Chính vì vậy, rủi ro tíndụng càng cần thiết phải có được quan tâm quản lý, kiểm soát một cách bài bản và có hiệuquả, đảm bảo tín dụng hoạt động trong phạm vi rủi ro chấp nhận được, hỗ tr
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng của nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế thếgiới đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tài chính của nước ta, thị trường ngân hàngcũng đã có nhiều khởi sắc, đánh dấu bước phát triển mới cả về chất lẫn về lượng của hệthống ngân hàng Việt Nam Tuy nhiên, với đặc thù của một lĩnh vực kinh doanh đầy nhạycảm, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố cả trực tiếp và gián tiếp, rủi ro ngân hàng lớn làyếu tố không thể tránh khỏi và có khả năng trở thành nguy cơ gây ảnh hưởng nghiêmtrọng đến sự phát triển bền vững của các ngân hàng nói riêng, thị trường tài chính và nềnkinh tế nói chung
Trong các hoạt động của ngân hàng, có thể nói hoạt động tín dụng là hoạt động cơbản và quan trọng vào bậc nhất, mang lại nguồn thu chủ yếu của các ngân hàng thươngmại Thông qua hoạt động cho vay của mình, các ngân hàng đã góp phần cung ứng vốncho các doanh nghiệp, giúp hệ tuần hoàn của nền kinh tế hoạt động một cách nhuầnnhuyễn và hiệu quả… Mặc dù vậy, cùng với việc đem lại thu nhập đáng kể cho ngân hàngthì lĩnh vực tín dụng cũng mang trong mình rủi ro rất lớn bởi các quy luật kinh tế đãchứng minh rằng, lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn Rủi ro tín dụng không chỉ khiếncác ngân hàng phải gia tăng chi phí, chậm thu lãi, thậm chí là thất thoát vốn vay, làm xấu
đi tình hình tài chính, làm tổn hại đến uy tín và vị thế, thậm chí ảnh hưởng đến sự tồn tại
và phát triển của chính họ, mà nó còn tác động ảnh hưởng lớn đến cả hệ thống ngân hàng
và toàn bộ nền kinh tế Tuy nhiên, đây lại là rủi ro tất yếu trong hoạt động tín dụng, chúng
ta không thể loại bỏ hoàn toàn mà chỉ có thể áp dụng các biện pháp để phòng ngừa hoặcgiảm thiểu thiệt hại tối đa khi rủi ro tín dụng xảy ra
Trang 2Thực tiễn hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng Việt Nam thời gian qua cũngcho thấy rủi ro tín dụng của toàn hệ thống chưa thực sự được kiểm soát một cách hiệu quả
và đang có xu hướng ngày một gia tăng Đặc biệt, vấn đề quản trị rủi ro tín dụng càng trởthành yêu cầu cấp bách khi nền kinh tế thế giới hiện vẫn đang ra sức chống đỡ nhằm giảmthiểu sự tàn phá và thoát khỏi cơn bão khủng hoảng tài chính toàn cầu mà nguyên nhânsâu xa của nó bắt nguồn từ sự sụp đổ tài chính phố Wall với chính sách tín dụng dướichuẩn, hay còn gọi là tín dụng thế chấp bất động sản rủi ro cao Chính vì vậy, rủi ro tíndụng càng cần thiết phải có được quan tâm quản lý, kiểm soát một cách bài bản và có hiệuquả, đảm bảo tín dụng hoạt động trong phạm vi rủi ro chấp nhận được, hỗ trợ việc phân
bổ vốn hiệu quả hơn trong hoạt động tín dụng, giảm thiểu các thiệt hại phát sinh từ rủi rotín dụng và tăng thêm lợi nhuận kinh doanh, góp phần nâng cao uy tín và tạo ra lợi thếcạnh tranh của ngân hàng và đặc biệt là đảm bảo mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững,
ổn định tính hình kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân
Đó là lý do tôi chọn đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam – Thực trạng và giải pháp”.
2 Mục tiêu của đề tài:
Đề tài nghiên cứu giải quyết 3 vấn đề cơ bản sau:
Làm sáng tỏ một số vấn đề cơ bản về cơ sở lý luận trong quản trị rủi ro tín dụngcủa hệ thống ngân hàng thương mại, đồng thời đưa ra một số bài học cho các ngânhàng Việt Nam qua cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu năm 2008-2009
Phân tích tình hình rủi ro tín dụng và hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại hệ thốngngân hàng thương mại Việt Nam, từ đó đưa ra những hiệu quả đạt được và hạn chếcủa công tác này đối với các ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hiện nay
Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản trị rủi ro tín dụng
Trang 3 Phạm vi nghiên cứu: Các ngân hàng thương mại Việt Nam (không bao gồm các
ngân hàng liên doanh và ngân hàng 100% vốn nước ngoài) trong giai đoạn từ năm
2005 – 2009
4 Phương pháp nghiên cứu:
Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng kết hợp với phương pháp thống kê, sosánh, phân tích các dữ liệu thứ cấp… nhằm giải quyết và làm sáng tỏ mục đích đặt ratrong khóa luận
5 Cấu trúc nội dung nghiên cứu:
Kết cấu khóa luận gồm 3 chương:
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN
DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Chương này, tác giả nêu khái quát về hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thươngmại, bao gồm các khái niệm, vai trò, nguyên tắc của tín dụng, các vấn đề liên quan đến rủi
ro như khái niệm, phân loại, nguyên nhân và hậu quả của rủi ro tín dụng, những chỉ tiêuphản ánh rủi ro tín dụng và nội dung, nhiệm vụ của quản trị rủi ro tín dụng Đồng thời, tácgiả trình bày những mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng đang được áp dụng trên thế giớihiện nay cùng với những nguyên tắc Basel trong việc đánh giá hiệu quả quản trị rủi ro tíndụng tại các ngân hàng
Chương II: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Chương này, tác giả trình bày thực trạng hoạt động tín dụng và quản trị rủi ro tíndụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam Thông qua đó, nêu lên những thành tựu vàhạn chế cần khắc phục đối với các ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hiện nay
Chương III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ RỦI RO TẠI
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Trang 4Qua những nghiên cứu về tầm quan trọng và thực trạng công tác quản trị rủi ro, tácgiả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này tại hệ thống ngânhàng thương mại Việt Nam, bao gồm cả giải pháp về phía Chính phủ và Ngân hàng Nhànước và về phía các ngân hàng thương mại.
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN
DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm và phân loại
1.1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng
Danh từ “tín dụng” xuất phát từ một từ gốc latinh “Creditumco” – nghĩa là một sự tín nhiệm, tin tưởng lẫn nhau Còn trong đời sống, người ta hiểu tín dụng là quan hệ vay
mượn lẫn nhau tên cơ sở hoàn trả cả gốc lẫn lãi
Còn tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng, một bên là
chủ thể khác trong nền kinh tế như tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân Tuy nhiên, khác vớicác hình thức tín dụng khác, đây không phải là quan hệ dịch chuyển vốn trực tiếp từ nơitạm thời thừa vốn sang nơi tạm thời thiếu vốn, mà thông qua một tổ chức trung gian làngân hàng Tuy nhiên, nó vẫn mang bản chất chung của quan hệ tín dụng là quan hệ vaymượn hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định
Do có nhiều ưu điểm so với cái hình thức khác như: khối lượng vốn lớn do huyđộng tiền nhàn rỗi từ nhiều thành phần trong nền kinh tế, với thời hạn vay phong phú baogồm cả ngắn hạn – trung hạn – dài hạn, chủ yếu dưới hình thức tiền mặt nên TDNH có
Trang 5Cùng với sự phát triển của công nghệ ngân hàng hiện đại, TDNH ngày càng khẳngđịnh vai trò quan trọng của nó đối với sự phát triển của nền kinh tế các quốc gia nói riêng
và nền kinh tế toàn cầu nói chung
1.1.1.2 Phân loại tín dụng ngân hàng
Có nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại TDNH
1.1.1.2.1 Theo thời gian sử dụng vốn vay:
Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm, thường được sử dụngvào nghiệp vụ thanh toán, bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các doanhnghiệp hoặc cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng của cá nhân
Tín dụng trung hạn: là tín dụng có thời hạn từ 1-5 năm, thường là đáp ứng nhu cầu vaymua sắm tài sản cố định, đổi mới cải tiến kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trìnhnhỏ, có thời gian thu hồi vốn nhanh
Tín dụng dài hạn: có thời hạn trên 5 năm, được sử dụng để cung cấp vốn cho xây dựng
cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn
1.1.1.2.2 Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn:
Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa: được cấp cho các tổ chức, doanh nghiệp để
họ tiến hành sản xuất, kinh doanh
Tín dụng tiêu dùng: được cấp cho các cá nhân để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùngnhư mua sắm nhà cửa, xe cộ, các thiết bị gia đình…Tín dụng tiêu dùng đang có xu hướngtăng lên mạnh mẽ
1.1.1.2.3 Căn cứ vào tính chất bảo đảm của khoản tiền vay:
Tín dụng có đảm bảo: là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay đều có tài sản tươngđương để đảm bảo cho khả năng trả nợ của khách hàng, có các hình thức như cầm cố, thếchấp, bảo lãnh…
Trang 6 Tín dụng không có đảm bảo hay còn gọi là tín chấp Đây là loại hình tín dụng mà cáckhoản vay không cần tài sản tương đương đảm bảo mà chủ yếu dựa vào uy tín của kháchhàng Nó thường được áp dụng với các khách hàng truyền thống, có quan hệ lâu dài vớingân hàng, có tình hình tài chính lành mạnh và có uy tín đối với ngân hàng như trả nợđúng hạn cả gốc và lãi, có dự án kinh doanh khả thi, có khả năng trả nợ…
Việc phân loại TDNH chỉ có ý nghĩa tương đối, chủ yếu nhằm giúp cho việcnghiên cứu sự vận động của vốn tín dụng trong từng loại hình cho vay và là cơ sở để đánhgiá hiệu quả kinh tế của chúng
1.1.2 Vai trò hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Thúc đẩy tích tụ và cung cấp vốn cho nền kinh tế
Thông qua các phương thức huy động khác nhau, các ngân hàng tập trung cáckhoản tín dụng nhỏ lẻ thành các khoản vốn lớn, tạo khả năng đầu tư vào các công trìnhlớn có hiệu quả kinh tế cao Đồng thời các doanh nghiệp cũng được tiếp cận với nguồnvốn lớn để mở rộng sản xuất, rút ngắn được quá trình tích lũy vốn Như vậy, TDNH đãđóng vai trò tích cực thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn cho sản xuất kinh doanh
1.1.2.2 Đẩy mạnh quá trình tái sản xuất, mở rộng đầu tư - phát triển
Thông qua TDNH, các doanh nghiệp nhận được nguồn vốn bổ sung rất lớn từ đótăng quy mô sản xuất, đổi mới công nghệ, áp dụng khoa học kỹ thuật, tăng năng suất laođộng, hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh TDNH giúp các doanh nghiệpđẩy nhanh quá trình sản xuất và tiêu thụ, tạo điều kiện để duy trì mối quan hệ hữu cơ giữasản xuất lưu thông hàng hóa và tiêu dùng xã hội
1.1.2.3 Tổ chức điều hòa, lưu thông tiền tệ, chuyển dịch kinh tế, phát triển cân đối các ngành trong nền kinh tế quốc dân
Trang 7TDNH giúp điều hòa nguồn vốn, đồng thời thông qua khung lãi suất quy định,giúp cho chính sách tiền tệ của chính phủ được thực hiện, điều hòa lưu thông, góp phần
ổn định và thúc đẩy phát triển thị trường tiền tệ
Hơn nữa, thông qua TDNH, chính phủ thực hiện được những chính sách ưu tiên hỗtrợ phát triển các vùng miền, hay các ngành then chốt, trọng điểm nhờ vào các ưu đãi tíndụng…nhờ vậy đã kích thích được các doanh nghiệp đầu tư vào các vùng, ngành trọngđiểm ưu tiên của chính phủ, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo sự phát triển cânđối trên cả nước
1.2 RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Rủi ro tín dụng.
1.2.1.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng
Theo quy định trong Quyết định số 493/2005/QĐ – NHNN ngày 22/04/2005 củaThống đốc Ngân hàng Nhà nước, “rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là khả năngxảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thựchiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết
Vậy có thể nói “rủi ro tín dụng” (RRTD) là những rủi ro do khách hàng vay không
thực hiện đúng các điều khoản ghi trong hợp đồng tín dụng đã được kí kết giữa hai bên,biểu hiện cụ thể là khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi hếtthời hạn vay các khoản gốc và lãi vay, gây ra những tổn thất về tài chính và khó khăntrong hoạt động kinh doanh của NHTM
1.2.1.2 Phân loại rủi ro tín dụng
Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh thì RRTD được chia thành rủi ro giao dịch vàrủi ro danh mục
1.2.1.2.1 Rủi ro giao dịch
Là rủi ro mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch
và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng Rủi ro giao dịch bao gồm 3 bộ phận chính:
Trang 8 Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khingân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay.
Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợpđồng tín dụng, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức chovay trên giá trị của tài sản đảm bảo…
Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro có liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt độngcho vay, bao gồm cả việc xếp hạng khoản vay và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề
1.2.1.3 Đặc điểm của rủi ro tín dụng
RRTD mang tính tất yếu Nó luôn luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng.Chấp nhận rủi ro là đương nhiên trong hoạt động ngân hàng Các NHTM cần phải đánhgiá cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan hệ rủi ro – lợi nhuận nhằm tìm ra cơ hội đạtđược những lợi ích xứng đáng với mức rủi ro mà mình phải chấp nhận Ngân hàng sẽ hoạtđộng và phát triển tốt nếu như mức rủi ro là hợp lý, kiểm soát được và nằm trong phạm vikhả năng nguồn tài chính và năng lực tín dụng của mình
RRTD mang tính gián tiếp Nó xảy ra sau khi NHTM giải ngân vốn vay và trong
Trang 9RRTD mang tính đa dạng và phức tạp Đặc điểm này thể hiện ở sự đa dạng và phứctạp trong nguyên nhân gây ra RRTD cũng như diễn biến việc, hậu quả khi nó xảy ra
1.2.2 Nguyên nhân rủi ro tín dụng tại các ngân hàng
1.2.2.1 Nhóm nguyên nhân đến từ bản thân ngân hàng
Việc mở rộng hoạt động tín dụng quá mức thường đi liền với RRTD tăng lên, doviệc lựa chọn khách hàng kém kỹ càng, khả năng giám sát, quản lý của cán bộ tín dụngđối với việc sử dụng khoản vay giảm đi, đồng thời làm cho quy trình tín dụng khôngđược tuân thủ một cách chặt chẽ
Trình độ phân tích, thẩm định, đánh giá khách hàng và các dự án vay vốn của các cán
bộ còn hạn chế, đặc biệt là cán bộ trực tiếp nhận hồ sơ khách hàng khiến cho RRTD tăngkhi chấp thuận giải ngân những dự án không khả thi hay thậm chí bị khách hàng lừa gạt
Quy chế cho vay chưa chặt chẽ, quá cụ thể hoặc quá linh hoạt đếu làm gia tăngRRTD Việc đánh giá tài sản thế chấp, cầm cố hiện cũng đang là vấn đề nổi cộm trongquy chế cho vay của các NHTM hiện nay
Một số ngân hàng áp dụng viêc giải quyết cho vay kiểu “trực tuyến cá nhân” từ cán
bộ tín dụng lên trưởng phòng tín dụng lên giám đốc Thực tế, áp dụng kiểu cho vay nàythì quyền lực tập trung vào giám đốc, còn trách nhiệm của các cá nhân bên dưới thườngkhông rõ ràng, dẫn đến tinh thần thiếu trách nhiệm, RRTD cao
Sự cạnh tranh không lành mạnh nhằm thu hút khách hàng giữa các NHTM khiếncho việc thẩm định hồ sơ khách hàng trở nên sơ sài, qua loa hơn Hơn nữa, nhiềuNHTM quá chú trọng đến lợi nhuận mà sẵn sàng chấp nhận rủi ro cao, chấp thuận chovay những khoản không lành mạnh, thiếu khả thi
Rủi ro do cán bộ nhân viên ngân hàng thoái hóa, thiếu đạo đức Các cán bộ nàykhông phải có trình độ năng lực yếu kém mà là vì tư lợi cá nhân, cấu kết với kháchhàng dẫn đến những tiêu cực, khiến cho rủi ro với các khoản vay này là rất cao
Ngoài ra còn rất nhiều nhân tố khác như chất lượng thông tin và xử lý thông tin, cơcấu tổ chức và quản lý đội ngũ cán bộ, năng lực công nghệ…
Trang 101.2.2.2 Nhóm nguyên nhân đến từ phía khách hàng của ngân hàng
1.2.2.2.1 Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay
Lợi dụng nhiều điểm sơ hở của ngân hàng trong quá trình thẩm định hồ sơ vayvốn, nhiều doanh nghiệp đã lập những bộ hồ sơ giả, phương án kinh doanh giả để đượcvay vốn, hoặc đi vay ở nhiều ngân hàng khác nhau với cùng một bộ hồ sơ
Nhiều doanh nghiệp lập dự án kinh doanh để vay vốn như khi được giải ngân lại sửdụng với mục đích khác, đầu tư những dự án thiếu an toàn hơn, thậm chí là dùng để trả nợcác khoản vay đến hạn hay có lãi suất cao hơn Điều này làm cho nguồn trả nợ của doanhnghiệp là bấp bênh, thậm chí là mất khả năng thanh toán
Hơn thế, có nhiều doanh nghiệp đến hạn thanh toán lại cố tình trốn tránh nghĩa vụ,gây khó khăn cho các cán bộ tín dụng trong quá trình thu nợ, khiến cho ngân hàng khôngchỉ tốn kém nhiều chi phí mà còn có khả năng mất hưởng lãi và thất thoát vốn
1.2.2.2.2 Khả năng quản lý kinh doanh kém
Khi các doanh nghiệp vay tiền ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh, đa phần
là tập trung vốn đầu tư vào tài sản vật chất chứ ít doanh nghiệp nào mạnh dạn đổi mới cungcách quản lý, đầu tư cho bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính, kế toán theo đúng chuẩnmực Quy mô kinh doanh phình ra quá to so với tư duy quản lý là nguyên nhân dẫn đến sựphá sản của các phương án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra nó phải thành công trên thực tế
1.2.2.2.3 Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch
Các ngân hàng phải hết sức chú ý đến nhưng doanh nghiệp có quy mô tài sản,nguồn vốn nhỏ bé, tỷ lệ nợ so với vốn tự có cao Ngoài ra cũng phải cân nhắc xem xét các
sổ sách kế toán mà các doanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng, vì nhiều khi chúng chỉmang tính chất hình thức hơn là thực chất Khi cán bộ ngân hàng lập các bản phân tích tài
Trang 111.2.2.3.1 Rủi ro do môi trường kinh tế không ổn định
Rủi ro này xuất phát từ sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thịtrường thế giới, cùng với những rủi ro tất yếu từ quá trình tự do hóa tài chính, hội nhậpkinh tế quốc tế, đồng thời thiếu sự quy hoạch, phân bổ đầu tư một cách hợp lý đã dẫn đếnkhủng hoảng thừa về đầu tư trong một số ngành
1.2.2.3.2 Rủi ro do môi trường pháp lý chưa thuận lợi
Việc triển khai luật và các văn bản đã có vào hoạt động ngân hàng chậm chạp và còn gặp phải nhiều vướng mắc bất cập
Ảnh hưởng rõ nét nhất đến hoạt động tín dụng là một số văn bản về việc cưỡng chếthu hồi nợ đều có quy định: Trong những hợp khách hàng không trả được nợ, NHTM cóquyền xử lý tài sản đảm bảo nợ vay Nhưng trên thực tế, các NHTM không làm được điềunày vì ngân hàng là một tổ chức kinh tế, không phải là cơ quan quyền lực nhà nước, không
có chức năng cưỡng chế buộc khách hàng bàn giao tài sản đảm bảo cho ngân hàng để xử lýhoặc việc chuyển tài sản đảm bảo nợ vay để Tòa án xử lý qua con đường tố tụng vốn rấtphức tạp và rườm rà về thủ tục… cùng nhiều các quy định khác dẫn đến tình trạng NHTMkhông thể giải quyết được nợ tồn đọng, tài sản tồn đọng
Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của Ngân hàng Nhà nước
Thanh tra ngân hàng còn hoạt động một cách thụ động theo kiểu xử lý vụ việc đãphát sinh, ít có khả năng ngăn chặn và phòng ngừa rủi ro và vi phạm, ngoài ra khả năngkiểm soát toàn bộ thị trường tiền tệ và giám sát rủi ro còn yếu Mô hình tổ chức của thanhtra ngân hàng còn tồn tại nhiều bất cập Do vậy mà có những sai phạm của các NHTMkhông được thanh tra NHNN cảnh báo, có biện pháp ngăn chặn từ đầu, để đến khi hậuquả nặng nề đã xảy ra rồi mới can thiệp
1.2.3 Hậu quả của rủi ro tín dụng ngân hàng
Khi RRTD xảy ra sẽ làm ảnh hưởng xấu đến rất nhiều chủ thể Đầu tiên là bản thâncác ngân hàng và khách hàng đi vay, sau đó là tác động đến cả nền kinh tế
1.2.3.1 Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với ngân hàng
Trang 12Việc không thu hồi được nợ (gốc, lãi và các khoản phí) làm cho nguồn vốn của cácNHTM bị thất thoát, trong khi đó, các ngân hàng này vẫn phải chi trả tiền lãi cho nguồnvốn hoạt động, làm cho lợi nhuận bị giảm sút Nếu lợi nhuận không đủ thì ngân hàng cònphải dùng chính vốn tự có của mình để bù đắp thiệt hại Điều này có thể làm ảnh hưởngđến quy mô hoạt động của các NHTM.
Mặt khác, tỷ lệ nợ quá hạn cao làm cho uy tín, niềm tin vào tiềm lực tài chính củangân hàng bị suy giảm, dẫn đến làm giảm khả năng huy động vốn của ngân hàng, nghiêmtrọng hơn nó có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản, đẩy ngân hàng đến bờ vực phá sản và đedọa sự ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng
1.2.3.2 Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với khách hàng
Đối với bản thân chủ thể không có khả năng hoàn trả vốn (lãi) cho ngân hàng thì
họ gần như không có cơ hội tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng và thậm chí là cả nhữngnguồn khác trong nền kinh tế do đã mất đi uy tín
Cơ hội tiếp cận vốn ngân hàng của các chủ thể đi vay khác cũng bị hạn chế hơn khiRRTD buộc các NHTM hoặc thắt cho vay hay thậm chí phải thu hẹp quy mô hoạt động
Các chủ thể gửi tiền vào ngân hàng có nguy cơ không thu hồi được khoản tiền gửi
và lãi nếu như các ngân hàng lâm vào tình trạng phá sản
1.2.3.3 Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với nền kinh tế
Hệ thống ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với nền kinh tế, là kênh thu hút vàcung cấp tiền cho các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân trong nền kinh tế Do đó, RRTD
có ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế
Ở mức độ thấp, RRTD khiến cơ hội tiếp cận vốn mở rộng hoạt động sản xuất kinhdoanh hoặc tiêu dùng của các khách hàng bị hạn chế, ảnh hưởng xấu đến khả năng tăng
Trang 13Ở mức độ cao hơn, khi có một ngân hàng lâm vào tình trạng khó khăn dẫn đến phásản, thì hiệu ứng dây chuyền rất dễ xảy ra trong toàn bộ hệ thống ngân hàng, gây nênkhủng hoảng đối với toàn bộ nền kinh tế, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội và sựphát triển của đất nước.
1.2.4 Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng
1.2.4.1 Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (Tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản - Capital Adequacy Ratio – CAR)
Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu =
Vốn tự có bao gồm vốn điều lệ của ngân hàng và các quỹ dự trữ bổ sung vốn điều
lệ Còn tổng tài sản có là tổng các loại tài sản có của ngân hàng đã được điều chỉnh theomức độ rủi ro của từng loại sản phẩm, bao gồm cả các cam kết ngoại bảng
Về cơ bản, một ngân hàng có thể duy trì một tỷ lệ an toàn vốn bằng 2 cách: tăngquy mô vốn tự có khi rủi ro dự đoán gia tăng hoặc đầu tư vào những tài sản có mức độ rủi
ro thấp hơn
1.2.4.2 Nợ có vấn đề (phản ánh rủi ro tiềm năng)
Nợ có vấn đề xuất hiện khi khoản nợ chưa đến hạn nhưng có nhiều nguyên nhânảnh hưởng xấu đến khả năng trả nợ của khách hàng
Dấu hiệu nhận biết nợ có vấn đề:
Hoạt động kinh doanh có chiều hướng xấu: ngành kinh doanh đang gặp khókhăn hay chính sách của nhà nước tác động đến các doanh nghiệp trong ngành
Sự thay đổi trong cơ cấu quản lý kinh doanh: thu hẹp quy mô sản xuất, chủngloại sản phẩm hoặc số lượng nhân công…
Người vay cố tình trì hoãn việc nộp báo cáo tài chính hoặc việc sắp xếp cán bộtín dụng đến thăm cơ sở sản xuất kinh doanh
Vốn vay không được sử dụng đúng mục đích
Trang 14 Dùng vốn vay ngân hàng để trả nợ ngân hàng khác.
1.2.4.4 Nợ xấu và tỷ lệ Nợ xấu/Tổng dư nợ
Nợ xấu (theo quy định về phân loại nợ của các TCTD trong Quyết định số493/2005/QĐ–NHNN ngày 22/04/2005 và Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN ngày25/04/2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước) là các khoản nợ thuộc 1 trong 3 nhóm sau:
Nợ dưới tiêu chuẩn là các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là không cókhả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn và có khả năng tổn thất một phần nợgốc và lãi, bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơcấu lại;
Nợ nghi ngờ là các khoản nợ được TCTD đánh giá là khả năng tổn thất cao, bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày theo thờihạn đã cơ cấu lại;
Trang 15- Các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ mà quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn
đã cơ cấu lại
Tỷ lệ Nợ xấu/Tổng dư nợ =
Chỉ tiêu dùng để đánh giá chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng
1.2.4.5 Tình hình tài chính và phương án vay vốn của người đi vay
Tình hình tài chính có lành mạnh, phương án vay vốn có khả thi thì mới có thểđảm bảo cho khả năng hoàn trả khoản vay của khách hàng
1.3 QUẢN TRỊ RỦI RO TẠI CÁC NHTM
1.3.1 Sự cần thiết của công tác quản trị rủi ro tín dụng
Công tác QTRRTD ngày càng khẳng định vai trò quan trọng khi mà mức độ RRTDcũng như mức độ nguy hiểm của nó đối với các NHTM ngày càng gia tăng
RRTD luôn gây tổn thất cho các NHTM Ở mức độ thấp, RRTD làm giảm lợinhuận, thậm chí còn làm giảm nguồn vốn tự có của các ngân hàng Còn nếu RRTD khôngđược kiểm soát tốt làm cho tỷ lệ các khoản cho vay mất vốn tăng lên quá cao, các NHTM
sẽ phải đối mặt với nguy cơ phá sản Theo nghiên cứu của Corsetti (1998), một trongnhững nguyên nhân quan trọng nhất gây nên cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997 là
tỷ lệ nợ quá hạn tại các NHTM tăng cao Ngay trước khủng hoảng, tỷ lệ nợ quá hạn tạicác NHTM Thái Lan là 13%, Indonesia là 13%, Phillipines là 14%, Malaysia là 10%
Chưa hết, RRTD lại một lần nữa gây nên cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ toàncầu năm 2007 – 2009, với điểm xuất phát là sự sụp đổ của hệ thống tài chính Mỹ Theocông bố của cục dự trữ liên bang Mỹ, trong năm 2008 có tổng cộng 26 ngân hàng phá sản,thế nhưng năm 2009, con số này đã lên tới 140 với hàng loạt vụ phá sản của các định chếtài chính có lịch sử lâu đời và tiềm lực tài chính bậc nhất thế giới Còn theo phân tích vềtriển vọng nền kinh tế Mỹ, các chuyên gia dự báo trong năm 2010, số lượng ngân hàng
Mỹ phá sản thậm chí có thể tăng cao hơn nữa [35]
Trang 16Theo phân tích của các nhà nghiên cứu, trong thời gian gần đây số lượng khủnghoảng trung bình mỗi năm ngày càng tăng với hậu quả ngày càng nặng nề hơn Điều nàychứng tỏ xu hướng kinh doanh ngân hàng đang ngày càng chứa đựng nhiều rủi ro hơn.Nguyên nhân của thực tế này là do xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế và đề cao cạnhtranh ngày càng trở nên phổ biến Xu hướng này đã chứng tỏ hiệu quả nhất định của nótrong việc thúc đẩy nền kinh tế cũng như các doanh nghiệp phát triển và hoàn thiện,nhưng ở một khía cạnh khác, nó lại thể hiện mức độ rủi ro tăng lên, khi mà các ngân hàngphải cạnh tranh gay gắt với nhau làm cho chênh lệch lãi suất biên ngày càng giảm xuống,
họ buộc phải mở rộng quy mô kinh doanh để bù đắp sự sụt giảm về lợi nhuận, đồng thờiđiều này cũng làm giảm khả năng bù đắp rủi ro nội tại của chính họ Mặt khác, hội nhậpkinh tế còn làm xuất hiện nhiều nguy cơ rủi ro mới Các sản phẩm dựa trên sự phát triểncủa khoa học công nghệ như thẻ tín dụng, tín dụng cá nhân, tín dụng tiêu dùng…luônchứa đựng những rủi ro mới
Như vậy có thể nhận thấy RRTD ngày càng đe dọa sự tồn tại và phát triển của cácNHTM Riêng đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước đang trong quá trìnhchuyển đổi, môi trường kinh doanh không ổn định, thị trường tài chính kém phát triển,mức độ minh bạch thông tin thấp… làm gia tăng mức độ rủi ro đối với hoạt động ngânhàng thì nhu cầu phải QTRR một cách hiệu quả càng trở nên cấp thiết
1.3.2 Nhiệm vụ của công tác quản trị rủi ro tín dụng
Tổ chức nghiên cứu, dự báo rủi ro có thể xảy ra đến đâu, trong điều kiện nào,nguyên nhân dẫn đến rủi ro, hậu quả ra sao…
Hoạch định phương hướng tổ chức phòng chống rủi ro có khoa học, nhằm chỉ ranhững mục tiêu cụ thể cần đạt được, ngưỡng an toàn, mức độ sai sót có thể chấpnhận được…
Trang 17 Kiểm tra, kiểm soát để đảm bảo việc thực hiện theo đúng kế hoạch phòng chống rủi ro
đã hoạch định, phát hiện các rủi ro tiềm ẩn, sai sót khi giao dịch…Từ đó đưa ra cácbiện pháp điều chỉnh, bổ sung nhằm hoàn thiện hệ thống QTRRTD
1.3.3 Quan điểm hiện đại về quản trị RRTD
Mức độ rủi ro ngày càng gia tăng đã buộc hoạt động QTRRTD phải chuyển đổitương ứng Nếu như ở thập niên 70 – 80, các NHTM tập trung nhiều vào việc quản lý chiphí và thu nhập nhằm tối đa hóa lợi nhuận, chỉ số sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) đượccoi là mục tiêu kinh doanh hàng đầu, thì trong những năm 90 trở lại đây, do mức độ quantrọng của QTRR, các NHTM chuyển trọng tâm chiến lược sang quản lý danh mục đầu tư(cân đối và hạn chế rủi ro danh mục bằng cách nhận dạng, dự báo và kiểm soát mức độ rủi
ro với từng thị trường, ngành hàng khác nhau, khách hàng, mặt hàng, loại sản phẩm tíndụng và điều kiện hoạt động khác nhau) Yếu tố rủi ro đã được bổ sung vào mục tiêu ROE,gọi là kết quả hoạt động điều chỉnh theo rủi ro (ví dụ RAROC – Hệ số sinh lời của vốn chủ
sở hữu điều chỉnh theo rủi ro) Mô hình QTRR hiện đại được biểu diễn trong hình 1.1.
Trang 18Hình 1.1: Quan điểm hiện đại về quản trị rủi ro tín dụng
Theo mô tả trong hình 1.1, mục tiêu cuối cùng của các hoạt động ngân hàng là tạo ragiá trị (làm tăng giá trị vốn cho cổ đông) Để làm được điều đó, NHTM phải tạo ra lợinhuận càng cao càng tốt Tuy nhiên, song hành cùng với các mức lợi nhuận là các nhữngrủi ro có tác động làm giảm giá trị vốn Trong thời kì trước, các ngân hàng chỉ chú trọngvào mức lợi nhuận ròng Chỉ tiêu này mang tính thụ động vì nó là hiệu của lợi nhuận trừ đicác tổn thất rủi ro thực tế xảy ra trong năm Ngày nay, do sự phát triển của thống kê và yêucầu mới của quản trị ngân hàng, mức lợi nhuận được điều chỉnh, không phải bằng mức tổnthất thực tế xảy ra, mà là mức tổn thất dự kiến hay kỳ vọng Phương pháp này mang tínhchủ động hơn, nó buộc các NHTM phải chuẩn bị vốn, trích lập dự phòng để bù đắp rủi ro
dự kiến và điều này để đảm bảo cho ngân hàng hoạt động bền vững
Tạo ra giá trị
Vốn
Các hoạt động kinh doanh
Trang 19Như vậy, theo quan điểm hiện đại được áp dụng phổ biến, QTRRTD nhằm mục
tiêu tối đa hóa lợi nhuận được điều chỉnh theo rủi ro bằng cách duy trì mức độ RRTD
trong phạm vi chấp nhận được, hay nói cách khác, mức độ rủi ro được duy trì ở mức màcác ngân hàng cho là hợp lý, được kiểm soát và tổn thất tín dụng nằm trong phạm vinguồn lực tài chính cho phép của họ QTRRTD hiệu quả là điều kiện thiết yếu để QTRRtổng thể của NHTM và được xem là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển bềnvững của các NHTM trong dài hạn
1.3.4 Những kỹ thuật dự báo và đo lường rủi ro sử dụng trong quản trị rủi ro tín dụng
Hiện nay trên thế giới, có hai kỹ thuật phổ biến nhất là:
1.3.4.1 Chấm điểm tín dụng
Đây là phương pháp truyền thống, định tính để đánh giá rủi ro thông qua nghiêncứu hồ sơ vay vốn của khách hàng.3C, 4C, 5C, 6C mà trước đây các ngân hàng thường sửdụng Các chữ C này bao gồm:
Tư cách người vay (Character): Cán bộ tín dụng phải làm rõ mục đích xin vay củakhách hàng, mục đích vay của khách hàng có phù hợp với chính sách tín dụng hiệnhành của ngân hàng hay không, đồng thời xem xét về lịch sử đi vay và trả nợ đốivới khách hàng cũ; còn khách hàng mới thì cần thu thập thông tin từ nhiều nguồnkhác như Trung tâm phòng ngừa RRTD (CIC)…
Năng lực của người vay (Capacity): Tuỳ thuộc vào qui định luật pháp của quốcgia Đối với cá nhân, dưới 18 tuổi không đủ tư cách ký hợp đồng tín dụng; đối vớidoanh nghiệp, phải căn cứ vào giấy phép kinh doanh, quyết định thành lập, quyếtđịnh bổ nhiệm người điều hành
Trang 20 Thu nhập của người vay (Cash): Trước hết phải xác định được nguồn trả nợ củangười vay như luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay từ thu nhập, tiền từ bán -thanh lý tài sản, hoặc tiền từ phát hành chứng khoán … Sau đó cần phân tích tìnhhình tài chính của doanh nghiệp vay vốn thông qua các tỷ số tài chính: Nhóm chỉtiêu thanh khoản, nhóm chỉ tiêu đòn cân nợ, nhóm chỉ tiêu hoạt động, nhóm chỉtiêu khả năng sinh lời.
Bảo đảm tiền vay (Collateral): Đây là điều kiện để ngân hàng cấp tín dụng và lànguồn tài sản thứ hai có thể dùng để trả nợ vay cho ngân hàng
Các điều kiện (Conditions): NHTM quy định các điều kiện tuỳ theo chính sách tíndụng theo từng thời kỳ như cho vay hàng xuất khẩu với điều kiện thanh toán phảiqua NHTM, nhằm thực thi chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương quy địnhtheo từng thời kỳ
Kiểm soát (Control): Tập trung vào những vấn đề như các thay đổi trong pháp luật
và quy chế có ảnh hưởng xấu đến người vay Yêu cầu tín dụng của người vay có
đáp ứng được tiêu chuẩn của ngân hàng hay không [24]
1.3.4.2 Mô hình cho điểm để lượng hóa rủi ro tín dụng.
1.3.4.2.1 Mô hình điểm số Z (Z Credit scoring Model) :
Đây là mô hình dùng để cho điểm tín dụng đối với các doanh nghiệp vay vốn doE.I.Altman nghiên cứu Đại lượng Z dùng làm thước đo tổng hợp để phân loại RRTD đối vớingười vay và phụ thuộc vào trị số của các chỉ số tài chính của người vay và tầm quan trọngcủa các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người vay trong quá khứ
Từ đó Altman đã xây dựng mô hình điểm như sau:
Đối với công ty niêm yết:
Trang 21X2 = Lợi nhuận giữ lại / tổng tài sản X3 = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay/ tổng tài sản X4 = Giá trị thị trường của tổng vốn sở hữu / giá trị hạch toán của tổng nợ X5 = Doanh thu / tổng tài sản
Giá trị của chỉ số Z tỷ lệ nghịch với xác suất vỡ nợ của người vay Trị số Z càngcao, thì người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp Và khi trị số Z thấp hoặc là một số âm sẽ
là căn cứ xếp khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao Theo mô hình cho điểm Z củaAltman, bất cứ công ty nào có điểm số thấp hơn 1,81 phải được xếp vào nhóm có nguy cơ
RRTD cao theo như bảng 1.1
Bảng 1.1: Điểm số Z và nguy cơ doanh nghiệp
1.81 < Z < 2.99 1.23 < Z < 2.9 Nghi ngờ cần xem xét kỹ
Trang 22Nguồn [26] 1.3.4.2.2 Chấm điểm tín dụng tiêu dùng
Các ngân hàng thường sử dụng mô hình chấm điểm tiêu dùng như ở bảng 1.2:
Bảng 1.2: Các tiêu chí chấm điểm tín dụng tiêu dùng
STT Các hạng mục xác định chất lượng tín dụng Điểm số
1 Nghề nghiệp của người vay
Chuyên gia hoặc phụ trách kinh doanhCông nhân có kinh nghiệm (có tay nghề cao)Nhân viên văn phòng
Sinh viênCông nhân không có kinh nghiệmCông nhân bán thất nghiệp
1087542
2 Trạng thái nhà ở
Nhà riêngNhà thuê hoặc căn hộSống cùng bạn hoặc người thân
642
3 Xếp hạng tín dụng
TốtTrung bìnhKhông có hồ sơTồi
10520
4 Kinh nghiệm nghề nghiệp
1 năm trở lên
Từ 1 năm trở xuống
21
5 Thời gian sống tại địa chỉ hiện tại
Trang 236 Điện thoại cố định
Có Không
20
7 Số người sống cùng hoặc phụ thuộc
KhôngMộtHaiBaNhiều hơn ba
33442
8 Các tài khoản tại ngân hàng
Cả tài khoản tiết kiệm và phát hành sécChỉ có tài khoản tiết kiệm
Chỉ có tài khoản phát hành sécKhông có tài khoản
4320
Trang 24Nguồn [24]
Theo cách cho điểm của mô hình trên, điểm số lớn nhất mà một khách hàng có thểđạt được là 43 điểm, điểm số thấp nhất là 9 điểm Giả sử ngân hàng biết 28 mức điểmranh giới giữa khách hàng có chất lượng tín dụng tốt và xấu, từ đó họ có thể đưa ra khung
cơ sở tín dụng như bảng 1.3 sau:
Bảng 1.3: Khung cơ sở tín dụng tiêu dùng
Tổng điểm số của khách hàng Quyết định tín dụng
Trang 251.3.4.2.2 Mô hình xếp hạng của Moody’s & Poor
Moody’s Investor Service (Moody’s) và Standard & Poor’s (S&P) là hai tổ chứctín nhiệm có uy tín lâu đời tại Mỹ và cũng là những tổ chức tiên phong trong lĩnh vực xếphạng tín nhiệm trên thế giới, sau đó có Fitch Investor Service Kết quả xếp hạng tín nhiệmcủa các tổ chức này đều được đánh giá cao
Phương pháp xếp hạng tín nhiệm của Moody’s tập trung chủ yếu vào bốn lĩnh vực chính
là đánh giá môi trường ngành, đánh giá tình hình tài chính, đánh giá hoạt động sản xuấtkinh doanh, đánh giá khả năng quản trị doanh nghiệp, chú trọng quản trị rủi ro và kiểmsoát nội bộ Đối với Moody’s, xếp hạng chất lượng công cụ nợ dài hạn cao nhất từ Aaa
sau đó thấp dần đến C, đươc thể hiện trong bảng 1.4 So với Moody’s thì S&P có thêm kí
hiệu r, nếu kí hiệu xếp hạng doanh nghiệp có kèm them kí hiệu này thì cõ nghĩa cần chú ýcác rủi ro phi tín dụng có liên quan
Trong bảng xếp hạng, chứng khoán trong 4 loại đầu được xem như loại chứngkhoán nên đầu tư, còn các loại chứng khoán bên dưới được xếp hạng thấp (junk) Nhưng
do có mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận nên tuy việc xếp hạng thấp (rủi ro không hoànvốn cao) nhưng bù lại có lợi nhuận cao nên đôi lúc khách hàng chấp nhận đầu tư vào cácloại chứng khoán này
Bảng 1.4: Xếp hạng và đánh giá theo mô hình của Moody’s và Standard & Poor’s
Ba Khả năng thanh toán không chắc chắn
Trang 26Caa Chất lượng kém
Trang 271.3.5 Phương pháp đánh giá hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng của NHTM
Nếu như QTRRTD là thiết yếu trong sự phát triển của các NHTM, thì việc làm thếnào để xây dựng được một hệ thống QTRR hiệu quả đáp ứng được những mục tiêu đề ra
và làm thế nào đánh giá được hiệu quả của hệ thống đó chính là mấu chốt trong hoạt độngQTRRTD tại các NHTM
Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm thực tế hoạt động quản trị RRTD tại các NHTMthuộc các nước phát triển đã trải qua rủi ro, Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng đã đưa ra
17 nguyên tắc cho hoạt động QTRRTD ngân hàng Đây có thể được xem như thước đo tốtnhất để đánh giá chất lượng hoạt động QTRRTD của các NHTM theo các thông lệ quốc tế
Các nguyên tắc này bao gồm:
1 Xây dựng và thường xuyên đánh giá chiến lược QTRRTD;
2 Xây dựng chính sách và thủ tục để xác định, đo lường, quản lý và kiểm soát rủi ro;
3 Xác định và quản lý rủi ro ở tất cả các sản phẩm và hoạt động;
4 Xây dựng một hệ thống tiêu chuẩn cấp tín dụng rõ ràng;
5 Xây dựng các hạn mức chung và cho các cấp;
6 Thủ tục phê duyệt tín dụng rõ ràng;
7 Việc mở rộng tín dụng phải nằm trong tầm kiểm soát;
8 Phải có cơ chế quản lý thường xuyên danh mục rủi ro;
9 Có hệ thống quản lý các khoản tín dụng cụ thể;
10 Xây dựng hệ thống xếp hạng rủi ro nội bộ;
11 Có hệ thống thông tin thích hợp và hiệu quả;
12 Có hệ thống quản lý chất lượng danh mục dư nợ;
13 Đánh giá được các xu hướng của nền kinh tế;
14 Có hệ thống đánh giá chất lượng quản trị RRTD một cách độc lập;
Trang 2815 Duy trì mức độ rủi ro ở mức phù hợp tiêu chuẩn nội bộ;
16 Có hệ thống cảnh báo sớm và thực hiện các biện pháp trong tình trạng có thể
xảy ra rủi ro tín dụng;
17 Phải có hệ thống kiểm soát có hiệu quả [25]
Như vậy, trong xây dựng mô hình quản trị RRTD, nguyên tắc Basel có một sốđiểm cơ bản:
Phân tách bộ máy cấp tín dụng theo các bộ phận tiếp thị, bộ phận phân tích tín dụng,
bộ phận phê duyệt tín dụng cũng như phân tách rạch ròi trách nhiệm giữa các bộ phận
Nâng cao năng lực của cán bộ quản trị rủi ro tín dụng
Xây dựng một hệ thống quản lý và cập nhật thông tin hiệu quả, để duy trì một quá trình
đo lường, theo dõi tín dụng thích hợp, đáp ứng yêu cầu thẩm định và quản lý RRTD.Trong thực tế, các chỉ tiêu đánh giá này được cụ thể hóa chi tiết hơn thành các câuhỏi dùng để thảo luận với bộ máy QTRRTD, cũng như các văn bản liên quan đến tín dụngcủa mỗi ngân hàng
Mặc dù số lượng, trọng tâm sử dụng các chỉ tiêu có thể khác nhau, tùy thuộc mụcđích, mức độ phát triển của ngân hàng được đánh giá nhưng phương pháp đánh giá cơ bảndựa vào 4 trụ cột chính bao gồm 3 trụ cột liên quan đến các yếu tố chủ quan của ngânhàng (Xây dựng môi trường QTRRTD; thực hành quy trình cấp tín dụng lành mạnh; duytrì hoạt động theo dõi, đo lường rủi ro) và một trụ cột liên quan đến vai trò của cơ quangiám sát và/hoặc cơ quan kiểm toán bên ngoài
Những nguyên tắc QTRRTD của Basel cũng chính là những tiêu chí chủ yếu được
sử dụng nhằm đánh giá hiệu quả QTRRTD của các NHTM Việt Nam trong khuôn khổ đềtài này
Trang 29Khủng hoảng nợ dưới chuẩn Mỹ đã và đang gây thiệt hại nặng nề cho nền kinh tếnói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung, tạo ra các khoản lỗ hàng trăm tỷ USD cho cácngân hàng đầu tư lớn trên thế giới.
Nợ dưới chuẩn được hiểu là “các khoản cho vay các đối tượng có mức tín nhiệmthấp” Những đối tượng đi vay này thường là những người nghèo, không có công ăn việclàm ổn định, vị thế xã hội thấp hoặc có lịch sử thanh toán không tốt trong quá khứ… vàphần lớn là dân nhập cư Mỹ Những đối tượng này tiềm ẩn nhiều rủi ro không có khảnăng thanh toán nợ đến hạn và do đó rất khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụngtruyền thống vốn chỉ dành cho những đối tượng trên chuẩn Chính vì vậy, nợ dưới chuẩntiềm ẩn mức độ rủi ro rất cao nhưng hứa hẹn mang lại lợi nhuận hấp dẫn.Tại Mỹ, nợ dướichuẩn được thực hiện chủ yếu với các sản phẩm cho vay thế chấp mua nhà, thế chấp muatrả góp ô tô
Sự bùng nổ của cho vay nợ dưới chuẩn bắt nguồn sâu xa từ sự bất cân đối củanguồn vốn tín dụng toàn cầu trong vài năm gần đây Trong khi nguồn vốn tín dụng giatăng từ các chính sách tiền tệ mở thì nhu cầu huy động vốn của các doanh nghiệp sau các
bê bối tài chính tại Mỹ như Enron, Worldcom và khủng hoảng các công ty công nghệthông tin từ năm 2001 lại suy giảm Điều này đã dẫn đến tình trạng thừa các nguồn vồn
mà thị trường sử dụng không thực sự hiệu quả Cho vay nợ dưới chuẩn là một biện pháp
để giải quyết bài toán thừa vốn mà lại tối đa hóa lợi nhuận
Ngân hàng đầu tư có lẽ là người hưởng lợi nhiều nhất Cho vay thế chấp mua nhàdưới chuẩn có lãi suất rất cao, do đó ngân hàng đầu tư vừa thu lãi từ cung cấp vốn chocông ty tài chính, vừa thu lãi từ nghiệp vụ chứng khoán hóa Lợi nhuận cao kết hợp vớilòng tham đã dẫn đến lạm dụng việc cho vay nợ dưới chuẩn Các thủ tục thẩm định thựchiện bởi các đại lý cho vay diễn ra hết sức lỏng lẻo và việc tiếp cận vốn tín dụng mua nhàtrở nên nhanh chóng, dễ dàng hơn bao giờ hết Những người có thu nhập thấp, đặc biệt làdân định cư lần đầu tiên có cơ hội mua nhà Cho vay thế chấp mua nhà dưới chuẩn lannhanh ra toàn nước Mỹ Giá bất động sản tăng nhanh chóng
Trang 30Nếu như cho vay thế chấp mua nhà dưới chuẩn mới bắt đầu hình thành từ nhữngnăm đầu 90 và phát triển rất chậm thì trong 5 năm gần đây con số này gia tăng một cách kỷlục Năm 2002, doanh số cho vay dưới chuẩn cung cấp cho thị trường khoảng 200 tỷ USD,năm 2003 là 320 tỷ, năm 2004 là 550 tỷ, năm 2005-2006 con số này đạt gần 700 tỷ USDhàng năm, chiếm khoảng 25% thị phần cho vay thế chấp mua nhà toàn nước Mỹ Việc chovay nợ dưới chuẩn một cách thái quá trong thời gian ngắn dẫn đến việc mất kiểm soát chấtlượng tín dụng, chính là nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007 [34].
1.4.2 Hậu quả của khủng hoảng đối với nền kinh tế Mỹ và toàn cầu
Trang 31Khi nền kinh tế hoạt động không hiệu quả, lãi suất tăng tạo nên gánh nặng trả nợvới những người thu nhập thấp, thất nghiệp gia tăng thì rủi ro cho vay nợ dưới chuẩn bịảnh hưởng nhanh nhất Không trả được nợ, hàng loạt người mua nhà bị xiết nợ và phátmại tài sản Ngay lập tức, Cục dự trữ liên bang Mỹ và Ngân hàng Trung ương Châu Âuphải bơm số vốn khổng lồ vào thị trường Từ tháng 9/2007, Cục dự trữ liên bang Mỹ -FED đã liên tục 6 lần cắt giảm lãi suất chiết khấu đồng USD từ 5,25%/năm xuống mứchiện tại 2%/ năm và duy trì mức lãi suất thấp kỉ lục như vậy từ năm 2008 đến nay Đây lànhững biện pháp rất mạnh nhằm cứu vãn nền kinh tế Mỹ khỏi cuộc khủng hoảng này Hậu quả của cuộc khủng hoảng tín dụng cho nước Mỹ và thế giới là rất lớn Thị trườngbất động sản và thị trường chứng khoán bị ảnh hưởng nặng nề Thị trường trái phiếu hìnhthành từ chứng khoán hóa bị mất khả năng thanh khoản Ngành xây dựng Mỹ đóng góp15% GDP phải cắt giảm một nửa sản lượng và cắt 1-2 triệu công việc Các khoản cho vaythế chấp không có khả năng thu hồi và giá trị tài sản đảm bảo từ những ngôi nhà bị sụtgiảm là nguyên nhân giá trị đánh giá lại (mark to market) của các gói trái phiếu phát hành
bị giảm giá không phanh, đặc biệt là các gói trái phiếu có rủi ro cao Các nhà đầu tư nắmgiữ trái phiếu hình thành từ chứng khoán hóa nợ dưới chuẩn là người chịu hậu quả nặng
nề Dự báo số tổn thất do giảm giá trị trái phiếu cho toàn thị trường lên tới khoảng 220 tỷ–
450 tỷ USD Hàng loạt ngân hàng đầu tư trót nắm giữ các gói trái phiếu rủi ro mà chưakịp chuyển giao cho thị trường đã phải ghi nhận các khoản tổn thất lên đến hàng trăm tỷUSD như Citi (21 tỷ USD), Merrill Lynch (25 tỷ USD), UBS (18 tỷ USD), MorganStanley (10 tỷ USD), JP Morgan (2,2 tỷ USD), Bear Stearns (2 tỷ USD), LehmanBrothers (1,5 tỷ USD), Goldman Sachs (1,3 tỷ USD) Tổng thiệt hại tài chính của cácngân hàng đầu tư trong năm 2007 ước tính lên tới gần trăm tỷ USD Hàng ngàn nhân viênphố Wall bị sa thải Không chỉ thiệt hại về giảm giá trái phiếu, mảng kinh doanh nhiều lợinhuận từ chứng khoán hóa của các ngân hàng đầu tư cũng bị tạm ngưng hoạt động Cổphiếu các ngân hàng đầu tư giảm giá mạnh trong 6 tháng cuối năm 2007 Với tổn thấtnặng nề này, các ông chủ phố Wall lần lượt phải ra đi, cụ thể là các ông chủ UBS,Citigroup, Merrill Lynch và Bear Stearns [34]
Trang 32Tháng 9/2007, sản xuất toàn nước Mỹ sụt giảm mạnh nhất trong vòng 34 năm, vớimức giảm 2,8% so với tháng 8, đơn cử sản lượng công nghiệp chế tạo giảm 2,6% trongtháng 9 và đến tháng 10, chỉ số của ngành công nghiệp này giảm chỉ còn 38,9 điểm từmức 43,5 điểm trong tháng 9 Các nhà sản xuất lớn trong ngành đều đứng trên bờ vực phásản Không dừng lại ở đó, bóng đen khủng hoảng còn lan dần đến khu vực đồng EURO –khu vực đang có tiềm lực kinh tế ngang bằng với Mỹ và ngày càng có tầm ảnh hưởngquan trọng đối với tình hình kinh tế, chính trị thế giới Từ quý 2/2008, nhiều quốc giatrong khối EU như Anh, Pháp đều đạt “mức tăng trưởng âm” Tốc độ tăng trưởng của cảkhu vực “đồng EURO” quý 2/2008 chỉ đạt -0.2%, còn toàn EU là 0% Đặc biệt từ cuốitháng 9 và đầu tháng 10/2008 đến giữa năm 2009, có thể nói suy thoái kinh tế đã chế ngựtrên diện rộng ở khu vực kinh tế lớn nhất nhì thế giới này Tiếp đến là Nhật Bản, Nga,Trung Quốc và cả các nền kinh tế đang phát triển, trong đó có cả Việt Nam đều phải đối mặtvới hậu quả của khủng hoảng.[3]
Riêng đối với lĩnh vực ngân hàng, theo công bố của cục dự trữ liên bang Mỹ, trongnăm 2008 có tổng cộng 26 ngân hàng phá sản, thế nhưng năm 2009, con số này đã lên tới
140 với hàng loạt vụ phá sản của các định chế tài chính có lịch sử lâu đời và tiềm lực tàichính bậc nhất thế giới như Lehman Brothers - ngân hàng lớn thứ tư nước Mỹ với số nhânviên lên tới hơn 26 nghìn, Washington Mutual - ngân hàng lớn thứ sáu nước Mỹ, hayBear Stearn, ngân hàng danh tiếng trên phố Wall…Còn theo phân tích về triển vọng nềnkinh tế Mỹ, các chuyên gia dự báo trong năm 2010, số lượng ngân hàng Mỹ phá sản thậmchí có thể lên tới con số 200.[34]
1.4.3 Bài học cho các ngân hàng Việt Nam
Trang 33Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầuđang diễn ra có khả năng sẽ ảnh hưởng lớn nền kinh tế trên nhiều lĩnh vực như xuất khẩu,thu hút vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài… Tuy nhiên do hệ thống tài chínhViệt Nam dường như chưa hội nhập chung với hệ thống tài chính toàn cầu, chúng ta chỉmới mở cửa tài khoản vốn vào mà hầu như chưa mở cửa dòng ra, do vậy lượng tiền ViệtNam đầu tư ra bên ngoài dường như không đáng kể và dòng vốn gián tiếp đổ vào ViệtNam chưa nhiều nên hệ thống tài chính của Việt nam sẽ không chịu nhiều tác động từcuộc khủng hoảng này so với các nước có mức độ hội nhập tài chính sâu rộng Mặc dùvậy, Chính phủ và các cơ quan chức năng Việt Nam nói chung và các ngân hàng ViệtNam nói riêng, đều phải tự rút ra cho mình những bài học để nền kinh tế nước ta pháttriển bền vững hơn trong quá trình hội nhập
Các cơ quan chức năng của nước ta cần phải nhận thức được bài học về nguyênnhân khủng hoảng Đặc biệt là về điều hành chính sách tiền tệ, nhất là khối lượng tín dụngtung ra quá dễ dãi và lãi suất thấp “dưới chuẩn” Khủng hoảng tài chính Mỹ vừa qua, làkết quả của một chính sách cổ vũ mạnh mẽ cho việc xóa bỏ các mọi luật lệ và cơ quanquản lý kiểm soát của Nhà nước đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh của nước Mỹ,bắt đầu từ việc cho phép các ngân hàng mở rộng chức năng hoạt động Thay vì chỉ hoạtđộng trong phạm vi nhận tiền gửi rồi cho vay, thanh toán như trước đây, cơ chế mới chophép các NHTM hoạt động như một công ty đầu tư tài chính – tạo vốn đầu tư (phát hành
và buôn bán cổ phiếu công ty).[3]
Các ngân hàng Việt Nam cần chú ý những vấn đề sau:
Thứ nhất, các cú sốc về tài chính có thể xảy ra thường xuyên hơn và do đó các tác
động đến nền kinh tế Việt Nam cũng như các ngân hàng Việt Nam cũng diễn ra nhanhhơn Vì vậy các ngân hàng cần xây dựng chiến lược xử lý khủng hoảng và các kế hoạchduy trì kinh doanh hợp lý
Trang 34Thứ hai, để phát triển bền vững, các ngân hàng cần có một chiến lược kinh doanh
dài hạn, cẩn trọng hợp lý, tránh tăng trưởng quá nóng và chạy theo lợi nhuận trước mắt.Các ngân hàng không nên tập trung quá nhiều vào cho vay bất động sản mà phải tính đếnkhả năng kiểm soát, quản lý cũng như tính hiệu quả của các khoản tín dụng này, đặc biệttrong điều kiện thị trường thiếu hiệu quả và minh bạch thông tin như ở Việt Nam
Thứ ba, việc quản trị rủi ro tại các ngân hàng nên được thắt chặt Hệ thống QTRR,
quản trị doanh nghiệp, giám sát độc lập có vai trò rất quan trọng trong việc phát hiện cácrủi ro tiềm ẩn
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
2.1 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM
2.1.1 Môi trường kinh tế
2.1.1.1 Kinh tế vĩ mô
Tuy chỉ trong một thời gian ngắn từ 2005 – 2009, nhưng tình hình kinh tế thế giới
và Việt Nam đã có những biến động hết sức phức tạp, nhất là những năm 2007 -2009
Trang 35Năm 2007 là năm đánh dấu những bước tiến mới trong quá trình hội nhập quốc tế
và khu vực, với những thời cơ và thách thức lớn đặt ra cho công cuộc cải cách và pháttriển của Việt Nam Trước việc mất giá tới 13% của đồng USD so với các đồng tiền khác,việc giá dầu, giá vàng tăng đến mức kỉ lục trong vòng 30 năm qua, tình trạng khủnghoảng trong ngành tài chính ngân hàng của Mỹ và các nền kinh tế lớn, nền kinh tế ViệtNam đã vượt qua những biến động lớn đầy thách thức đó và đạt được những kết quả hếtsức tích cực Năm 2007, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam là 8,5%, mức tăng caonhất trong 10 năm qua, xuất khẩu đạt 48 tỷ USD, tăng 20,5% so với năm 2006, đầu tưtrực tiếp nước ngoài tăng kỉ lục, ước đạt 20 tỷ USD Bên cạnh những kết quả đạt được,môi trường kinh doanh của Việt Nam năm 2007, nhất là lĩnh vực ngân hàng đã đối mặtvới những yếu tố bất lợi do lạm phát cao và tỷ lệ nhập siêu lớn Ngoài ra thị trường bấtđộng sản, thị trường chững khoán và thị trường liên ngân hàng diễn biến bất thường; sựthay đổi trong chính sách vĩ mô điều tiết nền kinh tế - tài chính – tiền tệ ảnh hưởng khôngnhỏ đến kinh doanh ngân hàng như tăng tỷ lệ dự trữ lên gấp đôi, hạn chế cho vay bất độngsản và chứng khoán; sự cạnh tranh giữa các ngân hàng trong nước với những ngân hàngnước ngoài diễn ra vô cùng gay gắt [4]
Trang 36Thế nhưng, năm 2008 mới thực sự là năm khó khăn nhất trong hơn một thập kỉ quacủa Việt Nam và kể từ khi nước ta bắt đầu áp dụng chính sách đổi mới, dần hội nhập vớikinh tế thế giới Bắt đầu với khủng hoảng hệ thống tài chính toàn cầu đã dẫn tới suy thoái
và suy giảm tăng trưởng kinh tế tại nhiều nền kinh tế lớn nhất trên thế giới như Mỹ, EU
và nhiều nước châu Á, ảnh hưởng lớn tới Việt Nam Diễn biến kinh tế Việt Nam trongnăm rất phức tạp, nổi bật là lạm phát tăng cao trong những tháng đầu năm và giảm pháttrong những tháng cuối năm, lãi suất biến động liên tục, thị trường chứng khoán suy giảmtới hơn 60% so với thời điểm 31/12/2007, thị trường bất động sản “vỡ bong bóng” với giátrị giảm hơn 50%, nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài do tác động của các nền kinh tếkhác bị rút khỏi Việt Nam khiến cho nguồn cung tài chính vào thị trường vốn Việt Namsuy giảm, chính sách thắt chặt nguồn cung tiền và hạn chế tăng trưởng tín dụng nhằmkiềm chế lạm phát đã ảnh hưởng đến dòng tiền của các doanh nghiệp tại hầu hết cácngành nghề, tăng trưởng GDP không đạt kế hoạch (chỉ tăng 6,8% so với kế hoạch 8%),kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 62,9 tỷ USD, tăng 29,5% so với năm 2007 và kim ngạchnhập khẩu hàng hóa đạt 80,4 tỷ USD, tăng 28,3% so với năm 2007 khiến cán cân thanh toán
là nhập siêu lớn hơn, gấp 1,2 lần so với năm 2007 [4]
Tiếp nối đà suy thoái của năm 2008, nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới đã tiếp tụcsuy giảm sâu trong nửa đầu năm 2009 nhưng rồi đã gượng dậy, dần hồi phục trong nửacuối năm Nền kinh tế Việt Nam đã khá thành công khi đạt mức tăng trưởng tương đốicao so với các nước trong khu vực (5,32%) trong khi vẫn giữ được lạm phát ở mức thấp(6,52%), FDI giải ngân vẫn đạt mức cao, đời sống xã hội ổn định… Gói kích thích củaChính phủ mà trọng tâm là chương trình hỗ trợ lãi suất đã mang lại những hiệu ứng tíchcực cho hoạt động ngân hàng Nhưng những diễn biến phức tạp của lãi suất, tỷ giá, thanhkhoản…cũng khiến cho hoạt động của các ngân hàng gặp không ít khó khăn [4]
Trang 37Năm 2010 được đánh giá là vẫn còn nhiều thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam nóichung, đặc biệt là ngành ngân hàng nói riêng Mặc dù kinh tê thế giới đã có những dấu hiệuphục hồi nhưng chưa thực sự bền vững, các nước phát triển vẫn còn gặp nhiều khó khăn và
có thể ảnh hưởng đến thị trường xuất khẩu và thu hút vốn đầu tư nước ngoài của Việt Nam.Mục tiêu kinh tế tổng quát của Chính phủ và Quốc hội đề ra trong năm nay là tiếp tục giữvững ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý đi đôi với nâng cao chấtlượng tăng trưởng, ngăn chặn lạm phát trở lại, tăng khả năng đảm bảo an sinh xã hội
Tình hình kinh tế nước ta giai đoạn 2005 – 2009 được tóm lược trong hình 2.1.
Hình 2.1: Tình hình tăng trưởng kinh tế, kim ngạch xuất khẩu và lạm phát
nước ta giai đoạn 2005 -2010
Nguồn: [4]
2.1.1.2 Áp lực hội nhập và cạnh tranh quốc tế ngày càng tăng
Trang 38Trong những năm qua, nền kinh tế Việt Nam đã từng bước hội nhập vào nền kinh
tế khu vực cũng như quốc tế Sau hiệp định AFTA là hiệp định thương mại song phươngViệt Nam – Hoa kỳ và ngày 07/11/2006, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ
150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Lộ trình hội nhập buộc các doanh nghiệp và
cả các ngân hàng Việt Nam phải tuân thủ luật chơi quốc tế, mở cửa thị trường tài chính vàcạnh tranh khốc liêt hơn
Hội nhập quốc tế mang lại thị trường rộng lớn, khách hàng và quan trọng nhất làcác ngân hàng được tiếp cận với tri thức và các thông lệ quốc tế hoàn chỉnh nhất, đặc biệt
là về mảng tín dụng Trong những năm vừa qua, hàng loạt các sản phẩm dựa trên nền tảngcông nghệ đã được triển khai nhanh chóng: thẻ tín dụng, thanh toán điện tử, tài trợ thươngmại, internet banking, mobile banking… Những khái niệm và kiến thức về quản trị rủi rocũng nhanh chóng được tiếp cận, nhất là việc chuyển giao công nghệ qua hình thức ngânhàng liên doanh
Bên cạnh những cơ hội kể trên thì áp lực cạnh tranh trên thị trường nội địa và cả thịtrường xuất khẩu cũng hết sức khốc liệt Với việc thành lập và bành trướng thị phần nhanhchóng của các ngân hàng liên doanh, 100% vốn nước ngoài và các chi nhánh, văn phòngcủa các ngân hàng nước ngoài trên thị trường tín dụng thời gian qua là minh chứng cụ thể.Điều này đã, đang và sẽ tiếp tục làm thay đổi tính chất hoạt động của các ngân hàng ViệtNam, mà một trong những xu hướng đó là phải công khai, minh bạch về thông tin và khôngthể dựa dẫm vào bất kỳ một tổ chúc nào khác ngoài năng lực cạnh tranh cùa chính mình
2.1.1.3 Quy định của pháp luật được bổ sung và hoàn thiện
Không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh trên cơ sở tuân thủ các quy định củapháp luật và áp dụng các chuẩn mực, thông lệ tốt nhất của quốc tế chính là nền tảng đểcho các TCTD duy trì và phát triển bền vững hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt
Trang 39NHNN, cơ quan quản lý trực tiếp các ngân hàng, đã ban hành những quy định cụthể, từng bước chuẩn hóa hoạt động tín dụng Cụ thể là:
Quyết định 127/2005/QĐ-NHNN ngày 3/2/2005 về sửa đổi bổ sung một số điềucủa quy chế cho vay
Quyết định 457/2002/QĐ-NHNN ngày 19/4/2005 quy định về các tỷ lệ bảo đảm antoàn trong hoạt động của TCTD, bao gồm: tỷ lệ an toàn vốn tổi thiểu, giới hạn tíndụng đối với khách hàng, tỷ lệ về khả năng chi trả, tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạnđược sử dụng để cho vay trung và dài hạn, giới hạn vốn góp cổ phần
Chỉ thị số 02/2005/CT-NHNN ngày 20/04/2005 yêu cầu các NHTM về việc nângcao chất lượng tín dụng, tăng trưởng tín dụng phù hợp với khả năng huy động vốn
và kiểm soát rủi ro, đảm bảo an toàn hệ thống
Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 về phân loại nợ, trích lập dựphòng và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động kinh doanh ngân hàng
Quyết định 783/2005/QĐ-NHNN ngày 31/5 về sửa đổi bổ sung quy chế cho vay củacác TCTD đối với khách hàng theo hướng trao nhiều quyền phán quyết, tạo cơ sởpháp lý cho các NHTM chủ động thực hiện theo đặc thù kinh doanh
Chỉ thị 02/2006/CT-NHNN ngày 23/05/2006 về việc tăng cường các biện phápphòng ngừa, hạn chế rủi ro trong kinh doanh của các TCTD nhằm đảm bảo hoạtđộng kinh doanh của các ngân hàng toàn, hiệu quả và bền vững
Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/4/2007 về việc sửa đổi bổ sung một sốđiều của quyết định 493/2005/QĐ-NHNN về phân loại nợ, trích lập dự phòng và
sử dụng dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động kinh doanh ngân hàng với một
số tiêu chí chính như: quản lý rủi ro chặt chẽ hơn đối với các cam kết ngoại bảng,tăng độ an toàn cho hoạt động ngân hàng
Chỉ thị 03/2007/CT-NHNN ngày 28/5/2007 về kiểm soát quy mô, chất lượng tíndụng và cho vay đầu tư kinh doanh chứng khoán nhằm kiểm soát lạm phát, thúc đẩytăng trưởng kinh tế Trong đó quy định tỷ lệ cho vay không vượt quá 3% tổng dư nợ
Trang 40 Đặc biệt, trong thời gian cuộc khủng kinh tế tài chính toàn cầu có nhiều diễn biếnphức tạp, NHNN đã có các văn bản quy định, hướng dẫn kịp thời cho các NHTMđảm bảo an toàn vượt qua khủng hoảng và suy thoái kinh tế như: Chỉ thị số05/2008/CT-NHNN ngày 09/10/2008 về một số biện pháp đảm bảo an toàn, hiệuquả hoạt động kinh doanh của các TCTD.
Quyết định số 34/2008/QĐ-NHNN về việc sửa đổi bổ sung một số điều của quyđịnh 457/2005/QĐ-NHNN về quy định các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt độngcủa các TCTD
Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 22/5/2009 về một số biện pháp đảm bảo an toàn,hiệu quả hoạt động kinh doanh của các TCTD
Chỉ thị số 02/CT-NHNN ngày 07/04/2010 về tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ
và đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả năm 2010
2.1.2 Các kết quả đạt được trong hoạt động tín dụng
Theo số liệu công bố của NHNN Việt Nam, đến cuối năm 2008, hệ thống NHTMnước ta bao gồm: 5 NHTMNN, 40 NHTMCP, 1 ngân hàng chính sách xã hội, 5 ngânhàng liên doanh, 39 chi nhánh ngân hàng nước ngoài và 5 ngân hàng 100% vốn nướcngoài Hoạt động tín dụng luôn là hoạt động kinh doanh chủ yếu và nguồn thu từ tín dụngcũng là chiếm tới 70 - 90% nguồn thu của các ngân hàng Vì vậy, lợi nhuận tạo ra từ tíndụng cũng chiếm tỷ trọng cao nhất