100 Giải pháp hoàn thiện quản trị lãi suất tại Ngân hàng thương mại Việt Nam
Trang 1NGUYEN THI LOAN
GIAI PHAP HOAN THIEN QUAN TRI LAI SUAT
TAI NGAN HANG THUONG MAI VIET NAM
Chuyên ngành : TÀI CHÍNH, LƯU THONG TIEN TE VA TÍN DỤNG
LUAN AN TIEN Si KINH TE
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1, TS.HO DIEU |
2, TS NGUYEN HONG HAL
THANH PHO HO CHI MINH — NAM 2003
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liêu,
Trang 3Chương 1— NHỮNG VẤN DE CƠ BẢN VỀ LAI SUẤT VA “QUAN
TRILAI SUAT TAI NGAN HANG THUONG MAL
1.1.Lãi suất trong nền kinh tế thị trường
1.1.1.Khái niệm về lãi suất
1.1.2.Các lý thuyết về lãi suất
1.1.3.Vai trò của lãi suất trong nên kinh tế thị trường
1.1.4 Các nhân tố ảnh hướng đến lãi suất 18 1.2.Lãi suất trong kinh doanh ngân hàng .24
1.2.1.Ngân hàng thương mại là tổ chức trung gian tài chính
giữu người cho vay và người đi vay " .34 1.2.2.Lãi suất huy động vốn và cho vay của ngân hàng .,29
1.3.Quần trị lãi suất trong kinh doanh ngân hàng
1.3.1.Mục tiêu của quản trị lãi suất tại ngân hàng
1.3.2,Quản trị lãi suất trong kinh doanh ngân hàng
1.3,3.Quần trị rủi ro lãi suất :
Chương 2—- THỰC TRẠNG QUAN TRI L AQ SUAT TA 5 1
2.1.Cơ chế quản lý lãi suất và chính sách lãi suất
của Ngân hang Nha nước - - “
2.1.1.Cơ chế quản lý lãi suất theo lãi suất cố ố định
2.1,3.Cd chế quản lý lãi suất linh hoạt theo lãi suất cơ bản
( thời kỳ từ năm 1996 — tháng 05/2002 ) àcằằhHrreHe G7
2.1.4.Cơ chế lãi suất thỏa thuận à à can seeeseeemee 9
Trang 4
và quần trị tài sản có tại các Ngân hằng thương mại
2.2.2.Thue trạng về quản trị lãi suất tại Ngân hàng thương " mại S4 2.3.Những tôn tại trong quản trị lãi suất tại các Ngân hàng 102 2.3.1.Tên tại thuộc về phương pháp quản trị lãi suất và quản trị
rủi ro lãi suất tại các Ngân hàng thương mại hiện này - e 102 2.3.2.Ngân hàng thương mại thiếu đa dạng trong hoạt động
kinh doanh làm ảnh hưởng đến quản trị lãi suất ngân hàng 112 2.3.3 Quần trị lãi suất và quản trị tín dụng kéra hiệu quả dẫn
đến kết quả kính doanh của các Ngân hàng có sự giảm sút ]21
2.3.4.Tôn tại thuộc về chính sách lãi suất của Ngân hàng Nhà
nước và hệ thống ngần hang - —
2.4.Những nguyên nhân tốn tại làm hạn chế q quan tri lai sud
tại các Ngân hàng thương mai Be ph payne Bem -sygen | 24 2.4.1.Nguyên nhân khách quan
242 -Nguyên nhân chủ quan
Chương 3 - GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẦN TRỊ LÃI SUẤT
TALCAC NGAN HANG THUONG MAT VIET NAM .-137 3.1.Những định hướng cho quần trị lãi suất tại các Ngân hàng 137 3.1.1,Xây dựng một cơ chế cạnh tranh bình đẳng trong lĩnh vực
ngân hàng va phân định rõ rằng giữa hoạt động kinh doanh
và mang tính xã hệ ` 3.1.2.Thực tiện cử chế lãi suất thỏa thuận đi đổi v với việ
cung cầu tiễn tệ bằng các công cụ gián tiếp nhằm ốn định
3.1.3.Hoàn thiện và phất triển cơ ch ất thi trường dể áp dụng
lãi suất thả nổi và quản trị rủi ro lãi s ất 140
3.1.4 Tái cấu trúc ngân hàng và dối mới quản trị
thích ứng với điều kiện tự do hóa lãi suất ie ce IFT
3.2.Giải pháp về định giá và quần trị lãi suất 4 „142
3.2.1.Nhà quần trị ngân hàng cần nhận thức dây im quan trọng
3.2 2.Tổ chức quần trị — Quái ñn trị lãi suất 2 Ngân hàng thua „14
Trang 53.3,Giải pháp về quản trị rủi ro
3.3.1.Các điều kiện tiền để để đầm bio eho quan trị tủi ro lãi suất
đạt hiệu quả cao
3.3.2.Giải pháp quản ưrị rủi ro lãi I “
3,4.Giải pháp hoàn thiện hoạt động của Ngân hàng thương mại
174
3.4.1.Đa đạng hóa và nâng cao chất lượng các hình thức huy động
vốn và cho vay góp phan da dang hóa cấu trúc thời hạn của
3.4.2.Hoàn thiện quần trị thanh khoản để hạ thấp chỉ phí đầu vào [79
3.4.3.Chính sách lãi suất kết hợp với dịch vụ ngắn hàng là bình
thức cạnh tranh chủ động của Ngân hằng thương Tại ‹.-:c-ccceeerreee
179
3,5.Giải pháp về phát triển thị trường tài chính, hoàn thiện hệ thống
pháp luật và chính sách quản lý nhằm tạo môi trường thuận
lợi cho quản trị lãi suất tại các Ngân hàng thương mại + LBA
3.5.1.Môi trường pháp lý .-> Q0682804010246402:010=e52
184
3.5,2.Hoàn thiện, phát triển và nding can vat tro điều tiết hằng
công cụ lãi suất của Ngân hàng Nhà nưdc trên thị trường
Trang 61.ATM Automatic Teller
5.NHNo & PTNN : Ngân hàng nông
nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 7Bảng số lượng các Ngân hàng thương mẠ!
và Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài tại
Cơ cấu dư nợ cho vay theo thời gian
tại các Ngân hàng thương mại Việt Năm
-««—=sesss 82
Bảng lãi suất cho vay của Ngân hàng
Ngoại thương ‹ 89 Bắng lãi suất tiên gửi của Ngắn hàng
Ngoại thưdng 90 Tầng trưởng kinh tế - lạm phắt- lãi
quấttiển gửi #2
Bảng lãi suất tiến gửi ngoại tỆ
93
Tỷ trọng thu nhập lãi của Ngắn hàng
Viet Nam ‹ 98 Chất lượng tín dung của Ngân hãng Việt
Trang 8Hình 1.1
Hinh 1.2
Hình 1.3
Hình L4
Biéu 44 2.1
Biểu đồ 2.2
Biểu đỗ 2.3
Biểu đồ 2.4
Đồ thị cân bằng lãi suất «e.seeeer+
Cung cầu trên thị trường tiển tệ
Sơ đỗ cung cấp vốn trong nên kinh tế
Bảng cân đối tài sản của Ngân hàng và công ty
Biến động lãi suất của Ngân hàng Việt Nam
Huy động vốn tại các Ngân hàng Việt nam
Dự nợ cho vay tại các Ngân hàng Việt nam
Cơ cấu du nợ cho vay theo thời gian
Trang 9Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, vai trò của lãi suất ngân hàng
rất mờ nhạt, luôn được định ra bởi quyết định chủ quan Từ khi nền kinh tế nước
ta chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa và hệ thống ngân hàng cũng chuyển sang mô hình hai
cấp, Ngân hàng Nhà nước đã sử dụng và điều hành công cụ lãi suất phù hợp
mục tiêu ngắn hạn, dài hạn và theo lộ trình từ can thiệp bằng quy định mang tính
chất hành chính đến kiểm soát lãi suất trực tiếp rồi tiến đến cơ chế lãi suất thỏa
thuận như ngày nay là một dấu ấn, một bước ngoặc lớn trong điều hành chính
sách tiền tệ, tác động đến thị trường tài chính, tiền tệ
Với cơ chế tự do hóa lãi suất, lãi suất mới thực sự là giá cả của tiễn tệ
được hình thành chủ yếu do quan hệ cung cầu vốn thị trường, Đối với các Ngân hàng thương mại, lãi suất là yếu tố “đầu vào”, “đầu ra” và là công cụ cạnh tranh
trên thị trường tiền tệ Nay cơ chế lãi suất tại Việt Nam đã được "tự do hóa”,
đây là điểu kiện tiền đề để các Ngân hàng thương mại nâng cao tính tự chủ
trong định giá các sản phẩm ngân hàng, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động
kinh doanh của mình những cơ chế này cũng làm gia tăng rủi ro cho ngân hàng
do biến động thường xuyên của lãi suất thị trường
Thực tế xây dung và điều hành lãi suất tại các Ngân hàng thương mại
Việt Nam còn nhiều vấn để bất cập cá về nội dung chính sách, cơ chế quản lý
và phương thức tổ chức vận hành để có thể thích nghi với cơ chế lãi suất thị
trường Nguyên nhân của những bất cập đó là do các Ngân hàng thương mại
thiếu quan tâm đến việc xây đựng một quy trình quản trị lãi suất thích hợp, do môi trường pháp lý chưa đầy đủ, do những thay đổi trong quản lý kinh tế hiện
nay
Trang 10các hoạt động quần trị khác của ngân hằng trong một thể thống nhất Do vậy hàng loạt vấn để liên quan trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động quản trị lãi suất
tại các Ngân hàng thương mại đặt ra cần được bàn luận, giải quyết
Trong bối cảnh đó, để lài : “Giải pháp hoàn thiện quản trị lãi suất tại
Ngân hàng thương mại Việt Nam” được chọn làm luận án
2.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU :
Trên cơ sở lý luận về lãi suất và quản trị lãi suất, những thực tiễn của
hoạt động quần trị lãi suất tại các Ngân hàng Việt Nam để dé ra những định
hướng, các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện quản trị lãi suất huy động vốn và
cho vay góp phẩn tối đa hóa thu nhập lãi và hạn chế rủi ro lãi suất
3.ĐỐI TƯỢNG VA PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Luận án lấy chính sách lãi suất ngân hàng trong hoạt động của hệ thống
ngân hàng làm đối tượng nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu là: Cơ chế lãi suất của
Ngân hàng Nhà nước và quần trị lãi suất huy động vốn và cho vay tại các Ngân
hãng thương mại
4.PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU :
Luận án dựa trên phương pháp duy vật biện chứng và các lý thuyết về lãi suất làm phương pháp luận nghiên cứu Trên cơ sở lý luận về lãi suất và quần trị
lãi suất, luận án đi sâu phân tích tình hình thực tế về quản trị lãi suất tại các Ngân hàng thương mại để đưa ra các giải pháp hoàn thiện hoạt động này
5.NHỮNG ĐÓNG GÓP CHỦ YẾU CỦA LUẬN ÁN:
-Đưa ra cơ sở lý luận về lãi suất theo học thuyết kinh tế hiện đại phục vụ
cho quần trị lãi suất tại các Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường
Trang 11hoàn thiện quần trị lãi suất tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam
Nguồn số liệu trong luận án lã số liệu của Ngân hàng Nhà nước, Ngân
hàng thương mại, trong các niên giám thống kê của các năm từ 1985 — 2002
Trang 12CÁC NGÂN HÀNG THUONG MAL
1.L.Lãi suất trong nên kinh tế thị trường
1.1.1.Khái niệm về lãi suất :
Hoạt động thương mại sơ khai của xã hội loài người
được thực hiện bởi
phương thức mậu dịch trực tiếp bằng cách trao đổi sản
vật trực tiếp với nhau và
đã gặp rất nhiều trở ngại Sự ra đời của tiển tệ đã g6p phần
thúc đẩy sản xuất
hàng hóa phát triển, Lúc đầu, người ta cứ tưởng sự
khai sinh ra tiền là để giải
quyết vấn đề trao đổi cho thuận tiện, tránh các tắc nghẽn
do trao đổi trực bếp
mà thôi, không ngờ rằng, sau đó tiên tệ đã nghiễm nhiên có
một vị trí thống soái
trong xã hội Riêng trong lãnh vực Kinh doanh, tiên vốn là
điều kiện tiên quyết :
không có tiển thật khó mà nói đến kinh doanh, đầu tư
Nếu không sử dụng tiền vào hoạt động sản xuất kinh doanh,
người ta có
thé dem cho vay tì thường sau một thời gian sẽ thu về
ngân khoản tích lũy -
gồm cả vốn và lời lớn hơn khoản tiền vốn Dan đầu trước
đây Như vậy, chênh
lệch giữa số tiên nhận được và số tiên cho vay được gọi
của giá cả Trong mối quan
hệ giữa giá cả hàng hóa và giá trị hàng hóa, giá cả hàng hóa
biểu hiện bằng tén
của giá trị hàng hóa còn giá cả của vốn cho vay biểu hiện
trực tiếp bằng lợi tức
Như vậy, lợi tức là một phần của giá trị thặng dư mà nhà
tư bản hoạt động phân
chia cho nhà tư bản cho vay dưới hình thức giá cả vốn cho
vay nhằm chuyển dịch
vốn tiễn tệ sang hàng hóa, trong thời gian cho vay.
Trang 13vốn cho vay trong thời gian một năm so với số lượng của vốn cho vay
Lợi tức như là giá cả của hàng hóa tiền tệ được hình thành trên thị trường
trong điều kiện đặc biệt so với những điểu kiện tồn tại của các loại hàng hóa khác Lãi suất được hình thành từ tỉ suất lợi nhuận và trong mỗi quan hệ tỉ lệ với
sự phân chia tổng số lợi nhuận giữa người đi vay và người cho vay Vì vậy, lãi
suất có thể mở rộng đến một giới hạn tối da gần với suất lợi nhuận bình quân hoặc là đến một giới hạn tối thiểu gần bằng không” { 3]
Trường phái chính hiện đại, một trong những trường phái hiện đang giữ
vai trò thống trị ở Mỹ, châu Âu, Nhật với những đại biểu lỗi lạc là P.Samuelson, David Begg thi cho rằng “Lãi suất là giá cả của việc sử dụng một số tiển vay trong một thời gian nhất định” [ 9 j
Theo David S.Kidwell “Lãi suất là giá cả của sự thuê tiễn, là giá cả của
sự vay tiên cho quyển sử dụng sức mua và thường được biểu thị bằng một tỷ lệ
phần trăm của số tiền vay mượn ” | 42 J
Từ các khái niệm trên đây chúng ta có thể rúLra được các nội dung cơ bản
của lãi suất như sau :
-Là phạm trù giá cả : sự biển động của lãi suất chịu ảnh hưởng của các quy luật khách quan - quy luật giá cả trên thị trường Quy luật đó lại có mối quan
hệ tác động qua lại với các quy luật khác Bên cạnh đó, khác với giá cả của những hàng hóa thông thường là giá cả xoay quanh giá trị của hàng hóa lãi suất
là một loại giá cả đặc biệt được hình thành trong quan hệ tín dụng Đầy là loại
giá biểu hiện việc nhượng quyển sử dụng có thời hạn cũng tương tự như tiền thuê trong quan hệ thuê tài sản hiện vật
Trang 14người cho vay và là lãi suất di vay đối với người đi vay Còn trong quan hệ với
ngân hàng, lãi suất thể hiện thông qua lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi
Các khái niệm trên cũng cho thấy các nhà kinh tế khi để cập đến chi phí
mà người ổi vay phải trả cho người cho vay theo hai cách khác nhau:
-Lợi tức hay số tiền phải trả (interesr) là chỉ phí biểu hiện bằng số tuyệt đối, Ví dụ như số tiễn cho vay là 10 triệu đồng, thời hạn cho vay là 1 năm và số
tiển lãi phải trả là 1 triệu đông
-L4i svat (interest rate) la chi phí phải trả biểu hiện theo tỷ lệ phẩm trăm, đây là quan hệ giữa lãi phải trả, số tiễn cho vay và thời hạn cho vay Ví dụ trên
cho thấy lãi suất cho vay là 0,10 tức là 10% / năm (itriệu đồng/ 10 miệu đồng)
Trong thực tế, thuật ngữ lãi suất được sử dụng phổ biến nhằm phản ánh
giá cả trong quan hệ tín dụng Đây là hình thức chung nhất, biểu hiện về lượng
cho tất cả các quan hệ lín dụng được hình thành trong xã hội, còn Idi atc (én
lãi) chính là hình thức biểu hiện cho từng quan hệ tín đụng cụ thể
Tóm lại, theo bản chất kinh tế, lãi suất là phạm trù kinh tế, là một loại giá
cả đặc biệt khác với giá cả của những hàng hóa thông thường và chịu sự chỉ phối của các quy luật của thị trường
Việc khẳng định lãi suất là một loại giá cả có ý nghĩa không chỉ về mặt lý
luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong việc hình thành và chỉ đạo các chính sách về lãi suất Lãi suất là một công cụ tích cực trong phát triển kinh tế
và đồng thời là công cụ kìm hãm của chính sự phát triển ấy,tùy thuộc vào sự
khôn ngoan hay khỡ đại trong việc sử dụng chúng.
Trang 15Khi để cập đến lãi suất trên thi trường là bao nhiêu thì đó là lãi suất danh nghĩa Lãi suất thực là lãi suất được điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi
dự tính về mức giá Lãi suất thực được định nghĩa một cách chính xác hơn bằng phương trinh Fisher [42], mang lên của Irving Fisher, mdt trong những chuyên
gia kinh tế tiền tệ lớn trong thế kỷ 20 nói rằng lãi suất đanh nghĩa bằng lãi suất
thực cộng với mức lạm phát dự tính : Lãi suất danh nghĩa = Lãi suất thực + Tỷ lệ lạm phát
Khi chuyển đổi các vế, có thể tìm được lãi suất thực bằng lãi suất danh
nghĩa trừ di mức lạm phát dự tính
Lãi suất thực = Lãi suất đanh nghĩa - Tỷ lệ lạm phát
Sự phần biệt lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa có ý nghĩa quan trọng vì lãi suất thực phần ánh chỉ phí thực của việc vay tiễn Nó là một phép đo tốt hơn đối với những ý muốn đi vay hay cho vay trên thị trường tín dụng Chính lãi suất thực chứ không phẩi lãi suất danh nghĩa ảnh hưởng đến đầu tư, đến việc tái phân phối thu nhập giữa những con nợ và chủ nợ, sự lưu thông về vốn ngắn hạn giữa
các nước khác nhau,
Như vậy, lãi suất một mặt có thể khuyến khích người ta Hết kiệm (hạn
chế tiêu dùng hiện tại), mặt khác làm cho tài sản ít sinh lợi (vàng,đô la) rổ nên
kém hấp dẫn và ít được ưa thích hơn nhờ đó các nguồn tiểm tàng trong xã hội dễ được huy động và biến thành khoẩn đầu tư thực sự thúc đẩy sự tăng trưởng của nễn kinh tế, đẩy lùi lạm phát,
1.1.2.Các lý thuyết về lãi suất
Những thay đổi về lãi suất, cũng như những dự tính về lãi suất tác động
đến thu nhập và chỉ phí của các Ngân hàng thương mại Lãi suất lên cao siết
Trang 16cũng ảnh hưởng đến lợi nhuận và kết cấu các khoản mục tài sắn nợ và tài sản có của các Ngân hãng thương mại Vì những !ý đo này dẫn đến nhất thiết các nhà
quần trị Ngân hàng thương mại phải ñm cách xác định mức lãi suất và sự vận động của nó Sự hiểu biết này là cơ sở của dự báo và giải quyết các áp lực lãi
suất trong những khu vực khác nhau của các thị trường tài chính
Mất dù có rất nhiều cách để tìm hiểu những thay đổi về lãi suất, có một
cách được những nhà chuyên môn ấp dụng rộng rãi để giải thích và đự báo các
thay đổi về lãi suất — đó là dựa vào lý thuyết quỹ cho vay | 42 |
1.1.2.1.Lý thuyết quỹ cho vay
Lý thuyết quỹ cho vay được nghiên cứu dựa trên nền tảng lưu lượng tài
chính của các khu vực khác nhau trong nền kinh tế, bao gồm cung và cầu quỹ cho vay của các doanh nghiệp, hộ gia đình và chính quyền Nó tìm cách giải thích những thay đổi của lãi suất bằng cách xem xét sự tổng hợp cung cấu của
các khu vực trên
Trọng tâm chủ yếu trong phương pháp quỹ cho vay là cầu về quỹ của các
doanh nghiệp phát sinh do những thay đổi hàng tổn kho, chỉ phí vốn hoặc các
yếu tố khác Thêm vào đó, là nhu cầu của chính phủ, thường là một đơn vị thiếu hụt, cho nên trọng tâm thường được đặt vào khu vực này (nhất là trong các giải
đoạn suy thoái và thâm hụt rầm trọng về tài chính) và cơi như là nguồn cầu
tòng về quỹ Cung về quỹ chơ vay được tượng trưng bằng nguồn cung tổng hợp
của hộ gia đình, doanh nghiệp và các khu vực nhà nước Khu vực chỉ tiêu ~
thăng dư ròng chủ yếu trong nền kinh tế là khu vực hộ gia đình: đo đó những
thay đổi về cung của quỹ cho vay phải tính luôn các cách ứng xử của giới tiêu
Trang 17năng tạo tiễn của hệ thống ngãn hàng Bên cạnh đó, việc chuyển vốn đầu tư ra
nước ngoài của Chính phủ và của doanh nghiệp trong xu hướng toàn cầu hoá thị
trường tài chính cũng lầ nhân tố tác động khá lớn đối với thị trường lãi suất trong
nước
-Cầu về quỹ cho vay:
+Cầu của doanh nghiệp
Nghiên cứu những đông lực tạo ra câu quỹ cho vay trong các doanh
nghiệp 1a một yếu tố đặt biệt quan trọng bởi vì khu vực doanh nghiệp là khách hàng chính của các ngân hàng
Nhu cau về đầu tư của doanh nghiệp gồm có hai thành phân cơ bản : số
đư hàng tổn kho và số lượng tiễn đầu tư vào tài sản cố định Hàng tổn kho thường được tải trợ bằng những khoản vay ngắn hạn cho nên những thay đổi về khối lượng hãng tổn kho thường gây ra các biến động mạnh trong nhụ cầu của doanh nghiệp về những quỹ ngắn hạn và từ đó gây ra những biến động về lãi suất ngắn hạn Nhu câu lớn nhất của đoanh nghiệp về quỹ cho vay gắn liễn với
chỉ phí xây dựng và mua sấm thiết bị vàthường được tài trợ bằng các quỹ dài
hạn; do đó, cầu về quỹ cho vay dài hạn có chiều hướng ít biến đổi hơn sơ với cầu
về quỹ cho vay ngắn hạn Hành động đầu tư này dẫn đến một chức năng liên quan đến hai mặt là mức lợi nhuận du tính rừ thực hiện dầu tư và chỉ phí trong
việc huy động quỹ
Mức lợi nhuận liên quan đến việc ra quyết định chính là khả năng sinh toi
mà các nhà quần trị doanh nghiệp dự kiến có được tính theo giá trị hiện tại từ
việc chấp nhận quỹ cho vay vào ngày hôm nay (đối chiếu với mức lợi nhuận
thực từ đầu tư hiện tại hoặc trong quá khứ) Do đó, mức lợi nhuận này cũng có
Trang 18phần nào bị tác động do những yếu tố tâm lý Vì vậy, mức độ tin mưởng của doanh nghiệp có giá trị đáng kể trong việc tác động lên tổng khối lượng đầu tư
do khu vực doanh nghiệp thực hiện Ngay cả vào thời điểm mà chính sách chung
là tìm biện pháp nâng cao lãi suất để cắt giảm chi phí về đầu tư thì đầu tư vẫn tăng — dựa vào sự lạc quan trong tương lai Kết quả là bất kể lãi suất cao, tổng khối lượng đầu tư vẫn gia tăng chứ không phải giảm sút Ngược lại, trong nhitng
thời điểm mà chính sách chung nhắm đến đẩy mạnh nhu cầu về đầu tư bằng cách hạ thấp lãi suất, trong lúc đó niềm tin của doanh nghiệp giảm sút thì cầu về đầu tư có thể giám xuống ở bất kỳ mức lãi suất nào
+Nhu cầu của chính quyển : Nhu cầu về quỹ cho cho vay của chính
quyển phát sinh chủ yếu từ chính sách tài chính (nghĩa là chính sách thuế và chỉ tiêu) Quy mô của ngân sách phụ thuộc vào các quyết định về thuế suất, chỉ tiêu chính phủ về hàng hóa, dịch vụ và các khoản thanh toán nợ Thiếu hụt ngân
sách là nguyên nhân tạo ra mức cầu của quỹ cho vay, vì mức thâm hụt ngần sách
được bù đấp bằng cách đi vay trên thị trường tài chính dưới hình thức phát hành
tín phiếu kho bạc và trái phiếu
+Như cầu của người tiêu đùng : Nhu cầu của người tiêu dùng bao gồm : nhu cầu về thực phẩm, trang phục, chỉ phí về y tế, văn hóa, hàng lâu bên, nhà ở
và các chỉ phí xa xÏ khác Một sự giảm thấp hoặc gia tăng về lãi suất sẽ dẫn đến
gia tăng hoặc giảm thấp nhu cầu về những món hàng này Trong đó, hàng tiêu
dùng lâu bển, nhà ở và các hàng xa xỉ rất nhạy bén với các thay đổi lãi suất nhưng việc mua sắm và chỉ phí cho các nhu cầu thiết yếu (thực phẩm, y tế ) thì thường không nhạy cảm với lãi suất
Cũng giống như đối với các doanh nghiệp, yếu tố tâm lý cũng ảnh hưởng đến người tiêu dùng Trong giai đoạn nền kinh tế trì trệ thì nhu cầu về quỹ cho
vay giảm mặc đù lãi suất thị trường thấp vì người tiêu dùng lo sợ bị giảm thu
Trang 19nhập hoặc bị thất nghiệp Ngược lại, khi người tiêu ding tin tưởng nền kinh tế sẽ
phát triển hoặc tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn thì lãi suất thấp sẽ có tác động thúc đấy nhu cầu tăng lên mặc đù dang 6 trong thời kỳ kinh tế khó khăn,
-Cung về quỹ cho vay :
Cung của quỹ cho vay phản ánh khối lượng tiết kiệm và số lượng tiễn mới
được tạo ra Trong nền kính tế thường chỉ có một khu vực có thặng dư rồng , đó
là khu vực hộ gia đình, cho nên khi nghiên cứu về khối lượng tiết kiệm và tác động của nó cân tập trung vào việc xem xét những động cơ thúc đẩy tiết kiệm
của hộ gia đình Bên canh đó, bất kỳ số lượng tiển nào cũng đều bị tác động
đáng kể bởi Ngân hàng trung ương nên việc nghiên cứu về cung của quỹ cũng phải bao gồm việc xem xét các hoạt động về chính sách tiền tệ Như vậy, cung của quỹ cho vay chủ yếu được hình thành từ hai nguồn : tiết kiệm và việc cung ting tién
+Tiết kiệm : Tiết kiệm có nghĩa là trì hoãn việc tiêu dùng trong hiện
tại Khối lượng tiết kiệm của các cá nhân bao gồm các yếu tố : mức thu nhập
hiện có và dự tính trong tương lai dự trữ của cải, lãi suất, dự tính về tỷ lệ lạm
phát trong tương lai và các biến số khác
Khi lãi suất lên cao, các cá nhãn có thể rnuốn ngưng tiêu dùng hiện tại để
có thể tiêu đùng tốt hơn trong tương lai, bổi họ sẽ hưởng mức lãi suất cao và
ngược lại Ngoài ra, chu kỳ kinh doanh cũng đóng một vai trò quan trọng trong
thói quen tiết kiệm, trong giai đoạn suy thoái kinh tế với lãi suất tương đối thấp
thì có lý do để tin rằng người tiêu đùng có thể chỉ tiêu bớt đi và tiết kiệm nhiều
hơn bởi vì yêu cầu phải nâng cao dự trữ để đáp ứng những khoản giảm sút bất ngờ về tiền lương hoặc mất việc lâm Chiểu hướng ngược lại cũng có thể xảy ra
trong giai đoạn lãi suất tương đối cao và các cá nhân tiêu xài quá mức do quá lạc quan vào mức thu nhập dự tính trong tương lai
Trang 20Tiết kiệm của các doanh nghiệp được thực hiện dưới hình thức lợi nhuận
tích lũy và khấu hao Lãi suất thấp có thể giúp cho doanh nghiệp thay thế các
khoản nợ có chỉ phí cao bằng nợ mới có chỉ phí thấp, bằng cách này có thể làm giảm bớt gánh nặng tiền lãi Tuy nhiên, doanh nghiệp khó bán được hàng hóa
khi lãi suất thấp vì nễn kinh tế yếu kém Thực tế chứng minh rằng doanh nghiệp
có lợi nhuận gắn liền với lãi suất và chính lợi nhuận lại lệ thuộc nhiều hơn vào
các điều kiện của đoanh nghiệp cho nên tỷ lệ tiết kiệm của doanh nghiệp có thể không lệ thuộc vào mức lãi suất
Khi thị trường tài chính trở nên toàn cầu hóa và nhu cầu về quỹ trong
nước vượt quá nguồn cung trong nước thi các chu chuyển tiễn vào từ nước ngoài
đã trở nên rất quan trọng Các chu chuyển tiền này đến từ những quốc gia có tỷ
lệ tiết kiệm cao và lãi suất tương đối thấp Bên cạnh đó, tỷ giá giữa bản tệ và
các loại ngoại tệ cũng có tác động mạnh mẽ lên các dòng tiết kiệm nước ngoài
+Tiển cung ứng: Một nguồn bổ sung vào quỹ cho vay là việc cung ứng
tiễn tệ Khối lượng của nó chịu tác động bởi Ngân hàng trung ương và hệ thống
ngân hàng Các ngân hàng chuyển hóa một lượng dự trữ nào đó thành tiên thông
qua việc cho vay và đầu tư
Tuy nhiên, khẩ năng cho vay, đầu tư và việc tao tiễn của các ngân hàng
vẫn bị giới hạn bởi mức dự trữ Với vai trò thực hiện chính sách tiền tệ, Ngân hàng trung ương quyết định số lượng tiền dự trữ trong toàn hệ thống các ngân
hàng bằng cách sử dụng các kỹ thuật kiểm soát tiền tệ của mình như hoạt động thị trường mở, thay đổi về yêu cầu dự trữ và thay đổi về lãi suất chiết khấu để tác động lên khối lượng dự trữ và tiễn gửi Chẳng hạn như Ngân hàng trung ương
muốn tăng tỷ lệ tăng trưởng của nền kinh tế thì có thé tăng khối lượng dự trữ
bằng cách mua chứng khoán, giảm dự trữ bắt buộc và giảm lãi suất chiết khấu
Trang 21Lý thuyết về quỹ cho vay cho rằng số lượng về cung và cầu của quỹ cho
vay là hai thành phần căn bản quyết định lãi suất thị trường Nếu biểu diễn bằng
đỗ thị tì lãi suất thăng bing (Equilibnum rate of interest) được xác định bằng
điểm giao nhau giữa đường cung và đường cầu
Q Số lượng quỹ cho vay
Hình 1.1 : Đồ thị cân bằng lãi suất
Trong đó :
-R : Lãi suất D: Câu về quỹ cho vay
-8 : Cung về quỹ cho vay Q: Số lượng quỹ cho vay
1.1.2.2.Lý thuyết trọng thanh khoản
Bên cạnh lý thuyết về quỹ cho vay là phương pháp chú trọng đến những
lưu lượng tài chính từ các khu vực khác nhau của nên kinh tế quyết định đến lãi
suất, cũng cần quan tâm đến lý thuyết trọng thanh khoản của lãi suất trong thị trường tiền tệ Mức lãi suất trong thị trường tiền tệ thường khác biệt so với thị trường vốn Lý thuyết trọng thanh khoản rất hữu ích cho việc phân tích các lực lượng cung cầu tác động lên tình rạng cần bằng của lãi suất trong thị trường tiễn
tệ [18]
Keynes đã đưa ra quan điểm về cách xác định nhụ cầu và cung ứng tiền,
nhấn mạnh đến nhu cầu giữ tiền dưới dạng vừa là tài sản vừa là phương tiện giao dịch, Người ta muốn nắm giữ tiển vì nhiều mục đích thanh khoản khác nhau gồm các nhu cầu giao địch , nhụ cầu phòng ngừa và đầu cơ tiền (dư số tiền mặ0,
Trang 22nhủ cầu giao dịch phát sinh từ nhu cầu cần mua hàng hóa và dịch vụ hằng ngày, nhu cầu phòng ngữa liên quan đến việc nấm giữ những số dư dự trữ để đáp ứng các trường hợp khẩn cấp Nhu cầu giao dịch và phòng ngừa là những chức năng
của thu nhập trong nước, mua bán cho nên về ngắn hạn thì cố định.Tuy nhiên,
những thay đổi về lãi suất có thể làm thay đổi việc nắm giữ tiền,
Nếu lãi suất được dự tính là sẽ thấp trong tương lai thì trái phiếu được ưa
chuộng hơn vì có mức sinh lợi cao hơn và có tiêm năng thu lợi trong tương lại bởi
vì lãi suất bị xuống thấp và ngược lại Keynes gọi cách ứng xử này là nhu cầu đầu cơ về tiền
Lãi suất |
Số lượng tiên Hình 1.2 : Cung và cầu trên thị trường tiền tệ
Hình 1.2 cho thấy những đường biểu diễn giả thuyết về cung và cầu ở trong thị trường tiền tệ Cung tiên tệ không phẩn ứng với các thay đổi về lãi suất
vì Ngân hàng trung ương có thẩm quyên để kiểm soát khối lượng tiền ở trong hệ thống tài chính Các dịch chuyển của những đường biểu diễn cung và cầu gây ra
sự thay đối về cân bằng lãi suất ở trong thị ưường tiển tệ Trên các đường đứt
khúc trong hình 1.2 cho thấy rằng một sự giảm sút của thu nhập trong nước do
suy yếu của nên kình tế sẽ chuyển dịch đường biểu diễn cung sang trái (từ Dị
qua D¿ ) và các biện pháp của Ngân hàng trung ương nhằm “thúc đẩy” nên kinh
Trang 23Khi lãi suất trong thị trường tiền tệ giảm thấp khiến cho lãi suất trong thị trường vốn hấp dẫn hơn, dân chúng sẽ chuyển dịch quỹ từ thị trường tiền tệ sang thị
trường vốn, mức cung của quỹ từ thị trường vốn gia tăng có chiều hướng làm giảm thấp lãi suất trong thị trường vốn, mức cung của quỹ từ thị trường tiễn tệ giảm sút sẽ có chiều hướng nâng cao lãi suất trong thị trường tiễn tệ Đến một điểm nào đó sẽ đạt được một sự cân bằng hỗn hợp giữa thị trường tiễn tệ và thị
trường vốn Tổng kết của Keynes là lãi suất tăng làm giảm nhu cầu về tiền Ngược lại, lãi suất hạ làm tăng nhu cầu về tiên trong ngắn hạn Như vậy, !ãi suất
là phương tiện trung gian để điều chỉnh cung và cầu tiền tệ
Lập luận này chỉ ra rằng Ngân hàng trung ương có thể điều chỉnh mức độ
cung ứng tiển theo cầu tiền tệ một cách gián tiếp theo lãi suất hoặc chủ động đưa ra mức cung tiền tệ để hướng dẫn lãi suất và cầu tiễn tệ theo ý mình
1.1.2.2.Lý thuyết dự tính duy lý
Với lý thuyết dự tính duy lý, Fisher cho rằng : “ Mức lãi suất luôn luôn
dua trên sự dự tính, tuy nhiên điều này khó có thể điều chỉnh được khi thực hiện,
Con người phỏng đoán về tương lại và đem hành động của mình đánh cược với nó Hành động trong hiện của chúng ta phải được kiểm soát bởi tương lai, không
phải như chính thực là nó mà như nó xuất hiện trước mặt chúng ta qua một bức
man cd may” [42]
Lý thuyết dự tính duy lý về lãi suất lập luận rằng lãi suất là một chức
năng của những dự tính của nhà đầu tư Lý thuyết này đựa trên khái niệm rằng
giá của chứng khoán phần ánh tất cả thông tin liên quan hiện có bởi vì các nhà
đầu tư hành động một cách duy lý để tối đa hoá lợi nhuận của họ và chỉ phí về
Trang 24giao dich và thông tỉn không phải là những rào cần đáng kể của giao dịch thị trường Do đó các dự tính là một sự tác động mạnh mẽ lên các mức lãi suất cũng
như các thay đổi về lãi suất theo thời gian
1.1.3.Vai trò của lãi suất trong nền kinh tế thị trường
1.1.3.1.Lãi suất ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Một lãi suất hợp lý cho phép các doanh nghiệp tính toán được lợi nhuận
thu về từ các dự án khả thi vì vậy sẽ chiếm lĩnh được các cơ hội kinh doanh
Đông thời với một lãi suất hợp lý các doanh nghiệp sẽ có lợi nhuận sau khi trừ
chỉ phí trả lãi tiển vay, kích thích các doanh nghiệp nở rộng đầu tư, thực hiện ti
sắn xuất đẩy mạnh các hoại động của doanh nghiệp
Một lãi suất bất hợp lý (lãi suất cao hoặc thấp) đều ảnh hưởng tiêu cực
đến hoạt động kinh doanh của các đoanh nghiệp Khi lãi suất quá cao, các doanh
nghiệp sẽ không đầm vay vốn của ngân hàng, nhiều dự án có hiệu quả cao sẽ
không được thực thi nhiều cơ hội kinh doanh của các doanh nghiệp sẽ bị cắt bỏ
Nguồn vốn ngân hàng bị ứ đọng dẫn tới giảm sút lợi nhuận thậm chí thua lỗ Mặt
khác, nếu lãi suất quy định quá thấp, các doanh nghiệp sẽ vay von dé dang,
thâm chí vay vốn không sử dụng đúng mục đích dẫn đến sử dụng vốn lãng phí,
không hiệu quả Sự rủi ro của các doanh nghiệp kéo sự rủi ro của ngần hàng và
ảnh hưởng không ít đến ngay sự phat triển của nền kinh tế chung
1.1.3.2.Lãi suất là công cụ gián tiếp điều hành nên kinh tế vĩ mô
-Lãi suất góp phần giữ vững cân đối giữa cung và cầu hàng hóa
Tổng lượng hàng hóa sản xuất ra phải cân bằng với tổng lượng hàng hoá
yêu cầu điều này sẽ làm cho quá trình tái sản xuất của xã hội được liền tục, giúp
cho các doanh nghiệp tăng nhanh vòng quay vốn, thu hồi vốn, tăng lợi nhuận,
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,
Trang 25Lãi suất thay đổi ảnh hưởng đến nhu cầu đầu mư, đến xuất khẩu ròng, từ
đó ảnh hưởng đến tổng sản phẩm quốc dân theo chiều hướng lãi suất giảm tổng sẵn phẩm quốc dân tăng và ngược lại Lãi suất thay đổi ảnh hưởng đến cầu tiển
tệ, tác động đến cầu hàng hóa trên thị trường theo chiều hướng lãi suất tăng,
công chúng sẽ giảm bớt tiêu đùng để mua chứng khoán, hoặc gửi tiễn vào ngân
hàng làm cầu hàng hóa giấm và ngược lại
-Lãi suất góp phần thực biện mục Liêu của chính sách tiễn tệ quốc gia,
kích thích đầu tư nền kinh Lế
Muc tiéu cuối cùng của chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương là
với khối cung của nền kinh tế bao gồm lao động, tài nguyên, tư liệu tiều dùng tư
liệu sản xuất tạo nên các hiện tượng kinh tế là sự thay đổi về sản lượng, về công
ăn việc làm, về ổn định tiên tệ Sự thay đổi về lãi suất tạo ra tổng mức cầu của
xã hội về đầu tư và phát triển kinh tế bởi vì lãi suất tác động đến chỉ phí đầu tư
và do đó là một yếu tố quan trọng quyết định đầu tư
Khi lãi suất tĩng, những dự án đầu tư có lợi nhuận nhỏ hơn lãi suất tiền
vay sẽ tự động cắt giảm Khi lãi suất giảm làm gia tăng các dự án đầu tư có lợi
nhuận thấp Như vậy, sự thay đổi về lãi suất sẽ kích thích đầu tư trong nền kinh
tế dẫn đến tïng sản lượng và tăng công ăn việc làm trong xã hội
Lãi suất thay đổi tác động đến cung tiền tệ, nhằm đảm bảo quy luật lửu thông tiền tệ từ đó ổn định tiền tệ Thông qua lãi suất tái chiết khấu, Ngân hàng trung ương có thể “bơm” tiên vào lưu thông hoặc “hút” tiễn từ lưu thông về
Trang 26nhằm đảm bảo khối lượng tiền cần thiết trong lưu thông, từ đó ổn định lạm phát,
én định tiền tệ
-Lãi suất là công cụ tác động mạnh mẽ đến lạm phát
Lạm phát ảnh hướng rất lớn đến lãi suất nhưng nếu nhà nước áp dụng cơ
chế lãi suất đúng đắn sẽ tác động mạnh đến lạm phát
Một khi nền kinh tế có lạm phát cao, nó sẽ gây ra các hậu quả rất tại hại đối với các lĩnh vực của nền kinh tế Tình thế đó bắt buộc nhà nước phả! dùng
các biện pháp để chống lạm phát Một trong những biện pháp được đánh giá có
hiệu nghiệm là nâng lãi suất Hiên gửi Chẳng hạn ở Mỹ vào năm 1981] sau khi
nâng lãi suất tiền gửi từ 6% lên 8 %/ năm làm cho mức lạm phát từ 14 % giảm
xuống còn 5 %/ năm Ở Việt Nam vào năm 1988, cơn sốt lạm phát từ 393,8%
giảm xuống còn 34,7 %/ năm (1989) sau khi ngân hàng quyết định nâng lãi suất
tiền gửi Rõ ràng là khi lãi suất tiền gửi tăng lên, lượng tiền trong lưu thông quay
trở về ngân hàng dẫn đến mức giá cả hàng hóa giảm, lạm phát giảm
-Lãi suất là công cụ để do lường “sức khỏe ” của nền kinh tế
Ở các nước kinh tế phát triển, giá trái khoán và lãi suất được yết giá hằng
ngày trên các tờ báo của các cơ quan Chính phủ Người ta có thể căn cứ vào sự
biến động của lãi suất để dự báo tình hình kinh tế và các yếu tố khác như : tính sinh lời của các cơ hội đầu tư, mức lạm phát dự tính, mức thiếu hụt ngân sách Các yếu tố đó hợp thành chỉ tiêu trừu tượng "Sức khỏe nên kinh tế” Trên cơ sử
đó các nhà doanh nghiệp lập kế hoạch chỉ tiêu tong wong lai của họ, trong khi
đó ngân hàng cần dự báo lãi suất nhằm quyết định chọn mua tài sản nào
1.1.4.Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất
1.1,4,1.Mức cung cầu tiễn tệ :
Cung tiển tệ là tổng thể tiên tệ được sử dụng để giao dịch thanh toán trên
thị tường Các nhà kinh tế đã định nghĩa M là tiền giao dịch bao gồm : MI là
Trang 27tổng số tiền kim khí và tiền giấy lưu thông bên ngoài ngân hàng cộng với tiền
gửi thanh toán và định nghĩa rộng hơn là M2 bao gồm những tài khoản như tài
khoản tiền gửi tiết kiệm ngoài tiễn kim khí, tiễn giấy và tiền gửi thanh toán
Quyền kiểm soát mức cung tiền tệ được giành riêng cho Chính phủ,bởi vì hạn chế mức cung tiễn tệ là điều cần thiết để giữ cho tiền có giá trị Công chúng
và các doanh nghiện cần tiền để làm phương tiện giao dịch,trao đổi mua bán
hàng hóa,địch vụ Các nhân tế này hợp thành mức cầu tiền tệ để giao dịch Sự
thay đổi cung cầu tiền tệ sẽ ảnh hưởng tới lãi suất
Khi Ngân hàng trung ương muến kìm chế lạm phát, sẽ thực hiện một
chính sách thắt chặt Gén tệ thông qua các công cụ của nó (thay đối tăng mức dự
trữ bắt buộc,tăng lãi suất chiết khấu,giảm hạn mức tín dụng) làm cho mức cung tiền tệ sẽ giảm đi đẫn đến tăng lãi suất Lãi suất tăng, kéo theo mức đầu tư sẽ
giảm, mức cầu tiền tệ giám, các nhà doanh nghiệp và các gia đình sẽ cắt giảm
lượng tiền mặt và tài khoản séc của họ
Ngược lại, khi Ngân hàng trung ương dự báo nên kinh tế có dấu hiệu suy
thoái vì thế sẽ thực hiện tăng mức cung tiển tệ bằng cách bơm nền ra lưu thông
thông qua các công cụ chính sách tiên tệ dẫn đến lãi suất có xu hướng giảm xuống, tín dụng trở nên dổi đào hơn Kết quả là việc tiến hành các dự án đầu tư mới trở nên có lợi hơn, số tiển chỉ tiêu cho nhà máy, thiết bị, kho hằng tăng lên,
người tiêu dùng có khuynh hướng mua nhiều hàng hơn, chính quyển địa phương tăng ngân sách xây dựng trường học, đường sá, vốn đầu tư tăng và tổng mức câu cũng tăng lên
Ngoài ra những thay đổi tự định trong cầu tiền tệ (không phải do sự thay
đổi trong mức giá cả, tổng sản phẩm, hoặc lãi suất gây nên) cũng ảnh hưởng đến
lãi suất cñn bằng Ví đụ một cuộc sụp đổ tài chính hằng loạt xảy ra, làm cho
nhiều công ty bị phá sẵn, trái khoán trở thành một tài sắn bị rủi ro nhiều hơn,
Trang 28dân chúng muốn chuyển từ việc giữ trái khoán sang giữ tiền, họ sẽ giữ nhiều tiễn hơn với mọi lãi suất và mọi sản phẩm Kết quả cầu tiển tệ tăng lên, lãi suất
tăng lên và ngược lại
Nghiên cứu nhân tố cung câu tiền tệ tác động qua lại đến lãi suất có một
ý nghĩa quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách tiển tệ (vĩ mô) và
chính sách lãi suất của các Ngân hàng thương mại để điều chỉnh lãi suất thị trường một cách hợp lý
1.1.4.2.Tỷ suất lợi nhuận :
Lãi suất tín dụng là một bộ phận của thu nhập ( V + m), vì vậy cần duy tà
mối tương quan đầm bảo lãi suất tín dụng nhỏ hơn tỷ suất lợi nhuận
Nếu lãi suất tin dung lớn hơn tỷ suất lợi nhuận thì sẽ không có ai muốn đi
vay để đầu tư cho sản xuất kinh doanh dẫn đến sản xuất kinh doanh bị đình đến,
kinh tế bị suy thoái Mặt khác, nếu lãi suất tín dụng lớn hơn tỷ suất lợi nhuận, người đi vay sẽ tăng cường gửi trển vào ngân hàng để kiếm lợi nhuận, ngưng
ngay các đầu tư khác, vì thế lợi ích của xã hội sẽ bị giảm sút
Lãi suất trần của lãi suất tín dụng chính là tỷ suất lợi nhuận Do đó sự
tăng hay giảm tỷ suất lợi nhuận sẽ tạo điểu kiện mổ rộng hay thu hẹp khoảng
giao động của lãi suất tín dụng Chính tỷ suất lợi nhuận ảnh hưởng đến cầu tiên
tệ làm cho lãi suất tăng hay giảm Trong đó, cầu tiền tệ tăng dẫn đến lãi suất tăng và cầu tiễn tệ giảm dẫn đến lãi suất giảm
Bên cạnh tý suất lợi nhuận còn phải kể đến các nhân tố như khả năng tiêu thụ vốn trên thị trường tiền tệ, rủi ro n dụng, thuế, chỉ phí hoạt động của ngân
hàng cũng ảnh hưởng đến lãi suất tín dụng
1.1.4.3.Lạm phát :
Khi nền kinh tế có mức lạm phát tăng vừa phải sẽ tạo điều kiện cho nền
kinh tế phát triển vững chắc, ổn định Tuy nhiên nếu lạm phát trăng nhanh dân
Trang 29đến lạm phát phí mã, siêu lạm phát, dù ở từng mức lãi suất riêng lẻ hay ở tất cả mọi lãi suất, yếu tế kích thích làm tăng cung quỹ cho vay gần như triệt tiêu bởi giá trị thực tế của vốn gốc và tiền lời thu được đã bị hao mòn đo tác động của lạm phát Trong tình hình ấy, những người có khả năng cho vay không muốn giữ uén mặt, đổ xô đi mua hàng hóa , vàng, ngoại tệ dự trữ Điều đó dẫn đến cung quỹ cho vay giảm, lãi suất tăng
Lam phát tăng, không chỉ làm giảm độ lớn của cung mà còn kéo thee
việc tăng thêm quy mô về cầu quỹ cho vay Bởi với lãi suất danh nghĩa cho
trước, khi lạm phát dự tính tăng lên, chi phí thực của việc vay tiền giảm xuống, kích thích người ta đì vay hơn là cho vay Người đi vay sẽ kiếm được khoản thu
lợi do giá hàng hóa được mua bằng tiền đi vay sẽ tăng lên, cầu quỹ cho vay tăng dẫn đến lãi suất tăng Một sự giảm xuống của cung và một sự tăng lên của cầu
đối với quỹ cho vay sẽ đẩy lãi suất tăng lên
Tóm lại, khi lạm phát dự tính tăng dẫn đến lãi suất tăng Điều này có một
ý nghĩa quan trọng trong việc dự đoán lãi suất khi nên kinh tế có xu hướng lạm phát tăng Trên cơ sở đó có một chính sách lãi suất hợp lý Khi lạm phát cao nhà
nước cần có biện pháp nâng lãi suất danh nghĩa, đảm bảo cho lãi suất thực
đương hoặc nhà nước Lung vàng và ngoại tệ ra bán để kiểm chế lạm phát Nhiều nhà kinh tế đã khuyến cáo rằng cuộc chiến chống lạm phát nhất định sẽ thất bại nếu muốn hạ thấp lãi suất Hài học kinh nghiệm ở Việt Nam vào những năm
1985 — 1988 khi lạm phát đã ở mức ba con số song lãi suất danh nghĩa vấn rất
thấp đã ảnh hưởng xấu đến nên kinh tế và càng đẩy lạm phát tăng nhanh
1.1.4.4.Sự ổn định của nền kinh tế :
Sự ổn định của nên kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến cung cầu quỹ cho
vay, cụ thể :
Trang 30-Anh hưởng đến cung quỹ cho vay : khi nén kinh tế ổn định và phát triển, của cải tăng lên, công chúng chỉ muốn giữ một số tiền giao dịch đủ cho nhu cầu
sử dụng, họ muốn đầu tư vào các trái khoán công ty, gửi tiết kiệm tại ngân
hàng Bởi vì khi nên kinh tế ổn định, thị trường trái khoán trổ nên ổn định hơn, rủi ro rúi khoán giẩm, trái khoán trở thành một tài sản hấp dẫn hơn, vì vậy cung
quỹ cho vay tăng lên, đường cung dịch chuyển về bên phải, lãi suất có xu hướng giảm
-Anh hưởng đến cầu quỹ cho vay : khi nền kinh tế đang phá: triển nhanh,
nhất là trong giai đoạn phát đạt của một chu kỳ kinh doanh, các công ty càng có
nhiều ý định vay vốn và tăng số dư nợ nhằm tài trợ cho các cuộc đầu tư được
trông đợi và sinh lời Vì vậy cầu quỹ cho vay tăng lên, đường cầu dịch chuyển lên trên, lãi suất có xu hướng tăng
1.1.4.5,Các chính sách của nhà nước :
Mục tiêu của một nên kinh tế phát triển là tạo ra sắn lượng cao, tăng
nhanh tổng sản phẩm quốc dân, đạt tỷ lệ người có công ăn việc làm cao, tỷ lệ
thất nghiệp thấp, đảm bảo ổn định giá cả trong điều kiện thị trường tự do hoạt
động, cân bằng xuất nhập khẩu Để đạt được mục tiêu trên , nhà nước phải sử dụng các công cụ bằng các chính sách có thể điều chỉnh tốc độ và phương hướng
của hoạt động kinh tế Quá trình thực biên các chính sách của nhà nước đều tác
động đến lãi suất cân bằng trên thị trường
-Chính sách tài chính
Chính sách tài chính bao gỗm chỉ tiêu của chính phủ và thuế khóa
Chi tiêu của chính phủ là một nhân tố then chốt định mức tổng chỉ tiêu
Khi nhà nước thực hiện một chính sách tài chính bành trướng (Tăng chỉ tiêu
chính phủ và giảm thuế ) sẽ ảnh hưởng đến thăng bằng của thị trường hàng hoá
và thị trường tiễn tệ, từ đó ảnh hưởng đến lãi suất Khi chỉ tiêu của chính phủ
Trang 31tăng trực tiếp làm tăng tổng cầu, đường cầu dịch chuyển về bên phải, khi chính phủ giảm thuế, làm cho nhiều thu nhập hơn được sẵn sàng để chỉ tiêu và làm
tăng tổng sản phẩm bằng cách tăng chỉ tiêu tiêu dùng Mức cao hơn của tổng sản
phẩm làm tăng lượng cầu liền tệ, đường cầu dịch chuyển về bên phải, lãi suất
tăng Ngoài ra thuế còn tác động đến mức sản lượng tiểm năng, chẳng han việc
giảm thuế đánh vào thu nhập từ đầu tư mới làm cho các ngành tăng đầu tử vào
máy móc thiết bị, nhà máy, tổng sản phẩm tiềm năng được tăng lên tăng lượng
cầu tiền tệ, đường cầu dịch chuyển về bên phải, lãi suất tăng
- Chính sách tiền tệ
Các chính sách triển tệ của Ngân hàng Nhà nước theo từng thời kỳ phát
triển kinh tế đã tác động đến khối lượng tín dụng mà ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế, từ đó ảnh hưởng đến lãi suất thị trường (đã phân tích ở mục 1.1,3 )
-Chính sách thu nhập
Chính sách thu nhập là chính sách liên quan đến giá cả và tiền lương
Nếu mức giá cả giảm mà cung tiền tệ không thay đổi, giá trị của một đơn
vị tiền tệ theo giá trị thực tế tăng bởi vì nó có thể được dùng để mua nhiều hàng
hóa và dịch vụ hơn Do vậy, cũng giống như ảnh hưởng của một sự tăng lên
trong cung tiền tệ khi mức giá được giữ cố định sẽ làm lãi suất giảm Ngược lại
một mức giá cả cao hơn sẽ làm giảm cung tiền tệ theo giá trị thực tế đẫn đến làm tăng lãi suất Yếu tố quan trọng nhất của chỉ phí sản xuất là chỉ phí tiễn
lương khi tiền lương tăng làm chỉ phi sin xuất tăng, làm giảm lợi nhuận theo đơn
vị sản phẩm tại mỗi mức giá cả dẫn đến giảm nhu cầu đầu tư, cầu tiền tệ giảm
kéo theo lãi suất giảm
-Chính sách quản lý ngoại hối :
Chính sách quản lý ngoại hối bao gỗm các biện pháp liên quan đến quần
lý dự trữ ngoại hối, tổ chức, điều hành thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và thị
Trang 32trường ngoại hối, kiểm soát hoạt động ngoại hối của các Tổ chức tin dụng và
mua bán ngoại hối trên thị trường nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
Rõ rằng rằng, ngân hàng cần nhận thức và không thể bỏ qua những tác
động töiểm năng của việc thực thi các chính sách kinh tế, tài chính, tiền tệ, bởi vì
tất cả những yếu tố này đếểu tác động trực tiếp tới việc quần trị lãi suất, tài sản, nguén vốn và quy mô chỉ phí, thu nhập của ngân hàng
1.2.Lãi suất trong kinh doanh ngân hàng
1.2.1.Ngân hàng thương mại là tổ chức trung gian giữa người cho vay và người đi vay :
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, sự ra đời của thị trường
tài chính và những trung gian tài chính (ngân hàng, công ty bảo hiểm, quỹ ry
cấp ) đóng một vai trò quan trọng Đó chính là nơi gặp gỡ của nhu cầu về vốn
và nguồn cung cấp vốn Cúc cá nhân và tổ chức kinh tế có nguồn cung cấp vốn cho các cá nhân, các tổ chức kinh tế có nhu cầu vay vốn thông qua hình thức tài chính trực tiếp hay gián tiếp qua hình 1.3 Theo cách này, những trung gian tài chính và thị trường tài chính có thể thúc đẩy nền kinh tế năng đông và hiệu quả
Trang 33Chúng ta hãy hình dung một thế giới giản đơn trong đó không tổn tại hoạt động của hệ thống ngân hàng Trong một thế giới như vậy, những khoản tiết kiệm của dân chúng chỉ có thể được sử dụng hoặc là đưới dạng tiền mặt hoặc là dưới dạng đầu tư chứng khoán vào công ty (tài chính trực tiếp )
Trong một thế giới không có các ngân hàng thì quy mô các luỗng vốn từ những người tiết kiệm chuyển đến các công ty nhìn chung là rất thấp nguyên nhân là do : chỉ phí để họ tự giám sát hoạt động của công ty rất tốn kém; chỉ phí chuyển nhượng các chứng khoán công ty rất cao và rủi ro biến động giá cả
chứng khoán trên thị trường
Tuy nhiên chúng ta đang sống trong một thế giới mà ở đó hệ thống ngân hãng phát triển mạnh mẽ và được coi như bộ xương sống của nên kinh tế Hệ thống ngân hàng cung cấp một kênh dẫn vốn gián tiếp từ những người có nhu
cầu đầu tư đến công ty (tải chính gián tiếp ) Do tổn tại các nguyên nhân như nêu ở trên nên người tiết kiệm thường ưu tiên gửi tiên vào ngân hàng hơn là đầu
tư trực tiếp vào các công ty
Với chức năng trung gian tài chính, ngân hàng vừa là trung gian luân
chuyển tài sản từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn , vừa là trung gian cung cấp các
dịch vụ thanh toán, môi giới và tư vấn Trong đó, huy động vốn và cho vay là chức năng cơ bản của ngân hàng Trong chức năng luân chuyển tài sản, ngân hàng tiến hành đồng thời hai hoạt đông :
Thứ nhất, ngân hàng huy động vốn bằng cách phát hành các chứng chỉ
tiễn gửi Các chứng chỉ tiền gửi do ngân hàng phát hành thường hấp dẫn người
đầu tư hơn nhiều so với các chứng khoán đo các công ty phát hành trực tiếp cho
dân chúng, bởi vì, đối với hầu hết những người đầu tư thì việc mua các chứng chỉ
tiền gửi của ngân hàng sẽ giám đáng kể các chỉ phí như chi phí giám sát
Trang 34Thứ hai, ngân hàng tiến hành đầu tư bằng cách cấp tín dụng và mua các
cổ phiếu và trái phiếu do các công ty phát hành (gọi chung là đầu tư chứng
khoán ) Sự khác biệt trong chức năng luân chuyển tài sản giữa ngân hàng và các loại hình kinh doanh khác được thể hiện trong hình L.4
Đây là dạng giản đơn của bảng cân đối tài sản của ngân hàng và công ty
nhằm phản ánh sự khác biệt trong chức năng luân chuyển tải sản giữa ngân hàng
và các loai hình kinh doanh khác Với chức năng trung gian tài chính của ngân
hằng nổi cộm lên vấn để ngân hãng mua các chứng khoán của các công ty rồi
sau đó đem bán lại cho dân chúng mà vẫn có lãi chính là do hoạt động đặc thù của các ngân bàng đã tạo điểu kiện cho ngân hãng xử lý tốt hơn là giảm được
đáng kể các loại chỉ phí mà từng nhà đầu tư riêng rẽ không thể đạt được
| Tài sản có | Tài sản ng | Tai sản có Tài sản nợ
-Nhà xưởng ~Trái phiếu | “Trái phiếu | Ching chi tiền |
—
- Hình 1.4 : Bắng cân đối tài sản ngân hàng và công ty (đơn giản)
-Huy động vốn : Đây là hoạt động chủ yếu và thường xuyên của Ngân
hãng thương mại, bởi vì để có tiễn cho vay và kinh doanh cấc lĩnh vực khác, ngân hàng không chỉ dựa vào nguồn vốn điều lệ của mình mã còn phải huy động
vốn trên thị trường Hiện nay tại các Ngân hằng thương mại các nước có những
hình thức huy động chủ yếu gồm những loại tiền gửi sau :
eTiền gửi giao dịch :
Tiển gửi giao dịch là tiễn gửi mà chủ tài khoán có thể rút tiền bằng các
công cụ có thể chuyển quyền sở hữu được mà điển hình là từ séc, Jể trả cho bên
Trang 35thứ ba bất kỳ lúc nào Tién gửi giao địch còn có tên gọi là tiền gửi thanh toán,
tién giti sé hode tién git khong ky han (Demand deposits, checking account)
Mục đích của khách hàng khi gửi tiễn thanh toán là để an toàn tiện lựi trong
thanh toán không dùng tiễn mặt và hưởng các dịch vụ khác do ngân hàng cung
cấp Ở các nước tư ban phát triển như Mỹ, Thụy Điển, Anh, Canada có khoản
90 % hộ gia đình có tài khoản ñển gửi thanh toán tại ngân hàng để giao dich
hàng ngày [23]
eTiển gửi phi giao dịch :
Tiền gửi phi giao dịch là loại tiển gửi có định hướng tiết kiệm, gửi tiền dự
phòng có hưởng lãi, không thể dùng thường xuyên vào mục đích thanh toán Tiển gửi phi giao dịch bao gồm Hển gửi có kỳ hạn (Time deposits) và tiền gửi tiết kiệm (Saving accounts)
Bên cạnh các hình thức huy động trên, Ngân hàng thương mại còn phát
hành các chứng chỉ tiền gửi kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng để huy động vốn trên thị trường phù hợp với kế hoạch sử dụng vốn của mình
-Cho vay : Các tổ chức ngân hàng tham gia vào quan hệ lún dụng thể hiện với hai tư cách ; ngân hàng đóng vai ưò thụ trái và hành vỉ này được gọi là di vay như đã nều trên (huy động vến) ; ngân hàng đóng vai trd trái chủ và hành vì này được gọi là cho vuy
Các hình thức cho vay của ngân hàng (các sản phẩm cho vay) đối với
khách hàng rất đa dạng phong phú, được xây dựng xuất phát từ nhu cầu của thị
trường Nếu chỉ dựa vào tính chất và hình thức cho vay vốn thì hoạt động tín dụng của ngân hàng bao gồm -
«Căn cứ vào tiêu thức thời hạn cho vay
Đây là tiêu thức (căn cứ) phân loại phổ biến nhất, dựa vào căn cứ này
cho vay thường được chia lầm 3 loại :
Trang 36-Cho vay ngắn hạn : loại cho vay nay có thời hạn đến 12 tháng và dude
sử dụng để bù đấp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu
cầu chỉ tiêu ngắn hạn của cá nhân Đối với Ngân hàng thương mại, tín dụng ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao nhất
-Chơ vay trung hạn : loại cho vay này có thời hạn trên 1 năm đến 5 năm
(Việt Nam), còn đối với nhiều nước trên thế giới loại cho vay này có thời hạn đến 7 năm Tín dụng trung dài hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm lài
sẵn cố định, cãi tiến hoặc đổi mới máy móc thiết bị, xây dựng các dự án mới có
quy mô nhỏ và thời gian thụ hỗi vốn nhanh
-Cho vay dài hạn : loại cho vay này có thời hạn trên 5 năm (Việt Nam),
còn đối với nhiều nước trên thế giới loại cho vay này có thời hạn trên 7 năm Tín dụng trung đài han chủ yếu được cung cấp để đáp ứng các như cầu đài hạn như
xây dựng nhà ở , phương tiện vận tãi có quy mộ lớn, xây dựng các xí nghiệp
eCăn cứ vào tiêu thức phương pháp hoàn trả : Cho vay của ngần hàng
được chia lầm hai loại :
-Cho vay trả góp : là loại cho vay mà khách hàng phải hoàn trả vốn
gốc và lãi theo định kỳ Loại cho vay này chủ yếu được áp dụng trong cho vay
bất động sản nhà ở, cho vay tiêu ding, cho vay đối với những người kinh doanh nhỏ (cho vay chợ), cho vay trang bị kỹ thuật trong nông nghiệp
-Cho vay phi trả góp : là loại cho vay được thanh toán một lần theo kỳ
hạn đã thỏa thuận
eUCăn cứ vào tiêu thức phương thức cấp tín dụng :
-Cho vay trực tiếp : ngân hàng cấp vốn hoặc tài sản trực tiếp cho người
có nhu cầu, đồng thời người di vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng (cho vay ứng trước , cho thuê tài chính )
Trang 37-Cho vay gián tiếp : là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trọng thời hạn thanh toán
Các Ngân hàng thương mại cho vay gián tiếp theo các loại như chiết khấu
thuung mai (discount), mua cdc phiếu bán hàng (dealer paper) tiêu dùng và mấy móc nông nghiệp trả góp, mua các khoản nợ của doanh nghiệp (factoring)
-Tín dụng liên kết : Trong hoạt động thực tiễn của ngân hàng, không it các trường hợp mức cho vay hoặc mức rủi ro lớn mà một ngân hằng không thể tự mình đảm đương nổi, hoặc do quy định của Ngân hàng trung ương, do đó cần có
sự liên kết giữa các ngân hàng để cho vay khách hằng
-Tín dụng bảo lãnh (Guarantees) : Ngoài các sản phẩm cho vay trên, ngân hàng còn thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh cho khách hàng bằng uy tín của mình Đối với nghiệp vụ này, ngân hàng không phải cung cấp tiền hàng nhưng khi người được bảo lãnh không thực hiện được nghĩa vụ theo hợp đồng thì người bảo lãnh phải thay thế để thực hiện nghĩa vụ thanh toán
Mỗi sản phẩm tín dụng đều gắn với với một mức lãi suất khác nhau Ngân
hàng muốn huy động vốn và cho vay phù hợp với chính sách kinh doanh của mình cần phải có chính sách lãi suất thích hợp trong từng thời kỳ Hay nói cách khác, bên cạnh sự tác động của các nhân tố ( đã được để cập ở phần 1.1.3 ) thi 1ãi suất là yếu tố cơ bản để huy động vốn và cho vay của ngân hàng
1.2.2 Lãi suất huy động vốn và cho vay của ngân hàng
1.2.2.1.Các loại giá trong kinh doanh của ngân hàng :
Giá trong kinh doanh ngân hàng chủ yếu bao gồm phí và lãi suất tạo nên thu nhập và chị phí của ngân hàng khi thực hiện việc cung cấp các sản phẩm
tiền gửi và cho vay để đáp ứng nhu cầu của khách hàng Các sản phẩm mà ngân
hàng thực hiện rất phong phú và đa dạng, việc định giá cho các sản phẩm này là
Trang 38một vấn để rất phức tạp và khó khăn vì một mặt, ngân hàng phải đâm bảo duy
trì được lợi nhuận, mặt khác vẫn đảm bảo giá của sản phẩm đủ sức cạnh tranh
Yếu tố quan trọng cấu thành nên giá của sản phẩm tiễn gửi khách hàng
và cho vay khách hàng là lãi suất Hay nói cách khác lãi suất là yếu tố cơ bản để
huy động vốn và cho vay của ngân hàng
Một trong những phép đo mà các nhà kinh tế cho là phương pháp mô tả
chính xác nhất của lãi suất đó là phương pháp tính lãi suất hoàn vốn
-Lãi suất hoàn vốn (The yield to maturity) :
Để đi vay người ta sử dụng nhiều công cụ tài chính khác nhau như : tín
phiếu kho bạc,thương phiếu Mỗi cách đi vay người vay đều phải hoàn trả cho người cho vay một lãi suất Để đo lãi suất cho từng cách vay,người ta sử dụng khái niệm lãi suất hoàn vốn
Lãi suất hoàn vốn cho một công cự tài chính là một lãi suất làm cân bằng
giá trị hôm nay của công cụ tài chính với giá trị của tất cả tién tr trong tương lai
Trong đó : P, : Số tiền vay
P, : Số tiền được hoàn trả vào ngày mãn hạn
1: Lãi suấttiễn vay
Pe — Pv i= =
Py
Trang 39Vi du : Số tiến vay hôm nay là 1.000 000 đ và tiền trả sau 1 năm là 1.100.000đ
Giải phương trình (L.2) ta m được 1
Ví dụ Tiên vay là 10.000.000 đ, thời hạn là 12 tháng, mỗi tháng thanh toán
Trang 40Trong đó: C : Số tiển lãi trả cố định của mỗi định kỳ
F : Mệnh giá của giấy nợ
n : Tổng số định kỳ trả tiễn
Giải phương trình (1.3) ta ầm được 1
Cách vay thứ 4: Ta có phương trình sau :
Pv = ) a)
er
—
Giải phương trình (4) ta tìm được 1
Ví du : Một giấy ng do người đi vay phát hành với mệnh giá là 1.000.000 đ, thời hạn là 1 năm, được người cho vay mua với giá hiện thời là 900.000 đ
i= 1.000.000 - 900.000 =0,11 =11%
900.000
Phép đo Hi suất hoàn vốn chính xác như trên cho phép ngân hàng xác
định khả năng “cung cấp” và tiêu thạ công cụ tài chính Đó là một trong những
cơ sở của những quyết định về hướng huy động vốn và cho vay cũng như đầu tư
của Ngân hàng thương mại
1.2.2.2.Lãi suất tiền gửi :
-Lãi suất tiển gửi giao dịch (Tiền gởi thanh toán ):
Tài khoản tiền gửi tranh toán dùng cho các doanh nghiệp, tài khoản này không được hưởng lãi trực tiếp, mà người gửi chỉ hưởng lãi gián tiếp thông qua
các dịch vụ thanh toán miễn phí của ngân hàng
Tài khoản tiền gửi thanh toán dùng cho cá nhân được ngân hàng trả lãi, nhưng lãi suất áp dụng cho loại tiền gửi này thường thấp hơn lãi suất tiền gửi
định kỳ.