BÀI GIẢNG QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP LÂM NGHIỆP Doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện về tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, để tối đa hóa lợi nhuận của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu kinh tế xã hội
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
KHOA KINH TẾ
=========o0o=========
BÀI GIẢNG QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP
LÂM NGHIỆP
ThS NGUYỄN VĂN ĐẠT
Đăk Lăk, năm 2011
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Chương 1:TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP LÂM NGHIỆP 1
1.1 DOANH NGHIỆP VÀ CÁC MỤC TIÊU CỦA DOANH NGHIỆP 1
1.1.1.Khái niệm doanh nghiệp 1
1.1.2.Các mục tiêu của doanh nghiệp 1
1.2 DOANH NGHIỆP LÂM NGHIỆP (DNLN) 2
1.2.1.Khái niệm doanh nghiệp lâm nghiệp 2
1.2.2.Phân loại doanh nghiệp lâm nghiệp 3
1.3 ĐẶC ĐIỂM SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP LN 4
1.3.1.Đặc điểm về chu kỳ sản xuất trong doanh nghiệp lâm nghiệp 4
1.3.2.Tính đa dạng, phức tạp trong hoạt động của các doanh nghiệp lâm nghiệp 4
1.3.3.Đặc điểm về địa bàn hoạt động của doanh nghiệp lâm nghiệp 5
1.3.4.Tính mùa vụ của sản xuất trong các doanh nghiệp lâm nghiệp 5
1.3.5.Sản xuất lâm nghiệp mang tính xã hội sấu sắc 5
1.4 CƠ CẤU SẢN XUẤT CỦA DOANH NGHIỆP 5
1.4.1.Quá trình sản xuất trong doanh nghiệp 5
1.4.2.Cơ cấu sản xuất của doanh nghiệp lâm nghiệp 6
1.4.3.Phương hướng hoàn thiện cơ cấu sản xuất trong doanh nghiệp lâm nghiệp 9
1.5 BỘ MÁY QUẢN LÝ CỦA DOANH NGHIỆP 9
1.5.1.Nguyên tắc xây dựng bộ máy 9
1.5.2.Những hạn chế của quản trị tổ chức và hướng hoàn thiện 10
1.5.3.Các kiểu cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp 10
1.6 CÁC PHƯƠNG PHÁP QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP 12
1.6.1.Phương pháp phân quyền 12
1.6.2.Phương pháp hành chính 12
1.6.3.Phương pháp kinh tế 13
1.6.4.Phương pháp tổ chức giáo dục 13
1.6.5.Phương pháp tâm lý xã hội 13
Chương 2:CÔNG TÁC CHUẨN BỊ VÀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT TRONG DNLN 14
2.1 TỔ CHỨC CÔNG TÁC CHUẨN BỊ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP 14
2.1.1.Nội dung công tác chuẩn bị sản xuất trong doanh nghiệp 14
2.1.2.Nội dung công tác chuẩn bị sản xuất trong trong khâu xây dựng rừng 15
2.1.3.Nội dung chuẩn bị sản xuất trong trong khâu khai thác lâm sản 16
2.2 TỔ CHỨC CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 16
2.2.1.Sửa chữa máy móc thiết bị 16
2.2.2.Tổ chức vận chuyển trong doanh nghiệp 20
2.3 TỔ CHỨC SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP LÂM NGHIỆP 21
2.3.1.Tổ chức sản xuất trong xây dựng rừng 21
2.3.2.Tổ chức sản xuất khai thác lâm sản 24
2.3.3.Tổ chức sản xuất chế biến lâm sản 26
2.3.4.Tổ chức sản xuất phụ trong doanh nghiệp lâm nghiệp 27
2.4 QUẢN LÝ SỬ DỤNG RỪNG VÀ ĐẤT RỪNG TRONG DNLN 28
2.4.1.Vai trò, đặc điểm sử dụng rừng và đất rừng trong doanh nghiệp LN 28
Trang 32.4.2.Mục tiêu nhiệm vụ quản lý rừng và đất rừng trong doanh nghiệp lâm nghiệp 29
2.4.3.Các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng rừng và đất rừng 29
2.4.4.Các chỉ tiêu đánh giá trình độ quản lý sử dụng rừng và đất rừng 30
Chương 3:QUẢN LÝ SỬ DỤNG MÁY MÓC THIẾT BỊ VÀ VẬT TƯ TRONG DNLN 32
3.1 QUẢN LÝ SỬ DỤNG MÁY MÓC THIẾT BỊ TRONG DOANH NGHIỆP 32
3.1.1.Nhiệm vụ và nội dung của công tác quản lý và sử dụng máy móc thiết bị trong DN 32
3.1.2.Định mức sử dụng máy móc thiết bị 32
3.1.3.Các chỉ tiêu đánh giá trình độ sử dụng máy móc thiết bị 37
3.1.4.Năng lực sản xuất của máy móc thiết bị 39
3.2 QUẢN LÝ SỬ DỤNG VẬT TƯ TRONG DOANH NGHIỆP LÂM NGHIỆP 40
3.2.1.Phân loại vật tư trong doanh nghiệp lâm nghiệp 40
3.2.2.Nội dung công tác quản lý vật tư trong doanh nghiệp 41
Chương 4:QUẢN LÝ LAO ĐỘNG VÀ TIỀN LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP LN 44
4.1 TỔ CHỨC LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 44
4.1.1.Nội dung và ý nghĩa công tác quản lý lao dộng trong doanh nghiệp 44
4.1.2.Công tác tuyển dụng và hợp đồng lao động 44
4.1.3.Công tác định mức lao động 46
4.1.4.Năng suất lao động và xác định số lao động cần dùng 48
4.2 CÔNG TÁC TIỀN LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP 51
4.2.1.Chức năng của tiền lương trong doanh nghiệp 51
4.2.2.Các nguyên tắc trả lương 51
4.2.3.Chế độ tiền lương nhiều bậc 51
4.2.4.Các hình thức trả lương 53
4.1.2.Nội dung và ý nghĩa công tác quản lý lao dộng trong doanh nghiệp 58
Chương 5:QUẢN LÝ CÁC HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ TRONG DOANH NGHIỆP LN 59
5.1 VỊ TRÍ VÀ NỘI DUNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ CỦA DN 59
5.1.1.Vị trí công tác tiêu thụ trong doanh nghiệp 59
5.1.2.Nội dung công tác tổ chức tiêu thụ sản phẩm trong doanh nghiệp 59
5.2 NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG 59
5.2.1.Khái niệm và phân loại thị trường 59
5.3 XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM 62
5.3.1.Sản phẩm trong doanh nghiệp 62
5.3.2.Nội dung của chiến lược sản phẩm trong doanh nghiệp 62
5.4 CHIẾN LƯỢC GIÁ CẢ CỦA DOANH NGHIỆP 62
5.4.1.Những nhân tố ảnh hưởng đến việc định giá của doanh nghiệp 62
5.4.2.Một số phương pháp định giá trong doanh nghiệp 63
5.5 TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM 64
5.5.1.Các chức năng của hoạt động phân phối sản phẩm 64
5.5.2.Tổ chức kênh phân phối hàng 64
5.5.3.Tổ chức hoạt động bán hàng 65
5.5.4.Tổ chức các hoạt dộng dịch vụ sau bán hàng 66
5.5.5.Tổ chức các hoạt động xúc tiến bán hàng của doanh nghiệp 66
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP LÂM NGHIỆP1.1 DOANH NGHIỆP VÀ CÁC MỤC TIÊU CỦA DOANH NGHIỆP
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp
Doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện
về tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, để tối đa hóa lợi nhuận của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu kinh tế xã hội
1.1.2 Các mục tiêu của doanh nghiệp
Hiện nay còn tồn tại một số quan điểm khác nhau về mục tiêu của doanh nghiệp,tuy nhiên có thể khẳng định, mọi doanh nghiệp đều có một hệ thống các mục tiêu củamình, trong đó thu lợi nhuận là mục tiêu trung tâm, cơ bản nhất của doanh nghiệp Trongmỗi giai đoạn phát triển khác nhau, các doanh nghiệp có thể xác định thứ tự ưu tiên khácnhau cho từng mục tiêu cụ thể của mình
Nhìn chung, hệ thống mục tiêu tổng quát của các doanh nghiệp có thể như sau:
1.1.2.1 Mục tiêu lợi nhuận
Lợi nhuận là phần thu nhập còn lại của doanh nghiệp sau khi đã trang trải các chiphí trong sản xuất kinh doanh và làm nghĩa vụ thuế với ngân sách Nhà nước
Thu lợi nhuận được coi là mục tiêu trung tâm số một của các doanh nghiệp bởi các
lý do sau đây:
- Doanh nghiệp là tổ chức chuyên thực hiện các hoạt động kinh doanh nên đươngnhiên thu lợi nhuận phải là mục tiêu số một của doanh nghiệp, nếu không thu đượclợi nhuận doanh nghiệp sẽ bị phá sản
- Thu được lợi nhuận là điều kiện để đáp ứng lợi ích của các chủ đầu tư vốn vàodoanh nghiệp, tức là doanh nghiệp có thể thu hút vốn để tổ chức và mở rộng quátrình kinh doanh của mình
- Thu được lợi nhuận giúp cho doanh nghiệp có thể đầu tư tái sản xuất mở rộng,nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình
- Thu được lợi nhuận là điều kiện để doanh nghiệp nâng cao đời sống vật chất vàtinh thần cho người lao động
- Thu được lợi nhuận tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện đầy đủ nghĩa vụđóng góp của mình vào sự nghiệp phát triển toàn diện kinh tế xã hội của đất nước
Để nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh cóhai con đường cơ bản sau đây:
- Tiết kiệm chi phí sản xuất kinh doanh hạ giá thành sản phẩm
- Mở rộng quy mô kinh doanh, tăng doanh thu tiêu thụ sản phẩm
Trong các doanh nghiệp, tiết kiệm các khoản chi phí sản xuất kinh doanh, hạ giáthành sản phẩm được coi là con đường cơ bản nhất
1.1.2.2 Mục tiêu phát triển.
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh được coi là hiện tượng lành mạnh và làyếu tố động lực thúc đẩy sự phát triển của các doah nghiệp Trong điều kiện cạnh tranh,các doanh nghiệp lớn, trường vốn thường có nhiều ưu thế hơn trong tổ chức sản xuất kinhdoanh và chiếm lĩnh thị trường Sự phát triển của doanh nghiệp có thể được đánh giáthông qua các chỉ tiêu:
- Doanh thu tiêu thụ sản phẩm ngày càng cao
- Lợi nhuận đạt được ngày càng lớn.
- Vốn đầu tư của doanh nghiệp ngày càng nhiều.
Trang 5- Hiệu quả sản xuất kinh doanh ngày càng được nâng cao.
- Máy móc thiết bị và công nghệ ngày càng hiện đại.
- Đời sống vật chất, tinh thần của người lao động ngày càng được nâng cao.
- Đóng góp của doanh nghiệp cho ngân sách ngày càng lớn.
Để có thể tồn tại và đứng vững trong nền kinh tế thị trường, liên tục phát triển làmục tiêu rất quan trọng được đặt ra một cách thường xuyên đối với mọi doanh nghiệp,bởi tương quan giữa các doanh nghiệp là một trạng thái thường xuyên thay đổi theo thờigian
Để có thể phát triển ổn định, bền vững, doanh nghiệp cần xây dựng và thực thimột chiến lược kinh doanh khoa học, các chính sách và biện pháp kinh doanh linh hoạt,hiệu quả
Cung ứng những sản phẩm và dịch vụ cần thiết cho nền kinh tế vừa là mục tiêuvừa là phương tiện để doanh nghiệp đạt được mục tiêu lợi nhuận và các mục tiêu kháccủa mình Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp phải tạo cho mình một phân đoạn thịtrường hợp lý và một lượng khách hàng đủ lớn để tồn tại và phát triển
1.1.2.4 Mục tiêu trách nhiệm xã hội
Doanh nghiệp là một cơ sở sản xuất kinh doanh của nền kinh tế, là một tế bào của
xã hội, vì thế phải đặt ra mục tiêu thực hiện các trách nhiệm xã hội của mình Tráchnhiệm xã hội của doanh nghiệp được thể hiện trên các khía cạnh sau đây:
- Bảo đảm chất lượng sản phẩm và dịch vụ đưa ra thị trường, bảo đảm lợi ích chínhđáng cho người tiêu dùng Trước hết, doanh nghiệp cần đảm bảo các tiêu chuẩn vềchất lượng sản phẩm đã đăng ký, bên cạnh đó cần phấn đấu từng bước nâng caochất lượng sản phẩm và chất lượng phục vụ người tiêu dùng
- Bảo vệ và cải thiện các điều kiện môi trường sinh thái trong khu vực nhằm đảmbảo sự phát triển bền vững của toàn bộ nền kinh tế Các doanh nghiệp cần đặc biệtquan tâm đến việc kiểm soát và loại trừ các yếu tố có thể gây ô nhiễm trong quátrình sản xuất kinh doanh, từng bước tiến tới chủ động áp dụng các biện phápthích hợp để cải thiện các điều kiện môi trường sinh thái trên địa bàn hoạt độngcủa mình
- Góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển toàn diện kinh tế xã hội, đảm bảo anninh, quốc phòng trên từng địa bàn cụ thể
1.2 DOANH NGHIỆP LÂM NGHIỆP (DNLN)
1.2.1 Khái niệm doanh nghiệp lâm nghiệp
Doanh nghiệp lâm nghiệp là một loại hình doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu trong lĩnh vực lâm nghiệp với các hoạt động xây dựng rừng, khai thác vận chuyển và chế biến các loại lâm sản, thực hiện các dịch vụ trong lĩnh vực lâm nghiệp, đáp ứng nhu cầu về lâm sản đối với toàn bộ nền kinh tế Với đặc trưng cơ bản nhất là lấy rừng và tài nguyên rừng làm tư liệu sản xuất chủ yếu.
Trang 6Theo quan niệm phổ biến hiện nay, lâm nghiệp là một lĩnh vực sản xuất đặc biệt,bao gồm các hoạt động xây dựng rừng, khai thác lợi dụng, chế biến các sản phẩm từ rừng
và phát huy các chức năng phòng hộ, chức năng văn xã của rừng
Ngày nay vai trò phòng hộ và văn xã của rừng ngày càng được nhận thức đầy đủhơn và ngày càng tỏ ra quan trọng hơn khi đánh giá sự đóng góp của các doanh nghiệplâm nghiệp đối với nền kinh tế
1.2.2 Phân loại doanh nghiệp lâm nghiệp
Doanh nghiệp lâm nghiệp được phân chia thành nhiều loại tùy thuộc vào mục tiêunghiên cứu khác nhau Về cơ bản có thể chia doanh nghiệp lâm nghiệp theo các phươngpháp sau đây
1.2.2.1 Phân loại theo sở hữu vốn trong doanh nghiệp
Theo cách chia này, cũng giống khi phân loại các doanh nghiệp thông thường,người ta cũng chia doanh nghiệp lâm nghiệp thành các loại sau đây:
Doanh nghiệp lâm nghiệp Nhà nước
Doanh nghiệp lâm nghiệp tư nhân
Doanh nghiệp lâm nghiệp kiểu công ty
1.2.2.2 Phân loại theo lĩnh vực kinh doanh
Căn cứ vào tính chuyên môn trong sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp lâmnghiệp có thể chia thành các loại sau đây:
Doanh nghiệp xây dựng rừng
Bao gồm các doanh nghiệp chỉ thực hiện các hoạt động trong khâu xây dựng rừngnhư: trồng, chăm sóc, quản lý bảo vệ rừng nhằm tạo ra nguồn nguyên liệu cho côngnghiệp khai thác và chế biến lâm sản
Doanh nghiệp khai thác vận chuyển lâm sản
Bao gồm các doanh nghiệp chuyên thực hiện các hoạt động khai thác vận chuyển
và phân phối lâm sản
Doanh nghiệp chế biến lâm sản
Bao gồm các doanh nghiệp thực hiện các hoạt động gia công chế biến các loại lâmsản phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của xã hội
Doanh nghiệp cơ khí lâm nghiệp
Bao gồm các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trong ngành cơ khí chếtạo, sửa chữa các loại máy móc thiết bị, công cụ sản xuất… phục vụ cho sản xuất lâmnghiệp
Doanh nghiệp dịch vụ lâm nghiệp
Bao gồm các doanh nghiệp thực hiện các hoạt động điều tra rừng, thiết kế kỹthuật, cung cấp vật tư, giống cây rừng, chuyển giao khoa học kỹ thuật … trong lĩnh vựclâm nghiệp
Doanh nghiệp lâm nghiệp tổng hợp
Bao gồm các doanh nghiệp lâm nghiệp thực hiện đồng thời nhiều hoạt động sảnxuất kinh doanh trong và ngoài lĩnh vực lâm nghiệp Thông thường các doanh nghiệpnày thực hiện các hoạt động khép kín từ khâu xây dựng rừng đến khai thác, vận chuyển,chế biến lâm sản, tham gia lưu thông phân phối các hàng lâm sản và thực hiện một sốhoạt động kinh doanh khác ngoài lĩnh vực lâm nghiệp
Trong giai đoạn hiện nay , các doanh nghiệp lâm nghiệp tổng hợp đang ngày càngphổ biến hơn và tỏ ra có nhiều ưu thế trong tổ chức sản xuất kinh doanh
Ngoài các cách phân loại trên, trong thực tiễn, người ta còn phân loại các doanhnghiệp lâm nghiệp theo quy mô (lớn, vừa, nhỏ) theo mục tiêu kinh doanh (doanh nghiệpkinh doanh đầy đủ hoặc doanh nghiệp công ích) và một số cách phân loại khác
Trang 71.3 ĐẶC ĐIỂM SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP LN
Với đặc trưng lấy rừng và tài nguyên rừng làm tư liệu sản xuất chủ yếu, các doanhnghiệp lâm nghiệp có những đặc riêng biệt của mình Những đặc điểm này có ảnh hưởngrất lớn đến công tác tổ chức sản xuất kinh doanh và tổ chức quản trị của các doanhnghiệp lâm nghiệp
Đứng trên góc độ quản trị doanh nghiệp, có thể nêu ra những đặc điểm chủ yếutrong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp lâm nghiệp như sau:
1.3.1 Đặc điểm về chu kỳ sản xuất trong doanh nghiệp lâm nghiệp
Chu kỳ sản xuất là khoảng thời gian tính theo lịch kể từ khi đưa đối tượng vào gia
công, chế biến đến khi hoàn thành công đoạn sản xuất cuối cùng sản phẩm được nhậpkho thành phẩm, sẵn sàng cung cấp cho thị trường
Hoạt động sản xuất kinh doanh cơ bản nhất trong doanh nghiệp lâm nghiệp là gâytrồng, khai thác và chế biến các loại lâm sản cung cấp cho các nhu cầu của nền kinh tế.Trong toàn bộ các hoạt động này, đối tượng lao động chủ yếu là cây rừng – một thực thểsinh học có thời gian sinh trưởng phát triển rất dài Đối với cây rừng, thời gian từ khi bắtđầu gieo trồng đến khi được khai thác có thể kéo dài nhiều năm, thông thường là hàngchục năm, cá biệt có thể tới hàng trăm năm Vì thế, chu kỳ sản xuất trong các doanhnghiệp lâm nghiệp rất dài, đó là đặc điểm rất quan trọng, có ảnh hưởng rất lớn đến toàn
bộ công tác tổ chức sản xuất kinh doanh và tổ chức quản trị của doanh nghiệp lâmnghiệp
Chu kỳ sản xuất dài làm cho vốn đầu tư trong các doanh nghiệp lâm nghiệp phảinằm rất lâu trong quá trình sản xuất dưới dạng sản phẩm dở dang, vì thế vòng quaychậm , rất lâu được thu hồi, dẫn đến hiệu quả kinh tế trong kinh doanh lâm nghiệpthường thấp, độ rủi ro trong kinh doanh thường cao
Đặc điểm này đòi hỏi các doanh nghiệp lâm nghiệp phải hết sức thận trọng trongkhi xác định cơ cấu cây trồng, phải chủ động áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để rútngắn chu kỳ sản xuất, mở rộng các hoạt động kinh doanh tổng hợp, lấy ngắn nuôi dài…
để có thể tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường Bên cạnh đó Nhà nước cần cónhững chính sách ưu đãi về đầu tư cho các hoạt động kinh doanh lâm nghiệp
1.3.2 Tính đa dạng, phức tạp trong hoạt động của các doanh nghiệp lâm nghiệp
Các hoạt động sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp lâm nghiệp nhìnchung rất đa dạng, phức tạp, mang tính khép kín từ khâu tạo rừng cho tới khâu khai thác,vận chuyển, chế biến và phân phối lâm sản đến người tiêu dùng
Tính đa dạng trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp lâm nghiệp thể hiện ởchỗ, sản xuất trong doanh nghiệp lâm nghiệp khép kín từ khâu tạo rừng đến khâu chếbiến lâm sản Các hoạt động trong doanh nghiệp lâm nghiệp cơ bản bao gồm các khâusau đây:
- Khâu xây dựng rừng gồm các hoạt động: Điều tra rừng, gieo ươm cây con, trồngmới, phục hồi, chăm sóc, quản lý bảo vệ rừng, sản xuất nông lâm kết hợp …
- Khâu khai thác vận chuyển bao gồm các hoạt động: khai thác gỗ và các loại lâmsản, vận xuất, vận chuyển lâm sản từ rừng đến các kho bãi hoặc nơi tiêu thụ
- Khâu chế biến lâm sản bao gồm các hoạt động: Gia công chế biến gỗ và các loạilâm sản ngoài gỗ thành các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu thị trường
- Các hoạt động chuẩn bị và phục vụ sản xuất như xây dựng, sửa chữa đường vậnxuất vận chuyển, sữa chữa bảo dưỡng máy móc thiết bị, thực hiện các dịch vụ vật tư kỹ
thuật về lâm nghiệp
Trang 81.3.3 Đặc điểm về địa bàn hoạt động của doanh nghiệp lâm nghiệp
Gắn liền với tư liệu sản xuất chủ yếu là rừng và tài nguyên rừng, các doanh nghiệplâm nghiệp thường được phân bố ở các vùng núi xã xôi hẻo lánh, địa hình phức tạp, cơ sở
hạ tầng kém phát triển
Đặc điểm này đặt các doanh nghiệp lâm nghiệp trước những khó khăn trong việc
tổ chức sản xuất, như thiếu các điều kiện cơ sở vật chất và dịch vụ xã hội cần thiết chocác hoạt động của mình Doanh nghiệp thường phải chịu thêm các chi phí để tự xây dựng
và duy trì các công trình cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải, tự tổ chức các dịch vụ đờisống vật chất và tinh thần … không chỉ để phục vụ cho nhu cầu của mình mà còn phục
vụ sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của địa phương Đặc điểm này đòi hỏi các doanhnghiệp lâm nghiệp cần có phương án chủ động xây dựng cơ sở hạ tầng và tổ chức cácdịch vụ xã hội cần thiết nhằm đáp ứng trực tiếp cho yêu cầu sản xuất kinh doanh củamình và góp phần phục vụ nhu cầu dân sinh kinh tế trong khu vực
1.3.4 Tính mùa vụ của sản xuất trong các doanh nghiệp lâm nghiệp
Trong sản xuất lâm nghiệp có nhiều hoạt động mang tính mùa vụ ở các mức độkhác nhau, làm nảy sinh những yêu cầu nhất định trong quá trình tổ chức sản xuất củacác doanh nghiệp Tính mùa vụ của sản xuất trong các doanh nghiệp lâm nghiệp đượcquyết định bởi đối tượng lao động chủ yếu là cây rừng, là những thực thể sinh học, hơnnữa sản xuất lâm nghiệp thường diễn ra ở điều kiện ngoài trời nên chịu ảnh hưởng rấtmạnh của yếu tố thời tiết
Đặc điểm này làm cho công tác tổ chức sản xuất của các doanh nghiệp lâm nghiệpgặp những khó khăn nhất định do tính đều đặn nhịp nhàng trong sản xuất rất khó đượcthực hiện
Tính mùa vụ của sản xuất đòi hỏi doanh nghiệp lâm nghiệp phải xây dựng đượcphương án tổ chức sản xuất, tổ chức lao động hết sức linh hoạt và khoa học để vừa tậndựng được những điều kiện thuận lợi, tránh được những ảnh hưởng bất lợi của thời tiếttrong tổ chức sản xuất, đồng thời phải chủ động áp dụng các biện pháp tổ chức kỹ thuậtthích hợp để hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng của tính mùa vụ đối với sảnxuất kinh doanh
1.3.5 Sản xuất lâm nghiệp mang tính xã hội sấu sắc
Địa bàn hoạt động của các doanh nghiệp lâm nghiệp ở các vùng trung du, miền núicũng đồng thời là nơi sinh sống của cư dân các địa phương Nghề rừng cũng là một trongnhững nghề truyền thống lâu đời của các dân tộc miền núi
Mọi hoạt động sản xuất của doanh nghiệp lâm nghiệp đều có ảnh hưởng đến đờisống của nhân dân địa phương và chịu ảnh hưởng rất lớn của cộng đồng các dân tộc sinhsống trên cùng địa bàn Vì vậy có thể thấy các hoạt động sản xuất lâm nghiệp luôn mangtính xã hội sâu sắc Đặc điểm này đòi hỏi doanh nghiệp lâm nghiệp phải thu hút được sựtham gia chặt chẽ, đầy đủ của cộng đồng nhân dân địa phương vào quá trình sản xuấtkinh doanh của mình, đồng thời cũng phải có trách nhiệm tổ chức sản xuất, góp phần tạoviệc làm và thu nhập cho nhân dân địa phương, đóng góp tích cực vào quá trình phát triểntoàn diện kinh tế xã hội trên địa bàn hoạt động của mình
1.4 CƠ CẤU SẢN XUẤT CỦA DOANH NGHIỆP
1.4.1 Quá trình sản xuất trong doanh nghiệp
Quá trình sản xuất theo nghĩa tổng quát là quá trình kết hợp các yếu tố nguồn lực
để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ đáp ứng các nhu cầu của xã hội
Quá trình này bắt đầu từ khâu chuẩn bị sản xuất, mua sắm vật tư kỹ thuật, tổ chứctriển khai gia công chế biến cho đến khi hoàn thành các sản phẩm và dịch vụ
Trang 9Quá trình sản xuất trong doanh nghiệp bao gồm hai mặt có mối liên hệ mật thiếtvới nhau, đó là mặt vật chất kỹ thuật và mặt kinh tế xã hội của sản xuất.
+ Mặt vật chất kỹ thuật của sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa lao động với cácyếu tố vật chất khác như máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu, đất đai … Để tạo racủa cải vật chất phục vụ cho nhu cầu của xã hội
+ Mặt kinh tế xã hội của sản xuất thể hiện các quan hệ giữa người với người trongquá trình sản xuất như hoạt động phân công, hiệp tác lao động, phân phối kết quả kinhdoanh … cho các thành phần tham gia vào quá trình sản xuất của doanh nghiệp
1.4.2 Cơ cấu sản xuất của doanh nghiệp lâm nghiệp
1.4.2.1 Khái niệm và ý nghĩa của cơ cấu sản xuất trong doanh nghiệp
Cơ cấu là khái niệm dùng để chỉ cấu trúc bên trong, bao gồm các yếu tố cấu thành
và mối quan hệ cơ bản, tương đối ổn định của một đối tượng nào đó trong một thời giannhất định
Cơ cấu sản xuất của doanh nghiệp là khái niệm phản ánh bố cục về chất và mốiquan hệ về lượng bên trongg của quá trình sản xuất trong doanh nghiệp Cơ cấu sản xuấttrong doanh nghiệp được tạo lập bởi các bộ phận nội bộ và mối quan hệ giữa chúng đểthực hiện quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Việc xác định cơ cấu hợp lý có ý nghĩa rất lớn đối với việc tổ chức sản xuất vànâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Tầm quan trọng của cơcấu sản xuất thể hiện trên các khía cạnh sau đây:
- Cơ cấu sản xuất thể hiện sự phân công, bố trí các nguồn lực vật chất kỹ thuật,kinh tế - tài chính, lao động … của doanh nghiệp để thực hiện quá trình sản xuất kinhdoanh Nếu các việc trên bố trí hợp lý sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp tập trung đượcsức mạnh cho những hoạt động cần thiết, tạo những bước đột phá thích hợp trong hoạtđộng của doanh nghiệp trong từng thời gian thích hợp
- Cơ cấu sản xuất thể hiện mối quan hệ về lượng giữa các yếu tố sản xuất Nếumối quan hệ này hợp lý sẽ tạo điều kiện sử dụng tiết kiệm các nguồn lực, đạt hiệu quảcao trong sản xuất kinh doanh
Cơ cấu sản xuất là là cơ sở quan trọng nhất để xây dựng và hoàn thiện bộ máyquản trị doanh nghiệp Vì thế việc xác lập cơ cấu sản xuất hợp lý sẽ tạo điều kiện choviệc xây dựng bộ máy quản trị tinh giản có hiệu lực cao trong điều hành sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp
Cơ cấu sản xuất của các doanh nghiệp thường bao gồm các bộ phận sau đây:
Bộ phận sản xuất chính
Sản xuất chính là bộ phận thực hiện nhiệm vụ cơ bản của quá trình sản xuất củadoanh nghiệp Đó là tiến hành việc khai thác, gia công, chế biến đối tượng lao động đểtạo ra các sản phẩm và dịch vụ chính của doanh nghiệp
Bộ phận sản xuất phù trợ
Bộ phận sản xuất phù trợ là bộ phận thực hiện nhiệm vụ phục vụ cho sản xuất kinh
doanh chính, sản phẩm của nó được sử dụng trực tiếp cho các hoạt động của sản xuất
chính nhằm đảm bảo cho sản xuất chính diễn ra liên tục và đều đặn Ví dụ, trong doanh
nghiệp cơ khí chế tạo, bộ phận lò hơi, hay máy phát điện, tạo và sửa chữa mẫu là
những bộ phận sản xuất phù trợ
Bộ phận sản xuất phụ
Bộ phận sản xuất phụ là bộ phận được tổ chức để tận dụng các phế liệu, phế phẩm,phụ phẩm của sản xuất chính để tạo ra sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp nhằm nângcao tỷ lệ sử dụng tài nguyên, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Bộ phận phục vụ sản xuất
Trang 10Bộ phận phục vụ sản xuất là bộ phận được tổ chức nhằm đảm bảo việc cung ứng,cấp phát, bảo quản, vận chuyển các loại đối tượng lao động, sửa chữa bảo dưỡng máymóc thiết bị, công cụ dụng cụ cho nhu cầu của các hoạt động sản xuất
Ngoài bộ phận phục vụ sản xuất, trong một số trượng hợp cần thiết ở các doanhnghiệp còn tổ chức các hoạt động phục vụ đời sống vật chất, tinh thần cho người laođộng trong doanh nghiệp
1.4.2.2 Cơ cấu sản xuất trong doanh nghiệp lâm nghiệp tổng hợp
Doanh nghiệp lâm nghiệp tổng hợp là doanh nghiệp lâm nghiệp tiến hành các hoạtđộng kinh doanh ở các khâu: xây dựng rừng, khai thác lợi dụng rừng, chế biến lâm sản vàcác hoạt động sản xuất kinh doanh khác
Do các đặc điểm riêng trong sản xuất kinh doanh mà cơ cấu sản xuất của doanhnghiệp lâm nghiệp tổng hợp bao gồm các bộ phận: Bộ phận sản xuất chính, bộ phận sảnxuất phụ, bộ phận phục vụ sản xuất, và bộ phận phục vụ đời sống
Bộ phận sản xuất chính Bộ phận sản xuất chính bao gồm nhiều hoạt động cụ thể
có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, lấy việc sản xuất ra lâm sản hàng hóa làm nhiệm
vụ chủ yếu Bộ phận này bao gồm các hoạt động xây dựng rừng, khai thác vậnchuyển và chế biến lâm sản
- Xây dựng rừng:
Xây dựng rừng là khâu sản xuất đầu tiên, quan trọng nhất trong quá trình sản xuấtcủa doanh nghiệp lâm nghiệp với nội dung chủ yếu là thực hiện các biện pháp tái sinhrừng, tạo ra cơ sở nguyên liệu gỗ và các loại lâm sản khác phục vụ cho khâu khai thác vàchế biến của doanh nghiệp
Khâu xây dựng rừng thường được tiến hành bằng việc áp dựng 3 biên pháp táisinh rừng chủ yếu sau đây:
+ Tái sinh tự nhiên: Tái sinh tự nhiên là biện pháp tái sinh hoàn toàn dựa vào điều
kiện và yếu tố tự nhiên, không cần những tác động khác của con người Hiện nay trongthực tiễn người ta thường áp dụng biện pháp này với tên gọi khoanh nuôi phục hồi rừng
Biện pháp này tỏ ra tiết kiệm, có hiệu quả cao trong trường hợp các điều kiện tàinguyên cho phép, đặc biệt là khi xây dựng các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ Tuynhiên, đối với rừng sản xuất khi áp dụng biện pháp này tổ thành rừng và mật độ cây mụcđích thường không đáp ứng được mục tiêu kinh doanh
+ Xúc tiến tái sinh tự nhiên: Xúc tiến tái sinh tự nhiên là biện pháp chủ yếu vẫn
dựa vào các yếu tố tự nhiên thuận lợi sẵn có của rừng để tái sinh rừng nhưng có tiến hànhthêm một số tác động tích cực của con người để nâng cao chất lượng của rừng tái sinh,phục vụ cho mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp
Những biện pháp tác động thêm của con người khi áp dụng biện pháp này thườngbao gồm: Tra dặm hạt giống, trồng bổ sung cây con, điều chỉnh tổ thành cây rừng…
Biện pháp này thường đòi hỏi phải đầu tư thêm một số chi phí, nhưng hiệu quả đạtđược thường cao, có thể đáp ứng được mục tiêu kinh doanh của rừng, vì thế biện phápnày cần được áp dụng rộng rãi ở những nơi điều kiện tự nhiên cho phép
+ Tái sinh nhân tạo: Tái sinh nhân tạo là biện pháp hoàn toàn dựa vào tác động
của con người để trồng các khu rừng mới
Tái sinh nhân tạo cơ thể tiến hành ngay cả ở những điều kiện tự nhiên khắc nghiệt,không thể tiến hành được các biện pháp tái sinh tự nhiên Biện pháp này thường cho phéptạo được những khu rừng nguyên liệu đảm bảo các yêu cầu của công nghệ chế biến lâmsản, tuy nhiên chi phí tạo rừng thường lớn
- Khai thác, vận chuyển lâm sản
Trang 11Khai thác vận chuyển lâm sản là hoạt động tiếp theo của khâu xây dựng rừng, baogồm các nội dung thu hoạch các sản phẩm lâm sản đã đạt tiêu chuẩn thành thục côngnghệ và vận xuất, vận chuyển những sản phẩm này đến nơi gia công chế biến hoặc nơitiêu thụ Theo nội dung và tính chất của hoạt động khai thác, người ta chia quá trình khaithác lâm sản thành hai loại sau đây:
+ Khai thác chính: Khai thác chính là hoạt động thu hoạch các loại lâm sản đã
được đầy đủ các tiêu chuẩn thành thục công nghệ, có thể đưa vào gia công chế biến thànhcác sản phẩm phục vụ nhu cầu của thị trường Khai thác chính có thể áp dụng phươngthức khai thác trắng hoặc khai thác chọn
+ Khai thác trung gian: Khai thác trung gian là một trong những biện pháp nuôi
dưỡng rừng áp dụng cho những khu rừng chưa đạt tiêu chuẩn thành thục với mục đíchnâng cao năng suất, chất lượng của rừng Sản phẩm của khai thác trung gian thườngmang tính chất tận dụng Tuy nhiên, vẫn có thể đưa vào gia công chế biến, mang lạidoanh thu cho doanh nghiệp
- Chế biến gỗ và các lâm sản khác
Chế biến gỗ và các lâm sản khác là một khâu quan trọng trong bộ phận sản xuấthàng hóa của doanh nghiệp lâm nghiệp, bao gồm các hoạt động gia công, chế biếnnguyên liệu gỗ tròn và các loại lâm sản khác thành các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của xãhội Các hoạt động chế biến lâm sản trong doanh nghiệp lâm nghiệp thường bao gồm:cưa xẻ gỗ, sản xuất đồ mộc, ván nhân tạo, sản xuất dăm, giấy và bột giấy…
Tổ chức hoạt động chế biến lâm sản trong doanh nghiệp lâm nghiệp có ý nghĩa hếtsức quan trọng trong việc nâng cao tỷ lệ lợi dụng tài nguyên rừng, nâng cao giá trị củahàng lâm sản, nâng cao thu nhập cho doanh nghiệp
Bộ phận sản xuất phụ
Sản xuất phụ trong doanh nghiệp lâm nghiệp bao gồm những hoạt động sản xuấtkinh doanh dựa trên cơ sở tận dụng các điều kiện thuận lợi của rừng và đất rừng để tạoviệc làm, tăng thêm thu nhập cho người lao động và cho doanh nghiệp Các hoạt độngsản xuất phụ phổ biến trong doanh nghiệp lâm nghiệp bao gồm: sản xuất nông lâm kếthợp, kinh doanh các lâm sản ngoài gỗ, dược liệu, chế biến tinh dầu, phát triển các ngànhnghề tiểu thủ công nghiệp … các hoạt động kinh doanh phụ trong doanh nghiệp lâmnghiệp có ý nghĩa quan trọng trong việc tổ chức sản xuất theo phương châm lấy ngắnnuôi dài, kinh doanh toàn diện và lợi dụng tổng hợp tài nguyên rừng
Bộ phận phục vụ sản xuất
Bộ phận phục vụ sản xuất trong các doanh nghiệp lâm nghiệp bao gồm các hoạtđộng nhằm chuẩn bị và tạo điều kiện cho việc triển khai các hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Bộ phận phục vụ sản xuất trong doanh nghiệp lâm nghiệpthường bao gồm các hoạt động sau đây:
- Hoạt động sửa chữa cơ khí, bao gồm công tác sữa chữa bảo dưỡng máy móc thiết
bị, sản xuất và sửa chữa các loại công cụ, dụng cụ sản xuất trong doanh nghiệp
- Hoạt động cung cấp vật tư, năng lượng cho nhu cầu sản xuất của doanh nghiệp
- Hoạt động sửa chữa, bảo dưỡng đường vận xuất, vận chuyển, hệ thống kho bãitrong phạm vi doanh nghiệp
Bộ phận phục vụ đời sống
Với đặc điểm riêng của sản xuất lâm nghiệp, đa số các doanh nghiệp lâm nghiệpphải tổ chức các hoạt động dịch vụ phục vụ cho đời sống vật chất cho lực lượng lao độngcủa mình, đồng thời góp phần phục vụ cho dân cư địa phương trong điều kiện địa phươngchưa phát triển được các dịch vụ đó Bộ phận phục vụ đời sống trong doanh nghiệp lâm
Trang 12nghiệp thường bao gồm những hoạt động: Tổ chức nhà ăn tập thể, Nhà trẻ, trường học, y
tế, các hoạt động văn hóa tinh thần…
1.4.3 Phương hướng hoàn thiện cơ cấu sản xuất trong doanh nghiệp lâm nghiệp
Thường xuyên điều chỉnh, hoàn thiện cơ cấu sản xuất là công việc được đặt ra mộtcách thường xuyên đối với các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp lâm nghiệp nóiriêng Một cơ cấu sản xuất được coi là tối ưu khi sản xuất kinh doanh của doanh nghiệpđạt được hiệu quả cao nhất, tài nguyên được sủ dụng một cách hợp lý và bền vững nhất
Trong doanh nghiệp lâm nghiệp, cơ cấu sản xuất cần được hoàn thiện theo cáchướng cơ bản sau đây:
- Tạo sự cân đối bền vững giữa khâu xây dựng rừng với khai thác lợi dụng rừng trên
cơ sở xây dựng được một cơ sở nguyên liệu ổn định, đủ cho nhu cầu phát triển lâudài của doanh nghiệp, đồng thời phát huy được chức năng phòng hộ của rừng đốivới môi trường sinh thái
- Mở rộng các hoạt động chế biến lâm sản nhằm nâng cao tỷ lệ sử dụng tài nguyênrừng, nâng cao giá trị của lâm sản, nâng cao thu nhập cho doanh nghiệp
- Phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh phụ trên cơ sở lấy ngắn nuôi dài,kinh doanh toàn diện, lợi dụng tổng hợp tài nguyên rừng, tạo thêm việc làm vàthu nhập cho người lao động
- Mở rộng các hình thức liên doanh liên kết với các thành phần kinh tế để tổ chứccác hoạt động sản xuất, trong đó cần đặc biệt quan tâm tới việc tổ chức các hìnhthức khoán kinh doanh rừng lâu dài, liên doanh với các hộ gia đình thành viêntrong khâu xây dựng rừng
1.5 BỘ MÁY QUẢN LÝ CỦA DOANH NGHIỆP
1.5.1 Nguyên tắc xây dựng bộ máy
1.5.1.1 Thống nhất mục đích của tổ chức
Một mục đích chỉ tập hợp được sự hợp tác khi những người tham gia hiểu đượcbản chất và mối quan hệ mật thiết của mục đích đó là đối tượng của sự hợp tác
Chú ý : Cần phân biệt rõ mục đích của tổ chức và động cơ cá nhân Mục đích của
tổ chức là đối tượng của sự hợp tác, là cái bên ngoài, không thuộc cá nhân và là kháchquan Còn động cơ cá nhân là cái nội tại, là chủ quan, có những lợi ích riêng, động cơriêng
1.5.1.2 Bộ máy tổ chức phải gắn với mục tiêu và phục vụ triệt để cho thực hiện mục
tiêu
Nguyên tắc này khẳng định: Bao giờ bộ máy tổ chức cũng phải phù hợp với mụctiêu, từ mục tiêu mà đặt ra cấu trúc bộ máy, bao gồm : Cấu trúc các thành phần bộ máy,cách vận hành, con người chỉ huy, phối hợp, xác định động lực thúc đẩy
Sơ đồ 1.1: Tổ chức sản xuất của 1 doanh nghiệp lâm nghiệp tổng hợp
Phòng
TC HC
Phòng Tài vụ
Phòng kinh doanh
Phòng
KH vậtt tư
Các bộ phận sản xuất kinh doanh, đội, phân xưởng
Trang 131.5.1.5 Linh hoạt
Bộ máy của tổ chức không thể cứng nhắc, cố định mà phải năng động, mềm dẻo
để thích nghi và ứng phó kịp thời với những thay đổi của môi trường 1.5.1.6 Thứ bậc.
Mỗi tổ chức đều có một hệ thống thần kinh của nó, đó là dây chuyền các nhà lãnh đạosắp xếp theo chuỗi mắt xích thứ bậc từ trên xuống dưới Việc quản lý diễn ra theo nguyêntắc cấp dưới nhận lệnh từ một cấp trên trực tiếp và nguyên tắc ván cầu
Nguyên tắc ván cầu nhằm hạn chế chuỗi mắt xích quyền lực, tăng cường giao tiếpthông tin giữa những người đồng cấp Song chúng ta không tuyệt đối hóa nguyên tắc thứbậc, vì như vậy sẽ làm tăng sự quan liêu và làm giảm hiệu quả quản lý Tuy nhiên,phương pháp ván cầu cũng không thể áp dụng đại trà được, vì sẽ làm giảm quyền lựcquản lý tập trung trong bộ máy tổ chức
1.5.2 Những hạn chế của quản trị tổ chức và hướng hoàn thiện
1.5.2.1 Những hạn chế của quản trị tổ chức
- Quản trị tổ chức hiện tại thường không phù hợp với sự thay đổi của môi trường
- Không xác định rõ quan hệ về quyền hành và trách nhiệm
- Không ủy quyền, hoặc ủy quyền cho cấp quản trị không hiệu quả
- Tách rời hệ thống thông tin với hệ thống quyền hành
- Quyền hành ít kèm với trách nhiệm và ngược lại
- Áp dụng định chế tham mưu không rõ ràng
- Trùng lặp chỉ huy
- Tổ chức bộ máy cồng kềnh
- Ít quan tâm đến công tác cải tiến tổ chức bộ máy
1.5.2.2 Hoàn thiện quản trị tổ chức
- Phương hướng quan trọng của hoàn thiện quản trị tổ chức là xác định mục tiêu tổ chứcmột cách chính xác và từ đó xây dựng bộ máy tổ chức thích hợp
- Thực hiện nghiêm ngặt chế độ một thủ trưởng
- Tổ chức rõ ràng mối quan hệ giữa quyền hành và trách nhiệm
- Cải tiến tổ chức là để quản trị có hiệu quả hơn
- Cơ cấu bộ máy của tổ chức phải được tất cả mọi người trong tổ chức thông hiểu
- Khi điều chỉnh không được bỏ sót chức năng quản trị nào, càng không để tìnhtrạng cùng một chức năng lại được giao cho nhiều bộ phận thực hiện
- Các mối quan hệ phụ thuộc của các bộ phận và nhân viên thừa hành nhất thiếtphải được xác định rõ ràng, mỗi nhân viên có một chỉ huy trực tiếp để nhận nhiệm vụ vàbáo cáo kết quả công việc
1.5.3 Các kiểu cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp
1.5.3.1 Cơ cấu tổ chức quản trị không ổn định:
Là một loại cơ cấu tổ chức quản trị không có mô hình cụ thể Nó chỉ dựa vào cáchtiếp cận theo hoàn cảnh, tiếp cận ngẫu nhiên, cho nên không có một cơ cấu tổ chức QTtối ưu cho mọi DN
- Ðể xây dựng một cơ cấu tổ chức quản trị doanh nghiệp phù hợp phụ thuộc vào:công nghệ, tính ổn định của môi trường và các nhân tố tác động khác
Trang 14- Cách tiếp cận này, các biến sau khác nhau đều ảnh hưởng tới hình thành cơ cấu
tổ chức quản trị doanh nghiệp:
+ Chiến lược của DN
+ Mục tiêu của DN
+ Tính ổn định của môi trường
+ Tình hình công nghệ
+ Môi trường văn hóa
+ Sự khác biệt giữa các bộ phận của DN
+ Qui mô DN
+ Phương pháp và kiểu QT
+ Ðặc điểm của lực lượng lao động
- Ðể xây dựng, hình thành cơ cấu tổ chức quản trị doanh nghiệp:
+ Phải đánh giá các biến này, sau đó mới lựa chọn tìm kiếm các mô hình phù hợp + Các biến này là động, hay thay đổi nên phải có những phân tích định kỳ về cácbiến và đánh giá xem cơ cấu tổ chức quản trị doanh nghiệp có phù hợp hay không
1.5.3.2 Cơ cấu trực tuyến:
Ðặc điểm của loại cơ cấu này là mối quan hệ giữa các nhân viên trong tổ chứcđược thực hiện một đường thẳng: Người thừa hành chỉ nhận và thừa hành mệnh lệnh củangười phụ trách cấp trên trực tiếp Người phụ trách chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quảcông việc của những người dưới quyền mình
Ưu điểm:
+ Kiểu cơ cấu này thích hợp với chế độ một thủ trưởng,
+ Tăng cường trách nhiệm cá nhân, tránh tình trạng người thừa hành phải thi hànhnhững chỉ thị, mệnh lệnh khác nhau, thậm chí mâu thuẫn với nhau của người phụ trách
Nhược điểm:
+ Mỗi thủ trưởng phải có kiến thức toàn diện, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.+ Nó không tận dụng được các chuyên gia có trình độ cao về từng chức năng quảntrị Trong thực tế, nó ít được sử dụng, nếu có thì chỉ ở DN có qui mô và phạm vi hẹp
1.5.3.3 Cơ cấu chức năng:
Ðặc điểm của kiểu cơ cấu này là cho phép cán bộ phụ trách của phòng chức năng
có quyền ra các mệnh lệnh và các vấn đề có liên quan đến chuyên môn của họ
Ưu điểm:
+ Nó thu hút được các chuyên gia vào công tác lãnh đạo,
+ Giải quyết các vấn đề chuyên môn một cách thành thạo hơn
+ Giảm bớt gánh nặng cho cán bộ chỉ huy chung của DN
Nhược điểm:
+ Vi phạm chế độ một thủ trưởng
+ Dễ sinh ra tình trạng thiếu trách nhiệm rõ ràng, thiếu kỷ luật chặt chẽ
1.5.3.4 Cơ cấu tổ chức trực tuyến - chức năng:
Là kiểu cơ cấu kết hợp hai kiểu cơ cấu trực tuyến - chức năng trên
Người thủ trưởng được sự giúp sức của các phòng chức năng, các chuyên gia, cáchội đồng tư vấn trong việc suy nghĩ, nghiên cứu, bàn bạc tìm giải pháp tối ưu cho nhữngvấn đề phức tạp, nhưng quyền quyết định vẫn thuộc về thủ trưởng
Những quyết định quản lý do các phòng chức năng nghiên cứu, đề xuất khi đượcthủ trưởng thông qua, biến thành mệnh lệnh được truyền đạt từ trên xuống dưới theotuyến đã qui định
Trang 15Các phòng chức năng có trách nhiệm tham mưu cho toàn bộ hệ thống trực tuyến,
đặc biệt cần nhấn mạnh: các phòng chức năng không có quyền ra mệnh lệnh cho các
phân xưởng, các bộ phận sản xuất
Kiểu cơ cấu này vừa phát huy năng lực chuyên môn của các bộ phận chức năng, vừa đảmbảo quyền chỉ huy của hệ thống trực tuyến
1.5.3.5 Cơ cấu quản trị phi hình thể:
- Ðặc điểm của kiểu cơ cấu này là trong các nhóm nhân viên có những người nổibật lên không phải do tổ chức chỉ định
- Họ được anh em suy tôn coi là thủ lĩnh và ý kiến của họ có ảnh hưởng rất lớnđến các nhóm nhân viên
Vì vậy, nhà kinh doanh cần phát hiện ra những người này và tác động vào họ
nhằm thu hút được những nhóm nhân viên làm việc có hiệu quả hơn
1.6 CÁC PHƯƠNG PHÁP QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP.
1.6.1 Phương pháp phân quyền.
Là phương pháp lãnh đạo tốt nhất để giám đốc duy trì và phát triển một tổ chức.Phân quyền thực chất là sự ủy quyền định đoạt của giám đốc cho cấp dưới Có 4 hìnhthức phân quyền
- Phân quyền dọc : Là quyền định đoạt cho cấp dưới theo phương pháp quản lýtrực tuyến
- Phân quyền ngang : Làquyền định đoạt được chia theo cấp chức năng phù hợp với các phòng ban khác nhau
n chọn lọc : Một số công việc thật quan trọng do giám đốc quyết định, còn một số
bộ phận công việc khác giao cho bộ phận khác đảm nhận
- Phân quyền toàn bộ : Một cấp quản trị có quyền quyết định toàn bộ công việctrong khung giới hạn nhất định
Chú ý :
- Phân quyền không có nghĩa là chia quyền
- Sau phân quyền giám đốc không được thông tin trở lại là điều cực kỳ sai lầm vàkhông được coi phân quyền là khoán trắng cho cấp dưới, phó mặc cho cấp dưới mọiquyền định đoạt mà không có thông tin phản hồi
- Phân quyền là phương pháp quản lý khoa học của giám đốc để giải phóng giámđốc khỏi những việc mà người dưới quyền có thể làm được
1.6.2 Phương pháp hành chính.
- Là phương pháp quản lý dựa vào việc sử dụng những chỉ thị, mệnh lệnh mang
tính bắt buộc, cưỡng bức, biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như về an toàn laođộng, bảo hộ lao động, nội quy…
- Phương pháp này không mâu thuẫn với quan điểm của Đảng và Nhà nước ta làxóa bỏ cơ chế quản lý hành chính, tập trung quan liêu bao cấp …
- Sử dụng phương pháp hành chính đòi hỏi nhà lãnh đạo phải nắm vững các yêucầu sau :
+ Quyết định hành chính chỉ có hiệu quả khi quyết định có căn cứ khoa học đượcluận chứng đầy đủ về mọi mặt Khi đưa ra một quyết định hành chính phải cân nhắc tínhtoán đến mọi loại lợi ích
+ Chỉ ra quyết định khi có đầy đủ thông tin
ng phương pháp hành chính phải gắn chặt quyền hạn và trách nhiệm của người raquyết định
Trang 16Tóm lại : Phương pháp hành chính là hoàn toàn cần thiết, không có phương pháp
hành chính thì không thể lãnh đạo hệ thống doanh nghiệp có hiệu quả Điều đó cũngtương tự như quản lý một đất nước mà không có luật pháp thì không làm sao quản lý nổi
1.6.3 Phương pháp kinh tế.
Là sử dụng hình thức tiền lương, tiền thưởng và những công cụ động viên vật chất
khác làm đòn bẩy kinh tế, kích thích người lao động thực hiện mục tiêu quản lý màkhông cần sử dụng mệnh lệnh hành chính từ cấp trên đưa xuống
- Việc áp dụng phương pháp này không chỉ chú ý đến thưởng mà còn chú ý đếnphạt, đồng thời cũng tính đến hiệu quả của phương pháp kinh tế mang lại
- Phải đảm bảo 3 lợi ích : Lợi ích của người lao động, doanh nghiệp và Nhà nước
1.6.4 Phương pháp tổ chức giáo dục.
- Là phương pháp sử dụng hình thức liên kết những cá nhân và tập thể theo
những tiêu chuẩn và mục tiêu đã đề ra trên cơ sở phân tích và động viên tính tự giác, khảnăng hợp tác của từng cá nhân
- Phương pháp giáo dục dựa tren cơ sỏ vận dụng các quy luật tâm lý Đặc trưngcủa phương pháp này là tính thuyết phục tức là làm cho con người phân biệt được phải –trái, đúng – sai, lợi – hại, đẹp – xấu, thiện – ác, từ đó nâng cao tính tự giác làm việc vàgắn bó với doanh nghiệp
- Phương pháp giáo dcj thường xuyên sử dụng kết hợp các phương pháp khác mộtcách uyển chuyển, linh hoạt, vừa nhẹ nhàng vừa sâu sát đến từng người lao động, đây làmột trong những bí quyết thành công của nhiều nhà lãnh đạo
đây thể hiện trong nhiều lĩnh vực : Tổ chức bộ máy quản lý, tổ chức lao động, tổchức liên kết giữa cá thể của quản lý, tổ chức thông tin trong quản lý
- Nó là hình thức động viên bằng vật chất và tinh thần Giáo dục gắn sự ham muốnlàm giàu chính đáng cho cá nhân, cho doanh nghiệp và cho xã hội
1.6.5 Phương pháp tâm lý xã hội
- Là phương pháp hướng những quyết định đến các mục tiêu phù hợp với trình độ
nhận thức, tâm lý, tình cảm của con người
- Tạo không gian cho họ làm việc, không gian tư duy sáng tạo
- Là phương pháp mà nó được áp dụng rộng rãi trong quản trị doanh nghiệp, đòihỏi giám đốc phải đi sâu tìm hiểu để nắm được tâm tư nguyện vọng sở trường của nhữngngười lao động Trên cơ sở đó sắp xếp, bố trí, sử dụng họ nhằm phát huy hết tài năng,sáng tạo của họ
Trang 17Chương 2 CÔNG TÁC CHUẨN BỊ VÀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT TRONG
DOANH NGHIỆP LÂM NGHIỆP2.1 TỔ CHỨC CÔNG TÁC CHUẨN BỊ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP 2.1.1 Nội dung công tác chuẩn bị sản xuất trong doanh nghiệp
2.1.1.1 Đặc điểm của công tác chuẩn bị sản xuất trong doanh nghiệp
Trong doanh nghiệp, công tác chuẩn bị sản xuất có những đặc điểm cơ bản sau:
- Công tác chuẩn bị sản xuất nhằm tạo ra những điều kiện cần thiết để tiến hành cáchoạt động sản xuất một cách thuận lợi
- Công tác chuẩn bị sản xuất phải được tiến hành trước khi triển khai các hoạt độngsản xuất
- Nội dung, quy mô, tính chất của công tác chuẩn bị kỹ thuật cho sản xuất phụ thuộcvào đặc điểm và yêu cầu của từng hoạt động sản xuất cụ thể
- Chất lượng của công tác chuẩn bị sản xuất có ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ, chấtlượng của các hoạt động sản xuất
2.1.1.2 Nội dung công tác chuẩn bị sản xuất trong doanh nghiệp
Giai đoạn I: Chuẩn bị về mặt sản phẩm
Trong giai đoạn này, công tác chuẩn bị sản xuất phải giải quyết các nội dung sau đây:
+ Thiết kế sản phẩm: Công tác thiết kế sản phẩm giải quyết những vấn đề sau:
Tạo các phác thảo kỹ thuật với yêu cầu tìm ra cách giải quyết hợp lý các vấn đề kỹthuật để đảm bảo các thông số kỹ thuật của sản phẩm
Xây dựng tài liệu thiết kế gốc làm căn cứ cho việc tổ chức sản xuất, kiểm tra chấtlượng sản phẩm
Chế thử sản phẩm mẫu để phát hiện và khắc phục những vấn đề thiếu sót về mặtthiết kế Việc chế thử sản phẩm mẫu thường được tiến hành tại khu thí nghiệm củadoanh nghiệp
Sản xuất thử một số lượng sản phẩm nhất định trong điều kiện sản xuất bìnhthường của phân xưởng Kết quả của sản xuất thử được sử dụng để thiết kế côngnghệ, tính toán các phương án kinh tế kỹ thuật của sản xuất và điều chỉnh thiết kếgốc nếu cần
Khi tiến hành thiết kế sản phẩm, các nhà quản lý sản xuất cần đánh giá sản phẩm
cả về mặt kỹ thuật và kinh tế để xây dựng và lựa chọn phương án sản phẩm tối ưu chodoanh nghiệp
Giai đoạn II: Chuẩn bị về công nghệ sản xuất
Sau khi có phương án sản phẩm, công việc chuẩn bị tiếp theo phải là làm chuẩn bị
về mặt công nghệ sản xuất
Chuẩn bị về mặt công nghệ gồm các hoạt động chuẩn bị các điều kiện về mặt kỹthuật, thiết bị, tổ chức, nhân sự,… Để triển khai thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm.Nội dung của công tác chuẩn bị về mặt công nghệ bao gồm các hoạt động sau:
+ Thiết kế quy trình công nghệ để sản xuất sản phẩm.
- Xác định các bước công việc và thứ tự thực hiện chúng
Trang 18- Quy định các phương pháp gia công cho từng bước công việc
- Lựa chọn và lắp đặt các thiết bị và dụng cụ sản xuất cần sử dụng
- Lựa chọn và bồi dưỡng tay nghề cho công nhân sản xuất
- Quy định các thông số kỹ thuật sản xuất cho từng bước công việc và từng côngđoạn sản xuất
+ Thiết kế và chế tạo các trang bị công nghệ và các dụng cụ gá lắp.
Giai đoạn III: Chuẩn bị về mặt tổ chức
Công tác chuẩn bị về mặt tổ chức nhằm tạo các điều kiện để phối hợp một cáchnhịp nhàng, cân đối các yếu tố của quá trình sản xuất, bao gồm:
- Tiến hành tổ chức và phân công lao động tại các nơi làm việc
- Xây dựng các tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật, đơn giá tiền lương … phục
vụ cho công tác quản lý sản xuất
- Tổ chức phương án cung ứng, bảo quản, cấp phát nguyên nhiên vật liệu
- Tổ chức hệ thống kho trung gian và vận chuyển nội bộ, công tác kiểm tra,nghiệm thu…
2.1.2 Nội dung công tác chuẩn bị sản xuất trong trong khâu xây dựng rừng
2.1.2.1 Thiết kế kỹ thuật lâm sinh
- Điều tra thực địa để xác định chính xác diện tích, trạng thái thực bì, độ dốc, điềukiện thổ nhưỡng và các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khác của khu vực sản xuất
- Xác định biện pháp lâm sinh thích hợp cần tiến hành Việc xác định biện pháplâm sinh hoàn toàn phụ thuộc vào mục tiêu kinh doanh và các điều kiện tự nhiên của khuvực sản xuất Khi xác định biện pháp lâm sinh áp dụng, cần nêu rõ những thông số chủyếu của biện pháp Ví dụ khi quyết định biện pháp áp dụng là trồng rừng mới cần nêu rõcác thông số: Loài cây trồng, mật độ trồng cây, phương pháp xử lý thực bì, phương pháplàm đất, phương pháp trồng cây, phương pháp chăm sóc, nuôi dưỡng rừng…
- Tính toán nhu cầu về các nguồn lực cần thiết cho việc áp dụng biện pháp lâmsinh như số lượng cây con, phân bón, số lượng lao động…
- Lập dự toán chi phí sản xuất cho từng đơn vị diện tích và cho toàn bộ khu vựcsản xuất Dự toán chi phí sản xuất khâu lâm sinh phải được lập theo từng biện pháp, chotừng đơn vị diện tích và sau đó tổng hợp cho toàn bộ khu vực sản xuất Dự toán được lậptheo những quy định thống nhất của Nhà nước và được dùng để chuẩn bị nguồn tài chínhcho sản xuất
- Lập kế hoạch triển khai các hoạt động của biện pháp, cần chú ý đặc biệt đến cáchoạt động mang tính thời vụ của biện pháp lâm sinh
Công tác thiết kế kỹ thuật các biện pháp lâm sinh trong doanh nghiệp lâm nghiệp có thể
tổ chức theo 2 hướng chính sau:
- Tổ chức riêng một bộ phận chuyên nghiệp làm công tác thiết kế kỹ thuật để phục
vụ cho nhu cầu sản xuất của doanh nghiệp
- Ký kết các hợp đồng thuê các tổ chức bên ngoài làm dịch vụ thiết kế kỹ thuật.
hướng tổ chức này tỏ ra kinh tế hơn đối với những doanh nghiệp có khối lượngcông tác khâu lâm sinh không lớn
2.1.2.2 Chuẩn bị hạt giống cây con cho sản xuất
Với những đặc điểm riêng của sản xuất lâm nghiệp, cây con và hạt giống cần phảiđược chuẩn bị khá lâu trước khi tiến hành trồng rừng
Cây con cho trồng rừng thường được sản xuất tại các vườn ươm Nhìn chung trongdoanh nghiệp lâm nghiệp có thể tổ chức sản xuất cây con trên những loại vườn ươm sau:
- Vườn ươm cố định
- Vườn ươm tạm thời
Trang 19Về mặt tổ chức các doanh nghiệp lâm nghiệp quy mô lớn thường tổ chức các độigieo ươm chuyên nghiệp để thực hiện quá trình sản xuất cây con, hạt giống để khôngnhững phục vụ cho nhu cầu của doanh nghiệp mà còn cung cấp cho nhu cầu trồng rừngcủa các tổ chức, cá nhân khác.
Bên cạnh việc tự tổ chức sản xuất cây con, các doanh nghiệp lâm nghiệp có thể kýhợp đồng cung cấp cây con, hạt giống với các đơn vị chuyên làm dịch vụ về lĩnh vực này,như các công ty giống cây trồng, các cơ quan nghiên cứu, chuyển giao kỹ thật lâmnghiệp…
2.1.3 Nội dung chuẩn bị sản xuất trong trong khâu khai thác lâm sản
2.1.3.1 Xây dựng bản thiết kế khu khai thác
Bản thiết kế khu khai thác là một tài liệu quan trọng để chỉ đạo tổ chức sản xuấttrong một số trường hợp, nó còn là tài liệu phải trình duyệt các cấp có thẩm quyền để xingiấy phép khai thác rừng
Khi xây dựng bản thiết kế khu khai thác cần phải tiến hành các nội dung sau:
- Xây dựng bản đồ địa hình khu vực khai thác
- Tính toán các chỉ tiêu và lập các bản thuyết minh trong thiết kế kỹ thuật khu khaithác như: diện tích, trữ lượng, sản lượng khu khai thác, phương pháp khai thác,vận xuất, vận chuyển…
- Tính toán thuyết minh các thông tin về các công trình kiến trúc cần xây dựng hoặcsửa chữa trong khu khai thác gồm: hệ thống đường xá, hệ thống bến bãi …
- Lựa chọn máy móc thiết bị, công cụ lao động cần dùng trong quá trình khai thác
- Tính toán các chỉ tiêu về kinh tế, tài chính trong quá trình khai thác
2.1.3.2 Chuẩn bị hiện trường khu khai thác
- Xác định ranh giới và quy định trình tự trong khu khai thác
- Bài cây theo đúng thiết kế đã được duyệt
- Phát luỗng dây leo, bụi rậm trong khu khai thác
- Xây dựng, sửa chữa đường vận xuất, vận chuyển hệ thống bến bãi lâm sản
Sau khi chuẩn bị xong hiện trường khu khai thác mới tiến hành bàn giao cho các
bộ phận sản xuất để tiến hành các hoạt động khai thác lâm sản
2.2 TỔ CHỨC CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
Công tác phục vụ sản xuất nhằm đảm bảo các điều kiện kỹ thuật tốt và các điềukiện thuận lợi khác để hoạt động sản xuất diễn ra một cách liên tục, nhịp nhàng đồng thờitiết kiệm các chi phí sản xuất
2.2.1 Sửa chữa máy móc thiết bị
Sửa chữa máy móc thiết bị được coi là nội dung quan trọng nhất của công tác phục
vụ sản xuất Máy móc thiết bị là bộ phận rất quan trọng trong số các tư liệu sản xuất củadoanh nghiệp, hiệu suất và chất lượng hoạt động của máy móc thiết bị có ảnh hưởng rấtlớn đến năng suất, chất lượng, hiệu quả của cả quá trình sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Vì vậy công tác tổ chức bảo dưỡng máy móc thiết bị có vai trò rất lớn đối với kếtquả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Có hai chế độ tổ chức công tác sửa chữa máy móc thiết bị trong doanh nghiệp làsửa chữa theo sự cố và sửa chữa bảo dưỡng dự phòng theo kế hoạch
2.2.1.1 Chế độ sữa chữa bảo dưỡng dự phòng theo kế hoạch
Đặc điểm của chế độ sửa chữa bảo dưỡng dự phòng theo kế hoạch
- Công tác bảo dưỡng sửa chữa được tiến hành theo một lịch trình đã định sẵn
- Công tác sửa chữa bảo dưỡng lấy dự phòng ngăn ngừa làm phương châm chínhtrong tổ chức thực hiện công việc
- Nội dung công tác bảo dưỡng sửa chữa thường được xác định trước khi tiến hành
Trang 20Nội dung của công tác sửa chữa bảo dưỡng dự phòng theo kế hoạch.
+ Kiểm tra chăm sóc kỹ thuật hàng ngày.
+ Bảo dưỡng máy móc thiết bị: bao gồm việc theo dõi tình hình sử dụng và tình
trạng kỹ thuật của máy móc thiết bị, điều chỉnh kịp thời những sai lệch nhỏ trong hoạtđộng của thiết bị, đảm bảo các chế độ về bôi trơn của thiết bị…Việc tiến hành công tácbảo dưỡng đúng theo quy định có ý nghĩa rất lớn trong việc đảm bảo tình trạng kỹ thuậttốt cho thiết bị, đảm bảo chất lượng sản phẩm và kéo dài tuổi thọ cho thiết bị
+ Sửa chữa máy móc thiết bị: gồm những hoạt động nhằm khắc phục các hao mòn,hỏng hóc, phục hồi các tính năng công tác của máy móc thiết bị, công tác sửa chữa máymóc thiết bị được chia làm 3 cấp là sửa chữa nhỏ, sửa chữa vừa và sửa chữa lớn
Các phương pháp tiến hành sửa chữa máy móc thiết bị
Công tác sửa chữa máy móc thiết bị có thể được thực hiện theo hai phương pháp
là sửa chữa ngay trên bệ máy và thay thế cụm chi tiết
Tổ chức công tác sửa chữa, bảo dưỡng trong doanh nghiệp
Để triển khai thực hiện các hoạt động sửa chữa máy móc thiết bị, các doanhnghiệp thường tổ chức một bộ phận chuyên nghiệp để thực hiện công tác bảo dưỡng sửachữa nhỏ và vừa cho hệ thống máy móc thiết bị của mình, còn các hoạt động sửa chữalớn thường tiến hành theo cách ký kết hợp đồng với các xưởng lớn có đủ điều kiện thựchiện
2.2.1.2 Chu kỳ sữa chữa của máy móc thiết bị
Chu kỳ sửa chữa của máy móc thiết bị là khoảng thời gian theo lịch giữa 2 lần sửachữa lớn kế tiếp nhau
Kết cấu chu kỳ sửa chữa của máy móc thiết bị
Kết cấu một chu kỳ sửa chữa của máy móc thiết bị có thể được mô tả theo biểuthức sau đây:
Tcksc = Tct + Tsc + Tnv
Trong đó:
Tcksc thời gian của chu kỳ sửa chữa
Tct thời gian công tác của máy móc thiết bị trong chu kỳ sửa chữa
Tsc thời gian thiết bị phải ngừng làm việc để đưa vào sửa chữa
Tnv thời gian thiết bị ngừng việc theo chế độ nghỉ lễ, chủ nhật của công nhân
+ Thời gian công tác (T ct )
Thời gian công tác trong một chu kỳ sửa chữa là khoảng thời gian thiết bị thực tếlàm việc kể từ lần sửa chữa lớn này đến lần sửa chữa lớn kế tiếp
Thời gian công tác trong chu kỳ sửa chữa phụ thuột vào tính năng kỹ thuật và chế
độ sử dụng của từng loại thiết bị, được xác định theo công thức sau:
Trong đó:
Tct thời gian công tác của thiết bị trong một chu kỳ sửa chữa, tính bằng ngày
To định gạch sửa chữa lớn của thiết bị, là định mức khối lượng công tác của thiết
bị giữa 2 lần sửa chữa lớn liên tiếp của thiết bị, được lấy theo quy định của nhà sản xuất
định mức năng suất trong một ca của thiết bị
Kca hệ số ca làm việc của thiết bị
+ Thời gian sửa chữa trong kỳ (T sc )
Trang 21Thời gian sửa chữa trong chu kỳ là khoảng thời gian thiết bị phải ngừng việc đểtiến hành các hoạt động sửa chữa bảo dưỡng các cấp
Thời gian ngừng việc để sửa chữa trong chu kỳ sửa chữa được tính theo biểu thứcsau:
Trong đó:
Tsc thời gian ngừng việc để sửa chữa trong một chu kỳ
tsci định mức thời gian ngừng việc cho một lần sửa chữa bảo dưỡng cấp i
Ni số lần sửa chữa bảo dưỡng cấp i
Số lần sửa chữa bảo dưỡng từng cấp Ni được tính theo biểu thức sau:
Trong đó:
To định ngạch sửa chữa lớn
Ti định ngạch sửa chữa bảo dưỡng cấp i
tổng số lần sửa chữa bảo dưỡng ở cấp cao hơn cấp i
+ Thời gian ngừng việc theo chế độ
Thời gian ngừng việc theo chế độ trong chu kỳ sửa chữa của thiết bị bao gồmnhững ngày nghỉ lễ, nghỉ cuối tuần … theo quy định trong chế độ sử dụng lao động
Trong thực tế thời gian ngừng việc theo chế độ được quy định cho một năm theolịch, thường không trùng với thời gian của một chu kỳ sửa chữa của máy móc thiết bị, do
đó người ta thường phải tính đổi thông qua hệ số thời gian theo lịch
Hệ số thời gian theo lịch là tỷ lệ giữa số ngày theo lịch với số ngày làm việc theochế độ quy định
Hệ số được tính như sau:
Trong đó: Tlcn là tổng số ngày nghỉ lễ, nghỉ cuối tuần theo quy định
Sau khi tính được hệ số Kli, công thức kết cấu của chu kỳ sửa chữa máy móc thiết
bị sẽ là: T cksc = (Tct + Tsc ) Kli
2.2.1.3 Hệ số chu kỳ sữa chữa
Hệ số chu kỳ sửa chữa của máy móc thiết bị là tỷ số giữa thời gian theo lịch của một nămvới thời gian của một chu kỳ sửa chữa
2.2.1.4 Tính toán một số chỉ tiêu chi phí cho sửa chữa máy móc thiết bị
Nhóm chỉ tiêu về hao phí lao động cho sửa chữa bảo dưỡng
Tổng hao phí lao động cho công tác sửa chữa bảo dưỡng cả chu kỳ
Trang 22
Trong đó:
Lck tổng hao phí lao động cho sửa chữa bảo dưỡng cả chu kỳ
Ni số lần sửa chữa bảo dưỡng cấp i
Li định mức hao phí lao động cho một lần chu kỳ sửa chữa, bảo dưỡng cấp i
Hao phí lao động cho sửa chữa thường xuyên cả chu kỳ
Trong đó:
Ltc lượng hao phí lao động cho sửa chữa thường xuyên cả chu kỳ
Lo định mức hao phí lao động cho một lần sửa chữa lớn
Lượng lao động hao phí cho sửa chữa thường xuyên tính cho một ca máy
Trong đó:
Ltca lượng hao phí lao động cho sửa chữa thường xuyên tính cho một ca máy làm việc(giờ công/ ca máy)
Tct thời gian công tác trong chu kỳ sửa chữa
Kca hệ số ca làm việc của thiết bị
Lượng lao động hao phí cho sửa chữa thường xuyên tính cho 1000T/km hàng luân chuyển
hệ số lợi dụng trọng tải của thiết bị
Nhóm chỉ tiêu về chi phí bằng tiền cho sửa chữa bảo dưỡng
Tổng chi phí bằng tiền cho công tác sửa chữa cả chu kỳ
Trong đó:
CPtc tổng chi phí bằng tiền cho sửa chữa bảo dưỡng cả chu kỳ
Ni số lần sửa chữa bảo dưỡng cấp i
CPi định mức chi phí bằng tiền cho một lần chu kỳ sửa chữa bảo dưỡng cấp i
Chi phí bằng tiền cho sửa chữa thường xuyên cả chu kỳ
Trong đó: CPo là định mức chi phí bằng tiền cho một lần sửa chữa lớn
Trang 23Chi phí bằng tiền cho sửa chữa thường xuyên tính cho một ca máy
Trong đó:
CPtca chi phí bằng tiền cho sửa chữa thường xuyên tính cho 1000T/km hàng luânchuyển (đồng/1000T/km)
Tct thời gian công tác trong chu kỳ sửa chữa
Kca hệ số ca làm việc của thiết bị
Chi phí bằng tiền cho sửa chữa thường xuyên tính cho 1000 T/km hàng luân chuyển
Chỉ tiêu này thường tính cho các loại phương tiện vận tải theo công thức sau đây:
hệ số lợi dụng trọng tải của thiết bị
Thông thường người ta chỉ cần tính toán các chỉ tiêu chi phí cho cả chu kỳ sửachữa Khi muốn tính các chỉ tiêu này cho năm kế hoạch, người ta chỉ việc nhân chỉ tiêutương ứng với hệ số chu kỳ sửa chữa (Hcksc)
2.2.2 Tổ chức vận chuyển trong doanh nghiệp
2.2.2.1 Nội dung hoạt động vận chuyển trong doanh nghiệp
Vận chuyển trong doanh nghiệp là hoạt động di chuyển về mặt không gian đối vớicác loại vật tư, hàng hóa nhằm phục vụ cho các yêu cầu sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp
Hoạt động vận chuyển trong doanh nghiệp được chia làm 2 loại là vận chuyển nội
bộ doanh nghiệp và vận chuyển ngoài doanh nghiệp
Hoạt động vận chuyển không trực tiếp tạo ra giá trị của sản phẩm mà chỉ tạo điềukiện để tổ chức quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, vì vậy một mặt nó có tầm quantrọng đặc biệt đối với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, mặt khác cần hạnchế đến mức tối thiểu khối lượng vận chuyển trong và ngoài doanh nghiệp
2.2.2.2 Các phương pháp tổ chức hoạt động vận chuyển trong doanh nghiệp.
Tổ chức vận chuyển nội bộ doanh nghiệp
Bao gồm việc vận chuyển các loại vật tư hàng hóa giữa các nơi làm việc và cáckho bãi của doanh nghiệp
Các phương tiện vận chuyển nội bộ thường mang tính đặc thù của công nghệ sảnxuất và mang tính chuyên dùng cao
Việc tổ chức vận chuyển nội bộ doanh nghiệp phụ thuộc vào đặc điểm của sảnxuất, đặc điểm của hệ thống kho tàng, trình độ đồng bộ của hệ thống thiết bị và khả năng
về tài chính của doanh nghiệp
Thông thường đối với các doanh nghiệp có quy mô sản xuất lớn, sản xuất liên tục,
ổn định, người ta thường lắp đặt hệ thống vận chuyển nội bộ kiểu băng truyền để đảmbảo nhịp điệu sản xuất thích hợp, đồng thời tiết kiệm chi phí sản xuất
Trang 24Tùy theo đặc điểm của đối tượng vận chuyển nội bộ mà người ta có thể sử dựngnhững phương tiện vận chuyển nội bộ chuyên dùng như: xe nâng, cần cẩu, hệ thốngđường goong, ống dẫn, tời …
Tổ chức vận chuyển bên ngoài doanh nghiệp
Tổ chức bộ phận vận chuyển riêng của doanh nghiệp
Thuê ngoài vận chuyển
2.3 TỔ CHỨC SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP LÂM NGHIỆP
2.3.1 Tổ chức sản xuất trong xây dựng rừng
2.3.1.1 Đặc điểm sản xuất trong khâu xây dựng rừng
Giai đoạn xây dựng rừng được bắt đầu từ khi chuẩn bị đất và cây con đến khi rừng
đủ tiêu chuẩn thành thục công nghệ sẵn sàng đưa vào khai thác các loại lâm sản phục vụcho nhu cầu xã hội
Giai đoạn này có đặc điểm chủ yếu sau đây:
- Khâu xây dựng rừng có đối tượng lao động là cây rừng, vì thế chu kỳ sản xuấttrong khâu xây dựng rừng rất dài, có thể tới hàng chục năm Đây là một đặc điểm rất đặctrưng và có ảnh hưởng sâu sắc đến công tác tổ chức sản xuất trong khâu xây dựng rừng
- Trong khâu xây dựng rừng quá trình sản xuất diễn ra trên cơ sở xen kẽ giữa quátrình tự nhiên với quá trình lao động, trong đó quá trình tự nhiên giữ vai trò quyết định
- Hoạt động sản xuất trong khâu xây dựng rừng mang tính thời vụ sâu sắc, do vậy
có những khó khăn thách thức cho công tác tổ chức lao động tổ chức sản xuất
- Địa bàn sản xuất trong khâu xây dựng rừng thường ở ngoài trời, nơi có địa hìnhphức tạp, chịu ảnh hưởng của thời tiết, gây khó khăn trở ngại cho hoạt động của conngười và máy móc thiết bị trong quá trình sản xuất
- Địa bàn sản xuất trong khâu xây dựng rừng thường xen kẽ với khu dân cư nêncông tác quản lý bảo vệ rừng rất khó khăn phức tạp
Những đặc điểm này có ảnh hưởng rất lớn đến nội dung và phương pháp tổ chứcsản xuất trong khâu xây dựng rừng vì thế cần được đặc biệt lưu ý trong quá trình tổ chứcsản xuất của các doanh nghiệp lâm nghiệp
2.3.1.2 Nội dung công tác trong khâu xây dựng rừng
Theo tính chất công nghệ sản xuất, giai đoạn xây dựng rừng gồm việc điều tra quy hoạchrừng, xây dựng các phương án kinh doanh, tái sinh rừng, quản lý bảo vệ rừng và bàn giaorừng cho khai thác
Điều tra quy hoạch rừng và xây dựng phương án kinh doanh rừng.
Rừng và đất rừng là tư liệu sản xuất chủ yếu của doanh nghiệp lâm nghiệp, ngườiquản lý phải nắm vững tư liệu sản xuất chính của mình để tổ chức tốt các hoạt động kinhdoanh
Hoạt động điều tra rừng nhằm thống kê tình hình và diễn biến tài nguyên rừng trên
cơ sở đó đề ra phương án kinh doanh có hiệu quả nhất cho doanh nghiệp
Hoạt động điều tra quy hoạch rừng gồm hai nội dung sau đây:
- Điều tra cơ bản nhằm phục vụ cho việc xác định phương hướng kinh doanh lâu dàicho doanh nghiệp
- Điều tra kinh doanh nhằm xác định các chỉ tiêu về vốn rừng, xác định ranh giớicác tiểu khu, khoảnh, mạng lưới đường sá, đặc biệt phải đánh giá lại hiệu quả màcác biện pháp kinh doanh đã dự kiến trong bước điều tra cơ bản nhằm xây dựngcác biện pháp kinh doanh rừng một cách khoa học
Phương án kinh doanh rừng là tập hợp các biện pháp kinh tế - kỹ thuật – kinhdoanh tổng hợp trên toàn bộ diện tích rừng của doanh nghiệp
Trang 25Xây dựng phương án kinh doanh rừng là xây dựng một hệ thống phương án điềuchế cho toàn bộ diện tích rừng và sử dụng đất rừng của doanh nghiệp lâm nghiệp.
Nội dung công việc xây dựng phương án kinh doanh rừng bao gồm: Bố trí mặtbằng sản xuất, xác định các giải pháp lâm sinh, xác định tiến độ hợp lý để thực hiện cácgiải pháp lâm sinh, tính toán nhu cầu các yếu tố sản xuất cần thiết để thực hiện phươngán
Phương án kinh doanh rừng là cơ sở để xây dựng kế hoạch hàng năm và kiểm trakết quả thực hiện kế hoạch của doanh nghiệp
Công tác tái sinh rừng.
- Tái sinh tự nhiên
- Xúc tiến tái sinh tự nhiên
- Tái sinh nhân tạo
Hoạt động trồng rừng mới bao gồm các nội dung công việc sau đây:
- Chuẩn bị giống và cây con
- Trồng cây, bao gồm các công việc thiết kế trồng rừng, phát dọn thực bì, làm đất,trồng cây, trồng dặm và nghiệm thu rừng trồng có hai phương án trồng rừng chủyếu là trồng bằng cây con (có bầu hoặc rễ trần) và trồng rừng bằng gieo hạt thẳng
- Chăm sóc rừng trồng tiến hành từ ngay sau khi trồng cho đến khi rừng khép tánbao gồm các công việc phát quang thực bì , làm cỏ, xới đất, bón phân, tỉa cành, tỉachồi,
- Nuôi dưỡng rừng trồng nhằm nâng cao chất lượng và bảo đảm năng suất của rừngtrồng Thời gian nuôi dưỡng rừng trồng kéo dài từ khi rừng khép tán cho đến trướckhi khai thác
Công tác quản lý bảo vệ rừng.
Quản lý bảo vệ rừng là công việc làm thường xuyên kéo dài trong suốt quá trìnhxây dựng rừng Nội dung công tác quản lý bảo vệ rừng gồm 3 loại biện pháp: phòng trừsâu bệnh hại, phòng chống cháy rừng và phòng chống thú rừng và con người phá hoạirừng
Công tác chuẩn bị đưa rừng vào khai thác.
Khi rừng đạt tiêu chuẩn thành thục công nghệ, cần tiến hành làm các thủ tục đểchuẩn bị đưa rừng vào khai thác
Theo quy định hiện nay công tác này gồm các hoạt động sau đây
- Thiết kế khai thác
- Giao rừng cho bộ phận khai thác
- Kiểm tra việc thực hiện quy trình khai thác
Các bộ phận khai thác rừng phải thực hiện các biên pháp đúng như thiết kế và phảichịu sự giám sát của tiểu khu trưởng, đại diện doanh nghiệp và đại diện các hộ làm rừng
2.3.1.3 Tổ chức sản xuất trong khâu xây dựng rừng
Tổ chức hoạt động điều tra thiết kế.
Để tiến hành các hoạt động điều tra, quy hoạch, thiết kế kỹ thuật lâm sinh, cácdoanh nghiệp lâm nghiệp có thể lựa chọn một trong số các phương thức sau đây
- Tổ chức một bộ phận riêng của doanh nghiệp (tổ, đội) để chuyên thực hiện côngtác điều tra, quy hoạch, thiết kế kỹ thuật phục vụ cho nhu cầu của doanh nghiệp,đồng thời có thể làm dịch vụ ra bên ngoài
- Ký kết hợp đồng dịch vụ với các doanh nghiệp hoặc tổ chức chuyên nghiệp vềđiều tra, quy hoạch rừng, thiết kế kỹ thuật lâm sinh …
Tổ chức quản lý rừng và đất rừng trong doanh nghiệp lâm nghiệp.
Trang 26 Tổ chức các hoạt động mang tính mùa vụ.
Các hoạt động sản xuất trong khâu xây dựng rừng thường diễn ra ở ngoài trời vàgắn liền với các thực thể sinh học nên thường mang tính mùa vụ sâu sắc
Tính mùa vụ của các hoạt động trong khâu xây dựng rừng có thể chia làm 2 cấp:
- Các hoạt động mang tính mùa vụ nghiêm ngặt: Bao gồm các hoạt động bắt buộcphải tiến hành trong một khoảng thời gian nhất định, nếu tiến hành không đúng tờihạn sẽ thất bại
- Các hoạt động mang tính mùa vụ không nghiêm ngặt: Bao gồm những hoạt độngnếu tiến hành không đúng thời hạn sẽ chịu ảnh hưởng không tốt đến chất lượngsản phẩm hoặc hiệu quả công việc không cao
Công tác tổ chức sản xuất trong khâu xây dựng rừng cần chú ý đến các điểm sau:
- Cần nghiên cứu nắm vững những quy luậtvà đặc điểm diễn biến của thời tiết, khíhậu trong khu vực để có phương án lợi dụng tối đa các điều kiện thuận lợi của thờitiết, đồng thời hạn chế đến mức thấp nhất các tác động tiêu cực của chúng
- Cần ưu tiên đặc biệt cho việc bố trí thời gian để tiến hành các hoạt động mang tínhmùa vụ nghiêm ngặt, các hoạt động còn lại sẽ bố trí linh hoạt để vừa giảm bớt tínhcăng thẳng của sản xuất, vừa sử dụng hợp lý năng lực sản xuất của các bộ phậntrong nội bộ doanh nghiệp
Tổ chức khoán kinh doanh rừng lâu dài cho các hộ thành viên.
Hiện nay các doanh nghiệp lâm nghiệp có thể ký kết các hợp đồng khoán với các
hộ gia đình thành viên để họ trực tiếp tổ chức các hoạt động kinh doanh lâu dài theo quyhoạch kế hoạch của doanh nghiệp
Các đối tượng sau đây được gọi là hộ thành viên của doanh nghiệp lâm nghiệp:
- Các hộ gia đình đang là CBCNV của doanh nghiệp lâm nghiệp
- Các hộ gia đình trước đây làm việc tại doanh nghiệp lâm nghiệp nay đã nghỉ hưu,mất sức …
- Các hộ gia đinh dân cư địa phương cư trú hợp pháp trên địa bàn
- Các cá nhân khác có đủ điều kiện theo quy định
Để tổ chức khoán kinh doanh rừng lâu dài cho các hộ thành viên, trước hết doanhnghiệp lâm nghiệp và các hộ thành viên phải cùng thảo luận để xây dựng và lựa chọnphương án kinh doanh rừng thích hợp, sau đó cùng ký kết một bản hợp đồng khoán kinhdoanh rừng
Bản hợp đồng khoán kinh doanh rừng lâu dài cần ghi rõ các nội dung chủ yếu sau đây:
- Diện tích, ranh giới của lô đất rừng nhận khoán, thời hạn giao khoán (thường kéodài bằng một chu kỳ kinh doanh rừng)
- Quyền hạn và trách nhiệm của từng bên trong quá trình thực hiện hợp đồng
- Quy định số lượng, chất lượng và thời hạn của các loại dịch vụ, vật tư, tiền vốn màdoanh nghiệp phải cung cấp cho hộ thành viên
- Quy định mức khoán sản lượng mà hộ gia đình thành viên phải nộp cho doanhnghiệp khi kết thức chu kỳ kinh doanh
Khi triển khai các hợp đồng khoán kinh doanh rừng lâu dài, các hộ thành viên cótrách nhiệm trực tiếp thực hiện các hoạt động sản xuất, trực tiếp quẩn lý bảo vệ rừng chođến khi rừng được đưa vào khai thác Doanh nghiệp lâm nghiệp có trách nhiệm thiết kế
và hướng dẫn kỹ thuật sản xuất, cung cấp các loại vật tư cần thiết, cung cấp vốn đầu tư…theo đúng phương án đã thống nhất ban đầu Cuối chu kỳ kinh doanh, các hộ thành viênphải nộp cho doanh nghiệp một lượng sản phẩm theo mức khoán để đảm bảo cho doanhnghiệp thu hồi vốn đầu tư của mình Phần sản lượng vượt mức khoán thường để cho các
Trang 27hộ thành viên được hưởng để khuyến khích các hộ nâng cao chất lượng trong quá trìnhxây dựng rừng.
Tổ chức liên doanh trong xây dựng rừng.
Các doanh nghiệp lâm nghiệp có thể thực hiện các hoạt động xây dựng rừng thôngqua việc thực hiện các hoạt động liên doanh với các thành phần kinh tế khác, trong đó cócác hộ gia đình trong địa bàn Nguyên tắc cơ bản để tổ chức các hoạt động liên doanhtrong xây dựng rừng là các bên cùng tham gia góp vốn và các yếu tố sản xuất khác đểcùng kinh doanh rừng, cùng chia kết quả sản xuất kinh doanh và cùng chịu rủi ro kinhdoanh theo tỷ lệ góp vốn vào liên doanh
Các đối tác có thể thực hiện liên doanh xây dựng rừng với doanh nghiệp lâmnghiệp rất đa dạng, như các hộ gia đình, cá nhân, các tổ chức kinh tế, xã hội … đều cóthể tham gia vào phương án liên doanh
Một vấn đề quan trọng cần chú ý để giải quyết thỏa đáng trong các phương án liêndoanh xây dựng rừng là xác định phần vốn góp vào liên doanh của từng bên, trong đó cóviệc xác định giá trị quyền sử dụng đất lâm nghiệp và coi đây là một khoản vốn góp vàoliên doanh của đối tượng có quyền sử dụng đất
Thực hiện các phương án liên doanh trong kinh doanh rừng, vai trò tham gia quản
lý sản xuất kinh doanh rừng và quyền lợi của các đối tác thường rõ ràng và bình đẳng, vìthế đây là một trong những hướng tổ chức sản xuất cần quan tâm phát triển ở các doanhnghiệp lâm nghiệp
Tổ chức các hoạt động dịch vụ cho hộ thành viên.
Khi triển khai khoán kinh doanh rừng lâu dài và liên doanh xây dựng rừng, doanhnghiệp lâm nghiệp cần phải tập trung phát triển các hoạt động dịch vụ để cung cấp chocác hoạt động xây dựng rừng trong địa bàn Các hoạt động dịch vụ cần phát triển baogồm:
- Thiết kế và hướng dẫn kỹ thuật kinh doanh rừng
- Cung cấp vật tư, cây giống, triển khai các biện pháp bảo vệ thực vật
- Cung ứng vốn cho các hoạt động xây dựng rừng
- Bao tiêu sản phẩm cho các hộ thành viên trong khu vực
2.3.2 Tổ chức sản xuất khai thác lâm sản
2.3.2.1 Nội dung công việc trong khâu khai thác lâm sản
Quá trình khai thác gỗ và các lâm sản bao gồm các giai đoạn chặt hạ, vận xuất,vận chuyển và bảo quản sơ chế Đối tượng lao động trong khâu khai thác lâm sản là cácloại lâm sản cây đứng tại rừng, bao gồm gỗ và các loại lâm sản ngoài gỗ
Giai đoạn chặt hạ.
Chặt hạ là giai đoạn đầu tiên của quá trình khai thác gỗ vầ các lâm sản khác, làhoạt động thu hái các sản phẩm của khâu xây dựng rừng, biến chúng thành các sản phẩmnguyên liệu hàng hóa sẵn sàng cung cấp cho thị trường
Giai đoạn chặt hạ bao gồm các bước công việc chặt cây, cắt cành, cắt khúc theo nhữngtiêu chuẩn nhất định
Các phương tiện sử dụng trong khâu chặt hạ có thể bao gồm rất nhiều loại, từ cơgiới hiện đại đến thủ công thô sơ như máy chặt hạ liên hợp, cưa xăng, cưa điện, cưa tay,dao, rìu … và một số dụng cụ khác
Giai đoạn vận xuất.
Vận xuất là giai đoạn sản xuất tương đối đặc biệt trong khai thác gỗ và lâm sản vớinội dung là vận chuyển để thu gom gỗ và các lâm sản khác đã chặt hạ từ các vị trí rải ráctrong rừng tới những vị trí thuận lợi cho việc bốc xếp lên các phương tiện vận chuyển.Địa điểm tập trung gỗ và các lâm sản khác của khâu vận xuất được gọi là bãi I
Trang 28Các phương tiện sử dụng trong khâu vận xuất thường là các loại máy kéo, trâu,voi, tời, cáp, đôi khi dùng cả sức người để vác kéo.
Giai đoạn vận chuyển.
Vận chuyển là giai đoạn sản xuất quan trọng trong quá trình khai thác lâm sản vớinội dung bốc xếp lâm sản lên các phương tiện vận chuyển, chuyên chở lâm sản từ bãi Iđến đến nơi tập kết của doanh nghiệp (bãi II) cuối cùng là dở lâm sản xuống khỏi phươngtiện vận chuyển và phân loại, xếp đống tại bãi II
Phương tiện sử dụng trong vận chuyển lâm sản thường là ô tô vận tải, trong đó cómột số loại xe tải chuyên dùng cho vận chuyển gỗ
Giai đoạn bảo quản sơ chế lâm sản.
Bảo quản, sơ chế là giai đoạn sản xuất cuối cùng của khâu khai thác lâm sản, baogồm các bước công việc cắt khúc, phân loại gỗ và lâm sản theo các tiêu chuẩn công nghệ,
xử lý chống mối, mọt, chống mục cho lâm sản bằng những phương pháp thích hợp nhưphơi, sấy, tiến hành một số biện pháp sơ chế khác cho những loại lâm sản nhất định.Công việc bảo quản sơ chế lâm sản thường được tiến hành tại bãi II của doanh nghiệp
2.3.2.2 Nội dung tổ chức sản xuất trong khâu khai thác lâm sản
Tổ chức sản xuất trong khâu khai thác lâm sản bao gồm các nội dung sau đây
- Lựa chọn và áp dụng công nghệ khai thác vận chuyển
- Tổ chức các hoạt động bảo quản, sơ chế lâm sản
- Tổ chức quản lý các kho bãi
2.3.2.3 Lựa chọn công nghệ khai thác gỗ
Công nghệ sản xuất là tổng hợp các biện pháp tổ chức kỹ thuật để thực hiện mộtquá trình sản xuất, thể hiện ở việc lựa chọn công cụ sản xuất, lựa chọn số lượng bướccông việc, trình tự và địa điểm thực hiện các bước công việc của quá trình sản xuất
Quá trình công nghệ khai thác gỗ.
Cùng với sự phát triển không ngừng của kỹ thuật sản xuất, công nghệ sản xuấttrong khai thác gỗ cũng không ngừng phát triển và hoàn thiện Bên cạnh đó điều kiện sảnxuất trong khai thác lâm sản hết sức đa dạng, phức tạp nên các công nghệ khai thác gỗ ápdụng trong thực tiễn cũng rất phong phú
Các tiêu chuẩn để lựa chọn áp dụng công nghệ khai thác gỗ hợp lý.
Khi thiết kế khai thác, căn cứ vào điều kiện sản xuất, đặc điểm máy móc thiết bị, người tatiến hành lựa chọn công nghệ khai thác hợp lý để triển khai áp dụng vào thực tiễn sảnxuất
Việc lựa chọn công nghệ khai thác gỗ thường dựa trên các tiêu chuẩn sau:
- Đảm bảo cho số lượng các bước công việc là ít nhất, trong đó đặc biệt quan tâmđến việc giảm bớt các bước công việc phụ để rút ngắn chu kỳ sản xuất
- Đảm bảo việc đưa các bước công việc trong rừng ra ngoài để dễ dàng áp dụng cơgiới sản xuất, hạn chế số lượng các bước công việc thực hiện trong rừng
- Đảm bảo cho tài nguyên rừng được lợi dụng một cách tổng hợp, hạn chế tối thiểucác tác động xấu đến sinh thái rừng
- Đảm bảo cho chi phí sản xuất trong khai thác là nhỏ nhất
- Giảm bớt khối lượng công tác phục vụ sản xuất
TT Tên công nghệ khai thác gỗ Tại rừng Tại bãi I Nơi thực hiện các bước công việc Tại bãi II
Trang 294 Vận xuất cây cả tán, v/c thành phẩm - CC,CK
Thành phẩm
Gỗ cây
Cây cả tán
CC,CKCC-
CKCC,CK
Ghi chú: CC bước công việc chặt cành, CK bước công việc cắt khúc
2.3.2.4 Tổ chức các hoạt động bảo quản, sơ chế lâm sản
Bảo quản và sơ chế lâm sản sau khai thác là một yêu cầu rất quan trọng để đảmbảo duy trì, giữ vững và nâng cao chất lượng các loại lâm sản trước khi đem tiêu thụ, qua
đó góp phần nâng cao giá trị lâm sản hàng hóa của doanh nghiệp
Các hoạt động bảo quản lâm sản thường chỉ tiến hành với một số loại lâm sản nhấtđịnh như gỗ tròn, tre nứa, song mây…, tùy theo yêu cầu sử dụng của loại lâm sản đó.Thông thường các biện pháp bảo quản trong khâu khai thác lâm sản bao gồm:
- Kê đà, xếp đống phòng ngừa lâm sản bị mục, ải
- Xử lý các loại chất chống mối, mọt, chống mục
- Hong phơi làm khô một số loại lâm sản
- Xử lý các biện pháp chống mốc đối một số loại lâm sản…
Các hoạt động sơ chế lâm sản trong khâu khai thác thường bao gồm việc phânloại, chọn lọc, làm sạch, phơi sấy, đóng gói… đối với một số loại lâm sản nhất định đểđáp ứng các yêu cầu về vận chuyển, cất trữ, sử dụng của khách hàng Thông thường cáchoạt động bảo quản sơ chế thường được tiến hành tại các kho bãi của doanh nghiệp
2.3.2.5 Tổ chức quản lý hệ thống kho bãi trong khai thác lâm sản
Do đặc điểm sản xuất riêng của khâu khai thác lâm sản, trong doanh nghiệp lâmnghiệp thường phải tổ chức một hệ thống kho bãi để phục vụ cho quá trình khai thác, vậnchuyển các loại lâm sản Số lượng các kho bãi phụ thuộc vào điều kiện địa hình, côngnghệ khai thác và yêu cầu công tác quản lý của doanh nghiệp
Trong khai thác lâm sản, hệ thống kho bãi được chia thành các loại sau đây:
Căn cứ vào tính chất công việc và nhiệm vụ chứa gỗ tại các kho bãi người tachia các kho gỗ thành 2 loại: bãi I và bãi II
Căn cứ vào phương thức vận chuyển, người ta chia các kho bãi lâm sản thànhcác loại sau đây: kho lâm sản đường bộ, kho lâm sản đường thủy, kho hỗn hợp
2.3.3 Tổ chức sản xuất chế biến lâm sản
2.3.3.1 Nội dung hoạt động khâu chế biến lâm sản
Chế biến lâm sản trong doanh nghiệp lâm nghiệp là khâu sản xuất trực tiếp giacông chế biến gỗ và các lâm sản thành các loại sản phẩm hữu ích cung cấp cho thịtrường Tổ chức các hoạt động chế biến lâm sản trong doanh nghiệp lâm nghiệp có ýnghĩa rất lớn trong việc nâng cao tỷ lệ lợi dụng tài nguyên rừng, tận dụng các thế mạnhcủa tài nguyên rừng để tạo việc làm và thu nhập, nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp vàgóp phần đáp ứng nhu cầu về hàng lâm sản cho nền kinh tế
Trong các doanh nghiệp lâm nghiệp tổng hợp, khâu chế biến lâm sản thường baogồm các hoạt động sau đây:
+ Cưa xẻ gỗ
Cưa xẻ gỗ là hoạt động chế biến tương đối phổ biến trong các doanh nghiệp lâmnghệp Nguyên liệu đầu vào của cưa xẻ gỗ là gỗ tròn các loại, sản phẩm đầu ra là gỗ xẻtheo các kích cỡ khác nhau Thiết bị sử dụng trong cưa xẻ thường gồm cưa vòng, cưa sọc,cưa đĩa và một số thiết bị khác
Trang 30+ Sản suất các loại ván nhân tạo
Sản xuất ván nhân tạo là một xu thế phát triển phổ biến hiện nay trong doanhnghiệp lâm nghiệp ở nước ta
Các loại ván nhân tạo đang được sản xuất hiện nay bao gồm:
+ Sản xuất các loại giấy và bột giấy
Sản xuất giấy và bột giấy ở quy mô nhỏ cũng đang được phát triển trong cácdoanh nghiệp lâm nghiệp Nguyên liệu để sản xuất giấy và bột giấy thường là gỗ và trenứa, là những loại nguyên liệu sẵn có trên địa bàn của các doanh nghiệp lâm nghiệp
+ Sản xuất các sản phẩm chế biến khác
Ngoài các hoạt động trên đây, trong doanh nghiệp lâm nghiệp còn có thể tổ chứcsản xuất các sản phẩm khác từ gỗ và các lâm sản ngoài gỗ khác như chế biến nhựa thông,tinh dầu, sản xuất các loại chiếu tre, trúc, thảm hạt, sản xuất đũa, tăm, các sản phẩm thủcông mỹ nghệ và rất nhiều các sản phẩm khác
2.3.3.2 Tổ chức khâu chế biến lâm sản trong doanh nghiệp lâm nghiệp
Trong doanh nghiệp lâm nghiệp thường tổ chức các phân xưởng chế biến lâm sản,trong mỗi phân xưởng thường tổ chức các tổ sản xuất Với đặc điểm sản xuất chế biếnlâm sản mang đặc trưng của ngành công nghiệp chế biến nên các phương pháp tổ chứcsản xuất hoàn toàn có thể áp dụng giống như các doanh nghiệp công nghiệp khác
2.3.4 Tổ chức sản xuất phụ trong doanh nghiệp lâm nghiệp
Sản xuất phụ trong doanh nghiệp lâm nghiệp bao gồm những hoạt động sản xuấtnằm ngoài nhiệm vụ cơ bản của doanh nghiệp với mục tiêu sử dụng tổng hợp, nâng cao
tỷ lệ lợi dụng tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp, tiết kiệm chi phí sản xuất, tạo thêm việclàm, thu nhập cho người lao động và tạo nguồn tích lũy vốn cho doanh nghiệp
2.3.4.1 Các loại sản phẩm phụ chủ yếu trong doanh nghiệp lâm nghiệp
- Sản xuất nông lâm kết hợp
- Chế biến tận dụng gỗ và các lâm sản ngoài gỗ
- Tổ chức khai thác nhựa cây rừng như thông, trám…
- Gây trồng và chế biến các loại dược liệu
- Tổ chức kinh doanh các đặc sản rừng như cánh kiến, nấm, mật ong…
- Các loại hình sản xuất phụ khác
2.3.4.2 Yêu cầu trong tổ chức sản xuất phụ của doanh nghiệp lâm nghiệp
- Cần tìm hiểu nghiên cứu thận trọng để xác định rõ nhu cầu thị trường đối với loạisản phẩm mà doanh nghiệp sẽ tổ chức sản xuất
- Điều tra nắm kỹ khả năng của doanh nghiệp về đất đai, khí hậu, tiền vốn, nhânlực …có thể sử dụng cho phát triển sản xuất phụ
Trang 31- Xây dựng và lựa chọn phương án tốt nhất để tổ chức các hoạt động phụ nhằmđảm bảo kinh doanh có hiệu quả cao, độ rủi ro thấp.
2.4 QUẢN LÝ SỬ DỤNG RỪNG VÀ ĐẤT RỪNG TRONG DNLN
2.4.1 Vai trò, đặc điểm sử dụng rừng và đất rừng trong doanh nghiệp LN
2.4.1.1 Vai trò của rừng và đất rừng trong doanh nghiệp lâm nghiệp
Rừng và đất rừng là tư liệu sản xuất chủ yếu nhất và đặc trưng của doanh nghiệplâm nghiệp Rừng và đất rừng là nơi sinh sống của hệ động thực vật và có ý nghĩa cực kỳquan trọng trong việc đảm bảo cân bằng sinh thái, bảo vệ tính đa dạng sinh học Đất rừngcung cấp các nguồn dinh dưỡng, nước và khoáng chất cho cây trồng Năng suất cây trồngphụ thuộc nhiều vào độ phì của đất canh tác Từ đất rừng, có thể trồng được các loài câylấy gỗ, tạo ra vùng nguyên liệu công nghiệp ổn định Từ đất rừng với phương thức nônglâm kết hợp, có thể sản xuất ra nhiều loại sản phẩm nông nghiệp, tạo ra nguồn thức ăncho chăn nuôi gia súc, gia cầm và động vật rừng, sản xuất ra nhiều đặc sản quý khác
Như vậy rừng và đất rừng là nguồn lực cơ bản và quan trọng nhất để tổ chức vàsản xuất kinh doanh gỗ, các loại lâm sản khác, kết hợp phòng hộ và bảo vệ môi trườngsinh thái Việc quản lý và sử dụng hợp lý rừng và đất rừng có ý nghĩa đặc biệt quan trọngtrong quản lý doanh nghiệp lâm nghiệp
2.4.1.2 Đặc điểm sử dụng rừng và đất rừng
Những biện pháp sử dụng rừng và đất rừng hợp lý cũng chính là biện pháp bảo vệrừng và đất rừng có hiệu quả Đất rừng nếu không đưa vào sử dụng sẽ bị xói mòn, rửatrôi và giảm độ màu mỡ của đất Ngược lại, đất trống đồi núi trọc nếu được trồng cây vàchăm sóc cây hợp lý sẽ chống được xói mòn, rửa trôi, tăng độ phì cho đất kinh doanh ổnđịnh lâu dài Như vậy, muốn sử dụng phải bảo vệ, bảo vệ tốt thì sử dụng tốt
ii) Thường xuyên phát sinh mâu thuẫn giữa nhu cầu ngày càng tăng lên về lâm sản và môi trường với khả năng có hạn của rừng
Ngày nay, rừng không những cung cấp lâm đặc sản quý, mà còn có tác dụng bảo
vệ đất, nuôi dưỡng nguồn nước và làm trong sạch môi trường sống
Hơn nữa rừng còn là nơi tham quan du lịch và nghiên cứu khoa học Nhưng cùngvới sự phát triển nền kinh tế, sự phát triển nhanh chóng các ngành công nghiệp, đô thịmạnh mẽ và sự bùng nổ dân số đã làm cho rừng ngày càng thu hẹp về diện tích, sút kém
về chất lượng và làm cho tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng.Nguyên nhân chủ yếu làm cho rừng bị suy giảm là sự can thiệp vô ý thức của con người
Sự chặt phá rừng bừa bãi, đốt nương làm rẫy, săn bắt chim thú và những tác động sai lầmkhác trong các biện pháp kỹ thuật lâm sinh, trong các chính sách kinh tế xã hội Trongkhi đó, nhu cầu đất đai cho phát triển sản xuất nông nghiệp, trồng cây lương thực, câycông nghiệp và nhu cầu phát triển kinh tế không ngừng tăng lên Nhu cầu về gỗ và cáclâm sản ngoài gỗ khác cũng không ngừng tăng lên Từ đó phát sinh mâu thuẫn giữa nhucầu và khả năng cung cấp lâm sản trong doanh nghiệp lâm nghiệp Vì vậy, các doanhnghiệp lâm nghiệp cần nhanh chóng phủ xanh đất trống đồi núi trọc, đẩy mạnh thâm canhrừng, áp dụng các biện pháp tổ chức kinh tế kỹ thuật để nâng cao năng suất rừng, đồngthời đẩy mạnh việc sử dụng các loại vật liệu khác thay thế lâm sản Đó là phương hướngtất yếu, lâu dài và có hiệu quả để giải quyết mâu thuẫn trên
Rừng và đất rừng đã từng là tư liệu sản xuất lâu đời của nhân dân các dân tộc miềnnúi Vì vậy, để sử dụng rừng và đất rừng có hiệu quả bảo vệ và phát triển vốn rừng thìcác doanh nghiệp cần thực hiện việc giao khoán rừng và đất rừng cho các hộ gia đìnhkinh doanh ổn định lâu dài Đó là biện pháp quan trọng nhằm khắc phục tình trạng rừng
Trang 32không có chủ thực sự, hạn chế sự lấn chiếm đất rừng đồng thời huy động được các nguồnlực của nhân dân và thu hút được người dân tham gia quản lý bảo vệ rừng có hiệu quả.
2.4.2 Mục tiêu nhiệm vụ quản lý rừng và đất rừng trong doanh nghiệp lâm nghiệp
2.4.2.1 Mục tiêu quản lý rừng và đất rừng
- Đảm bảo đạt năng suất, chất lượng sản phẩm cao và sản lượng rừng ổn định
- Sản phẩm đa dạng nhiều công dụng
- Các nguồn tài nguyên được sử dụng một cách hiệu quả
- Môi trường sinh thái được bảo vệ và cải thiện
2.4.2.2 Nhiệm vụ quản lý rừng
Đất rừng là những khu đất được quy hoạch cho sản xuất lâm nghiệp như: đất rừng
tự nhiên, đất có rừng trồng, đất trống được quy hoạch trồng rừng Để quản lý đất rừng cóhiệu quả cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau đây:
- Xác định rõ ranh giới đất rừng do doanh nghiệp quản lý trên bản đồ và trên thựcđịa Đất rừng phải được phân chia thành các phân trường, tiểu khu, khoảnh, lô trên toàn
bộ diện tích và đánh số hiệu đúng theo quy trình kỹ thuật để dễ dàng kiểm tra, kiểm soát
và đánh giá tài nguyên rừng một cách chính xác
- Xác định người chủ cụ thể, trực tiếp trên từng lô, khoảnh, tiểu khu và phântrường Đó là các tiểu khu trưởng, phân trường trưởng và các hộ gia đình nhận khoán đấtrừng để kinh doanh lâu dài Cần có những cơ chế hưởng lợi hợp lý để gắn quyền lợi vàtrách nhiệm của các chủ rừng trong việc quản lý bảo vệ và sử dụng có hiệu quả đất rừng
- Phải có biện pháp sử dụng đất phù hợp tới từng lô, khoảnh, tiểu khu để nâng caohiệu quả sử dụng đất
- Có phương án quản lý bảo vệ, nâng cao độ phì cho đất rừng phù hợp với điềukiện sinh thái của từng lô, khoảnh, tiểu khu
2.4.2.3 Nhiệm vụ quản lý rừng
- Phải mở sổ sách theo dõi, thống kê hiện trạng và tình hình biến động của tàinguyên rừng trên từng lô, khoảnh, tiểu khu Định kỳ kiểm kê đánh giá tài nguyên rừng đểđưa ra các phương án kinh doanh rừng phù hợp
- Thực hiện những biện pháp quản lý bảo vệ rừng có hiệu quả, chú ý đầy đủ cả 3mặt: phòng chống sâu bện hại rừng, phòng chống cháy rừng, phòng chống người và giasúc phá hoại rừng
- Khai thác và sử dụng tài nguyên rừng một cách hợp lý nhằm tiết kiệm và nângcao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đảm bảo yêu cầu phòng hộ và bảo vệ môi trường sinhthái
2.4.3 Các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng rừng và đất rừng
2.4.3.1 Những giải pháp về mặt kỹ thuật
Quy hoạch sử dụng đất đai: điều tra cơ bản về rừng và đất rừng phải đi trước mộtbước, chỉ có trên cơ sở nắm vững tài nguyên rừng và đất rừng về mặt số lượng và chấtlượng mới tiến hành quản lý sử dụng đất theo một quy hoạch hợp lý
- Tăng cường trồng cây phủ xanh đất trống đồi núi trọc
- Lựa chọn những loài cây thích hợp với mục tiêu kinh doanh và điều kiện tự nhiên
- Áp dụng các biện pháp thâm canh thích hợp trong kinh doanh rừng
- Đẩy mạnh các hoạt động kinh doanh tổng hợp trên từng diện tích rừng và đấtrừng
- Chú trọng trồng cây cải tạo và bảo vệ đất để nâng cao độ phì của đất
2.4.3.2 Các pháp về mặt kinh tế xã hội
- Đẩy mạnh khoán kinh doanh lâu dài cho các hộ thành viên
Trang 33- Thực hiện các chính sách về khuyến khích hỗ trợ đối với các hộ thành viên, cácđơn vị trong kinh doanh rừng.
- Đẩy mạnh chương trình tuyên truyền, phổ cập lâm nghiệp, khuyến nông, khuyếnlâm, phát triển các mô hình nông lâm kết hợp
- Xây dựng và triển khai các chương trình hỗ trợ phát triển thị trường nhằm đẩymạnh tiêu thụ nông sản cho các hộ gia đình, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng rừng vàđất rừng trong doanh nghiệp lâm nghiệp
2.4.4 Các chỉ tiêu đánh giá trình độ quản lý sử dụng rừng và đất rừng
Để đánh giá trình độ quản lý sử dụng rừng và đất rừng người ta dùng hệ thống chỉtiêu sau đây
Sln tổng diện tích đất lâm nghiệp do doanh nghiệp quản lý
2.4.4.2 Tỷ lệ tăng trưởng thực tế của rừng
Là hệ số thể hiện tỷ lệ giữa lượng tăng trưởng thực tế đạt được của rừng so vớilượng tăng trưởng lớn nhất có thể đạt được
Lượng tăng trưởng thực tế được tính theo lượng tăng trưởng bình quân hàng nămcủa toàn doanh nghiệp Khả năng tăng trưởng lớn nhất có thể đạt được xác định theo cáckết quả nghiên cứu khoa học hoặc theo mức sản lượng đã đạt được của các doanh nghiệptiên tiến trong khu vực
Trong đó:
lượng tăng trưởng thực tế của rừng
lượng tăng trưởng lớn nhất có thể đạt được
2.4.4.3 Giá trị kinh doanh phụ trên 1 ha đất lâm nghiệp
Đây là chỉ tiêu đánh giá trình độ kinh doanh tổng hợp, lợi dụng các tiềm năng củadoanh nghiệp Giá trị kinh doanh phụ trên 1 ha rừng được tính theo công thức sau:
Trong đó:
là tổng giá trị kinh doanh phụ trên phạm vi toàn doanh nghiệp bao gồm thu nhập
từ các hoạt động nông lâm kết hợp, chế biến tận dụng, thủ công mỹ nghệ, kinh doanhdược liệu, chăn nuôi …
Trang 342.4.4.4 Giá trị tổng sản lượng trên 1 ha đất lâm nghiệp
Đây là chỉ tiêu đánh giá tổng doanh thu đạt được trong 1 năm bình quân cho 1 hađất lâm nghiệp của doanh nghiệp Chỉ tiêu này được tính theo công thức sau:
Trong đó:
Qc giá trị sản phẩm chính trong kinh doanh rừng
Qnr giá trị thu nhập trong quá trình nuôi dưỡng rừng
Qnn giá trị sản lượng của kinh doanh nông lâm kết hợp
Qsb giá trị của các hoạt động chăn nuôi, săn bắt trong phạm vi toàn doanh nghiệp
Qk giá trị sản lượng của các thu nhập khác của doanh nghiệp
2.4.4.5 Mức thay đổi độ phì của đất rừng
Độ phì của đất thể hiện mức độ màu mỡ của đất rừng Để đánh giá độ phì của đấtrừng người ta dựa vào các chỉ tiêu cụ thể như: hàm lượng mùn trong đất, độ xốp, độ dàytầng đất, kết cấu đất, hàm lượng các chất dễ tiêu, hàm lượng các chất khoáng…
Mức thay đổi độ phì của đất được xác định bằng cách so sánh các chỉ tiêu trước,trong và sau khi kết thức mỗi chu kỳ kinh doanh rừng
Mục tiêu đặt ra đối với doanh nghiệp là sau mỗi chu kỳ kinh doanh đất rừng phảingày càng có độ phì cao hơn Để đạt mục tiêu trên, tùy từng điều kiện cụ thể mà áp dụngcác biện pháp thích hợp như: bón phân, trồng cây cải tạo đất, trồng cây phân xanh, chămsóc tưới tiêu, áp dụng các biện pháp thâm canh rừng…
Chương 3 QUẢN LÝ SỬ DỤNG MÁY MÓC THIẾT BỊ VÀ VẬT TƯ
TRONG DOANH NGHIỆP LÂM NGHIỆP
Trang 353.1 QUẢN LÝ SỬ DỤNG MÁY MÓC THIẾT BỊ TRONG DOANH NGHIỆP 3.1.1 Nhiệm vụ và nội dung của công tác quản lý và sử dụng máy móc thiết bị
trong doanh nghiệp.
Máy móc thiết bị là một bộ phận chủ yếu của tư liệu lao động, có ảnh hưởng quyếtđịnh đến năng suất lao động của doanh nghiệp Sản xuất ngày càng phát triển, trình độ cơgiới ngày càng cao, số lượng và số loại máy móc thiết bị dùng trong doanh nghiệp ngàycàng nhiều Do đó việc quản lý máy móc thiết bị là một nội dung quan trong công tác
quản trị kinh doanh của doanh nghiệp
3.1.1.1 Nhiệm vụ của quản lý và sử dụng máy móc thiết bị
- Giữ gìn bảo quản tốt máy móc thiết bị, đảm bảo cho máy móc thiết bị luôn ởtrạng thái sẵn sàng hoạt động
- Khai thác đầy đủ năng lực sản xuất của máy móc thiết bị
- Giảm các chi phí về sử dụng máy móc thiết bị trong quá trình sản xuất kinhdoanh
3.1.1.2 Nội dung chủ yếu của quản lý và sử dụng máy móc thiết bị
- Xây dựng các định mức sử dụng máy móc thiết bị
- Phục vụ tốt về kỹ thuật cho máy móc thiết bị
- Xác định đúng năng lực sản xuất của máy móc thiết bị, tính toán đúng nhu cầucần dùng cho sản xuất và khai thác đầy đủ năng lực sản xuất của máy móc thiết bị
- Lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch sửa chữa, bảo dưỡng máy móc thiết bị
3.1.2 Định mức sử dụng máy móc thiết bị
Trong thực tế có 2 loại định mức sử dụng máy móc thiết bị sau đây:
- Định mức thời gian công tác của máy móc thiết bị
- Định mức năng suất của máy móc thiết bị
3.1.2.1 Định mức thời gian công tác có ích của máy móc thiết bị.
Định mức thời gian công tác có ích của máy móc thiết bị là quy định thời gian làmviệc ít nhất phải đạt được trong một khoảng thời gian nhất định (thường là 1 năm) trên cơ
sở đảm bảo chế độ công tác hợp lý và phù hợp với đặc điểm kỹ thuật sản xuất của doanhnghiệp Định mức thời gian công tác có ích của máy móc thiết bị có thể được xác địnhtheo công thức sau đây:
Ti = (Tli - Tsc - Tnl ) Kca (ca máy/năm)
Trong đó:
Ti : thời gian công tác có ích của máy móc thiết bị trong năm
Tli : thời gian theo lịch trong năm (365 ngày)
Tsc : thời gian ngừng việc để sửa chữa và chờ sửa chữa trong năm (chỉ tính những loại bảo dưỡng và sữa chữa mà máy phải ngừng việc từ 1 ngày trở lên)
Tnl : số ngày nghỉ lễ và chủ nhật theo chế độ hiện hành trong năm
Kca : hệ số ca, là số ca máy làm việc bình quân trong 1 ngày đêm của thiết bị
Khi tính thời gian công tác có ích trong năm, vấn đề chủ yếu là xác định đúng đắnthời gian máy ngừng việc để sửa chữa và hệ số ca
Đối với sản xuất lâm nghiệp điều kiện sản xuất có nhiều khó khăn như máy mócthiết bị phải làm việc ngoài trời, chịu ảnh hưởng nhiều của thời tiết, đối tượng lao độngcồng kềnh, nặng nề, đường vận chuyển xấu, điều kiện địa hình phức tạp … Vì vậy, khiđịnh mức thời gian phải phân tích đầy đủ những nhân tố ảnh hưởng, có những biện pháphạn chế đến mức tối đa những khó khăn trở ngại, lợi dụng những điều kiện thuận lợi đảmbảo sử dụng hợp lý nhất năng lực sản xuất của máy móc thiết bị