1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

166 Hạn chế rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ tại hệ thống Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam

118 552 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hạn chế rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ tại hệ thống Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
Tác giả Nguyễn Hoàn Cẩm Tú
Người hướng dẫn TS. Vũ Thị Minh Hằng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế tài chính – Ngân hàng
Thể loại Luận văn thạc sĩ kinh tế
Năm xuất bản 2008
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 649,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

166 Hạn chế rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ tại hệ thống Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH -

NGUYỄN HOÀN CẨM TÚ

Chuyên ngành: Kinh tế tài chính – Ngân hàng

Mã số: 60.31.12

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS VŨ THỊ MINH HẰNG

TP.Hồ Chí Minh - Năm 2008

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan danh dự về đề tài nghiên cứu: “Hạn chế rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ tại hệ thống Ngân hàng No&PTNT Việt Nam’’ là đề tài của tôi nghiên cứu khi thực hiện Luận văn thạc sĩ kinh tế, không sao chép, cóp nhặt của bất kỳ ai Các tài liệu và các số liệu của đề tài là trung thực, đảm bảo tính chính xác

Ngày tháng 12 năm 2008

Người thực hiện

Nguyễn Hoàn Cẩm Tú

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

TRANG BÌA PHỤ LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ CÁC SƠ ĐỒ LỜI MỞ ĐẦU

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG THỨC

1.3 Các rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ 15

Trang 4

1.3.2 Rủi ro ngoại hối 15

1.4 Một số kinh nghiệm hạn chế rủi ro trong phương thức 19 tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Wachovia,N.A.,

Chi nhánh HongKong

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VẬN DỤNG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG

CHỨNG TỪ TẠI HỆ THỐNG No&PTNT VIỆT NAM

2.2 Tình hình thanh toán và tài trợ tín dụng xuất nhập 25

khẩu tại hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam

2.3 Hệ thống quy trình thanh toán và tài trợ tín dụng 35

xuất nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng

từ tại NHNo&PTNT Việt Nam

2.4 Những rủi ro phát sinh trong phương thức tín dụng 44

chứng tại hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam

Trang 5

2.4.5 Rủi ro về kỹ thuật, nghiệp vụ 49

2.5 Những nguyên nhân dẫn đến phát sinh rủi ro trong 54

phương thức tín dụng chứng từ tại NHNo&PTNT Việt Nam

2.5.2 Nguyên nhân chủ quan từ NHNo&PTNT Việt Nam 56

CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO

TRONG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NHNo&PTNT VIỆT NAM

NHNo&PTNT Việt Nam

3.2.2 Định hướng phát triển của NHNo&PTNT Việt Nam 61

3.2.1 Hoàn thiện văn bản pháp lý liên quan đến hoạt động TTQT 63 3.2.2 Nâng cao vai trò của các đại sứ quán ở nước ngoài, có chính 64

sách hợp lý khuyến khích các doanh nghiệp xuất khẩu 3.2.3 Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, thường xuyên 65

tổ chức các hội chợ thương mại quốc tế

3.3.1 Xây dựng những hệ thống cảnh báo những biến động 69

bất thường về tình hình tài chính - kinh tế 3.3.2 Cần có những chính sách cho vay ngoại tệ, chính sách 71

quản lý ngoại hối, điều chỉnh tỷ giá phù hợp với từng thời

Trang 6

điểm của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập hiện nay

3.3.3 Đẩy mạnh và tăng cường chất lượng hoạt động của trung tâm 72

thông tin phòng ngừa và xử lý rủi ro của Ngân hàng Nhà nước 3.3.4 Tăng cường năng lực công tác thanh tra, phát hiện sớm 74

những sai phạm

3.4.1 Xây dựng uy tín, thương hiệu Ngân hàng NHNo&PTNT 75

Việt Nam trong nước nói riêng và trên trường quốc tế nói chung 3.4.2 Phát triển nguồn nhân lực, đào tạo, nâng cao trình độ 76

nghiệp vụ của cán bộ công nhân viên nhằm đáp ứng kịp thời cho nhu cầu cấp thiết của Ngân hàng

3.4.3 Đổi mới công nghệ và hoàn thiện quy trình nghiệp vụ 78 3.4.4 Phát triển và phòng ngừa rủi ro từ Ngân hàng đại lý 79 3.4.5 Thực hiện các biện pháp kinh doanh ngoại tệ để hạn 80

chế rủi ro tỷ giá (forward, swap, option) 3.4.6 Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu 83 3.4.7 Đề xuất trích lập quỹ dự phòng và tăng cường giám sát 85

hoạt động tài trợ tín dụng và TTQT trong hệ thống Ngân hàng No&PTNT Việt Nam

NHỮNG PHỤ LỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Chú ý: Số trang ở mục lục sẽ không trùng với cách đánh số trang của file luận văn

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

˜&™

Agribank Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển

Nông thôn Việt Nam

(Phòng Thương mại quốc tế)

ISBP

International Standard Banking Practice for the examination of documents under documentary letter of credit

(Thư tín dụng)

NHNo&PTNT Việt Nam Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển

Nông thôn Việt Nam

Reimbursement Under Documentary Credit

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ CÁC SƠ ĐỒ HÌNH VẼ

˜&™

Bảng 2.1: Dư nợ ngoại tệ (quy đổi) theo ngành nghề -Năm 2007 26 Bảng 2.2: Doanh số thanh toán quốc tế giai đoạn năm 2002 – 2007 27 Bảng 2.3: Doanh số thanh toán hàng xuất khẩu theo các phương thức 28 -Năm 2007

Bảng 2.4: Doanh số thanh toán hàng nhập khẩu theo các phương thức 28 -Năm 2007

Bảng 2.5: Quan hệ Ngân hàng đại lý qua các năm 2002 – 2007 30 Bảng 2.6: Doanh số mua bán ngoại tệ giai đoạn năm 2002 – 2007 31 Bảng 2.7: Doanh số thanh toán biên giới giai đoạn năm 2002 – 2007 32

Sơ đồ 1.1: Quy trình thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ 3

Sơ đồ 2.1: Quy trình thanh toán và tài trợ tín dụng theo phương thức 35

tín dụng chứng từ - L/C nhập khẩu

Sơ đồ 2.2: Quy trình thanh toán và tài trợ tín dụng theo phương thức 39

tín dụng chứng từ - L/C nhập khẩu (tiếp theo)

Sơ đồ 2.3: Quy trình thanh toán và tài trợ tín dụng theo phương thức 41

tín dụng chứng từ - L/C xuất khẩu

Sơ đồ 2.4: Quy trình thanh toán và tài trợ tín dụng theo phương thức 42

tín dụng chứng từ - L/C xuất khẩu (tiếp theo)

Chú ý: Số trang ở phần này sẽ không trùng với cách đánh số trang của file luận văn

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Muốn phát triển kinh tế không quốc gia nào chỉ đơn thuần dựa vào sản xuất trong nước mà bắt buộc phải quan hệ giao dịch với các nước khác Do những khác biệt về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, khí hậu, thổ nhưỡng, địa hình, địa chất và nhân văn, … nền sản xuất trong nước không thể cung cấp đủ hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nền kinh tế Từ đó phát sinh nhu cầu nhập nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, kỹ thuật, công nghệ, luôn cả hàng tiêu dùng thiết yếu mà trong nước không sản xuất được hoặc sản xuất kém hiệu quả

Ngược lại trên cơ sở khai thác tiềm năng và những lợi thế kinh tế vốn có, nền sản xuất ngoài việc phục vụ tốt nhu cầu trong nước còn có thể tạo nên thặng dư để xuất khẩu, góp phần thu ngoại tệ về cho đất nước để nhập khẩu các mặt hàng còn thiếu và trả nợ nước ngoài

Như vậy chính yêu cầu phát triển kinh tế làm nảy sinh nhu cầu giao dịch trao đổi hàng hóa giữa các nước Nói cách khác hoạt động ngoại thương là yêu cầu khách quan trong nền kinh tế

Đất nước ta cũng không phải là trường hợp ngoại lệ Trong chiến lược phát triển kinh tế của quốc gia, xuất nhập khẩu là lĩnh vực được quan tâm hàng đầu và kim ngạch xuất nhập khẩu không ngừng gia tăng qua mỗi năm

Xuất nhập khẩu gia tăng kéo theo doanh số thanh toán xuất nhập khẩu qua các ngân hàng thương mại cũng gia tăng Các Ngân hàng thương mại không những giúp cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu hoàn tất khâu thanh toán của hoạt động ngoại thương một cách thuận lợi mà còn hỗ trợ đắc lực cho các doanh nghiệp bằng việc tài trợ vốn trong quá trình kinh doanh hội nhập ngày nay

Trang 10

Tuy nhiên trong giao dịch thương mại quốc tế thường gặp một số trở ngại như không cùng ngôn ngữ, luật lệ mỗi nước khác nhau, chính sách ngoại thương cũng như các phong tục tập quán cũng có những nét khác nhau, dẫn đến những tình huống không lường trước được Vì vậy, giữa các bên cần có những phương thức thanh toán phù hợp, thuận tiện cũng như an toàn cho cả hai bên Có rất nhiều phương thức thanh toán phổ biến như: Chuyển tiền điện tử, nhờ thu kèm chứng từ, phương thức tín dụng chứng từ,… Trong đó, phương thức tín dụng chứng từ là phương thức được sử dụng rộng rãi, phổ biến và có nhiều ưu điểm hơn so với các phương thức khác: như giảm bớt rủi ro trong thanh toán ngoại thương, bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia hoạt động ngoại thương, giúp các bên được thuận lợi hơn trong quá trình tham gia hoạt động ngoại thương

Nhằm hạn chế rủi ro vừa đảm bảo an toàn đồng thời đem lại lợi ích tốt nhất phục

vụ khách hàng trong hoạt động thanh toán và tài trợ xuất nhập khẩu, đề tài “Hạn chế rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ tại hệ thống Ngân hàng No&PTNT Việt Nam” được thực hiện Đó cũng chính là lý do tôi chọn đề tài này làm luận văn thạc sĩ kinh tế của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu:

Việc nghiên cứu đề tài này nhằm đạt được các mục tiêu sau:

Thứ nhất nghiên cứu về thực trạng thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ tại Ngân hàng No&PTNT Việt Nam, những mặt đạt được và những mặt còn hạn chế Thứ hai, xác định được những rủi ro trong thanh toán và tài trợ xuất nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng No&PTNT Việt Nam, từ đó khái quát những nguyên nhân có thể tạo nên những rủi ro này

Thứ ba, trên cơ sở xác định và phân tích những rủi ro để tìm ra những giải pháp hạn chế rủi ro và nâng cao chất lượng trong hoạt động thanh toán và tài trợ xuất nhập

Trang 11

khẩu ở cấp độ vĩ mô (Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước) nói chung và tại Ngân hàng No&PTNT Việt Nam nói riêng

3 Phạm vi nghiên cứu:

Đề tài này chỉ nhằm xoáy vào nghiên cứu dịch vụ thanh toán và tài trợ tài chính trong thanh toán xuất nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ trong thời kỳ đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế tại Ngân hàng No&PTNT Việt Nam Người viết đứng trên giác độ của Ngân hàng nghiên cứu về rủi ro trong thanh toán quốc tế tại Ngân hàng No&PTNT Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu:

Các phương pháp được sử dụng kết hợp trong đề tài: phân tích thực tế, thống kê, tổng hợp, so sánh dựa trên cơ sở số liệu thống kê của Ngân hàng No&PTNT Việt Nam Bên cạnh đó người viết nghiên cứu những kinh nghiệm từ những tình huống đã phát sinh trên thực tế tại hệ thống Ngân hàng No&PTNT Việt Nam để từ đó rút ra được bài học cần thiết, vận dụng trong công việc

5 Điểm nổi bật của luận văn

Mặc dù thanh toán xuất nhập khẩu và tài trợ tín dụng theo phương thức tín dụng chứng từ không phải là vấn đề mới mẻ, đã có một số công trình nghiên cứu cũng như tác phẩm viết về vấn đề này trước đây Nhưng thiết nghĩ, trong bối cảnh hội nhập kinh

tế như ngày nay, hoạt động thương mại cũng như hoạt động thanh toán giữa các nước ngày càng trở nên phổ biến và đa dạng thì việc nghiên cứu những mặt trái, những rủi ro khi áp dụng phương thức thanh toán này là một việc làm hết sức cần thiết và cấp bách Luận văn cũng đã cho thấy được vị trí vai trò của NHNo&PTNT Việt Nam trong công cuộc phát triển đất nước, đóng góp vào nhiệm vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, thực hiện công cuộc CNH- HĐH đất nước Đánh giá, phân tích những rủi ro trong quá trình thanh toán và tài trợ tín dụng xuất nhập khẩu, tìm ra nguyên nhân hạn chế những

Trang 12

rủi ro này trong quá trình hoạt động của NHNo&PTNT Việt Nam cũng là phù hợp với định hướng phát triển của nền kinh tế trong giai đoạn mới ngày nay

6 Kết cấu luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương:

Chương I: Lý luận cơ bản về phương thức tín dụng chứng từ

Chương II: Thực trạng vận dụng phương thức tín dụng chứng từ tại hệ thống Ngân hàng No&PTNT Việt Nam

Chương III: Các giải pháp hạn chế rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng No&PTNT Việt Nam

Trang 13

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

1.1 Phương thức tín dụng chứng từ

1.1.1 Khái niệm và chức năng cơ bản của tín dụng chứng từ:

Tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán thông dụng nhất hiện nay, khối lượng thanh toán thông qua phương thức ngày càng chiếm tỉ trọng lớn, do đó phòng thương mại quốc tế tại Paris (International Chamber Of Commerce) đã ban hành quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (Uniform custom and pratice for Document Credit) để các bên xuất khẩu và nhập khẩu, các Ngân hàng có liên quan đến nghiên cứu áp dụng, nhằm tránh những sự hiểu lầm đáng tiếc có thể xảy ra Vậy, truớc hết chúng ta cần hiểu tín dụng chứng từ là gì?

Định nghĩa một cách đơn giản, tín dụng chứng từ là một cam kết thanh toán có điều kiện của Ngân hàng Một cách đầy đủ hơn tín dụng chứng từ là một văn bản cam kết của một Ngân hàng (Ngân hàng phát hành thư tín dụng: Issuing bank) theo yêu cầu của khách hàng (người xin mở L/C: Applicant) cho người bán (hoặc người hưởng lợi: Beneficiary) về việc sẽ trả một số tiền nhất định hoặc sẽ chấp nhận hối phiếu do người hưởng lợi ký phát trong phạm vi số tiền đó, với điều kiện người này xuất trình được bộ chứng từ phù hợp với quy định của L/C

Thư tín dụng có các chức năng cơ bản sau:

Chức năng thanh toán: Bộ chứng từ xuất trình để đòi tiền theo thư tín dụng thông thường là những chứng từ xác nhận quyền sở hữu hàng hóa, chứng minh việc người bán đã hoàn thành nhiệm vụ giao hàng theo hợp đồng đã ký với người mua, là cơ sở để Ngân hàng thực hiện thanh toán

Chức năng tín dụng: thư tín dụng là văn bản thể hiện loại tín dụng do Ngân hàng cấp cho nhà nhập khẩu và là sự cam kết trực tiếp của Ngân hàng với nhà xuất khẩu

Trang 14

Trong nghiệp vụ này chữ tín dụng được hiểu theo nghĩa rộng là sự tín nhiệm chứ không chỉ là khoản tiền vay theo nghĩa thông thường của thuật ngữ này Trong thực tế, khi nhà nhập khẩu yêu cầu mở thư tín dụng mà Ngân hàng yêu cầu ký quỹ 100% thì lúc này Ngân hàng không cấp cho nhà nhập khẩu một khoản tín dụng nào, mà có chăng Ngân hàng chỉ cho nhà nhập khẩu “vay sự tín nhiệm” của Ngân hàng mà thôi

Chức năng đảm bảo: Tín dụng chứng từ là sự cam kết độc lập của Ngân hàng phát hành L/C đối với nhà xuất khẩu Trong đó Ngân hàng phát hành L/C bảo đảm nghĩa vụ thanh toán cho nhà xuất khẩu ngay khi xuất trình bộ chứng từ phù hợp mà không phụ thuộc vào ý muốn hay khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu Mặt khác, thông qua phương thức thanh toán này, quyền lợi của nhà nhập khẩu cũng được bảo vệ vì Ngân hàng mở L/C đóng vai trò trung gian kiểm soát chứng từ

1.1.2 Các thành phần trong thanh toán theo hình thức tín dụng chứng từ

Qua định nghĩa trên tín dụng chứng từ bao gồm các thành phần như sau:

Người mở thư tín dụng (Applicant): là người mua, người nhập khẩu hàng hóa Ngân hàng phát hành thư tín dụng (The Issuing bank): là Ngân hàng đại diện cho nhà nhập khẩu, phát hành thư tín dụng theo yêu cầu của nhà nhập khẩu

Người hưởng lợi (Beneficiary): là người bán, người xuất khẩu hay bất cứ người nào khác mà người hưởng lợi chỉ định

Ngân hàng thông báo thư tín dụng (Advising Bank) là Ngân hàng ở nước người thụ hưởng do thư tín dụng chỉ định

Ngân hàng chiết khấu (Negotiating Bank): là Ngân hàng mà người hưởng lợi có thể mang bộ chứng từ hợp lệ đến đó xin chiết khấu (nhận tiền hàng trước)

Trang 15

1.1.3 Quy trình thanh toán theo phương thức thư tín dụng

Đây là sơ đồ và quy trình thanh toán được đơn giản hóa tối đa với giả thiết bộ chứng từ hoàn toàn phù hợp, không có sự tham gia của Ngân hàng hoàn trả

Sơ đồ 1.1: Quy trình thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ

(1): Ký kết hợp đồng ngoại thương giữa nhà xuất khẩu và nhập khẩu

(2): Nhà nhập khẩu (Người xin mở L/C – Applicant) yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình (Ngân hàng phát hành L/C –Issuing Bank) phát hành L/C cho nhà xuất khẩu (Người thụ hưởng – Beneficiary)

(3): Ngân hàng phát hành thực hiện mở L/C và gởi đến Ngân hàng đại lý (Ngân hàng thông báo – Advising Bank)

(4): Ngân hàng thông báo thực hiện thông báo L/C cho người thụ hưởng

(5): Nhà xuất khẩu (Người thụ hưởng L/C) cung ứng hàng hóa dịch vụ

(6): Người thụ hưởng L/C xuất trình chứng từ và nhận tiền chiết khấu (nếu có) (7): Ngân hàng thông báo (hoặc Ngân hàng chiết khấu –nếu có) gửi chứng từ cho Ngân hàng phát hành L/C, đòi tiền Ngân hàng phát hành

(8): Ngân hàng phát hành L/C nhận chứng từ, làm thông báo và yêu cầu người xin

mở L/C thanh toán

APPLICANT

(Nhà nhập khẩu)

BENEFICIARY (Nhà xuất khẩu)

ISSUING BANK

(Ngân hàng phát hành)

ADVISING BANK (Ngân hàng thông báo)

Trang 16

(9): Nhà nhập khẩu (Người xin mở L/C) làm thủ tục vay nợ hoặc nộp tiền thanh toán L/C và nhận bộ chứng từ từ Ngân hành phát hành

(10): Ngân hàng phát hành sau khi nhận tiền và giao bộ chứng từ cho người xin

mở L/C sẽ tiến hành thanh toán tiền cho Ngân hàng gởi chứng từ (Ngân hàng thông báo hoặc Ngân hàng chiết khấu) Và Ngân hàng gởi chứng từ sẽ báo có cho người xuất khẩu khi nhận được số tiền trên

1.1.4 Những quy định quốc tế áp dụng trong phương thức tín dụng chứng

từ

− Uniform Custom and Practice for Documents Credits (UCP 600): Từ ngày ra đời đến nay UCP đã qua 6 lẩn thay đổi vào các năm 1951, 1962, 1974, 1983, 1993 và lần gần nhất là 2007 Tuy nhiên các văn bản ra đời sau qua các lần sửa đổi không hủy

bỏ các văn bản trước đó nên các văn bản đều có giá trị thực hành thanh toán quốc tế Đây là một văn bản có tính quốc tế nhưng không mang tính chất bắt buộc, các bên liên quan có thể thỏa thuận tùy ý chọn UCP version nào để thực hiện

− Uniform Rules for Bank- to- Bank Reimbursement Under Documentary Credit (URR No 525) được xem như là sự mở rộng và chi tiết hóa điều khoản 13, thỏa thuận

về hoàn trả liên hàng) của UCP 600

− International Standard Banking Practice for the examination of documents under documentary letter of credit (ISBP): giải thích chi tiết hơn về UCP 600, được coi là công cụ thực hành UCP 600

1.1.5 Các loại thư tín dụng

1.1.5.1 Các loại thư tín dụng thông thường

Thư tín dụng không hủy ngang (Irrevocable Letter of Credit): là loại L/C chỉ

được điều chỉnh hay hủy bỏ khi được sự đồng ý của tất cả các bên liên quan (Người

yêu cầu, Ngân hàng mở L/C, Người thụ hưởng L/C và Ngân hàng xác nhận (nếu có))

Trang 17

Tín dụng thư có thể hủy ngang (Revocable letter of credit): là loại tín dụng thư

mà nhà nhập khẩu có thể được sửa đổi hoặc hủy bỏ tại bất cứ thời điểm nào mà không cần thông báo trước cho người bán, nhưng muốn sửa đổi hủy bỏ phải tiến hành trước khi nhà xuất khẩu giao hàng và xuất trình bộ chứng từ cho Ngân hàng thông báo.Trong thực tế loại L/C này rất hiếm khi được sử dụng, bởi người hưởng lợi không được đảm bảo quyền lợi, không thể biết được vào thời điểm nào L/C không còn hiệu lực

Thư tín dụng có xác nhận (L/C confirm): là loại L/C mà người hưởng lợi được

đảm bảo chắc chắn của Ngân hàng xác nhận, cộng thêm vào sự cam kết của Ngân hàng

mở L/C, người hưởng lợi sẽ được ngân hàng xác nhận thanh toán miễn truy đòi nếu xuất trình chứng từ phù hợp, ngay cả trong trường hợp Ngân hàng mở L/C không thanh toán hoặc không có khả năng thanh toán Hơn nữa, người thụ hưởng còn tránh được cả những rủi ro về ngoại hối (chính sách hạn chế chuyển đổi ngoại tệ của nước nhập khẩu) hay những rủi ro quốc gia khác của Ngân hàng mở L/C

Xác nhận L/C là tập quán tương đối phổ biến ở một số khu vực, đặc biệt là Châu

Âu Ngay cả khi Ngân hàng mở L/C không đề nghị, giữa người thụ hưởng và Ngân hàng của họ vẫn có thể có thỏa thuận về việc ngầm xác nhận L/C Trong trường hợp này, Ngân hàng xác nhận gánh chịu rủi ro cao hơn đồng thời phí xác nhận tương ứng cũng cao hơn

Phí xác nhận L/C thường được tính toán trên cơ sở xác định mức rủi ro cao nhất

có thể xảy ra Mức phí này thường căn cứ vào độ rủi ro tại nước của Ngân hàng mở L/C, thời hạn hiệu lực của L/C, xếp hạng Ngân hàng phát hành, uy tín trong giao dịch với Ngân hàng phát hành, hạn mức tín dụng cho phép …

Thư tín dụng trả tiền ngay (L/C at sight): loại L/C trong đó Ngân hàng phát

hành L/C cam kết trả tiền (hay thông qua Ngân hàng đại lý của mình thực hiện việc trả tiền ngay) khi người thụ hưởng xuất trình bộ chứng từ phù hợp với L/C

Trang 18

Thư tín dụng trả chậm (L/C usance): Là loại L/C trong đó Ngân hàng phát

hành L/C cam kết trả tiền (hoặc làm cho việc trả tiền được thực hiện) vào một ngày xác định trước trong tương lai với điều kiện Người thụ hưởng xuất trình bộ chứng từ theo quy định của L/C

Thư tín dụng nhiều kỳ hạn thanh toán hay hỗn hợp (mixed payment): tức

một phần giá trị phải trả ngay, phần còn lại được cho trả chậm

1.1.5.2 Một số loại thư tín dụng đặc biệt:

Thư tín dụng chuyển nhượng: là loại thư tín dụng theo đó người thụ hưởng thứ

nhất (First Beneficiary) có quyền yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển nhượng một phần hay toàn bộ giá trị của thư tín dụng gốc (Prime L/C) cho người thụ hưởng thứ hai (Second beneficiary)

Mục đích của L/C chuyển nhượng là nhằm giúp cho nhà xuất khẩu (thực chất là đối tác trung gian) tiến hành dịch vụ xuất khẩu mà không cần đến vốn của mình Trách nhiệm thanh toán của L/C này vẫn thuộc về Ngân hàng phát hành L/C Còn Ngân hàng chuyển nhượng chỉ thực hiện những thao tác kỹ thuật nghiệp vụ đơn thuần theo chỉ thị của người thụ hưởng thứ nhất

Thư tín dụng giáp lưng: là loại L/C được phát hành dựa vào một L/C khác Giáp

lưng được hiểu trên tổng thể là một giao dịch thương mại được mua bán qua trung gian bằng hai L/C khác nhau

Về bản chất và đứng trên gốc độ thương mại, thư tín dụng giáp lưng và thư tín dụng chuyển nhượng đều được sử dụng cho các hình thức mua bán qua trung gian, nhưng điều khác biệt cơ bản và quan trọng nhất là nghĩa vụ thanh toán của hai Ngân hàng phát hành trong hai thư tín dụng (giáp lưng) hoàn toàn độc lập nhau trên cơ sở hai thư tín dụng hoàn toán khác nhau Nên Ngân hàng phát hành L/C phải thực hiện đúng các quy định về ký quỹ, bảo lãnh và thế chấp trong khi mở thư tín dụng

Trang 19

Thư tín dụng tuần hoàn: Là loại thư tín dụng mà giá trị của nó được tái tạo

nhiều lần ngay khi nghĩa vụ thanh toán của lần trước được thực hiện L/C tuần hoàn thường được sử dụng trong thanh toán với các bạn hàng quen thuộc, với số lượng, chủng loại hàng hóa mua bán ổn định trong thời gian dài Lợi thế của loại L/C này là nhà nhập khẩu chỉ cần mở một L/C cho cả đơn đặt hàng và nhà xuất khẩu không phải chờ đợi một L/C mới L/C tuần hoàn được chia làm loại:

Tuần hoàn tích lũy: cho phép nhà xuất khẩu chuyển kim ngạch đợt giao hàng trước vào đợt giao hàng sau nếu đợt giao hàng trước chưa giao hết và cứ như vậy cho đến đợt giao hàng cuối cùng Nghĩa là nếu nhà xuất khẩu giao hàng trong lần giao hàng thứ n, vì lý do nào đó giao hàng không đủ như quy định, còn thiếu một lượng hàng là k thì ở lần giao hàng thứ n+1 nhà xuất khẩu giao lượng hàng là k+ số lượng L/C quy định và cứ như vậy cho đến lần cuối cùng

Tuần hoàn không tích lũy: không cho phép nhà xuất khẩu chuyển số dư đợt giao hàng trước vào đợt giao hàng sau

Việc tuần hoàn có thể xảy ra theo các cách sau:

Tuần hoàn tự động: khi đợt giao hàng trước hết thì đợt giao hàng sau tự động có giá trị hiệu lực, không cần sự thông báo của Ngân hàng phát hành L/C

Tuần hoàn không tự động: đợt giao hàng sau muốn có giá trị thì phải có sự thông báo của Ngân hàng mở L/C

Tuần hoàn hạn chế: Nếu sau một vài ngày kể từ ngày L/C hết hạn hiệu lực hoặc

sử dụng hết mà không có ý kiến gì của Ngân hàng phát hành thì L/C kế tiếp tự động có giá trị hiệu lực

Thư tín dụng đối ứng: là loại L/C được quy định là chỉ có giá trị hiệu lực khi

L/C khác đối ứng với nó được mở ra Loại thư tín dụng này áp dụng trong tình huống

Trang 20

tạm nhập nguyên vật liệu để gia công rồi tái xuất thành phẩm hoặc mua bán hàng đổi hàng

Thư tín dụng điều khoản đỏ: cho phép người hưởng nhận tạm ứng một khoản

tiền để thực hiện lô hàng xuất khẩu, được sử dụng nhằm ứng trước cho nhà xuất khẩu một khoản tiền trước khi giao hàng để hổ trợ cho sản xuất hàng hóa Tín dụng này có thể ứng trước một phần hay toàn bộ Bản chất của L/C này là một ủy quyền của Ngân hàng phát hành cho một Ngân hàng khác (Ngân hàng chỉ định) ứng trước tiền cho nhà xuất khẩu và chịu mọi rủi ro về tín dụng ứng trước

Thư tín dụng dự phòng: có công dụng như một thư bảo lãnh Ngân hàng để bảo

đảm cho những khoản tiền vay trong xây dựng, bảo đảm khoản tiền ứng trước, bảo đảm việc thực hiện hợp đồng thương mại

1.1.6 Ưu nhược điểm của phương thức tín dụng chứng từ so với các phương thức khác:

Quyền lợi của nhà

nhập khẩu

- Nếu là TTR trả trước: Nhà nhập khẩu bị thiệt (bị chiếm dụng vốn và

có khả năng không nhận được hàng)

- Nếu là TTR trả sau: Nhà nhập khẩu được lợi vì có thể chiếm dụng vốn

- Nhà nhập khẩu được lợi là không phải chuyển tiền trước (không bị chiếm dụng vốn) cho nhà xuất khẩu -Nhà nhập khẩu không bắt buộc phải thanh toán khi bộ chứng từ hợp lệ

- Nhà nhập khẩu được lợi là không phải chuyển tiền trước (không bị chiếm dụng vốn) cho nhà xuất khẩu, mà chỉ phải ký quỹ một phần rất nhỏ

- Nhà nhập khẩu được Ngân hàng

Trang 21

đứng ra làm trung gian kiểm tra bộ chứng từ cho mình Quyền lợi của nhà

xuất khẩu

- Nếu là TTR trả trước: Nhà xuất khẩu được lợi

- Nếu là TTR trả sau: Nhà xuất khẩu

bị thiệt (phải bỏ vốn làm hàng và có khả năng không nhận được tiền hàng khi đã giao hàng)

- Nhà xuất khẩu được đảm bảo là nếu người mua đồng ý nhận hàng thì chắc chắn người xuất khẩu sẽ nhận được tiền Tuy nhiên, nhà xuất khẩu không được đảm bảo nếu bộ chứng từ hợp lệ thì chắc chắn sẽ được thanh toán

- Được Ngân hàng đảm bảo thanh toán nếu người xuất khẩu xuất trình được bộ chứng từ phù hợp

Trách nhiệm của

Ngân hàng

Ngân hàng chỉ thực hiện đúng nghiệp

vụ chuyển tiền khi được yêu cầu

Ngân hàng chỉ thực hiện đúng nghiệp

vụ nhờ thu khi được yêu cầu

Ngân hàng có trách nhiệm cao (phải thanh toán cho người hưởng lợi) trong trường hợp bên xuất khẩu xuất trình được

bộ chứng từ hợp lệ

Trang 22

1.2 Tài trợ tín dụng xuất nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng

từ

Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động thương mại quốc tế ngày nay Hoạt động kinh tế đối ngoại không chỉ riêng đối với các doanh nghiệp lớn mà kể cả các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng thu được kết quả tốt đẹp trong quá trình hội nhập ngày nay

Để thực hiện thành công nghiệp vụ xuất khẩu, bên cạnh vấn đề chất lượng và khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu của sản phẩm, chúng ta cần quan tâm đến vấn đề tài trợ tín dụng trong nghiệp vụ xuất khẩu Sự phát triển ngày càng tăng trong hoạt động ngoại thương và số doanh nghiệp tham gia hoạt động này ngày càng lớn đã làm cho nhu cầu về hoạt động tài trợ ngày càng trở nên cấp thiết Việc tạo điều kiện thuận lợi về tài chính cũng là công cụ của hoạt động cạnh tranh bên cạnh các yếu tố như giá cả, lao động rẻ, nguồn nguyên liệu dồi dào, chất lượng sản phẩm, thời hạn cung ứng và dịch

vụ thương mại,… Hoạt động ngoại thương càng phát triển thì các hình thức thanh toán cũng đa dạng và tất yếu dẫn đến sự đa dạng của các hình thức cho vay xuất nhập khẩu Mỗi một hình thức thanh toán đòi hỏi phải có một hình thức tài trợ tài chính tương ứng, phục vụ nó và đảm bảo cho nó Ngược lại hoạt động tài trợ tín dụng XNK là cơ sở để tạo lòng tin cho bạn hàng trong thương mại, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình lưu thông hàng hóa, tạo nên sức mạnh cạnh tranh Phương thức tín dụng chứng từ là một phương thức thanh toán rất phổ biến trong hoạt động ngoại thương Vì vậy, các Ngân hàng thương mại hiện nay luôn tìm tòi và cung cấp các sản phẩm tín dụng rất đa dạng nhằm đáp ứng cho mọi nhu cầu của các đối tượng có liên quan theo hình thức này

1.2.1 Tài trợ nhập khẩu: Về hình thức, tài trợ nhập khẩu là các khoản Ngân

hàng cho người nhập khẩu vay với mục đích là thanh toán tiền hàng cho người xuất khẩu, có ba hình thức phổ biến sau:

Trang 23

1.2.1.1 Hình thức mở L/C thanh toán hàng nhập khẩu:

Khi phát hành một L/C nhập khẩu thì xem như Ngân hàng đã thực hiện một cam kết thanh toán cho người hưởng lợi nếu người hưởng lợi xuất trình đầy đủ và hợp lệ các chứng từ theo quy định của L/C bất chấp nhà nhập khẩu có đồng ý thanh toán hay không Và lúc đó xem như Ngân hàng đã cấp một khoản tín dụng cho nhà nhập khẩu

Vì vậy có thể nói đây là hình thức thể hiện sự tài trợ của Ngân hàng dành cho các nhà nhập khẩu Ngân hàng sau khi thẩm định hồ sơ mở L/C của nhà nhập khẩu (đánh giá tình hình tài chính, tư cách pháp nhân, mặt hàng nhập khẩu, phương án sản xuất kinh doanh, thẩm định tài sản thế chấp,…) sẽ đề xuất một mức ký quỹ cho hình thức mở L/C này

Ký quỹ là một quy định của Ngân hàng phát sinh trong trường hợp khách hàng xin đựợc bảo lãnh Khách hàng sẽ phải nộp một khoản tiền nhất định vào tài khoản của

họ tại Ngân hàng bảo lãnh và khoản tiền đó sẽ được phong tỏa cho đến khi nghĩa vụ bảo lãnh của Ngân hàng chấm dứt Thường khoản tiền này được tính tỉ lệ với giá trị mà khách hàng xin bảo lãnh Trong trường hợp thiếu sự tin cậy hoặc hiệu quả thương vụ tiềm ẩn rủi ro cao, Ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng ký quỹ 100% giá trị mà khách hàng xin bảo lãnh Ngược lại, nếu khách hàng tốt, dự án có độ rủi ro thấp thì mức ký quỹ sẽ thấp

Ý nghĩa của việc ký quỹ

Ký quỹ nhằm hạn chế rủi ro cho Ngân hàng trong quá trình thực hiện bảo lãnh cho khách hàng Trường hợp Ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay cho khách hàng, tiền ký quỹ sẽ được sử dụng trước để thanh toán cho người thụ hưởng bảo lãnh, phần còn lại Ngân hàng mới sử dụng vốn của mình thanh toán sau

Ký quỹ nhằm khẳng định khách hàng có năng lực nhất định về vốn và ràng buộc khách hàng làm tròn nghĩa vụ của người được bảo lãnh Trong thanh toán quốc tế khách hàng phải thực hiện ký quỹ khi đề nghị Ngân hàng phát hành thư tín dụng,

Trang 24

1.2.1.2 Tài trợ thanh toán bộ chứng từ giao hàng: Ngân hàng mở L/C tiếp

nhận bộ chứng từ, có 5 ngày để kiểm tra xử lý chứng từ đưa ra ý kiến thanh toán hoặc

từ chối thanh toán

Đối với nhà nhập khẩu thì hàng vừa cập cảng phải lo chuẩn bị tiền nộp cho Ngân hàng để thanh toán cho nhà xuất khẩu, thì mới nhận được chứng từ để nhận hàng, bán hàng và thu hồi vốn Đó là khoảng thời gian khá dài, do đó nhà nhập khẩu cần có khoản tài trợ vốn từ Ngân hàng, vay Ngân hàng để thanh toán tiền nhập khẩu hàng hóa Ngân hàng sẽ tiến hành thẩm định tính toán hiệu quả sử dụng vốn vay và khả năng tài chính, khả năng trả nợ, thế chấp tài sản để quyết định Khi thẩm định Ngân hàng chú ý một số vấn đề như sau:

Đảm bảo tín dụng: Thông thường phải có tài sản thế chấp để đảm bảo khoản nợ vay Nếu không có tài sản thế chấp thì phải thế chấp bằng chính lô hàng nhập khẩu Ngân hàng phải xem xét cẩn thận về uy tín của khách hàng, tình hình tài chính, lô hàng phải dễ tiêu thụ trên thị trường, giá cả ổn định đồng thời không bị giảm giá quá đột ngột, nếu khách hàng không nhận hàng thì ngân hàng có thể phải chịu rủi ro

Mức tài trợ: Tùy theo sự thẩm định của Ngân hàng đưa ra tỷ lệ tài trợ, nhưng phải nằm trong hạn mức tín dụng của đơn vị và giới hạn dư nợ cho phép của Ngân hàng Tất cả các công đoạn này phải được thực hiện trước khi bộ chứng từ giao hàng của người xuất khẩu về đến Ngân hàng tài trợ, trường hợp bộ chứng từ giao hàng đã về rồi mà khách hàng mới xin tài trợ thanh toán thì khả năng bị Ngân hàng từ chối tài trợ

là rất lớn vì Ngân hàng có rất ít thời gian xem xét bộ chứng từ cũng như đánh giá khả năng hoàn vốn của khách hàng cho khoản tiền mà Ngân hàng tài trợ

1.2.1.3 Cho vay bắt buộc: Cho vay bắt buộc về nội dung cũng là cho vay thanh

toán bộ chứng từ giao hàng Tuy nhiên tình trạng vay bắt buộc phát sinh khi người nhập khẩu không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ theo giá trị mà bộ chứng từ giao hàng yêu cầu (bộ chứng từ hợp lệ) Ngân hàng khi đó sẽ cho vay trên giá trị tiền

Trang 25

hàng còn thiếu để thanh toán đúng hạn cho Ngân hàng nước ngoài Người nhập khẩu nên tránh tình trạng phát sinh nợ vay bắt buộc do họ phải chịu lãi suất cho khoản tiền này tương ứng với lãi suất quá hạn mà Ngân hàng quy định, bởi tính chất của món vay bắt buộc là nợ quá hạn Hơn nữa thời gian vay bắt buộc không quá 30 ngày kể từ ngày Ngân hàng trả thay, áp lực thanh toán nợ vay cho Ngân hàng là rất lớn Tuy nhiên vì món vay bắt buộc mang tính chất nhất thời nên khách hàng phát sinh vay bắt buộc không hẳn là khách hàng không lành mạnh, món vay phát sinh thường do họ không tính toán chính xác trong kế họach tài chính hoặc gặp những biến cố bất ngờ trong quá trình sản xuất kinh doanh Xác định quan điểm này cho cán bộ Ngân hàng là cần thiết

vì từ đó họ sẽ có cách hành xử phù hợp đối với khách hàng

1.2.2 Tài trợ xuất khẩu: Về hình thức tài trợ xuất khẩu là khoản Ngân hàng

cho người xuất khẩu vay với mục đích bổ sung vốn lưu động cho doanh nghiệp để họ

có khả năng thực hiện hợp đồng ngoại thương đã ký và giúp cho doanh nghiệp liên tục sản xuất kinh doanh, không bị hụt vốn trong thời gian chờ tiền thanh toán hàng hóa của đối tác nước ngoài Hiện có các hình thức tài trợ sau:

1.2.2.1 Tài trợ vốn lưu động trong giai đoạn chuẩn bị hàng xuất: Sau khi ký

kết hợp đồng ngoại thương và người nhập khẩu nước ngoài đã chuẩn bị các bước cần thiết quy định trong hợp đồng như yêu cầu ngân hàng phát hành thư tín dụng, thì người

xuất khẩu bước vào giai đoạn chuẩn bị hàng xuất

Giai đoạn chuẩn bị hàng xuất bao gồm: Thu mua nguyên vật liệu (nông sản, hải sản,…), gia công, chế biến nguyên vật liệu tạo thành phẩm Với những giá tri hợp đồng lớn, thời gian tạo thành phẩm dài, người xuất khẩu thường không đủ vốn lưu động để chuẩn bị cho lô hàng xuất vì vốn nằm trong cả ba khâu: Nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang và thành phẩm chờ xuất khẩu Do vậy, người xuất khẩu phải nhờ vào sự tài trợ của Ngân hàng trong giai đoạn này Họ đến Ngân hàng và xuất trình các chứng từ chứng minh mục đích sử dụng vốn tài trợ như hợp đồng ngoại thương, tín dụng thư, tài

Trang 26

sản thế chấp,…Sau khi xem xét, Ngân hàng quyết định hạn mức tài trợ cho giai đọan này (thông thường không vượt quá 70% giá trị lô hàng xuất khẩu và do Ngân hàng yêu cầu người xuất khẩu phải tham gia vốn tự có nhằm tăng cường trách nhiệm của người xuất khẩu trong giai đọan chuẩn bị hàng xuất) Thủ tục tiến hành tài trợ trong hình thức này tương tự một hợp đồng tín dụng nội địa thuần túy

1.2.2.2 Chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất: Khi nhà xuất khẩu có toàn quyền

sở hữu đối với bộ chứng từ hàng xuất, mà bộ chứng từ này thể hiện nội dung và giá trị hàng hóa đã chuyển giao, người bán có thể nhận được khoản tín dụng ứng trước bằng cách chiết khấu bộ chứng từ này Qua đó người xuất khẩu được bù đắp nguồn vốn để tiếp tục kinh doanh trong suốt thời gian kể từ khi gửi hàng cho đến khi nhà nhập khẩu chấp nhận bộ chứng từ và đồng ý trả tiền Cơ sở của khoản tín dụng này là việc Ngân hàng có toàn quyền đối với bộ chứng từ hàng xuất

Các Ngân hàng thường ký với các khách hàng của mình (các nhà xuất khẩu) một hạn mức tín dụng để sử dụng cho mục đích vay này Theo hình thức này, khoản tín dụng được cấp cho nhà xuất khẩu căn cứ vào giá trị của bộ chứng từ, tính phù hợp của

bộ chứng từ, mặt hàng xuất khẩu Hiện nay, tỉ lệ chiết khấu tối đa của các Ngân hàng thương mại thường là 90% giá trị bộ chứng từ phù hợp (theo các điều khoản quy định trong L/C)

Chiết khấu có 2 hình thức

Chiết khấu truy đòi: là hình thức chiết khấu mà Ngân hàng sau khi thanh toán tiền hàng cho nhà xuất khẩu có quyền truy đòi tiền nếu bộ chứng từ không được thanh toán Chiết khấu miễn truy đòi: là hình thức chiết khấu mà Ngân hàng sau khi thanh toán tiền hàng cho nhà xuất khẩu không có quyền truy đòi tiền nếu bộ chứng từ không được thanh toán

Hiện nay đa phần khi chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất các Ngân hàng thương

mại đều áp dụng hình thức chiết khấu có truy đòi

Trang 27

1.3 Các rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ

1.3.1 Rủi ro pháp lý, chính trị quốc gia: là khả năng một người đi vay dưới

dạng nhập khẩu hàng trả ngay hoặc hàng trả chậm, không muốn hoặc không thể thực hiện nghĩa vụ cam kết của mình Rủi ro quốc gia có thể tồn tại dưới các dạng như rủi ro

về chính trị: xảy ra chiến tranh, biểu tình, khủng bố; rủi ro về thiên tai: động đất, núi lửa; rủi ro về kinh tế: khủng hoảng tài chính, áp dụng chính sách mới về hạn chế nhập khẩu, không cho phép nhà nhập khẩu nhận hàng hoặc tịch thu hàng hóa nhập khẩu; hay rủi ro về quản lý ngoại hối: hạn chế hoặc cấm chuyển tiền ra nước ngoài Chẳng hạn,

do những biến động về chính trị trong nước và dự trữ ngoại hối của quốc gia bị hạn hẹp, trong những năm 1995-1999, chính phủ các nước Argentina, Peru và Brazil đã hạn chế việc thanh toán nợ bằng ngoại tệ mạnh của các công ty trong nước cho nước ngoài Trong trường hợp này nếu không nghiên cứu kỹ tình hình của quốc gia này mà tiến hành ký kết các hợp đồng ngoại thương, nhà xuất khẩu Việt Nam sẽ bi mất trắng hàng hóa vì không được thanh toán, khi đó, nhà xuất khẩu Việt Nam và Ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu không có cơ hội khiếu nại lên tòa án địa phương và tòa án quốc tế

1.3.2 Rủi ro ngoại hối: Đối với các tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu, vấn

đề về tỷ giá rất quan trọng Tức là chỉ cần một sự biến động ngoài dự đoán về tỷ giá cũng làm cho tình hình kinh doanh của các nhà xuất nhập khẩu bị ảnh hưởng rất nhiều Chẳng hạn, một doanh nghiệp xuất khẩu nhận được một khoản tiền thanh toán từ nước ngoài cho một lô hàng xuất khẩu vào thời điểm tỷ giá bị tụt xuống, doanh nghiệp sẽ bị

lỗ một khoản chênh lệch giữa lượng tiền bỏ ra lúc làm hàng xuất khẩu và lượng tiền thu về từ lượng tiền ngoại tệ bán ra (với tỷ giá thấp) khi nhận được tiền thanh toán của đối tác nước ngoài Ngược lại, doanh nghiệp nhập khẩu sẽ mất thêm một khoản tiền do chênh lệch tỷ giá giữa thời điểm ký hợp đồng (với tỷ giá thấp) và thời điểm thanh toán (tỷ giá cao) Điều này cho thấy rằng biến động tỷ giá càng mạnh thì rủi ro ngoại hối càng lớn

Trang 28

Hai rủi ro trên đây hiện đang là hai vấn đề nổi trội tại Việt Nam Chúng ta sẽ làm

rõ hơn hai rủi ro này trong phần phân tích những rủi ro tại NHNo&PTNT Việt Nam

1.3.3 Rủi ro đối tác: Rủi ro này phát sinh do bởi các nhà kinh doanh xuất nhập

khẩu, các ngân hàng đại lý tham gia vào hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình Điều này được thể hiện rõ qua các hình thức như: người bán không giao hàng theo đúng hợp đồng (xét về mặt thời gian, số lượng, chủng loại,…) Người mua chậm thanh toán do chưa chuẩn bị kịp tiền thanh toán, thanh toán không đủ, hoặc thậm chí từ chối thanh toán dù người bán đã cung ứng hàng hóa, người mua bị mất khả năng chi trả, vỡ nợ, phá sản; bất đồng về xử lý nghiệp vụ giữa các ngân hàng đại lý, sự yếu kém về công tác quản lý khách hàng của Ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu cộng với tình trạng mất khả năng thanh toán, phá sản của các Ngân hàng này

Ngoài các rủi ro trên, thanh toán XNK còn gặp phải những rủi ro khác như: rủi ro bất khả kháng, lừa đảo (người mua lừa người bán, hoặc người bán lừa người mua, hoặc người mua và nguời bán thông đồng để chiếm đoạt các khoản tài trợ của Ngân hàng), rửa tiền, …

1.3.4 Rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng trong thanh toán xuất nhập khẩu thường xuất phát từ những rủi ro trong thanh toán và những nguyên nhân biến động của nền kinh tế trong nước

Ví dụ, đối với L/C xuất khẩu, do rủi ro trong thanh toán, tiền về muộn hơn so với

kỳ hạn cho vay, hoặc do đối tác không chịu thanh toán (vì bất kỳ lý do nào đó) dẫn đến công ty xuất khẩu không nhận được tiền hàng và dẫn đến tình trạng công ty xuất khẩu

bị quá hạn món vay trên

Hoặc đối với L/C nhập khẩu, khi tài trợ thanh toán mua hàng, đến khi hàng hóa

về, do giá cả thị trường trong nước biến động (giảm so với tại thời điểm nhập hàng), nhà nhập khẩu không chịu bán lô hàng đó hoặc bán với giá thấp, bị lỗ trong kinh

Trang 29

doanh, dẫn đến ảnh hưởng khả năng thanh toán nợ vay của nhà nhập khẩu và món vay

đó có nguy cơ quá hạn rất cao

1.3.5 Rủi ro về kỹ thuật, nghiệp vụ

1.3.5.1 Rủi ro trong thanh toán hàng xuất khẩu:

Là những rủi ro phát sinh trong quá trình Ngân hàng tiếp nhận, xử lý và thực hiện

L/C xuất khẩu Thông thường, gồm những rủi ro sau:

Rủi ro trong khâu thông báo, sửa đổi L/C: bất kỳ sự chậm trễ hay thiếu chính xác

về việc thông báo L/C của Ngân hàng thông báo dẫn đến thương vụ không thành, Ngân hàng phát hành hoặc người thụ hưởng có thể khởi kiện Ngân hàng thông báo nhằm yêu cầu đền bù thiệt hại xảy đến với họ

Rủi ro trong khâu xác nhận chữ ký: Ngân hàng thông báo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính chân thực của L/C Trong trường hợp Ngân hàng không xác định được L/C có thực hay không mà vẫn thông báo cho khách hàng thì Ngân hàng phải hoàn toàn chịu trách nhiệm hoàn trả số tiền cho nhà xuất khẩu trong trường hợp nhà xuất khẩu giao hàng theo đúng quy định của L/C mà không được thanh toán (do L/C giả mạo)

Rủi ro trong khâu kiểm tra và xử lý chứng từ: Ngân hàng có trách nhiệm kiểm tra thật kỹ chứng từ hàng xuất khi nhà xuất khẩu xuất trình chứng từ Vì chỉ cần bất kỳ một sơ sót nào trong việc kiểm tra dẫn đến việc không phát hiện ra lỗi của bộ chứng từ, làm bộ chứng từ bất hợp lệ, đủ yếu tố và lý do cho việc có thể chậm thanh toán hoặc từ chối thanh toán của nhà nhập khẩu Hơn nữa, việc kiểm tra sai sót như vậy cho thấy trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng còn thấp, gây mất lòng tin nơi khách hàng xuất khẩu và giảm chất lượng dịch vụ mà ngân hàng cung ứng cho khách hàng

Rủi ro trong việc gửi chứng từ: Ngân hàng phải chịu trách nhiệm đối với những tổn thất do không thực hiện đúng các quy định của L/C về việc gửi chứng từ như: số lần (chia chứng từ gửi thành mấy lot), thời gian gửi, chọn lựa dịch vụ chuyển phát, sai sót về tên và địa chỉ của người nhận,…

Trang 30

Rủi ro trong việc đòi tiền: Ngân hàng có thể bị từ chối thanh toán do bộ chứng từ bất hợp lệ, hoặc phải đợi ngân hàng hoàn trả xin chỉ thị của ngân hàng phát hành, kéo dài thêm thời gian chờ đợi của người xuất khẩu hoặc bị ngân hàng hoàn trả đòi lại tiền theo yêu cầu của ngân hàng phát hành Điều này xảy ra khi ngân hàng phát hành nhận được bộ chứng từ, kiểm tra và tìm thấy lỗi trong bộ chứng từ, tiến hành thông báo cho người mở L/C và nhận được yêu cầu ‘từ chối thanh toán’ nhưng lúc đó ngân hàng hoàn trả đã thực hiện việc thanh toán theo thư đòi tiền của Ngân hàng đại diện cho nhà xuất khẩu

1.3.5.2 Rủi ro đối với thanh toán hàng nhập khẩu:

Là những rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện, xử lý L/C nhập khẩu, gồm những rủi ro sau:

Rủi ro trong phát hành L/C: Việc phát hành L/C luôn mang yếu tố bảo lãnh và tiềm ẩn rủi ro khi người mở ký quỹ không đủ giá trị L/C, thậm chí không ký quỹ Vào thời điểm thanh toán nếu có vấn đề từ người mua: như không xoay kịp vốn, mất khả năng thanh toán hoặc phá sản, Ngân hàng phát hành phải thanh toán cho người thụ hưởng bằng nguồn vốn tự có

Rủi ro khi bảo lãnh nhận hàng: Ngân hàng phát hành bảo lãnh chứng thư nhận hàng phải chịu trách nhiệm thanh toán cho người xuất khẩu bất kể bộ chứng từ có phù hợp với quy định của L/C hay không Vì vậy, để hạn chế rủi ro, khi phát hành bảo lãnh nhận hàng Ngân hàng thường yêu cầu khách hàng nhận nợ vay hay nộp đầy đủ tiền ký quỹ cho toàn bộ lô hàng được phát hành bảo lãnh nhận hàng Và khi bộ chứng từ về đến ngân hàng thì Ngân hàng sẽ lấy một bản B/L gốc ra hãng tàu đổi lại chứng thư phát hành bảo lãnh nhận hàng

Rủi ro trong khâu thanh toán L/C: Rủi ro phát sinh ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng Theo UCP 600, việc không nhận được bộ chứng từ bản chính (bị thất lạc trong quá trình chuyển giao chứng từ từ ngân hàng xuất trình đến ngân hàng phát hành) nhưng ngân hàng xuất trình chứng minh được mình đã gởi chứng từ và người xuất

Trang 31

khẩu xuất trình chứng từ theo đúng quy định của L/C, thì lúc này người yêu cầu mở L/C vẫn phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán đối với nhà xuất khẩu Tuy nhiên, nếu người yêu cầu mở không có khả năng thanh toán thì ngân hàng phát hành phải gánh chịu mọi rủi ro này

Rủi ro trong khâu kiểm tra và xử lý chứng từ: Ngân hàng có trách nhiệm kiểm tra chứng từ và xử lý chứng từ trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận chứng

từ (theo UCP 600) Việc kiểm tra chứng từ phải tuân thủ theo đúng tinh thần của UCP

600, ISBP và L/C quy định Việc xác định bộ chứng từ bị lỗi phải rõ ràng và có lý luận chặt chẽ, tránh tình trạng bắt lỗi bừa bãi, cẩu thả Ngân hàng sẽ mất quyền từ chối chứng từ bất hợp lệ và phải thực hiện thanh toán bất kể tính bất hợp lệ của chứng từ khi:

- Thông báo chứng từ bất hợp lệ vượt quá 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được

cơ xâm nhập vào hệ thống thực hiện các giao dịch bất hợp pháp, gây tổn hại nghiêm trọng cho ngân hàng

Thành lập các phòng nghiệp vụ chuyên sâu phụ trách chuyên về một loại nghiệp

vụ trong thanh toán quốc tế Mỗi phòng phụ trách chuyên sâu về nghiệp vụ của mình

Trang 32

như phòng xuất thì tiếp nhận và xử lý L/C xuất, phòng nhập tiếp nhận và xử lý L/C nhập Có như vậy trình độ nhân viên sẽ chuyên sâu và lành nghề hơn và có thể tránh một số rủi ro không đáng có xảy ra trong quá trình thực hiện nghiệp vụ

Thiết lập hệ thống ngân hàng đại lý rộng khắp trên toàn thế giới, tăng cường hợp tác quốc tế trong hoạt động thanh toán quốc tế Tận dụng mối quan hệ đại lý nhận điện trực tiếp từ các ngân hàng phát hành L/C, giảm bớt thời gian xác nhận chữ ký của người có thẩm quyền trên L/C trong việc phát hành L/C bằng thư (do không có quan hệ đại lý) Dựa vào mối quan hệ từ các ngân hàng đại lý chúng ta có thể khai thác và thu thập thông tin về đối tác của khách hàng, tư vấn cho khách hàng của ngân hàng chúng

ta trong việc ký kết các hợp đồng ngoại thương Việc giúp khách hàng của ngân hàng chúng ta hạn chế rủi ro trong giao dịch ngoại thương chính là hạn chế rủi ro cho chính ngân hàng

Thực hiện các biện pháp hạn chế rủi ro cho các nghiệp vụ liên quan đến thanh toán quốc tế như:

- Hạn chế rủi ro thông qua kiểm soát chặt chẽ các kỹ thuật thực hiện nghiệp vụ:

L/C nhập

Đơn yêu cầu mở L/C: thẩm tra chữ ký có thẩm quyền, xem xét tín dụng trên cơ sở rủi ro tín dụng và các rủi ro khác, xem xét nội dung yêu cầu mở L/C có tương phản không, có dấu hiệu gian lận thương mại hay không

Phát hành L/C: L/C được thanh toán bởi Ngân hàng phát hành hay tự do chiết khấu, ấn định rõ thông lệ quốc tế được áp dụng, yêu cầu của L/C có phù hợp với thông

lệ này hay không

Kiểm tra chứng từ: phải qua hai cấp: nhân viên nghiệp vụ và sự kiểm soát của lãnh đạo phòng, kiểm tra chứng từ một cách cẩn thận với lưu ý: dù ngân hàng chiết khấu có nói rõ là chứng từ phù hợp trên Letter cover gửi ngân hàng phát hành nhưng ngân hàng phát hành vẫn phải kiểm tra lại chứng từ theo các điều kiện và điều khoản

mà L/C quy định

Trang 33

L/C xuất

Thông báo L/C phải xác định được tính chân thực của L/C một cách nghiêm túc, xem xét toàn bộ nội dung L/C một cách cẩn trọng để xác định vai trò của Ngân hàng trong giao dịch chỉ đơn thuần là ngân hàng thông báo hay còn vai trò khác (Ngân hàng xác nhận, Ngân hàng chỉ định chiết khấu,…)

Kiểm tra chứng từ: cũng qua 2 cấp: nhân viên nghiệp vụ và sự kiểm soát của lãnh đạo phòng

Chiết khấu chứng từ: phải xác định mức độ phù hợp của bộ chứng từ chiết khấu,

tỷ lệ chiết khấu và lãi suất chiết khấu

Khi xác nhận L/C hay chiết khấu chứng từ, cần xem xét những yếu tố sau:

v Uy tín của người phát hành L/C (Người mở L/C hay Ngân hàng mở L/C)

v Uy tín của người phát hành trong lĩnh vực thương mại, họ sẽ làm gì để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán của mình

v Tính khả thi của việc thực hiện đúng những nghĩa vụ được ràng buộc trong L/C

v Tính chuyên nghiệp của ngân hàng phát hành trong việc xử lý các giao dịch L/C

v Chính phủ của quốc gia của người phát hành có cho phép có cho họ được thực hiện nghĩa vụ thanh toán bằng ngoại tệ đã quy định trong L/C hay không

v Các điều kiện bất khả kháng (chiến tranh, thảm họa thiên nhiên,…)

- Hạn chế rủi ro tỷ giá bằng việc cung cấp các sản phẩm phái sinh về tiền tệ: như mua bán kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn,…

Chủ động nắm bắt thông tin thị trường, giá cả, biến động của từng ngành hàng, đặc biệt là diễn biến tăng giảm giá của một số mặt hàng xuất nhập khẩu có liên quan đến lĩnh vực tín dụng của Ngân hàng để kịp thời cảnh báo đến các phòng nghiệp vụ để thận trọng hơn trong công tác tài trợ, mở L/C nhập khẩu hay chiết khấu hàng xuất khẩu

Trang 34

Trên cơ sở thu thập thông tin khách hàng từ các nguồn thông tin có thể tiếp cận được, phân tích, đánh giá tình hình hoạt động của các doanh nghiệp, phân loại sàng lọc khách hàng và đưa ra các đề xuất định hướng phòng ngừa rủi ro đối với từng loại khách hàng như điều chỉnh tỷ lệ ký quỹ, quy mô tài sản thế chấp, hạn mức tín dụng, hạn mức mở L/C, hạn mức chiết khấu,…

Đa dạng hóa khách hàng: có những chính sách khuyến khích và thu hút mọi doanh nghiệp, hoạt động trong đủ mọi ngành nghề trong cả nước sử dụng dịch vụ thanh toán và tài trợ tín dụng theo phương thức tín dụng chứng từ của hệ thống ngân hàng ngoài những khách hàng truyền thống đã có trước đây Có như vậy, ngân hàng mới có thể phân tán rủi ro cho mình Ví dụ: nếu ngân hàng chỉ tập trung cho vay, phát triển các doanh nghiệp chủ yếu xuất hoặc nhập củng chủng loại hàng hóa thì khi giá cả hàng hóa

đó dao động thì sẽ ảnh hưởng đến một loạt các doanh nghiệp này Lúc đó, ngân hàng cũng sẽ rất khó khăn khi phải giúp các doanh nghiệp này đối phó với những khó khăn Nếu ngân hàng không đủ mạnh thì ngân hàng đó cũng sẽ bị ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh, có thể dẫn tới thua lỗ

Trong quá trình cung cấp và thực hiện dịch vụ, thường xuyên để ý những dấu hiệu của các giao dịch bất thường, phòng chống và ngăn chặn những gian lận thương mại Gian lận thương mại trong thanh toán xuất nhập khẩu là việc rửa tiền thông qua hệ thống ngân hàng hoặc xuất trình chứng từ giả mạo cho Ngân hàng nhưng trên thực tế không hề giao hàng nhằm mục đích lừa tiền của Ngân hàng

Cuối cùng là phòng ngừa rủi ro từ phía đối tác của Ngân hàng: phối kết hợp giữa phòng khách hàng với các phòng chức năng của Hội sở chính quan tâm hơn, tư vấn cho khách hàng trong khâu thẩm định dự án để tiến hành khâu xuất khẩu, nhập khẩu, lựa chọn các đối tác đáng tin cậy để giao dịch Thường xuyên tiến hành tham quan, giao lưu đối với những ngân hàng đối tác trong hoạt động TTQT của Ngân hàng mình

Trang 35

Kết Luận Chương I:

Là một trong những lĩnh vực hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại, thanh toán quốc tế ra đời và phát triển không ngừng như là một tất yếu khách quan Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động của mình, Thanh toán quốc tế không chỉ đơn thuần mang những lợi ích kinh tế mà còn phát sinh những nguy cơ có thể gây ra rủi ro, tổn thất trực tiếp cho đất nước, cho ngân hàng, cho các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu

Rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế của Ngân hàng thương mại là vấn đề xảy ra ngoài ý muốn trong quá trình tiến hành hoạt động thanh toán quốc tế và ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại

Trong chương I, luận văn đã đi vào nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về phương thức tín dụng chứng từ (một trong những phương thức thanh toán quốc tế phổ biến nhất hiện nay), trong đó tập trung tìm hiểu cơ bản như thế nào là phương thức tín dụng chứng từ, các hình thức tài trợ tín dụng cho phương thức tín dụng chứng từ mà các ngân hàng thương mại đã và đang thực hiện Từ đó đề cập đến các rủi ro trong thanh toán và tài trợ tín dụng theo phương thức tín dụng chứng từ xét theo môi trường

và nguyên nhân gây ra rủi ro như chính trị, pháp lý, hối đoái, đạo đức đối tác, kỹ thuật tác nghiệp,… Và cuối cùng là nêu lên những kinh nghiệm thực tiễn mà Ngân hàng Wachovia, N.A., Chi nhánh HongKong đã và đang áp dụng để hạn chế những rủi ro này

Trang 36

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VẬN DỤNG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI HỆ THỐNG NHNo&PTNT VIỆT NAM

2.1 Tổng quan về Ngân hàng No&PTNT Việt Nam

Thành lập ngày 26/3/1988, hoạt động theo Luật các Tổ chức Tín dụng Việt Nam, đến nay Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (NHNo) là Ngân hàng Thương mại quốc doanh không chỉ giữ vai trò chủ đạo và chủ lực trong đầu tư vốn phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy mọi lĩnh vực khác của nền kinh tế Việt Nam

NHNo là ngân hàng lớn nhất Việt Nam cả về vốn, tài sản, đội ngũ cán bộ nhân viên, mạng lưới hoạt động và số lượng khách hàng Đến cuối 2007, tổng tài sản đạt 321.444 tỷ đồng tương đương với trên 20 tỷ USD tăng 34,7% so với 2006 và là Ngân hàng thương mại có tổng tài sản lớn nhất Việt Nam Tổng nguồn vốn 305.671 tỷ đồng, tăng 31,8% so với năm 2006 Trong tổng dư nợ cho vay nền kinh tế 246.188 tỷ đồng, tăng 35,8% so với năm 2006, trong đó đầu tư cho khu vực nông nghiệp, nông thôn chiếm trên 70% Hoạt động kinh doanh của các công ty độc lập đều có lãi Trích lập dự phòng rủi ro 6.291 tỷ đồng cao nhất từ trước đến nay Toàn hệ thống NHNo có 1.568 chi nhánh; 24.000 cán bộ nhân viên và có quan hệ với trên 7.500 doanh nghiệp, 8 triệu

hộ sản xuất kinh doanh và trên năm mươi triệu khách hàng giao dịch các loại

Bên cạnh mở rộng hoạt động kinh doanh trong nước Agribank tiếp tục tăng cường quan hệ hợp tác, khai thác vốn của các tổ chức tài chính quốc tế và mở rộng kinh doanh hối đoái NHNo&PTNT Việt Nam có mạng lưới ngân hàng đại lý lớn với trên 931 ngân hàng, tổ chức tài chính quốc tế ở gần 113 quốc gia khắp các châu lục

Là ngân hàng đầu tư tích cực vào đổi mới và ứng dụng công nghệ ngân hàng phục

vụ đắc lực cho công tác quản trị kinh doanh và phát triển mạng lưới dịch vụ ngân hàng tiên tiến Hiện NHNo chú trọng hiện đại hóa công nghệ thông tin, kết nối thanh toán điện tử trên một ngàn chi nhánh trong cả nước, kết nối thành công hệ thống Banknetvn,

Trang 37

Visa, Master Hoạt động tín dụng, thanh toán được mở rộng đến các tập đoàn, tổng công ty, góp phần đáng kể trong thực hiện các dự án lớn của quốc gia Đến nay, NHNo hoàn toàn có đủ năng lực cung ứng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại, tiên tiến, tiện ích cho mọi đối tượng khách hàng trong và ngoài nước

Tất cả hoạt động trên góp phần đưa Agribank phát triển bền vững và an toàn

2.2 Tình hình thanh toán và tài trợ tín dụng xuất nhập khẩu tại hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam

2.2.1 Những thành tựu và kết quả: Với định hướng chiến lược, mục tiêu và

giải pháp kinh doanh đúng đắn, trong năm 2007, Agribank đã tạo được bước đột phá

trong mọi mặt, cụ thể:

Tăng trưởng nguồn vốn và nâng cao chất lượng tín dụng:

Nguồn vốn kinh doanh tiếp tục tăng mạnh Giai đoạn 2002-2007 đạt tốc độ tăng trưởng bình quân trên 28%/năm Năm 2007 tổng nguồn vốn đạt 305.671 tỷ đồng, tăng 31,8% so với năm 2006

Trong tổng nguồn vốn, tiền gửi của khách hàng và các khoản phải trả khách hàng chiếm tỷ trọng 76% Các khoản nợ chính phủ và Ngân hàng Nhà nước 8,5%, tiển gửi

và tiền vay từ các tổ chức tín dụng khác 5,8%, các nguồn vốn vay khác 9,7% với cơ cấu trên, Agribank luôn chủ động trong cân đối vốn đáp ứng các nhu cầu vay vốn của nền kinh tế Toàn hệ thống đã coi trọng công tác huy động vốn, đặc biệt là nguồn vốn trung và dài hạn thông qua đa dạng hóa các hình thức huy động; đẩy mạnh công tác tiếp thị, thực hiện tốt chính sách khách hàng, kiên trì với chủ trương khơi tăng nguồn vốn từ dân cư, góp phần tạo cân đối giữa nguồn vốn và nhu cầu cho vay nông nghiệp nông thôn

Đến 31/12/2007, tổng dư nợ cho vay và bảo lãnh đạt 246.188 tỷ đồng, tăng 35,8%

so với năm 2006, trong đó dư nợ cho vay nền kinh tế đạt 242.180 tỷ động Dư nợ ngoại

tệ quy đổi đến cuối 2007 đạt 21.009 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 8,7% tổng dư nợ và tăng 40,96% so với năm 2006

Trang 38

Trong đó:

Bảng 2.1: Dư nợ ngoại tệ (quy đổi) theo ngành nghề -Năm 2007

(Nguồn: Ngân hàng No&PTNT Việt Nam)

Agribank tiếp tục khẳng định nông nghiệp, nông thôn và nông dân là thị trường truyền thống đồng thời chú trọng mơ rộng cho vay khu vực kinh tế tư nhân Đến cuối năm 2007, Agribank đã đầu tư cho hơn 9 triệu hộ với số vốn gần 135.000 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 55,5% tổng dư nợ Tỷ trọng cho vay các doanh nghiệp thu mua và xuất khẩu hàng lương thực, thực phẩm, nông lâm thủy hải sản ngày cảng gia tăng

Một loạt các biện pháp triển khai nhằm nâng cao chất lượng tín dụng, cụ thể: Chỉnh sửa, ban hành quy chế và chính sách tín dụng đối với khách hàng Tháo gỡ kịp thới các vướng mắc về cơ chế chính sách liên quan đến tín dụng cho các chi nhánh Xây dựng cơ cấu đầu tư tín dụng phù hợp giữa các ngành, các thành phần kinh tế Xây dựng chính sách về lãi suất, phí, hạn mức tín dụng, đảm bào tiền vay trên cơ

sở xếp hạn khách hàng Nâng cao chất lượng kiểm tra chuyên đề tín dụng

Phân loại nợ và trích dự phòng rủi ro theo đúng quy định của Ngân hàng Nhà nước và bám sát thông lệ quốc tế, tích cực xử lý nợ tồn động của doanh nghiệp theo chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước,…

Tạo điểm nhấn trong quan hệ quốc tế:

Hoạt động quan hệ quốc tế năm 2007 có bước chuyển mới: chuyển từ thế bị động sang chủ động tiếp cận và khai thác các quan hệ hợp tác

Trong các chuyến tháp tùng lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Chính phủ thăm Mỹ và Pháp, Agribank đã ký kết một loạt các thỏa thuận quan trọng với các đối tác hàng đầu

Trang 39

thế giới như Ngân hàng Wachovia (Mỹ), tập đoàn Merrill Lynch (Mỹ), Microsoft (Mỹ), Standard Chartered Bank (Anh) trong các lĩnh vực cơ cấu lại bảng cân đối tài chính, xếp hạng tín nhiệm, tài trợ thương mại, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Lãnh đạo Agribank chủ trì nhiều hội nghị quốc tế quan trọng, đặc biệt Chủ tịch Hội đồng quản trị đã chủ trì thành công toàn bộ phần V của Đại hội Thế giới lần II về tài chính nông nghiệp và nông thôn Năm 2007, Tổng giám đốc Agribank nhận “Giải thưởng doanh nhân Asean”

Năm 2007, Agibank đặc biệt được cá nhân lãnh đạo tập đoàn tài chính, ngân hàng lớn trên thế giới quan tâm, đến thăm và đề xuất các quan hệ hợp tác, điển hình là chuyến thăm và làm việc của Đại sứ vương quốc Anh tại Việt Nam, phó chủ tịch tập đoàn JP Morgan (Mỹ), Barclay (Anh), Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Eximbank (Mỹ)

Thanh toán quốc tế: Tổng doanh số thanh toán quốc tế đạt 7.248 triệu USD vào

cuối năm 2007, tăng 1.107 triệu so với năm 2006; chất lượng thanh toán toàn hệ thống tiếp tục được nâng cao, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút khách hàng xuất, nhập khẩu

Bảng 2.2: Doanh số thanh toán quốc tế giai đoạn năm 2002 – 2007

Doanh số thanh toán quốc tế giai đoạn

năm 2002-2007

6,131

7,248 5,857

4,850

2,929 2,026

Trang 40

Trong đó, doanh số thanh toán hàng xuất khẩu đạt 3.192 triệu USD, tăng 26,3%

so với năm 2006 và chiếm khoảng 6,9% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước

Trong đó:

Bảng 2.3: Doanh số thanh toán hàng xuất khẩu theo các phương thức -Năm 2007

Phương thức thanh toán Doanh số (triệu USD) Tỷ trọng

(Nguồn: Ngân hàng No&PTNT Việt Nam)

Doanh số thanh toán hàng nhập khẩu đạt 4.056 triệu USD, tăng 12,2% so với năm

2006 và chiếm khoảng 7,1% tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước

Trong đó:

Bảng 2.4: Doanh số thanh toán hàng nhập khẩu theo các phương thức -Năm 2007

Phương thức thanh toán Doanh số (triệu USD) Tỷ trọng

(Nguồn: Ngân hàng No&PTNT Việt Nam)

Tốc độ tăng trưởng doanh số thanh toán hàng xuất khẩu 26% là tương đối tốt nếu

so với tốc độ tăng trưởng hàng xuất khẩu chung cả nước (18,1%) Tuy nhiên doanh số thanh toán hàng nhập khẩu (12,2%) chưa tương xưng với tốc độ tăng trưởng hàng nhập khẩu cả nước 30%

Ngày đăng: 27/03/2013, 16:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Quy trình thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ - 166 Hạn chế rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ tại hệ thống Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
Sơ đồ 1.1 Quy trình thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ (Trang 15)
Bảng 2.2: Doanh số thanh toán quốc tế giai đoạn năm 2002 – 2007 - 166 Hạn chế rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ tại hệ thống Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
Bảng 2.2 Doanh số thanh toán quốc tế giai đoạn năm 2002 – 2007 (Trang 39)
Bảng 2.3: Doanh số thanh toán hàng xuất khẩu theo các phương thức -Năm 2007 - 166 Hạn chế rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ tại hệ thống Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
Bảng 2.3 Doanh số thanh toán hàng xuất khẩu theo các phương thức -Năm 2007 (Trang 40)
Bảng 2.4: Doanh số thanh toán hàng nhập khẩu theo các phương thức -Năm 2007 - 166 Hạn chế rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ tại hệ thống Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
Bảng 2.4 Doanh số thanh toán hàng nhập khẩu theo các phương thức -Năm 2007 (Trang 40)
Bảng 2.5: Quan hệ Ngân hàng đại lý qua các năm 2002 – 2007 - 166 Hạn chế rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ tại hệ thống Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
Bảng 2.5 Quan hệ Ngân hàng đại lý qua các năm 2002 – 2007 (Trang 42)
Bảng 2.6: Doanh số mua bán ngoại tệ giai đoạn năm 2002 – 2007 - 166 Hạn chế rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ tại hệ thống Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
Bảng 2.6 Doanh số mua bán ngoại tệ giai đoạn năm 2002 – 2007 (Trang 43)
Bảng 2.4: Doanh số thanh toán biên giới giai đoạn năm 2002 – 2007 - 166 Hạn chế rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ tại hệ thống Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
Bảng 2.4 Doanh số thanh toán biên giới giai đoạn năm 2002 – 2007 (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w