1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

132 Một mô hình thực tiễn trong lãnh vực Ngân hàng dưới sự điều tiết của nhà nước xã hội chủ nghĩa 

109 598 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một mô hình thực tiễn trong lãnh vực ngân hàng dưới sự điều tiết của nhà nước xã hội chủ nghĩa
Trường học University of Economics
Chuyên ngành Banking
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hanoi
Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 3,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

132 Một mô hình thực tiễn trong lãnh vực Ngân hàng dưới sự điều tiết của nhà nước xã hội chủ nghĩa

Trang 1

MOT MO AINE THUC TIEN TRONG LÃNH VỰC

NGÂN HÀNG ĐƯỚI SỰ ĐIỀU TIẾT

CỦA NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Chủ nhiệm để tài :_ PTS NGÔ HƯỚNG

Thành viên thamgia : PTS HỒ DIỆU

Trang 2

LỜI NÓI Đầu

Whim phuc va cho gud trink dei mbi he thinng Nein hing Vest

Nam phuc rs dite lec cho gud trinh xtry dong mbtntn kinh 8 thi trermg theo

dink ising KHCN, mét cheong brink nghién ciu mang ma 66 04/VKE dupe

tnitn thai vbi tibu dé" Latin ot khow hoe vd, thurs tiin v8 hoat ding Ngan hime theo co ohé th maimg ob dink hubng wis hii cheb nighta

Kay dung co 08 ty lutin cho mit mé himh Nolin hing trong co ché th

rusirag cb dink hutng wie bt chit nghia lic mice tit cotta db li nay

Sie ptt tnitn (nomg nhibu thip hyp quae cho tity ning he thing O [22

hing dis ob mmậta dũng gói lo lin che su pdt lnitn kink (6 ti hii Tong trong |

diéu hién mbt dit nube phat (itn kink by beuing theo dink huing SACN

thi diy br mbt bute dt prhd

HB thing Ngan héng tuongntn kink 6 thi nuing ob: dink hubng

XHCN chee see che phét niio? Mise dich vba nb cb gi thay dei? HO thing olgan hing di heat ding theo quan dibm nivo? Di las nhing vitn dé més để

rin co 16 ce phuong ph dary vit bibn ching va day vit lech wb

ching (i & wom xbt heat ding Ngan hing hitn nay cia neste la dang ¢ trong

rmbt thei kay ob nhiong dita dit gi? Yhsné se phd tritn theo pbusong hubng nde

dé viva 0b thé bite dim dink hubng XUCN cia Ding ve Nad nade dis howch

dink, viva cb thé hpi nhtipe ducc vi nin kink t DRE yibi

Trang 3

MỤC Lục

CHƯƠNG!I: VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC XHCN TRONG QUAN

LÝ VĨ MÔ PHẢI ĐƯỢC THỂ HIỆN THÔNG QUA VIỆC

SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ ĐIỀU TIẾT CÓ HIỆU QUẢ

I SUDAC THU CUA NEN KINH TE THI TRUONG CO

ĐỊNH HƯỚNG XHCN CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

1

2

3

2

Sự vô chính phủ và khủng hoảng kinh tế của nên linh tế

thị trường không có sự điều tiết của Nhà nước

Kinh tế kế hoạch hóa tập trung

Nền kinh tế thị tường có định hướng XHCN Việt Nam

Il NHÀ NƯỚC XHCN SỬ DỤNG CÔNG CỤ NGÂN HÀNG ĐỂ

ĐIỀU TIẾT NỀN KINH TẾ THEO ĐỊNH HƯỚNG XHCN

để điều riết kinh tế theo định hướng XHCN của Nhà nuúc XHCN

Nội dụng hoại động điều tiết nên kinh tế của Nhà nước theo định hướng XHCN bằng công cụ Ngân hàng

HT SỰ HỘI NHẬP CỦA NÊN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG CÓ

ĐỊNH HƯỚNG XHCN VÀO NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI

ẢNH HƯỚNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG

1

2

Sự hội nhập nền kinh tế vào nên kình tế thế giới là xu hướng tất yếu để phái triển nên kinh tế Việt Nam hiện nay

Sự hội nhập kinh tế dẫn đến sự hội nhập Ngân hàng

CHƯƠNG II : MÔ HÌNH HỆ THỐNG NGAN HÀNG VÀ CÁC

HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG TRONG

NỀN KINH TẾ CÓ ĐỊNH HƯỚNG XHCN

01

Trang 4

I ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

1 Ngân hàng Nhà nước là Ngân hàng làm nhiệm vụ quản lý

2 Ngân hàng Nhà nước là công cụ của Nhà nước để thực hiện

3 Mục tiêu hoạt động của hệ thống Ngân hàng trước hết là mục

4 Phương tiện của Nhà nước XHCN là sử dụng súc mạnh todn dan,

kỹ thuật hiện đại của thế giới, dưới sự hỗ trợ của các cấp Bộ Đảng,

II ĐẶC ĐIỂM CỦA HỆ THỐNG NGÂNHÀNG THƯƠNG MẠI

TRONG NEN KINH TE CO ĐỊNH HƯỚNG XHCN 45

Ul QUAN HE GIUA NGAN HANG NHA NUGC VA CÁC

IV HOAT DONG CUA HE THONG NGAN HANG TM VA

CHUONG Il: QUAN DIEM VE MOT HE THONG NGAN HANG TRONG

NEN KINH TE TH] TRUONG CO DINH HUONG XHCN

I HỆ THỐNG NGÂN HÀNG LÀ MỘT HỆ THỐNG NGÂN HÀNG

II HỆ THỐNG NGÂN HÀNG TRONG NỀN KINH TẾ CÓ

ĐỊNH HƯỚNG XHCN PHẢI LÀ MỘT HỆ THỐNG NGÂN HÀNG

CÓ TRÌNH ĐỘ KÝ THUẬT NGHIỆP VỤ CAO, THỎA MÃN

Trang 5

CHƯƠNG } VAI TRO CUA NHA NUGC XHCN TRONG QUAN LY

vi MO PHAI DUGC THE HIEN THONG QUA VIEC

SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ ĐIỀU TIẾT CÓ HIEU QUA,

I SỰ ĐẶC THÙ CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG CÓ

ĐỊNH HƯỚNG XHCN CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

1 Sư vô chính phủ và khủng hoảng kinh tế của nên kinh tế thị trường không có sự điều tiết của nhà nước

Trong nền kinh tế thị trường tự do hóa hoàn toàn trong lãnh vực sản xuất kinh doanh đã mang lại nhiều hậu quả tích cực, đổng thời cũng mang lại nhiều hậu

quả tiêu cực

Khi nền kinh tế thị trường được tự do hóa các nhà sản xuất luôn luôn dựa

vào yếu tố giá cả của thị trường để sản xuất Ở một loại hàng hóa nào đó mà giá

cả thị trường tăng nhanh, có nghĩa là cầu của thị trường về loại hàng hóa đó đang táng, hàng hóa sản xuất ra được tiêu thụ nhanh chóng và tiêu thụ với giá cả cao, ˆ_ lập tức các nhà sản xuất sẽ gia tăng đầu tư cho loại hàng hóa đó nhiều hơn Đối với loại hàng hóa nảo có giá thấp, sản xuất khó bán thì các nhà sản xuất sẽ thu hẹp

sản xuất lại

Trong điều kiện tự do hóa sản xuất và canh tranh các nhà sản xuất thường

bí mật các phương án sản xuất của mình, do vậy đấu hiệu cụ thể làm cơ sở cho sản

xuất chỉ là giá cả thị trường mà thôi Do cơ chế này tác động vào các nhà sản xuất nên nền kinh tế thường xuyên dẫn đến khủng hoảng về cơ cấu kinh tế

Khủng hoảng về cơ cấu kinh tế thể hiện ở một số ngành này thì tốc độ phát triển nhanh, ở ngành khác thì tốc độ phát triển chậm và hoặc ngược lại tủy theo

1

Trang 6

thời điểm khác nhau Sự khủng hoảng cơ cấu kinh tế thường xuyên dẫn đến sự mất

cân đối trong các ngành kinh tế làm cho nền kinh tế bị phát triển chậm lại, sản phẩm ở một số ngành thì thiếu trầm trọng, ở một số ngành khác thì dư trầm trọng

Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường tr do hóa hoàn toàn nông thôn là nơi

sẵn xuất ra các sản phẩm tối cần thiết thì ngày càng nghèo đi tương đối, khu vực sản xuất công nghiệp va dich vu thì giảu lên nhanh chóng, nhất là dịch vụ thương

nghiệp Lý do là sản phẩm nông nghiệp luôn bị hạn chế về cầu Tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp nhất là lương thực và thực phẩm bị hạn chế bởi nhu cầu con người về

loại sản phẩm này không thể gia tăng tiêu thụ theo sự giàu có của xã hội, thậm chí

đôi lúc nó bị giảm đi Ví dụ: Trong thời kỳ nền kinh tế còn kém phát triển khả năng tiêu thụ gạo của một người có thể lên đến trên 15 kg/tháng Song trong điểu kiện kinh tế phát triển việc tiêu thụ gạo cho một người chỉ ở mức 5kg - 10kg/người/tháng

Do việc sản xuất hàng hóa lệ thuộc vào giá cả và thị trường tiêu thú như

vậy nên sản phẩm nông nghiệp phát triển rất chậm, thậm chí vào những năm được

mùa giá cả sản phẩm giảm thấp đến mức người nông đân không muốn bán, họ để dành sản phẩm ở đó cho đến khi khan hiếm mới dem ra bán Tất nhiên là vốn của

họ bị động lại, họ phải đi vay để tiếp tục sẵn xuất Đối với một số mặt hàng không

để dành được như mía, rau, cá, thịt, người sản xuất buộc phải bán tháo để thu hồi vốn, thâm chí chịu lỗ Và sau đó họ phải nghĩ đến thu hẹp sẵn xuất, chuyển qua

ngành sản xuất khác Trong lúc đó các ngành sản xuất công nghiệp chế biến, xuất

khẩu, thương nghiệp thì lại được mua giá thấp và bán giá cao lợi nhuận siêu ngạch

của các ngành này rất cao

Nói tóm lại trong cơ chế thị trường tự do hóa sản xuất hàng hóa chịu rất

ta ae - , ‘ - a8 ` ` 3 2

nhiều rủi ro do không đắm bát được nhu cầu của thị trường cho tửng loại sản phẩm

cụ thể có sự phân công lao động đứng dắn cho tửng ngành sản xuất

Ngoài ra trong điều kiện tự do hóa sản xuất kinh doanh vào thời kỳ thịnh

vượng của nền kinh tế sản xuất phát triển rất nhanh, trong lúc đó thị trường phát

2

Trang 7

triển rất giới hạn dẫn đến vào một thời điểm nào đó hàng hóa sản xuất nhiều nhưng

sức mua của nền kinh tế thì không cân xứng làm cho giá cả hàng hóa giảm nhanh chóng Sự giảm hàng hóa buộc các nhà sản xuất phải thu hẹp sản xuất và làm cho nền kinh tế suy thoái dần Sự suy thoái sé bi chan dig khi mà hàng hóa bát dau trở nên khan hiếm, giá cả bắt dầu tăng lên Sự phát triển của nền kinh tế cứ lặp đi

lặp lại các giai doan phat triển, suy thoái, phục hồi như vậy được Mác gọi là chu

kỳ kinh tế Thời kỳ suy thoái kinh tế là thời kỳ khủng hoảng kinh tế trầm trọng của kinh tế thị trường tự do hóa sẵn xuất và kinh doanh, sản phẩm bị tiêu hủy không thương tiếc trong húc đó người lao động nghèo không có tiền để chỉ tiêu do sản xuất tiếp tục đỉnh đốn, thất nghiệp tăng lên

Trong nền kinh tế thị trường tự do hóa sản xuất và kinh doanh thì giá cả là

tiêu chí quan trọng để cạnh tranh, do vậy các nhà kinh doanh lớn có thể dùng giá

cả để đánh đổi các đối thủ cạnh tranh của mình Các nhà kinh doanh lớn sẵn sảng bán hàng hóa của mình với giá thấp để buộc các nhả kinh doanh khác phải chịu sự

phá sẵn, sau đó họ mới bán sản phẩm độc quyền của mình với giá cao để thu lợi

nhuận siêu ngạch Tự đo hóa sản xuất - kinh doanh thường dẫn đến độc quyền trong

kinh tế, cá lớn nuốt cá bé

Ưu điểm của ty do hóa cạnh tranh là giải phóng được sức lao động, giải

phóng dược tự liệu sản xuất nên nó cũng đã tạo ra sự phát triển nhanh chóng song

sự phát triển đó là không đều và thường xuyên mất cân đối

Về mặt xã hội mà nói, kinh tế thị trường tự do hóa sản xuất kinh doanh tạo điểu kiện cho tầng lớp một số nhà tư bản lớn phát triển nhanh chóng, người lao

động luôn luôn bị thua thiệt khi có khủng hoảng kinh tế, lạm phát xây ra Các nhà

tư bản nắm hết các nguồn lực của nền kinh tế kể cả tiểm lực về lao động Chính

các nhà tư bản phải tải trợ là các nhà khoa học để họ bán thành quả lao động khoa

học cho các nhà tư bản với nhiều điểu kiện ràng buộc không cho phép phổ biến

các thành nựu khoa học kỹ thuật tiên tiến cho toàn xã hội

Trang 8

Những tập doàn tư bản lớn nắm giữ các khâu then chốt của nến kinh tế như nguồn lực khoa học công nghệ, vốn sản xuất (tư bản tiền tệ), các nguồn nguyên

liệu quý hiếm (dầu hỏa, sát thép ) và do vậy họ chỉ phối mọi mặt đời sống kinh

tế xã hội

Do người lao động không nắm dược nguồn lực kinh tế gì trong tay, nên

phải luôn phấn đấu để làm cho "giá trị sức lao động" của mình có giá trị cao hơn

người lao động khác dé kiếm được công ăn việc làm ổn định, có thu thập cao và

như vậy sự đấu tranh sinh tổn trong giai cấp của những người lao động cũng xãy

ta gay gắt Sự đấu tranh sinh tồn này lại làm nâng cao tay nghể, nâng cao năng suất lao động xã hội và tất nhiên điểu dó mang lại rất nhiều lợi ích cho giai cấp tư sẵn,

còn chính giai cấp công nhân, nông dân, trí thức thì không được hướng thụ thành quả đó bao nhiêu Người có công an việc làm thi cd thể có đời sống tốt hơn, song

lực lượng lao động thất nghiệp thì có đời sống vô cùng cơ cực Đó là sự bất công của xã hội thị trường tự do hóa sản xuất - kinh doanh

2 Kinh tế kế hoạch hóa tập trung

Kinh tế kế hoạch hóa tập trung là nền kinh tế mà ở đó nhà nước sử dụng

công cụ kế hoạch hóa các chỉ tiêu phát triển của nền kinh tế và kế hoạch hóa các

chỉ tiêu sản xuất kinh doanh cho từng doanh nghiệp

Ở nền kinh tế này có ưu điểm là do sự lãnh đạc thống nhất về mặt sản xuất

- tiêu thụ hàng hóa nên sự phátriển của nền kinh tế về mặt quy mô, tốc độ phát triển luôn luôn được định sẵn Tính cân đối của nền kinh tế được bảo đâm cho các ngành kinh tế được phát triển đồng đều nên đã tránh được sự mất cân đối, khủng hoảng kinh tế cơ cấu, cũng như khủng hoảng kinh tế toàn điện Về mặt lý thuyết

mà nói một nền kinh tế như vậy là một nền kinh tế lý tưởng vì mọi hàng hóa sẵn phẩm sẵn xuất ra đều nhằm mục tiêu cho nâng cao đời sống người dân của toàn xã hội và còn phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế với tốc độ cao và quy mô lớn

4

Trang 9

Song để áp dụng một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung như vậy nó dòi

hỏi rất nhiều yếu tố quan trọng khác mà hấu hết các nền kinh tế hiện đại đều chua

thỏa mãn được

Thứ nhất là nó đôi hỏi các chỉ tiêu kế hoạch phải chính xác, đổng bộ với

nhau Nghĩa là các nhà làm kế hoạch phải hoạch định đúng xã hội cần bao nhiêu

sản phẩm A, phải bao nhiêu sản phẩm B bao nhiêu sản phẩm Z Và để sản xuất

ra từng ấy sản phẩm thì cần những tr liệu sản xuất gì? Lực lượng lao động phải

đạt trình độ gì? v.v

Với trình độ kỹ thuật hiện nay, có thể nói rằng -chưa rriệt quốc gia nào có khả nang làm được diều đó, nhất là việc định lượng nhu cầu tiêu dùng cho một cá nhân Chính bản thân người đó tự kế hoạch hóa cho họ về nhu cầu cũng không thể

nao làm được

Một diều khác cần thấy nữa là bản thân mỗi một quốc gia luôn luôn bị giới hạn về các nguồn lực sản xuất cho nên tự mỗi quốc gia không thể tổ chức một nền kinh tế toàn diện để thỏa mãn mọi nhu cầu trong nước Điều này tất yêu phải dẫn đến sự chuyên môn hóa sản xuất trên bình điện quốc tế và thực hiện trao đối hàng

hóa trên bình diện quốc tế Việc chuyên môn hóa sản xuất để trao đổi hàng hóa để

phát triển kinh tế và thỏa mãn nhu cầu rõ ràng phải sử dụng cơ chế mua bán giữa

các nước mà điểu này thì rất khó thực hiện kế hoạch hóa một cách tập trung, cứng

nhắc được

Thực tế cơ chế kế hoạch hóa tập trung đã được áp dụng ở các nước XHCN

trước dây và đầu tiên là ở Liên Xô Cơ chế này ban dầu nó đã phát huy tác dụng

trí tuệ tập thể và đã máng lại những thành công rực zỡ ở một số nước như Liên Xô,

Cộng hòa dân chủ Đức v.v Tuy nhiên tốc độ phát triển đó đã bị kiềm hãm lại vào

những thập niên 70-80 Nhiều loại hàng hóa sẵn xuất chủ yếu nhằm hoản thành

các chỉ tiêu mang tính chất thỏa mãn số lượng nhiều hơn là thỏa mãn về chất lượng

Trang 10

Do sự phân phối bình quân giá cả hàng hóa đã được kế hoạch hóa nghiêm

ngặt, dẫn đến động cơ lợi ích kinh :ế cá nhân bị thủ tiêu hoàn toàn trong mô hình

kế hoạch hóa cứng rắn

Hoạt động ngân hàng trong mnô hình nảy trở nên một công cụ đắc lực cho

việc hoàn thành các chỉ tiêu kế ho:ch của các công nghiệp và của nhà nước nói chung Tuy nhiên, hoạt déng Ngan =ang trong co chế nảy rất thụ động, không linh hoạt, thiếu hẳn động cơ thúc đẩy s: phát triển nội tại của ban thân ngành ngân hàng Hệ thống ngân hàng ở đây vẻ: như là một nhà quần thủ ngân quỹ của toàn

xã hội, vừa như là một công cụ củ: nhà nước để cung ứng vốn liếng cho các cơ

quan nhà nước, cũng như các doan” nghiệp Tiền mật trở nên phương tiện thanh toán chủ yếu của nền kinh tế va đưc: lưu giữ lại trong dân cư, trong các xí nghiệp,

tổ chức nhà nước một lượng khá lớ: Điểu đó làm cho tiền mặt trong nền kinh tế

trở nên khan hiếm trẩm trọng

Vốn tiểm năng của nền kinh :š không được huy động triệt để vào quá trình

sản xuất kinh doanh Của cải xã hội tổn tại dưới dạng hiện vật trong dân cư đểu

mang tính chất tư liệu tiêu dùng tuyệ: đối không hoán chuyển thành tư liệu sản xuất được Mà điều này gây ra thiệt hại rất lớn cho nền kinh tế Của cải xã hội tổn tại

dưới dạng tiến tệ trong dân cư để mang tính chất dự trử cho tiêu dùng, cũng không huy động được vào quá trình sản xuất kinh doanh bao nhiêu, mặc dù nhà nước có

chính sách để thu hút tiền tiết kiệm, tiển tạm thời nhàn rỗi

Chúng ta có thể tin rằng trong một nền kinh tế mà của cải cá nhân luôn luôn vận động được hoán chuyển từ tiêu dùng qua san xuất hoặc ngược lại thị nền kinh tế đó mới phát triển nhanh chóng được Nếu của cải xã hội bị ngưng trệ ở đâu

đó trong quá trình vận động có nghĩa là giá trị sử dụng của nó chưa được khai thác

và do vậy nó chưa thể kết hợp với sức lạo động để sẵn xuất ra giá trị thăng dư được

Một nền kinh tế mà sự ngưng trệ của tài sản xã hội càng nhiều, càng ở dạng

bất động lâu dài thì chác chấn nền kinh tế đó không thể có một tốc độ phát triển

nhanh được

Trang 11

®e Quá trình sáng tạo ra của cải xã hội đã được Mác chỉ ra là :

Hàng hóa - SX - hàng hóa Hay la: H- sx-H’

Trong dé H’ > HhaylàH' - H = m

m chính là giá trị sáng tạo mới của xã hội Nếu nhìn vào chu trình đó có sự

tham gia của tiển tệ thì nó sẽ là:

T-H-s H-T

Như vậy rõ ràng rằng quá trình vận động của tiền tệ, hàng hóa càng có tốc

độ cao thì giá trị sáng tạo mới càng được tạo ra nhiều hơn Và ngược lại tốc độ vận

động của quá trình vận động của hàng hóa tiển tệ càng thấp thì giá trị sáng tạo mới

cho xã hội cảng ít

Mục tiêu của chế độ xã hội chủ nghĩa là phải thôa mãn ngày càng cao nhu cầu vật chất tinh thần của con người dựa trên cơ sở phát triển nền sản xuất ngày

càng có hiệu quả hơn

Hoạt động ngân hàng có vai trò rất lớn trong quá trình sảng tạo ra của cải

xã hội này Đó là vai trò huy động các nguồn tiền tệ để từ đó giúp các doanh nghiệp

huy động các nguồn của cải vật chất vào quá trình sản xuất tạo ra giá trị tháng dư cho xã hội Trong cơ chế kế hoạch hóa cứng rắng vai trò này của ngành ngân hàng

đã bị hạn chế đến mức coi như không có Do đó hoạt động của hệ thống nhân hàng

chỉ như là cung cấp các "chứng thư - tiền tệ" để cho phép một doanh nghiệp được

phép huy động một số của cải xã hội giới hạn theo kế hoạch dược giao mà thôi

Hệ thống ngân hàng khéng thể đóng vai trò một tác nhân kinh tế thúc đẩy các quá trình sản xuất và sáng tạo của xã hội

Hơn nữa các chức năng cố hữu của tiền tệ trong điểu kiện này cũng bị khiếm

khuyết đi rất nhiều

Trang 12

Chức náng thước do giá trị của hàng hóa dã bị kế hoạch hóa qua giá cả kế

hoạch Giá trị thực của một hàng hóa được xã hội thừa nhận là bao nhiêu đơn vị

tiển tệ không còn có ý nghĩa nữa Ở dây giá trị hoặc giá cả của hàng hóa đã được nhà nước quy định chứ không thuộc về sự thừa nhận của xã hội Mà điều này không phù hợp với học thuyết giá trị xã hội của Các Mác Đơn vị tiền tệ ở đây chỉ còn là đơn vị để đếm "số lượng" hàng hóa được mua bán chứ không phải là đơn vị đo lường giá trị của hàng hóa Tại sao như vậy?

Vì rằng giá trị hàng hóa là giá trị lao động xã hội được thửa nhận bởi xã

bội chứ không phải là hao phí tiền tệ đã chỉ ra để sản xuất ra hàng hóa đó và cộng

thêm một phần lợi nhuận kế hoạch

Mác đã khẳng định rằng giá trị của hàng hóa được thể hiện thông qua giá

cả Mà giá cả chính là sự thửa nhận của xã hội về sức lao động tích lũy trong hàng

hóa đó chứ không là gì khác hơn Mác rất chí ly khi cho rằng:

"Tổng giá cả hàng hóa = Tổng giá trị hàng hóa"

Tổng giá cả hàng hóa nói ở đây là tổng giá cả đã được xã hội hay người sử dụng thừa nhận nó, chứ không phải là tổng giá cả được kế hoạch hóa một cách máy móc trong cơ chế kế hoạch hóa cứng rắn

Có thể nói rằng đây là điểm mấu chốt của một nền kinh tế và của các nhà

sản xuất khi quyết định sản xuất ra cái gi?

Chức năng lưu thông của tiển tệ trong cơ chế kế hoạch hóa cũng bị hạn chế rất lớn Khi tiền làm chức năng lưu thông có nghĩa là tiền giúp cho hàng hóa được

giữ vai trò trung gian một cách thụ động, mà nó không còn giữ vai trì chủ động

của một công vụ lưu thông Nghĩa là không phải có tiển và thỏa thuận được giá cả

là hàng hóa có thể mua và bán.

Trang 13

# = , - a a tA

Chức nang thanh toán của tiển tệ được thể hiện qua việc sử dụng nó để chỉ

trả các khoản nợ về mua bán hàng hóa, hoặc các khoản nợ về dịch vụ, hoặc các

khoản vay mượn đã đến hạn hoàn trả v.v

Trong cơ chế kế hoạch hóa do việc hạn chế các giao địch khi chưa có nguồn

tiến để thanh toán Nghĩa là việc mua bán chịu, mua bán trả góp bị coi là "vi phạm

quy luật lưu thông tiền tệ" nên chức năng thanh toán của tiển tệ cũng chỉ phát huy

được chủ yếu để hoàn trả tín dụng giữa các ngân hàng và các xí nghiệp Việc vận dụng chức năng này để thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa gẩn như bị cấm đoán triệt để

Trong cơ chế thị trường một chủ thể có thể mua hoặc bán một giá trị hàng hóa khi họ chưa có một nguồn tiển tệ để chỉ trả ngay tức khác Ở dây người mua chỉ hứa với người bán là họ sẽ trả cho người bán số tiền vào một thời điểm trong

tương lai Đến thời điểm đã hứa người mắc nợ có nghĩa vụ thanh toán cho người

chủ nợ số tiền đã hứa tra Diéu nay mang lại rất nhiều lợi ích vì hàng hóa sẽ được

vận động theo nhu cầu sản xuất và xã hội kể cả khi các bên giao địch chưa có ngân

khoản để chỉ trả Điều này làm cho tiền tệ trở nên có một vai trò cực kỷ quan trọng trong quá trình phát triển sản xuất Đặc biệt là quá trình mua bán chịu giữa các chủ

thể kinh tế làm phát triển hoạt động Ngân hàng, thông qua việc Ngân hàng thương

mại cho vay các chủ thể kinh tế trên cơ sở chiết khấu các loại giấy tờ hứa trả, các

kỳ phiếu thương mại

Chức năng cất trử của tiển tệ trong cơ chế kế hoạch hóa cũng bị khiếm khuyết nghiêm trọng Do việc tích lũy tài sản chỉ còn được thực hiện trên cơ sở nhà

nước Tiết kiệm và để dành của cá nhân không còn động lực thúc day 6 day khong

ai nghỉ đến việc để dành tiển để tích lũy tài sản như là một khoản tài chính có khả

năng sinh lợi nữa Việc để dành tiền chẳng qua để thu góp cho một khoản chỉ tiêu

tương lai như mua sắm các tài sản sinh hoạt, mua nhà ở, phương tiện di lại, hoặc

đi du lịch

Trang 14

Trong lúc đó về mát kinh tế mà nối, cất trử tiền tệ giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế với nguyên tắc người này cất trử, nhưng món tiền lại được chuyển dich cho người khác sử dụng chứ bản thân khoản tién không đứng yên Điều đó

cho phép các chủ thể vay mượn nhau để sử dụng tạm thời và do vậy nó tạo ra một

sức mua xã hội ngày càng tăng lên Sức mua xã hội tăng sẽ dẫn đến sản xuất tăng trưởng, giá trị thặng dư xã hội sẽ dược nâng lên liên tục Cơ chế kế hoạch hóa tập trung đã làm hạn chế chức nâng này của tiền tệ đến mức tiền chỉ còn được giữ lại

như một món tài sản nằm im để chờ ngày sử dụng mà chỉ có chủ sở hữu mới có

thể làm Tiết kiệm của dân cư gởi vào các Ngân hàng chỉ nhằm mục đích tiết kiệm

lượng tiền mặt trong lưu thông chứ nó không có tác đụng gì đến yêu cầu tích lãy tài sân sinh lợi của toàn xã hội

Chức náng tiền tệ thế giới của tiền tệ càng không có ý nghĩa bao nhiêu Mọi giao dich quốc tế được thực hiện qua các kế hoạch thương mại giữa các nước Miột

loại đơn vị tiển tệ nào đó được chọn dé lam don vị ghi chép với giá trị cố dinh của

nó Tiển tệ không đóng vai trò lưu thông hàng hóa, hoạc thanh toán trên phạm vị thế giới Các khoản vay mượn giữa các nước thực chất chỉ còn là giao dịch hiện

vật Còn tiền tệ chỉ đóng vai trò thống kê và ghi chép nợ nan, thanh toán giữa các

nước mả thôi

Do vậy quan hệ Ngân hàng giữa các nước cũng rất hạn chế Mặc dù trong khối các nước XHCN trước dây cũng có một Ngân hàng đầu tư chung giữ vai trỏ cho vay đầu tư các nước trong khối, song hoạt động của nó cũng bị hạn chế rất

nhiều do hoạt động giao lưu hàng hóa giữa các nước đã được thỏa thuận theo kế

hoạch tử trước Hoạt động giao lưu hàng hóa không phát triển dẫn đến tất yếu hoạt động ngân hàng không phát triển Bởi vì rằng hoạt động ngân hàng không có gì hơn là chuyển các khoản tài chính từ tay người sở hữu nó nhưng chưa có nhu cẩu, chưa có cơ hội sử dụng đến tay người có cơ hội sử dụng nhưng chưa có tiền

_10

Trang 15

Qua phân tích trên có thể kết luận rằng hoạt động ngân hàng dưới cơ chế

kế hoạch hóa rất hạn chế cả về mặt chất và lượng

Ngân hàng không đóng vai trò của một tác nhâ kinh tế, kích thích, tạo điểu kiện cho phát triển kinh tế, mà ngân hàng trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung chỉ đóng vai trỏ một cơ quan phục vụ cho quá trình phân phối vốn tiền tệ cho các cơ

quan, doanh nghiệp dựa trên kế hoạch đã được vạch ra tử trước

Trong cơ chế kế hoạch hóa, nhà nước nắm quyển phát hành thêm tiền vào lưu thông, đổng thời nắm quyền phân phối phát hành đó cho các tổ chức nhà nước

và các doanh nghiệp Do vậy hoạt động ngân hàng thuần túy chỉ còn là hoạt động,

ghi chép để phần ánh quá trình phân phối vốn tiền tệ cho nền kinh tế mà thôi

Do nắm quyển phân phối vốn tiển tệ cho toàn bộ nền kinh tế trong cơ chế

kế hoạch hóa nhà nước thực sự làm chức năng điểu tiết sự hoạt động kinh tế tử

trung wong dén cơ sơ?

Có thể nói rằng trong cơ chế kế hoạch hóa cứng rắn này nhà nước có một sức mạnh vô địch và do vậy mà mọi hoạt động kinh tế déu có thể được thực hiện theo ý đổ của nhà nước Qua hoạt động kinh tế sức mạnh toàn dân được nhả nước

huy động ở mức cao nhất Điều đó chứng minh cho sự thành công của nhà nước

xã hội chủ nghĩa ở các nước trong thời kỳ đầu xây dựng kinh tế

Tuy nhiên cơ chế này dần đà không còn thích hợp cho sự thiếu lính hoạt

của nó Sự sáng tạo chủ động của cá nhân và các doanh nghiệp không được khơi dậy do sự quan liệu của bộ máy kế hoạch hóa ở mức cao

Tình hình đó cho thấy không thể duy trì bộ máy kế hoạch hóa cứng rắn lâu

đài được mà phải đổi mới quá trình kế hoạch này để có thể huy động được sự tự

nguyện, tự giác và sáng tạo kinh tế của toàn dân

Trang 16

3 Nén kinh tế thị tường có định hướng XHCN ở Việt Nam

Nền kinh tế thị trường có định hướng XHCN ở Việt Nam là một nền kinh

tế thị trường có những đặc thủ nhất định Sự đặc thù đó có thể xác định:

- Nền kinh tế thị trường Việt Nam tiếp nhận những ưu điểm của kinh tế thị

trường hiện dai và có khả năng khác phục những khuyết tật mà các nước theo cơ

chế thị trường đã vấp phải

- Nền kinh tế thị trường Việt Nam là nền kinh tế thị trường mở cửa có thể

tham gia vào phân công lao động quốc tế và liên kết kinh tế quốc tế

- Nền kinh tế thị tường Việt Nam là nền kinh tế thị trưởng hoạt động dưới

sự lãnh đạo của Đảng Công sản Việt Nam đứa tiên cơ sở đường lối quan điểm của

giai cấp công nhân với công cụ là nhà nước nhân dân, do dân và vì dân

a Nên linh tế thị trường VN có khả năng tiếp nhôn những uu điểm và khác phục những khuyết tật của lĩnh tế thị tường lạc hậu

Kinh tế thị trường thế giới đã phát triển qua nhiều giai đoạn nhưng có thể tóm tất trong hai trường phái khác biệt nhau:

- Trường phái kinh tế thị trường tự do hoàn toàn Theo quan điểm của trưởng

phái kinh tế thị trường tự do hoàn toàn thì cần phải tôn trọng sự tự do của cung và cầu Nghĩa là phải tôn trọng sự tự do của mỗi người trên quan điểm sản xuất và tiêu dùng Quan điểm này đã dẫn đến sự vô chính phủ trong sản xuất và khủng hoảng kinh tế trầm trọng Vì các nhà kinh tế cổ diễn cho rằng chính sức cung tạo

ra cầu Do vậy cần phải sản xuất ra thật nhiều bảng hóa và do sự sắp xếp của bàn

tay vô hình cầu sẽ gặp cung ở một điểm nào đó và tạo ra sự thăng bằng cho

Trang 17

hóa được sẵn xuất ra, dẫn đến giá cả hàng hóa giảm thấp Các nhà tư bản không

thể bán hàng giá thấp vì nó không dủ để bù đắp chỉ phí và họ đã giải quyết bằng

hình thức đem tiêu hủy hàng hóa đi để tạo sự cân bằng mới Đó chính là sự khủng hoảng kinh tế thửa của các nước theo chủ nghĩa tư bản vào thế kỷ XV,

XVI, XVI, XVII

Về mật kinh tế đối ngoại ho chủ trương bán được thật nhiều hàng hóa ra nước ngoài và thu về thật nhiều vàng là tốt Do chủ trương này mà nhân dân trong nước luôn luôn nghèo khó và các nhà tr bản thì gom góp vàng bạc của thế giới

về thật nhiều

Đây là một sự lẩm lẫn về một quan điểm đã làm cho nhiều nước vốn rất giàu có dần dan bị nghèo di mặc dù họ có rất nhiều vàng như đế quốc Tây Ban

Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan trước dây

Rõ ràng cần phải khác phục sự lụn bại của nền kinh tế thị trưởng Tự do này Các nhà kinh tế đã dưa ra học thuyết kinh tế có sự can thiệp của nhà nước, mà riêu

biểu là Keynes

Quan diểm của các nhà kinh tế theo trường phái Keynes là phải có sự can

thiệp của nhà nước để tạo ra sự tháng bằng trong kinh tế đặc biệt là phải tạo ra

nhiều công ăn việc làm nhiều hơn cho người lao động Theo Keynes toàn dụng

nhân công không thể xảy ra và trong nền kinh tế thị trưởng tự do Và thậm chỉ trong

nền kinh tế thị trưởng tự do thất nghiệp tăng lên rất cao do các nhà tr bản tìm cách

cải tiến kỹ thuật để gia tăng năng suất lao động, để kiếm lợi nhuận nhiều hơn Điều

trọng trong việc gia tăng sức cầu của xã hội để kích thích sản xuất Trong đỏ có việc gia tăng chỉ tiêu của nhà nước Sự gia tăng chỉ tiêu nhà nước sẽ đến dẫn sự gia tăng tiêu dùng Sự gia tăng tiêu đằng sẽ dẫn đến sự gia tăng sản xuất Sự gia tăng

Trang 18

san xuat sé.gia tang đầu tư, tạo công ăn việc làm và tạo ra thu nhập Thu nhập gia

tăng lại tiếp tục kích thích gia tầng sản xuất Nền kinh tế cứ như vậy mà tiến lên

Cuối củng Keynes đã rút ra một quy luật quan trọng là quy luật số nhân

Quy luật này nói rằng sản xuất sẽ gia tăng lên nhiều lần ghề vào khuynh

hướng tiêu thụ gia tăng của xã hội

Số nhân Keynes =

1—C

Trong dé C là khuynh hướng tiết kiệm hay để dành của dân cư khi họ kiếm thêm được một đồng thu nhập trên mức thu nhập tối thiểu Rõ ràng rằng theo Keynes mức phát triển kinh tế tỷ lệ thuận với khuynh hướng tiêu dùng và tỷ lệ nghịch với

khuynh hướng tiết kiệm

Quan điểm của Keynes và các nhà kinh tế theo Keÿnes được nhiều nhà từ bản áp dụng trong thời kỳ cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XIX, cho đến cuộc khủng hoảng 1929

Trong cuộc khủng hoảng này người ta nhận thấy rằng mặc đủ chỉ số lạm phát rất cao ở các nước, nghĩa là sức cầu xã hội tảng cao, nhưng sản xuất thì không

thể gia tang được Như vậy rõ ràng rằng quan điểm của Keynes đã có sự không

phủ hợp với thực tế, buộc các nhà kinh tế phải xem xét lại quan điểm này Chính

sách lạm phát để kích thích xem ra không hữu hiệu nữa và người ta buộc phải đưa

ra các biện pháp để chống lạm phát và coi lạm phát như là một tác nhân gây mất

ổn định cho nền kinh tế

Lam phát làm cho giá cả hàng hóa gia tăng nhanh chóng và điều đó đã làm cho các nhà sản xuất không thể nào dự đoán được sự biến động của nền kinh tế

Hơn nữa lạm phát đã đánh sụt thu nhập của dân chúng Nghĩa là sức mua xã hội

thực tế không được nâng lên mà giảm đi Giá cả hàng hóa trong thời kỳ lạm phát thì tăng lên rất nhanh còn thu nhập của dân chúng thì không thể nào tăng lên theo

14_

Trang 19

gia tốc của lạm phát được, chính vì vậy cảng ngày thu nhập của dân cư cảng bị đánh sụt đến mức khó có thể đảm bảo cho sự tiêu thụ hết hàng hóa sản xuất được Điểu này buộc các nhà sản xuất phải thu hẹp sản xuất, sa thải công nhân và lý thuyết toàn dụng nhân công của Keynes đến đây cũng bị phá sản theo Các nền

kinh tế thuộc các nước theo cơ chế thị trường hiện đạt đã bước qua một thời kỳ phát triển mới với các nhà kinh tế tân cổ điển Các nhà kinh tế đương đại đều chấp nhận

rằng phai tạo ra sự cân đối giữa cung và cầu, đổng thời phải chống lại sự lạm phát

và khủng hoảng kinh tế

Trong quá trình kinh tế hiện nay các nước đều chủ trương phải kế hoạch

hóa cung ở cấp vĩ mô Nhà nước kiểm soát hoạt động kinh tế bằng chính sách tiển

tệ và dược mệnh danh là các nhà kinh tế theo lý thuyết trọng tiền Lý thuyết của

trường phái trọng tiển có ưu điểm hơn các trường phái kinh tế trước đó là vừa đảm bảo cho nền kinh tế phát triển trên cơ sở cung cầu tự do, nhưng nhà nước sẽ sử dụng công cụ tiển tệ để điểu tiết giữa lực lượng cung và cầu sao cho nó luôn luôn được giữ ở mức tháng bằng, đồng thời nhà nước coi trọng việc ổn định giá trị tiền

tệ đối nội, cũng như đối ngoại nhằm tạo điều kiện cho các nhà sản xuất kinh doanh

có thể dự kiến được những biến động của thị trường, nghiên cứu thị trưởng một

cách đẩy đủ hơn, nhằm cung ứng cho thị trưởng những hàng hóa và dịch vụ mà thị

trường có thể tiêu thụ được

Qua quá trình phần tích và rút ra các bài học kinh nghiệm của cơ chế thị

trưởng đã trải qua ở các nước tư bản chủ nghĩa, rõ ràng rằng việc chuyển đối cơ chế từ cơ chế kế hoạch qua cơ chế thị trường của chúng ta hiện nay có nhiều thuận lợi

Hơn nữa với những kinh nghiệm mà chúng ta đã rút ra được từ thời kinh tế

bao cấp, kế hoạch hóa tập trung cũng sẽ được phối hợp sử dụng với những kinh

nghiệm học tập được ở cơ chế thị trường sẽ tạo cho chúng ta hoạch định được những bước đi vững chắc hơn

Trang 20

e Những bài học rúi ra từ cơ chế thị trường có thể tổng kết được bao gồm :

- Phải bảo đảm được sự cân đối giữa cung và cẩu trong nền kinh tế Trong

đó cung bao gồm sản xuất trong nước và nhập khẩu, cẩu bao gồm tiêu dùng của nhân dân, nhà nước, xuất khẩu và đầu tư cho nền kinh tế

- Phải đầm bảo cho sự gia tăng của cầu thông qua các chính sách phân phối

và phân phối lại để tạo ra một mức tiêu dùng ngày càng cao đặc biệt là ở các tầng lớp người lao động, nhất là ở khu vực nông thôn của chúng ta hiện nay thu nhập còn rất thấp, chưa nâng cao được mức cẩu về hàng hóa vả địch vụ Đây cũng là một trong những mục tiêu quan trọng của nền kinh tế nước ta phải đạt được Tạo điều kiện cho mọi người có công ăn việc làm, nâng cao thu nhập, mức sống

- Phải đảm bảo cho sự sáng tạo của cá nhân và tập thể được phát huy ở mức

cao nhất mà trong dó mục tiêu của sáng tạo là phục vu lợi ích xã hội, động cơ sáng

tạo là thu nhập tương xứng với sức lao động chấp nhận sự cạnh tranh trong kinh

tế, song sự cạnh tranh đó phải dược điểu chỉnh cho phù hợp với lợi ích chung của

toàn xã hội

- Tiển tệ sẽ được nhà nước sử dụng như một một công cụ linh hoạt nhất để

tạo sự phát triển cân đối, tạo sự thăng bằng giữa cung và cầu Trong đó ngân sách

và Ngân hàng sẽ là hai công cụ chủ yếu nhất để điều tiết nền kinh tế

- Lạm phát là một hiện tượng kinh tế bất lợi cần phải được kiểm soát và

hạn chế đến mức thấp nhất Ổn định tiền tệ được thực hiện bằng các chính sách tiền tệ hữu hiệu

e Các bài học rủi ra tì cơ chế kế hoạch hóa tâp trung là -

- Trong điều kiện kế hoạch hóa tập trung nhà nước nắm quyển kiểm soát

toàn bộ hoạt động kinh tế, do vậy những mục tiêu của kế hoạch đặt ra thực hiện

một cách triệt để từ trung ương đến địa phương Việc đạt các mục tiêu chủ yếu của

nền kinh tế là thực hiện được đẩy đủ và dé dang

16

Trang 21

- Sự biến động về giá cả, thu nhập gần như là không xây ra, do đó đời sống

của người lao động được ổn định lâu dài,

- Hoạt động kinh tế từ trung ương đến địa phương dược kế hoạch hóa một cách vững chắc do đó tính cân đối được bảo đảm

Tuy nhiên với trình độ kế hoạch hóa thấp như điều kiện của Việt Nam vừa

qua, kế hoạch hóa tập trung có nhiều nhược điểm không thể khác phục được

- Hàng hóa sản xuất không thỏa mãn được ý muốn của người tiêu dùng

Hàng hóa được kế hoạch hóa thì đơn điệu mang tính chất hàng loạt không đa dạng,

trong lúc nhụ cầu của người tiêu dùng thì rất phong phú, da dang

- Phân phối thu nhập mang tính chất bình quân không kích thích sự gia tầng năng suất lao động và cải tiến kỹ thuật công nghệ trong các doanh nghiệp Chỉ tiêu

kế hoạch được coi trọng về mặt lượng còn mát chất không được quan tâm dung mức dẫn đến tình trạng hàng hóa được sản xuất nhiều song hiệu qua trong sử dụng

thấp không thỏa mãn nhu cầu nâng cao đời sống và phát triển sản xuất Nhất là yêu cầu của công nghệ hóa và hiện dại hóa nền kinh tế bị trì trệ

- Phương pháp phân phối hàng hóa bình quân dẫn đến tình trạng người

không có nhu cầu cũng được phân phối người có nhu cầu cao thì được phân phối

ít Cách phân phối này thoạt nhìn thì công bằng, nhưng thực chất lại không công

bằng, không có hiệu quả về mật kinh tế xã hội Vì hàng hóa sẵn xuất ra là để phục

vụ cho nhu cầu nâng cao cuộc sống, thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt hằng ngày

của con người

- Yếu tố cạnh tranh bị thủ tiêu trong cơ chế kế hoạch hda dan đến su tri trệ của sẵn xuất Tử những bài học rút ra trong quá trình xây đựng nền kinh tế ở nước

ta với định hướng XHCN chúng ta có khả năng loại bỏ những nhược diểm của cả kinh tế thị trường lẫn kinh tế kế hoạch tập trung Trong đó có một kinh nghiệm lớn

17

Trang 22

là dùng những chính sách tiển tệ để điều khiển hoạt động của nển kinh tế, sử dụng

hệ thống nhân hàng và các công cụ tài chính khác trong một sự phối hợp hài hòa

dể thúc đẩy nền kinh tế phát triển một cách cân đối và có kế hoạch

b Đốc điểm của nên kinh tế Việt Nam hiên nay là một nên linh tế mổ của dựa trên cơ sở tham gia vào phân công lao động quốc tế và liên kết kinh tế quốc lế

M6 cita nén kinh tế là một định hướng đúng dắn của Đẳng và nhà nước ta trong việc xây dựng nến kinh tế hiện nay Sự mở cửa đó dựa trên cơ sở của phân

công lao động quốc tế và liên kết kinh tế quốc tế

Phân công lao động quốc-tế được hiểu một cách đẩy đủ đó là sự chuyên

môn hóa trong sản xuất hàng hóa dựa trên những đặc điểm về lợi thế của các tài

nguyên quốc gia như tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, số lượng và chất lượng lao động để sản xuất ra hàng hóa có giá trị sử dụng cao, có khả năng

tiêu thụ trên thị trường thế giới mà trong nước có thể sản xuất một cách thuận lợi

để trao đổi với thị trường thế giới nhằm tìm kiếm các hàng hóa mà †a chưa sản xuất được hoặc sản xuất được nhưng chi phí sản xuất cao, không có lợi về mặt kinh tế

Sự trao đổi hàng hóa như vậy giúp chứng ta cd thể nâng cao được mức thu nhập, đồng thời cho phép chúng ta tìm kiếm các công nghệ hiện đại mà ta chưa

thực hiện được, tìm kiếm nhiều sản phẩm có giá trị sử dụng cao trong sản xuất và

tiêu ding nang cao din mức sống của nhân dân lên ngang tẩm với các nước khác

Liên kết kinh tế quốc tế đó là sự hợp tác có ý thức với các nước trên thế

giới để tiến hành sản xuất nhằm sử dụng các tài nguyên quốc gia triệt để nhất, tiết

kiệm và có hiệu qua hon Do tài nguyên của mỗi quốc gia rất khác biệt nhau, sự

cạnh tranh xuất khẩu trên thị trường thế giới sẽ dẫn dến sự thiệt hại cho các nước

xuất khẩu, buộc các nước đi đến một sự xem xét lại, bàn bạc thỏa thuận với nhau

để đi đến một sự hợp tác có ý thức trong phân công lao động quốc tế nhằm giảm

_18_

Trang 23

a

đi sự cạnh tranh gây thiệt hại cho các nước củng xuất khẩu một mát hàng giống

nhau, hoặc tiến hành phối hợp với nhau trong quan hệ ngoại thương tiến tới sự tự

do hóa thị trường tiêu thụ hàng hóa, tự do hóa di chuyển sức lao động, tư bản, tiến tới hình thành các chỉnh thể kinh tế mới với một nhóm nước cùng hợp tác với nhau trong phát triển kinh tế như EU, ASEAN, NAFTA

Điều kiện mở rộng giao lưu kinh tế thông qua công lao động và liên kết

kinh tế tạo ra một sự thuận lợi mới trong phát triển kinh tế thị trưởng

nước ta niện nay

Thứ nhất là thị trường hàng hóa trở nên phong phú hơn, chúng ta có thể mở

rộng sản xuất các loại hàng hóa đặc thủ có khả năng tiêu thụ trên thị trưởng thế

giới, đồng thời chúng ta cũng có thể tìm kiếm các mặt hàng cần thiết cho nâng cao

chất lượng sản xuất và tiêu dùng trong nước Đặc biệt là hàng hóa tư liệu sản xuất

có trình độ công nghệ cao

Điều này cho thấy sự phát triển kinh tế hiện nay không thể thoát ly được

thị trường thế giới Hơn nữa, Việt Nam là một nước đang phát triển cẩn rất nhiều

vốn để mở rộng, phát triển sản xuất kinh doanh Vì vậy cần phải dựa vào điều kiện

mở cửa để thúc đấy việc thu vốn nước ngoài đầu tư vào nền kinh tế với nhiều dạng khác nhau như đầu tư trực tiếp, đầu tr liên doanh, đầu tư tín dung

Quan hệ thanh toán tiển tệ, tín dụng ngân hàng ngày cảng được mở rộng

Điều này bắt buộc hệ thống ngân hàng phải vươn lên để bắt kịp hoạt động của các

ngân hàng khu vực và thế giới

Điều này cho thấy sự tổn tại và phát triển hệ thống ngân hàng là tất yếu

không thể nào khác được Hơn nữa hệ thống ngân hàng sẽ đóng gớp một vai trô

cực kỳ quan trọng trong quá trình phát triển nén kinh tế

c Nên linh tế thị trường Việt Nam là nên kinh tế hoat động dưới sư lãnh

đao của Đảng Công sản Việt Nam

Trang 24

Đây là một đặc điểm lớn của nền kinh tế thị trường Việt Nam trên khía cạnh

so sánh với kinh tế thị trường của các nước khác Lịch sử đấu tranh của dân tộc

Việt Nam đã hình thành nên Đảng Cộng Sản Việt Nam và suốt mấy thập kỷ vừa qua Đảng Công Sản Việt Nam đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam đánh thắng nhiều đế

quốc xâm lược và đang tiếp tục lãnh đạo nhân dân Việt Nam xây dựng nền kinh tế

Trong diều kiện đó, đường lối, quan điểm về phát triển kinh tế của Đẳng

luôn luôn xuyên suốt các quá trình lịch sử phát triển đất nước trên mọi mật từ chính

trị đến kinh tế, xã hội

Chính vì vậy mà nền kinh tế thị trường Việt Nam được định hướng theo XHCN Quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội Việt Nam hiện nay với những mục

tiêu trước mát là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn mình, tiến bộ Quan

điểm đó đã được khẳng định trong tu tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh và trong tư

tưởng lãnh đạo của nước ta

Khi nói đến dân giàu, nước mạnh đòi hỏi phải tích cực thị đua sản xuất, huy động mọi tiểm năng của nền kinh tế để biến những tiểm năng đó thành sản

phẩm, hàng hóa nâng cao đời sống người dân Muốn huy động các tiểm năng của nền kinh tế hiện nay trong điểu kiện cơ chế thị trưởng không có con đường nào hơn

là phải sử dụng công cụ tiển tệ Bởi vì rằng tiền tệ với những chức năng truyền thống của nó là lưu thông hàng hóa, nó cho phép chúng ta lưu thông tiển tệ ma dua

ra các giá trị sức lao động, dất đai tài nguyên, khoáng sản vào quá trình sản xuất

và tái sản xuất

Việc huy động các nguồn tài nguyên quốc gia vào quá trình sản xuất để

nghĩa là dựa trên nhu cầu có thực để sản xuất, chứ không phải là dựa trên các chỉ tiêu kế hoạch thiếu cơ sở thực tiễn Điểu này bất buộc rằng người san xuất phải

tính toán, phải thực hiện tiêu thụ hàng hóa qua thị trường và thu hều lại giá trị các chi phí đã bỏ ra và giá trị thặng dư tạo được trên thị trường dưới hình thức tiển tệ

_20_

Trang 25

Điều đó nói lên rằng các nhà sản xuất cũng phải sử dụng tiển tệ để làm công cụ hoạt động kinh tế và đo lường hiệu quả các hoạt động kinh tế đó

Ý tưởng dân giàu, nước mạnh theo ý kiến chúng tôi trong thời đại hiện nay cũng được đo lường bằng tiển tệ với các chỉ tiêu như giá trị tổng sản phẩm quốc

gia, thu nhập bình quân dầu người tăng lên Và do vậy các biện pháp cụ thể để lãnh

dạo nền kinh tế, để đánh giá sự dúng đắn của các biện pháp đó cũng được thực hiện qua công cụ tiển tệ

Ý tưởng dân giàu nước mạnh hiện nay còn được thông qua các quan hệ

kinh tế đối ngoại ngày càng được vững chắc trên thị trưởng quốc tế Quan hệ kinh

tế đối ngoại này cũng không thoát ly được quan hệ tiền tệ mà hơn nữa được thể

hiện đẩy đủ trong quan hệ tiền tệ Trong quan hệ này dường lối của Đảng ta cũng

chỉ rõ ra rằng quan hệ này phải dựa trên nguyên tác bình đẳng, hai bên cùng có lợi

và không can thiệp vào nội bộ của nhau Chúng ta cẩn tận dụng sức mạnh của nền kinh tế thế giới để phát triển nền kinh tế, nhưng phải giữ vững sự độc lập chủ quyền quốc gia trong quan hệ kinh tế đối ngoại này

Thứ hai là xã hội công bằng Ý tưởng xã hội công bằng trước hết theo chúng

tôi là mọi người dân đều bình dẳng trước pháp luật, được quyển có công ăn, việc làm; được lao động theo khả năng và hưởng thụ theo kha nang laođộng

da cong hién

Đây là một công việc khó làm trong cơ chế thị tưởng Do hoàn cảnh bản

thân về thể lực, tiến trình được giáo dục, đào tạo, sự chỉ phối của gia đình, hoàn cảnh địa lý, nhân văn v.v mỗi người sẽ có một khả năng để hòa nhập vào xã hội khác nhau Nếu cứ để cho cơ chế thị trường tự do tác động vào bản thân từng người lao động thì chác chắn có người tìm kiếm được các cơ hội kinh doanh dễ đàng hơn

những người khác Sự cạnh tranh diễn ra một cách không cân sức giữa các thành

phần kinh tế khác nhau, giữa các nhóm người lao động khác nhau, cũng như giữa

những người lao động Sự cạnh tranh này về mặt tích cực nó buộc mọi người phải

_21_

Trang 26

gia tăng khả năng để tìm kiếm cơ hội kinh doanh và do vậy nó thúc dẩy xã hội tiến

bộ Song về mát tiêu cực nó sẽ làm phân hóa xã hội thành những nhóm người giàu

có và những nhóm người rất nghèo khổ

Trong cơ chế thị trường với quan hệ tiển tệ phát triển cao độ thì ai nắm được trong tay lượng tiền lớn có thể duy trì được sức mạnh lấn át các chủ thể kinh tế

khác và buộc các chủ thể kinh tế khác phải phục tùng theo mình, tạo cơ hội làm

giàu thêm cho chính những người sở hữu một khối lượng tiền tệ lớn đó

Trong điểu kiện có sự lãnh đạo của Đảng điểu này có thể sử dụng những

biện pháp nhà nước để tạo điều kiện cho những người lao động có kha nang lao

động có thể thực hiện được khả năng lao động của họ có nghĩa là tạo ra một sự công bằng xã hội trên nguyên tắc làm theo khả năng, hưởng theo lao động

Ý trưởng thứ ba là văn minh tiến bộ Ý tưởng này cho thấy ràng Đẳng ta chủ trương dân giàu, nước mạnh nhưng sự giàu mạnh đó nằm trong phạm vi của

một xã hội văn minh, tiến bộ Một xã hội mà ở đó mọi người đều có cơ hội để học

hành, để đtào tạo, được hưởng các quyển công dân như người khác Một xã hội văn minh, tiến bộ còn thể hiện qua sinh hoạt xã hội, quan hệ xã hội, sự tương thân

tương trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa con người với con người

Trong diéu kiện cơ chế thị trường những người bất hạnh do điểu kiện thể

lực, thân thể bị khiếm khuyết, hoặc do tai nạn lao động mang lại v.v Nếu không

có sự bảo bọc giúp đỡ của toàn xã hội họ sẽ có cuộc sống khó khăn Để thực hiện

sự bảo bọc này xã hội cần có những chính sách giúp đỡ hữu hiệu, trong đó có sự

tham gia của các định chế tài chính như Ngân hàng phục vụ người nghèo, quỹ tín

dụng nhân dân v.v làm công việc chuyển các quỹ tự giúp người khó khăn, giúp

họ tìm kiếm những công ăn việc làm thích hợp theo đường lối chỉ dạo của Đẳng

Céng San

22 _

Trang 27

Ul NHÀ NƯỚC XHCN SỬ DỰNG CÔNG CỤ NGÂN HÀNG ĐỀ

ĐIỀU TIẾT NỀN KINH TẾ THEO ĐỊNH HƯỚNG XHCN

1 Các nguyên tắc căn bẩn trong việc sử dụng công cụ Ngân hàng để

điều tiết nên kinh tế theo định hướng XHCN của nhà nước XHCN

a Đường lối phái triển kính tế cla Dang Id soi chỉ đỏ xuyên suối quá trình phát triển các hoat đông củ hệ thống ngân hàng

Như đã phân tích ở các phân trên, trong điểu kiện kinh tế thị trường, nhà

nước XHCN sử dụng công cụ tiền tệ để điểu tiết các hoạt động của nền kinh tế

thay cho việc giao các chỉ tiêu kế hoạch đến tận các doanh nghiệp như trong điều kiện của kinh tế kế hoạch hóa tập trung Nhưng quá trình phát triển nền kinh tế không thể đi chệch ra ngoài những mong muốn của Đảng về việc hướng nến kinh

tế theo các mục tiêu mà các Đại hội Đảng đã vạch ra, cũng như những mục tiêu

chiến lược dài hạn mà nền kinh tế phải hướng tới

Để thực hiện lý tưởng Cộng sản chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ

nghĩa xã hội, nhất thiết các Đảng Cộng sản phải đặt ra các mục tiêu kinh tế - xã hội ngắn hạn làm tiền để cho sự phát triển kinh tế lâu dài của đất nước mà đỉnh cao

của nó là xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa

Khi hệ thống Ngân hàng được chọn làm công cụ của nhà nước xã hội chủ

nghĩa, tất yếu đường lối về phát triển kinh tế của Đảng luôn luôn phải là ngọn đèn soi sáng cho các hoạt động của hệ thông ngân hàng, các định chế tài chính

Mục tiêu của các doanh nghiệp Ngân hàng và các định chế tài chính luôn

luôn là lợi nhuận, là hiệu quả trong kinh doanh, nhưng không thể vì mục tiêu kinh

doanh mà hoạt động của hệ thống ngân hàng thoát ly khỏi các lợi ích chung của

xã hội cũng như thoát ly cácmuc tiêu kinh tế xã hội mà Đẳng đã chỉ ra

Trang 28

b Đường lối phát triển kinh tế của Đảng phải được cu thể hóa trong các

hoạch định chính sách kinh tế và theo sau đó là chính sách tiền tệ Sự lãnh đạo của Đảng về cơ bản là những hướng chung cho hoạt động của toàn bộ nền kinh tế và của Ngân hàng mà thôi Do vậy cần thiết phải cụ thể hóa các chỉ tiêu định lượng

về sự phát triển của nền kinh tế, làm cơ sở cho sự hoạch định các chính sách tiển

tệ mà hệ thống ngân hàng sẽ thực hiện sau này Cụ thể cần phải có các chỉ tiêu quan trọng như:

- Tốc độ tăng trường của nền kinh tế

- Cơ cấu ngành kinh tế, các ngành mũi nhọn

- Chỉ tiêu lạm phát giới hạn

- Số lượng công an việc làm được tạo ra và chỉ số thất nghiệp giới hạn

- Thu nhập bình quân đầu người đạt trong thời kỳ kế hoạch

Bên cạnh các chỉ tiêu trên, nhà nước cần cụ thể hóa thêm về các ngành kinh

tế ưu tiên, thành phần kinh tế cần được sự quan tâm của nhà nước về cung cấp tài

chính v.v Ví dụ như trong diéu kiện của nền kinh tế Việt Nam do Đảng ở thời kỳ

đầu của quá trình phát triển kinh tế cơ sở hạ tầng của nền kinh tế còn thấp kém, do vậy cần phải ưu tiên, hoặc nông nghiệp là một ngành chiến lược, nhưng do nhiều

năm chiến tranh nông nghiệp Việt Nam còn rất lạc hậu chưa sản xuất được nhiều

hàng hóa, chưa khai thác được tiểm nâng hiện có vì vậy cẩn phải gia tăng dau tr

để khai thác, tạo bước đi vững chắc trong nông nghiệp

Các hoạch định của chính sách phát triển kinh tế là cơ sở cơ bản của chính sách tiền tệ Mục tiêu của chính sách tiền tệ phải tuân thủ các mục tiêu của chính sách kinh tế Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường các mục tiêu chính sách kinh tế

xã hội luôn luôn coi trọng các mục tiêu chung của toàn bộ xã hội mà Đẳng và nhà nước đang theo duéi vì vậy chính sách tiển tệ cũng phải được thực thị theo hướng

đó Ví dụ như nhà nước XHCN luôn luôn muốn tạo ra một nền kinh tế mà ở đó sự

_24_

Trang 29

chênh lệch về thu nhập giữa các người lao động là thấp, sự phân biệt giàu nghèo không thể như ở các nước tư bản được Trong chiều hướng đó chính sách tiền tệ

của Ngân hàng nhà nước phải phục tủng định hướng đó

c Viée thực thì chính sách tiên tệ để điêu tiết nên kinh tế không được thoát } các quv luật khách quan của kinh tế thị trưởng

Kinh tế thị trưởng thực sự chỉ phối của một số quy luật khách quan như

chúng ta đã biết: Quy luật cung cẩu, quy luật giá trị v.v có một vai trỏ quan trọng

trong quá trình phát triển nền kinh tế Do vậy việc thực hiện quá trình điểu tiết nền

kinh tế cũng không thể trái đối với các quy luật này một cách sáng tạo phù hợp với

điều kiện của nền kinh tế trong tửng thời kỳ cụ thể

Do vậy mà hoạt động kinh doanh tiển tệ trong hệ thống Ngân hàng cần bao đâm các quan hệ có tính quy luật sau đây:

- Lãi suất Ngân hàng phải bảo đảm cho hoạt động kinh doanh có lãi, kích

thích hoạt động kinh doanh Mặc dù rằng ngân hàng là một lãnh vực của nền kinh

tế, nó cũng có mục tiêu lợi nhuận như các ngành kinh tế khác Song kinh doanh ngân hàng có những đặc thủ riêng trong quan hệ với các ngành kinh tế khác,

Thứ nhất, Ngân hàng là một trung gian tài chính vì vậy nó có khả năng thu hút vốn tiền tệ từ nền kinh tế vào trong hệ thống Ngân hàng Sự thu hút vốn này

nếu ở mức độ cao sẽ làm giảm đi khả năng tự đầu tư của nền kinh tế, nếu lợi nhuận

của các lãnh vực kinh doanh khác không hấp dẫn và an toàn như gởi tién

vào Ngân hàng

+ Thứ hai, nếu hệ thống Ngân hàng có lãi suất cho vay cao sẽ cất giảm nhiều

phương án sẵn xuất kinh doanh mà khả năng tạo lợi nhuận của nó không đảm bảo

cho việc trả nợ ngân hàng Đầu ra của hoạt động ngân hàng sẽ bị hạn chế

ngay lập tức

Trang 30

Thư ba, là sự lớn mạnh của nền kinh tế là cơ sở cho sự lớn mạnh của ngành Ngân hàng, và sự lớn mạnh của ngành Ngân hàng sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển của nền kinh tế, trong đó sự lớn mạnh của nền kinh tế quyết dịnh sự lớn mạnh của

ngành Ngân hàng Hoạt động Ngân hàng là hoạt động cung cấp các sản phẩm, dịch

vụ dấy mạnh lưu thông hàng hóa nhằm mở rộng sản xuất và tiêu dùng trong nền kinh tế Hoạt động ngân hàng như vậy nó đặc biệt gắn liền với quá trình sản xuất

và tái sản xuất của các doanh nghiệp mà ở đó hệ thống ngân hàng cung cấp một lượng tín dụng cần thiết để cả doanh nghiệp có thể tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, vượt qua các khó khán trong kinh doanh khi cẩn thiết

Điểu này cho thấy rằng hoạt động Ngân hàng không thể thoát ly khỏi sự thăng trầm chung của nền kinh tế trong phạm vi cả nước và toàn thế giới Và do vậy mà hoạt đông của hệ thống ngân hàng phải nhìn thấy sự biến động khách quan của các quy luật thị trường về tiêu thụ và sản xuất hàng hóa Nói khác đị chính xác Ngân hàng cũng phải nghiên cứu các khối cung, cầu của xã hội để đưa ra một chính sách tiền tệ thích hợp Hoạt động ngân hang cần phải được day tk thé thụ đông qua

thế chủ động Nếu trong cơ chế thị trường thuần túy hoạt động ngân hàng mang tính thụ dong, thì trong cơ chế thị trưng có sự điểu tiết của nhà nước hoạt động

ngân hàng phải mang tính chủ động Tính chủ động đó được thể hiện qua: Đầu tư bao nhiêu? Có như vậy thì hệ thống ngân hàng mới trở thành công cụ điều tiết của

nhà nước được

2 Nội dung hoạt động điều tiết nễn kinh tế của nhà nước theo định hướng XHCN bằng công cụ ngân hàng

a Đảm bảo sự tăng trưởng lạnh tế, thông qua công cụ ngân hàng nhà nước

huy động các tài nguyên vào quá trình sản xuất và tái sẵn xuất

Đây là vấn để căn bản của một nền kinh tế Bất cứ một nền kinh tế nào

cũng chứa đựng những tiềm năng của các yếu tố sản xuất như lực lượng lao động,

tài nguyên thiên nhiên, các thành tựu khoa học kỹ thuật, hàng hóa sản phẩm đã

26

Trang 31

được sẵn xuất Các tài nguyên này trong diều kiện của cơ chế thị trưởng chỉ được

huy động một cách thuận lợi và có hiệu quả khi chúng ta cung ứng cho nền kinh

tế một lượng tiển tệ thích ứng để làm công cụ lưu thông nó Cho đến hiện nay không còn ai bàn cải về chức năng này của tiền tệ đó là chức năng lưu thông hàng hóa

Nhưng việc sử dụng công cụ tiền tệ để huy động các tài nguyên này trong sản xuất,

lưu thông không phải lúc nào cũng thành công, vì nhiều lý do khác nhau Một trong những lý đo quan trọng là hệ thống ngân hàng hoạt động kém dẫn đến quá trình cugn cấp, sản phẩm cho nền kinh tế của nó gây ra sự ách tấc cho quá trình

lưu thông hàng hóa

e Thứ nhất là sự cung ứng sản phẩm của Ngân hàng thiếu chất lượng kéo dài thời gian lưu thông Sản phẩm Ngân hàng thiếu chất lượng khi nó không sẵn

sàng, không an toàn, chậm chạp, nó sây ra lãng phí mất mát

e Thứ hai là sản phẩm ngân hàng cung ứng không đúng chỗ, không có mục

dich cụ thể Mục đích của một khoản tin đụng chẳng hạn luôn luôn phải được "nhìn thấy" trước khi khoản tín dụng được giải ngân Nếu điểu đó được thực hién day di

sé dam bảo cho khoản tín dụng cung ứng có hiệu quả như dự báo và tải nguyên sẽ được huy động Ngược lại nếu mục tiêu của khoản tín dụng bấp bênh sẽ dẫn đến tình trạng nhiều khoản tín dụng dược cấp ra nhưng nó không thể huy động được tài nguyên vào quá trình sản xuất kinh doanh

Để thỏa mãn nội đung này nó đòi hỏi cả phía quần lý vỹ mô và vi mô phải

có những nỗ lực nhất định thì mới dat được hiệu quả

Vì phía quản lý vĩ mô cần phải có những hoạch định có cơ sở thực tiễn và

khoa học cho tốc độ phát triển của nền kinh tế Một hoạch dịnh thiếu chính xác sẽ dẫn đến sự thực thi không hiệu quả Như vậy hoạch định tốc độ phát triển kinh tế

không thể thoát ly cơ sở thực tế đó là tài nguyên quốc gia Như không thể xây dựng nền kinh tế với tốc độ phát triển cao mà thiếu tài nguyên lao động, thiếu trình độ

khoa học công nghệ, thiếu tài nguyên thiên nhiên

Trang 32

Ngược lại quân lý vi mô cũng phải nấm chắc các tài nguyên này đang ở đâu, ai dang sở hữu nó, giá trị thị trường của nó là bao nhiều?v.v

Điều quan tâm thứ hai trong việc đảm bảo tốc độ phát triển của nền kinh

tế đó là sự cân đối giữa sản xuất và tiêu thụ

Sản xuất là điểu kiện cần để đạt tốc độ phát triển của nền kinh tế, nhưng

nó chưa đủ Vì rằng nếu hàng hóa sản xuất được, mà không tiêu thụ thì sẽ dẫn đến

sự trì trệ của sản xuất

Hàng hóa không tiêu thụ được có nhiều nguyên nhân khác nhau Trong đó

có nguyên nhân là sức mua của xã hội kém Sức mua kém có thể do dân chúng tiết kiệm, để dành quá mức "cần", hoặc là do hệ thống Ngân hàng không thỏa mãn

được cơ hội tiêu dùng

Cần phải thấy rằng hoạt động Ngân hàng cẩn phải thúc dấy cả sản xuất và tiêu thụ thì mới bảo đảm cho tốc độ phát triển của nền kinh tế Về mặt nguyên lý

mà nói thì tiêu thụ chỉ có thể tăng khi thu nhập của cá nhân tăng lên, và thu nhập

tang chi khi mà sản xuất phát triển, Như vậy trước hết là phải chăm lo cho sản xuất Nhưng mỗi khi mà sản xuất phát triển thường có hiện tượng lợi nhuận trong sản

xuất kinh doanh gia tăng làm cho mọi người đều tìm cách tiết kiệm nhiều hơn để

gia tăng cho đầu tư Hậu quả là sức mua, hay tiêu dùng giảm đi Sức mua giảm sẽ làm cho các nhà sản xuất gặp khó khăn Hơn nữa nếu tốc dé phát triển sẵn xuất qua cao sẽ dẫn đến khủng hoảng kinh tế thừa mà các nền kinh tế của các nước tư bản đã phải sửa chữa trong nhiều thập niên trước dây

Chính sách tiền tệ ảnh hưởng rất lớn đến gia tăng tốc độ phát triển hay hạn chế tốc độ phát triển Các biện pháp cụ thể của chính sách tiền tệ như chính sách lãi suất, chính sách tín dụng, chính sách tỷ giá cũng sẽ có khả năng thực hiện được

hoặc không thực hiện được mục tiêu của nó Điều này phụ thuộc vào sự phủ hợp

của biện pháp với thực tiễn khách quan và chủ quan của nền kinh tế

~28_

Trang 33

Ví dụ như khi nhà nước muốn gia tăng tín dụng cho nền kinh tế bằng cách

là cho vay thêm các ngân hảng thương mại Nhưng các ngân hàng thương mại chưa

tìm kiếm được dầu ra cho khoản tín dụng đó thì chính sách gia tăng tín dụng như

vệ XÂ+

vậy sẽ không thực hiện được

Điều tiết tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế trong nển kinh tế thị trường là một trong những nội dung quan trọng nhất làm cơ sở cho hoạt động Ngân hàng và

hoạt động Ngân hàng là công cụ tốt nhất để thực hiện quá trình điểu tiết tốc đệ

gla tăng nhu cầu của xã hội qua đó tìm kiếm các nguồn lực để thỏa mãn nhu cầu này

Cũng cần nhấc lại là trong nền kinh tế thị trường tự do người ta cho rang chỉ cần tạo ra cung (tức là sẵn xuất) lập tức sẽ có cầu (tức tiêu dùng) điều này tương

tự như quan điểm của kế hoạch hóa tập trung nghĩa là chỉ quan tâm đến sản xuất

mà không quan tâm đến tiêu ding Hau quả là trong nền kinh tế thị trường tự do

là sẵn xuất bị khủng hoảng không tiêu thụ được, còn trong nền kinh tế kế hoạch

hóa là sản xuất bị áp đặt trên người tiêu dùng

Khi nhà nước đã ấn định một tốc độ phát triển cho nền kinh tế, thì lập túc

hệ thống ngân hàng phải xem xét để huy dông các tiểm năng về tiền tệ để qua đó

huy động các tiểm năng của các yếu tố sản xuất nhằm thực hiện tốc độ phát triển

đã được hoạch định Thực tiễn điểu đó chính là thực hiện chính sách tạo ra vốn cho nền kinh tế

_29_

Trang 34

b Thực hiên cơ cầu kinh tế côn đối và hợp lý

Thực hiện cơ cấu kinh tế cân đối và hợp lý dược thể hiện qua sự thay đối

cơ cấu kinh tế để cho phép nền kinh tế hoạt động vững chác không bị mất cân đối

cục bộ, tạo thế phát triển đồng đều, rộng khấp

Cơ cấu kinh tế hợp lý và cân dối như thế nào là nhiệm vụ của các bộ, ủy ban của chính phủ, của nhà nước trung ương và dịa phương

Ở đây chứng tôi chỉ đề cập đến việc sử dụng công cụ Ngân hàng để thực

hiện cơ cấu kinh tế đó mà thôi

Ngân hàng là định chế tài chính trung gian nó vừa làm nhiệm vụ tập trung

vốn, tạo vốn cho rển kinh tế đồng thời nó vừa làm nhiệm vụ phân phối vốn cho nền kinh tế

Vận dụng chức nâng này nhà nước sẽ sử dụng một số biện pháp quan trọng

phối hợp chính sách tài chính quốc gia để hình thành một cơ cấu kinh tế cân đối

và hợp lý bằng cách kích thích tín dụng ngân hàng dấu tư vào các ngành mỗi nhọn

của nền kinh tế, vào các thành phần kinh tế cẩn dược ưu tiên phát triển các vùng

kinh tế lạc hậu v.v

Đặc biệt đối với nền kinh tế dang phát triển các ngành mũi nhọn như nãng

lượng, giao thông vận tải, bưu điện, nông nghiệ, thường ít được các nhà kinh doanh quan tâm vì đòi hỏi vốn lớn thời gian thu hồi vốn dài, lợi nhuận thấp, khó

quản lý v.v Nhưng nó lại là những ngành cơ bản phải vượt qua thì mới làm cho nến kinh tế phát triển một cách vững chắc được

Sự chuyển dịchí cơ cấu kinh tế ở từng thời kỳ cũng rất cần đến sự tài trợ của

hệ thống ngân hàng Bởi vì rằng việc chuyển dịch cơ cấu, trước hết là sự chuyển vốn tử ngành này sang ngành khác hay là sự hình thành thêm các ngành mới và

diểu đó bao giờ cũng đòi hỏi vốn ban đầu

30

Trang 35

c_ Nhà nước sử dưng công cụ Ngân hàng để thuc hiện công bằng xã hội, tao công ăn việc làm cho người lao đông

Do bản chất giai cấp của nhà nước XHCN, nên nhà XHCN luôn luôn phải

quan tâm đến đời sống của nhân dân lao động nói chung Day là một vấn để rất phức tạp trong cơ chế thị trường mà các các nhà nước tư bản da giải quyết qua nhiều thập niên vẫn chưa thể chống lại được Đó là hiện tượng thất nghiệp Một vấn để khác là sự bất bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, giữa giai cấp chủ và thợ, giữa địa chủ và tá điển v.v cũng cẩn phải dược nhà nước XHCN quan tâm

diều chỉnh dể làm thế nào han chế sự cách biệt đó, đồng thời vẫn giữ được động

cơ phát triển của nền kinh tế

Thông qua công cụ Ngân hàng nhà nước XHCN có thể tạo điều kiện cho

những người lao động bình thường có khả năng nắm giữ tư liệu sản xuất của nền kinh tế, để trên cơ sở đó họ có thể phát huy tốt hơn năng lực của mình để họ có điều kiện cống biến năng lực sẵn có

Nguyên tác phân phối mà Mác đã đưa ra trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội là làm việc theo khả năng, hướng thụ theo kết quả lao động

Đây là một nguyên tắc phân phối công bằng văn minh tiến bộ Song để có thể được làm việc theo khả nãng, người lao động phải có quyền được lao động theo đúng sở thích, ngành nghề mà mình đã được đào tạo, được áp dụng các sáng kiến của mình trong sản xuất kinh doanh Muốn như vậy người lao dong cần phải tày

vào hoàn cảnh cụ thể và phải hội đủ một số điểu kiện nhất định Trong những điều kiện đó có điều kiện về vốn sản xuất

Đối với các doanh nghiệp sẵn xuất công nghiệp dịch vụ sự tham g1a tích

cực vốn của nhà nước và của Ngân hàng sẽ tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động hơn Đối với các hộ sản xuất cá thể có sự hổ trợ của Ngân hàng họ sẽ có

điều kiện nắm giữ thêm một bộ phận tư liệu sẵn xuất xã hội và do đó họ có thể tự

cải thiện cuộc sống bằng chính sức lao động của mình

Trang 36

Mục tiêu của nhà nước XHCN trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

là giải quyết hiện đại hóa, công nghiệp hóa nền kinh tế Song điểu đó cẩn dược gắn

liên với vấn dé công bằng xã hội Nghĩa là nhà nước cẩn phải quan tâm đến việc

giải quyết, khai thác các tiểm năng ở mỗi một người lao động bằng việc cung cấp

cho mỗi người lao động có cơ hộ để phát huy năng lực lao động của mình, mà như

đã phân tích ở trên là cần phải có vốn

Nếu như ở các nước theo cơ chế thị trường hiện nay nhà nước sử dụng biện pháp dùng phúc lợi xã hội để trợ cấp cho những người mất sức lao động, người có

thu nhập thấp, những người không có công ãn việc lam (that nghiệp) v.v thi trong một nước theo cơ chế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa như ở Việt nam

cần sử dụng biện pháp tích cực hơn để tạo ra công ăn việc làm để giúp đỡ những người có sức lao động có thể phát huy khả năng của mình bằng các

hình thức sau dây:

- Cho vay ưu đãi đặc biệt với lãi suất thấp hoác không có lãi để tạo vốn cho

các người có sức lao động tìm cơ hội sản xuât

- Cho vay những lao động cá thể, tập thể để áp dụng những biện pháp công

nghệ tiên tiến vào sản xuất

- Cho vay các doanh nghiệp ở tất cả mọi thành phần kinh tế có khả năng

tạo nên công ăn việc làm

Như vậy nhà nước chỉ trợ cấp cho những người mất sức lao động, không

cho họ tìm kiếm công ăn việc làm

hội cao Vì nó giải quyết vấn để công ăn việc làm một cách căn bản hơn là trợ cấp

thất nghiệp, đồng thời nó cho phép tận dụng nguồn lao động ở mức cao hơn

32

Trang 37

II SỤ HỘI NHẬP CUA NEN KINH TE THI TRUONG CO

ĐỊNH HƯỚNG XHCN VÀO NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI

ANH HUONG DEN HOAT DONG NGAN HANG

1 Sự hội nhập nền kính tế vào nên kính tế thể giới là xu hướng tấ? yếu

để phát triển nên kinh tế Việt Nam hiện nay

Để phát triển nền kinh tế Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương mở cửa trên

nền kinh tế dựa trên hai xu hướng chính, đó là; tham gia vào phân công lao động

mẻ beech tk te tf

quốc tế và liên kết kinh tế quốc tế

Qua mấy năm tham gia vào phân công lao động quốc tế, chúng ta đã phát

triển nhiều mặt hàng xuất khẩu gạo như, cả phê, cao su, hàng may mặc, da giày,

hàng thủy hải sản và đã mang lại cho đất nước một nguồn ngoại tệ lớn, tạo ra

nhiều công án việc làm cho người lao động, tạo sự 6n định và phát triển cho các lĩnh vực hàng hóa nói trên

Đồng thời với sự phát triển hàng hóa xuất khẩu chúng ta cũng đã nhập khẩu nhiều máy móc, thiết bị, nguyên liệu, hàng tiêu dùng để phục vụ cho đổi mới công

nghệ, phát triển sản xuất trong nước và nâng cao mức sống của người dân với hàng

hóa hiện đại của thế giới mà ta chưa sản xuất được hoặc sản xuất được mà không

có lợi thế

Rõ ràng tham gia vào phân công lao động quốc tế đã tạo ra một viễn cảnh mới cho nền kinh tế nước ta Đặc biệt nó cho phép chúng ta lợi dụng các tiểm năng của đất nước như sản phẩm nông thủy hải sản nhiệt đới, các ngành nghề truyền thống như sơn mài, đổ mỹ nghệ chạm trỗ, đá v.v Để từ đó ta đổi lấy các sản phẩm

kỹ thuật cao của thế giới như máy móc thiết bị, hàng tiêu đủng cao cấp như máy

lạnh, t vi, xe hơi

33_

Trang 38

Việc phân công lao động quốc tế còn cho ta sử dụng tốt hơn lực lượng lao

động trong hợp tác với nước ngoài để sản xuất các hàng hó xuất khẩu hoặc hàng

hóa thay thế hàng nhập khẩu Qua quá trình hợp tác này ta có thể học tập được cung cách quản lý các công nghệ cao, cung cách quản lý các doanh nghiệp lớn,

công nhân Việt Nam tiếp cận thường xuyên với công nghệ tiên tiến và do vậy mà

có thể tiếp nhân được công nghệ tiên tiến một cách độc lập trong tương lai

Mö cửa nền kinh tế còn cho phép chúng ta tìm kiếm nguồn vốn của thế giới

để bổ sung cho nguồn vốn còn nhỏ ở trong nước và tử đó ta có thể đẩy mạnh tốc

độ phát triển của nền kinh tế với tốc độ nhanh hơn nhiều lần so vớ hình thức

tự tích lũy

Quá trình tham gia vào phân công lao động đặc biệt là tham gia vào xuất

khẩu hàng hóa luôn luôn buộc các doanh nghiệp chúng ta phải nổ lực trên thị trường

để cạnh tranh, chiếm giữ chỗ đứng bền vững trên thị trường quốc tế Điểu đó làm cho các doanh nghiệp chúng ta phải quan tâm cải tiến kỹ thuật, rèn luyện tay nghề công nhân, rèn luyện phương pháp quần lý mới Và tất yếu điểu đó làm cho hiệu quả kinh tế sẽ táng lên Việc liên kết kinh tế quốc tế cũng được nhà nước chúng ta quan tâm, nhiều hiệp ước song phương về kinh tế được ký kết, đặc biệt là chúng

ta đã gia nhập vào khối ASEAN, mở các khu chế xuất ở trong nước, liên doanh với

các doanh nghiệp ngoài nước Quá trình liên kết này sẽ, trước mắt cho phép chúng

ta mở rộng thị trường tiêu thụ hàng xuất khẩu, gia tăng mức độ sử dụng sức lao động, gia tăng khai thác các tài nguyên đất nước, tìm kiếm các công nghệ sản xuất tiên tiến

Trang 39

Liên kết kinh tế quốc tế còn cho phép mỗi nước hợp tác với các nước khác trên nhiều lãnh vực như phối hợp để sử dụng nguồn lao dông, sử dụng nguồn vốn,

sử đụng công nghệ có lợi cho tất cả các bên tham gia

2 Su hôi nhập kinh tế ảnh hưởng đến sự hội nhập Ngân hang

Hoạt động xuất nhập khẩu càng phát triển quan hệ tiền tệ, tín dụng, thanh

toán càng phát triển Điều này buộc các ngân hàng có quan hệ với nhau phải hoạt

động dựa trên một số nguyên tác nhất định, không thể sai khác nhau trong quá

Đây là một đặc điểm chính trong xu thế đổi mới và phát triển hệ thống

Ngân hàng Việt Nam hiện nay

Điểu quan trọng là chúng ta đang xây dựng một nền kinh tế thị trường có định hướng XHCN lại phải hòa nhập vào thị trường của thế giới buộc chúng ta phải

có một hệ thống Ngân hàng vửa mang bản sắc của nền kinh tế thị trường chung,

vừa mang bản sác định hướng XHCN riêng Đặc điểm này sẽ chi phối mô hình hoạt động Ngân hàng của chúng ta hiện nay và tương lai

Quan hệ tiển tệ quốc tế ngày càng phát triển mạnh mẽ khi vốn tiển tệ tử

nước ngoài ngày càng du nhập mạnh mẽ vào nước ta, đồng thời một nguồn tiền tệ

từ nước ta được xuất ra nước ngoài Vấn để đó dat ra cho hệ thống Ngân hàng là phải quần lý quá trình luân chuyển vốn tiền tệ này để mang lại lợi ích cho đất nước, cho bản thân Ngân hàng, vửa đảm bảo quan hệ tiền tệ này ngày càng phát triển

Quan hệ tỷ giá hối đoái trổ thành mắt xích quan trọng trong chính sách tiến

tệ của ngân hàng nhà nước Việt Nam và hàng loạt vấn để khác như quan ly tin dụng thương mại bằng ngoại tệ, quản lý và sử dụng các nguồn ngoại tệ sao cho cd

lợi cho nền kinh tế sẽ được đặt ra cho ngành ngân hàng Việt Nam

35

Trang 40

CHƯƠNG II

MÔ HÌNH HỆ THÔNG NGÂN HÀNG VÀ CÁC

HOẠT ĐỒNG CỦA HỆ THÔNG NGÂN HÀNG

TRONG NÊN KINH TẾ CÓ ĐỊNH HƯỚNG XHCN,

I ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

TRONG NEN KINH TẾ CÓ ĐỊNH HƯỚNG XHCN

Xác định những đặc điểm cơ bản của Ngân hàng nhà nước trong nền kinh

tế có định hướng XHCN là một việc làm mới mẻ chưa được nghiên cứu và để cập

ở bất cứ đâu và hầu như chúng ta cũng đang trong quá trình mỏ mẫm để xác định

Thông qua kinh nghiệm quản lý của cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp,

cơ chế thị tường ở các nước và đặc điểm xã hội ở nước ta, chúng tôi mạo muội xác

dịnh một số đặc điểm cơ bản mà Ngân hàng nhà nước chúng ta phải đạt được trong

quá trình đổi mới và phát triển

1 Ngân hàng nhà nước là Ngân hàng làm nhiệm vụ quản lý nhà nước

về mặt điều tiết vỹ mô

Như dã xác định ở trên, nhà nước cần thiết phải nắm giữ công cụ tiền tệ để

điều khiển nền kinh tế mà mục tiêu của nó là tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm

phát và tạo công ăn việc làm cho người lao động Với nhiệm vu dé Ngan hang nha

nước nhất thiết là một cơ quan mang đặc trưng cho điều tiết vĩ mô Điều đó thể

hiện qua các chức năng sau đây :

e Quyết định khối cung tiền tệ để tạo ra lực lượng cầu của nền kinh tế huy

động các tiểm năng của nền kinh tế, đảm bảo-tốc độ sinh trưởng của nền kinh tế

theo đường lối phát triển kinh tế

Ngày đăng: 27/03/2013, 16:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w