụ thuộc vào chủ quan của Ngân hàng và trên cơ sở các thông tin đã qua, nhưng việc cho vay và

Trang 15

hứa hẹn trả nợ ở tương lai Hơn nữa, ngay cả bản thân các khách hàng cũng có thể gặp phải các rủi ro, nên việc thực hiện nghĩa vụ với Ngân hàng không thể là điều chắc chắn Vậy nếu như Ngân hàng giảm thấp rủi ro trong hoạt động cho vay thì hiệu quả đạt được ở hoạt động này là cao Cũng chính vì vậy mà hiệu quả hoạt động nói chung của Ngân hàng được đảm bảo cao.

Qua sự trình bày ở trên, ta thấy rằng đảm bảo an toàn cho việc khai thác và sử dụng nguồn vốn là một vấn đề hết sức quan trọng đối với các Ngân hàng Bởi vì một mặt Ngân hàng phải đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn của khách hàng và đồng thời cũng phải đảm bảo khả năng tái đầu tư và nhu cầu chi trả của chính bản thân Ngân hàng Điều đó có nghĩa là các Ngân hàng phải đảm bảo an toàn cho các tài sản mà trước hết là các đảm bảo cho vay Bởi vậy cho vay, đầu tư hoặc nghiệp vụ ngân quỹ có nhiều liên quan đến việc sử dụng vốn và ý thức hoàn trả nợ từ phía khách hàng

Tóm lại, để đảm bảo khả năng tồn tại và phát triển đòi hỏi các Ngân hàng cần phải thực hiện tốt mọi khâu, mọi nghiệp vụ trong quá trình hoạt động và có thể nói hoạt động kinh doanh của NHTM đã và đang tìm kiếm các cơ hội để tìm cách thu lợi nhuận được nhiều hơn qua hoạt động tạo lập, tăng trưởng nguồn vốn và khai thác, sử dụng nguồn vốn đó một cách hiệu quả Tại báo cáo chính trị của Đại hội Đảng lần VIII đã nhấn mạnh “Việc huy động và sử dụng hiệu quả nguồn vốn của Ngân hàng là cơ sở tăng tích luỹ để tạo vốn cho đầu tư phát triển

1.2 NHỮNG RỦI RO CHỦ YẾU TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTM:

Rủi ro ngân hàng là những biến cố không mong đợi xảy ra gây mất mát thiệt hại về tài sản, thu nhập của ngân hàng trong quá trình hoạt động

Trang 16

Rủi ro của ngân hàng rất đa dạng và phức tạp, có thể tổng hợp một số dạng chủ yếu sau:

1.2.1 Rủi ro tín dụng:

Là rủi ro thường xuyên xảy ra, diễn biến phức tạp, khó quản lý nhất và thường gây hậu quả nặng nề nhất cho nên việc đánh giá rủi ro này là trách nhiệm chính của ngân hàng Rủi ro tín dụng là rủi ro do một khách hàng hay một nhóm khách hàng vay vốn không trả nợ được cho ngân hàng Trong kinh doanh ngân hàng, rủi ro tín dụng là loại rủi ro lớn nhất thường xuyên xảy ra và gây hậu quả nặng nề có khi dẫn đến phá sản ngân hàng Hoạt động của NHTM chủ yếu là hoạt động tín dụng Ở các nước phát triển trên thế giới, thu nhập từ hoạt động tín dụng thường trên 60%,

ở nước ta thu nhập của các NHTM từ hoạt động tín dụng trên 90%

Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phức tạp nhất, đánh giá rủi ro tín dụng là việc rất khó đối với ngân hàng Rủi ro tín dụng có thể xảy ra với bất cứ món vay nào, bất

cứ nơi nào

1.2.2 Rủi ro về nguồn vốn:

Rủi ro về nguồn vốn thường xuyên xảy ra một trong hai trường hợp sau:

Rủi ro thừa vốn: Rủi ro thừa vốn tức là ứ đọng vốn không cho vay và đầu tư

được Vì vậy không sinh lãi và có thể dẫn tới thua lỗ trong kinh doanh Bởi vì vốn của ngân hàng chủ yếu là vốn huy động phải trả lãi cho người gửi

Trường hợp thiếu vốn: Thiếu vốn ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu

vay của khách hàng Cũng có thể không đáp ứng nhu cầu của người gửi cần rút tiền

Rủi ro này xuất phát từ chức năng chuyển hóa các kỳ hạn sử dụng vốn và nguồn vốn của ngân hàng Thông thường các kỳ hạn sử dụng vốn dài hơn các kỳ

Trang 17

hạn các nguồn vốn, nên ngân hàng có thể vấp phải tình huống khó khăn không thể đáp ứng các cam kết ngắn hạn của mình Cũng có thể do nguyên nhân nào đó, cùng một lúc có hàng loạt khách hàng ồ ạt rút tiền làm ngân hàng không thể cùng một lúc có đủ tiền mặt để thanh toán.

Rủi ro này thể hiện ngân hàng thiếu vốn hoạt động Do sự cạnh tranh giữa các định chế tài chính trên thị trường vốn, nếu khả năng thanh toán của ngân hàng kém, ngân hàng lại khó lòng huy động được nguồn vốn dồi dào, từ đó phạm vi huy động của ngân hàng bị thu hẹp, ngân hàng càng dễ có nguy cơ bị vỡ nợ, phá sản

1.2.3 Rủi ro lãi suất:

Lãi suất là chi phí để vay hoặc giá phải trả để thuê vốn trong một thời gian nào đó Lãi suất trên thị trường thường biến động có thể gây nên thiệt hại cho ngân hàng Những thiệt hại do rủi ro lãi suất gây ra làm cho chi phí nguồn vốn lớn hơn thu nhập do sử dụng vốn kinh doanh của ngân hàng bị lỗ vốn

1.2.4 Rủi ro thanh khoản

Đặc trưng cơ bản của rủi ro thanh khoản là tính lỏng ít hơn so với tài sản nợ

và ngân hàng có thể không đáp ứng đầy đủ những yêu cầu rút tiền của người gửi

do tính lỏng của tài sản có thấp bởi vì các khoản cho vay của các doanh nghiệp nhìn chung có độ thanh khoản thấp Rủi ro thanh khoản phát sinh khi những người gửi tiền đồng thời có nhu cầu rút tiền ở ngân hàng ngay lập tức

1.2.5 Rủi ro hối đoái:

Tỷ giá hối đoái thường xuyên biến động, ngân hàng thường bị rủi ro khi mua một ngoại tệ với giá cao nhưng giá thị trường lúc bán giảm thấp

Trang 18

1.2.6 Rủi ro trong thanh toán:

Đó là các rủi ro trong quá trình thanh toán, có thể do sai sót nghiệp vụ, cũng

có thể bị lợi dụng trong thanh toán séc, thanh toán điện tử

1.2.7 Các rủi ro thuần tuý:

Là những rủi ro do thiên nhiên mang lại như thiên tai hoặc rủi ro như lừa đảo, trộm cắp, tham nhũng làm thiệt hại hay phá huỷ tài sản của ngân hàng

1.3 RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NHTM:

1.3.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng:

Rủi ro tín dụng là đặc trưng tiêu biểu nhất, dễ xảy ra nhất trong mọi hoạt động

ngân hàng Rủi ro trong hoạt động tín dụng là tình trạng người đi vay không có khả năng hoàn trả được hoặc lãi hoặc gốc, hoặc cả lãi và gốc một cách đầy đủ, đúng hạn của hợp đồng gây cho người cho vay những thiệt hại

1.3.2 Những dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng:

Dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng chính là những khoản cho vay có vấn đề Theo nghĩa hẹp, những khoản co vay có vấn đề là tất cả những khoản cho vay đã đến hạn nhưng người cho vay không thu hồi được hay chuyển nhượng được Tuy vậy các ngân hàng thường không xếp tất cả các khoản cho vay như vậy vào danh mục các khoản cho vay có vấn đề bởi lẽ yếu tố kỳ hạn không phải khi nào cũng được xác định chính xác Mặt khác những khoản cho vay chưa đến hạn nhưng thực

ra người đi vay đã mất khả năng thu hồi, ngoài ra còn có nhiều yếu tố khách quan tác động làm cho khách hàng chậm trả ngoài ý muốn của họ Hơn nữa sẽ khó có biện pháp xử lý kịp thời nếu chỉ quan tâm đến nó khi đã quá hạn

Trang 19

Có nhiều dấu hiệu khác nhau mà dựa vào đó ngân hàng có thể nhận định trước đó, cũng như để phân tích các nguyên nhân về các khoản cho vay có vấn đề Các dấu hiệu này thường rất phong phú và không giống nhau đối với các loại cho vay khác nhau, qua thực tiễn hoạt động rút ra đó là:

Một là : Khách hàng trì hoãn nộp các loại báo cáo tài chính cho ngân hàng:

Báo cáo tài chính là một tài liệu quan trọng giúp ngân hàng nắm bắt khả năng tài chính của doanh nghiệp Việc trì hoãn nộp các loại báo cáo tài chính có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng rõ ràng người vay không muốn cho ngân hàng sớm biết tình hình tài chính, chứng tỏ tình hình tài chính đang suy giảm

Hai là : Khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, mở rộng quy mô sản xuất quá mức

quy định

Ba là : Thanh toán chậm các khoản nợ gốc và lãi hoặc thường xuyên yêu cầu

ngân hàng cho vay đáo hạn hay yêu cầu các khoản vay vượt quá yêu cầu dự kiến

Bốn là : Người vay không tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc thăm viếng kiểm

tra của ngân hàng

Năm là : Công nhân phải nghỉ việc, thu nhập của họ sa sút, xí nghiệp phải bán tài

Bảy là : Hàng tồn kho tăng lên quá mức bình thường và các khoản nợ phải trả cũng

gia tăng, khả năng thanh toán thấp, một số khoản nợ của bạn hàng phải khất chịu, doanh số hoạt động trên tài khoản tiền gửi giảm

Trang 20

Tám là : Chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp giảm sút, khách hàng không tín

nhiệm như trước nữa dẫn đến tiêu thụ chậm với những chi phí bán hàng tăng, giá bán hạ Hay khó khăn trong việc phát triển sản phẩm, sản phẩm của khách hàng mang tính thời vụ cao

Chín là : Có các chi phí quản lý bất hợp lý, tập trung quá mức chi phí để gây ấn

tượng như thiết bị văn phòng hiện đại, lẫn lộn giữa chi phí kinh doanh và tài chính

cá nhân

Mười là : Các thảm họa về thiên nhiên như bão lụt, hỏa hoạn

Trong tất cả các dấu hiệu đó dấu hiệu rõ ràng và có ý nghĩa nhất là chạm thanh toán khoản cho vay

1.3.3 Tác động của rủi ro tín dụng:

1 Rủi ro làm giảm uy tín của ngân hàng:

Một ngân hàng có rủi ro lớn dân chúng sẽ thiếu lòng tin, như vậy khó có thể huy động được nguồn vốn dồi dào, các ngân hàng khác sẽ e ngại trong việc mở quan hệ Điều này lý giải khi giải quyết một món nợ bị rủi ro các ngân hàng thường mong muốn sử dụng cách thức không gây ồn ào

2 Rủi ro làm cho lợi nhuận suy giảm:

Điều này thấy rõ khi một khoản nợ khó đòi phát sinh, việc thu lãi cũng không thực hiện được, chi phí cho việc thu nợ tăng Thêm vào đó là quá trình mở rộng hoạt động cũng khó khăn, từ đó lợi nhuận của ngân hàng suy giảm

3 Rủi ro tín dụng làm cho khả năng thanh toán của ngân hàng giảm sút:

Kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng bao giờ cũng đề cập đến các món nợ đến hạn Khi rủi ro tín dụng phát sinh, tức là khoản nợ không được trả đúng hạn từ

Trang 21

đó không thực hiện được kế hoạch đầu tư cũng như thanh toán các khoản tiền gửi đến hạn.

4 Rủi ro có thể dẫn đến phá sản ngân hàng:

Những tác động của rủi ro nêu trên đến một mức nào đó làm cho nguồn vốn của ngân hàng bị thất thoát, không thu hồi được thì ngân hàng phải sử dụng các nguồn vốn của mình để trả cho người gửi tiền Trường hợp không đủ nguồn vốn để trả ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán thậm chí phá sản

1.4 NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG:

Như đã trình bày ở trên, rủi ro tín dụng là rủi ro lớn nhất trong hoạt động kinh doanh của NHTM có rất nhiều vụ việc xảy ra ảnh hưởng xấu đến hoạt động Ngân hàng Mặt khác, tình hình tiền tệ thế giới có nhiều ảnh hưởng đến nền kinh tế nước

ta Vậy đứng trên những góc độ khác nhau có nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng của cá NHTM

1.4.1 Nguyên nhân chủ quan.

1 Nguyên nhân chủ quan từ phía Ngân hàng:

Thực tế hoạt động kinh doanh của Ngân hàng trong thời gian vừa qua cho thấy nhiều trường hợp rủi ro tín dụng xảy ra là do nguyên nhân chủ quan của phía Ngân hàng Nó gây ra những hậu quả không lường cho các Ngân hàng, thậm chí làm phá sản không những riêng Ngân hàng đó mà nó còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến toàn hệ thống Ngân hàng

Có thể do NHTM chưa tôn trọng đầy đủ quy trình cho vay: điều tra, phân tích tìm khách hàng, thủ tục phê duyệt, tài sản thế chấp một trong những bước đó làm sai sẽ dẫn đến chất lượng tín dụng yếu kém khó thu hồi vốn Ngân hàng chưa thực hiện tốt phân tán rủi ro, có ngân hàng trong một khoảng thời gian dài chỉ tập trung

Trang 22

vốn tín dụng vào một số khách hàng và quá ưu ái cũng như đặt niềm tin vào những khách hàng này mà không quan tâm nghiên cứu cẩn thận xem khách hàng có đủ năng lực pháp lý Chưa biết rõ về khả năng chuyên môn và trình độ của những người lãnh đạo công ty, chưa xem xét vấn đề khách hàng có thể trả nợ được không nếu xảy ra rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng đó Hoặc có thể do trình độ nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ Ngân hàng Yếu tố con người quyết định đến sự thành bại trong kinh doanh Ở nước ta trong thời gian vừa qua đã xảy ra những trường hợp cán bộ Ngân hàng cố tình vi phạm quy định hoặc

có hành vi lừa đảo gây thất thoát vốn nghiêm trọng, có những trường hợp làm phá sản cả Ngân hàng Hay trong quá trình cho vay chỉ chú trọng đến kiểm tra trước khi cho vay, không quan tâm đến việc kiểm tra sử dụng vốn vay (kiểm tra sau) nên

có một số khách hàng đã sử dụng vốn sai mục đích, kém hiệu quả dẫn đến rủi ro cho Ngân hàng Do nắm thông tin không đầy đủ về khách hàng dẫn đến sai làm trong đầu tư

2 Nguyên nhân chủ quan từ phía khách hàng:

Nền kinh tế thị trường Việt Nam mới được hình thành và phát triển, tình hình kinh tế - xã hội thay đổi rất phức tạp, cùng với những thay đổi của nền kinh tế thế giới cho nên các doanh nghiệp trong nước khó có thể thay đổi, điều chỉnh kịp thời phù hợp với tình hình mới Nhất là trong giai đoạn hiện nay, khoa học kĩ thuật công nghệ phát triển mạnh mẽ, trong khi đó hầu hết các chủ doanh nghiệp có trình

độ quản lý, năng lực chuyên môn, điều hành kinh doanh còn bị hạn chế, lại phải sản xuất kinh doanh trong môi trường cạnh tranh gay gắt, tình trạng hàng nhập lậu tràn lan Điều đó có nghĩa là các doanh nghiệp phải đối mặt với rất nhiều khó khăn trong hoạt động kinh doanh của mình, nhiều doanh nghiệp do không thích ứng kịp thời với tình hình mới đã phải phá sản, gây ảnh hưởng không nhỏ đến sự hoạt động của Ngân hàng

Trang 23

Cũng có trường hợp, một số doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, năng lực quản lý kinh doanh của ban lãnh đạo yếu kém nên khi đến hạn doanh nghiệp không thu hồi được vốn, dẫn đến không trả được nợ cho Ngân hàng và xuất hiện nợ quá hạn Hay do khách hàng cố ý làm sai để được vay vốn Ngân hàng, trong khi đó khách hàng không đủ điều kiện vay vốn như: không đủ tài sản thế chấp, cầm cố, không đủ năng lực pháp nhân nên đã làm cho Ngân hàng gặp phải rủi ro khi khách hàng loại này gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh.

1.4.2 Nguyên nhân khách quan.

Đó là nguyên nhân do môi trường ngoại cảnh như việc: thay đổi chính sách, thiên tai bão lụt, nền kinh tế không ổn định làm cho Ngân hàng và khách hàng không thể ứng phó kịp, đã tác động không tốt đến hoạt động của NHTM

Môi trường kinh tế:

Như chúng ta đã biết trong sản xuất kinh doanh bất kỳ một sự biến động nào

đó ở một lĩnh vực nhất định cũng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của các lĩnh vực còn lại Hoạt động của các NHTM có thể được coi như là “chiếc cầu nối” giữa các lĩnh vực khách nhau của nền kinh tế Vì vậy, sự biến động của nền kinh tế sẽ có tác động trực tiếp đến hoạt động Ngân hàng Nền kinh tế ổn định và tăng trưởng là môi trường thuận lợi để hoạt động Ngân hàng phát triển, ngược lại sự bất ổn hoặc suy thoái của nền kinh tế sẽ làm rối loạn các hoạt động kinh doanh tiền tệ và đương nhiên rủi ro tín dụng là rất lớn Các nhân tố tác động trực tiếp, vốn đầu tư nước ngoài, hiệu quả kinh doanh do vậy mọi sự biến động xấu của nền kinh tế sẽ dẫn đến rủi ro tín dụng của Ngân hàng gia tăng

Hệ thống pháp luật:

Trong nền kinh tế hiện nay, mọi thành phần kinh tế đều có quyền tự chủ và

Trang 24

doanh Ngân hàng cũng vậy, nhân tố pháp luật có tác động trực tiếp đến mọi hoạt động của Ngân hàng Thực tiễn đã chỉ ra cho chúng ta thấy rằng pháp luật trở thành một bộ phận không thể thiếu được trong quá trình sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội Nếu không có pháp luật hoặc pháp luật không phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế - xã hội thì mọi hoạt động trong nền kinh tế gặp rất nhiều khó khăn Vì vậy vị trí của pháp luật trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng là vô cùng quan trọng, bởi đó là cơ sở để các bên thực hiện các nghĩa vụ của mình và là

cơ sở để giải quyết các tranh chấp khi xảy ra Vậy nếu như một trong các bên tham gia trong quan hệ tín dụng không chấp hành luật đúng đắn và đầy đủ thì nó sẽ gây rủi ro tín dụng, làm cho chất lượng kinh doanh tín dụng của Ngân hàng không hiệu quả

1.5 SỰ CẦN THIẾT PHẢI PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN

DỤNG.

Hoạt động kinh doanh của các NHTM trong nền kinh tế thị trường là một hoạt động rất nhạy cảm Bởi vì, NHTM cũng như một doanh nghiệp nhưng kinh doanh

là loại hàng hóa đặc biệt đó là “tiền tệ” và các nghiệp vụ khác có liên quan đến tiền

tệ vì NHTM có quan hệ “đi vay và cho vay”, là nơi điều chuyển vốn từ khu vực

“tạm thời thừa” sang khu vực “tạm thời thiếu” đối với hầu hết mọi đối tượng trong nền kinh tế xã hội Mọi biến động trong nền kinh tế xã hội đều nhanh chóng tác động đến hoạt động của NHTM, có thể gây nên những xáo trộn bất ngờ và hiệu quả hoạt động của Ngân hàng bị giảm sút một cách nhanh chóng Do vậy, hoạt động kinh doanh của NHTM luôn chứa đựng những rủi ro “tiềm ẩn” và có thể xảy

ra bất cứ lúc nào Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, với sự cạnh tranh gay gắt của các thành phần kinh tế, với quy luật “triệt tiêu” lẫn nhau, một số khách hàng hoạt động không hiệu quả khi sử dụng vốn vay của các NHTM Vậy có thể nói rủi

Trang 25

ro được xem như một yếu tố không thể tách rời với quá trình hoạt động của NHTM

và nó làm cho chất lượng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng đó bị giảm sút Rủi ro là sự kiện xảy ra ngoài ý muốn và ảnh hưởng xấu đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM Ở bất kỳ một hoạt động nào cũng không thể tránh khỏi với một loại rủi ro nhất định và các rủi ro thường dẫn đến sự thiệt hại và thua lỗ

Qua đây ta thấy, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải đối mặt và gặp phải rủi ro từ mọi phía Mặc dù rủi ro xảy ra ngoài ý muốn nhưng nó vẫn luôn tồn tại và có tính cố hữu trong mọi lĩnh vực kinh tế Với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, thì rủi ro được coi là những tổn thất mà mọi doanh nghiệp đều phải chấp nhận khi kinh doanh trên lĩnh vực mà mình đã chọn Còn đối với các NHTM khi kinh doanh cũng phải chấp nhận rủi ro

Các nhà kinh tế thường gọi Ngân hàng là “ngành kinh doanh rủi ro” Thực tế

đã chứng minh không một ngành nào mà khả năng dẫn đến rủi ro lại lớn như trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ-tín dụng Bởi vì rủi ro tín dụng được nhân lên gấp nhiều lần do không những Ngân hàng phải gánh chịu các rủi ro do nguyên nhân chủ quan của mình, mà còn phải gánh chịu những rủi ro do khách hàng gây ra Vì vậy “rủi ro tín dụng của Ngân hàng không những là cấp số cộng mà có thể là cấp

số nhân rủi ro của nền kinh tế” “Hơn nữa, rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng có thể gây ra tai họa to lớn cho nền kinh tế hơn bất cứ rủi ro của các loại hình doanh nghiệp khác, vì tính chất lây lan của nó có thể làm rung chuyển toàn bộ hệ thống kinh tế”

Với đặc điểm kinh doanh Ngân hàng là một loại hình kinh doanh đặc biệt, sản phẩm mà Ngân hàng kinh doanh là loại sản phẩm độc quyền “tiền tệ”, các nghiệp

vụ khác có liên quan đến tiền tệ và chỉ kinh doanh loại sản phẩm này mà thôi Nên

Trang 26

Ngân hàng phải đối phó với các loại rủi ro từ mọi nguồn gốc như: rủi ro tín dụng, rủi ro thiếu vốn khả dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái, rủi ro tín dụng quốc tế, rủi

ro mất khả năng thanh toán Vì vậy rủi ro nó luôn luôn tồn tại cùng với hoạt động của NHTM Rủi ro trong kinh doanh tín dụng là những tổn thất xảy ra trong quá trình các NHTM thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh của mình

Kinh doanh tín dụng NHTM gặp phải rủi ro cũng là điều dễ hiểu vì số tiền lãi thu được từ việc cho vay là rất nhỏ so với giá trị của khoản vay nên khoản thu đó là tương đối nhỏ so với mất mát Do vậy, khi xảy ra rủi ro thì nó sẽ làm ảnh hưởng rất lớn đến kết quả hoạt động kinh doanh, do một hoặc một nhóm khách hàng không thực hiện được các nghĩa vụ về tài chính với Ngân hàng Mà kinh doanh Ngân hàng

ở Việt Nam cho đến nay chủ yếu vẫn là kinh doanh tín dụng và thường gặp rủi ro Thời gian càng dài thì rủi ro càng lớn Chỉ cần một khoản tín dụng bị rủi ro với số vốn lớn thì các NHTM không những không thu được lãi mà có thể mất cả số vốn cho vay Cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ của các nước Đông Nam Á đã cho ta thấy rõ về rủi ro nói chung và rủi ro tín dụng nói riêng của NHTM

Qua sự phân tích trên thấy rằng các Ngân hàng phải đánh giá, xem xét và có những biện pháp phòng ngừa để từ đó có thể hạn chế rủi ro đảm bảo an toàn cho hoạt động của Ngân hàng thương mại là một việc làm cần thiết Việc đánh giá và xem xét rủi ro là trách nhiệm chính của Ngân hàng Nhưng để làm được việc này là hết sức khó khăn bởi các NHTM thường đưa ra các quyết định tín dụng dựa vào thông tin mà khách hàng cung cấp (có thể là không đầy đủ hoặc không đúng sự thật) nên dẫn đến những sai lầm như hạn chế, khó thu hồi nợ hay chất lượng tín dụng kém Trong khi đó, khách hàng của Ngân hàng thường bao gồm tất cả các thành phần kinh tế: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty TNHH nên thật khó mà đánh giá và xác định được khách hàng nào

có khả năng trả nợ chắc chắn, vì trong quá trình sản xuất kinh doanh của họ cũng

Trang 27

gặp nhiều rủi ro Chính vì vậy mà Ngân hàng là “nơi gánh chịu rủi ro cho cả nền kinh tế xã hội” Thường thì để hạn chế phần nào rủi ro của NHTM, khi kinh doanh tín dụng yêu cầu cần có tài sản cầm cố, thế chấp hay bảo lãnh Song bản thân các tài sản đó đôi khi cũng khó phát mại do chất lượng của tài sản hoặc tình trạng lừa đảo còn phần bảo lãnh nhiều khi còn thiếu trách nhiệm khi rủi ro xảy ra.

Nếu như không có tài sản cầm cố, thế chấp, bảo lãnh thì rủi ro tín dụng

=100% Tỷ lệ tổn thất tín dụng được xác định theo công thức:

Trang 28

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NHNO&PTNT HUYỆN

ĐÔNG SƠN TỈNH THANH HOÁ.

2.1 Giới thiệu tổng quát về NHNNo&PTNT huyện Đông Sơn Thanh Hóa: 2.1.1- Quá trình hình thành và phát triển của NHNo&PTNT huyện Đông Sơn Thanh Hóa

Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) được thành lập vào ngày 26/3/1988 Trụ sở chính đặt tại: 02 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội NHNo&PTNT Việt Nam là ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam tính theo tổng khối lượng tài sản, nguồn vốn, đội ngũ cán bộ nhân viên, mạng lưới hoạt động

và khối lượng khách hàng Đến tháng 3/2007, vị thế dẫn đầu của NHNo&PTNT Việt Nam (Agribank) vẫn khẳng định trên nhiều phương diện: Tổng nguồn vốn đạt gần 267.000 tỷ đồng, vốn tự có gần 15.000 tỷ đồng, tổng dư nợ đạt gần 239.000 tỷ đồng NHNo&PTNT Việt Nam có hơn 2.200 chi nhánh và điểm giao dịch được bố trí rộng khắp trên toàn quốc với gần 30.000 cán bộ nhân viên

Đến năm 2009, NHNo&PTNT Việt Nam có tổng số tài sản là 470.000 tỷ đồng, có 35.135 cán bộ nhân viên và 2.300 chi nhánh

Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn (NHNo&PTNT) Huyện Đông Sơn hiện là một trong những chi nhánh của NHNo&PTNT Tỉnh Thanh Hóa, thuộc hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam, nằm trên địa bàn Thị Trấn Rừng Thông Huyện Đông Sơn

Trước năm 1988, ở Việt Nam chỉ tồn tại hệ thống ngân hàng một cấp, đó là NHNN Việt Nam với chức năng chủ yếu là cung ứng vốn và tiền mặt cho các

Trang 29

doanh nghiệp Nhà nước và tổ chức hành chính Nhà nước Trên thực tế, NHNN hoạt động như một quỹ tín dụng tập trung của Chính phủ.

Ngày 26/03/1988, NHNo&PTNT Việt Nam được thành lập, là NHTM hàng đầu Việt Nam giữ vai trò chủ đạo và chủ lực trong đầu tư vốn phát triển nông nghiệp nông thôn cũng như những lĩnh vực khác của nền kinh tế

Ngày 01/09/1988, Chi nhánh NHNo&PTNT Huyện Đông Sơn chính thức là đơn vị trực thuộc NHNo&PTNT Việt Nam NHNo&PTNT Đông Sơn không ngừng phát triển theo đà của hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam

Tên đầy đủ bằng tiếng việt: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Thanh Hóa- Chi nhánh Đông Sơn

Tên viết tắt:Chi nhánh NHNo&PTNT Huyện Đông Sơn tỉnh Thanh HóaTên giao dịch quốc tế bằng tiếng anh: Thanh Hóa Nam Bank of Agriculture and Rural Divelopment- Dong Son Branch

Tên viết tắt tiếng Anh: NHNo Dong Son

Tên thương hiệu VBARD: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Trụ sở chính đặt tại: Thị Trấn Rừng Thông ,Huyện Đông Sơn, Tỉnh Thanh Hóa

Đến nay, ngoài NHNo&PTNT Huyện Đông Sơn, trên địa bàn Huyện còn có thêm Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Đông Sơn và các quỹ tín dụng nhân dân tại các xã Đông Minh và Đông Lĩnh cùng hoạt động

Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Đông Sơn chỉ cho vay đối với hộ sản xuất thuộc đối tượng là hộ nghèo Các quỹ tín dụng cho vay chủ yếu các đối tượng

Trang 30

Sơn cung ứng vốn cho toàn bộ các đối tượng có nhu cầu vốn và có đầy đủ điều kiện được vay vốn trên địa bàn Huyện Đông Sơn.

2.1.2 Cơ cấu tổ chức và mạng lưới hoạt động của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Huyện Đông Sơn:

2.1.2.1 Cơ cấu tổ chức:

Khi mới thành lập năm 1988, Ngân hàng có 30 nhân viên, trong đó có 30% cán bộ có trình độ đại học, 40% cán bộ có trình độ cao đẳng và 30% cán bộ có trình độ trung cấp, được bố trí sắp xếp với mô hình hoạt động gồm 3 phòng ban chức năng: Ban Giám đốc, Phòng Kế toán, Phòng Kinh doanh

Đến nay, tổng số cán bộ của NHNo&PTNT Huyện Đông Sơn có 50 người, được

bố trí với mô hình hoạt động gồm 3 phòng ban chức năng

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh NHNo&PTNT Huyện Đông Sơn

GI M Á ĐỐ C

PHÓ GI M Á

C ĐỐ

PHÓ GI M Á

C ĐỐ

Trang 31

2.1.2.2 Chức năng nhiệm vụ của từng phòng ban:

Ban Giám đốc:

Gồm 1 giám đốc và 2 phó giám đốc

Giám đốc: Chịu trách nhiệm quản lý và điều hành mọi hoạt động kinh doanh chung của ngân hàng và chi nhánh

Phó giám đốc phụ trách kế toán ngân quỹ

Phó giám đốc phụ trách hoạt động kinh doanh

Các phòng ban bao gồm :

Phòng kinh doanh: Có nhiệm vụ kiểm tra , xem xét, thẩm định khách hàng,

và đề xuất cho vay đối với các dự án vay vốn Lựa chọn các biện pháp cho vay có hiệu quả , an toàn, và chỉ đạo các hoạt động kinh doanh chung của toàn huyện

Phòng kế toán ngân quỹ: Thực hiện các nghiệp vụ kế toán phát sinh trong

ngày như: thu, chi tiền mặt, cho vay thu nợ , thanh toán chuyển tiền…đáp ứng các nhu cầu của khách hàng Đồng thời làm nhiệm vụ quản lý và sử dụng các quỹ chuyên dùng của ngân hàng

Phòng hành chính: Có chức năng làm công tác hậu cần ,chịu trách nhiệm về

xuất nhập công cụ lao động cho từng phòng ban Có trách nhiệm trợ giúp cho cán

bộ quản lý và lãnh đạo thực hiện các hoạt động quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức

Trang 32

Tiến hành thu nợ, thu lãi theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng

Mỗi phòng có một chức năng nhiệm vụ riêng nhưng có cùng tinh thần đoàn kết, ý thức trách nhiệm cao đảm bảo hoạt động kinh doanh của chi nhánh NHNo&PTNT Huyện Đông Sơn mỗi ngày một ổn định và vững chắc, đời sống nhân viên ngày càng được nâng cao

Nhờ có bộ máy nhân sự bố trí hợp lý, gọn nhẹ, đội ngũ nhân sự có nhiều kinh nghiệm cùng sự quản lý linh hoạt của Ban Lãnh đạo, NHNo&PTNT Huyện Đông Sơn luôn đạt được những thành công đáng kể Đến nay đã tạo được một thị phần quan trọng trên địa bàn, xây dựng mối quan hệ gắn bó với khách hàng truyền thống, tạo cơ sở vững chắc cho Ngân hàng phát huy sức mạnh tổng hợp, tạo niềm tin cho khách hàng

2.1.3 Hoạt động của NHNo&PTNT huyện Đông Sơn thời gian qua:

Trong 3 năm 2011,2012,2013 hoạt động kinh doanh Ngân hàng gặp nhiều khó khăn hơn những năm trước Bên cạnh những thiệt hại về thiên tai lũ lụt xảy ra vào cuối năm 2013 nền kinh tế còn chịu sự tác động, chi phối của cuộc khủng hoảng tiền tệ khu vực Đông Nam Á, gây tâm lý bất ổn cho khách hàng dẫn đến co hẹp về

sự hoạt động Tuy nhiên hoạt động của NHNo&PTNT huyện Đông Sơn vẫn duy trì tốt trên các mặt: huy động vốn, mở rộng cho vay

Cùng với thắng lợi của toàn ngành Ngân hàng, những năm qua NHNo&PTNT huyện Đông Sơn đã thu được nhiều kết quả, tạo đà cho những bước phát triển mới trong tương lai

Năm 2013, nguồn vốn huy động tại chỗ đạt 45.620 triệu, tổng dư nợ hữu hiệu đạt 58.520 triệu, tỷ lệ nợ quá hạn 1,34%

Chúng ta thấy rằng tình hình kinh tế xã hội Việt Nam còn những tồn tại và khó khăn, song những năm gần đây đã đi vào thế ổn định và phát triển Bên cạnh

Ngày đăng: 05/11/2014, 15:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Luật NHNN Việt Nam số 01/1997/QH10 ngày 12/12/1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật NHNN Việt Nam số 01/1997/QH10
Năm: 1997
1. Luật các tổ chức tín dụng số 02/ 1997/QH10 ngày 12/12/1997 Khác
3. PGS.TS. Phan Thị Cúc (2008), giáo trình Nghiệp vụ NHTM, NXB Thống kê, TP.Hồ Chí Minh Khác
4. Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh các năm 2010, 2011, 2012 của Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Đông Sơn Khác
5. Báo cáo tín dụng qua các năm, báo các phân loại nợ từng thời kỳ của chi nhánh NHNo&PTNT huyện Đông Sơn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh NHNo&PTNT Huyện Đông  Sơn - giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại nhno&ptnt huyện đông sơn thanh hoá
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh NHNo&PTNT Huyện Đông Sơn (Trang 30)
Bảng 2.2: Tình hình cho vay đối với nền kinh tế. - giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại nhno&ptnt huyện đông sơn thanh hoá
Bảng 2.2 Tình hình cho vay đối với nền kinh tế (Trang 37)
Bảng 2.5: Tình hình dư nợ qua các năm. - giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại nhno&ptnt huyện đông sơn thanh hoá
Bảng 2.5 Tình hình dư nợ qua các năm (Trang 41)
Bảng 2.7: Nợ quá hạn trong cho vay theo thành phần kinh tế. - giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại nhno&ptnt huyện đông sơn thanh hoá
Bảng 2.7 Nợ quá hạn trong cho vay theo thành phần kinh tế (Trang 43)
Bảng 2.8. Phân tích nguyên nhân nợ quá hạn năm 2013 - giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại nhno&ptnt huyện đông sơn thanh hoá
Bảng 2.8. Phân tích nguyên nhân nợ quá hạn năm 2013 (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w