1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

142 Nâng cao vai trò tín dụng Ngân hàng đối với sự phát triển kinh tế các tỉnh Nam Bộ

185 599 2
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Vai Trò Tín Dụng Ngân Hàng Đối Với Sự Phát Triển Kinh Tế Các Tỉnh Nam Bộ
Trường học University of Economics Ho Chi Minh City
Chuyên ngành Banking and Finance
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Ho Chi Minh City
Định dạng
Số trang 185
Dung lượng 4,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

142 Nâng cao vai trò tín dụng Ngân hàng đối với sự phát triển kinh tế các tỉnh Nam Bộ

Trang 1

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

HOC VIEN NGAN HANG

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

NÂNG CAO VAI TRÒ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ

thuận ngầy -

ĐẠI HỌC NGAN HANG TPR HO CHI MINK THU VIEN

Trang 2

Lời cam GOAN

Nhém ngién citu dé tai: “NÂNG CAO VAI TRÒ TÍN DỤNG

riêng

từ tình hình the tế nghiên cứu

THAY MẶT NHÓM ĐỀ TÀI

Chủ nhiệm để tài

TS NGUYÊN THỊ NHUNG

Trang 3

BANG VIET TAT CAC KY TU

DBSCL Đồng bằng sông Cửu Long

NHĐT-PT | Ngân hàng đầu tư và phát triển

Trang 4

DANH SÁCH BANG BUEU

TEN BANG, BIEU

SỐ TT

Bang 1 Tình hình tăng trưởng nguồn vốn hoạt động của các

TCTD Nam Bộ

tại ĐBSCL năm 1995 và năm 2000

Bảng 3 Cơ cấu tín dụng theo ngành sẩn xuất của các TCTD

tại một số tỉnh Nam Bộ năm 2000

quốc (theo giá so sánh 1994)

quốc (theo giá so sánh 1994)

1999-6/2001

1996 - 1999

so với cả nước (giá sơ sánh 1994)

Biểu 3 - Phụ lục I Giá trị sản xuất nông nghiệp 1995 ¬ 1998 của Nam Bộ

so với cả nước (giá hiện hành)

điểm 31/12 hàng năm)

Biểu 3 - Phụ lục 1 Thu nhập bình quân người/tháng theo nguồn thu của

các tỉnh Nam Bộ (theo giá hiện hành)

Biểu 6 - Phụ lục ï

Trang 5

PHU LUC 2 TĨNH HÌNH HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG TẠI CÁC TỈNH

Biểu 8 - Phụ lục 2 Cơ cấu tín dụng theo thời hạn của các chỉ nhánh

NHNo tại các tỉnh Nam Bộ 1998 _ 2000

CAC MAU HO SO DUNG TRONG CHO VAY ĐỐI

VỚI HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN, TỔ HỢP TÁC CỦA NHNO

Trang 6

đồi hỏi phải có thời gian và thực tiễn xử lý từ tầm vĩ mô mà các Chính phủ cần xem xét Song cũng cần thấy rằng việc mở rộng phạm vi tài sẵn giao dịch trong quan hệ tín dụng trong nền kinh tế mới là điểu cẩn được quan tâm nghiên cứu Thực tiễn đã đặt ra vấn để cẩn được xử lý cả về iý luận lẫn thực tiễn Tài sản trí tuệ đã khẳng định được giá trị và vai trò to lớn của nó trong thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của từng quốc gia riêng biệt cũng như đối với toàn cầu

Ngày nay người ta thường để cập tới nhiều loại tín dụng, tùy vào cách tiếp cận sự phản ánh các quan hệ vay mượn, các hình thức vay mượn, các trạng thái vay mượn, độ dài ngắn về thời gian vay mượn, thậm chí là các mục đích vay mượn, sự thỏa thuận giữa các bên vay mượn mà có thể phân biệt đến một mức nào đó các hình thức tín dụng khác nhau Và thông thường một khi các tổ chức tài chính tín dụng, ngân hàng trở nên phổ biển và nắm vai trò chủ yếu trong thu hút, điều hòa các nguồn tài sẵn trong nền kinh tế người tạ thường nghĩ đến tín dụng là hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng khác đối với các cá nhân, doanh nghiệp, các tổ chức kinh

tế, xã hội khác Như vậy về một khía cạnh não đồ người ta đã dùng thuật ngữ tín dụng dỗng nghĩa với cho vay

1.12 TIN DUNG NGAN HANG TRONG NEN KINH TE THI

TRƯỜNG

Tùy vào cách tiếp cận mà người ta có thể phân chia một cách tương đối các hình thức tín dụng trong nền kinh tế thị trường Sự ra đời của các hình thức tin dung là sự nối tiếp, bổ sung các hình thức tín dụng làm cho tín dụng ngày càng nâng cao vai trò của mình trong việc cấp tín dụng phát triển sản xuất, kinh doanh Việc phân định các hình thức tín dụng là cần thiết đối với việc quản trị chất lượng tín dụng Qua đó người ta tìm phương cách tối ưu hóa cho mỗi loại hình nhằm nâng cao hơn tính tiện ích, tính an toàn và khuếch đại lợi nhuận cho ngân hàng

Tín dụng thương mại (tín dụng hàng hóa)

Sau tín dụng nặng lãi, là sự xuất hiện tín dụng thương mại Quan hệ cho vay nặng lãi là manh nha của quan hệ tín dụng mà người ta cho rằng nó xuất hiện sớm nhất trong lịch sử quan hệ tín dụng Quan hệ cho vay nặng lãi cũng

là những quan hệ mang tính tất yếu của những vấn để kinh tế Tuy nhiên khi

Trang 7

mà nền sản xuất xã hội phát triển thì vai trò của nó được thay thế bởi các hình thức tín dụng khác Nói cách khác các hình thức tín dụng mới lần lượt ra đời theo nhu cầu đòi hỏi của sự phát triển kinh tế xã hội Có thể thấy rằng tín dụng thương mại ra đời sớm hơn các hình thức tín dụng khác và giữ vai trờ là

cơ sở để các hình thức tín dụng khác ra đời Đây là quan hệ tín dụng giữa các công ty xí nghiệp, các tổ chức kinh tế với nhau được thực hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hoá cho nhau Nhờ vào đó người bán tín dụng thương mại

có thể đẩy nhanh quá trình tiêu thụ hàng hóa, chiếm lĩnh thị trường, giúp giảm bớt các chí phí lưu kho, bảo quản Đối với người mưa tín dụng thương mại giúp

họ có được hàng để sản xuất kinh doanh, đầm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục Tín dụng thương mại là tín dụng giữa những người sản xuất kinh doanh, tuy là hình thức tín dụng phát triển rộng rãi nhưng không phải là loại tín dụng chuyên nghiệp

Đổi tượng của tín dụng thương mại là hàng hóa chứ không phải là tiền

tệ Sự vận động và phát triển của tín dụng thương mại gắn với sự phát triển của sản xuất vA trao đổi hàng hoá, khi sản xuất hàng hoá được phát triển và

mở rộng thì tín dụng thương mai cũng mở rộng và ngược lại khi sản xuất bị thu hẹp thì tín dụng thương mại cũng bị thu hẹp Tín dụng thương mại góp phần giải quyết các nhu cầu về vốn cho nền kinh tế, nhờ đó đấm bảo sản xuất kinh doanh không những duy trì một cách thường xuyên và còn có điều kiện để không ngừng mở rộng Tín dụng thương mại trực tiếp thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa, với ý nghĩa đó tín dụng thương mại còn có tác dụng trong việc thúc đẩy sự phát triển của nên kinh tế Tín dụng thương mại còn có tác dụng làm giảm lượng tiền mặt lưu hành nhờ mở rộng việc lưu thông thương phiếu, góp phần ổn định lưu thông tiển tệ

Nhận thức được vai trò của to lớn của tín dụng thương mại nói chung cũng như thương phiếu nói riêng trong việc thúc đẩy sự phát triển và ổn định nên kinh tế, ở Việt Nam trong quá trình chuyển đổi và từng bước hoàn thiện nên kinh tế thị trường trong Luật thương mại có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1998, đã cho phép các đơn vị, tổ chức kinh tế sử dụng thương phiếu để thanh toán trong hoạt động thương mại (Điển 220) các thương phiếu sử dụng bao gồm: hối phiếu và lệnh phiếu (Điểu 219) Với các quy định của Luật thương mại về việc sử dụng thương phiếu hy vọng rằng nó sẽ mở ra triển vọng lớn trong các giao dịch thương mại góp phần ổn định và thúc đẩy nền kinh tế phát triển

Trang 8

Mặc dù có vai trò quan trong trong nén kinh tế, song hình thức tín dụng thương mại vẫn có một số hạn chế của nó Đó là sự hạn chế về qui mô giao dịch, về mặt thời hạn giao dịch, về mặt phương hướng giao dịch Do tin dung thương mại chỉ có thể hình thành trên cơ sở tín nhiệm lẫn nhau giữa hai chủ thể mưa và bán với những giới hạn nhất định nên tín dụng thương mại không thể đáp ứng mọi nhu cầu của tái sản xuất trong nên kinh tế

Sự hạn chế của tín dụng thương mại được khắc phục bởi sự bổ sung các thế mạnh của các hình thức tín dụng khác Tuy vậy cũng cẩn phải khẳng định rằng sự tổn tại của các hình thức tín dụng trong tương tác, hỗ trợ lẫn nhau là một sự cẩn thiết tất yếu trong sự tiến triển của hoạt động tín dụng trong nên kinh tế thị trường

Tín dụng Nhà nước

Đây là quan hệ tín dụng giữa Nhà nước, bao gồm Chính phủ trung ương, Chính quyển dịa phương với các đơn vị và các cá nhân trong xã hội, trong đó chủ yếu là Nhà nước đứng ra huy động vốn của tổ chức và cá nhân bằng cách phát hành trái phiếu để sử dụng vì mục dích kinh tế, chính trị trong đối nội và đối ngoại cũng như mục đích mang lại lợi ích cho toàn xã hội

Trong xã hội còn phần hóa thành giai cấp điểu đương nhiên các Nhà nước mang tính giai cấp rõ rệt Nếu lột bỏ tính chất chính trị trong mục tiêu thực hiện các quan hệ tín dụng Nhà nước thì các vấn để kỹ thuật trong quan

hệ tín đụng là vấn để có tính chất tiến triển tự nhiên do tính chất của nền kinh

tế quy định Với cách tiếp cận như vậy chúng ta có thể thấy rằng về mặt phổ biến, tín dựng Nhà nước có thể thực hiện bằng hiện vật hoặc bằng hiện kim nhưng trong đó tín dụng bằng tiển là chủ yếu

Tín dụng nhà nước hoạt động bằng công cụ truyền thống và phổ biến của nó là trái phiếu Thông thường, căn cứ vào thời hạn người ta phân loại trái phiếu thành: Loại ngắn hạn có thời hạn dưới một nãm, loại trung hạn là loại

có thời hạn từ một đến ba năm, loại dài hạn trên ba năm,

Xét về cách tính và trả lãi cho trái phiếu thường có ba loại là: Trái phiếu lãi suất cố định, trái phiếu chiết khấu, trái phiếu trả lãi vào cuối kỳ

Trang 9

Tin dụng Nhà nước có hai chức năng chủ yếu Trước hết là chức năng

bù đấp thiếu hụt ngân sách Nhà nước nhằm giải quyết những thiếu hụt trong chỉ tiêu và cao hơn là bù đấp thiếu hụt trong đầu tư phát triển kinh tế, cũng như để tăng cường nguồn lực tải chính nhằm thực thi các chính sách quản lý vĩ

mô đối với nền kinh tế, xã hội Hai là chức năng phân phối lại nguồn vốn tài nguyên của xã hội phục vụ nhu cầu điểu hòa phân phối nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế, xã hội đất nước theo những mục tiêu, khuynh hướng mà Nhà nước hướng tới cả trong ngắn hạn và dài hạn

Tín dụng Nhà nước là loại tín dụng phát triển mạnh mẽ trong thời đại ngày nay, đặc biệt ở các nước phát triển có thị trường tài chính hoạt động hữu hiệu Ngoài ra trong điều kiện thị trường vốn các nước được quốc tế hóa, Nhà nước còn có thể phát hành loại trái phiếu huy động vốn ngoại tệ ở các nước

khác

Tín dụng quốc tế

Tin dụng quốc tế là quan hệ tín dụng giữa các chính phủ, giữa các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế được thực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau nhằm trợ giúp lẫn nhau để phát triển kinh tế xã hội của một nước hoặc giải quyết những vấn để về kinh tế xã hội theo những thỏa thuận của các

thành viên

Nền kinh tế mở ngày nay càng tạo điều kiện để tín dụng quốc tế hoạt động mạnh mẽ hơn Sự luân chuyển của các luồng tài chính nói chung trên thế giới là rất lớn Về mặt bản chất của vấn để có thể thấy rằng, yếu tố xã hội hóa của sản xuất ngày càng sâu rộng là cơ sở khoa học của những vấn để toàn cầu hóa mà trước hết là về kinh tế Cần lưu ý đến tính hai mặt của của toàn cầu hóa về kinh tế nói chung và quan hệ tín dụng nói riêng Đặc biệt là các điều kiện mang tính chất chính trị kèm theo của các khoản tín dụng Các nước lớn là những nước thường có ưu thế trong các quan hệ tín dụng mà những nước đang phát triển cẩn phải cân nhắc khi thực hiện các giao dịch tín dụng Một nguồn tài chính lành mạnh, sự phụ thuộc vào nước ngoài ở mức độ có cần nhắc thận trọng, khoa học là một điểu cần phải được hoạch định rất chỉ tiết cá trong quá trình vay vốn, sử dụng và trả nợ Tính hiệu quả trong quan hệ tín dụng quốc tế được đo lường bằng sự phát triển kinh tế đối với toàn bộ nên kinh tế xã hội được coi là một trong những điều kiện cẩn được đặt lên hàng đầu

Trang 10

Tin dụng ngân hàng

Trong “Cẩm nang HongKong Bank” chơ rằng đối với ngân hàng thương mại, tín dụng có nghĩa là sự cho vay hay ứng trước tiền do ngân hàng thực hiện

Từ cách để cập đó chúng ta thấy rằng thuật ngữ tín dụng chỉ việc ngần hàng chơ vay bằng tiễn

Trong sách Tín dụng ngân hàng do Nhà xuất bản Thống kê phát hành cho rằng, nếu tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàng thì tín dụng

(ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản của mình cho bên di vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điểu kiên vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán”

Với cách tiếp cận này cho thấy ngân hàng và các định chế tài chính khác cho vay bằng tiền hoặc tài sản kèm theo nguyên tắc người di vay phải hoàn trả vốn gốc và lãi cho người cho vay (ngân hàng, các định chế tài chính khác) khi đến thời hạn thanh toán đã được thỏa thuận trước

Theo Điều 20 của Luật các tổ chức tín dụng công bố ngày 26/12/1997,

có hiệu lực từ ngày 01/10/1998 thì “ tấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thôa thuận để khách hàng sử dụng một khodn tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khẩu, cho thuê tài chính, bảa lãnh Ngân hàng và các nghiệp vụ khác ”

Các cách tiếp cận nêu trên cho thấy quan hệ tín dụng là mối quan hệ giữa các ngân hàng với các xí nghiệp, tổ chức kinh tế, các tổ chức và các cá

nhân Để thực hiện được quan hệ này ngân hàng phải đứng ra huy động vốn bằng tiễn và cho vay lại (cấp tín dụng) Từ đó có thể thấy rằng, khác với tín

hệ thống các kỹ thuật nghiệp vụ hết sức đa dạng và phong phú

Từ những khái niệm trên cho phép chúng ta có thể đi đến một khái niệm tổng quát về tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng là sự giao dich vé

Trang 11

tai san, trong đó ngân hàng cho vay vốn đối với các chủ thể cần vốn trong nền kinh tế, các chủ thể này cam kết hoàn trả vốn cùng lãi cho ngân hàng theo đúng thời hạn như đã thỏa thuận

với nguyên tắc phải hoàn trả vốn vay và lãi suất của bên đi vay cho ngân hàng

Bản chất của tín dụng ngân hàng được thể hiện trên những đặc điểm chủ yếu sau:

- Ngân hàng cấp tín dung (cho vay) bằng tiền, hoặc cho thuê các tài sẵn

khác

nhu cầu của người cần vốn và cũng do quá trình đa dạng hóa các hoạt động tín

một yếu tố động lực thúc đẩy mạnh mẽ đối với nền kinh tế

tố quan trọng hàng đầu

khách hàng của mình khi cấp các khoản tín dụng Từ đồ có thể thấy rằng các

của khách hàng đối với ngân hàng Một khi phải xử lý đến tài sản bảo đầm thì cũng có nghĩa là khoản cấp tín dụng đã có vấn để

- Nguyên tíc hoàn trả vốn và lãi

Trang 12

Về nguyên tắc, giá trị hoàn trả của người vay tiễn cho ngân hàng phải

Lãi suất thực = Lãi suất danh nghĩa — Tỷ lệ lạm phát

bởi lãi suất chịu sự tác động đan xen của rất nhiều các yếu tố khác nhau như

hội, tác động của diều kiện tự nhiên, bối cảnh quốc tế Trong đó đáng kể là

Trong nên kinh tế tiễn tệ do nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến lạm

định giá trị tiền tệ ổn định và phát triển kinh tế, xã hội Các nhà kinh tế học

chục năm sau chiến tranh thế giới lần thứ II Đến nay các nước có nên kinh tế

nan kinh tế có dấu hiệu không ổn định Giải pháp này lưu ý chúng ta trong

đời sống kinh tế xã hội của mọi tầng lớp dân cư, các tổ chức kinh tế xã hội, vì vậy lãi suất ngân hàng là vấn để được quan tâm trong cả vĩ mô và vi mô, trong cá ngắn hạn và dài hạn

Trang 13

đa dạng và phong phú các công cụ mang tính chất nghiệp vụ kỹ thuật Trong

đó, các công cụ như kỳ phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiển gởi, các số tiết kiệm định mức hoặc không định mức

Trong việc phân phối quỹ chợ vay, ngân hàng sử dụng công cụ chủ yếu

là khế ước cho vay hoặc hợp đồng tín dụng những văn bản này mang tính pháp lý làm cơ sở cho phép ngân hàng thu hổi đẩy dủ vốn gốc và tiễn lãi theo thời hạn đã xác định

Các loại tín dụng ngân hàng hết sức phong phú Việc cho vay của ngân hàng đối với khách hàng về thực chất chỉ là đáp ứng các nhụ cầu chỉ tiêu não

đó của khách hàng như đầu tư cho sắn xuất kinh doanh thanh toán nợ nẵn, chỉ dùng cá nhân thông qua đó ngân hàng cùng chia sẻ lợi ích với khách hàng của mình Tuy nhiên sự vận hành của các khoản tín dụng lại không đơn giản chút nào bởi trong nên kinh tế thị trường đầy rẫy những rủi ro, nó có thể đổ ập đến bất cứ lúc nào Do đó, để phòng ngừa và hạn chế rủi ro cũng như nhằm tăng lợi nhuận, tăng cường đáp ứng tính đa dạng của nhụ cầu từ phía khách hằng, tăng tính hấp dẫn thu hút khách hàng các tổ chức tín dụng không ngừng hoàn thiện về mặt quản lý, tổ chức cũng như đáp ứng một cách tốt nhất các đòi hỏi của thị trường bằng cách không ngừng đa dạng hóa các hình thức cho vay Xuất phát từ thực tế đó, thy vào cách tiếp cặn mà người ta chia tín dụng ngân hàng thành nhiều loại khác nhau

+ Căn cứ vào thời hạn cho vay chia thành cho vay ngắn hạn, trung hạn

và cho vay đài hạn

+ Căn cứ vào mục đích cho vay chia ra cho vay bất động sản, cho vay công nghiệp thương mại, cho vay nông nghiệp, cho vay các định chế tài chính, cho vay cá nhân, cho thuê vận hành và cho thuê tài chính

+ Căn cứ vào cách thức hoàn trả món vay chia thành các loại cho vay

và trả nợ định ky theo théa thuận cụ thể trong hợp đồng và cho vay trả nợ không theo định kỳ nhưng đời nợ hay trả nợ phải báo trước một thời gian theo thỏa thuận trước trong hợp đồng

+ Căn cứ vào xuất xứ tín dụng chia thành cho vay trực tiếp và cho vay gián tiếp

Trang 14

+ Căn cứ mức độ tín nhiệm của ngân hàng đối với khách hằng phân chia thành cho vay có bảo đấm và cho vay không có bảo đẩm (cho vay có bảo lãnh và cho vay không có bảo lãnh)

Sự đa dạng các loại tín dụng của ngân hàng là một tiến trình phát triển lâu dài của các nghiệp vụ kỹ thuật ngân hàng Đó cũng chính là sự thích nghỉ của ngân hàng trong điểu kiện phát triển ngày cảng mạnh mẽ, ngày càng da dạng của nền kinh tế thị trường hiện đại Vì vậy cũng chẳng có gì lạ khi mà các ngân hàng vẫn luôn luôn trăn trở tìm kiếm phương cách để tiếp tục đa dạng hóa các hình thức tín dụng của mình nhằm thích ứng hơn nữa sự phát triển các nhu cầu về tín dụng của khách hàng

Tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường là quan hệ tín dụng đích thực với các yêu cầu và sự vận hành khách quan của nó dưới sự tác động vừa nghiêm ngặt vừa linh hoạt, đa dạng của các quy luật kinh tế thị trường Cần phải nhận thức đúng đắn sự tác động của các quy luật các phạm trù kinh

tế dến tín dụng Bởi lẽ nhận thức và phản ánh đúng đấn tính khách quan đó

hệ tín dụng Sự thuẫn túy hóa hoạt động tín dụng theo kiểu mua và bán cao hơn giá mua để lấy lời theo kiểu mua bán nhỏ không thể đáp ứng được vai trò điều hòa các nguồn vốn hữu hiệu để phục vụ phát triển toàn diện kinh tế, xã

hội được

Cho đến nay tín dụng ngân hàng vẫn là kênh chủ yếu tài trợ vốn cho nên kinh tế Giao dịch tài sản của ngân hàng chiếm từ 50% - 60% chu chuyển

ngân hàng cung ứng tới trên 70% nguồn vốn cho vay của nên kinh tế, cá biệt

triển, như nước Đức chẳng hạn, thì định chế ngân hàng vẫn được coi là kênh chủ yếu cung ứng và điều hòa vốn của nền kinh tế

Tác dụng của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế là hết sức to lớn 'Tác dụng đó được cơi như là đồn bẩy có đủ sức mạnh thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của nền kinh tế, Bởi tính chuyên nghiệp được nâng lên đến tầm

tượng trong xã hội, nó có thể xâm nhập vào thị trường với nhiều loại hình và qui mô hoạt động lớn, vừa và nhỏ Tín dụng ngân hàng cung ứng vốn cho nền

Trang 15

kinh tế theo nhu cầu với nhiều thời hạn khác nhau, nhờ đó giúp các doanh nghiệp không những có vốn kinh doanh mà còn có vốn để đổi mới thiết bị nhằm nâng cao năng lực sản xuất Hoạt động tín dụng ngân hàng tác động và ảnh hưởng lớn đến tình hình lưu thông tiền tệ của đất nước và đẩy nhanh tốc

độ chu chuyển tiền tệ,

Tín dụng ngân hàng đóng giữ một vai trò hết sức quan trọng trong nên kinh tế thị trường Với hoạt động của mình tín dụng ngân hàng đấp ứng như cầu vốn cho quá trình tái sản xuất xã hội theo khuynh hướng mở rộng Thông qua đó tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung von phát triển kinh tế góp phần thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước Với bản chất của tín dụng ngân hàng buộc các khách hàng vay vốn phải tăng cường hạch toán kinh tế để tổn tại và phát triển Tín dụng ngân hàng còn cứu giúp các ngành kinh tế thiết yếu trong khó khăn cũng như tài trợ cho những ngành kinh tế mới phát triển Tín dụng ngân hàng góp phần phát huy nội lực như là một dối trọng trong thu hút dầu tư nước ngoài, góp phần phát triển quan hệ kinh tế quốc tế Tín dụng ngân hàng là một trong những yếu tố quan trọng trong việc góp phần giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa đối với nước tá

1.1.3 QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

TRONG NÊN KINH TẾ NƯỚC TA - THÀNH TỰU VÀ TRIỂN VỌNG

Quá trình, thành tựu và triển vọng

Tinh thần đổi mới nền kinh tế xã hội nước ta từ Nghị quyết Đại hội Đăng toàn quốc lần thứ VI được đánh giá như luỗng gió mới thổi vào đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước Tinh thần đó ngày càng được khẳng định trong các kỳ Đại hội Đẳng toàn quốc lần VIL, VIH, IX Có thể thấy điểm then chốt nổi bật nhất là đổi mới tư duy kinh tế, đó chính là tiền để, là cơ sở then chốt trong đổi mới toàn điện kinh tế, xã hội đất nước Quan điểm đổi mới khẳng định một cách thức tổ chức sản xuất mới đối với nước ta trên con đường

đi lên Chủ nghĩa xã hội, đó là phát triển nên kinh tế hàng hóa nhiều thành phân, nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Các quy luật, các phạm trù kinh tế của nên kinh tế thị trường cùng với sự định hướng đúng đắn của Đẳng là tiền để quyết định cho sự đổi mới toàn diện hoạt động tài chính, ngân hàng, trong đó có hoạt động tín dụng Từ Nghị định 53 của Hội đồng Bộ

Trang 16

trưởng ban hành tháng 3 năm 1988 đến Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước và Pháp lệnh về Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính có hiệu lực

từ tháng 10 năm 1990, rồi Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực từ 0Itháng I0 năm 1998 là một bước tiến về chất đối với tổ chức và hoạt động của hệ thống Ngân hàng nước ta Sự đổi mới của

hệ thống ngân hàng thích nghi với nên kinh tế thị trường theo hướng xã hội chủ nghĩa trong thời gian qua đã đạt được những thành tựu nhất định, khẳng định vai trò của ngân hàng trong nền kinh tế thị trường ở nước ta

Có thể khẳng định rằng hoạt động ngân hàng nói chung, hoạt động tín dụng ngân hàng nói riêng đã đóng góp một phần quan trọng trong sự nghiệp đổi mới bộ mặt kinh tế xã hội của nước ta trong thời gian qua Qua dé ban thân hệ thống ngân hàng không ngừng được củng cố và phát triển, hình thành thị trường tiền tê liên ngân hàng, thị trường mở, bảo hiểm tiển gửi Những thành tựu nổi bật trong giai đoạn 1991 ~ 2000 trên các lĩnh vực như đẩy lài nạn lạm phát phi mã từ 3 con số xuống còn 1 con số, ổn định giá trị đồng tiền,

ổn định kinh tế vị mô và vĩ mô, ngân hàng làm nòng cốt huy động vốn trong nước và đó chính là đối trọng cần thiết trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài Tổng sản phẩm xã hội sau 10 năm tăng gấp 2 lần Tổng sản phẩm trong nước (GDP) trong 10 năm qua tăng bình quân 7,5%/niim Tw chỗ tích lũy từ nội bộ nên kinh tế không đáng kể đến khả năng tiết kiệm so với GDP khoảng 3%

vào nim 1990 đến năm 1995 tăng lên 17,2% và đến năm 2000 đã đạt được

25% Qua kênh ngân hàng đã đầu tư hơn 12% (tũng trên 26%) so với tổng nguên vốn đầu tư giai đoạn 1991 — 2000 khoảng 632.000 tỷ đổng Riêng giai đoạn 1996 — 2000 nguồn vốn trong nước chiếm 60% trong tổng vốn đầu tư trong nước là 400 ngần tỷ đồng Quan hệ kinh tế quốc tế được nâng lên một tâm mới, gỡ bỏ bao vây cấm vận, quan hệ ngoại giao với L67 quốc gia và vùng lãnh thổ, ký hiệp định thương mại với 60 quốc gia và vùng lãnh thổ, thực hiện quy chế tối huệ quốc với 70 quốc gia và vùng lãnh thổ, ký hiệp định thương mại với Hoa Kỳ và thiết lập lộ trình tham gia Tổ chức thương mại quốc

tế, đặc biệt là trước đó đã khai thông quan hệ với các tổ chức tài chính, tiễn tệ

quốc tế như IMF, WB, ADB Thu hút qua FDI đạt 15 tỷ USD, chiếm gần 30% vốn đầu tư toàn xã hội Thu hút ODA bình quân khoảng 1 tỷ USD/năm Cơ cấu kinh tế quốc dân đã có những chuyển biến tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tỷ trọng Nông lâm ngư nghiệp - Công nghiệp và xây dựng — Dịch vụ trong GDP năm 1990 là 38,7% - 22,7% - 38,6% tỷ trọng

đó đã được thuy đổi vào năm 2000 là 25% - 34,5% - 40,5% Các mặt quan

Trang 17

trọng khúc như dời sống vật chất, văn hóa, tinh thần, vấn để an ninh quốc phòng đều có những bước tiến đáng kể

Với hơn 10 năm đổi mới chuyển đổi sang kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, những thành tựu nổi bật đạt được là sự tương đối ổn định về kinh tế, xã hội Tuy còn những hạn chế nhất định, song những gì đạt được là hết sức căn bản Những thành tựu đó lại trở thành những tiền để, những cơ sở cho một sự phát triển mới

Những tổn tai cin quan tâm

Bên cạnh những thành tựu đạt được hoạt động của hệ thống ngân hàng vẫn còn những tổn tại ảnh hưởng không thuận lợi cho việc phát huy vai trò của tín dụng ngân hàng, Những tổn tại chủ yếu cần được quan tâm như những bất cập về hệ thống tổ chức, bộ máy, nhân lực; hiệu quả kinh doanh; sự thiếu đồng bộ trong xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành các Luật ngân hàng; các công cụ chủ yếu của chính sách tiên tệ chầm được đổi mới; các công cụ gián tiếp điều hành chính sách tiền tệ còn sơ khai; cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái, điều hành lãi suất ở góc độ nào đó còn mang tính hành chính trực tiếp

và giản đơn; thị trường nội tệ và ngoại tệ liên ngân hàng còn đơn điệu; lúng túng và chưa có hiệu quả trong việc cải tiến hệ thống thanh toán, do đó thanh toán bằng tiền mặt còn phổ biến; năng lực tài chính, năng lực kinh doanh của các ngân hàng thương mại chưa thật sự thích ứng với cơ chế thị trường; Vai trò của Ngân hàng Nhà nước trong quản lý chưa tạo lập được tính thống nhất, có lúc còn tổ ra lúng túng trong điểu hành chung; công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát còn những yếu kém là điều kiện dễ dẫn tới nấy sinh tiêu cực Đồ là chưa kể đến những bất cập trong quản lý vĩ mô như sự can thiệp có lúc khá sâu của Chính phủ vào hoạt động mang tính chất nghiệp vụ của ngân hàng; chưa tách bạch rõ ràng giữa chức năng cho vay chính sách với chức năng tín dụng của ngân hàng thương mại Đó chính là những yếu tố chủ quan và khách quan đối với những hạn chế trong hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam thời gian qua

Trang 18

1.2 VAI TRÒ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA KINH TẾ

CÁC TỈNH NAM BỘ

1.2.1 ĐẶC ĐIỂM, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, VAI TRO KINH TẾ CÁC TỈNH NAM BỘ TRONG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

KINH TẾ, XÃ HỘI NƯỚC TA

với TP Hồ Chí Minh và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tâu có diện tích tự nhiên khoảng 23.745 km” Mật độ dân số chung của vùng là 346 người/km”, trong

đó Đông Nam Bộ là 334 người/km”, Đồng bằng sông Cửu Long là 359 người/km”, phân bố không đều giữa các tiểu vùng, một số vùng sầu, vùng xa

có nơi chưa đến 30 người/kmẺ

Vùng Nam Bộ có vị trí địa lý khá thuận lợi, có lợi thế để trở thành một trung tâm giao lưu kinh tế, thương mại, du lịch lớn trong khu vực và quốc tế,

có khả năng thu hút mạnh vốn đầu tư và hợp tác với các nước Với trên 700km

được thế giới đánh giá sẽ là cánh cung sôi động nhất trong thế kỷ 21, Nam Bộ được coi là vùng có điều kiện thuận lợi nhất so với các vùng khác của nước ta trong giao lưu và thông tin liên lạc với quốc tế,

Khí hậu vùng Nam Bộ ồn hòa, chia thành 2 mùa rõ rệt, mùa khô và mùa mưa Đối với Đông Nam Bộ mùa khô khá khắc nghiệt, còn Đồng bằng sông Cửu Long lại thường bị lữ lụt trong mùa mưa, đó chính la điểu kiện dễ

vùng duy nhất trong cả nước ít bị ảnh hưởng của bão Nhiệt độ trung bình năm

kinh tế lớn

Trang 19

Đất nông nghiệp vùng Nam Bộ màu mỡ, thuận tiện cho phát triển các

đất trồng cây hàng năm, 1,3 triệu ha đất trồng lúa từ 2 vụ trở lên Ngoài ra

Năm Bộ 47 vạn ha, Đồng bằng sông Cửu Long 49 van ha

thấp, còn tới 1,12 triệu ha dất trống đổi trọc Theo thống kê, đến năm 1998

toàn vùng thiệt hại khó mà lường hết

Diện tích nuôi trồng thủy hải sản tới 17/7 vạn ha Đông Nam Bộ 5 vạn

Đông Nam Bộ trữ lượng cá 69 vạn tấn, tôm 2 vạn tấn - Đồng bằng sông Cửu

Nuôi trồng thủy hải sản sẽ kéo theo sự phát triển của nhiều ngành nghề khác tạo việc làm và thu nhập cho lao động xã hội

nước lợ, nước mặn và nước ngẫm, phân bố không đều, trong đó Đông Nam Bộ thường bị hạn vào mùa khô, Đồng bằng sông Cửu Long bị lũ lụt trong mùa

pháp đông bộ để xử lý nhằm khai thác tốt nguồn tài nguyên Nam Bộ

Nguồn-thủy điện tập trung chủ yếu ở Đông Nam Bộ trên hệ thống các

điện như Thủ Đức, Chợ Quán, Phú Mỹ, Cần Thơ góp phần quan trọng đối với việc cung cấp năng lượng cho toàn vùng Do phụ thuộc vào thủy điện nên

Trang 20

mùa khô thường bị thiếu điện Năng lượng chưa dổi dào tất yếu ảnh hưởng đến sản xuất, đến tiến trình điện khí hóa, cơ giới hóa nông nghiệp, nông thôn

Tuy Nam Bộ nghèo về chủng loại khoáng sản, ít về trữ lượng, nhưng bù lại chỉ với hai loại khoáng sản là dầu khí và bốc-xít lại có trữ lượng và giá trị rất lớn, có ý nghĩa rất quan trọng dối với nước la Quặng bốc-xít ước tính đạt

trữ lượng 200 triệu tấn, song điều kiện khai thác khó khãn nên giá thành cao

Long 4,6 vạn km”, Nam Côn Sơn 2 vạn km”, Vịnh Thái Lan 6,3 vạn km, Dự

khí đồng hành Ngành dầu khí sớm trở thành một ngành công nghiệp mũi nhọn của cả nước Trong tương lai một khi các cơ sở lọc dầu và các ngành công nghiệp khác có liên quan đến các khoáng sản đẳng hành với dấu khí hình thành và phát triển sẽ là nơi thư hút lao động và cung cấp nhiều sản phẩm tiêu dùng cho xã hội Trên phương diện này có lẽ phải để cập tới việc xây dựng các nhà máy điện chạy bằng khí đốt để vừa tân dụng tài nguyên, vừa tăng cường nguồn năng lượng phục vụ cho sản xuất và đời sống

Nam Bộ không chỉ giàu tiểm năng về tài nguyên mà còn có một cơ sở vật chất kỹ thuật lớn nhất so với các vùng khúc trong cả nước Mạng lưới giao thông khá phát triển cả về thủy, bộ, đường sắt và hàng không gắn với các đầu mối cảng sông, biển và sân bay tốt nhất so với cả nước Các ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng, thông tín liên lạc trong nước cũng như quốc tế hiện đại và phát triển nhất so với các vùng trong nước Tuy nhiên với trình độ trang thiết

bị kỹ thuật, cơ sở hạ tang như hiện nay, nhìn chung còn lạc hậu so với thế giới, thậm chí so với một số nước trong khu vực Do thiếu vốn duy tu nên kết cấu

hạ tầng xuống cấp khá trầm trọng đang đồi hỏi phải có nguồn vốn để nâng cấp và đầu tư mới cho cơ sở hạ tầng của nền kinh tế

Nguồn nhân lực của vùng Nam Bộ có chất lượng khá, nhưng phân bổ không đều, phần lớn tập trung ở các đô thị như TP Hồ Chí Minh, Bà Rịa ~ Vũng Tàu, Cần Thơ, các cơ quan nghiên cứu khoa học, các trường đại học Ngược trở lại đối với lao động trong lĩnh vực nông nghiệp của toàn vùng trình

độ văn hóa lại thấp hơn so với vùng Đồng bằng sông Hồng Đó chính là trở ngại lớn đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện dại hóa kinh tế Nam Bộ

Đến nay trên địa bàn Nam Bộ có trên l4 Viện nghiên cứu khoa học, có trên 32 Trường đại học, 23 Trường cao đẳng, 71 trường Trung học chuyên

Trang 21

nghiệp, ngoài ra còn có nhiều cơ sở dạy nghề trải déu ở các tỉnh Riêng TP

Hỗ Chí Minh có trên 30.000 cán bộ có trình độ từ đại học trở lên, đây chính là lực lượng nòng cốt của tiến trình đi vào kinh tế tri thức của vùng Tuy còn cổ những mặt hạn chế về trình độ học vấn, nhưng nhìn chung so với các vùng khác trong nước Nam bộ có đội ngữ lao động có tay nghề cao, năng động và nhạy cẩm với nền kinh tế thị trường Đây là một yếu tố quan trọng tác động đến sự phát triển kinh tế, xã hội của Nam Bộ

Tóm lại, với những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội trình bày trên cho thấy Nam Bộ là một vùng có vị trí, vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước Những nội lực của Nam Bộ như tài nguyên thiên nhiên đa dạng, thuận lợi cho việc phát triển toân diện cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Bên cạnh đó với cơ sở vật chất -

kỹ thuật hiện có và nhiều ngành công nghiệp quan trọng gắn với hệ thống dịch vụ tài chính, ngân hàng, thông tin liên lạc, giao thông vần tải tương đối phát triển là điểu kiện khá thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế trong nội bộ vùng, với các vùng khác trong cả nước và giao lưu kinh tế quốc tế Từ lâu Nam Bộ luôn chứng tỏ khả năng là vùng kinh tế năng động, thích ứng với nền kinh tế thị trường Bởi lẽ đó Nam Bộ có một vai trò quan rất quan trọng đối với sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa nên kinh tế đất nước

1.2.2 SỰ CAN THIET NANG CAO VAI TRO TÍN DỤNG NGÂN

HÀNG ĐỐI VỚI VIỆC PHAT TRIEN KINH TE CAC TINH NAM BO

Phát triển kinh tế, xã hội các tỉnh Nam Bộ trong chiến lược

phát triển chung của đất nước

Chiến lược vùng lãnh thổ giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu chung của cả nước, là nơi thể hiện một cách sinh động việc khai thác tài nguyên, nguồn lực, lợi thế của từng vùng để thực hiện chiến lược chung Xây dựng chiến lược vùng để khắc phục sự chia cắt kinh tế xã hội mỗi địa phương, phá vỡ cách quản lý quan liêu, khấc phục tính cục bộ, bản vị, nâng cao hiệu quả lãnh đạo, hiệu quả tổ chức, quản lý Vùng Nam Bộ có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội chung của cả nước Khai thác tốt lợi thế của vùng Nam Bộ để vừa góp phần vào việc thực hiện

Trang 22

thắng lợi chiến lược chung cả nước vừa nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân trong vùng

Đại hội lần IX Đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục nhấn mạnh và khẳng định quan điểm xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì sự nghiệp dân giầu, nước mạnh xã hội dân chủ, công bằng và văn mình, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nên tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp Để thực hiện được điều đó Đẳng

ta khẳng định tiếp tục con đường đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển đồng bộ các thị trường, đổi mới quấn lý của Nhà nước, đổi mới chính sách tài chính, tiền tệ và hoạt động của ngân hàng phù hợp với cơ chế thị trường Trong kế hoạch 5 năm 2001 - 2005 Đẳng ta khẳng định phải tạo điểu kiện để tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong các giải pháp để thực hiện kế hoạch này giải pháp tiếp tục đổi mới và lành mạnh hóa hệ thống tài chính, tiễn tệ là một trong những vấn để hết sức quan trọng

Trong quan điểm biện chứng cho thấy, nên kinh tế đất nước là một thể thống nhất, vừa thúc đẩy hỗ trợ, vữu cạnh tranh với nhau tạo thành bức tranh sinh động của nên kinh tế Như trên đã dé cập, Nam Bộ là vùng có khá nhiều điều kiện thuận lợi có khả năng phát triển với tốc độ cao, tăng trưởng đều và ổn định trong nên kinh tế cả nước Tốc độ phát triển bình quân và các chỉ tiêu chủ yếu của vùng đều cao hơn tốc độ phát triển chung của cả nước, chiếm trên 40% tỷ trọng trong nên kinh tế quốc dân Cơ cấu kinh tế của vùng từng bước được chuyển đổi theo hướng tăng công nghiệp và dịch vụ Trong đồ với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, đầu tàu là TP Hồ Chí Minh, trung tâm công nghiệp lớn của cả nước và của vùng ngày càng tô rõ ưu thế đối với nền kinh tế trong nước và trong khu vực Trong nông nghiệp đã hình thành các vùng chuyên môn hóa, tỷ suất hàng hóa cao Vùng lúa, cao su, vùng mía đường phát triển với tốc độ nhanh, vùng các cầy công nghiệp đậu phọng, đậu xanh, đậu tưởng, cao su, cà phê, vùng cấy ăn trái vùng chăn nuôi các loại gia súc, gia cẩm, thủy hải sắn có khả năng thương mại lớn là những tiểm năng

có giá trị cao và có ý nghĩa to lớn đối với việc tạo nên những tiền để, những điều kiện cần thiết cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta trong những năm đấu thế kỷ XXI Việc huy động nguồn vốn trong nước cũng nhữ tranh thủ vốn đấu tư hợp tác, liên doanh liên kết với nước ngoài của khu vực Nam Bộ tuy côn bị hạn chế song cũng là vùng có nhiều triển vọng nhất so với

Trang 23

cả nước Trong đó một trung tâm tài chính TP Hồ Chí Minh đã bắt đầu có dấu

phục

tiểm năng nội lực đây triển vọng, Nam Bộ là vùng có nên kinh tế khá phát

lợi nhất so với các vùng khác để phát triển với tốc độ nhanh nhất so với cả

hội chung của cả nước Tuy nhiên cũng cần phải nhận thức đúng đắn rằng, sự

Chính phủ dối với - sự phát triển kinh tế Nam Bộ là diều kiện không thể thiếu

triển chung của toàn xã hội

Cung - cầu về vốn trong đầu tư phát triển kinh tế các tỉnh Nam Bộ

“_ Đối tượng đầu tư

Để đánh giá nhu cầu về vốn của Nam Bộ trong giai đoạn tới chúng !a

- Trước hết là Công nghiệp, căn cứ vào định hướng phát triển, cần sắp xếp lại công nghiệp, tập trung đầu tư chiểu sâu, trang bị lại kỹ thuật, công

chế biến nông, lâm, thủy, hải sản gắn với quy hoạch các vùng lúa và cây chuyên canh, vật nuôi có giá trị kinh tế cao bảo đầm chất lượng, phẩm cấp quốc tế, chiếm lĩnh thị trường nội địa, nâng cao giá trị hàng xuất khẩu Phát triển mạnh công nghiệp điện tử, công nghiệp phần mềm, công nghiệp hàng tiêu dùng đáp ứng nhu cầu của vùng và cá nước, hướng mạnh tới xuất khẩu

máy móc thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp, chế biến nông lâm hải sản,

Trang 24

giao thông vận tải Xây dựng ngành công nghiệp lắp ráp, sản xuất máy động lực, công nghiệp đóng và sửa chữa tàu thuyền, sản xuất phụ tùng thay thế, Cân chú trọng việc xây dựng ngành công nghiệp lọc dầu, hóa dầu Nâng cao chất lượng công nghiệp hóa thực phẩm, hóa công nghiệp Phát triển mạnh công nghiệp dược Đầu tư nâng cao hơn nữa trình độ công nghiệp vật liệu xây dựng Chú trọng nâng cao hiệu quả của các khu công nghiệp, khu chế xuất trong vùng Điều quan trọng là tiến hành các dự án phát triển công nghiệp năng lượng một cách đa dạng để chủ động nguồn năng lượng, máy móc và công cụ cho sản xuất,

- Về Nông, Lâm, Ngư nghiệp, cần quy hoạch phát triển nông nghiệp hàng hóa một cách toàn diện, kết hợp việc hình thành và mở rộng các vùng chuyên môn hóa tập trung lúa, và các cây công nghiệp dài, ngắn ngày Đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi theo hướng nông sản hàng hóa chất lượng cao Chuyển đổi dất trồng một cách thích hợp để phát triển đồng cổ, trồng bông vải, trồng đay Phát triển công nghệ sinh học, công nghệ gen, công nghệ sau thu hoạch để giầm bớt lượng thất thoát và nâng cao chất lượng sản phẩm, nhất

là sản phẩm xuất khẩu Hình thành nên nông nghiệp sinh thái với kỹ thuật hiện đại gắn với bảo vệ và khôi phục môi trường sinh thái Cần đặc biệt coi trọng thủy lợi gắn với giao thông vận tải

Cần đầu tư cho các dự án bảo vệ, tu bổ, trồng và khai thác rừng theo khoa học Khôi phục lại và mở rộng rừng ngập mắn, rừng tram để bảo vệ môi trường sinh thái Đưa tỉ lệ che phủ ở Đồng bằng sông Cửu Long lên 30%, trong đó 40% là cây lâm nghiệp và 10% là cây ăn trái Tỉ lệ này ở Đông Nam

Bộ là 60%, trong đó cây lâm nghiệp 40%

- Về đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, cần đầu tư xây dựng phát triển mạng lưới giao thông liên tỉnh, giao thông đô thị và giao thông nông thôn, miễn núi cho các tỉnh Nam Bộ Mở rộng và nâng cấp sân bay Tân Sơn Nhất, sân bay Cẩn Thơ, Côn Đảo, Rạch Gía, Phú Quốc Đầu tư mở rộng hệ thống Cảng Sài Gòn, xây dựng Cảng Thị Vải cho tàu trọng tải 3 - 5 van tấn, mở rộng các cảng sông Hoàng Diệu, Vĩnh Thái, Mỹ Thới, Trân Quốc Toản cho tàu 5.000 tấn Mở rộng nâng cấp cảng Cần Thơ, nghiên cứu xây dựng cảng biển cho Minh Hải và Kiên Giang Đầu tư đúng mức để có thể khai thắc ưu thế đường sông Đầu tư xây dựng mới, nâng cấp cúc cầu trên các tuyến giao thông đường bộ chính, nhất là đầu tư xây dựng nhanh cầu Can Thơ để khai thác tốt hơn cầu Mỹ Thuận, xây dựng cầu Rạch Miễu, đáp ứng kịp thời vốn để

Trang 25

thực hiện đúng tiến độ xây dựng cống Ba Lai để khai thác và phát triển kinh

tế xã hội tỉnh Bến Tre

- Đầu tư hiện đại hóa thông tin liên lạc để nối Hiển các tỉnh với huyện,

xã và liên lạc viễn thông với các nước

- Đầu tư xây dựng các chương trình y tế, chăm lo sức khỏe, chương trình nước sạch, điện sắn xuất cho nông thôn Thúc đẩy nhanh quá trình đô thị hóa nông thôn một cách có quy hoạch lâu đài Tập trung giải quyết cấp nước, thoát nước, lưới điện, giao thông đô thị, nhà ở, khách sạn dịch vụ, ở các thành phố lớn và các trung tâm đô thị mới là đầu mối kinh tế trong khu vực

~ Đầu tư xây dựng và thúc đẩy phát triển một cách vững chắc trung tâm tài chính TP Hồ Chí Minh, trung tâm tài chính lớn của cả nước, có khả năng trở thành trung tâm tài chính quốc tế

- Đầu tư phát triển du lịch tạo thành những tour đa dạng, phong phú, hấp dẫn để khai thác ngành công nghiệp không ống khói này một cách hiệu quả nhất

+ Mỡ rộng hợp tác kinh tế quốc tế, Nâng cao năng lực và hiệu quả xuất, nhập khẩu Muốn đạt dược điểu này vấn đề cốt lõi là phải đầu tư phát triển khoa học công nghệ nâng cao khả năng cạnh tranh của các thương phẩm hàng hóa trong nước

- Đầu tư phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho các tỉnh Nam Bộ

Từ những đối tượng đâu tư nêu trên cho thấy cẩn có một nguồn vốn lớn mới có thể đáp ứng được nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế Nam Bộ Đầu tư đúng, đủ, kịp thời ngay từ những năm đâu mới có thể tăng khả năng tích lũy,

mở rộng qũy cho vay của nến kinh tế

“_ Cung - cầu về vốn

Cung — cầu về vốn phát triển kinh tế các tỉnh Nam Bộ diễn ra giữa các chủ thể trong nên kinh tế, vừa là nguồn cung vốn, đồng thời lại là nguồn câu vay vốn Các nguồn vốn chủ yếu gồm có:

Trang 26

+ Ngân sách Nhà nước Trung ương

+ Vốn đầu tư từ chính quyền các địa phương

+ Vốn tiết kiệm trong dân cư,

+ Vốn đầu tư từ các loại hình doanh nghiệp

+ Vốn tín dụng ngân hàng và các định chế tài chính khác

+ Vốn nước ngoài

Dự thảo chiến lược phát triển ¡0 năm 2001 — 2010 và kế hoạch 5 năm

2001 ~ 2005 của cả nước đã để cập đến sự cần thiết phải có một lượng vốn đầu tư rất lớn nhằm thực hiện các mục tiêu để ra Ước tính tổng nguồn vốn cần thiết đầu tư cho nền kinh tế nước ta vào khoảng 120 tỷ USD, gấp 2 lần so với thời kỳ 1891 — 2000 Dự tính thu hút nguồn vốn trong nước đạt 60%, còn lại phải huy động từ nước ngoài

Nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến nay đồi hỏi có nhiều thay đổi Tuy nhiên, đối với thực tế nước ta vấn để công nghiệp hóa, hiện đại hóa kinh tế nông nghiệp, nông thôn vẫn là nội dung thiết thực hiện nay

Để án phút triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam của Chính phủ thời kỳ 2001- 2020 để ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 GDP bình quần đầu người hàng năm đạt khoảng 800 đến 1000 USD Tăng trưởng kinh tế nông nghiệp, nông thôn đồng thời giảm tỷ lẽ lao đông trong nông nghiệp thuần nông còn 20% trong toàn bộ lao động xã hội nước ta Cũng theo Để án này dự báo để công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nõng thôn nước ta thời kỳ này cần có nguồn vốn bình quân mỗi năm từ 3,2 đến 3,5 tỷ USD Trong đó giai đoạn 2005 cần khoảng 50 tỷ USD, giai đoạn 2010 cần số vốn lên tới gần

70 tỷ USD

Trong xu thế chung của cả nước, với những nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế khu vực Nam bộ như đã nêu trên tất yếu cần phải có một nguồn vốn rất lớn, ưởc tính lên đến 2 tỷ USD năm Như vậy có thể thấy tổng nguồn vốn đầu tư thời kỳ 2001 ~ 2005 cho các tỉnh Nam Bộ cần khoảng 10 tỷ USD (tương đương khoáng 150.000 tỷ đẳng Việt Nam)

Riêng TP Hồ Chí Minh, theo dự báo của chỉ nhánh Ngân hàng Nhà nước TP Hồ Chí Minh vốn huy động trên địa bàn thời kỳ 2000 - 2010 dat mức 188.6000 tỷ đồng, tăng bình quân 30% năm Tăng trưởng tín dụng đến

Trang 27

năm 2010 là 193.6000 tỷ đồng, tăng trưởng bình quân 30% năm Trong năm

2001 TP Hồ Chí Minh có nhu cầu về vốn đầu tư cho xã hội từ 23.000 đến 24.000 tỷ đồng

Cung - cầu về vốn trên địa bàn các tỉnh Nam Bộ là rất lớn, Trong khi vốn ngân sách Nhà nước, vốn doanh nghiệp và các kênh cấp vốn khác cồn hạn hẹp thì gánh nặng về huy động và cung ứng vốn cho nền kinh tế phải do các tổ chức tín dụng đảm nhận, trong đó chủ lực vẫn phải là hệ thống ngân hàng thương mại

Nâng cao vai trò tín dụng ngân hàng đối với phát triển bền vững kinh tế các tỉnh Nam Bộ

Như trên đã để cập, tín dụng ngần hàng có một vai trò hết sức quan trọng trong việc huy động và cung ứng vốn phát triển kinh tế xã hội Kênh cung ứng vốn cho nên kính tế nước ta trước đây, hiện nay và cả trong tương lai chủ yếu vẫn là dựa vào định chế trung gian tài chính tiền tệ Hoạt động của ngân hàng cho đến nay chủ yếu vẫn là hoạt động tín dụng Ở các nước phát triển, thu nhập của ngân hàng đang chuyển dẫn sang nguồn thu từ các dịch vụ của ngân hàng, tuy nhiên việc tài trợ các nguồn vốn ngoài việc tìm kiếm

nguồn cung trên thị trường tài chính phần lớn vẫn phải dựa vào tín dụng ngân

hàng

Vốn đầu tư cho cả nên kinh tế giai đoạn 1997 ~ 2000 trên 600.000 tỷ đồng, trong đó vốn tín dụng đầu tư chiếm 12,1%, tăng 26,1% Tuy nhiên phải thấy rằng sự tăng trưởng của tín dụng chưa thật sự bến vững, nợ quá hạn vẫn

ở mức cao, không ít tổ chức tín dụng tỷ lệ nợ quá hạn vượt quá 5% cho phép của Ngân hàng Nhà nước Trong bối cảnh chung như vậy hệ thống tín dựng ngân hàng các tỉnh Nam Bộ cũng vấp phải những vấn để nan giải chung của

hệ thống ngân hàng

Hệ thống tín dụng các tỉnh Nam Bộ góp phẩn quan trọng trong phát triển kinh tế các tỉnh Nam Bộ thời gian qua Theo số liệu tổng hợp từ các báo cáo của các tổ chức tín dụng, dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng trên địa bàn các tỉnh Nam Bộ năm 1999 là trên 70.000 tỷ đồng, năm 2000 là trên 90.000 tỷ đồng, tăng 28% so với năm 1999 Tính đến 6 tháng đầu năm 2001 mức dư nợ cho vay trên địa bàn các tỉnh Nam Bộ đạt trên 93.000 tỷ đồng, tăng

Trang 28

3,2% so với mức cho vay cả năm 2000 Đó là những cố gắng đáng kể trong hoạt động tín dụng đối với việc phát triển kinh tế xã hội các tỉnh Nam Bộ thời gian qua,

Để góp phân thu hút nguồn vốn trong nước chiếm khoảng 60% trong tổng vốn đầu tư phát triển như kế hoạch để ra, ngân hàng phải nâng cao hơn

nữa hiệu quả hoạt động huy động vốn tích lũy trong nên kinh tế, Một trong

những vấn để có tính chất quyết định là cần phải nâng cao vai trò tín dụng ngân hàng để góp phần phát triển kinh tế xã hội các tỉnh Nam Bộ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước

1.3 MOT SO BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐẦU TƯ TÍN DỤNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG KHU VỤC

Có thể xem xét một sế nét nổi bật có tính chất riêng về hoạt động tín dụng từ một số quốc gia và vùng lãnh thổ có những tương đồng với Việt Nam, coi đó là những bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo

1.3.1 BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ VƯƠNG QUỐC THÁI LAN

Vương quốc Thái Lan có một hệ thống ngân hàng khá phát triển so với các nước trong khu vực Tuy thị trường tài chính Thái Lan hoạt động cũng khá rầm rộ, song việc cung ứng vốn cho nên kinh tế, nhất là hỗ trợ vốn cho phát triển nông nghiệp, công nghiệp chủ yếu vẫn dựa vào tín dụng ngân hàng

Cho đến nay kinh tế nông nghiệp vẫn đóng một vai trò quan trọng trong nên kinh tế Thái Lan Để đưa nông nghiệp vươn lên một bước phát triển mới, trong kế hoạch phát triển kinh tế đất nước lần thứ 7, năm 1990 ~ 1994, Thái Lan đã hoạch định một chiến lược nâng cao chất lượng nông phẩm hàng hóa

và sử dụng tín dụng ngân hàng như là một động lực tài chính quan trọng để thực hiện mục tiêu này Có thể nói rằng , bằng những khuyến khích lợi ích vật chất thông qua lãi suất cho vay, hệ thống tín dụng ngân hàng Thái Lan đã khá thành công trong việc cho vay và thu hồi vốn Các khoản tín dụng cấp ra được theo dõi chặt chẽ cộng với các hình thức tư vấn kỹ thuật phát triển ngành nghề được định hướng của Chính phủ qua các kênh thông tín khác nhau đã

Trang 29

giúp cho những người vay vốn vừa sử dụng vốn đúng muc dich, vừa kinh doanh đầu tư có hiệu quả Kết quả là khách hàng có khả năng trả nợ cho ngân hàng Từ đó các chu trình tín dụng được cấp phát liên tục, đều đặn, chu chuyển của vốn trong nền kinh tế tăng nhanh

Để cấp tín dụng cho nền kinh tế Thái Lan phát triển một hệ thống các

tổ chức định chế tài chính, trong dó các tổ chức tín dụng với mạng lưới trải

rộng khắp nước Để tín dụng đến được với nông dân có hiệu quả Thái Lan xây dựng Ngân hàng nông nghiệp và Hợp tác xã nông nghiệp có cả chức năng tín dụng, là những tổ chức chịu trách nhiệm chủ yếu đưa vốn, kiểm soát khoắn cho vay và thu hồi vốn theo thỏa thuận từ trước Áp dụng lãi suất linh hoat, cổ

hỗ trợ lãi suất nhất là đối với khách hàng ấp dụng kỹ thuật mới trong sản xuất kinh doanh những nông phẩm hãng hóa có giá trị cao có khả năng xuất khẩu Phương thức cho vay linh hoạt, có thể cho vay ở mức 2.400US5D trở xuống mà không phải thế chấp Những khách hàng có uy tín không những vẫn được hưởng lãi suất ưu đãi mã còn được tăng lượng tín dụng khi có nhu cầu Đó chính là một cách khuyến khích bằng lợi ích vật chất có tác dụng trực tiếp kích thích phát triển sản xuất gắn với mở rộng tín dụng có hiệu quả của ngân hàng Nếu vi phạm cam kết tín dụng không những không còn được hưởng lãi suất ưu đãi mà còn bị phạt 3% năm trên tổng vốn vay có vấn để Cách thức cho vay đó góp phần đáng kể giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng

Không chỉ ưu đãi tín dựng để phát huy lợi thế về nông nghiệp, Thái Lan còn chú trọng dấu tư tín dụng cho công nghiệp chế biến, các dự án công nghiệp chất lượng cao hỗ trợ cho nông nghiệp và hiện dại hóa nền kinh tế đất nước

Hỗ trợ tín dụng trong giáo dục đào tạo, trong nghiên cứu và ứng dụng khơa học kỹ thuật cũng là một hoạt động tín dụng được Chính phủ Thái Lan quan tâm

Mở rộng tín dụng tương đối đồng bộ nhấm tới mục tiêu phát triển kinh

tế, lấy hiệu quả kinh tế từ đầu tư tín dụng làm thước đo, làm chuẩn tắc trong quyết định cho vay vừa đảm bảo được nguyên tắc tín dụng vừa phát huy được vai trò tín dụng trong nên kinh tế thị trường của Thái Lan là vấn để cần được tham khảo

Trang 30

Mặt hạn chế của Thái Lan là sự lệ thuộc nguồn vốn đầu tứ vào USD

Mỹ quá mức, hệ thống tín dụng cũng nằm chung trong quỹ đạo này, và vì vậy một khi khủng hoảng tài chính, tiển tệ xảy ra sự chống đỡ, sức để kháng của nội lực nền kinh tế là yếu kém, hiệu quả thấp

1.3.2 BAI HOC KINH NGHIEM TU CONG HOA INDONESIA

Cộng hòa Indonesia là một quần đảo (13.667 hòn đảo) có khí hậu đặc trưng vùng biển nhiệt đới, gió mùa, khoảng 50% diện tích tự nhiên là đồng bằng và trung du rất thích hợp và thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Có tới 60% lực lượng lao động trong nông nghiệp lo lương thực cho trên 180 triệu dân Chính phủ Indonesia coi phát triển vững mạnh nông nghiệp, tự túc được lương thực là cơ sở để ổn định và phát triển kinh tế xã hội đất nước

Để thực hiện mục tiêu của mình Indonesia đã thiết lập các thị trường

tập trung đầu tư vốn, hệ thống tín dụng gắn với cơ chế quản lý hành chính Với các cuộc “cách mạng xanh”, tư sản hóa trong nông nghiệp, tư nhần hóa nên kinh tế, đặc biệt là thiết lập có trọng điểm các hợp tác xã nông nghiệp trong những vùng có điều kiện, qua đó Nhà nước tập trung đầu tư vốn, ưu đãi trong cấp tín dụng đã giúp Indonesia tự tíc được một cách căn bản về lương thực, Điều đáng chú ý là Chính phủ chỉ đầu tư tín dụng dài hạn cho khu vực sản xuất lương thực, khu vực xuất khẩu và 9 mặt hàng tiêu dùng cơ bản Nâng đầu tư tín dụng cho khu vực kinh tế tư nhân cao hơn khu vực kinh tế Nhà nước Riêng năm 1967 trong khi khu vực kinh tế Nhà nước chỉ nhận được 8,5 tỷ Rupi thì khu vực kinh tế tư nhân được cấp tín dụng tới 25 tỷ Rupi, năm 1985 nâng lên 87 tỷ Rupi và đến năm 1993 tăng lên 267 tỷ Ru pi Đầu tư tín dụng có trọng điểm và vào những lĩnh vực có hiệu quả đã thúc dẩy nên kinh tế phát triển nhanh chóng Tuy nhiên việc phân hóa trong xã hội, và nhất là trong nông dân, nông thôn diễn ra hết sức gay gat

Ở Indonesia việc chuyển từ độc quyển Nhà nước về ngân hàng sang tự

do hóa hoạt động ngân hàng là một vấn để đáng xem xét Trước cải cách hệ thống ngân hàng, Indonesia có 5-ngân hàng thương mại Nhà nước, một ngân hãng phát triển Nhà nước Sáu ngân hàng này kiểm soát 80% tổng số tài sản, 80% tổng số tiền gửi và 80% tổng số tiển cho vay Sự độc quyển về ngân hang ở Indonesia đã làm xơ cứng và kém hiệu quả của hoạt động ngân hàng Trong tiến trình đổi mới hoạt động ngân hàng, năm 1992 Indonesia đã công

Trang 31

bố luật ngân hàng Trong đó đáng lưu ý là Indonesia cho phép tư bản nước ngoài mua cổ phần của ngân hàng Nhà nước với giá trị không quá 50 triệu USD Mở rộng sự liên doanh ngân hàng giữa Nhà nước với tư nhân và cả với

tư bắn ngoài nước Việc đa dạng hóa các loại hình sở hữu hoạt động ngân hàng đã làm tăng đáng kể nguồn vốn tài trợ cho nền kinh tế Từ những năm

80 trở lại đây việc huy động vốn và hoạt động tín dụng cấp phát cho nền kinh

tế giữa các ngân hàng Nhà nước với các ngân hàng còn lại là xấp xÏ ngang nhau Tiền gửi huy động trung bình trong những năm 80 và 90 của hệ thống ngân hàng Nhà nước khoảng 50,9%, các ngân hàng còn lại khoảng 44% Khối lượng tiền huy động được trong năm 1991 là 15.756 tỷ Rupi đã tăng lên 19.378 ty Rupi vào năm 1993,

Hoạt động ngân hàng nói chung, đầu tư tín dụng ngân hàng nói riêng của Indonesia đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường, thúc đẩy nền kinh tế phát triển

Chúng ta có thể thấy rằng, trong cải cách nên kinh tế, Indonesia đã cải cách hệ thống ngân hàng, tập trung đầu tư tín dụng vào những lĩnh vực, những ngành trọng điểm, quan trọng được xác định trong các kế hoạch phát triển đã tạo nên đòn bẩy kích thích nền kinh tế Tuy nhiên cũng cẩn chú ý đến vấn để

khó khăn mà Indonesia gặp phải, đó là nếu chỉ tập trung vốn vào một lĩnh vực

cho dù là quan trọng đối với đất nước Indonesia như dầu mỏ, nên khi dầu mỏ

rớt giá dài dài trong nhiều năm, nên kinh tế lãm vào tình trạng bất ổn định

1.3.3 BAI HOC KINH NGHIEM TU DAI LOAN

Đài Loan là vùng hải đảo, đất hẹp, người đông, tài nguyên thiên nhiên

có nhiều hạn chế Vươn lên từ sau thế chiến thứ hai đến nay Đài Loan đã trở thành một nước công nghiệp mới Với phương châm lấy nông nghiệp bổi dưỡng công nghiệp, lấy công nghiệp phát triển nông nghiệp Đài Loan đã thành công trong phát triển kinh tế của mình

Đầu tư đúng mức phát triển nông nghiệp làm cho người nông dân phấn khởi đẩy mạnh sản xuất, đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi và hệ quả đó đã góp phần quan trọng làm thay đổi cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng dất đai, tiền vốn, lao động chỉ trong thời gian ngấn (1949-1952)

từ chỗ thiếu lương thực, Đài Loan đã tự túc được lương thực cho toàn xã hội

Trang 32

Có thể thấy, một kinh nghiệm lớn của Dai Loan là đã biết phát huy vai

trò cơ sở của nông nghiệp trong buổi ban đầu phát triển Chính phủ đã liên tục ban hành các chính sách hỗ trợ và hướng dẫn đắc lực cho nông nghiệp như cải

cách ruộng đất, hỗ trợ vốn cho sản xuất nông nghiệp, tài trợ gid sẩn xuất lương thực và nông sản xuất khẩu, đẩy mạnh xây dựng nông thôn, nâng cao thu nhập cho nông dân, xây dựng cơ sở hạ tầng cho nông thôn, mở mang giáo dục, đào tạo và chăm sóc sức khỏe cho nông dân Đáng chú ý là ngay từ đầu Chính phủ đã cho lập quỹ tứn dụng nông thôn Vốn của quỹ được tạo lập từ việc mua chịu ruộng đất của địa chủ, bán lấy tiền để đầu tư mạnh cho nông nghiệp

Vốn của Chính phủ thông qua ngân hằng cho vay có tài trợ để phát triển

nuôi Một trong những yếu tế giúp cho nông nghiệp, nông thôn đài Loan phát triển bển vững và giữ được ví trí xứng đáng trong nền kinh tế là do Chính phủ Đài Loan đã chú ý đến việc xây dựng một cơ quan chuyên trách về nông nghiệp, nông thôn, với tên gọi là “Mông phục hội” Nông phục hội, trên thực

tế là cơ quan quản lý và phát triển nông nghiệp của Chính phủ, đến năm 1979 nông phục hội được cải tổ thành cơ quan nhà nước, với tên gọi là “Nông

Ngoài việc Nông Ủy Hội chăm lo cho nông dân từ tài trợ cho nghiên cứu về nông nghiệp, nghiên cứu sử dụng và cải tạo đất đai, nguồn nước, tài nguyên, tưới tiêu, chống hạn, chống lụt úng, xây dựng thủy lợi, đê điều, cải tiến nuôi trồng, vận chuyển, tiêu thy sin phẩm, hợp tác quốc tế về nghiên cứu

kỹ thuật trong nông nghiệp, đặc biệt Nông Ủy Hội còn được Chính phủ giao cho phát triển tín dụng nông thôn Có thể nói, thành công của Đài Loan trong phát triển nông thôn, nông nghiệp có một phần đóng góp quan trọng của Nông Ủy Hội

Cùng với việc phát triển tín dụng đầu tư mạnh cho sin xuất, Đài Loan còn thành lập các Quỹ bảo lãnh tín dụng để mở rộng chợ vay các doanh nghiệp công nghiệp, nông nghiệp, nhờ đó nâng cao được chất lượng tín dụng

hỗ trợ đắc lực cho cả các nhà sản xuất lẫn hoạt động tín dụng ngân hằng

Các nhà nghiên cứu về sự thành công trong phát triển kinh tế nói chung,

về nông nghiệp, nông thôn nói riêng của Đài Loan đều thống nhất rằng, một

Trang 33

trong những yếu tố quan trọng là biết nắm thời cơ, biết đưa ra các chính sách đúng đắn Trong đó đáng kể là sự tạo ra được nguồn vốn lớn cá từ huy động trong nước và vay vốn từ nước ngoài Trong sử dụng nguồn vốn đã chú trọng vốn ngân sách đầu tư từ phía Chính phủ cho các vấn để an sinh xã hội công công, với việc nâng cao đầu tư tín dụng trong phát triển kính tế

Bài học kinh nghiệm từ Đài Loan là tập trung vốn phát triển nông nghiệp, nông thôn để bồi dưỡng công nghiệp; lấy công nghiệp phát triển để thúc đẩy nông nghiệp; công - nông để huể cùng sánh vai nhau phát triển là bài học có giá trị tham khảo

„1344 BAI HOC KINH NGHIEM CHUNG RUT RA TU NHUNG QUOC GIA TREN

Nâng cao đầu tư tín dụng ngân hàng để tài trợ phát triển kinh tế là một trong những hoạt động cấp thiết được nhiều nước quan tâm và chú trọng Tit những kinh nghiệm hoạt động tín dụng ngân hàng để phát triển kinh tế xã hội của Thái Lan, Indonesia, Đãi Loan có thể rút ra một số vấn dé chung về nâng cao vai trô tín dụng ngần hàng trong phát triển kinh tế, xã hội như sau:

Một là, có chính sách phát triển kinh tế xã hội cụ thể, phò hợp với đất nước trong từng thời kỳ phát triển Biết chọn đúng và dựa vào thế mạnh ban dầu và thế mạnh tiểm năng của đất nước trong đầu tư phát triển Đây chỉnh là phương hướng để tập trung các nguồn lực đầu tư phát triển theo mục tiêu đã xác định

Hai là, cải cách kinh tế một cách toàn điện, trong đó tập trung lành mạnh hóa tài chính đất nước, đặc biệt chú trọng cải cách hệ thống ngân hàng, nâng cao thực sự vai trò tín dụng ngân hàng, có chọn lọc đối tượng đầu tư để phát triển có hiệu quả

Ba là, luôn tìm cách đa dạng hóa hoạt động tín dụng ngân hàng gắn với kiện toàn, phát triển tổ chức bộ máy, nâng cao nguồn vốn, năng lực hoạt động của hệ thống ngân hàng

Bốn là, tách bạch giữa hoạt động tín dụng ngân hàng với đầu tư theo chính sách Tuy nhiên trong từng lĩnh vực, mục tiêu cụ thể không loại trừ khẩ

Trang 34

năng sử dụng hình thức tín dụng ưu đãi để đạt được sự phát triển kinh tế theo

mục tiêu xác định

Năm là, chú trọng sử dụng đồng bộ các giải pháp cải cách kinh tế xã hội, nhất là các giải pháp kinh tế, trong đó sử dụng tín dụng ngần hàng như một đồn bẩy trực tiếp kích thích kinh tế phát triển Kết hợp khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn cả trong và ngoài nước

Năm vấn để chung rút ra trên đây là những vấn để có tính chất như những bài học tham khảo đối với việc nang cao vai trò tín dụng ngân hàng để phát triển kinh tế xã hội nước ta trong tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa theo định hướng Xã hội chủ nghĩa

Trang 36

2.1 TÌNH HÌNH BẦU TƯ TÍN DUNG NGAN HANG CHO

CÁC TỈNH NAM BỘ THỜI GIAN QUA

2.1.1 CÁC CHỦ THỂ THAM GIÁ ĐẦU TƯ

Như trên đã phân tích, hiện nay việc phát triển kinh tế, phát triển nông thôn mới là nhu cầu cấp thiết đối với Nam Bộ Mười năm qua, trong công cuộc đổi mới của cả nước, hệ thống ngân hàng có nhiễu hoạt động góp phần phục vụ chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn của Đẳng và Nhà nước Tuy nhiên đến nay việc cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế chủ yếu vẫn do cúc ngân hàng thương mại quốc doanh đảm nhận (80%) Ngoài ra, còn phải kể đến hoạt động của các ngân hằng thương mại cổ phân và các tổ chức tín dụng khác như hệ thống quỹ tín dụng nhân dân các cấp Phần này xin nêu một số nét tổng quát nhất về hoạt động của các ngân hàng thương mại, TCTD ở Nam Bộ

2.1.1.1 CÁC NGÂN HÀNG THƯỜNG MẠI QUỐC DOANH

Tiền thân của NHNo là ngân hàng nông nghiệp Việt Nam thành lập tháng I1⁄1990 Đến tháng 10/1996 theo quyết định số 280/QĐ-NH5 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước, NHNo ra đời thay thế cho ngân hàng nông nghiệp Việt Nam

Đây là ngân hàng kinh doanh về tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp Ngoài ra NHNo còn phục vụ cho các ngành kinh tế khác nhất là ở các địa phương mà các NHTM khác không có

Trong nhiều năm qua, NHNo đã có những nỗ lực tự tìm tồi và xác định cho mình hướng đi đúng đắn Qua cơ cấu đầu tư có thể thấy được điều đó Từ chỗ đầu tư cho kinh tế ngoài quốc doanh chỉ chiếm 10% tổng dư nợ năm 1991 đến nay đã tăng lên 80%, cho thấy NHNo ngày cằng gắn bó hơn với nông

Trang 37

thôn, nông dân góp phần tích cực trong sự nghiệp CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn NHNơ đã triển khai thực hiện nhiều dự án với các tổ chức kinh tế quốc tế Nhiễu dự án nông, lâm, ngư nghiệp và công nghiệp chế biến được triển khai tốt đã giải quyết được công ăn việc làm cho dân cư hình thành các

Riêng ở Nam Bộ, NHHo có trụ sở ở TP Hé Chi Minh va 19 tinh, 165 chi nhánh ở các huyện cùng một số phòng giao dịch ở các xã Đây là ngân hàng chủ lực trong việc cung cấp vốn cho nhu cầu phát triển kinh tế nông nghiệp, đổi mới nông thôn ở Nam Bộ hiện nay Từ lúc ra đời đến nay, NHNo luôn gắn bó với nông dân, là người bạn thân tình chí cốt giúp nông dân Nam Bộ vượt khó từng bước đi lên, Cũng chính từ đó, NHNo đã khắc phục khó khăn tìm ra hướng đi đúng đắn, tự khẳng định mình trong cơ chế thị trường và ngày nay đã có chỗ đứng vững chắc trong lòng mỗi nông dân Nam Bộ

Đây là ngân hàng kinh doanh về tiễn tệ, tín dụng và các dịch vụ liên quan đến hoạt động ngân hàng chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp thương mại và

cả nông nghiệp Ngoài hoạt động đối nội, tính đến nay, NHCT đã có quan hệ đại lý với hơn 400 ngần hàng nước ngoài và làm đại lý ủy thác cho nhiều dự

án tài trợ quốc tế như ODA, ADB, tín dựng Việt Đức, tín dụng Đài Loan Riêng ở Nam Bộ, NHCT có 32 chỉ nhánh ở TP Hồ Chỉ Minh và16 tỉnh, một

số phòng giao dịch ở huyện, thị xã

Trong những năm qua, NHCT đã có những đóng góp to lớn trong việc cung cấp vốn tín dụng cho các hoạt động sẵn xuất thương mại, dịch vụ ở Nam

Bộ nhất là cho các nhà máy chế biến nông lâm thủy hải sản góp phần tăng

tỷ trọng của ngành công nghiệp dịch vụ để có một cơ cấu kinh tế hợp lý cho Nam Bộ Ngoài việc cho vay phục vụ công nghiệp, NHCT còn là trợ thủ đắc lực cho NHNo Đã có một tỷ lệ lớn vốn tín dụng của NHCT đến với nông nghiệp Nam Bộ góp phần ổn định đời sống nông dân và cải thiện bộ mặt

Trang 38

nông thôn mới Trong những năm qua, tỷ lệ cho vay ngoài quốc doanh của NHCT ở khu vực Nam Bộ thường chiếm 60-65% tổng dư nợ Điều này cho thấy, NHCT cũng là người bạn đáng tin cậy của nông dân Nam Bộ không kém gì NHNo

" Ngân hàng Đầu tư - Phát triển (NHĐT-PT)

Bên cạnh vai trò chủ lực của NHNo, còn phải kể đến vai trò to lớn của NHĐT-PT trong việc cung cấp vốn cho Nam Bộ nhất là vốn ung, dài han NHĐT-PT là ngân hàng chuyên doanh được thành lập sớm nhất ở Việt Nam (26/4/1957) Trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung hoạt động kinh đoanh của NHĐT-PT cũng mang tính bao cấp Khi đó nguồn vốn của ngân hàng chỉ do ngân sách rót để cấp phát Năm 1990, khi các Pháp lệnh ngân hàng ra đời, NHĐT-PT trở thành ngần hàng kinh doanh đa nắng và đã dược cấp vốn điều

lệ Từ chỗ cấp phát chuyển sang cơ chế vay trả đó là một bước ngoặt quan trọng từng bước xóa bỏ bao cấp cho đầu tư Đến năm (995, theo quyết định 293/QĐÐ của Thống Đốc NHNM NHĐT-PT đã trở thành ngân hàng kinh doanh tổng hợp và phải tự lo lấy nguồn vốn ngoài vốn điều lệ được cấp phát

Hiện này, NHĐT-PT có chức năng huy động vốn ngắn hạn và trung dài hạn từ mọi thành phần kinh tế và dân cư để cho vay phục vụ đầu tư phát triển

kinh tế xã hội NHĐT-PT đã mở rộng quan hệ với hơn 600 ngân hàng trên

thế giới, qua đó NHĐT-PT đã khai thắc, sử dụng các hiện định tải trợ xuất ~ nhập khẩu làm đại lý ủy thác cho các nguồn tài trợ và ủy thác quốc tế,

Ở Nam Bộ, NHĐT-PT có 20 chỉ nhánh ở TP Hồ Chí Minh và l9 tỉnh, NHĐT-PT đã có những đóng góp to lớn trong việc cung cấp nguồn vốn để phát triển kinh tế Nam Bộ Vốn của NHĐT-PT nhất là vốn trung dài hạn được đầu tư để xây dựng mới, cải tiến trang thiết bị quy trình công nghệ cho ngành công nghiệp chế biến phục vụ nông nghiệp và xuất khẩu Ngoài ra NHĐT-PT còn cung cấp vốn trung dài hạn để xây dựng, cải tạo cơ sở hạ tầng

để nâng cao đời sống nông dân, phục vụ mục tiêu xây dựng nông thôn mới nhy cho vay cdc công trình giao thông, thông tin liên lạc và xây dựng nhà ở cho dân cư Nam Bộ Hơn nữa, trong những khi vào vụ như quý ÍV, quý | hing năm nhu câu vốn cho Nam Bộ để thu mua chế biến nông sản tăng vọt, vào những thời điểm này NHĐT-PT đã tích cực hỗ trợ NHNo để cho nông dân vay ngắn hạn ổn định sản xuất và đời sống

Trang 39

"_ Ngân hàng Ngoại thương

Trong việc cung cấp vốn cho các tỉnh Nam Bộ còn phải kể đến ngân hàng

điều lệ

quan hệ với lưưn 600 ngần hàng nước ngoài

nhất là xuất khẩu nông, lâm thủy, hải sản

»_ Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng Sông Cửu Long (MHB)

và sắn xuất kinh doanh vùng ĐBSCL

va một số tỉnh Nam Bộ khác nhất là TP Hỗ Chí Minh

Trang 40

MBH can mở rộng hoạt động trong việc đầu tự giúp các doanh nghiệp thu

bất đầu hoạt động) đã tăng gấp 10 lẫn (1.056 tỷ đồng) vào cuối năm 2000

gần gũi của nâng dân Nam Bộ

* Ngân hàng Phục vụ người nghèo (NHNNg)

NHNNg ra đời từ quyết định số 525/TT§ ngày 31/8/1995 của Thủ tướng

không hẳn là thương m

nghèo vay vốn phát triể

ếu của NHNNg là cho vay ngắn hạn đối với các hộ

Hoạt động tín dụng chủ

2.1.1.2 CAC NGAN HANG THUONG MAI C6 PHAN (NHTMCP)

nghiệp Việt Nam

Nghị định số 82/1998/NĐ-CP ngày 3/10/1998 của Chính phủ đã quy định

nếu hoạt động ở Hà Nội và TP Hỗ Chí Minh, 59 tỷ đồng nếu ở các thành phố

Ngày đăng: 27/03/2013, 16:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w