Sự biến động của tỷ giá sẽ khó lường, bởi nhiều nhân tố tác động như: nhập siêu còn lớn không chỉ trong ngắn hạn mà cả trong trung hạn; thâm hụt ngân sách vẫn ở mức cao trên dưới 6%/GDP;
Trang 1MỞ BÀI
Tỷ giá hối đoái (TGHĐ) là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng của mỗi quốc gia Diễn biến của TGHĐ giữa USD với Euro, giữa USD/JPY cũng như
sự biến động tỷ giá giữa USD/VND trong thời gian qua cho thấy, tỷ giá luôn là vấn đề thời sự, rất nhạy cảm Ở Việt Nam, TGHĐ không chỉ tác động đến xuất nhập khẩu, cán cân thương mại, nợ quốc gia, thu hút đầu tư trực tiếp, gián tiếp, mà còn ảnh hưởng không nhỏ đến niềm tin của dân chúng
Trong thời gian tới, TGHĐ biến động theo hướng nào, quả thật không dễ dự đoán Sự biến động của tỷ giá sẽ khó lường, bởi nhiều nhân tố tác động như: nhập siêu còn lớn không chỉ trong ngắn hạn mà cả trong trung hạn; thâm hụt ngân sách vẫn ở mức cao (trên dưới 6%/GDP); giá vàng trong nước và thế giới luôn tăng mạnh (do khủng hoảng chi tiêu công tại một số quốc gia Châu Âu, châu Mỹ); nhu cầu ngoại tệ nói chung, USD nói riêng vào những tháng cuối năm sẽ tăng cao do khách hàng vay vốn đến hạn trả nợ ngân hàng; do nhu cầu chuyển lợi nhuận về nước của các nhà đầu
tư nước ngoài; do kinh tế ngầm vẫn phát triển rất mạnh, khó có khả năng ngăn chặn, nên đôla hóa nền kinh tế còn ở mức cao; do thực hiện chính sách đồng tiền mạnh/ hay yếu của một số quốc gia trong khu vực
Để nghiên cứu thêm về vấn đề này em đã mạnh dạn chọn đề tài” Phân tích về biến động của tỉ giá hối đoái trên thị trường ngoại hối và thị trường tự do trong 5 năm qua Những biến động đó có những ảnh hưởng gì đến thị trường xuất nhập khẩu ở Việt Nam ”
Trang 2NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỈ GIÁ HỐI ĐOÁI
1.1 Khái niệm:
Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đồng tiền này được biểu thị thông qua một đồng tiền khác Nói cách khác, tỷ giá là số đơn vị đồng tiền định giá trên một đồng tiền yết giá Tại Việt Nam sử dụng phương pháp yết giá trực tiếp, nghĩa là dồng ngoại tệ đóng vai trò là dồng tiền yết giá(số đơn vị =1), còn đồng nội tệ đóng vai trò là đồng tiền định giá
1.2 Các loại tỷ giá
có rất nhiều loại tỷ giá khác nhau tùy thuộc vào từng tiêu thức phân loại khác nhau;
a Căn cứ vào chế độ quản lý ngoại hối, tỷ giá hối đoái bao gồm:
- Tỷ giá chính thức: là tỷ giá do NHTW của mỗi nước công bố Tỷ giá hối đoái này được công bố hàng ngày vào đầu giờ làm việc của NHTW Dựa vào tỷ giá này các NHTM và các TCTD sẽ ấn định tỷ giá mua bán ngoại tệ giao ngay,
có kỳ hạn, hoán đổi
- Tỷ giá kinh doanh (bao gồm tỷ giá mua, tỷ giá bán): là tỷ giá dung để kinh doanh mua bán do các NHTM haycác TCTD đưa ra Cơ sở xác định tỷ giá này là tỷ giá chính thức do NHTW công bố xem xét đến các yếu tố liên quan trực tiếp đến kinh doanh như: quan hệ cung cầu ngoại tệ, tỷ suất lợi nhuận, tâm
lý của người giao dịch đối với ngoại tệ cần mua hoặc bán Biên độ giao động hiện nay của tỷ giá kinh doanh so với tỷ giá chính thức là 1%
- Tỷ giá chợ đen: tỷ giá được hình thành bên ngoài thị trường ngoại tệ chính thức
b Căn cứ vào tiêu thức thời điểm thanh toán
- Tỷ giá giao ngay: là tỷ giá mua bán ngoại tệ mà việc giao nhận ngoại tệ được thực hiện ngay trong ngày hôm đó hoặc một vài ngày sau Loại tỷ giá này
do tổ chức tín dụng yết giá tại thời điểm giao dịch hoặc do hai bên thỏa thuận nhưng phải đảm bảo trong biên độ do NHNN quy định V iệc thanh toán giữa các bên phải được thực hiện trong vòng 2 ngày làm việc tiếp theo sau ngày cam kết mua bán
Trang 3-Tỷ giá giao nhận có kỳ hạn: là tỷ giá giao dịch do TCTD yết giá hoặc do hai bên tham gia giao dịch tự tính toán và thỏa thuận với nhau nhưng phải đảm bảo trong biên độ quy định về tỷ giá kỳ hạn hiện hành của NHNN tại thời điểm
ký hợp đồng
- Tỷ giá mở cửa: tỷ giá mua bán ngoại tệ của chuyến giao dịch đầu tiên trong ngày
- Tỷ giá đóng cửa: tỷ giá mua bán ngoại tệ của hợp đồng ký kết cuối cùng trong ngày
c Căn cứ vào tiêu thức giá trị của tỷ giá:
- Tỷ giá danh nghĩa: là tỷ giá được yết và có thể trao đổi giữa hai đồng tiền
mà không đề cập đến tương quan sức mua giữa chúng
- Tỷ giá thực: là tỷ giá đã được điều chỉnh theo sự thay đổi tương quan giá
cả của nước có đồng tiền yết giá và giá cả hàng hóa của nước có đồng tiền định giá
d Căn cứ vào phương tiện chuyển ngoại hối, tỷ giá được phân thành hai loại:
- Tỷ giá điện hối: là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng điện Đây là tỷ giá cơ sở
để xác định các tỷ giá khác
- Tỷ giá thư hối: là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư
e Căn cứ vào phương tiện thanh toán quốc tế, tỷ giá hối đoái được chia làm
5 loại:
-Tỷ giá séc là tỷ giá mua bán các loại séc ngoại tệ
-Tỷ giá hối phiếu trả tiền ngay: là tỷ giá mua bán các loại hối phiếu tra tiền ngay bằng ngoại tệ
- Tỷ giá hối phiếu có kỳ hạn : là tỷ giá mua bán các loại hối phiếu có kỳ hạn bằng ngoại tệ
- Tỷ giá chuyển khoản: là tỷ giá mua bán ngoại hối bằng cách chuyển khoản qua ngân hàng
- Tỷ giá tiền mặt: là tỷ giá mua bán ngoại hối được thanh toán bằng tiền mặt
Trang 41.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá :
a Tình hình cán cân thanh toán quốc tế: cán cân thanh toán quốc tế của một quốc gia có thể rơi vào một trong ba trạng thái sau: cân bằng, thâm hụt hay thặng dư, ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ giá, Vì vậy, nếu cán cân thanh toán quốc tế dương thì tỷ giá hối đoái có chiều hướng giảm hoặc giữ vững Ngược lại nếu cán cân thanh toán quốc tế âm thì tỷ giá hối đoái có xu hướng tăng
b Mức độ tăng trưởng hay suy thoái của nền kinh tế:
Mức độ tăng, giảm của GDP thực tế của một nước so với nước khác, trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, sẽ làm tăng hoặc giảm nhu cầu về hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu, do đó sẽ làm cho nhu cầu ngoại hối để thanh toán hàng nhập khẩu sẽ tăng lên hay giảm xuống từ đó tác động đến cung cầu ngoại
tệ và làm cho tỷ gia hối đoái giảm đi hoặc tăng lên
c Sự chênh lệch lạm phát của đồng tiền quốc gia:
Khi tỷ lệ lạm phát của một quốc gia tăng lên hay giảm xuống sẽ làm giá trị của đồng tiền nước đó thay đổi dẫn đến tỷ giá hối đoái của đồng tiền nước đó
so với nước ngoài bị biến động Nếu mức lạm phát của nước này cao hơn mức lạm phát của nước khác thì sức mua của nội tệ sẽ giảm so với ngoại tệ Lạm phát cao càng kéo dài, đồng tiền càng mất giá, sức mua càng giảm nhanh, sức mua của đồng tiền trong nước giảm thì sức mua đối ngoại của nó cũng giảm làm cho
tỷ giá hối đoái tăng
d Mức chênh lệch giữa lãi suất các nước:
Ở thị trường nao có mức lãi suất ngắn hạn cao hơn thì những luồng vốn ngắn hạn có xu hướng đổ về thị trường đó làm cho cung cầu ngoại tệ tăng lên, cầu về ngoại tệ giảm do đó tỷ giá hối đoái có xu hướng giảm
e Các nhân tố có khả năng tác động cung cầu ngoại tệ:
Một số nhân tố khác cũng tác động gián tiếp đến tỷ giá thông qua cung cầu ngoại tệ như: yếu tố chính trị, kinh tế xã hội, thiên tai chiến tranh, hoạt động đầu
Trang 5CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH BIỂN ĐỘNG CỦA TỈ GIÁ HỐI ĐOÁI
2.1 Tình hình biến động của tỷ giá hối đoái VND/USD trong giai đoạn 2008- 2012
Việc quản lý tỷ giá hối đoái là yếu tố rất quan trọng vì nó sẽ giúp kiểm soát được lạm phát, ổn định được kinh tế vĩ mô và cán cân thương mại Và ở Việt Nam cũng đang rất chú trọng vấn đề này, Việt Nam đã có nhiều thay đổi trong
cơ chế áp dụng chế độ tỷ giá và chế độ tỷ giá hiện nay (2008-2012) là chế độ neo tỷ giá với biên độ được điều chỉnh Ở Việt Nam đồng USD gần như là được mặc định là đồng neo tỷ giá và tỷ giá được ngân hàng nhà nước(NHNN) công
bố là VND/USD Căn cứ vào tỷ giá giữa USD và các đồng tiền khác mà các ngân hàng thương mại sẽ xác lập tỷ giá giữa các ngoại tệ đó với VND Trong thời gian qua tỷ giá VND/USD đã có nhiều biến động và nó ảnh hưởng rất nhiều đến các hoạt động kinh tế cũng như các hoạt động thương mại mà cụ thể ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam
Giai đoạn từ năm 2008-2012 tỷ giá đã có nhiều sự biến động Đầu năm
2008, nền kinh tế vừa kết thúc giai đoạn suy thoái và khủng hoảng bắt đi vào sự
ổn định
Giai đoạn 2008-2009 đánh dấu sự phản ứng trong chính sách tỷ giá ở Việt Nam Dựa vào đồ thị và số liệu thống kê ta có thể thấy tỷ giá đầu 2008 của ngân hàng thương mại giảm xuống sàn biên độ và đồng Việt Nam lên giá trong giai đoạn này Nguyên nhân là do từ cuối năm 2007 sự gia tăng ồ ạt của các nguồn đầu tư gián tiếp vào Việt Nam làm cho nguồn cung USD tăng mạnh do đó tỷ giá trong giai đoạn giảm xuống hay nói cách khác là đồng Việt Nam tăng giá Dựa vào hình 1 ta có thể thấy tỷ giá NHTM có nhiều biến động mạnh do lạm phát tăng cao vào giai đoạn nửa đầu năm( tỷ lệ lạm phát năm 2008 rất cao có lúc kên đến gần 20%) đồng thời cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã bắt đầu ảnh hưởng và tác động đến nền kinh tế Việt Nam vào nửa cuối năm 2008 Và cũng bắt đầu từ nửa cuối năm 2008 cùng với sự suy thoái của nền kinh tế thì luồng đầu tư gián tiếp vào Việt Nam đã bắt đầu giảm Năm 2008 tỷ giá niêm yết tại các NHTM biến động liên tục, có lúc tỷ giá này thấp hơn cả tỷ giá chính thức trong khi năm
2009 tỷ giá NHTM luôn luôn ở mức trần biên độ mà NHNN công bố Trước áp lực về quan hệ cung cầu ngoại hối trên thị trường mà tỷ giá trên thị trường tự do tăng rất nhanh Mặc dù NHNN đã mở rộng biên độ dao động tử 3% lên +/-5% (biên độ dao động lớn nhất trong vòng 10 năm qua) nhưng các NHTM vẫn
Trang 6giao dịch ở mức trần Đến 26/11/2009 NHNN chính thức giảm biên độ dao động xuông lại còn +/- 3% tuy nhiên các NHTM vẫn dao dịch ở mức tỷ giá trần
Tỷ giá VND/USD có xu hướng giảm từ đầu năm 2008 Theo công bố của tổng cục thông kê, giá tiêu dùng tháng 1/2008 tăng 2,38% so với cuối năm 2007
Để kiềm chế lạm phát thì NHNN đã điều chỉnh lãi suất cơ bản từ 8,25%/năm lên 8,75%/năm, tăng 0,5%/năm, lãi suất tái cấp vốn tăng lên 7,5%/năm tăng 1,0%/năm,…Ngày 13/2, NHNN thông báo phát hàng tín phiếu NHNN bằng VND vào ngày 17/3 dưới hình thức bắt buộc đối với 41 NHTM với tổng giá trị tín phiếu phát hành 20300 tỷ đồng với kì hạn 364 nngày, lãi suất 7,8%/năm Đồng thời tỷ giá USD trên thị trường thế giới tăng mạnh Hệ quả tức thời của các tác động trên là dòng tiền VND bị chặn lại, gây ra hiện tượng khan hiếm tiền mặt, thừa USD giữa các NHTM Vào thời điểm đó, USD/VND xuống rất thấp,
tỷ giá của các NHTM luôn ở mức dưới tỷ giá liên ngân hàng Người dân không còn giữ USD như trước mà chuyển sang mua vàng hoặc giữ tiền đồng để gửi tiết kiệm hưởng lãi suất cao Những nhà đầu tư nước ngoài bán USD lấy VND rồi đem gửi tiết kiệm sẽ thu lại được lợi nhuận hơn Nhà đầu tư càng được lợi cao hơn khi lãi suất ở VN đang tăng chóng mặt còn tỉ giá VND/USD thì giảm mạnh Kiều bào nước ngoài cũng gửi tiền về cho người thân ở Việt Nam đầu tư mà chủ yếu là gửi tiết kiệm để hưởng lãi suất Các NHTM một mặt phải chạy đua lãi suất với nhau, diễn ra một cuộc cạnh tranh gây gắt nhằm thu hút lượng VND để
đủ tiền mua tín phiếu bắt buộc của NHNN, mặt khác phải cầu cứu NHNN mua bớt ngoại tệ để khai thông dòng chảy cho đồng USD, giải ngân để lấy tiền đồng
hỗ trợ thanh khoản khi cung vốn cạn dần Tỷ giá VND/USD từ tháng 7/2008 có
xu hướng tăng nhưng ổn định hơn Trong tháng 7/2008 chênh lệch giữa ngoại tệ liên ngân hàng và ngoại tệ trên thị trường tự do không quá cách biệt Nguyên nhân là do ngân hàng nhà nước công bố nguồn dự trữ ngoại tệ nên tâm lý của người dân được cải thiện hơn nên người dân giảm gim giữ ngoại tệ và đầu cơ ngoại tệ nên tỷ giá lúc này khá ổn định Mặc khác lạm phát lúc này đã được kiểm soát mức tăng lạm phát được kiềm hãm ở mức 1.13% so với tháng trước Sang các tháng cuối năm biến động nhưng không nhiều, tỷ giá VND/USD trong 8/2008 biến động nhích lên theo từng tuần Cụ thể tỷ giá bình quân liên ngân hàng từ 16.489 đồng lên 16.493 đồng và tăng đến 16.496 đồng trong 2 tuần cuối tháng 8 Tỷ giá trên thị trường tự do ổn định hơn Tháng 9/2008 biến động mạnh nhất vào giũa tháng 9 tỷ giá tăng mạnh từ 16.620 lên 16.740 sau đó giảm xuống
Trang 7còn 16.630 VND/USD vào cuối tháng Nguyên nhân là do cuộc khủng hoảng tài chính ở Mĩ, các tập đoàn tài chính của Mĩ bị phá sản làm cho tỷ giá biến động bất ngờ Đến tháng 10/2008 tỷ giá tiếp tục được ổn định và đến cuối tháng tỷ giá lại bất ngờ tăng vọt lên mốc 16.800 VND/USD trong khi tỷ giá liên ngân hàng vẫn ổn định Tuy nhiên sau đó thì tỷ giá này cũng giảm nhẹ Nguyên nhân là do cuối tháng 9 các nhà đầu tư nước ngoài đã bán ròng khối lượng cổ phiếu và trái phiếu trên 2 sàn giao dịh của Việt Nam mà chủ yếu là để mua USD nên gây sức
ép lên tỷ giá Nguyên nhân nữa là do các ngoại tệ mạnh trên thế giới đều mất giá
so với USD nhất là chính phủ Mĩ can thiệp vào thị trường tài chính ngăn chặn cuộc khủng hoảng làm cho USD tăng giá trở lại Cuộc khủng hoảng toàn cầu ảnh hưởng kinh tế Việt Nam Rõ ràng nhất là trong cuối năm 2008 nhu cầu hàng xuất khẩu giảm, kim ngạch xuất khẩu giảm liên tục từ tháng 8 chủ yếu là dầu thô Các nhà đầu tư nước ngoài cũng giảm đầu tư, lượng khách du lịch vào Việt Nam cũng giảm, lượng kiều hối cũng giảm mạnh đã làm cho nguồn cung USD giảm mạnh ảnh hưởng rất lớn đến tỷ giá Tuy nhiên chính phủ ta đã có biện pháp hợp lý và đã kiểm soát được tỷ giá không biến động quá mạnh
Năm 2009: Giá USD tháng 01/2009 so với tháng 12/2008 tăng 1,48%, so với tháng 01/2008 tăng 8,16% Qua tháng 2 dưới sự tác động của khủng hoảng kinh
tế thế giới, nền kinh tế nước ta chịu ảnh hưởng nhiều tuy nhiên nhà nước ta có nhiều biện pháp để kiềm chế sự ảnh hưởng và cải thiện kinh tế Nhìn chung từ đầu tháng 1/2009 đến giữa tháng 2/2009, tỷ giá USD/VND không có biến động mạnh - tăng giảm trong khoảng 17.480 đến 17.490 VND/USD - nguyên nhân phần lớn là do có sự can thiệp của nhà nước Vào những ngày đầu tháng 1/2009 nhu cầu vay vốn bằng ngoại tệ của doanh nghiệp đã giảm hẳn sau khi các NH áp dụng chương trình vay vốn được bù 4% lãi suất Cơ chế bù lãi suất chỉ áp dụng cho các trường hợp vay vốn bằng VND, không áp dụng cho trường hợp vay vốn bằng USD Các doanh nghiệp đã tính toán, vay USD vừa phải lo lắng về biến động tỉ giá lại không được bù lãi suất Từ đó, doanh nghiệp đã dừng vay vốn bằng USD để chuyển sang vay VND, số đã vay đến hạn trả nợ, không vay thêm làm số dư vốn vay USD giảm Đầu ra của USD ở nước ngoài bị thu hẹp dần Như vậy, gói kích cầu đã làm cho cầu đồng nội tệ tăng vì các NHTM cần VND
để cho vay theo nên lãi suất huy động VND tăng, làm cho giá VND tăng Đồng thời, gói kích cầu cũng làm cho nhu cầu USD giảm, lãi suất huy động USD giảm, làm cho giá USD giảm Tuy nhiên tỷ giá USD/VNĐ lại tiếp tục tăng trong
Trang 8các tháng tiếp theo, tỷ giá niêm yết tại các ngân hàng vẫn không đổi, nhưng trên thị trường tự do tỷ giá USD/VND có nơi đã lên đến 18.000đ Trong hệ thống ngân hàng đã xảy ra tình trạng thiếu USD, khiến cho nhiều người có nhu cầu không thể đổi được ngoại tệ Mặt khác do việc chênh lệch tỷ giá giao dịch giữa ngân hàng và thị trường tự do đã khiến cho những người dân hay doanh nghiệp
có USD không bán cho các ngân hàng mà bán trên thị trường tự do điều đó buộc NHNN thực hiện nới rộng biên độ tỷ giá lên +/-5% khiến cho tỷ giá ngoại tệ liên NH đã có đợt tăng đột biến và giao dịch trên thị trường tự do tiến sát mức 18000đồng/USD Trong điều kiện 4 tháng đầu năm 2009 lượng ngoại tệ ròng vào Việt Nam dương tuy nhiên tỷ giá lại tăng và nguyên nhân chủ yếu vẫn
là do các chủ thể găm giữ ngoại tệ Trong năm 2009 tỷ giá VND/USD biến động mạnh trên cả thị trường liên ngân hàng lẫn thị trường tự do Cụ thể từ tháng 1/2009 đến tháng 3/2009 tỷ giá liên ngân hàng dao động trong khoảng17.450 -17.700đồng/USD Từ tháng 10 đến cuối tháng 11/2009 tỷ giá biến động rất dữ dội, trên thị trường tự do có lúc đạt đỉnh 20000 đồng/USD và 19750 đồng/USD trên thị trường liên ngân hàng Nguyên nhân chủ yếu vẫn là do hiện tượng găm giữ ngoai tệ của người dân, các doanh nghiệp thì vì sợ tỷ giá sẽ tiếp tục tăng nên mặc dầu chưa đến kỳ hạn trả nợ nhưng đã mua sẵn ngoại tệ để chuẩn bị cho việc trả nợ Điều đó đã làm cho cầu ngoại tệ tăng cao gây ảnh hưởng tỷ giá Ngoài ra,
do tâm lý bất ổn của người dân và các doanh nghiệp nên họ lựa chon găm giữ ngoại tệ và đồng thời do chính sách hỗ trợ lãi suất vay tiền đồng thấp cho các doanh nghiệp, phạm vi và thời gian vay được mở rộng theo chủ trương của chính phủ nên các doanh nghiệp muốn vay tiền đồng hơn mà không cần bán ngoại tệ để đổi ra VND nữa Đây là gói kích cầu mà nhà nước ta thực hiện tuy nhiên đã mang lại ảnh hưởng lớn đến tỷ giá Từ cuối 11/2009 đến hết năm 2009
tỷ giá bắt đầu giảm dần trở lại nguyên nhân là do NHNN thực hiện chính sách bình ổn tỷ giá cùng với sự góp sức của NHTM đã làm tỷ giá giảm sau giai đoạn biến động mạnh
Giai đoạn 2010-2011:
Trong năm 2010 các NHTM vẫn tiếp tục áp dụng tỷ giá tại mức trần biên độ của tỷ giá chính thức trong hầu hết các tháng Do áp lực của tỷ giá trên thị trường NHNN đã phải tăng tỷ giá chính thức từ 17940 lên 18544 VND/USD
kể từ 11/02/2010 tương đương với việc phá giá 3,3% Tỷ giá VND/USD của các
Trang 9NHTM trong giai đoạn 2008-2012 luôn đạt mức tỷ giá trần theo biên độ mà NHNN quy định, chỉ vào một số thời điểm thì tỷ giá này mới thấp hơn trần biên
độ Cùng với việc nâng tỷ giá thì NHNN còn thực hiện nhiều biện pháp hành chính để giảm áp lực lên thị trường ngoại hối như giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ, mở rộng đối tượng cho vay bằng ngoại tệ, đồng thời NHNN tăng lãi suất cơ bản lên 8%/năm Kết quả là 6 tháng đầu năm 2010 tín dụng ngoại tệ tăng cao và các khoản đầu tư và giải ngân ODA, FDI làm cho nguồn cung ngoại
tệ tăng lên làm giảm tỷ giá trên thị trường tự do giảm khoảng cách giữa tỷ giá trên thị trường tự do với tỷ giá chính thức Tuy nhiên các NHTM vẫn tiếp tục đặt giá trần hoặc gần với trần biên độ của tỷ giá chính thức
Đâu năm 2010 tỷ gía giảm nhẹ và dao động quanh mức 18479 đồng/USD cho đến 2/2010 Nguyên nhân là do nguồn cung USD từu nước ngoài vào Việt Nam tăng kể cả nguồn vốn đầu tư trực tiếp, vốn hỗ trợ phát triển chính thức do năm trước cam kết, đầu tư gián tiếp thông qua thị trường chứng khoán cũng tăng, nguồn kiều hối và lượng khách quốc tế vào Việt Nam cũng tăng lên đáng kể Điều đó làm cung ngoại tệ tăng lên Bên cạnh đó các tập đoàn và các công ty nhà nước bán ngoại tệ cho ngân hàng, sức ép gim giữ ngoại tệ giảm và
tỷ giá trên thị trường tự do và thị trường chính thức giảm chênh lệch đáng kể Từ giữa tháng 2/2010 đến nay tỷ giá tăng và dao động quanh mức 19.000đồng/USD (18.900-19.100 đồng /USD) và đang có xu hướng giảm do những chính sách tích cực từ phía NHNN Ngày 11/02 Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng từ mức 17.941 VNĐ/USD lên mức 18.544 VND/USD Nguyên nhân do Ngân hàng Nhà nước có Quyếtđịnh số 74/QĐ-NHNN giảm mạnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với cáctổ chức tín dụng Việc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ từ 7% xuống 4%đối với kỳ hạn dưới 12 tháng, từ 3% xuống 2% đối với kỳ hạn trên 12 tháng đã làm tăng nguồn vốn khoảng 500 triệu USD (9.000 tỷ đồng) cho các ngân hàng thương mại để cho vay trên thị trường, ngay sau đó NHNN tiếp tục ban hành thông tư số 03/2010/TT-NHNN quy định mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng USD của
tổ chứckinh tế tại tổ chức tín dụng là 1%/năm Đây được xem là một “cú hích” mạnh khi ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các tổ chức kinh tế có tiền gửi bằng USD, khi lãi suất trước đó được hưởng có từ 4% - 4,5%/năm Quy định này được xem là đặt các tổ chức vào thế tự xử,phải tính toán lợi ích và xem xét bán lại ngoại tệ, chuyển sang VND để có lãi suất tiền
Trang 10gửi cao hơn Khớp với chính sáchnày, các ngân hàng thương mại đồng loạt tăng giá USD mua vào để thu hút nguồnngoại tệ tiềm năng này Chênh lệch lãi suất vay vốn bằng VND và USD lớn khiến các doanh nghiệp cân nhắc và dịch chuyển sang vay USD Đến các tháng cuối năm 2010 thì tỷ giá vẫn tiếp thục tăng mạnh đặc biệt từ tháng 8/2010, tỷ giá trên thị trường tự do lại tăng cao so với tỷ giá chính thức tại các ngân hàng khiến NHNN phải tăng tỷ giá trên thị trường liên ngân hàng từ 18544 VND lên 18932 VND (tăng 2.1%) Và các NHTM vẫn tiếp tục áp dụng mức lãi suất kịch trần Đến khoảng cuối tháng 9/2010 tỷ vào khoảng 19500đồng/USD Theo số liệu từ bài viết của TS Võ Đại Lược và TS Lê Xuân Nghĩa trình bày tại hội thảo “Ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng: Kinh tế Việt Nam năm 2010, triển vọng năm 2011” ta thấy đồng nhân dân tệ của Trung Quốc định giá thấp hơn 30% so với USD tuy nhiên VND lại định giá cao hơn 15% so với USD Điều đó cho thấy tỷ giá VND/USD được định giá quá cao so với cung cầu thực tế về ngoại tệ Cuối năm 2010 thì tỷ giá tiếp tục biến động tăng, các chủ thể vẫn thực hiện việc mua ngoại tệ để kì vọng giá tăng Cuối tháng 11 tỷ giá lên mức 21380-21450 đồng/USD và tỷ giá trên thị trường tự do vượt qua mức 21500 đồng/USD Trong năm 2010 ta có thể thấy tỷ giá biến động bất thường, đầu ra ngoại tệ tăng mạnh do chính sách của NHNN
về mở rộng đối tượng được vay vốn ngoại tệ nhưng đầu vào ngoại tệ rất khiêm tốn NHTM buộc phải tăng lãi suất huy động lên Sự bất thường của tỷ giá cho thấy sức mạnh của yếu tố tâm lý của người dân, doanh nghiệp Việc găm giữ USD tiếp tục do tình trạng đô la hóa của Việt Nam ngày càng trầm trọng
Bước sang đầu năm 2011 thì tỷ giá cũng có biến động nhưng không nhiều, tuy nhiên sau thời gian kiềm giữ tỷ giá USD chính thức ở mức 18932đồng/USD thì đã đẩy chênh lệch tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trường tự do lên tới
2000-3000 VND/USD và NHNN đã điều chỉnh tăng tỷ giá liên ngân hàng thêm 9,3% đồng thời thu hẹp biên độ tỷ giá xuống còn +/-1% từ ngày 11/2/2011 Có nhiều
lý giải đặt ra quanh con số 9,3% đó Thứ nhất, đó là sự giải phóng áp lực dồn nén quá lớn sau một thời gian tương đối dài Thứ hai, nhà điều hành muốn một bước để nhanh chóng thu hẹp khoảng cách giữa hai tỷ giá Thứ ba, nhà điều hành đã sòng phẳng hơn và theo yêu cầu của thị trường… Và một điểm quan trọng của nó là xóa bớt kỳ vọng sẽ tiếp tục phá giá trong năm 2011 ở giới đầu
cơ, hay trong tâm lý thị trường Tuy nhiên đến đầu tháng 4/2011 tỷ giá mới có dấu hiệu bình ổn, đó cũng là nhờ NHNN đã triển khai để có thể tăng cung ngoại