Mà để có nguồn vốn lớn cần phát triển thị trường chứng khoán.Tuy nhiên, việc phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam gặp không ít khókhăn về kinh tế nhưng cũng chính nó lại có thể t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
CƠ SỞ THANH HÓA – KINH TẾ
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn thầy cô trường Đại học Công Nghiệp TPHCM đãtruyền đạt những kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm bổ ích trong suốt quá trìnhhọc tập Đặc biệt là cô Nguyễn Thị Phương người trực tiếp tham gia giảng dạy, tậntình quan tâm hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này
Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn!
Thanh Hóa, ngày 02 tháng 07 năm 2013
Sinh viên thực hiện
Phạm Thu Trang
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Thanh Hóa, ngày … tháng … năm 2013
Giảng viên hướng dẫn
Trang 4NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
Thanh Hóa, ngày … tháng … năm 2013
Giảng viên phản biện
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
4 TTCKVN Thị trường chứng khoán Việt Nam
5 SGDCK Sàn giao dịch chứng khoán
6 TTGDCK Thị trường giao dịch chứng khoán
8 TTLKCK Trung tâm lưu ký chứng khoán
9 UBCKNN Ủy ban chứng khoán nhà nước
Trang 6DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
DANH MỤC SƠ ĐỒ
MỤC BẢNG
Trang 7MỤC LỤC
Trang 8Để tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá thành công, tăng trưởng kinh tếbền vững, khắc phục nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực cần phải cónguồn vốn lớn Mà để có nguồn vốn lớn cần phát triển thị trường chứng khoán.Tuy nhiên, việc phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam gặp không ít khókhăn về kinh tế nhưng cũng chính nó lại có thể trở thành vật cản cho nền kinh tếấy.
Chính vì thế, mà hơn bao giờ hết chúng ta cần phải chuẩn bị một cách kỹ càng
cả về kiến thức cơ bản và các kinh nghiệm của các nước khác trên thế giới về cơcấu quản lý và kiểm soát hoạt động của thị trường chứng khoán Có như vậy thì thịtrường chứng khoán mới không trở thành vật cản của nền kinh tế
Vì vậy, em chọn đề tài “Giải pháp phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam” để làm chuyên đề tôt nghiệp của mình
Bài chuyên đề gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thị trường chứng khoán
Chương 2: Thực trạng thị trường chứng khoán ở Việt Nam
Chương 3: Giải pháp phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam
Trang 9Thị trường thứ cấp Thị trường sơ cấp
Chứng khoán Vốn
Nhàđầu tư Doanh ngiệp hoặc chính phủ Nhàđầu tư
Vốn Chứng khoán
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN
1.1 THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1.2 Khái niệm về thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán là một thị trường mà ở nơi đó người ta mua bán,chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời Tuy nhiên, đó cóthể là TTCK tập trung hoặc phi tập trung Tính tập trung ở đây là muốn nói đếnviệc các giao dịch được tổ chức tập trung theo một địa điểm vật chất
Hình thái điển hình của TTCK tập trung là Sở giao dịch chứng khoán ( Stockexchange) Tại Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK), các giao dịch được tập trungtại một địa điểm; các lệnh được chuyển tới sàn giao dịch và tham gia vào quá trìnhghép lệnh để hình thành nên giá giao dịch
TTCK phi tập trung còn gọi là thị trường OTC (over the counter) Trên thịtrường OTC, các giao dịch được tiến hành qua mạng lưới các công ty chứng khoánphân tán trên khắp quốc gia và được nối với nhau bằng mạng điện tử Giá trên thịtrường này được hình thành theo phương thức thoả thuận
Cơ cấu của thị trường chứng khoán:
Trang 101.1.2 Phân loại thị trường chứng khoán
Xét về sự lưu thông của chứng khoán trên thị trường, thị trường chứng khoán
có hai loại: thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
Thị trường sơ cấp: Là thị trường phát hành Đây là thị trường mua bán các
chứng khoán phát hành lần đầu giữa nhà phát hành (người bán) và nhà đầu tư(người mua) Trên thị trường sơ cấp, chính phủ và các công ty thực hiện huy độngvốn thông qua việc phát hành - bán chứng khoán của mình cho nhà đầu tư
Vai trò của thị trường sơ cấp là tạo ra hàng hoá cho thị trường giao dịch vàlàm tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế
Nhà phát hành là người huy động vốn trên thị trường sơ cấp, gồm chính phủ,chính quyền địa phương, các công ty và các tổ chức tài chính
Nhà đầu tư trên thị trường sơ cấp bao gồm cá nhân, tổ chức đầu tư Tuynhiên, không phải nhà phát hành nào cũng nắm được các kiến thức và kinh nghiệmphát hành Vì vậy, trên thị trường sơ cấp xuất hiện một tổ chức trung gian giữa nhàphát hành và nhà đầu tư, đó là nhà bảo lãnh phát hành chứng khán Nhà bảo lãnhphát hành chứng khoán giúp cho nhà phát hành thực hiện việc phân phối chứngkhoán mới phát hành và nhận từ nhà phát hành một khoản hoa hồng bảo lãnh pháthành cho dịch vụ này
Thị trường thứ cấp: Là thị trường giao dịch.Đây là thị trường mua bán các
loạI chứng khoán đã được phát hành Thị trường thứ cấp thực hiện vai trò điều hoà,lưu thông các nguồn vốn, đảm bảo chuyển hoá các nguồn vốn ngắn hạn thành dàihạn Qua thị trường thứ cấp, những người có vốn nhàn rỗi tạm thời có thể đầu tưvào chứng khoán, khi cần tiền họ có thể bán lại chứng khoán cho nhà đầu tư khác.Nghĩa là thị trường thứ cấp là nơi làm cho các chứng khoán trở nên ‘lỏng’ hơn Thịtrường thứ cấp là nơi xác định giá của mỗi loại chứng khoán mà công ty phát hànhchứng khoán bán ở thị trường thứ cấp Nhà đầu tư trên thị trường sơ cấp chỉ muacho công ty phát hành với giá mà họ cho rằng thị trường thứ cấp sẽ chấp nhận chochứng khoán này
Trang 12Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp là hai thị trường không thể tách rời.
Thị trường sơ cấp tạo ra hàng hoá còn thị trường thứ cấp thúc đẩy giao dịch hàng
hoá đó
Xét về phương diện tổ chức và giao dịch, thị trường chứng khoán có ba loại:
Thị trường chứng khoán tập trung: là thị trường ở đó việc giao dịch mua
bán chứng khoán được thực hiện thông qua Sở giao dịch chứng khoán
Thị trường chứng khoán bán tập trung: là thị trường chứng khoán “bậc
cao” Thị trường chứng khoán bán tập trung (OTC) không có trung tâm giao dịch
mà giao dịch mua bán chứng khoán thông qua mạng lưới điện tín, điện thoại Một
điều rất quan trọng là các nhà đầu tư trên thị trường OTC không trực tiếp gặp nhau
để thoả thuận mua bán chứng khoán như trong phòng giao dịch của Sở giao dịch
chứng khoán, thay vào đó họ thuê các công ty môi giới giao dịch hộ thông qua hệ
thống viễn thông
Các công ty chứng khoán trên thị trường OTC có mặt ở khắp nơi trên đất
nước, mỗi công ty chuyên kinh doanh buôn bán một số loại chứng khoán nhất
định Các công ty chứng khoán giao dịch mua bán chứng khoán cho mình và cho
khách hàng thông qua việc giao dịch với các nhà tạo thị trường về các loại chứng
khoán đó Các công ty cũng thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán như:
giao dịch mua bán cho chính mình, môi giới mua bán cho khách hàng, dịch vụ tư
vấn đầu tư chứng khoán, bảo lãnh phát hành Các chứng khoán mua bán trên thị
Trang 13trường OTC cũng phải được niêm yết công khai cho công chúng biết để có quyếtđịnh đầu tư Các chứng khoán được niêm yết trên thị trường OTC tương đối dễdàng, các điều kiện niêm yết không quá nghiêm ngặt Như vậy, hầu như tất cả cácchứng khoán không được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán đều được giaodịch ở đây Các chứng khán buôn bán trên thị trường OTC thường có mức độ tínnhiệm thấp hơn các chứng khoán được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán.Song, do thị trường nằm rải rác ở khắp các nơi nên độ lớn của thị trường khó cóthể xác định chính xác được, thông thường khối lượng buôn bán chứng khoán trênthị trường này là lớn hơn Sở giao dịch chứng khoán Từ điều kiện niêm yết thôngthoáng hơn mà chứng khoán của các công ty được buôn bán trên thị trường nàynhiều hơn, thậm chí một số chứng khoán được niêm yết trên Sở giao dịch chứngkhoán cũng được mua bán ở thị trường này.
Hoạt động giao dịch buôn bán chứng khán trên thị trường OTC cũng diễn rakhá đơn giản Khi một khách hàng muốn mua một số lượng chứng khoán nhấtđịnh, anh ta sẽ đưa lệnh ra cho công ty chứng khoán đang quản lý tài sản của mìnhyêu cầu thực hiện giao dịch hộ mình Thông qua hệ thống viễn thông, công ty môigiới - giao dịch sẽ liên hệ tới tất cả các nhà tạo thị trường của loại chứng khoán này
để biết được giá chà bán thấp nhất của loại chứng khán đó Sau đó công ty này sẽthông báo lại cho khách hàng của mình và nếu khách hàng chấp thuận, thì công ty
sẽ thực hiện lệnh này và giao dịch của khách hàng sẽ được thực hiện
Thị trưòng chứng khoán phi tập trung: còn gọi là thị trường thứ ba Hoạt
động mua bán chứng khoán được thực hiện tự do
Ngoài ra nếu căn cứ vào đặc điểm hàng hoá lưu hành thì thị trường chứngkhoán được chia thành: thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, và thị trường cáccông cụ phái sinh
-Thị truờng cổ phiếu là thị trường mua bán và giao dịch các loại cổ phiếu, baogồm cổ phiéu thường và cổ phiếu ưu đãi
-Thị trường trái phiếu là thị trường mua bán và giao dịch các loại trái phiếuđãđược phát hành, bao gồm trái phiếu công ty,trái phiếu đô thị và trái phiếu chính
Trang 14-Thị trường công cụ phái sinh là thị trường mua bán vàgiao dịch các chứng từtài chính như: quyền mua cổ phiếu,chứng quyền, quyền chọn mua…
1.1.3 Chức năng của thị trường chứng khoán
1.1.3.1 Huy động vốn cho nền kinh tế
Thị trường chứng khoán được xem như chiếc cầu vô hình nối liền người thừavốn với người thiếu vốn để họ giúp đỡ nhau thông qua việc mua bán cổ phiếu vàqua đó để huy động vốn cho nền kinh tế, góp phần phát triển sản xuất kinh doanhtạo công ăn việc làm cho người lao động, giảm thất nghiệp, ổn định đời sống dân
cư và thúc đẩy nền kinh tế phát triển.Thông qua thị trường chứng khoán, chính phủ
và chính quyền địa phương cũng huy động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển cơ
sở hạ tầng.Thị trường chứng khoán đóng vai trò tự động điều hoà vốn giữa nơithừa sang nơi thiếu vốn Vì vậy, nó góp phần giao lưu và phát triển kinh tế Mức
độ điều hoà này phụ thuộc vào quy mô hoạt động của từng thị trường chứng khoán.Chẳng hạn, những thị trường chứng khoán lớn như Luân Đôn, Niu óc, Paris,Tokyo, thì phạm vi ảnh hưởng của nó vượt ra ngoài khuôn khổ quốc gia vì đây lànhững thị trường chứng khoán từ lâu được xếp vào loại hoạt động có tầm cơ quốc
tế Cho nên biến động của thị trường tác động mạnh mẽ tới nền kinh tế của bảnthân nước sở tại, mà còn ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán nước khác
1.1.3.2 Thông tin
Thị trường chứng khoán bảo đảm thông tin chính xác, kịp thời (cho các nhàđầu tư và các nhà kinh doanh chứng khoán c) về tình hình cung - cầu, thị giá củatừng loại chứng khoán trên thị trường mình và trên thị trường chứng khoán hữuquan
1.1.3.3 Cung cấp khả năng thanh khoản
Nhờ có thị trường chứng khoán mà các nhà đầu tư có thể chuyển đổi thànhtiền khi họ muốn.Chức năng cung cấp khả năng thanh khoản bảo đảm cho thịtrường chứng khoán hoạt động hiệu quảvà năng động
Trang 151.1.3.4 Đánh giá giá trị doanh nghiệp
Thị trường chứng khoán là nơI đánh giá chính xác doanh nghiệp thông quachỉ số chứng khoán trên thị trường Việc này kích các doanh nhgiệp nâng cao hiệuquả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công ngệ mới
1.1.3.5 Tạo môi trường để chính phủ thực hiện chính sách vĩ mô
Chính phủ có thẻ mua bán trái phiếu chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắpthâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát.ngoài ra chính có thể sử dụng các chínhsách tác động vào thị trường chứng khoán nhằm định hướng đầu tư
1.1.4 Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán
1.1.4.1 Cơ quan quản lý nhà nước
Cơ quan này được thành lập để thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối vớithị trường chứng khoán cơ quan này có những tên gọi khác nhau tuỳ từng nước.Tại Anh có Uỷ ban đầu tư chứng khoán (SIB- Securities Investment Board), tại Mỹ
có Uỷ ban chứng khoán và Giao dịch chứng khoán (SEC - Securities AndExchange Comission) hay ở Nhật Bản có Uỷ ban giám sát chứng khoán và Giaodịch chứng khoán (ESC - Exchange Surveillance Comission) được thành lập vàonăm 1992 và đến năm 1998 đổi tên thành FSA - Financial Supervision Agency Và
ở Việt Nam có Uỷ ban chứng khoán nhà nước được thành lập theo Nghị địng số75/CP ngày 28/11/1996
1.1.4.2 Sở giao dịch chứng khoán
Hiện nay trên thế giới có ba hình thức tổ chức Sở giao dịch chứng khoán:Thứ nhất: Sở giao dịch chứng khoán được tổ chức dưới hình thức “câu lạc bộmini” hay được tổ chức theo chế độ hội viên Đây là hình thức tổ chức Sở giaodịch chứng khoán có tính chất tự phát Trong hình thức này, các hội viên của Sởgiao dịch chứng khoán tự tổ chức và tự quản lý Sở giao dịch chứng khoán theopháp luật không có sự can thiệp của nhà nước Các thành viên của Sở giao dịchchứng khoán bầu ra hội đồng quản trị để quản lý và hội đồng quản trị bầu ra banđiều hành
Thứ hai: Sở giao dịch chứng khoán được tổ chức dưới hình thức công ty cổ
Trang 16phần có cổ đông là công ty chứng khoán thành viên Sở giao dịch chứng khoán tổchức dưới hình thức này hoạt động theo luật công ty cổ phần và chịu sự giám sátcủa một cơ quan chuyên môn về chứng khoán và thị trường chứng khoán do chínhphủ lập ra.
Thứ ba: Sở giao dịch chứng khoán được tổ chức dưới dạng một công ty cổphần nhưng có sự tham gia quản lý và điều hành của Nhà nước Cơ cấu tổ chức,điều hành và quản lý cũng giống như hình thức công ty cổ phần nhưng trong thànhphần hội đồng quản trị có một số thành viên do Uỷ ban chứng khoán quốc gia đưavào, giám đốc điều hành Sở giao dịch chứng khoán do ủy ban chứng khoán bổnhiệm
Thành viên của Sở giao dịch chứng khoán có thể là cá nhân hoặc các công tychứng khoán (còn gọi là công ty môi giới chứng khoán) Để trở thành thành viêncủa một Sở giao dịch chứng khoán, công ty phải được cơ quan có thẩm quyền củanhà nước cấp giấy phép hoạt động, phải có số vốn tối thiểu theo quy định và cónhững chuyên gia kinh tế, pháp lý đã được đào tạo về phân tích và kinh doanhchứng khoán, ngoài ra công ty còn phải thoả mãn yêu cầu của từng sở giao dịchriêng biệt Một công ty chứng khoán có thể là thành viên của hai hay nhiều Sở giaodịch chứng khoán, nhưng khi đã là thành viên của Sở giao dịch chứng khoán (thịtrường chứng khoán tập trung) thì không được là thành viên của thị trường phi tậptrung (thị trường OTC) và ngược lại
Để cho các giao dịch diễn ra công bằng, đảm bảo lợi ích của các nhà đầu tư,
Sở giao dịch chứng khoán có bộ phận chuyên theo dõi, giám sát các hoạt động giaodịch buôn bán chứng khoán để ngăn chặn kịp thời các vi phạm trong giao dịch như
là gây nhiễu giá, giao dịch tay trong, giao dịch có giàn xếp trước Bộ phận giám sáttiến hành theo dõi dưới hai hình thức là theo dõi thường xuyên hoặc theo dõi định
kì Khi phát hiện có vi phạm thì xử lý nghiêm minh, nếu đặc biệt nghiêm trọng thìtrình lên Uỷ ban chứng khoán để điều tra xử lý
1.1.4.3 Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán hoạt động với mục đích bảo vệ lợi
Trang 17ích cho các công ty thành viên nói riêng và cho toàn ngành chứng khoán nóichung Hiệp hội này có một số các chức năng chính sau:
- Khuyến khích hoạt động đầu tư và kinh doanh chứng khoán
- Ban hành và thực hiện các quy tắc tự điều hành trên cơ sở các quy định phápluật về chứng khoán
- Điều tra và giải quyết tranh chấp giữa các thành viên
- Tiêu chuẩn hoá các nguyên tắc và thông lệ trong ngành chứng khoán
1.1.4.4 Tổ chức ký gửi và thanh toán chứng khoán
Tổ chức ký gửi và thanh toán chứng khoán là các tổ chức nhận lưu giữ cácchứng khoán và tiến hành nghiệp vụ thanh toán bù trừ
Thị trường chứng khoán là phương tiện huy động vốn Trước đây các đơn vịkinh doanh phụ thuộc lớn vào ngân này để có vốn kinh doanh Ngày nay các đơn
vị kinh doanh cũng như Nhà nước huy động vốn trực tiếp từ các nguồn tiết kiệmbằng cách phát hành cổ phiếu hay trái phiếu
Thị trường chứng khoán là công cụ giúp Nhà nước thực hiện chương trìnhphát triển kinh tế xã hội về mặt kinh tế Nhà nước vay tiền của dân là thiết thực vàlành mạnh Vì chính phủ không phải thông qua ngân hàng để phát hành thêm tiềnvào lưu thông Tạo ra sức ép lạm phát thông qua TTCK việc phát hành trái phiếuhết sức thuận lợi
TTCK là công cụ kiểm soát thu hút vốn đầu tư nước ngoài TTCK là công cụ
Trang 18cho phép kiểm soát vốn ĐTNN tốt nhất vì nó hoạt động công khai.
TTCK lưu động hoá mọi nguồn vốn trong nước Một khi việc đầu tư vàodoanh nghiệp là có lợi cho tầng lớp dân từ thì qua TTCK các khoản tiết kiệm sẵnsàng từ bỏ bất động hoá, chấp nhận vào quá trình đầu tư
Thị trường CK là điều kiện cho quá trình cổ phần hoá: cổ phần hoá là quátrình chuyển từ doanh nghiệp Nhà nước sang công ty cổ phần Đòi hỏi phải cóTTCK, TTCK là cơ sở, là tiền đề vật chất cho quá trình cổ phần hoá đi đúng trật tựpháp luật, phù hợp với tâm lý người đầu tư
TTCK kích thích doanh nghiệp hoạt động đàng hoàng hơn: Nhờ TTCK cácdoanh nghiệp mới có thể đem bán phát hành cổ phiếu; trái phiếu của họ mà banquản lý TTCK chỉ chấp nhận cổ phiếu, trái phiếu hợp lệ: như kinh doanh hợp pháp,tài chính lành mạnh dân chúng cũng mua cổ phiếu của công ty thành đạt Vì vậy
sẽ kích thích doanh nghiệp hoạt động đàng hoàng hơn
Mua bán nội gián: Đây là hiện tượng một cá nhân nào đó lợi dụng việc làmthu được những thông tin nội bộ của một đơn vị kinh tế để mua hoặc bán cổ phiếucủa đơn vị đó nhằm thu lợi cho mình, gây ảnh hưởng giá cổ phiếu trên thị trườngđó
Mua bán cổ phiếu ngoài TTCK luật về TTCK cũng đã hạn chế các nhà môigiới mua bán cổ phiếu ngoài thị trường chứng khoán, vì nếu để việc này xảy ra sẽgây hậu quả khó lường Vì bộ phận quản lý không hề nào biết được việc chuyểnnhượng quyền sở hữu cổ phiếu của đơn vị đó Mọi sự mua bán ngoài có khả năng
Trang 19tạo áp lực cho các nhà đầu tư khác.
1.1.6 Các nguyên tắc hoạt động về hoạt động của thị trườn chứng khoán
1.1.6.1 Nguyên tắc trung gian mua bán chứng khoán
Hoạt động mua bán chứng khoán không phải trực tiếp diễn ra giữa nhữngngười muốn mua và bán, chứng khoán thực hiện mà do các nhà trung gian môi giớithực hiện Đây là nguyên tắc trung gian căn bản cho tổ chức và hoạt động của thịtrường chứng khoán
Nguyên tắc trung gian nhằm đảm bảo cho các loại chứng khoán là chứngkhoán thực và thị trường hoạt động lành mạnh, đều đặn hợp pháp và phát triển, bảo
vệ lợi ích của người đầu tư Vì những nhà đầu tư không thể xét đoán một cáchnhanh chóng và chính xác giá trị thực sự của từng loại chứng khoán và cũng không
dự đoán được chính xác xu hướng biến động của nó Vì vậy nếu người môi giới cóthái độ không khách quan trong hoạt động trung gian sẽ gây thiệt haị cho các nhàđầu tư
Xét về tính chất kinh doanh, môi giới chứng khoán có 2 loại: Môi giới chứngkhoán và thương gia chứng khoán
Môi giới chứng khoán chỉ thương lượng mua bán chứng khoán theo lệnh củakhách hàng và ăn hoa hồng
Thương gia chứng khoán còn gọi là người kinh doanh chứng khoán
Nói chung các công ty môi giới chứng khoán tại các thị trường chứng khoánđều đồng thời thực hiện 2 nghiệp vụ là người môi giới vừa là người kinh doanhnhưng tại thị trường chứng khoán New York, London từ lâu người ta đã phân biệt
2 loại môi giới này và có luật lệ không chỉ hoạt động của thương gia chứng khoán
1.1.6.2 Nguyên tắc định giá của mua bán chứng khoán
Giá chứng khoán trên thị trường chứng khoán do các nhà môi giới đưa ra.Mỗi nhà môi giới định giá mỗi loại chứng khoán tại từng thời điểm tuỳ theo sự xétđoán, kinh nghiệm và kỹ thuật dựa trên lượng cung cầu loại chứng khoán đó trênthị trường
Trang 201.1.6.3 Nguyên tắc công khai của thị trường chứng khoán
Tất cả các hoạt động trên thị trường chứng khoán đều được công khai hoá.Thông tin về các loại chứng khoán được đưa ra mua bán trên thị trường, tình hìnhtài chính và kết quả kinh doanh của các công ty phát hành, số lượng chứng khoán
và giá cả của từng loại chứng khoán đều được thông báo công khai trên thị trường.Khi kết thúc một cuộc giao dịch, số lượng mua bán và giá cả thống nhất lập tứcđược thông báo ngay Nguyên tắc công khai của thị trường chứng khoán nhằmđảm bảo quyền lợi cho người mua bán chứng khoán không bị "hớ" trong mua bánchứng khoán
Tất cả các nguyên tắc trên đều được thể hiện bằng văn bản pháp quy từ luậtđến qui chế, điều lệ của mỗi thị trường chứng khoán nhằm bảo vệ quyền lợi củangười mua chứng khoán và của các thành viên trên thị trường chứng khoán
1.2 CHỨNG KHOÁN
1.2.1 Khái niệm chứng khoán
Chứng khoán là nhân tố cơ bản hình thành nên tài chính chứnh khoán , là mộtloại hàng hoá đặc biệt là công cụ huy động vốn từ nơi thừa vốn sang nơi thiếuvốn ,từ người cung vốn đến người cầu vốn
“Chứng khoán là những giấy tờ có giá có khả năng chuyển nhượng xác định
số vốn đầu tư (tư bản đầu tư) ,xác nhận quyền sở hữu của quyền đòi nợ hợp pháp, boa gồm các điều kiện về thu nhập và tài sản trong một thời hạn nào đó”
Chứng khoán là hàng hoá của thị trường chứng khoán Đó là những tài sản tàichính vì nó mang lại thu nhập và khi cần người chủ sở hữu có thể bán nó đi để thutiền về Nói chung người ta phân chia chứng khoán thành 4 nhóm chính là cổphiếu, trái phiếu, các công cụ chuyển đổi và các công cụ phái sinh
Các chứng khoán do chính phủ, chính quyền địa phương và các công ty pháthành với mức giá nhất định Sau khi phát hành, các chứng khoán có thể được mua
đi bán lại nhiều lần trên thị trường chứng khoán theo các mức giá khác nhau tuỳthuộc vào cung và cầu trên thị trường
1.2.2 Phân loại chứng khoán
Trang 211.2.2.1 Cổ phiếu:
Cổ phiếu là một loại chứng khoán được phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặcbút toán ghi sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu cổphiếu đối với tài sản hoặc vốn của một công ty cổ phần
- Cổ phiếu thường: là cổ phiếu xác định quyền sở hữu của cổ đông trong công
ty Cổ phiếu thường được đặc trưng bởi quyền quản lí, kiểm soát công ty Cổ đông
sở hữu cổ phiếu thường được tham gia bầu hội đồng quả trị, tham gia bỏ phiếuquyết định các vấn đề lớn của công ty Cổ tức của cổ phiếu thường được trả khi hộiđồng quản trị công bố Khi công ty giải thể hoặc phá sản, cổ đông sở hữu cổ phiếuthường sẽ được chia số tiền còn lại sau khi thanh toán các khoản nợ và thanh toáncho cổ phiếu ưu đãi
- Cổ phiếu ưu đãi: là cổ phiếu có cổ tức xác định được thể hiện bằng số tiềnxác định được in trên cổ phiếu hoặc theo tỉ lệ phần trăm cố định so với mệnh giá cổphiếu.Cổ phiếu ưu đãi thường được trả cổ tức trước các cổ phiếu thường Cổ đông
sở hữu cổ phiếu ưu đãi không được tham gia bỏ phiếu bầu ra hội đồng quản trị.Khi công ty giải thể hoặc phá sản, cổ phiếu ưu đãi được ưu tiên thanh toán trướccác cổ phiếu thường
1.2.2.2 Trái phiếu:
Trái phiếu là chứng khoán nợ, người phát hành trái phiếu phải trả lãi và hoàntrả gốc cho những người sở hữu trái phiếu vào lúc đáo hạn
Trái phiếu có thể phân theo nhiều tiêu chí khác nhau:
- Căn cứ vào chủ thể phát hành, trái phiếu gồm hai loại chính là: trái phiếuchính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương (do chính phủ và chính quyền địaphương phát hành) và trái phiếu công ty (do công ty phát hành)
- Căn cứ vào tính chất chuyển đổi, trái phiếu được chia thành loại có khả năngchuyển đổi (chuyển đổi thành cổ phiếu) và loại không có khả năng chuyển
- Căn cứ vào cách thức trả lãi, trái phiếu được chia thành các loại sau:
+ Trái phiếu có lãi suất cố định: là loại trái phiếu được thanh toán cố địnhtheo định kỳ
Trang 22+ Trái phiếu với lãi suất thả nổi: là loại trái phiếu mà khoản lãi thu được thayđổi theo sự biến động của lãi suất thị trường hoặc bị chi phối bởi biểu giá, chẳnghạn như giá bán lẻ.
+ Trái phiếu chiết khấu: là loại trái phiếu không trả thưởng và được bán theonguyên tắc chiết khấu Tiền thưởng cho việc sở hữu trái phiếu nằm dưới dạng lợinhuận do vốn đem lại hơn là tiền thu nhập (nó là phần chênh lệch giữa giá trị danhnghĩan - mệnh giá trái phiếu và giá mua)
- Trái phiếu có bảo đảm và trái phiếu không có bảo đảm
1.2.2.3 Chứng khoán có thể chuyển đổi
Chứng khoán có thể chuyển đổi là những chứng khoán cho phép người nắmgiữ nó, tuỳ theo lựa chọn và trong những điều kiện nhất định, có thể đổi nó lấy mộtchứng khoán khác
Thông thường có cổ phiếu ưu đãi được chuyển thành cổ phiếu thường và tráiphiếu được chuyển thành cổ phiếu thường
1.2.2.4 Các chứng khoán phái sinh.
- Quyền mua cổ phần: là quyền ưu tiền mua trước dành cho các cổ đông hiệnhữu của một công ty cổ phần
- Chứng quyền là một loại chứng khoán trao cho người nắm giữ nó quyềnđược mua một số lượng xác định các chưng khoán khác với một mức giá nhất định
và vào một thời gian nhất định
- Hợp đồng kỳ hạn: là một thoả thuận trong đó người mua và người bán chấpnhận giao dịch hàng hoá với khối lượng nhất định, tại một thời điểm nhất địnhtrong tương lai với một mức giá được ấn định vào ngày hôm nay
- Bên cạnh đó còn có các loại hợp đồng khác như: hợp đồng tương lai vàquyền lựa chọn
1.3 CÁC CHỦ THỂ HOẠT ĐỘNG TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN:
Các tổ chức và cá nhân tham gia TTCK có thể được chia thành các nhóm sau:nhà phát hành, nhà đầu tư và các tổ chức có liên quan đến chứng khoán
Trang 231.3.1 Chủ thể phát hành:
Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua TTCK Chủthể phát hành là người cung cấp các chứng khoán - hàng hoá của TTCK Chủ thểphát hành gồm có:
Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu Chínhphủ và trái phiếu địa phương, trái phiếu kho bạc, nhằm tìm kiếm nguồn tài trợ chonhững công trình lớn thuộc cơ sở hạ tầng, phát triển sự nghiệp văn hóa giáo dục, y
tế hoặc bù đắp thiếu hụt ngân sách;
Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty;
Các tổ chức tài chính như là nhà phát hành các công cụ tài chính như các tráiphiếu, chứng chỉ thụ hưởng… phục vụ cho hoạt động của họ
1.3.2 Nhà đầu tư:
Nhà đầu tư là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên TTCK Nhàđầu tư có thể được chia thành 2 loại: nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức.Các nhà đầu tư cá nhân: nhà đầu tư cá nhân là các hộ gia đình, những người
có vốn nhàn rỗi tạm thời tham gia mua bán trên TTCK với mục đích tìm kiếm lợinhuận;
Các nhà đầu tư có tổ chức: là các định chế tài chính thường xuyên mua bánchứng khoán với số lượng lớn trên thị trường Một số nhà đầu tư chuyên nghiệptrên thị trường là các ngân hàng thương mại, các công ty chứng khoán, công ty đầu
tư, các công ty bảo hiểm, quỹ tương hỗ…
1.3.3 Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán:
Công ty chứng khoán: là các doanh nghiệp hoạt động theo quy định của Phápluật hoạt động trên TTCK Tùy theo số vốn điều lệ và nội dung trong đăng ký kinhdoanh mà công ty chứng khoán có thể thực hiện một hoặc một số nghiệp vụ kinhdoanh chứng khoán như: môi giới chứng khoán, tự doanh, quản lý danh mục đầu
tư, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư và lưu ký chứng khoán
Các ngân hàng thương mại: ở một số nước các ngân hàng thương mại có thể
sử dụng vốn tự có để tăng và đa dạng hóa lợi nhuận qua việc đầu tư vào chứng
Trang 24khoán Ở Việt Nam, các ngân hàng thương mại thành lập các công ty con chuyêndoanh trong hoạt động kinh doanh chứng khoán.
Các trung gian tài chính khác như quỹ đầu tư, …
1.3.4 Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán:
Cơ quan quản lý Nhà nước: nhận thấy cần thiết phải có một cơ quan bảo vệlợi ích của các nhà đầu tư và đảm bảo cho TTCK hoạt động một cách thông suốtcũng như việc thanh tra giám sát hoạt động của các chủ thể trên thị trường chính làviệc cần thiết phải có một cơ quan thực hiện các nhiệm vụ trên Ở Việt Nam có Ủyban chứng khoán nhà nước thuộc Bộ Tài Chính
Sở giao dịch chứng khoán: Sở giao dịch chứng khoán thực hiện việc vận hànhthị trường thông qua bộ máy tổ chức bao gồm nhiều bộ phận khác nhau phục vụcho các họat động giao dịch trên Sở giao dịch Ngoài ra, Sở giao dịch cũng banhành những quy định điều chỉnh các hoạt động giao dịch trên Sở giao dịch phù hợpvới quy định của Pháp luật
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán là một tổ chức tự quản và thườngthực hiện một số chức năng chính sau: khuyến khích hoạt động đầu tư và kinhdoanh chứng khoán, ban hành và thực hiện các quy tắc tự điều hành trên cơ sở củaPháp luật về chứng khoán, điều tra và giải quyết các tranh chấp giữa các thành viêntrong thẩm quyền, hợp tác với các cơ quan nhà nước và các cơ quan khác để giảiquyết các vấn đề có liên quan đến hoạt động chứng khoán
Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán: là tổ chức nhận lưu giữ cácchứng khoán và tiến hành các nghiệp vụ thanh toán bù trừ cho các giao dịch chứngkhoán
Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm: là các công ty chuyên cung cấp dịch vụđánh giá năng lực thanh toán vốn gốc và lãi đúng thời hạn và theo những điềukhoản đã cam kết của công ty phát hành đối với một đợt phát hành cụ thể Các mức
hệ số tín nhiệm vì thế thường gắn với một đợt phát hành cụ thể chứ không phải chocông ty
Ngoài ra, chủ thể hoạt đông trên TTCK còn có các công ty dịch vụ máy tính
Trang 25chứng khoán, các tổ chức tài trợ chứng khoán…
1.4 CÁC NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN:
1.4.1 Nguyên tắc trung gian:
Mọi hoạt động giao dịch, mua bán chứng khoán trên TTCK đều được thựchiện thông qua các trung gian, hay còn gọi là các nhà môi giới Các nhà môi giớithực hiện giao dịch theo lệnh của khách hàng và hưởng hoa hồng Ngoài ra, nhàmôi giới còn có thể cung cấp các dịch vụ khác như cung cấp thông tin và tư vấncho khách hàng trong việc đầu tư
Theo nguyên tắc trung gian, các nhà đầu tư không thể trực tiếp thỏa thuận vớinhau để mua bán chứng khoán Họ đều phải thông qua các nhà môi giới của mình
để đặt lệnh Các nhà môi giới sẽ nhập lệnh vào hệ thống để khớp lệnh
1.4.2 Nguyên tắc đấu giá:
Giá chứng khoán được xác định thông qua việc đấu giá giữa các lệnh mua vàcác lệnh bán Tất cả các thành viên tham gia thị truờng đều không thể can thiệp vàoviệc xác định giá này Có hai hình thức đấu giá là đấu giá trực tiếp và đấu giá tựđộng:
Đấu giá trực tiếp là việc các nhà môi giới gặp nhau trên sàn giao dịch và trựctiếp đấu giá
Đấu giá tự động là việc các lệnh giao dịch từ các nhà môi giới được nhập vào
hệ thống máy chủ của Sở giao dịch chứng khoán Hệ thống máy chủ này sẽ xácđịnh mức giá sao cho tại mức giá này, chứng khoán giao dịch với khối luợng caonhất
1.4.3 Nguyên tắc công khai:
Tất cả các hoạt động trên TTCK đều phải đảm bảo tính công khai Sở giaodịch chứng khoán công bố các thông tin về giao dịch chứng khoán trên thị trường.Các tổ chức niêm yết công bố công khai các thông tin tài chính định kỳ hàng nămcủa công ty, các sự kiện bất thường xảy ra đối với công ty, nắm giữ cổ phiếu củagiám đốc, người quản lý, cổ đông đa số Các thông tin càng được công bố công
Trang 26khai minh bạch, thì càng thu hút đuợc nhà đầu tư tham gia vào TTCK.
Các nguyên tắc trên đây nhằm đảm bảo cho giá cả chứng khoán được hìnhthành một cách thống nhất, công bằng cho tất cả các bên giao dịch Do đó, ở hầuhết các nước trên thế giới hiện nay, mỗi nước chỉ có một Sở giao dịch chứng khoánduy nhất (tuy nhiên, người dân mọi miền đất nước đều có thể tiếp cận thị trườngthông qua các phòng giao dịch của công ty chứng khoán mở tới các điểm dân cư).Một số nước khác còn tồn tại vài Sở giao dịch chứng khoán do lịch sử để lạithì đều nối mạng với nhau hoặc giao dịch những chứng khoán riêng biệt
Trang 27CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN Ở
VIỆT NAM
2.1 MÔ HÌNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
2.1.1 Về cơ quan quản lý thị trường chứng khoán
Đối với Việt Nam, Uỷ ban chứng khoán Nhà nước đã được thành lập để quản
lý và giám sát thúc đẩy cho thị trường phát triển theo định hướng XHCN và bảo vệquyền lợi cho các nhà đâu tư Đây là bước đi đúng phù hợp với điều kiện của ViệtNam và xu hướng quốc tế
2.1.2 Về trung tâm giao dịch chứng khoán
Trung tâm giao dịch chứng khoán tại thành phố Hồ Chí Minh đã được thànhlập Còn trung tâm giao dịch chứng khoán tại Hà Nội đang được xem xét thành lập
Hệ thống giao dịch của trung tâm tự động hoá với trạm làm việc có công suất nhỏ
2.1.3.2 Số lượng Sở giao dịch chứng khoán
Để tránh những bất lợi của việc tồn tại nhiều Sở giao dịch chứng khoán mà các nước đang gặp phải, chúng ta cũng chỉ nên xây dựng một Sở giao dịch chứng khoán thống nhất với các sàn giao dịch tại một, hai thành phố được nối mạng với nhau
2.1.3.3 Địa điểm thiết lập Sở giao dịch chứng khoán
Sở giao dịch chứng khoán được đặt ở thành phố Hồ Chí Minh vì hiện naythành phố Hồ Chí Minh là trung tâm thương mại tài chính lớn nhất trong 12 nước
và để cho Sở giao dịch phát triển Với hệ thống giao dịch điện tử, các công ty môi
Trang 28giới tại Hà Nội vẫn có thể dễ dàng sẽ được tiếp cận thị trường
2.1.3.4 Giao dịch ngoài Sở
Đối với Việt Nam, để công khai hoá tất cả các hoạt động giao dịch, Nhà nướcđang xem xét thành lập Sở giao dịch chứng khoán tập trung cho tất cảcác chứngkhoán (kể cả công ty và và nhỏ) có đủ điều kiện niêm yết, hay không đủ điều kiệnniêm yết được mua bán tại Sở giao dịch chứng khoán
Tuy nhiên, việc giao dịch những chứng khoán của công ty lớn (đủ điều kiệnniêm yết) tách biệt với khu vực giao dịch những chứng khoán của những công tyvừa và nhỏ không đủ điều kiện niêm yết
2.1.3.5 Hệ thống giao dịch
Việt Nam áp dụng hệ thống ghép lệnh Hệ thống này đơn giản cho phép cóđược giá cả, cạnh tranh tốt nhất nên đang được nhiều nước mới nổi áp dụng ở ViệtNam trong thời gian đầu khi thị trường chưa phát triển, khối lượng giao dịch cònnhỏ, nên áp dụng phương thức ghép lệnh từng đợt đểgiảm bớt sự biến động của giá
cả
2.1.3.6 Mức độ tự động hoá
Trong điều kiện chi phí cho hệ thống tự động hoá ngày càng có xu hướnggiảm thì Việt Nam cần thiết và sử dụng chương trình tự động hoá ngay từ đầu Nếubắt đầu bằng giao dịch thủ công, sau đó lại thay thế bằng hệthống tự động thì sẽtốn kém Để tiết kiệm chi phí cho thời gian đầu ở Việt Nam chỉ lắp đặt thiết bị vớicông suất xử lý thấp Các thiết bị lắp đặt ở trạng thái mở để khi khối lượng giaodịch tăng lên có thể lắp đặt thêm nhằm mổ rộng công suất xử lý của hệ thống
2.1.4 Về lĩnh vực đăng ký, thanh toán - bù trừ và lưu giữ chứng khoán
Hệ thống đăng ký, thanh toán - bù trừ và lưu giữ chứng khoán Các chức năngđăng ký, thanh toán, bù trù và lưu giữ được kết hợp vào một trung tâm duy nhấttrong cả nước Các công ty chứng khoán và các ngân hàng được cho phép trở thànhcông ty lưu ký
2.1.5 Về các tổ chức trung gian
Ở Việt Nam, các ngân hàng chỉ được phép kinh doanh chứng khoán dưới hình
Trang 29thức thành lập các công ty độc lập, hoạt động tách rời với kinh doanh 13tiền tệ.Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cho phép cả các công ty chứng khoán độc lập hìnhthành từ các công ty tài chính, các tổng công ty lớn
Ở Việt Nam các công ty chứng khoán được phép thực hiện tất cả các hìnhthức như : bảo lãnh phát hành chứng khoán, môi giới chứng khoán, tư doanhchứng khoán, tư vấn chứng khoán và quản lý quỹ đầu tư Riêng hình thức quản lýquỹ đầu tư, yêu cầu phải hoạt động tách rời dưới hình thức một công ty độc lậpnhằm bảo vệ lợi ích của những cổ đông của quỹ
Ngoài ra hiện nay, Nhà nước còn cho phép hai loại doanh nghiệp tham giakinh doanh chứng khoán là công ty cổ phần và doanh nghiệp liên doanh
Trên thế giới có hai loại quỹ đầu tư chứng khoán chủ yếu là quỹ đóng, quỹ
mở Trong thời gian đầu Việt Nam dự kiến áp dụng hình thức quỹ đầu tư chứngkhoán dạng quỹ đóng (quỹ không mua lại cổ phần của cổ đông muốn rút vốn) đểđảm bảo an toàn trong điều kiện khả năng thanh toán của thị trường còn thấp
2.1.6 Về sự tham gia của bên nước ngoài
Việt Nam cho phép bên nước ngoài được sở hữu một tỷ lệ phần trăm nhấtđịnh và cho phép công ty chứng khoán nước ngoài được liên doanh với công tychứng khoán trong nước theo một tỷ lệ liên doanh nhất định
2.2 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của thị trường chứng khoán phổ biến nhất
là chỉ số VN-Index và HNX-Index
Sau đây là một vài con số thể hiện chứng khoán năm 2012 và thời gian trở lạiđây trong năm 2013
Theo số liệu thống kê ngày 28/12/2012 cho thấy:
Trải qua một năm khó khăn nhưng VN-Index vẫn ghi nhận tăng 18% từ 350điểm lên 413.7 điểm, còn HNX-Index lại có sự giảm nhẹ 0.7% từ 56.79 xuống56.4 điểm
Trang 30Bảng 2.1: Khối lượng cổ phiếu niêm yết năm 2012
Biểu đồ 2.1: Khối lượng cổ phiếu niêm yết
Bảng 2.2: Giá trị vốn hóa thị trường năm 2012
Biểu đồ 2.2: Giá trị vốn hóa thị trường năm 2012
Biểu đồ 2.3: Biến động của thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2012
Trang 31Bảng 2.3: Giao dịch cổ phiếu tại HSX năm 2012
VN-Index (điểm) KLGD (cổ phiếu) GTGD (tỷ đồng)
Trang 32Bảng 2.4: Giao dịch cổ phiếu tại HNX năm 2012
HNX-Index (điểm) KLGD (cổ phiếu) GTGD (tỷ đồng)