101 Giải pháp tín dụng Ngân hàng nhằm phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn Tây Nguyên
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGẮÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
HỌC VIEN NGÂN HANG
NGUYEN THI TAM
GIAI PHAP TIN DUNG NGAN HANG
NHAM PHAT TRIEN KINH TE TRANG TRAI
TREN DIA BAN TAY NGUYEN
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH, LƯU THÔNG TIỀN TỆ VÀ TIN DUNG
TP HỒ CHÍ MINH
THU VIEN
LUAN AN TIEN SY KINH TE
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS TS NGÔ HƯỚNG
HÀ NỘI - 2006
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công
trình nào khác
Ký tên
Nguyễn Thi Tam
Trang 3MỤC LỤC
Lời mở đầu
Chương 1: TIN DUNG NGAN HANG ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN
KINH TẾ TRANG TRẠI
1.1 Vai trò kinh tế trang trại trong nông nghiệp, nông thôn
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của kinh tế trang trại
1.1.2 Các điều kiện để phát triển kinh tế trang trại
1.1.3 Vai trò của kinh tế trang trại trong quá trình phát triển nông nghiệp,
nông thôn
1.2 Tín dụng ngân hàng đối với phát triển kinh tế trang trại
1.2.1 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng đối với kinh tế trang trại
1.2.2 Vai trò của tín đụng ngân hàng đối với phát triển kinh tế trang trại
1.3 Kinh nghiệm và bài học về phát huy vai trò tín dụng ngân hàng
đối với phát triển kinh tế trang trại
1.3.1 Kinh nghiệm tín dụng ngân hàng đối với kinh tế trang trại của một
số nước trên thế giới
1.3.2 Kinh nghiệm về tín dụng ngân hàng đối với kinh tế trang trại ở Việt
Nam
1.3.3 Bài học kinh nghiệm vận dụng vào cho vay kinh tế trang trại ở Việt
Nam
Tóm tắt chương Í
Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI
KINH TE TRANG TRAI TREN DIA BAN TAY NGUYÊN
2.1 Khai quat tinh hinh phat trién kinh té trang trai Tay Nguyén
2.1.1 Đặc điểm cơ bản vùng Tây Nguyên và tiểm năng phát triển kinh tế
trang trại
2.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở Tây Nguyên
2.1.3 Đánh giá chung về kinh tế trang trại ở Tây Nguyên
Trang 42.2 Thực trạng tín dụng ngân hàng đối với phát triển kinh tế trang
trại trên địa bàn Tây Nguyên giai đoạn 2001-2005
2.2.1 Khái quát về tình hình hoạt động của các tổ chức tín dụng trên địa
bàn Tây Nguyên
2.2.2 Thực trạng tín dụng ngân hàng đối với phát triển kinh tế trang trại
trên địa bàn Tây Nguyên giai đoạn 2001-2005
2.3 Đánh giá tình hình hoạt động tín dụng ngân hàng đối với kinh tế
trang trại trên địa bàn Tây Nguyên
2.3.1 Những mặt làm được
2.3.2 Những mặt còn tồn tại và nguyên nhân tồn tại trong đầu tư tín dụng
ngân hàng đối với kinh tế trang trại ở Tây Nguyên
Tóm tắt chương 2
Chương 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO VAI
TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN
KINH TẾ TRANG TRẠI TRÊN ĐỊA BÀN TÂY NGUYÊN
3.1 Định hướng hoạt động ngân hàng đối với kinh tế trang trại trên
địa bàn Tây Nguyên
3.1.1 Định hướng phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Tây Nguyên
giai đoạn 2006-2010
3.1.2 Định hướng đầu tư tín dụng ngân hàng đối với kinh tế trang trại khu
vực Tây Nguyên giai đoạn 2006-2010
3.2 Giải pháp tín dụng Ngân hàng nhằm phát triển kinh tế trang trại
trên địa bàn Tây Nguyên
3.2.1 Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn đầu tư cho nông nghiệp,
thôn nói chung và kinh tế trang trại nói riêng
3.2.2 Mở rộng đối tượng cho vay theo hướng thúc đẩy kinh tế trang trại
phat triển và góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông
thôn Tây Nguyên
3.2.3 Tập trung đầu tư tín dụng ngân hàng để hình thành và phát triển các
mô hình trang trại bền vững
Trang 53.2.4 Tiếp tục hoàn thiện và bổ sung cơ chế, chính sách cho vay đối với
kinh tế trang trại
3.2.5 Nâng cao trình độ, kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ tín
dụng
3.3 Giải pháp hỗ trợ
3.3.1 Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chính sách, giải pháp tác động
trực tiếp đến quá trình phát triển kinh tế trang trại ở Tay Nguyên
3.3.2 Tiếp tục rà soát và hoàn thiện các chính sách có liên quan đến đồng
bào dân tộc thiểu số tại chỗ
3.3.3 Tăng cường công tác quản lý Nhà nước đối với trang trại
3.4, Kiến nghị
3.4.1 Đối với chính quyền các tỉnh Tây Nguyên
3.4.2 Đối với các Bộ, ban, ngành của Chính phủ
3.4.3 Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
3.4.4 Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
Tóm tắt chương 3
Kết luận
Danh mục công trình của tác giả
Tài liệu tham khảo
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn, Đảng và Nhà nước
đã có nhiều chủ trương, chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển Bước vào thời kỳ đổi mới, kinh tế trang trại hình thành và phát triển khởi nguồn từ những năm 1980 từ khi có Chỉ thị 29/CT-TW về giao rừng đến hộ, Chỉ thị 35/CT-
TW về phát triển kinh tế gia đình của Ban Bí thư TW Đảng khóa V, Nghị quyết 10 của Bộ chính trị (khoá VI tháng 04/1988) về đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp,
mỗi nông hộ được khẳng định là đơn vị kinh tế tự chủ Tiếp đó là là Nghị quyết TW
5 (khéa VID va nhat là sau khi Luật đất đai (1993) giao quyền sử dụng đất ổn định lâu dài cho hộ nông dân với đầy đủ 5 quyền, cùng với việc sắp xếp lại sản xuất của các doanh nghiệp nông, lâm nghiệp kinh tế hộ nông dân và sản xuất nông nghiệp được giải phóng hoàn toàn đối với sức lao động, đất đai, vốn, tư liệu sản xuất khác trong nông nghiệp Đặc biệt từ khi Chính phủ ban hành Nghị quyết 03/NQ-CP ngày 20/02/2000 về kinh tế trang trại, thừa nhận địa vị pháp lý của kinh tế trang trại thì kinh tế trang trại nước ta đã phát triển mạnh về số lượng và phong phú về loại hình
Do đặc điểm về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên mang tính đặc thù, kinh tế
trang trại ở Tây Nguyên đã phát triển khá sớm cùng với tiến trình khai thác Tây Nguyên của thực dân Pháp và các cuộc di dân của Ngô Đình Diệm, nhiều đồn điển
cà phê, cao su, tiêu, chè đã xuất hiện ở Đấk Lắk, Gia Lai, Lâm Đồng từ những năm
1938-1940 Trong quá trình đổi mới, chính quyền các tỉnh Tây Nguyên đã có nhiều chính sách khuyến khích phát triển kinh tế nông nghiệp, nhờ đó kinh tế trang trại trong khu vực đã có điều kiện khôi phục và phát triển mạnh mẽ, nhất là sau khi có
Nghị quyết 03/NQ-CP
Bên cạnh những cơ chế chính sách của Nhà nước, việc mở rộng đầu tư tín dụng ngân hàng đến hộ sản xuất theo mô hình kinh tế trang trại cũng dang là một vấn để chiến lược Tuy nhiên, chính sách tín dụng đối với kinh tế trang trại ở Tây Nguyên
thời gian qua cũng còn nhiều vấn đề đặt ra như nguồn vốn ngân hàng đầu tư cho các
trang trại còn chiếm tỷ lệ rất nhỏ và chủ yếu là nguồn vốn ngăn, trung hạn Các trang
Trang 7trại tiếp cận nguồn vốn của NHTM còn khó khăn do vướng mắc về cơ chế bảo đảm tiền vay, đối tượng vay vốn, phương thức cho vay
Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên, tác giả chọn chuyên đề: “Giải pháp tín
dụng Ngân hàng nhằm phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn Tây Nguyên” với
mong muốn làm sáng tỏ sự cần thiết, vai trò của nguồn vốn tín dụng ngân hàng trong việc tạo điểu kiện cho kinh tế trang trại phát triển, các vấn để còn tồn tại,
vướng mắc cẩn tháo gỡ nhằm góp phần phát triển kinh tế trang trại Tây Nguyên
trong thời gian tới
2 Mục đích nghiên cứu của luận án
- Hệ thống hóa những vấn đẻ lý luận về vai trò của kinh tế trang trại trong quá
trình phát triển nông nghiệp, nông thôn; khẳng định vai trò quan trọng của nguồn
vốn tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển kinh tế trang trại
- Phân tích tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Tây Nguyên sau 5 năm thực hiện Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ về kinh tế trang trại; thực trạng tín dụng ngân hàng đối với phát triển kinh tế trang trại Tây Nguyên giai đoạn 2001-2005
- Đánh giá những mặt được và những tổn tại, vướng mắc hiện nay trong chính
sách tín dụng của hệ thống NHTM, nhất là của NHNo đối với kinh tế trang trại
- Đề xuất một số giải pháp tín dụng ngân hàng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế
trang trại Tây Nguyên giai đoạn 2006-2010
3 Đối tượng và phạm vỉ nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận án là vấn đề: “ tín dụng ngân hàng đối với phát triển kinh tế trang trại”
- Phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung phân tích chính sách tín dụng đối với kinh tế trang trại của hệ thống NHTM mà chủ yếu là NHNo khu vực Tây Nguyên trong giai đoạn 2001-2005 Bên cạnh đó cũng phân tích một số nguyên nhân có ảnh hưởng đến việc phát triển kinh tế trang trại từ phía các cấp chính quyền Tây Nguyên
- Thời gian nghiên cứu từ 2001-2005; định hướng, giải pháp phát triển kinh tế trang trại cho giai đọan 2006-2010
4 Tình hình nghiên cứu
Trang 8Chính sách tín dụng ngân hàng đối với kinh tế trang trại là vấn đề đã được nghiên cứu trong một số công trình, tuy nhiên cho đến nay hoạt động tín dụng của các NHTM đối với kinh tế trang trại vẫn chưa được tổng kết một cách đầy đủ
Khác với các vùng, miền trong cả nước, Tây Nguyên do có những lợi thế về
đất đai, lao động nên kinh tế trang trại đã phát triển khá sớm và còn nhiều tiém nang
để mở rộng loại hình kinh tế này Trong chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp của các tỉnh Tây Nguyên, loại hình kinh tế trang trại đang được coi là nhân tố cơ bản
để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Mặc dù đã trải qua 5 năm thực hiện Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ về kinh tế trang trại nhưng cho đến nay những vướng mắc trong chính sách tín dụng ngân hàng đối với kinh tế trang trại vẫn đang là một trong các nguyên nhân làm chậm tiến trình phát triển kinh
tế trang trại ở Tây Nguyên, do vậy việc nghiên cứu, đề xuất các giải pháp về tín dụng ngân hàng đối với kinh tế trang trại Tây Nguyên vẫn mang tính cấp thiết Mặt khác, các giải pháp mà để tài để xuất, kiến nghị mang tính cụ thể, phù hợp với đặc điểm của kinh tế trang trại Tây Nguyên nên mặc dù có tính kế thừa các công trình nghiên cứu trước đây nhưng đề tài có hướng di và cách giải quyết khác
5 Phương pháp nghiên cứu
- Luận án đã sử dụng các phương pháp chính là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
- Quá trình nghiên cứu luận án, tác giả đã đi khảo sát thực tế việc cho vay kinh tế trang trại của NHNo 5 tỉnh Tây Nguyên, dựa vào kết quả điều tra trang trại của các Cục Thống kê và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh Tây Nguyên, sử dụng các phương pháp như: phương pháp phân tích hệ thống; phương pháp thống kê, thu thập, xử lý tài liệu; phương pháp so sánh và phân tích tổng hợp để
phân tích đánh giá về thực trạng phát triển kinh tế trang trại cũng như thực trạng tín
dụng ngân hàng dối với kinh tế trang trại ở Tây Nguyên
- Luận án đã kế thừa, tham khảo các tài liệu hiện có của địa phương về phát
triển nông nghiệp, nông thôn, kinh tế trang trại; qui hoạch sử dụng đất cũng như
nghiên cứu, tổng hợp thông tin từ các công trình nghiên cứu có liên quan
Trang 96 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án kết cấu gồm 3 chương
Chương 1: Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với phát triển kinh tế trang trại Chương 2: Thực trạng về tín dụng ngân hàng đối với phát triển kinh tế trang trại
trang trại trên địa bàn Tây Nguyên
Chương 3: Giải pháp tín dụng ngân hàng nhằm phát triển kinh tế trang trại trên
địa bàn Tây Nguyên
Trang 10w
CHUONG 1
TÍN DUNG NGAN HANG DOI VOI PHAT TRIEN
KINH TE TRANG TRAI
1.1 Vai trò kinh tế trang trại trong nông nghiệp, nông thôn
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của kinh tế trang trại
1.1.1.1 Khái niệm về kinh tế trang trại
Trong lịch sử phát triển của nông nghiệp thế giới đã từng tồn tại các hình thức
tổ chức sản xuất nông nghiệp mang tính tập trung được tiến hành trên một diện tích
với quy mô đủ lớn nhằm tạo ra khối lượng nông sản phẩm lớn hơn so với hình thức sản xuất nông nghiệp truyền thống, phân tán trên những điện tích ruộng đất nhỏ như
điển trang lớn, nông nghiệp đồn điện, trang trại cộng đồng, nông nghiệp tập thể hóa,
trang trại gia đình
Ở nước ta các hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung với tên gọi khác nhau (trại ấp, thái ấp, điển trang, đồn điển, doanh điền ) đã xuất hiện từ những năm đầu Công nguyên và phát triển khá mạnh dưới thời Lý-Trần và thời kỳ nhà Nguyễn, trong thời kỳ Pháp thuộc, hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung chủ yếu ở nước
ta là đồn điền
Ngày nay trong điều kiện kinh tế thị trường, ngôn ngữ các nước đều có những
thuật ngữ để chỉ hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung với những biến đổi cơ bản
so với các hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung trong các phương thức sản xuất trước TBCN như Ferme (tiếng Pháp), Farm, Farm house (tiếng Anh), khi dịch ra tiếng Việt thường gọi là “trang trại” hay “nông trại”
Trang trại (farm) hay nông trại (farm house) có thể hiểu đó là những khu đất
tương đối lớn Ở đó sản xuất nông nghiệp được tiến hành có tổ chức, theo hình thức tập trung dưới sự chỉ huy của một người chủ mà phần đông là chủ gia đình nông dân
Về bản chất, “trang trại” hay “nông trại” là thuật ngữ gắn liền với hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung trên một diện tích ruộng đất đủ lớn nhằm sản xuất nông sản phẩm hàng hóa với quy mô gia đình là chủ yếu
Khi đề cập đến trang trại, người ta có thể nhìn nhận, đánh giá trên các mặt kinh
Trang 116
tế, xã hội và mới trường Tuy nhiên trong các mặt nêu trên thì mặt kinh tế là cơ ban,
chứa đựng những nội dung cốt lõi của trang trại Vì vậy trong nhiều trường hợp khi
nói tới kinh tế trang trại, tức là nói tới mặt kinh tế của trang trại, người ta thường gọi
Như vậy cần khẳng định rằng kinh tế trang trại không phải là một thành phần kinh tế mà là một loại hình tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông, lâm, ngư nghiệp,
có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hóa, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên qui mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung đủ lớn với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường
Điểm khác biệt là tư liệu sản xuất trong trang trại thuộc quyền sở hữu hay quyền sử dụng của một người chủ độc lập dưới các hình thức:
- Chủ trang trại sở hữu toàn bộ tư liệu sản xuất
- Chủ trang trại sở hữu một phần tư liệu sản xuất và phải đi thuê một phần
- Chủ trang trại thuê hoàn toàn tư liệu sản xuất
Do vậy trong ngôn ngữ của các nước phát triển theo mô hình kinh tế thị trường thuật ngữ “trang trại” hay “nông trại” không hàm chứa các hình thức sản xuất nông
nghiệp tập trung dựa trên sở hữu Nhà nước hay tập thể
Trong điều kiện kinh tế thị trường, trang trại mang đầy đủ và thể hiện rõ nét
những đặc điểm nêu trong khái niệm trên Tuy nhiên ở mỗi nước, trong mỗi giai
đoạn cụ thể, tùy theo điều kiện và trình độ phát triển cụ thể của nền kinh tế mà
những đặc điểm trên có thể biểu hiện ở những mức độ khác nhau
1.1.1.2 Những đặc trưng cơ bản của kinh tế trang trại và tiêu chí nhận
dang
Trang 12* Những đặc trưng cơ bản của kinh tế trang trại
Những đặc trưng cơ bản của kinh tế trang trại cần được xuất phát từ khái niệm
về kinh tế trang trại đã được trình bày ở trên
- Mục đích chủ yếu của kinh tế trang trại là sản xuất hàng nông, lâm, thủy sản với quy mô lớn và có tính chuyên môn hóa cao
Đặc trưng về mục đích sản xuất hàng hóa là đặc trưng quan trọng nhất của trang trại, bởi vì nó chỉ phối và quyết định các đặc trưng khác của trang trại Bộ phận sản phẩm được dành lại cho tiêu dùng nhà sản xuất là chiếm tỉ lệ vốn thấp, thậm chí
là 0%
- Mức độ tập trung hóa và chuyên môn hóa các điều kiện và yếu tố sản xuất cao hơn hẳn (vượt trội) so với sản xuất của nông hộ, thể hiện ở quy mô sản xuất như đất đai, đầu con gia súc, lao động có tay nghề cao, công nghệ sản xuất hiện đại và do
đó cho năng suất lao động và năng suất đất đai hơn hẳn sản xuất hộ cá thể
- Chủ trang trại là người có kiến thức và kinh nghiệm điều hành sản xuất, đồng thời có hiểu biết nhất định về kinh doanh, biết áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới vào sản xuất; sử dụng lao động gia đình và
thuê lao động bên ngoài sản xuất hiệu quả cao, có thu nhập cao hơn hẳn so với kinh
tế hộ
* Tiêu chí nhận dạng
Ranh giới giữa kinh tế hộ và kinh tế trang trại không rõ ràng do vậy để nhận dạng trang trại cần đảm bảo hai mặt: mặt định tính và mặt định lượng Mặt định tính hàm chứa những đặc trưng cơ bản của kinh tế trang trại Mặt định lượng bao gồm những chỉ tiêu biểu hiện vẻ mặt lượng của các đặc trưng đó Theo Thông tư liên tịch 69/2000/TTLT/BNN-TCTK ngày 23/06/2000 và Thông tư liên tịch 62//TTLT/BNN-
TCTK ngày 20/05 2003 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và Tổng cục
Thống kê, tiêu chí định lượng được xác định như sau:
- Một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản được xác định
là trang trại phải đạt một trong hai tiêu chí vẻ giá trị sản lượng hàng hoá dịch vụ bình quân I năm, hoặc về quy mô sản xuất của trang trại
- Đối với trang trại sản xuất tổng hợp là trang trại có nhiều loại sản phẩm hàng
Trang 13hóa của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản thì tiêu chí xác định là giá trị sản lượng hàng hóa, dịch vụ bình quân tạo ra trong một năm
Tiên chí giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ bình quân một năm:
+ Đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung từ 40 triệu đồng trở lên + Đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên từ 50 triệu đồng trở lên
Tiêu chí về quy mô sản xuất: Quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội
so với kinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế Cụ thể:
* Đối với trang trại trồng trọt
+ Trang trại trồng cây hằng năm
Từ 2 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung
Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên
+ Trang trại trồng cây lâu năm
Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung,
Từ 5 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên
Trang trại trồng hồ tiêu 0,5 ha trở lên
+ Trang trại lâm nghiệp
Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả nước
* Đối với trang trại chăn nuôi
+ Chan nuôi đại gia súc: trâu, bò
Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường xuyên từ 10 con trở lên
Chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên
+ Chăn nuôi gia súc: lợn đê
Chăn nuôi sinh sản có thường xuyên đối với lợn từ 20 con trở lên, đối với
đê cừu từ 100 con trở lên
Chăn nuôi lợn thịt có thường xuyên từ 100 con trở lên (không kể lợn sữa), dê thịt từ 200 con trở lên
+ Chăn nuôi gia cẩm: gà, vịt, ngan, ngỗng có thường xuyên từ 2.000 con trở lên (không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi)
* Đối với trang trại nuôi trồng thủy sản
Trang 149
Diện tích mặt nước để nuôi trồng thủy sản có từ 2 ha trở lên (riêng đối với nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1 ha trở lên)
1.1.1.3 Các loại hình kinh tế trang trại
Trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp ở trình độ cao, khối lượng nông sản hàng hóa nhiều, phương thức quản lý sản xuất kinh doanh của các trang trại đã có nhiều thay đổi Có thể phân loại trang trại thành ba tiêu thức cơ bản
là theo hình thức tổ chức quản lý, theo cơ cấu sản xuất và theo quan hệ sở hữu tư liệu
sản xuất
*Theo tổ chức quản lý, có thể có các loại hình trang trại khác nhau như:
- Trang trại gia đình: là loại hình trang trại mà mỗi gia đình có tư cách pháp
nhân riêng do người chủ hộ hay một người có năng lực và uy tín trong gia dình đứng
ra quản lý, đlũu hành toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh, các thành viên khác
trong gia đình tham gia sản xuất Loại hình trang trại gia đình được coi là phổ biến nhất trong tất cả các nước với qui mô lớn bé khác nhau
- Trang trại liên doanh: là kiểu trang trại do hai hay ba trang trại tự nguyện hợp nhất thành một trang trại lớn hơn để tăng thêm khả năng về vốn và tư liệu sản xuất và công nghệ mới nhằm tạo ra sức cạnh tranh với các trang trại khác có quy mô
lớn và tận dụng định hướng ưu đãi của Nhà nước dành cho các trang trại lớn Điều
đáng chú ý, từng trang trại tham gia liên doanh nhưng vẫn giữ quyền điều hành sản xuất của mình Có trường hợp do nhu cầu vốn kinh doanh, chủ trang trại ở nông thôn
đã liên doanh với người có vốn ở thành phố để sản xuất kinh doanh chung, đối tượng liên doanh thường là họ hàng thân tộc
- Trang trại hợp doanh theo cổ phần: là loại trang trại được tổ chức theo
nguyên tắc một công ty cổ phần, hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, tiêu
thụ sản phẩm Loại trang trại này thường có quy mô lớn và được chuyên môn hoá sản xuất, sử dụng lao động làm thuê là chủ yếu Cổ phần của trang trại gia đình liên doanh không bán trên thị trường chứng khoán, còn cổ phần của các trang trại hợp doanh theo cổ phần có bán trên thị trường chứng khoán Đó là sự khác biệt giữa trang trại hợp doanh gia đình và phi gia đình Loại trang trại này chủ yếu phát triển trong lãnh vực chế biến, tiêu thụ nông sản
Trang 1510
- Trang trại ủy thác: là loại trang trại mà chủ trang trại ủy thác lại ruộng đất
cho bà con thân thuộc, bạn bè từng khâu hay nhiều khâu trong sản xuất theo từng vụ
hay liên tục nhiều vụ khi chủ trang trại đi làm việc khác
Từ sự đa dạng của các loại hình trang trại, đã dẫn tới các phương thức quản lý điều hành sản xuất kinh doanh có sự khác biệt cơ bản
+ Các trang trại gia đình, chủ trang trại hầu hết là nông dân sống ở nông thôn
Họ là người trực tiếp quản lý và sản xuất
+ Có chủ trang trại sống ở nơi khác nhưng vẫn điều hành trang trại Loại hình này hiện nay chưa nhiều nhưng có chiều hướng phát triển ở một số nước công nghiệp phát triển
+ Chủ trang trại sống ở thành phố, có trang trại ở nông thôn và thuê người quản lý điều hành mợi hoạt động của trang trại
* Theo cơ cấu sản xuất, thường có hai loại hình trang trại:
- Trang trại kinh doanh tổng hợp: là loại trang trại sản xuất kinh doanh nhiều
loại sản phẩm, gắn trồng trọt với chăn nuôi, nông nghiệp với các ngành nghề phi
nông nghiệp
- Trang trại sản xuất chuyên môn hóa- là loại hình trang trại tập trung sản xuất
kinh doanh chuyên một loại sản phẩm như trang trại chuyên chăn nuôi, chuyên trồng
hoa, chuyên trồng cây lâu năm
* Theo hình thức sở hữu, có 3 loại hình chính là:
- Chủ trang trại sở hữu toàn bộ tư liệu sản xuất: Đây là loại hình phổ biến ở
các nước, tuy có khác nhau về tỷ lệ Ví dụ Thụy Điển chỉ có 30% số trang trại thuộc loại này, trong khi đó nhiều nước có đến 60-70% số trang trại loại này
- Chủ trang trại sở hữu một phần tư liệu sản xuất còn lại phải đi thuê của người khác
- Chủ trang trại thuê hoàn toàn tư liệu sẵn xuất của chủ khác để tổ chức sản
xuất kinh doanh
1.1.2 Các điều kiện để phát triển kinh tế trang trại
Qua thực tế phát triển của các nước trên thế giới và lịch sử phát triển của các
hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung của nước ta cho thấy rằng, sự phát triển của
Trang 16các hình thức sản xuất nông nghiệp sở hữu lớn của tư nhân phải được gắn liên với
các điều kiện nhất định
1.1.2.1 Các điều kiện về môi trường kinh tế và pháp lý
* Có sự tác động tích cực và phù hợp của Nhà nước
Sự tác động của Nhà nước có vai trò to lớn trong việc tạo môi trường kinh tế và
pháp lý để kinh tế trang trại bình thành và phát triển
Kinh tế trang trại là sự phát triển ở mức cao hơn của kinh tế hộ nông dân và chủ yếu được hình thành từ kinh tế hộ nông dân sản xuất tự cấp tự túc là chính Đó là quá trình tích tụ và tập trung các yếu tố sản xuất, mở rộng quy mô sản xuất, thay đổi mục đích và phương thức sản xuất kinh doanh Quá trình đó diễn ra một mặt do kết quả hoạt động của các nông hộ, mặt khác là do sự tác động tích cực của Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý của nền kinh tế quốc dân, trong đó có nông nghiệp Sự tác động tích cực của Nhà nước sẽ thúc đẩy làm cho kinh tế trang trại ra đời và phát triển, sự tác động tiêu cực, hoặc ngăn cần sẽ làm cho kinh tế trang trại chậm ra đời hoặc không thể ra đời Sự tác động của Nhà nước thường được thực hiện thông qua:
-_ Định hướng cho sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại thông qua quy hoạch phát triển và ban hành các chính sách kinh tế, xã hội theo hướng khuyến
khích kinh tế trang trại
Trong hệ thống các chính sách, các chính sách về ruộng đất, thị trường, khoa
học công nghệ, đầu tư, có vai trò hết sức quan trọng
- Khuyến khích sự hình thành, phát triển kinh tế trang trại qua các biện pháp
đòn bẩy kinh tế nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế trang trại và khuyến
khích các hình thức liên kết kinh tế phục vụ cho kinh tế trang trại
- Hé tro nguồn lực cho sự hình thành và phát triển của kinh tế trang trại như hỗ
trợ kinh phí cho đào tạo chủ trang trại, xây dựng các cơ sở hạ tầng, hỗ trợ chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật
* Có quỹ ruộng đất cần thiết và có chính sách để tập trung ruộng đất,
Đối với sản xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt, là nguồn gốc tạo ra các sản phẩm nông nghiệp Vì vậy giữa đất đai và trang trại có mối quan hệ gắn bó với nhau, trong đó đất đai là một trong những yếu tố hình thành nên
Trang 17đáp ứng nhu cầu thường xuyên thay đổi của con người
Cùng với quy mô quỹ ruộng đất, việc tập trung ruộng đất có một ý nghĩa rất quan trọng đối với sự hình thành trang trại Nói chung diện tích đất sản xuất nông nghiệp bình quân đầu người cao hay thấp sẽ cho phép tập trung ruộng dất nhanh hay chậm để các nông hộ có điều kiện phát triển kinh tế trang trại Nhưng trên thực tẾ sự
tập trung ruộng đất còn phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế, pháp lý cho sự tập trung
ấy Những điều kiện kinh tế chủ yếu cho sự tập trung ruộng đất là hiệu quả kinh tế của sản xuất trên cơ sở tập trung ruộng đất, khả năng về vốn đầu tu vi su tập trung ruộng đất được thực hiện chủ yếu thông qua sang nhượng Việc sang nhượng ruộng đất phải được sự cho phép của pháp luật Điều này, đến lượt nó, lại đòi hỏi một khuôn khổ pháp lý cho việc sang nhượng và tập trung ruộng đất
Như vậy các điều kiện về đất đai cho sự hình thành và phát triển của kinh tế trang trại chủ yếu là diéu kiện đảm bảo cho quá trình sử dụng đất đai có hiệu quả và điều kiện nhằm tạo môi trường pháp lý cho quá trình tập trung đất đai điễn ra thuận lợi Điều này đồi hỏi Nhà nước phải có chính sách đất đai hợp lý theo phương châm: đất đai phải thuộc về những người sử dụng chúng có hiệu quả, tức là chính sách
ruộng đất cần phải tạo điều kiện cho sự tập trung ruộng dất một cách hợp lý, vào
những người có khả năng và điều kiện sử dụng ruộng đất hiệu quả
* Có hỗ trợ của công nghiệp chế biển nông sản
Nông nghiệp là ngành sản xuất sinh học, đối tượng của nó là các cơ thể sống Điều đó không chỉ chi phối đến các nội dung của tổ chức sản xuất kinh doanh nông nghiệp, mà còn chỉ phối đến quá trình chế biến, bảo quản và sử dụng các sản phẩm nông nghiệp Bởi vì, các sản phẩm nông nghiệp sau khi kết thúc quá trình hoạt động
Trang 1813
nông nghiệp, các quá trình sinh học vẫn còn tiếp diễn Ngoài một số ít sản phẩm sử
dụng tươi sống được dùng ngay sau sản xuất, đa số sản phẩm nông nghiệp phải qua
chế biến với các mức độ khác nhau Trong bối cảnh đó, các hoạt động của công nghiệp chế biến vừa làm dừng lại các quá trình sinh học của sản phẩm, vừa tỉnh chế
các sản phẩm thô, vì thế sản phẩm nông nghiệp được bảo quản và chất lượng sản
phẩm được tăng thêm Điều này có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc tiêu thụ sản
phẩm nông nghiệp
Do vậy công nghiệp chế biến có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của nông nghiệp và giữa nông nghiệp, công nghiệp chế biến có mối quan hệ trực tiếp, khăng khít với nhau Quan hệ trên càng trở nên đậm nét trong điều kiện sản xuất nông nghiệp được tổ chức dưới hình thức các trang trại
Để hình thành và phát triển kinh tế trang trại tất yếu cần có sự hỗ trợ của công
nghiệp chế biến, nhưng phải là công nghiệp chế biến xuất phát từ yêu cầu của phát
triển nông nghiệp và phù hợp với nhu cầu thị trường
* Có sự phát triển nhất định của kết cấu hạ tầng, trước hết là đường giao thông
và thủy lợi
Kết cấu hạ tầng kỹ thuật của sẵn xuất nông nghiệp bao gồm: đường giao thông, thủy lợi, điện là những điều kiện vật chất kỹ thuật rất cần thiết đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp Nó góp phần quan trọng để người sản xuất khắc phục những tác động tiêu cực của tự nhiên, đáp ứng yêu cầu sinh học của sản xuất nông nghiệp
và yêu cầu của sản xuất hàng hoá, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường
Đối với sự hình thành và phát triển của kinh tế trang trại do đặc trưng mang tính bản chất của kinh tế trang trại là sản xuất nông sản hàng hoá phục vục nhu cầu của xã hội nên kinh tế trang trại chỉ được hình thành khi sản xuất diễn ra với quy mô
tương đối lớn, với trình độ kỹ thuật và tổ chức sản xuất tiến bộ và nông sản phẩm
được tạo ra phải đáp ứng được yêu cầu xã hội vẻ số lượng, giá cả và thời điểm cung cấp Để đáp ứng yêu cầu trên đòi hỏi hoạt động sản xuất kinh doanh của các trang trại phải được tiến hành trên cơ sở một hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật phát triển ở trình độ nhất định, bao gồm kết cấu hạ tầng trên địa bàn (vùng) hoạt động của các trang trại và cơ sở vật chất kỹ thuật trong phạm vi từng trang trại
Trang 1914
* Có sự hình thành các vàng sản xuất nông nghiệp chuyên môn hoá
Sự hình thành các vùng chuyên môn hoá sản xuất nông nghiệp có ảnh hưởng
tích cực và rõ nét tới sự hình thành và phát triển của các trang trại vì các vùng
chuyên canh tập trung luôn gắn liền với công nghiệp chế biến, tạo thuận lợi cho việc
tiêu thụ sản phẩm của trang trại
Để hình thành vùng chuyên môn hoá, người ta phải tiến hành phân vùng để bố
trí cây trồng, vật nuôi thích hợp, tạo các điều kiện thực hiện các phương án sản xuất
sản phẩm thông qua xây dựng các kết cấu hạ tầng kỹ thuật và sử dụng các đòn bẩy
kinh tế thúc đẩy sản xuất phát triển theo hướng chuyên canh Những vấn đề trên cũng là những vấn đề hết sức cần thiết cho sự hình thành và phát triển của kinh tế
trang trại Vì vậy, có thể nói sự hình thành các vùng chuyên môn hoá cũng là quá
trình hình thành và phát triển của kinh tế trang trại Điều này được chứng minh bởi một thực tế là: phần lớn các trang trại ở Việt Nam đều được hình thành ở những vùng chuyên môn hoá (chè, cà phê, cao su ) và các vấn đề như: chế biến, tiêu thụ,
xây dựng các cơ sở hạ tầng kỹ thuật đều do các doanh nghiệp Nhà nước ở các vùng
chuyên môn hoá đảm nhận
* Có sự phát triển nhất định của các hình thúc liên kết kính tẾ trong nông
nghiệp
Trình độ chuyên môn hoá càng cao thì yêu cầu liên kết kinh tế càng lớn, bởi vì
chuyên môn hoá là hình thức biểu hiện cụ thể của phân công lao động và liên kết
kinh tế là hình thức biểu hiện của hợp tác lao động trong sản xuất
Sự hình thành của kinh tế trang trại là quá trình phát triển theo hướng chuyên môn hoá sản xuất trong trang trại Đó là quá trình tích tụ và tập trung các điều kiện cho trang trại khai thác lợi thế so sánh trên cơ sở chuyên môn hoá kết hợp với phát
triển tổng hợp Trong quá trình đó, một số khâu sản xuất đã được tách khỏi hoạt
động của trang trại Hơn nữa do thay đổi mục đích và tăng quy mô sản xuất nên các
mối quan hệ trong kinh doanh của trang trại được mở rộng rất nhiều so với nông hộ
Mặt khác, sẵn xuất hàng hoá của trang trại đòi hỏi phải có sự phối hợp cân đối, nhịp
nhàng để đạt hiệu quả kinh tế cao Vì vậy, sự liên kết trong kinh doanh của các
trang trại ngày càng có vai trò quan trọng đối với hoạt động của trang trại và sự phát
Trang 2015
triển các hình thức liên kết kinh tế trong nông nghiệp, ngày càng trở thành điều kiện cần thiết cho sự hình thành và phát triển của kinh tế trang trại
1.1.2.2 Các điều kiện đối với trang trai và chủ trang trại
* Chủ trang trại phải là người có ý chí và quyết tâm làm giàu từ nghề nông Nông nghiệp là ngành sản xuất nặng nhọc, phức tạp, mức sinh lời thấp, tính rủi
ro cao Vì vậy, sức thu hút đầu tư của nông nghiệp kém hơn các ngành khác Trong khi đó, phát triển nông nghiệp theo hướng kinh tế trang trại cần có sự đầu tư tiền của, trí thức và công sức lớn hơn nhiều so với nông hộ để sản xuất kinh doanh
Trong xu hướng biến động của nguồn lao động nông nghiệp, lao động có chất
lượng cao thường có xu hướng di chuyển khỏi lĩnh vực nông nghiệp Đây là xu hướng mang tính quy luật Trên thực tế, những lao động có chất lượng cao của nông nghiệp mới là những người đáp ứng được yêu cầu về chất lượng lao động của các ngành khác Trong điều kiện chất lượng nguồn lao động nông nghiệp nói chung còn thấp, sự di chuyển sức lao động có chất lượng cao ra khỏi nông nghiệp sẽ cản trở sự phát triển của nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá nói chung, kinh tế trang trại nói riêng
Vì vậy, điều kiện về ý chí và quyết tâm làm giàu từ nghề nông là một trong những điều kiện quan trọng cho sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại Chỉ có những người có ý chí và quyết tâm làm giàu từ nghề nông mới dám đầu tư tiền của,
tri thức và công sức vào nghề nông lời ít rủi ro nhiều
* Người chủ trang trại phải có sự tích lãy nhất định về kinh nghiệm sản xuất,
về rỉ thức và năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh
Về nguồn gốc hình thành, đa số các trang trại bình thành từ sự chuyển biến về chất của kinh tế nông hộ Quá trình chuyển biến đó là quá trình tích luỹ các yếu tố vật chất để hình thành trang trại đồng thời cũng là quá trình tích lũy kinh nghiệm sản xuất, tích lũy tri thức và năng lực sản xuất kinh doanh Không có quá trình tích lũy thứ hai này thì không thể có kinh tế trang trại, bởi vì đây không chỉ là điều kiện cho
sự hình thành các trang trại mà còn là điều kiện để các trang trại trụ lại và phát triển
đưới sự tác động khắc nghiệt của cơ chế thị trường
Trên thực tế, khi người chủ trang trại có kinh nghiệm sản xuất, có trình độ và
Trang 2116
năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh nông nghiệp thì mới dám đầu tư kinh doanh và
mới biết đầu tư kinh doanh cây, con nào để đáp ứng được nhu cầu thị trường, để khai
thác được các nguồn lực để lựa chọn đúng phương hướng kinh doanh và tổ chức tốt quá trình kinh doanh theo sự lựa chọn đó
Như vậy sự tích lũy kinh nghiệm, tri thức và năng lực sản xuất kinh doanh là một yêu cầu không thể thiếu đối với một người chủ trang trại
Để đáp ứng yêu cầu trên, ngoài sự tích lũy của bản thân chủ trang trại cần có
sự hỗ trợ của Nhà nước về nguồn lực và tổ chức để có thể truyền tải các tiến bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp, kiến thức tổ chức sản xuất kinh doanh cho các chủ trang trại và cho các chủ hộ trong nông nghiệp
* Có sự tập trung tới quy mô nhất định về các yếu tố sẵn xuất, trước hết ruộng đất và tiền vốn
Trang trại là một phương thức kinh doanh nông nghiệp, là một đơn vị sản xuất kinh doanh cơ sở trong nông nghiệp có quy mô lớn hơn với trình độ sản xuất cao hơn nông hộ Thừa nhận trang trại có quy mô sản xuất lớn hơn nông hộ cũng tức là thừa nhận trong các trang trại các yếu tố về ruộng đất, vốn và tư liệu sản xuất được tập trung tới quy mô lớn hơn ở nông hộ Chỉ khi các yếu tố sản xuất được tập trung tới quy mô nhất định thì mới có sản xuất hàng hoá, mới có trang trại Như vậy có thể coi sự tập trung các yếu tố sản xuất là một điều kiện ra đời và phát triển của kinh tế
trang trại
Sự tập trung các yếu tố về ruộng đất, vốn và tư liệu sản xuất được thể hiện dưới những hình thức khác nhau Các yếu tố đó có thể thuộc quyền sở hữu của trang trại, cũng có thể thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, tập thể và cá nhân khác và chủ trang trại là người nhận sử dụng vay mượn hoặc thuê mướn Đây là điểm khác của kinh
tế trang trại so với kinh tế hộ và đòi hỏi Nhà nước phải có cơ chế và các chính sách tạo thuận lợi cho sự tập trung các yếu tố sản xuất, cơ sở quan trọng cho sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại Quy mô tập trung các yếu tố ruộng đất, vốn và
tư liệu sản xuất của trang trại không phải vô hạn mà có giới hạn Đó là sự giới hạn bởi các đặc điểm sinh học của sản xuất nông nghiệp và giới hạn tối ưu của các yếu
tố để đạt hiệu quả sản xuất kinh doanh cao
Trang 2217
Quá trình tích tụ và tập trung các yếu tố sản xuất để phát triển trang trại bao
gồm sự tích tụ và tập trung các nguồn nội lực trong nông nghiệp, đồng thời cũng bao
hàm các nguồn lực từ bên ngoài nông nghiệp
* Quản lý sản xuất kinh doanh của trang trại phải dựa trên cơ sở hạch toán kinh doanh
Hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại là hoạt động sản xuất hàng hoá với mục đích chủ yếu là tạo thu nhập và có lợi nhuận cao Điều đó chỉ có thể thực hiện được khi phải tiến hành hạch toán và phân tích hoạt động kinh doanh Bởi vì có thực hiện hạch toán và phân tích hoạt động kinh doanh trang trại mới kiểm soát được các chi phi sản xuất, mới tìm ra các khâu đầu tư chưa hợp lý, các tiểm năng chưa hợp
lý, các tiềm năng chưa khai thác để có biện pháp khắc phục nhằm hạ giá thành, tăng
năng suất và nâng cao hiệu quả kinh doanh là những vấn đề sống còn đối với trang trại nói riêng các doanh nghiệp nói chung trong điều kiện kinh tế thị trường Có thể nói thực hiện hạch toán và phân tích kinh doanh là điều kiện tối cần thiết để trang
trại tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường
Dé thực hiện hạch toán kinh doanh trong các trang trại, cần chú ý hai vấn dé: + Thứ nhất, cần tổ chức việc đào tạo kiến thức hạch toán và phân tích kinh doanh cho các chủ trang trại cũng như những người quản lý trang trại
+ Thứ hai, cần có chế độ kế toán thống nhất cho các trang trại, phù hợp với đặc điểm của trang trại, làm cơ sở cho các trang trại tiến hành hạch toán kinh doanh 1.1.3 Vai trò của kinh tế trang trại trong quá trình phát triển nông nghiệp,
nông thôn
Nông nghiệp, nông thôn nước ta trong những năm qua đã có những bước phát
triển rõ rệt, sản xuất từ chỗ mang nặng tính tự túc, tự cấp đã và đang chuyển đân sang sản xuất hàng hóa, giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp trong tổng sản phẩm
xã hội hàng năm chiếm trên 50% GDP; cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội nông thôn được
quan tâm đầu tư phát triển Việc phát triển nông nghiệp đã góp phần nâng cao thu
nhập, cải thiện đời sống của nhân dân, ốn định an nỉnh chính trị xã hội và phát triển kinh tế nông thôn
Tuy nhiên, bên cạnh những tiến bộ đạt được, nước ta vẫn còn trong tình trạng
Trang 2318
chậm phát triển, gặp không ít khó khăn, thách thức: đầu tư cho nông nghiệp chưa
tương xứng với vai trò, vị trí của nó; mô hình tổ chức, quản lý sản xuất chưa ổn định,
cơ cấu kinh tế còn thuần nông; công nghiệp, dịch vụ phát triển chậm; thị trường nông thôn yếu kém tác động tiêu cực đến "dầu vào" và "đầu ra” của sản xuất nông nghiệp, một số chính sách nông nghiệp lại chưa đủ mạnh để kích thích sản xuất phát
triển
Phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn thực chất là việc chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông thôn từ thế độc canh, thuần nông sang nền nông nghiệp phát triển
toàn diện, đa dạng hóa các ngành nghề: trồng trọt, chăn nuôi, ngành nghề tiểu thủ
công nghiệp Mục đích chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn nhằm:
- Giải phóng mọi sức sản xuất, khai thác tiểm năng to lớn của nông nghiệp,
nông thôn, đặc biệt là đất đai, nguồn nước, sức lao động
- Đáp ứng yêu cầu cung cấp lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công
nghiệp và xuất khẩu
- Nâng cao đời sống vật chất tỉnh thần của nông dân, đổi mới bộ mặt của
nông thôn
- Đáp ứng yêu cầu phân công lại lao động xã hội hợp lý, tạo việc làm, tăng
thu nhập cho người nông dân
Muốn vậy phải mở mang ngành nghề đặc biệt là các ngành nghề truyền thống: chú trọng công nghệ chế biến, công nghệ sau thu hoạch để nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của hàng hóa nông sản
Qua thực tiễn phát triển kinh tế nông nghiệp, mô hình kinh tế trang trại được xem là nhân tố mới ở nông thôn, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn, Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất thích hợp và khách quan khi các hộ sản xuất nông nghiệp từng bước hòa nhập vào kinh tế thị trường, bởi vì:
- Trang trại là hình thức thích hợp để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Để có thể công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, thì đòi hỏi qui mô sản xuất của mỗi chủ thể kinh tế phải đạt tới mức độ phù hợp với yêu cầu để có thể đưa các phương tiện cơ giới và các tiến bộ kỹ thuật sinh học vào sản xuất Nếu chỉ với
Trang 2419
diện tích nhỏ của kinh tế hộ thì chủ hộ cũng không đủ lực để công nghiệp hóa, hiện đại hóa hoặc có làm được thì hiệu quả cũng sẽ không cao vì qui mô không sử dụng hết công suất thiết bị Phát triển kinh tế trang trại gắn với sở hữu tư nhân và được
điều hành bởi những nông dân sản xuất giỏi nên hiệu quả sản xuất kinh doanh của
từng trang trại hơn hẳn khu vực quốc doanh và các thành phần kinh tế khác và do đó
làm cho cả nền kinh tế trở nên có hiệu quả hơn
Kinh tế trang trại là mô hình sản xuất nông sản hàng hóa có hiệu quả, phù hợp với những yêu cầu, đặc điểm của sản xuất nông nghiệp bởi vì trang trại phát triển dựa trên nền tảng kinh tế hộ, người chủ trang trại là người quản lý, đồng thời trực tiếp tham gia lao động sản xuất và có quan hệ gần gũi với những người lao động trực tiếp, lao động làm thuê, đảm bảo được những yêu cầu khắt khe về sinh học, chăm sóc cây trồng vật nuôi của sản xuất nông nghiệp
Để có thể nâng cao năng suất lao động các chủ trang trại cần phải đầu tư hợp
lý, thường xuyên áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, đổi mới công cụ máy móc, tạo điểu kiện nâng cao hiệu quả kinh tế Quá trình phát triển kinh tế trang trại, các nông hộ đã đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, đưa sản xuất từ nền sản xuất nhỏ, tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng
hoá với qui mô lớn gắn liển với thị trường, đồng thời đẩy nhanh tiến trình hợp tác
kinh tế, liên kết 4 nhà trong sản xuất nông nghiệp theo Quyết định 80/2002/QĐ-
TT, góp phần xây dựng quan hệ sản xuất mới ở nông thôn
Nhiều trang trại đã chú trọng áp dụng kỹ thuật vào sản xuất như chăn nuôi lợn hướng nạc, gà siêu trứng trong trồng trọt đã áp dụng nhiều biện pháp khoa học - công nghệ, lai tạo, lựa chọn bố trí cây trồng vật nuôi hợp lý và đạt hiệu quả kinh tế cao Một số chủ trang trại có vốn lớn đã mua sắm trang thiết bị, từng bước cơ giới hóa nông nghiệp như trang bị máy kéo, máy xay xát, hệ thống tưới nhỏ giọt tự động, phun thuốc tự động, xây dựng vườn ươm, nuôi giống và các trang thiết bị tiên tiến khác nên năng suất và chất lượng sản phẩm hàng hóa vượt trội so với các trang trại khác
-_ Kinh tế trang trại phát triển góp phần khai thác tốt các tiêm năng thúc đẩy
quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn
Trang 25Kinh tế trang trại phát triển đã thu hút một khối lượng lớn tiền vốn nhàn rỗi trong dân vào sản xuất nông nghiệp, đã tạo ra động lực để khai thác tốt các vùng đất khó khăn, đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hóa mà kinh tế quốc doanh, tập thể khai thác không hiệu quả hoặc kinh tế hộ đủ sức khai thác vào sản xuất nông, lâm nghiệp
và chăn nuôi, góp phần cải thiện môi trường sinh thái Kết quả chuyển đổi đầu tư, lựa chọn mô hình sản xuất, kinh doanh đã tạo cho kinh tế trang trại khai thác tiểm năng đất đai một cách hiệu quả hơn và tạo ra khối lượng nông sản, thực phẩm lớn, đa dạng, tạo nguồn nguyên liệu cung cấp cho ngành công nghiệp chế biến, nông lâm sản phát triển, điều đó đã giúp cho việc sử dụng hợp lý và có hiệu quả hơn các nguồn
tài nguyên đất và nước
Do tài nguyên đất nước dược khai thác tốt hơn, qui mô sản xuất mở rộng hơn nên kinh tế trang trại đã góp phần không nhỏ vào giải quyết việc làm Việc thu hút lao động phổ thông vào làm trong các trang trại đã giải quyết công ăn việc làm giảm bớt áp lực do thiếu việc làm, góp phần tăng thu nhập cho người lao động, cải thiện đời sống cho nhiều hộ góp phần xóa đói giảm nghèo ở khu vực nông thôn
- Phát triển kinh tế trang trại sẽ tạo điều kiện thúc đẩy tốt hơn quá trình hợp tác giữa các thành phần kinh tế
Phát triển kinh tế trang trại đã mở ra hướng làm ăn mới được đông đảo hộ gia đình nông đân tích cực tham gia, hình thành đội ngũ nông dân năng động, dám nghĩ,
dám làm, đoàn kết, hợp tác kinh tế giữa các chủ trang trại với nhau và giữa các trang
Trang 2621
trại với hợp tác xã, các doanh nghiệp được phát triển và ngày càng bền vững hơn
+ Quan hệ với các nông, lâm trường
Các trang trại là địa chỉ đáng tin cậy để các nông, lâm trường ký kết các hợp đồng cung cấp dịch vụ và mua lại các sản phẩm cần thiết cho hoạt động của mình
Ngược lại, các cơ sở chế biến, kho tàng của các nông, lâm trường trở thành những
nơi gia công, chế biến và ủy thác bảo quản sản phẩm cho các chủ trang trại
Có thể nói rằng, sự phát triển của các trang trại trong thời gian qua đã thúc
đẩy các nông, lâm trường chuyển dần những công việc trực tiếp với đối tượng sản xuất về phía người trực tiếp sản xuất Các nông, lâm trường có điều kiện tập trung vào thực hiện các dịch vụ phức tạp hơn như chế biến, bảo quản, tiêu thụ sản phẩm, phổ cập việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và thực hiện các dịch vụ mà từng chủ trang trại không thể thực hiện được Đây là xu hướng phát triển hợp lý cần được khuyến khích
+ Quan hệ với kinh tế hợp tác và kinh tế hộ
Hiện nay, các chủ trang trại đã hợp tác với nhau để trao đổi, tiêu thụ sản phẩm, nhằm hạn chế được tình trạng bị trung gian ép giá, bên cạnh đó các chủ trang
trại giúp nhau lựa chọn các loại giống cây trồng, vật nuôi phù hợp với từng vùng
giúp cho việc sản xuất kinh doanh của trang trại ngày một tốt hơn
Xu hướng phát triển hợp tác giữa chủ trang trại với người lao động làm thuê
ngay trong từng trang trại và giữa các trang trại ngày càng tăng Một số trang trại có nhu cầu đã tự nguyện hình thành hợp tác xã
Do điều kiện kinh tế hợp tác hiện nay đang nằm trong trình trạng yếu kém, vai trò hỗ trợ cho các thành phần kinh tế khác phát triển chưa lớn nên chưa có các mối liên hệ rõ nét với kinh tế trang trại Tuy nhiên về lâu dài với qui mô và mức độ chuyên môn hóa của kinh tế trang trại ngầy càng cao, giữa các trang trại sẽ xuất hiện các yêu cầu về hình thức hợp tác mới: hợp tác trên cơ sở tự nguyện, đồng thuận về ý chí và thông qua hợp đồng kinh tế Đối với kinh tế hộ, các trang trại sẽ là nơi gắn bó những kiến thức về kinh tế, kỹ thuật cần thiết cho các hộ kinh doanh cùng ngành
nghề
Mặc dù thời gian chưa dài, còn tự phát nhưng với những kết quả đạt được,
Trang 2722
kinh tế trang trại đã thực sự là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá lớn, quy mô và
hiệu quả vượt trội nhiều so với kinh tế hộ, tạo ra số lượng và giá trị lớn về sản phẩm
nông, lâm, thủy sản, ngoài ra còn lấy mô hình sản xuất hàng hoá làm mục tiêu Kinh
tế trang trại là điểm đột phá trong bước chuyển sang sản xuất hàng hoá, góp phần tích cực trong quá trình chuyển dịch cơ cấu vật nuôi, cây trồng, cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn Về mặt xã hội, kinh tế trang trại đã góp phần làm cho bộ mặt nông thôn ngày càng thay đổi, rút ngắn khoảng cách phân hoá giàu, nghèo giữa thành thị và nông thôn
1.2 Tín dụng ngân hàng đối với phái triển kinh tế trang trại
1.2.1 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng đối với kinh tế trang trại
1.2.1.1.Tín dụng ngân hàng với sự phát triển kinh tế
Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ La tính là credo (tin tưởng, tín nhiệm)
Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau; ngay cả trong quan hệ tài chính, tùy theo từng bối cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín dụng
có một nội dung riêng Trong quan hệ tài chính, tín dụng có thể hiểu theo các nghĩa sau:
- Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang
chủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp chuyển dịch quỹ từ người cho vay sang người đi vay
- Trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên
cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể Phổ biến hơn cả là giao dịch giữa ngân hàng và
các định chế tài chính khác với các doanh nghiệp và cá nhân thể hiện dưới hình thức
cho vay, tức là ngân hàng cấp tiền vay cho bên đi vay và sau một thời hạn nhất định người đi vay phải thanh toán vốn gốc và lãi
- Tín dụng còn có nghĩa là một số tiền cho vay mà các định chế tài chính cung cấp cho khách hàng để khách hàng sử dung theo muc dich va thời hạn đã được cam kết trước
Trong bất cứ nền kinh tế nào thì tín dụng cũng luôn tồn tại và phát triển một cách tất yếu, nhưng trong mọi loại tín dụng thì tín dụng ngân hàng có vị trí quan
trọng nhất, bởi các lý do sau đây;
Trang 28+ Ngân hàng là một định chế tổ chức trung gian, có chức năng tập trung và
phân phối lại các nguồn vốn tiền tệ trong nền kinh tế Điều này nó làm cho các
nguồn vốn tiền tệ được sử dụng hiệu quả hơn, vòng quay của vốn tiền tệ tăng lên
nhanh chóng Đặc biệt là qua quá trình vận động của tín dụng ngân hàng, các khoản
tiết kiệm của dân cư, các khoản vốn tạm thời nhàn rỗi được tích lũy nhanh chóng thành vốn sản xuất của xã hội Nói khác đi tín dụng ngân hàng đã góp phần thúc dẩy
tăng cao tích lũy vốn sản xuất của nền kinh tế, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình tái sản
xuất mở rộng
+ Ngân hàng là một định chế làm chức năng thủ quỹ và thanh toán cho nền kinh tế nên nó có đầy đủ các điều kiện để mở rộng tín dụng khi nền kinh tế có nhu cầu
Khả năng mở rộng tín dụng của hệ thống ngân hàng có một vai trò đặc biệt trong quá trình phát triển kinh tế, vì nó luôn sẵn sàng làm cho mọi hàng hóa - dịch
vụ có nhu cầu vận động lập tức được đáp ứng ngay tức khắc mà các định chế tổ chức khác khó lòng đáp ứng được
+ Các hình thức cấp tín dụng của ngân hàng rất phong phú, các ngân hàng có thể mua lại các khoản nợ của khách hàng dưới dạng chiết khấu thương phiếu và các
giấy tờ có giá khác, cho vay ngắn hạn từng lần, cho vay theo hạn mức, cho vay ngắn
hạn, trung hạn, dài hạn do đó nó thỏa mãn tất cả các nhu cầu vay mượn của khách
hàng một cách năng động và hiệu quả
1.2.1.2 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng đối với kinh tế trang trại
Đầu tín dụng đối với kinh tế trang trại cũng giống như đầu tư tín dụng đối với các loại hình kinh tế khác trong nông nghiệp và chịu ảnh hưởng của những đặc điểm trong sản xuất nông nghiệp
Khác với những ngành sản xuất khác, sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao và phụ thuộc nhiều vào môi trường, điều kiện tự nhiên Do vậy cho vay trang trại
mang những đặc điểm:
- Tính chất thời vụ gắn liên với chu kỳ sinh trưởng của động thực vát
Chu kỳ sinh trưởng của động thực vật trong ngành nông nghiệp phụ thuộc vào
Trang 2924
tính thời vụ, vì thế tính thời vụ của các ngành, nghề cụ thể mà ngân hàng tham gia
cho vay thường biểu hiện ở các mặt sau:
+ Vụ, mùa trong nông nghiệp quyết định thời điểm cho vay và thu nợ Nếu ngân hàng tập trung cho vay vào một số cây, con nhất định thì phải tổ chức cho vay tập trung vào một thời gian nhất định của năm, đầu vụ tiến hành cho vay, đến kỳ thu hoạch, tiêu thụ tiến hành thu nợ
+ Chu kỳ sống tự nhiên của cây, con là yếu tố quyết định để tính toán thời hạn cho vay Chu kỳ ngắn dài phụ thuộc vào loại giống cây con và quy trình sản xuất
Đặc điểm này đòi hỏi khi cho vay các trang trại các ngân hàng cần phải:
+ Đáp ứng vốn cho các trang trại đúng thời điểm mùa vụ, muốn vậy các ngân hàng phải có kế hoạch cân đối vốn cho các trang trại ngay từ đầu năm để chủ động
trong việc huy động và phân bổ nguồn vốn
+ Xác định thời hạn cho vay và định kỳ hạn trả nợ phù hợp với chu kỳ sống của từng loại cây trồng vật nuôi
- Mái trường tự nhiên và giá cả có tác động đến thu nhập và khả năng trả
nợ của trang trại
Nguồn trả nợ chủ yếu của các trang trại là tiền bán nông sản và các sản phẩm chế biến có liên quan đến nông sản Như vậy sản lượng nông sản thu về sẽ là yếu tố quyết định trong việc xác định khả năng trả nợ của trang trại Tuy nhiên sản lượng nông sản chịu ảnh hưởng của thiên nhiên rất lớn, đặc biệt là các yếu tố như đất nước, thời tiết
Bên cạnh đó giá cả nông sản cũng phụ thuộc vào yếu tố tự nhiên, thông
thường thời tiết thuận lợi cho vụ mùa bội thu thì giá cả thường hạ Mặt khác khả
năng tiêu thụ sản phẩm làm ra còn phụ thuộc vào thị trường, giá cả của sản phẩm
trên thị trường, trong khi thị trường nông sản lại không ổn định, giá cả có xu hướng
giảm sút trong những năm gần đây
Đặc điểm này làm ảnh hưởng lớn tới khả năng trả nợ của các trang trại, vì sản phẩm của trang trại chủ yếu là sản phẩm hàng hóa nếu không tiêu thụ dược sẽ không
có khả năng trả nợ Không chỉ chịu rủi ro do tác động của thiên nhiên, thị trường,
Trang 3025
các trang trại còn gặp các rủi ro khác như gia đình gặp hoạn nạn, ốm đau, rủi ro do
cơ chế chính sách, và các rủi ro khác như ô nhiễm nguồn nước, chất lượng giống
cây, con kém
Do qui mô sản xuất của trang trại lớn hơn kinh tế hộ nên mức độ rủi ro cũng cao hơn, điều này yêu cầu khi cho vay kinh tế trang trại cán bộ ngân hàng phải có
trình độ và thấm định kỹ lưỡng phương án, dự án sản xuất kinh doanh của các trang
trại, phải dự đoán được các rủi ro và nguyên nhân để có biện pháp giám sát sử dụng vốn vay và xử lý kịp thời khi có sự cố xảy ra rủi ro Mặt khác do trình độ các chủ trang trại hiện nay còn thấp chưa quen và chưa đủ trình độ lập dự án thì yêu cầu trên
Các đối tượng đầu tư của các trang trại thường là các loại cây dài ngày, đại
gia súc có giá trị hàng hóa cao, cũng như đầu tư cho việc xây dựng, cải tạo cơ sở hạ
tầng của trang trại, cải tạo tư liệu sản xuất như đất đai, mặt nước, mua sắm các máy móc, quy trình công nghệ hiện đại đòi hỏi thời gian hoàn vốn lâu nên thời gian cho vay phải dài hơn
- Chỉ phí tổ chức cho vay cao
Do số lượng khách hàng đông, phân bố khắp nơi, muốn mở rộng cho vay
ngân hàng phải tổ chức các chi nhánh, bàn giao dịch, tổ cho vay lưu động để cho vay
và thu nợ, điều này làm tăng chỉ phí tổ chức mạng lưới
Mặt khác do phụ thuộc vào các yếu tố môi trường tự nhiên, cho vay trang trại thường có tính rủi ro cao nên chỉ phí cho dự phòng rủi ro là tương đối lớn so với các loại hình sản xuất khác
Lãi suất nguồn vốn huy động cho vay nông nghiệp cao do giới hạn bởi các
Trang 31nguồn tại chỗ, phải dịch chuyển vốn từ nơi khác đến làm chỉ phí vốn tăng lên
Những đặc điểm trên sẽ ảnh hưởng đến quá trình đầu tư tín dụng vào nông nghiệp nói chung và trang trại nói riêng vì thế chính sách tín dụng đối với kinh tế trang trại phải có những hình thức phù hợp với những đặc điểm nêu trên
1.2.1.3 Các hình thức tín dụng đối với kinh tế trang trại
Có thể phân loại các hình thức cho vay đối với kinh tế trang trại dựa vào các tiêu chí sau đây:
* Mục đích sử dụng
- Cho vay mua bất động sản: Loại này bao gồm những khoản vay để mua sắm
và xây dựng bất động sản như nhà xưởng, đất đai hoặc bất động sản được làm vật bảo đảm cho khoản vay Những khoản vay mua bất động sản thường là vay đài hạn
- Cho vay mua tài sản không phải là bất động sản: Là loại cho vay để mua những tài sản khác với bất động sản được bao gồm trong loại vay này, thường là vay trung hạn hay ngắn hạn như các chi phí sản xuất như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiên liệu, máy móc
- Cho vay tiêu dàng cá nhân: Đây là những khoản vay phi kinh doanh dùng để
mua những tài sản cá nhân như nhà cửa, xe máy hay các vật dụng gia đình
thông thường là vay ngắn hạn và sẽ phải trả khi bán nông sản hay gia súc Vay ngắn
hạn còn được gọi là vay hoạt động hay vay sản xuất và được ghi dưới dạng nợ ngắn
hạn trong bảng cân đối kế toán
- Cho vay trung hạn: Theo quy định hiện nay của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cho vay trung hạn có thời hạn trên 12 tháng đến 5 năm Vay trung hạn chủ yếu được sử dụng để mua máy cày, máy bơm nước, gia súc lấy sữa, con giống và một số nhà xưởng Bên cạnh đầu tư cho tài sản cố định, cho vay trung hạn còn là nguồn
Trang 3227
hình thành vốn lưu động thường xuyên của các trang trại, đặc biệt là những trang trại
mới thành lập
- Cho vay dài hạn: Cho vay dài hạn là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm và
thời hạn tối đa có thể lên đến 20- 30 năm, một số trường hợp cá biệt có thể lên đến
40 năm Tài sản có thời gian tồn tại dài hay không xác định như đất đai, nhà xưởng thường được mua bằng những khoản vay đài hạn
Tổ chức chuẩn hóa tài chính nông trại (FFSTE) của Mỹ đề nghị rằng cả hai loại
vay trung hạn và dài hạn phải được ghi vào bảng cân đối tài sản dưới dạng nợ không
ngắn hạn
* Mức độ tín nhiệm đối với khách hàng
Theo căn cứ này, cho vay được chia làm hai loại:
- Cho vay không bảo đảm: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố
hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân
khách hàng Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa vào
uy tín của bản thân khách hàng chỉ với “ lời hứa sẽ trả” mà không cần thế chấp gì
Khoản vay này còn được gọi là vzy ký, vì chữ ký của người vay là vật thế chấp duy
nhất đối với người cho vay Một số khoản nợ ngắn hạn có thể không cần thế chấp, mặc dù thực tế cho vay và pháp luật đều không ủng hộ cách vay này
- Cho vay có bảo đảm: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm như thế chấp hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba
Đối với các khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi phải có bảo đảm Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một
nguồn thứ 2, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn
* Phương pháp hoàn trả
Cho vay của Ngân hàng được chia làm hai loại:
- Cho vay có thời hạn: Là loại cho vay có thỏa thuận thời hạn trả nợ cụ thể theo hợp đồng Cho vay có thời hạn bao gồm các loại sau:
+ Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ (hay còn gọi là phi trả góp) là loại cho vay thanh toán một lần theo thời hạn đã thỏa thuận
Trang 33+ Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ cụ thể hay còn gọi là cho vay trả góp là loại cho vay mà khách hàng hoàn trả vốn gốc và lãi theo định kỳ
+ Cho vay hoàn trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể, mà việc
trả nợ phụ thuộc vào khả năng tài chính của người đi vay Loại cho vay này được ấp
dụng theo kỹ thuật thấu chi
Đối với loại cho vay có thời hạn khách hàng có thể trả nợ trước hạn, nhưng
ngân hàng được quyền thu lãi toàn bộ kỳ hạn trả nợ theo hợp đồng, trừ trường hợp có
những thỏa thuận khác
- Cho vay không có thời hạn: Đối với cho vay không có thời hạn thì ngân hàng có thể yêu cầu người đi vay tự nguyện trả nợ bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước thời gian hợp lý, thời gian này có thể được thỏa thuận trong hợp đồng
1.2.1.4 Phương thức cho vay đối với kinh tế trang trại
- Phương thức cho vay từng lần (cho vay theo món): là phương thức cho vay
mà mỗi lần vay vốn các chủ trang trại và ngân hàng đều làm thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng Áp dụng cho:
+ Trang trại có nhu cầu vay vốn không thường xuyên
+ Cho vay vốn lưu động, cho vay bù đấp thiếu hụt tài chính tạm thời, cho vay tiêu dùng (thời gian cho vay dưới L2 tháng)
Phương thức cho vay từng lần khá phổ biến hiện nay ở hầu hết các NHTM Tuy nhiên phương thức cho vay này có nhược điểm là mỗi lần cần vay vốn các trang trại phải lập lại hồ sơ và ngân hàng cũng phải thẩm định lại hồ sơ xin vay của khách
hàng gây phiền toái và mất thời gian cho cả ngân hàng và các chủ trang trại
- Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng: là phương thức cho vay mà
Ngân hàng và trang trại xác định thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định Đối tượng áp dụng:
+ Khách hàng có nhu cầu vay vốn thường xuyên
+ Khách hàng vay có đặc điểm sản xuất kinh doanh, luân chuyển vốn không phù hợp với phương thức cho vay từng lần
Ngân hàng căn cứ vào chu kỳ sản xuất kinh doanh, khả năng trả nợ của trang trại để xác định thời hạn cho vay và ghi vào hợp đồng tín dụng và từng giấy nhận nợ
Trang 3429
Trong thời hạn duy trì hạn mức tín dụng, khách hàng đựợc rút vốn phù hợp với tiến
độ và yêu cầu sử dụng vốn thực tế nhưng phải đảm bảo không vượt quá hạn mức tín dụng đã ký kết Cũng trong thời hạn duy trì hạn mức tín dụng, nếu khách hàng có
nhu cầu điều chỉnh tăng hạn mức tín dụng để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh
và dịch vụ, phải có văn bản để nghị ngân hàng xem xét, nếu thấy hợp lý thì chấp
thuận điều chính hạn mức tín dụng và cùng khách hàng ký phụ lục bổ sung hợp
đồng tín dụng
Phương thức cho vay này có ưu điểm là giảm bớt thủ tục và thời gian làm hồ
sơ cũng như giúp khách hàng sử dụng vốn tiết kiệm hơn nhưng có nhược điểm là cán
bộ ngân hàng khó kiểm soát việc sử dụng tiền vay theo từng mục dích
- Phương thức cho vay theo dự án đầu te: Áp dụng đối với những trang trại cần vốn để thực hiện các dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và phục vụ đời sống
Ngân hàng cùng khách hàng ký hợp đồng tín dụng và thoả thuận mức vốn đầu
tư duy trì cho cả thời gian đầu tư của dự án, phân định các kỳ hạn trả nợ Nguồn vốn cho vay được giải ngân theo tiến độ thực hiện của dự án
Đặc điểm của phương thức cho vay này là thời gian hoàn trả vốn chậm, lãi suất cao, giá trị món vay lớn
- Phương thức cho vay trả góp: phương thức cho vay trả góp là phương thức cho vay mà ngân hàng và khách hàng xác định thỏa thuận số tiên lãi vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ trong thời hạn cho vay Hợp đồng tín dụng phải ghi rõ: các kỳ hạn trả nợ, số tiền trả nợ ở mỗi kỳ hạn gồm cả gốc
và lãi
Đối tượng áp dụng là các khách hàng vay có phương án trả nợ gốc và lãi vay khả thi bằng các khoản thu nhập chắc chấn, ổn định
1.2.1.5 Những nhân tố ảnh hưởng tới đầu tư tín dụng ngân hàng đối với
phát triển kinh tế trang trại
Thứ nhất, chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Quá trình đổi mới nông nghiệp, nông thôn bắt đầu từ năm 1981 với Chỉ thị
Trang 35100/CT của Ban bí thư trung ương Đảng về “khoán sản phẩm cuối cùng đến cây lúa, đến nhóm và người lao động” Tiếp đến là Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (khóa VÌ) năm 1988 với nội dung “khoán đơn giá thanh toán gọn đến hộ xã viên” gọi tất là
“khoán hộ” hay “khoán 10” Sự kiện quan trọng đánh dấu sự đổi mới sâu sắc trong
nông nghiệp là Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần 6 (khóa
VD tháng 3/1989: giao cho nông dân quyền quản lý nhiều hơn đối với các tư liệu sản
xuất chính và sản phẩm làm ra, quyền chủ động lớn hơn trong việc thực hiện các
khâu trong quy trình sản xuất; cơ hội lớn hơn để hưởng lợi từ các sản phẩm làm ra Thực chất là một bước mới về điều chỉnh quan hệ sản xuất: chủ thể quản lý từ hợp tác xã và tổ đội sản xuất chuyển sang hộ gia đình, quan hệ quản lý tư liệu sản xuất
và phân phối sản phẩm
Đặc biệt: “Nhà nước công nhận sự tồn tại lâu đài và tác dụng tích cực của kinh tế tập thể, tư nhân trong quá trình đi lên Chủ Nghĩa Xã Hội; thừa nhận tư cách pháp nhân, bảo đảm bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ trước pháp luật, bảo hộ quyền làm ăn chính đáng và thu nhập hợp pháp của các hộ cá thể, tư nhân và quyển thừa kế sử dụng doanh nghiệp của con cái họ; tạo điểu kiện và môi trường thuận lợi cho các thành phần này phát triển trồng trọt, chăn nuôi, trồng rừng, nuôi trồng, khai thác thủy, hải sản, chế biến nông sản và mở mang ngành nghề ở nông thôn ”
Ngày 10/6/1993 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) ra Nghị quyết
5, giao quyền sở hữu các tư liệu sản xuất, quyền sử dụng đất lâu dài cho hộ Cũng trong năm 2003, Luat Dat đai được sửa đổi, bổ sung, khẳng định quyền sử dụng đất lâu đài cho hộ nông dân; Nhà nước giao mức hạn điền tối đa đối với đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đáp ứng nguyện vọng thiết tha của hộ nông dân Hộ gia đình được giao đất để sử dụng từ 20-50 năm tùy theo từng loại, hộ nông dân được công
nhận 5 quyền: thừa kế, chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuê, thế chấp và gần đây
Luật Đất đai sửa đổi 2003 có thêm quyền được bảo lãnh
Về chính sách đầu tư và tín dụng, chủ trương là tạo điều kiện để tăng tỷ lệ hộ nông dân nhất là hộ nông dân nghèo được vay vốn, phát triển sản xuất, kinh doanh Đơn giản hóa các thủ tục cho vay thông qua tín chấp đối với các hộ nghèo Khuyến khích các hình thức tín dụng hợp tác tự nguyện của nông dân, tạo cơ sở pháp lý cho
Trang 3631
hệ thống tín dụng nông thôn hoạt động an toàn và có hiệu quả Loại trừ nạn cho vay
nặng lãi
Đối với các doanh nghiệp nông nghiệp Nhà nước, Chính phủ ban hành Nghị
định số 12/CP ngày 2/3/1993 về sắp xếp lại tổ chức và đổi mới cơ chế quản lý các
doanh nghiệp nông nghiệp Nhà nước: “Doanh nghiệp phải tích cực góp phần vào việc tạo ra môi trường thuận lợi cho sản xuất của vùng như: thực hiện dịch vụ kỹ thuật, cung ứng vật tư, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, nhận ủy thác xây dựng cơ sở
hạ tầng trên địa bàn, sớm trở thành trung tâm thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội toàn
vùng .” Chuyển các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp nông nghiệp gắn với đất đai, mặt nước, cây trồng, vật nuôi cho kinh tế hộ gia đình công nhân, kể cả hộ nông dân ngoài doanh nghiệp Số ruộng đất do doanh nghiệp quản lý thì thực hiện giao
khoán ổn định lâu dài cho người lao động hoặc hộ thành viên doanh nghiệp để tổ
chức sản xuất kinh doanh; doanh nghiệp tổ chức tốt các hoạt động dịch vụ
Ngày 02/02/2000, Chính phủ ra Nghị quyết 03/2000/NQ-CP về kinh tế trang trại Nếu “khoán 10” khẳng định hộ nông dân là một đơn vị kinh tế tự chủ, cởi trói cho hộ nông dân, thì Nghị quyết 03 đã giải quyết về quan điểm, và các chính sách về: đất đai, thuế, đầu tư tín dụng, lao động, thị trường, khoa học, công nghệ và môi trường nhằm tạo môi trường và điều kiện thuận lợi hơn cho sự phát triển của các hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa lớn trong nông thôn
Ngày 24/6/2002, Chính phủ ban hành Quyết định 80/2002/QĐ-TTg về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng; Quyết định nêu rõ: Đối với tín dụng thương mại, các ngân hàng thương mại đảm bảo nhu cầu vay vốn cho người sản xuất và doanh nghiệp tham gia ký hợp đồng tiêu thụ nông sản hàng hóa theo lãi suất thỏa thuận với điều kiện và thủ tục thuận lợi Người sản xuất, doanh nghiệp được thế chấp bằng tài sản hình thành từ vốn vay để vay vốn ngân hàng, được vay vốn bằng tín chấp và vay theo dự án sản xuất kinh doanh có hiệu quả
Sau 20 năm thực hiện đường lối đổi mới trong nông nghiệp, nông thôn, kinh
tế hộ nông dân đã có sự tích lũy cao cả về năng lực, vốn, kỹ năng sản xuất và sự tiếp cận thị trường xuất hiện ngày càng nhiều mô hình kinh tế hộ, trang trại gia đình sản
Trang 37xuất hàng hóa lớn có hiệu quả cao, đang là những nhân tố tích cực trong đổi mới và phát triển sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn
Thứ hai, chính sách tín dụng phát triển nông nghiệp, nông thôn
Trên cơ sở những chính sách, cơ chế đổi mới nông nghiệp, nông thôn của Đảng và Nhà nước, NHNo đã tiên phong chuyển hướng kinh doanh, thực hiện cho vay kinh tế hộ, Sau thời gian làm thí điểm ngày 18/01/1991 NHNo ban hành văn bản
số 53/NHNg “Biện pháp cho vay ngắn hạn, trung hạn đối với hộ nông dân” ra đời
mở ra bước ngoặc quan trọng trong chính sách tín dụng ngân hàng đối với kinh tế nông nghiệp, nông thôn mà cụ thể là kinh tế hộ Lần đầu tiên sau rất nhiều năm, hộ
nông dân được vay vốn ngân hàng để phát triển sản xuất, kinh doanh, đồng vốn vay
đã mang lại hiệu quả cao trên ruộng đất nhận khoán
Sau khi NHNo tổng kết thực hiện thí điểm cho vay hộ sản xuất, ngày 28/06/1991, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ký Chỉ thị số 202/CT về cho vay hộ sản xuất Chỉ thị nêu rõ:”việc cho vay của ngân hàng để phát triển sản xuất nông, lâm,
ngư nghiệp cần được chuyển sang cho vay trực tiếp đến hộ sản xuất, tạo điều kiện cho các hộ sản xuất ở nông thôn thực sự trở thành đơn vị kinh tế tự chủ” Chỉ thị
202/CT đã chính thức công nhận cho vay trực tiếp hộ nông dân là một chính sách
của Chính phủ, một hoạt động quan trọng của Ngân hàng, tạo động lực lớn thúc day tín dụng đối với kinh tế hộ
Để nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành và xác định rõ ràng tính pháp lý trong việc cho vay kinh tế hộ, ngày 02/03/1993 Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định 14/CP về “ chính sách cho hộ sản xuất vay vốn để phát triển nông - lâm - ngư nghiệp và kinh tế nông thôn” Nghị định 14/CP khẳng định cho vay
hộ nông dân là “chính sách quan trọng, có tác động mạnh mẽ trên nhiều mặt đối với
việc phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong sự nghiệp xóa đói,
giảm nghèo” Vốn cho vay được mở rộng mục đích, cho vay hộ không chỉ giới hạn ở
sản xuất nông nghiệp là trồng trọt và chăn nuôi mà mở rộng đến mọi lĩnh vực kinh tế
ở nông thôn, tạo lập thị trường sản xuất lưu thông ở nông thôn Nghị định giao cho ngân hàng, các tổ chức tín dụng căn cứ vào điều kiện kinh tế của từng loại hộ xin vay vốn để quy định mức độ và hình thức thế chấp, tín chấp hoặc bảo lãnh thích hợp;
Trang 38từng bước mở rộng cho vay trung hạn và đài hạn Vẻ lãi suất “thực hiện cơ chế lãi suất không phân biệt thành phần kinh tế ” “phù hợp với quan hệ cung, cầu vốn đảm bảo lợi ích cho cả bên vay và bên cho vay”
Tuy nhiên, so với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và nhu cầu vốn để phát triển sản xuất hàng hóa của các hộ nông dân thì hoạt động tín dụng còn bất cập về nguồn vốn, điều kiện cho vay nhất là yêu cầu tài sản thế chấp Xuất phát từ thực tiễn đó, để giải quyết các khó khăn vướng
mắc nhằm thúc đẩy kinh tế hộ phát triển, ngày 30/3/1999 Thủ tướng Chính phủ ban
hành Quyết định 67/1999/QĐ-TTg về một số chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn đã xác định 5 vấn đề cơ bản:
Một là, xác định rõ nguồn vốn đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn gồm
có vốn huy động của các ngân hàng, vốn ngân sách Nhà nước, vốn vay của các tổ chức tín dụng quốc tế và nước ngoài Các ngân hàng được huy động vốn bằng nội tệ, ngoại tệ và bằng vàng, khi cần được huy động với lãi suất cao hơn lãi suất huy động
bình thường theo mức 1% năm
Hai là, đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn theo ba loại tín dụng: Tín
dụng thông thường, tín dụng ưu đãi một phần lãi suất, tín dụng thực hiện chính sách,
mỗi loại có một cơ chế riêng Đối tượng đầu tư được mở rộng đến các nhóm đối tượng: sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp, thủy lợi; tiêu thụ sản phẩm; phát triển
công nghiệp chế biến, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề; mua sắm máy nông nghiệp,
ngư nghiệp; phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn: điện, đường giao thông nông thôn,
nước sạch, vệ sinh môi trường
Ba là, cơ chế tín dụng có một số điểm mới Việc bảo đảm tiền vay được nới lỏng, hộ sẵn xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp vay đến I0 triệu đồng, các chủ trang trại vay đến 20 triệu đồng và dưới 50 triệu đồng đối với sản xuất giống thủy sản không phải thế chấp tài sản
Bốn là, Nhà nước có chính sách về xử nợ vay khi gặp rủi ro bất khả kháng do
lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh (giảm, miễn, xóa, khoanh, giãn nợ) cho cả người vay và tổ
chức tín dụng cho vay
Năm là, xác định vị trí chủ đạo, chủ lực của NHNo và khuyến khích các
Trang 39NHTM khác tham gia cho vay vốn để phát triển nông nghiệp, nông thôn Các
NHTM và tổ chức tín dụng phải cải tiến thủ tục vay vốn
Đặc biệt, năm 2003, Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng (ban hành tháng 12/1997) được sửa đổi, bổ sung Điều này đã tạo hành lang pháp lý
cao hơn cho hoạt động của ngân hàng và các tổ chức tín dụng, theo đó nội dung về chính sách tín dụng đối với nông nghiệp, nông thôn và nông dân là: Nhà nước có chính sách tín dụng ưu đãi về vốn, lãi suất, điều kiện, thời hạn vay vốn đối với nông nghiệp, nông thôn và nông dân nhằm góp phần cây dựng cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, phát triển sản xuất hàng hóa, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Chính sách tín dụng đối với kinh tế nông nghiệp, nông thôn đã tạo thuận lợi cho tín dụng đối với kinh tế hộ, kinh tế trang trại được mở rộng, phát triển mạnh mẽ
cả về quy mô và chất lượng, vị trí NHNo đối với việc phát triển kinh tế nông nghiệp,
nông thôn càng được khẳng định
Thứ ba, năng lực của bản thân ngân hàng
Năng lực của bản thân ngân hàng được cấu thành từ:
- Hệ thống tổ chức và cơ cấu vận hành của bộ máy
- Năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý điều hành
- Năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ tín dụng
Một hệ thống được tổ chức chặt chẽ, hợp lý, tỉnh gọn sẽ là cho công tác quản trị điều hành của bản thân ngân hàng trở nên có hiệu quả và tiết kiệm được chỉ phí
về con người, cơ sở vật chất Đội ngũ cán bộ quản lý có năng lực biết vận dụng chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước vào thực tiễn và đưa ra những
chương trình, giải pháp đúng đắn sẽ phát huy được tiềm năng của ngân hàng thương
mại, đa dang hóa các kênh tín dụng để tiếp xúc với khách hàng kinh doanh có hiệu quả và ngược lại, chính điều đó cũng lại làm tăng hiệu quả của hoạt động kinh doanh ngân hàng Đội ngũ cán bộ tín dụng có trình độ, có phẩm chất đạo đức tốt sẽ là chiếc cầu nối trong việc chuyển tải vốn đến với người vay một cách nhanh chóng, an toàn và hiệu quả
Năng lực của các ngân hàng là nguồn vốn và khả năng huy động vốn để đầu
Trang 4035
tư phục vụ sự phát triển nên kinh tế đất nước và trên cơ sở đó phát triển chính bản
thân ngân hàng
Thứ tư, trình độ phát triển của kinh tế trang trại
Trình độ phát triển của kinh tế trang trại bao gồm: trình độ, tính năng động,
sáng tạo, khả năng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất kinh
doanh, sự nhạy bén, hiểu biết về thị trường của chủ trang trại; quy mô sản xuất của trang trại; khả năng lợi nhuận của trang trại qua các năm; sự hiểu biết, nhận thực của các chủ trang trại về hoạt động của ngân hàng, về những sản phẩm dịch vụ của ngân hàng tất cả những vấn đề đó sẽ ảnh hưởng đến việc đầu tư tín dụng ngân hàng cho
sự phát triển của kinh tế trang trại
1.2.2 Vai trò cửa tín dụng ngân hàng đối với phát triển kinh tế trang trại
1.2.2.1 Tín dụng ngân hàng là kênh dẫn vốn quan trọng, góp phần hình thành và phát triển kinh tế trang trại
Trong nông nghiệp, nhất là ở các vùng đồi núi, các hộ nông dân sản xuất theo phương thức tự cấp, tự túc, muốn chuyển lên sản xuất hàng hóa phải có vốn Quy mô
vốn là một trong những điều kiện để trang trại hình thành và phát triển Cùng với
nguồn vốn tự có, tín dụng ngân hàng là nguồn vốn chủ yếu so với các nguồn vốn khác trong xã hội góp phần thúc đẩy kinh tế trang trại ra đời, phát triển
Thực tế phát triển kinh tế trang trại ở nhiều nước cho thấy có nhiều hộ gia đình nông đân có đất nhưng không sản xuất nông nghiệp do họ không có khả năng
sản xuất hoặc kinh doanh thua lỗ, hoặc họ có ngành nghề khác phù hợp với khả năng hơn, vì thế họ muốn chuyển đổi nghề nghiệp Bên cạnh đó có những hộ có khả năng
sản xuất, lại biết cách tính toán làm ăn, họ muốn mở rộng quy mô sản xuất và cần phải vay tiền để thuê mướn, đấu thầu hoặc mua lại ruộng đất, chính vốn tín dụng ngân hàng đã giúp trang trại giải quyết được vấn đề này Khi quy mô ruộng đất được
mở rộng thì trang trại lại cần vốn đầu tư xây dựng ban đầu, mua sắm trang thiết bị, máy móc, và một lần nữa tín dụng ngân hàng lại bổ sung phần vốn thiếu này giúp cho trang trại có điều kiện thâm canh, tăng năng suất
Cùng với việc tích tụ, tập trung ruộng đất, lao động, vốn là yếu tố quan trọng giúp cho các trang trại hình thành và mở rộng quy mô sản suất phù hợp với mục đích