1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

68 Thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ - Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tại Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

108 428 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ - Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tại Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
Trường học Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
Thể loại luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 786,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

68 Thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ - Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tại Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Trang 1

MỤC LỤC

[—\

Trang

TRANG BÌA PHỤ

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG

CHỨNG TỪ VÀ RỦI RO TRONG PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

1

1.1 Phương thức tín dụng chứng từ - phương thức thanh toán chủ

yếu được áp dụng hiện nay

1

1.1.2 Đặc trưng của phương thức tín dụng chứng từ 2

1.1.3 Các văn bản pháp lý quốc tế điều chỉnh phương thức TDCT 3

1.1.3.3 Mối quan hệ giữa các văn bản pháp lý quốc tế và pháp

luật Việt Nam

5

Trang 2

1.2.2 Phân loại rủi ro 7 1.3 Tín dụng chứng từ – một phương thức thanh toán quốc tế

tiềm ẩn nhiều rủi ro

8

1.3.1 Khái niệm rủi ro trong thanh toán quốc tế 8

1.3.3 Bài học kinh nghiệm từ những rủi ro trong thanh toán theo

phương thức TDCT của các NHTM trên thế giới

19

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG THANH

TOÁN THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NHNo & PTNT VIỆT NAM

PTNT Việt Nam trong thời gian qua

24

2.2 Thực trạng rủi ro trong thanh toán theo phương thức TDCT

tại NHNo & PTNT Việt Nam

30

Trang 3

2.2.2.1 Rủi ro khi NHNo là ngân hàng phát hành 35 2.2.2.2 Rủi ro khi NHNo là ngân hàng thông báo 46 2.2.2.3 Rủi ro khi NHNo là ngân hàng chiết khấu/thương lượng 50 2.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong thanh toán bằng L/C tại

NHNo & PTNT Việt Nam

52

2.3.1.1 Nguyên nhân từ phía khách hàng của NHNo 52 2.3.1.2 Nguyên nhân từ thực trạng nền kinh tế 53

2.3.2.1 Trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng còn thấp 54

2.3.2.3 Trình độ công nghệ ngân hàng còn thấp 55 2.3.2.4 Vướng mắc trong quy trình nghiệp vụ thanh toán L/C 55 2.3.2.5 Trình độ vận dụng UCP của NHNo còn thấp 56

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO

TRONG THANH TOÁN THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NHNo & PTNT VIỆT NAM

58

3.1 Định hướng phát triển hoạt động thanh toán quốc tế của

NHNo & PTNT Việt Nam

58

3.1.1 Xu hướng phát triển của việc sử dụng phương thức thanh toán

tín dụng chứng từ

58

3.1.1.1 Phương thức tín dụng chứng từ vẫn là phương thức thanh

toán quan trọng trong thương mạiquốc tế tại Việt Nam

58

3.1.1.2 Các ngân hàng thương mại Việt Nam đa dạng hóa phương

thức tín dụng chứng từ đáp ứng yêu cầu hội nhập

59

Trang 4

3.1.2 Định hướng phát triển hoạt động TTQT tại NHNo đến 2010 60

3.1.2.1 Chiến lược phát triển của NHNo & PTNT VN đến 2010 60

3.1.2.2 Định hướng phát triển hoạt động thanh toán quốc tế theo

phương thức tín dụng chứng từ tại NHNo & PTNT VN

3.2.1 Những giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong nội bộ

NHNo & PTNT Việt Nam

63

3.2.2.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 77

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Y Z

NHPH/TB/XN/CK/TL Ngân hàng phát hành/thông báo/xác nhận/

chiết khấu/thương lượng

SWIFT

The Society for Worldwide Interbank Financial Tele-communication (Tổ chức viễn thông tài chính quốc tế toàn cầu)

Credit (Quy tắc và thực hành thống nhất về TDCT)

Thương mại quốc tế) ISBP

International Standard Banking Practice for the Examination of Documents under Documentary Credit

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Y Z

Trang

- Biểu 2.1 : Doanh số thanh toán XNK của 4 NHTM nhà nước 25

- Biểu 2.2 : Doanh số thanh toán quốc tế của NHNo 2001-2005 26

- Bảng 2.3 : Tỷ trọng thanh toán quốc tế của NHNo 2001-2005 27

- Biểu 2.4 : Số lượng ngân hàng đại lý của NHNo 1996-2005 29

- Bảng 2.5 : Doanh số thanh toán quốc tế bằng L/C tại NHNo 2001-2005 31

- Bảng 3.1 : Các chỉ tiêu phát triển chủ yếu của NHNo đến 2010 60

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ

Y Z

Trang

Sơ đồ 1.1 : Quy trình thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ 10

Sơ đồ 1.2 : Các loại rủi ro trong thanh toán quốc tế bằng L/C 11

Sơ đồ 3.1 : Phân loại hạn mức tín dụng, chiết khấu cho khách hàng 70

Sơ đồ 3.2 : Hệ thống giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro PT TDCT76

Trang 7

DANH MỤC CÁC VÍ DỤ MINH HỌA

Y Z

Trang

- Ví dụ 4 : Về rủi ro kỹ thuật đối với ngân hàng phát hành 35

- Ví dụ 5 : Về rủi ro kỹ thuật đối với ngân hàng phát hành 36

- Ví dụ 6 : Về rủi ro kỹ thuật đối với ngân hàng phát hành 38

- Ví dụ 7 : Về rủi ro kỹ thuật đối với ngân hàng phát hành 39

- Ví dụ 8 : Về rủi ro kỹ thuật đối với ngân hàng phát hành 40

- Ví dụ 9 : Về rủi ro tín dụng đối với ngân hàng phát hành 43

- Ví dụ10: Về rủi ro đạo đức đối với ngân hàng phát hành 45

- Ví dụ11: Về rủi ro đạo đức đối với ngân hàng phát hành 45

- Ví dụ12: Về rủi ro kỹ thuật đối với ngân hàng thông báo 47

- Ví dụ13: Về rủi ro kỹ thuật đối với ngân hàng thông báo 48

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

[—\

1 Ý nghĩa và tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, thương mại quốc tế đã trở thành một bộ phận không thể thiếu đối với mỗi quốc gia Mở rộng thương mại không chỉ đơn thuần là tìm kiếm lợi nhuận, phát huy lợi thế so sánh mà còn là cách tốt nhất để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước, trong những năm gần đây, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam đã mở rộng quan hệ buôn bán với nhiều nước trên thế giới, trong đó có các nước công nghiệp phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản và các nước trong khối Liên minh châu Aâu – EU Mở rộng quan hệ buôn bán với các nước đồng nghĩa với việc phải chấp nhận các luật chơi chung, trong đó có việc phải tuân thủ các quy định chặt chẽ của các phương thức thanh toán trong thương mại quốc tế

Trong quá trình phát triển đó, thanh toán quốc tế là một dịch vụ ngày càng trở nên quan trọng đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam, nó là một mắt xích quan trọng thúc đẩy các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng phát triển; đồng thời nó còn hỗ trợ và thúc đẩy hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp phát triển Thanh toán quốc tế ra đời dựa trên nền tảng thương mại quốc tế, nhưng thương mại quốc tế có tồn tại và phát triển còn phụ thuộc vào khâu thanh toán có thông suốt, kịp thời, an toàn và chính xác được hay không

Trang 9

Vì vậy, trong nhiều năm qua các ngân hàng thương mại nói chung và NHNo & PTNT Việt Nam nói riêng đã không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế, đa dạng hóa các phương thức thanh toán như chuyển tiền, nhờ thu, tín dụng chứng từ, … Trong đó, phương thức thanh toán quốc tế bằng tín dụng chứng từ là một nghiệp vụ cơ bản, phục vụ đắc lực cho hoạt độâng kinh doanh xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp trong nền kinh tế Do phương thức thanh toán này có nhiều ưu việt nên nhu cầu sử dụng rất cao (chiếm khoảng 65%) và có xu hướng ngày càng phát triển, là nguồn thu tiềm năng của ngân hàng

Tuy nhiên, tín dụng chứng từ không phải là một nghiệp vụ đơn giản, nó đòi hỏi phải được đầu tư thích đáng về nghiệp vụ và công nghệ Thực tế cho thấy, tín dụng chứng từ vẫn còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, gây thiệt hại về tài chính và uy tín không chỉ cho các doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu mà cho cả ngân hàng

NHNo & PTNT Việt Nam là một trong những ngân hàng thương mại hàng đầu, với mạng lưới rộng lớn gần 2000 chi nhánh trên cả nước, đây là điều kiện tốt để giúp hoạt động thanh toán quốc tế phát triển Qua hơn 10 năm tham gia hoạt động thanh toán quốc tế, bên cạnh những thành quả, việc vận dụng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ cũng đã và đang gặp một số khó khăn, đặc biệt là vấn đề rủi ro – một vấn đề gây hậu quả nghiêm trọng cho ngân hàng không chỉ về tài sản, vật chất mà cả uy tín không chỉ ở phạm vi trong nước mà còn cả quốc tế Chính vì vậy, việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ là một việc làm cần thiết mà các ngân hàng thương mại nói chung và NHNo & PTNT Việt Nam nói riêng, cũng như các doanh nghiệp phải đặc biệt chú trọng và quan tâm

Trang 10

Xuất phát từ nhận thức đó, tôi muốn đi sâu vào nghiên cứu đề tài : “Thanh

toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ – Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tại NHNo & PTNT Việt Nam”, với mong muốn từ những thực tiễn phát

sinh và bài học kinh nghiệm để đưa ra một số giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán này, góp phần đưa tín dụng chứng từ thành phương thức thanh toán hoàn thiện và tin cậy nhất hiện nay

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu một số vấn đề cơ bản sau :

- Phân tích những quy định của các văn bản pháp lý liên quan trong phương thức tín dụng chứng từ, đặc biệt là những quy định trong UCP500, 1993 với những điều khoản dễ gây rủi ro cho các bên Từ đó, giúp các bên tham gia vào phương thức thanh toán này hiểu rõ tầm quan trọng của việc vận dụng UCP500 để phòng ngừa và hạn chế rủi ro xảy ra

- Hoạt động thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ tại NHNo & PTNT Việt Nam và những rủi ro phát sinh (2001 – 2005)

- Tổng hợp những loại rủi ro có thể xảy ra đối với các ngân hàng khi tham gia phương thức thanh toán theo tín dụng chứng từ khi là : Ngân hàng phát hành, ngân hàng thông báo, ngân hàng xác nhận, chiết khấu thư tín dụng, …

- Giới thiệu và phân tích một số bài học kinh nghiệm từ những rủi ro trong thực tiễn, tìm ra những hạn chế cũng như nguyên nhân phát sinh để từ đó có biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại NHNo & PTNT Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 11

Thanh toán quốc tế là một vấn đề rất rộng, tuy nhiên trong phạm vi đề tài này tập trung nghiên cứu về phương thức tín dụng chứng từ và những rủi ro phát sinh cũng như biện pháp hạn chế và phòng ngừa rủi ro đó

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian : rủi ro trong thanh toán bằng L/C trong hệ thống NHNo & PTNT Việt Nam Người viết đứng trên giác độ của ngân hàng nghiên cứu về rủi ro trong thanh toán quốc tế tại NHNo & PTNT Việt Nam

- Thời gian : các báo cáo hoạt động thanh toán quốc tế giai đoạn 2001 –

2005

4 Tính mới của luận văn

Mặc dù thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ không phải là vấn đề mới mẻ, đã có một số công trình nghiên cứu cũng như tác phẩm viết về vấn đề này, như:

- “Thanh toán quốc tế trong ngoại thương” của PGS.TS Đinh Xuân Trình

- “Hỏi đáp về thanh toán xuất nhập khẩu qua phương thức tín dụng chứng từ “ của GS.TS Võ Thanh Thu

- “Thanh toán quốc tế bằng L/C – Các tranh chấp thường phát sinh và cách giải quyết” của PGS.TS Nguyễn Thị Quy

- “Đánh giá và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh ngân hàng” của PGS.TS Nguyễn Văn Tiến

- Chuyên đề tốt nghiệp “Một số biện pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Ngoại thương Chi nhánh Khu chế xuất Tân Thuận” của Trần Thị Ngọc Diệp năm 2004

Tuy nhiên, để phục vụ cho hoạt động thương mại cũng như hoạt động thanh toán ngày càng trở nên phổ biến và phát triển thì việc nghiên cứu về

Trang 12

những mặt trái, những rủi ro khi áp dụng phương thức thanh toán này là việc vô cùng cần thiết, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay

Nhìn chung các công trình trên đã tập trung và nghiên cứu những khía cạnh của hoạt động thanh toán quốc tế nói chung cũng như phương thức tín dụng chứng từ nói riêng nhưng chưa đi sâu vào nghiên cứu rủi ro trong thanh toán quốc tế bằng phương thức L/C, đặc biệt là với một ngân hàng thương mại hàng đầu ở Việt Nam

Hơn nữa, trong bối cảnh bản sửa đổi UCP600 đã được Uỷ ban thương mại ngân hàng – Phòng Thương mại quốc tế (ICC) thông qua vào ngày 25/10/2006, và chính thức có hiệu lực từ 01/07/2007 với những sửa đổi bổ sung so với UCP500 thì việc phân tích những điểm mới cơ bản của UCP600 đặc biệt về khía cạnh ngăn ngừa rủi ro là một việc làm vô cùng cần thiết

Trên cơ sở tiếp thu và kế thừa những tinh hoa của các công trình trên, điểm mới của luận văn này là nghiên cứu một mảng của rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế – đó chính là rủi ro trong phương thức TDCT tại một ngân hàng thương mại nhà nước, hàng đầu của VN – Ngân hàng No & PTNT Hơn nữa, có lẽ đây là lần đầu tiên một luận văn nghiên cứu về Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ bản sửa đổi năm 2007, số xuất bản 600 – UCP600, tuy chưa đầy đủ nhưng cũng đánh dấu sự tìm tòi nghiên cứu của người viết, đặc biệt trong vấn đề phòng ngừa rủi ro

5 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp được sử dụng kết hợp trong đề tài : điều tra, phân tích thực tế, thống kê, tổng hợp, so sánh dựa trên cơ sở số liệu thống kê của NHNo và PTNT Việt Nam

Bên cạnh đó, tôi nghiên cứu những kinh nghiệm từ những tình huống đã phát sinh trên thực tế ở một số ngân hàng bạn trong nước, cũng như nước ngoài để từ đó rút ra được bài học cần thiết, vận dụng trong công việc

Trang 13

6 Nội dung nghiên cứu

Chương 1 : Những lý luận về phương thức tín dụng chứng từ và rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ

Chương này nêu ra nhưng vấn đề lý luận cơ bản về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ và những rủi ro trong phương thức đó Đây chính là

cơ sở lý luận nền tảng cho việc đi sâu phân tích những rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ ở chương tiếp theo

Chương 2 : Thực trạng rủi ro trong thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ tại NHNo & PTNT Việt Nam

- Giới thiệu về hoạt động thanh toán quốc tế của NHNo nói chung cũng như vị trí của phương thức tín dụng chứng từ

- Phân tích đi sâu vào những rủi ro và kết hợp với những ví dụ minh họa thực tế đã xảy ra tại NHNo trong thời gian 2001 -2005 để từ đó rút ra những bài học, nguyên nhân và hạn chế, làm tiền đề cho các giải pháp và kiến nghị ở chương tiếp theo

Chương 3 : Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại NHNo & PTNT Việt Nam

- Nêu ra những định hướng phát triển hoạt động thanh toán theo tín dụng chứng từ cũng như định hướng phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại NHNo & PTNT Việt Nam đến 2010

- Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện phương thức tín dụng chứng từ cũng như phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong phương thức này tại NHNo

Trang 14

CHƯƠNG1:

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG CHỨNG TỪ VÀ RỦI RO TRONG PHƯƠNG THỨC

THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

1.1 PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ - PHƯƠNG THỨC THANH

TOÁN CHỦ YẾU ĐƯỢC ÁP DỤNG HIỆN NAY

1.1.1 Khái niệm phương thức tín dụng chứng từ

Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận, trong đó một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng), theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu mở thư tín dụng), sẽ mở một thư tín dụng cho người hưởng lợi do khách hàng chỉ định trong đó cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho người đó (người hưởng lợi của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó, khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng (Letter of Credit – L/C)

Theo Điều 2 - UCP600, 2007 – “ Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ” của Phòng Thương mại quốc tế, trong phương thức tín dụng chứng từ có 4 bên tham gia chính :

- Người yêu cầu mở thư tín dụng (Applicant) : là người mua, người nhập khẩu hàng hóa

- Người hưởng lợi thư tín dụng (Beneficiary) : là người bán, người xuất khẩu

Trang 15

- Ngân hàng mở hay ngân hàng phát hành thư tín dụng (Issuing bank , Opening bank) : là ngân hàng theo yêu cầu của người xin mở hoặc nhân danh chính mình phát hành thư tín dụng

- Ngân hàng thông báo (Advising bank) : là ngân hàng thông báo thư tín dụng theo yêu cầu của ngân hàng phát hành

Ngoài các thành phần chủ yếu trên, trong phương thức tín dụng chứng từ còn có thể có sự tham gia của:

- Ngân hàng xác nhận (Confirming bank) : là ngân hàng theo yêu cầu hoặc uỷ quyền của ngân hàng phát hành thêm sự xác nhận của mình đối với thư tín dụng

- Ngân hàng chỉ định (Nominated bank) : là ngân hàng thương lượng, chiết khấu bộ chứng từ, trong trường hợp thư tín dụng cho phép

Trong thực tiễn, khi người nhập khẩu và người xuất khẩu lựa chọn phương thức thanh toán tín dụng chứng từ cho hợp đồng của mình, họ thường gọi đó là

“thanh toán bằng thư tín dụng” Lý do vì, trong ngoại thương, tín dụng chứng từ là loại tín dụng do ngân hàng mở cho người nhập khẩu, được đảm bảo bằng các chứng từ gửi hàng của người xuất khẩu Còn thư tín dụng là văn bản thể hiện loại tín dụng đó và là sự cam kết trực tiếp của ngân hàng với người xuất khẩu

1.1.2 Đặc trưng của phương thức tín dụng chứng từ

- Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ liên quan đến hai quan hệ hợp đồng độc lập Đó là quan hệ giữa người mở thư tín dụng với NHPH và quan hệ giữa NHPH với người xuất khẩu

- Trong phương thức tín dụng chứng từ có hai nguyên tắc cơ bản :

Trang 16

+ Độc lập : Thư tín dụng được mở trên cơ sở hợp đồng mua bán, nhưng

sau khi đã mở rồi, thư tín dụng lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng mua bán hay bất cứ một hợp đồng nào khác làm cơ sở cho thư tín dụng, thậm chí ngay cả khi thư tín dụng có dẫn chiếu đến các hợp đồng đó

+ Tuân thủ nghiêm ngặt : Ngân hàng chỉ thanh toán nếu các chứng từ giao

hàng hoàn toàn phù hợp với thư tín dụng, đúng với các chỉ dẫn của người mua Theo nguyên tắc này, ngân hàng sẽ kiểm tra toàn bộ chứng từ người bán xuất trình hết sức kỹ lưỡng, nếu thanh toán không đúng – ngân hàng sẽ phải chịu trách nhiệm

- Trong phương thức tín dụng chứng từ, các bên giao dịch chỉ căn cứ vào chứng từ chứ không căn cứ vào hàng hóa

- Phương thức tín dụng chứng từ đảm bảo một cách tương đối quyền lợi của người bán và người mua trong hoạt động ngoại thương

Chính vì vậy, phương thức thanh toán này được sử dụng với phạm vi rộng, giúp các doanh nghiệp ở các nước khác nhau có thể tham gia giao dịch, trao đổi mua bán hàng hóa

1.1.3 Văn bản pháp lý quốc tế điều chỉnh phương thức tín dụng chứng từ

1.1.3.1 UCP

Phương thức tín dụng chứng từ được thực hiện theo bản Quy tắc và thực hành thống nhất tín dụng chứng từ (Uniform Customs and Practice for Documentary Credit – UCP) Đây là một văn bản pháp lý quốc tế và không mang tính chất bắt buộc các bên phải áp dụng

Ra đời từ năm 1933 đến nay, UCP đã qua 5 lần sửa đổi, bổ sung và lần gần đây nhất là tháng 10/1993, có hiệu lực từ ngày 01/01/1994 (bản sửa đổi

Trang 17

1993, số xuất bản 500, UCP500) Tuy nhiên, các văn bản ra đời sau không huỷ bỏ các văn bản trước đó nên tất cả các văn bản đều có giá trị pháp lý như nhau UCP500 chỉ áp dụng trong hoạt động thanh toán quốc tế, không áp dụng trong thanh toán nội địa

Hiện nay, sau ba năm soạn thảo và chỉnh lý, ngày 25/10/2006 Uỷ ban Ngân hàng của Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) đã thông qua Bản quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ mới (UCP600) thay thế cho bản UCP500 UCP600 sẽ có hiệu lực từ ngày 01/07/2007

UCP600 có một số thay đổi cơ bản so với UCP500 như sau:

- Thứ nhất, UCP600 đã bổ sung nhiều định nghĩa và giải thích thuật ngữ mới để làm rõ nghĩa các thuật ngữ còn gây tranh cãi, tinh giản các điều khoản so với UCP500

- Thứ hai, thuật ngữ “thời gian hợp lý” (reasonable time) cho việc từ chối hoặc chấp nhận các tài liệu đã được thay thế bằng khoảng thời gian cố định là

“05 ngày làm việc ngân hàng”

- Thứ ba, UCP600 bổ sung thêm các quy định mới cho phép chiết khấu thư tín dụng trả chậm

- Thứ tư, theo UCP600, các ngân hàng có thể chấp nhận tài liệu bảo hiểm có các nội dung dẫn chiếu đến các điều khoản miễn trừ (exclusion clause)

1.1.3.2 Các văn bản pháp lý quốc tế khác điều chỉnh phương thức tín dụng

chứng từ

1.1.3.2.1 ISBP645

ISBP - International Standard Banking Practice (Tập quán ngân hàng theo tiêu chuẩn quốc tế áp dụng cho việc kiểm tra chứng từ trong phương thức

Trang 18

tín dụng chứng từ) được Phòng Thương mại quốc tế phát hành tháng 01/2003, là tài liệu bổ sung mang tính thực tiễn cho UCP500 ISBP không sửa đổi UCP, giải thích chi tiết rõ ràng làm thế nào những quy tắc này được áp dụng trong giao dịch hàng ngày

Thông qua việc sử dụng ISBP, những người làm việc kiểm tra chứng từ có thể thực hành công việc cho phù hợp với các tập quán mà các đồng nghiệp của họ đang sử dụng trên thế giới Do vậy, ISBP ra đời góp phần làm giảm đáng kể số lượng chứng từ bị từ chối thanh toán do có lỗi chứng từ khi xuất trình lần đầu tiên

1.1.3.2.2 eUCP500

Là phụ lục của UCP về xuất trình chứng từ điện tử, giúp cho phương thức tín dụng chứng từ được sử dụng phù hợp với thời đại điện tử Với vai trò đó, eUCP không thay thế UCP, được soạn thảo để sử dụng cùng với UCP

1.1.3.2.3 ISP98

ISP98 – International Standby Practices (Quy tắc thực hành tín dụng dự phòng quốc tế) được Phòng Thương mại quốc tế ban hành, cung cấp các quy tắc về thực hành nghiệp vụ ngân hàng tiêu chuẩn đối với thư tín dụng và các cam kết độc lập có liên quan như thư tín dụng dự phòng ISP98 là một sản phẩm mang tính cách mạng về việc áp dụng UCP đối với thư tín dụng dự phòng Tuy nhiên, thư tín dụng dự phòng vẫn có thể được phát hành theo UCP nếu các bên quyết định như vậy

1.1.3.3 Mối quan hệ giữa các văn bản pháp lý quốc tế và pháp luật Việt Nam

Hiện nay, Việt Nam cũng như nhiều nước khác chưa có luật riêng trực tiếp điều chỉnh hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ Tuy nhiên, đối với

Trang 19

trường hợp không có luật quốc gia điều chỉnh, pháp luật Việt Nam cho phép các bên tham gia được áp dụng tập quán quốc tế, thậm chí là luật nước ngoài

- Bộ luật Dân sự 33/2005/QH11 ngày 14/06/2005

- Luật Thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14/06/2005

- Luật các Tổ chức tín dụng

- Luật các công cụ chuyển nhượng 49/2005/QH11 ngày 29/11/2005

- Pháp lệnh ngoại hối 28/2005/PL-UBTVQH11 ngày 13/12/2005

- Nghị định 63/1998/NĐ-CP ngày 17/08/1998 về quản lý ngoại hối

- Nghị định 64/2001/NĐ-CP ngày 20/09/2001 trực tiếp điều chỉnh về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán

Các điều luật trên cùng thể hiện một điểm quan trọng là chỉ áp dụng tập quán quốc tế với điều kiện nó không trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam hoặc không bị pháp luật Việt Nam cấm Điều này có nghĩa là nếu xảy ra xung đột pháp luật khi áp dụng tập quán quốc tế thì luật Việt Nam sẽ chiếm ưu thế và được áp dụng Như vậy, các bên tham gia hoạt động thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ được phép thỏa thuận áp dụng UCP với tư cách là tập quán thương mại quốc tế Tuy nhiên, nếu luật Việt Nam có sự khác biệt với UCP thì luật Việt Nam sẽ chiếm ưu thế và phải được tuân thủ

1.2 KHÁI NIỆM RỦI RO

1.2.1 Rủi ro là gì?

Có khá nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro :

- Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được

Trang 20

- Rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố

không mong đợi

- Rủi ro là sự cố ngẫu nhiên bất ngờ, là những mối đe dọa nguy hiểm khi

xảy ra gây tổn thất, thiệt hại cho đối tượng

Nói chung, rủi ro là những sự kiện bất ngờ không mong đợi khi xảy ra gây

tổn thất cho con người Rủi ro luôn tiềm ẩn song hành với hoạt động của cuộc

sống có thể xảy ra bất cứ lúc nào Nó luôn vận động, luôn biến đổi theo môi

trường tự nhiên, kinh tế, chính trị xã hội, khả năng làm chủ tự nhiên, xã hội và tư

duy của con người Trong hoạt động kinh doanh, rủi ro là một hoàn cảnh trong

đó có thể xảy ra một sự sai lệch, trái nghịch với kết quả mong muốn, gây mất

mát về tài sản và thua lỗ trong hoạt động kinh doanh

1.2.2 Phân loại rủi ro

a) Theo khả năng tính toán xác suất của rủi ro như rủi ro có thể tính toán

được vàrủi ro không thể tính toán được

b) Theo phạm vi tác động như rủi ro cơ bản (rủi ro chung) và rủi ro riêng biệt

c) Theo nguyên nhân gây ra rủi ro như hỏa hoạn, trộm cắp, lừa đảo, …

d) Theo tác động của môi trường gây ra rủi ro như rủi ro kinh tế, rủi ro về

mặt pháp lý, rủi ro từ môi trường cạnh tranh trong và ngoài nước, …

e) Theo hoạt động bảo hiểm bao gồm : rủi ro được bảo hiểm và rủi ro không

được bảo hiểm

f) Theo nguồn gốc của tổn thất, mất mát gồm có : các rủi ro về thị trường, tài

sản hoặc về nhân viên, khách hàng, …

Trang 21

g) Theo hoàn cảnh tác động bao gồm : rủi ro có nguồn gốc từ nguyên nhân

khách quan và rủi ro bắt nguồn từ những nguyên nhân chủ quan

Sự phân chia các loại rủi ro trên đây chỉ có tính chất tương đối Trên thực tế, các loại rủi ro có thể chuyển hóa cho nhau, nên cần nghiên cứu tỉ mỉ, phân biệt đúng đắn bản chất của các loại rủi ro để đề ra giải pháp phòng ngừa thích hợp

1.3 TÍN DỤNG CHỨNG TỪ - MỘT PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN

QUỐC TẾ TIỀM ẨN NHIỀU RỦI RO

1.3.1 Khái niệm rủi ro trong thanh toán quốc tế

Thông qua việc xem xét các quan điểm về rủi ro cũng như xuất phát từ thực tiễn hoạt động thanh toán quốc tế, có thể đưa định nghĩa về rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế như sau : “Rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế là những biến cố không mong đợi, có thể xảy ra trong hoạt động thanh toán, gây thiệt hại cho các bên có liên quan”

Từ khái niệm trên, ta có thể rút ra một số đặc điểm :

- Rủi ro trong thanh toán quốc tế mang tính khách quan, tồn tại độc lập với ý chí của các bên tham gia vào hoạt động thanh toán

- Rủi ro hoạt động thanh toán mang tính bất định Điều đó có nghĩa là có thể lường trước được rủi ro nhưng không thể xác định một cách chính xác khi nào rủi ro xảy ra và mức độ như thế nào

- Rủi ro trong hoạt động thanh toán mang tính lịch sử Với mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, rủi ro lại có những đặc điểm rất riêng biệt Nó luôn thay đổi, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của hoạt động thương mại

Trang 22

1.3.2 Các loại rủi ro trong thanh toán L/C

1.3.2.1 Quy trình thanh toán tín dụng chứng từ

Quy trình thanh toán bằng phương thức L/C bao gồm 9 bước cơ bản :

Bước 1 : Nhà nhập khẩu và xuất khẩu ký kết hợp đồng mua bán ngoại

thương

Bước 2 : Nhà nhập khẩu viết đơn đề nghị mở L/C tới ngân hàng phục vụ

mình (ngân hàng phát hành)

Bước 3 : Căn cứ vào đơn yêu cầu mở L/C và các chứng từ liên quan, nếu

đồng ý ngân hàng phát hành trích tài khoản mở L/C sau đó viết thư thông báo cho tổ chức xuất khẩu thông qua ngân hàng thông báo

Bước 4 : Ngân hàng thông báo khi nhận được thư tín dụng tiến hành kiểm

tra rồi chuyển đến cho nhà xuất khẩu Nhà xuất khẩu khi nhận được L/C do ngân hàng thông báo gửi tới thì tiến hành kiểm tra, đối chiếu với hợp đồng mua bán ngoại thương, nếu không đồng ý thì đề nghị bên nhập khẩu sửa đổi hoặc bổ sung cho đến khi hoàn chỉnh

Bước 5 : Giao hàng

Bước 6 : Sau khi giao hàng, nhà xuất khẩu lập bộ chứng từ thanh toán

theo đúng các điều khoản trong L/C chuyển đến ngân hàng phía mình (ngân hàng thông báo)

Bước 7 : Ngân hàng thông báo khi nhận được bộ chứng từ tiến hành kiểm

tra bộ chứng từ đã đầy đủ chưa, có gì sai sót, bất hợp lệ hay không Nếu không thì chuyển cho ngân hàng phát hành L/C

Bước 9 : Ngân hàng phát hành thanh toán cho ngân hàng thông báo

Trang 23

Sô ñoă 1.1 : Quy trình thanh toaùn tín dúng chöùng töø

Trong phöông thöùc thanh toaùn L/C, ngađn haøng khođng chư laø ngöôøi trung gian thu hoô, chi hoô maø coøn ñái dieôn cho beđn nhaôp khaơu thanh toaùn cho beđn xuaât khaơu, bạo ñạm cho beđn xuaât khaơu thu ñöôïc khoạn tieăn töông öùng vôùi haøng hoùa maø hó cung caâp

Ngađn haøng phaùt haønh Ngađn haøng thođng baùo/chieât khaâu

Chöùng töø

1-Hôïp ñoăng 5-Giao haøng

9-Thanh toaùn

7-Chöùng töø 3-Phaùt haønh 2-

4- Thođng Baùo L/C

6- Boôû chöùngtöø

9- Thanhtoaùn

1.3.2.2 Caùc loái rụi ro trong thanh toaùn L/C

Coù nhieău caùch phađn chia rụi ro, nhöng neâu caín cöù vaøo nguyeđn goâc cụa rụi

ro thì coù theơ phađn loái caùc rụi ro phoơ bieân nhö sau :

Trang 24

Sơ đồ 1.2 : Các loại rủi ro trong thanh toán quốc tế bằng L/C

RỦI RO THANH TOÁN

Rủi ro hối đoái

Rủi ro ngân hàng đại lý

Rủi ro chính trị, pháp luật

Rủi ro đạo đức

1.3.2.2.1 Rủi ro kỹ thuật (tác nghiệp)

Rủi ro kỹ thuật là những rủi ro do sai sót mang tính kỹ thuật trong quy trình thanh toán thư tín dụng, như sai khác giữa bộ chứng từ thanh toán với thư tín dụng hoặc với hợp đồng, hay việc các bên tham gia không thực hiện đúng một khâu nào đó trong quy trình nghiệp vụ thanh toán dẫn đến sự từ chối thanh toán hay từ chối nhận hàng của phía bên kia

Trong phương thức tín dụng chứng từ, mỗi ngân hàng liên quan có những trách nhiệm nhất định và do vậy cũng có thể gặp những rủi ro nhất định

* Đối với ngân hàng phát hành L/C (NHPH) : Nội dung của L/C về cơ bản

là do nhà nhập khẩu đưa ra trong yêu cầu mở L/C của mình và đó cũng chính là những yêu cầu của nhà nhập khẩu đối với nhà xuất khẩu trong hợp đồng đã được cụ thể hóa thành yêu cầu của NHPH đối với nhà xuất khẩu và nó ràng buộc trách nhiệm trả tiền của NHPH Do vậy, khi NHPH chuyển tải không hết hoặc không chính xác nội dung trên đơn yêu cầu mở L/C của nhà nhập khẩu vào L/C,

Trang 25

nếu đó chính là vấn đề xảy ra tranh chấp, thì NHPH phải chịu rủi ro khi nhà nhập khẩu từ chối nhận chứng từ và thanh toán cho ngân hàng

Khi người thụ hưởng xuất trình bộ chứng từ tới NHPH, NHPH có trách nhiệm kiểm tra bộ chứng từ để quyết định trả tiền nếu bộ chứng từ hoàn hảo hay từ chối nếu bộ chứng từ có bất đồng Đây là quy trình rất quan trọng đối với NHPH, tuy nhiên cũng là nguồn gốc của phần lớn các rủi ro mà chủ yếu là do không tuân thủ đúng quy trình nghiệp vụ, như :

+ Vì mối quan hệ với khách hàng, NHPH cố tình vi phạm bắt những lỗi không quan trọng để từ chối thanh toán nhưng sự từ chối này không được NHCK công nhận

+ Việc tiến hành kiểm tra, bắt lỗi bộ chứng từ vượt quá thời hạn cho phép là 5 ngày làm việc của ngân hàng đối với UCP600 (hay 07 ngày đối với UCP500) Khi đó ngân hàng sẽ mất đi quyền từ chối trả tiền trong khi nhà nhập khẩu lại không đồng ý thanh toán do bộ chứng từ có sai sót

+ Đã chuyển bộ chứng từ cho người mở, hoặc làm mất không trả lại chứng từ cho người xuất trình

* Đối với ngân hàng thông báo (NHTB) : Khi nhận được L/C chuyển đến

từ NHPH, NHTB có trách nhiệm kiểm tra tính chân thật bề ngoài của L/C (kiểm tra chữ ký uỷ quyền nếu phát hành bằng thư, bằng mã khóa “test key” nếu phát hành bằng telex, hoặc bằng các mẫu điện đảm bảo tính xác thực nếu phát hành bằng SWIFT) trước khi thông báo cho người thụ hưởng theo chỉ dẫn của NHPH

Nếu ngân hàng đã sử dụng các giải pháp nghiệp vụ nhưng không thể xác định được tính chân thật bề ngoài của L/C thì phải có ý kiến phản hồi cho NHPH không chậm trễ và từ chối thông báo cho người thụ hưởng Nếu NHTB không

Trang 26

kiểm tra tính xác thực của L/C đã thông báo cho nhà xuất khẩu để nhà xuất khẩu giao hàng nhưng không đòi được tiền do L/C bị giả mạo, nhà xuất khẩu có quyền yêu cầu NHTB phải bồi thường Rủi ro của NHTB lúc này không chỉ cho chính lô hàng bị mất mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới uy tín của ngân hàng

* Đối với ngân hàng chiết khấu/thương lượng : NHCK/TL là ngân hàng

phục vụ người thụ hưởng, có trách nhiệm chiết khấu hoặc thương lượng bộ chứng từ do nhà xuất khẩu xuất trình

NHCK khi quyết định chiết khấu bộ chứng từ phải kiểm tra chứng từ một cách cẩn thận để đảm bảo rằng bộ chứng từ hoàn toàn phù hợp và NHPH không thể từ chối thanh toán Việc chiết khấu một bộ chứng từ không hoàn hảo là rất rủi ro đối với NHCK vì họ có thể bị từ chối hoàn trả tiền từ NHPH trong khi đã thanh toán cho người thụ hưởng Cho dù là chiết khấu có truy đòi thì việc đòi lại tiền từ người thụ hưởng cũng rất khó khăn và ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của ngân hàng

NHTL không phải ứng trước tiền cho người thụ hưởng nhưng việc ngân hàng không phát hiện ra bất đồng của chứng từ và thông báo cho người thụ hưởng chỉnh sửa kịp thời khiến bộ chứng từ bị từ chối thanh toán cũng làm ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng

* Đối với ngân hàng xác nhận (NHXN) : NHXN có trách nhiệm kiểm tra

và định đoạt tình trạng bộ chứng từ do khách hàng xuất trình, nếu chứng từ phù hợp thì tiến hành thanh toán cho người thụ hưởng và đòi bồi hoàn từ NHPH NHXN sẽ gặp rủi ro nếu không phát hiện ra bộ chứng từ có bất đồng vì đã thanh toán cho người thụ hưởng nhưng không đòi bồi hoàn được từ NHPH Việc NHXN trả tiền cho người thụ hưởng là miễn truy đòi, do vậy việc xác nhận L/C cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro

Trang 27

Hơn nữa, NHXN khi tham gia xác nhận là đã tự ràng buộc trách nhiệm của mình vào nghĩa vụ thanh toán L/C khi có tranh chấp xảy ra Rủi ro đối với NHXN còn xảy ra khi không nắm vững được năng lực tài chính của NHPH, khi có tranh chấp sẽ phải chịu trách nhiệm thanh toán thay, do NHPH thiếu thiện chí hoặc mất khả năng thanh toán, thậm chí bị phá sản

Qua phân tích cho thấy, những rủi ro kỹ thuật xảy ra tại các ngân hàng phần lớn là do trình độ của cán bộ tác nghiệp Hậu quả của rủi ro tác nghiệp rất nghiêm trọng, ảnh hưởng đến uy tín và tài sản của ngân hàng

1.3.2.2.2 Rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng là những rủi ro phát sinh do việc cấp tín dụng cho các bên liên quan nhưng không có khả năng hoàn trả Rủi ro tín dụng liên quan trực tiếp đến tình hình tài chính, khả năng thanh toán của các bên Trong phạm vi của bản luận văn này chỉ xem xét đến các khoản tín dụng được cấp thông qua nghiệp vụ thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ

- Đối với NHPH : Khi phát hành L/C, NHPH đã thực hiện việc cấp tín

dụng cho nhà nhập khẩu vì thông thường L/C được phát hành với mức ký quỹ dưới 100% Nhà nhập khẩu chưa phải trả tiền nhưng đã được nhà xuất khẩu giao hàng vì tin tưởng vào cam kết của NHPH Rủi ro tín dụng đối với NHPH xảy ra khi nhà nhập khẩu mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản NHPH phải thực hiện thanh toán cho người thụ hưởng theo quy định của L/C nhưng không có khả năng đòi hoàn trả từ nhà nhập khẩu

- Đối với NHCK : khi thực hiện chiết khấu miễn truy đòi bộ chứng từ xuất

khẩu, NHCK đã thực hiện việc mua lại quyền đòi tiền của nhà xuất khẩu từ

Trang 28

NHPH L/C Nếu NHPH mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản thì rủi ro tín dụng thuộc về NHCK

- Đối với NHXN : Khi thực hiện việc xác nhận L/C nhưng không yêu cầu

NHPH ký quỹ 100% trị giá L/C, NHXN có thể phải đối mặt với rủi ro tín dụng khi NHPH mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản

1.3.2.2.3 Rủi ro hối đoái

Trong hoạt động thanh toán quốc tế, nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu thường ở hai nước khác nhau nên loại tiền tệ sử dụng trong hoạt động thanh toán quốc tế là ngoại tệ đối với ít nhất một bên Khi đó sẽ xuất hiện tỷ giá hối đoái quy đổi giữa đồng ngoại tệ và đồng nội tệ Trong cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi, tỷ giá hối đoái với tư cách là giá cả của một loại hàng hóa đặc biệt luôn biến động không ngừng do nhiều nhân tố tác động, gây ra những rủi ro tỷ giá hối đoái cho các ngân hàng và các khách hàng tham gia

Tỷ giá hối đoái phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác nhau mà các nhân tố này thường xuyên thay đổi kéo theo sự biến động không ngừng của tỷ giá hối đoái Cho dù chỉ với một sự thay đổi nhỏ trong tỷ giá hối đoái nhưng khối lượng ngoại hối lớn thì cũng sẽ dẫn đến rủi ro rất lớn Vì vậy các ngân hàng phải luôn tìm cách cân bằng trạng thái hối đoái để hạn chế bớt thiệt hại của rủi ro này

Bên cạnh những rủi ro tỷ giá, các ngân hàng còn có thể gặp rủi ro lãi suất Rủi ro lãi suất hay còn gọi là rủi ro tỷ lệ SWAP thường xảy ra trong trạng thái kỳ hạn Nếu trạng thái kỳ hạn không cân bằng có thể gặp rủi ro lãi suất Ngay cả trong trường hợp trạng thái ròng cân bằng cũng có thể gặp rủi ro lãi suất nếu như thời điểm đáo hạn của các hợp đồng mua và bán không khớp nhau Sở dĩ như vậy là vì rủi ro đối với trạng thái kỳ hạn nằm ở lãi suất của các loại

Trang 29

ngoại tệ có mặt trong giao dịch mua bán ngoại tệ đó Nếu trước thời điểm đáo hạn của giao dịch có sự biến động về lãi suất của một trong hai đồng tiền giao dịch nằm ngoài mong muốn thì sẽ xuất hiện rủi ro lãi suất

Như vậy rủi ro hối đoái, cho dù là rủi ro tỷ giá hay rủi ro lãi suất, đều có khả năng ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng cung cấp ngoại tệ của ngân hàng, đặc biệt là trong tình hình thị trường ngoại hối biến động mạnh mẽ như hiện nay

1.3.2.2.4 Rủi ro ngân hàng đại lý

Khi triển khai hoạt động thanh toán quốc tế, các ngân hàng đều coi nhiệm vụ phát triển quan hệ đại lý ra nước ngoài là một nhiệm vụ mang tính quyết định cho việc mở cửa hoạt động của ngân hàng Việc thiết lập và phát triển rộng rãi hệ thống ngân hàng đại lý tạo lòng tin lẫn nhau, giúp cho các ngân hàng thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế được thuận tiện, nhanh chóng, giảm chi phí trung gian

Đứng trên góc độ một ngân hàng A, những tài khoản mà ngân hàng đó mở tại một ngân hàng khác được gọi là tài khoản Nostro Ngược lại, những tài khoản mà ngân hàng khác mở tại ngân hàng A được gọi là tài khoản Vostro Mỗi ngân hàng khi tham gia hoạt động thanh toán quốc tế đều chọn cho mình một số ngân hàng trung gian có uy tín để đảm bảo an toàn trong thanh toán Nếu ngân hàng giữ tài khoản Nostro bị phá sản, đóng cửa sẽ là một rủi ro vô cùng nghiêm trọng đối với hoạt động của ngân hàng, thậm chí có thể dẫn đến phá sản theo Do vậy, để phân tán rủi ro, các ngân hàng không nên duy trì một tài khoản Nostro duy nhất đối với mỗi loại ngoại tệ giao dịch chính Hơn nữa, quan hệ đại lý thông qua việc các ngân hàng thiết lập quan hệ SWIFT, Testkey, trao đổi chữ

Trang 30

ký uỷ quyền,… là một kênh cung cấp thông tin về khách hàng, góp phần hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán theo tín dụng chứng từ

1.3.2.2.5 Rủi ro chính trị, pháp lý,

Tham gia vào nhiều lĩnh vực, ngành nghề, có quan hệ với nhiều đối tượng kinh tế của nhiều quốc gia, thanh toán quốc tế chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của môi trường kinh tế, chính trị, xã hội của các quốc gia Khi một quốc gia thay đổi các chính sách về dự trữ ngoại hối, chính sách quản lý hoạt động xuất nhập khẩu, thuế xuất nhập khẩu, tỷ giá, lãi suất, … sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động thanh toán quốc tế của các bên liên quan Trong thực tế, những thay đổi này thường khiến các ngân hàng, nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu không thể thực hiện cam kết của mình, làm cho quá trình thanh toán bị ngưng trệ, thậm chí huỷ bỏ gây thiệt hại cho các bên liên quan

Rủi ro chính trị còn liên quan đến những lệnh cấm vận của các nước đặc biệt là lệnh cấm vận của Mỹ đối với một số nước và tổ chức Nếu thực hiện thanh toán quốc tế cho những nước nằm trong danh sách cấm vận của Mỹ bằng đồng đôla qua các ngân hàng tại Mỹ, khoản tiền thanh toán đó lập tức bị phong toả Ngân hàng thực hiện thanh toán bị mất tiền trong khi người thụ hưởng vẫn chưa nhận được khoản tiền mà họ được hưởng

1.3.2.2.6 Rủi ro đạo đức

Là những rủi ro khi một bên tham gia cố tình không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên liên quan Trong thương mại quốc tế, các bên đối tác thường ở cách xa nhau, thậm chí không hề gặp nhau trong quá trình mua bán nên rất khó nắm rõ những thông tin về uy tín, đạo đức kinh doanh, năng lực tài chính của đối tác Trong điều kiện như vậy, các rủi ro đạo đức rất dễ xảy ra gây hậu quả nghiêm trọng đối với cả khách hàng lẫn ngân

Trang 31

hàng Đặc biệt, trong phương thức tín dụng chứng từ, các hành vi đạo đức của bất kỳ một đối tác nào đều ảnh hưởng nhiều đến các ngân hàng tham gia

- Rủi ro đạo đức của nhà xuất khẩu : NHPH chỉ có khả năng và trách

nhiệm kiểm tra tính phù hợp của chứng từ xét trên bề mặt, mà không thể thẩm định tính xác thực của chứng từ, càng không thể kiểm tra được tình trạng của lô hàng nhập khẩu Nếu nhà xuất khẩu cố tình giao hàng hóa không phù hợp với quy định của L/C để đòi tiền, NHPH theo cam kết phải trả tiền cho nhà xuất khẩu trong khi nhà nhập khẩu không được nhận hàng theo đúng hợp đồng Nhà nhập khẩu là người gánh chịu rủi ro cuối cùng song nếu NHPH là người cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu thì rủi ro của nhà nhập khẩu cũng là rủi ro của ngân hàng

- Rủi ro đạo đức của nhà nhập khẩu : Hầu hết các trường hợp L/C đều

được phát hành với mức ký quỹ nhỏ hơn 100% Do vậy, khi NHPH thông báo cho nhà nhập khẩu nộp tiền vào để thanh toán, nếu nhà nhập khẩu vì những lý

do cá nhận cố tình không thanh toán thì NHPH bị rủi ro phải thanh toán thay

- Rủi ro đạo đức của NHPH : NHPH cũng có thể thông đồng với nhà nhập

khẩu cố tình tìm kiếm những bất đồng của bộ chứng từ để từ chối thanh toán cho nhà xuất khẩu dù những lỗi bất đồng đó không phù hợp với UCP và thông lệ quốc tế, hoặc đang có nhiều ý kiến tranh cãi NHCK và nhà xuất khẩu có thể kiện ra Phòng thương mại quốc tế nhưng cũng mất nhiều thời gian và tốn kém

- Rủi ro đạo đức của NHCK : L/C cho phép đòi tiền bằng điện có thể bị

NHCK lợi dụng đòi tiền dù bộ chứng từ có bất đồng Khi NHPH nhận được chứng từ và kiểm tra thấy bất đồng thì tiền đã thanh toán cho NHCK rồi Về lý thuyết, NHPH có quyền đòi tiền lại từ NHCK nhưng nếu NHCK không chịu trả lại thì NHPH sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn để đi khiếu kiện

Trang 32

Nhìn chung, nguyên nhân sâu xa của rủi ro đạo đức là các đối tác tham gia giao dịch không nắm được đầy đủ những thông tin cần thiết về đối tác Vì vậy mà đã đưa ra những quyết định sai lầm gây nên rủi ro trong thanh toán

1.3.3 Bài học kinh nghiệm từ những rủi ro trong thanh toán theo phương

thức tín dụng chứng từ của các NHTM trên thế giới

Trong thực tiễn hoạt động của mình, để phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế bằng tín dụng chứng từ, các NHTM trên thế giới cũng tự mình đúc kết những bài học kinh nghiệm, như sau :

- Aùp dụng công nghệ thanh toán tiên tiến, hiện đại Để hạn chế đến mức

tối đa rủi ro có thể xảy ra trong quá trình thực hiện các lệnh thanh toán, hầu hết các ngân hàng thương mại của Pháp đã áp dụng hệ thống thanh toán tự động với nước ngoài bằng viễn thông (SAGIT – TAIRE) Đây là hệ thống thanh toán chuyển tiền quốc tế, được tạo ra kết hợp với mạng SWIFT để thực hiện thanh toán quốc tế Nhằm đảm bảo cho việc thanh toán được diễn ra nhanh chóng, an toàn, hạn chế đến mức tối đa những sai sót chứng từ do đường truyền kém, hóa đơn đến chậm, …

- Chú trọng công tác thu thập thông tin về các ngân hàng đối tác, về các doanh nghiệp có liên quan trong quan hệ tín dụng chứng từ, … Để có được những

thông tin về bạn hàng và khách hàng, hầu hết các NHTM của Đức đều là thành viên của “Liên hiệp các cộng đồng bảo vệ cho sự đảm bảo tín dụng nói chung” gọi tắt là Liên hiệp SCHUFA Hiệp hội này bao gồm 12 trung tâm thông tin tín dụng với thành viên rất đa dạng từ các NHTM đến các ngân hàng hợp tác xã, các quỹ tiết kiệm, … Khi tham gia vào các trung tâm thông tin tín dụng như vậy, các NHTM của Đức có thể thu thập được tất cả các thông tin mà mình quan tâm, được cung cấp các thông tin về việc mất khả năng thanh toán hoặc không muốn

Trang 33

thực hiện các nghĩa vụ thanh toán của doanh nghiệp, … Những thông tin này rất hữu ích giúp các NHTM của Đức trong việc xác định mức ký quỹ L/C hay bảo lãnh L/C nhập hàng trả chậm, … nhằm hạn chế đến mức tối đa những rủi ro có thể xảy ra do khách hàng mất khả năng thanh toán

- Chú trọng công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong hoạt động thanh toán quốc tế Ngay từ khi tuyển dụng, ngân hàng ANZ – một trong những

NHTM lớn của Australia đã tiến hành tuyển dụng cán bộ dựa trên yêu cầu cụ thể Sắp xếp công việc phù hợp với kỹ năng chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp, ngoại ngữ, vi tính, … của từng người nhằm phát huy tốt nhất năng lực của mỗi cá nhân Không những thế, ngân hàng còn thường xuyên bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn đến kinh nghiệm thực tế, kỹ năng xử lý tình huống trong hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ cho các thanh toán viên Thậm chí, ngân hàng còn tiến hành đào tạo bắt buộc về các lĩnh vực như nghiệp vụ thương mại quốc tế nhằm tránh những rủi ro xảy ra do trình độ, kỹ năng chuyên môn của các cán bộ trong công tác thanh toán xuất nhập khẩu

- Cảnh giác với lừa đảo Phương thức tín dụng chứng từ tuy có nhiều ưu

điểm nhưng không phải là không có nhược điểm, kẽ hở cho những doanh nghiệp bất chính lợi dụng, lừa đảo Trong khi nhiều NHTM Việt Nam còn chủ quan hoặc thiếu kinh nghiệm trước những thủ đoạn lừa đảo của khách hàng thì các NHTM nước ngoài luôn đề cao vấn đề cảnh giác với lừa đảo Ngay từ khi có đơn xin mở L/C, các ngân hàng này đã rất quan tâm, phân tích kỹ lưỡng động cơ, mục đích của những hợp đồng mua bán đó Nếu thấy những hợp đồng không mang lại hiệu quả kinh tế mà vẫn được thực hiện hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật, tiềm ẩn rủi ro cho ngân hàng và khách hàng thì các ngân hàng này sẽ kiên quyết từ chối

Trang 34

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Y Z

Trong chương 1, luận văn đã đi vào nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về phương thức tín dụng chứng từ, trong đó tập trung tìm hiểu về các rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ xét theo môi trường và nguyên nhân gây ra rủi ro như tác nghiệp, pháp lý, chính trị, …

- Khái niệm về phương thức tín dụng chứng từ, các văn bản pháp lý quốc tế điều chỉnh và khái niệm về rủi ro, …

- Từ những khái niệm trên, luận văn đưa ra những lý luận về rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, để từ đó làm nền tảng cho việc đi sâu vào phân tích những rủi ro xảy ra trong thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ tại NHNo & PTNT Việt Nam ở phần tiếp theo

- Nêu ra một số bài học kinh nghiệm của các trên thế giới để từ đó góp phần hoàn thiện cũng như hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại NHNo nói riêng cũng như các ngân hàng thương mại tại Việt Nam nói chung

Trang 35

CHƯƠNG 2 :

THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG

THANH TOÁN THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

TẠI NGÂN HÀNG No & PTNT VIỆT NAM

2.1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA NHNo

& PTNT VIỆT NAM

2.1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành, phát triển của NHNo & PTNT Việt Nam

NHNo & PTNT Việt Nam là doanh nghiệp nhà nước hạng đặc biệt, giữ vai trò chủ đạo cung cấp dịch vụ ngân hàng trong thị trường tài chính nông thôn

ở Việt Nam, và là một trong năm ngân hàng thương mại quốc doanh lớn nhất tại Việt Nam

Ngày 26/03/1988 Ngân hàng chuyên doanh Phát triển Nông thôn Việt Nam được thành lập theo Nghị định số 53/HĐBT và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam Ngày 14/11/1990 Hội đồng Bộ trưởng đã ra quyết định số 400/CT chuyển thành Ngân hàng thương mại quốc doanh lấy tên là Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam Ngày 15/10/1996 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ra Quyết định số 280/QĐ-NH5 thành lập Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (NHNo & PTNT Việt Nam) trên cơ sở Ngân hàng Nông nghiệp đã thành lập trước đây

NHNo & PTNT Việt Nam là ngân hàng lớn nhất Việt Nam cả về tài sản và mạng lưới hoạt động Đến cuối năm 2005, Ngân hàng Nông nghiệp có 7.702

Trang 36

tỷ đồng vốn tự có, trên 190 ngàn tỷ đồng tổng tài sản có, 2.000 chi nhánh và đơn

vị trực thuộc trên toàn quốc và 29.429 cán bộ nhân viên

NHNo luôn chú trọng đầu tư đổi mới và ứng dụng công nghệ ngân hàng phục vụ đắc lực cho công tác quản trị kinh doanh và phát triển mạng lưới dịch vụ ngân hàng tiên tiến NHNo đã kết nối mạng vi tính từ Trụ sở chính đến các chi nhánh trong toàn quốc, và một hệ thống các dịch vụ ngân hàng gồm dịch vụ chuyển tiền điện tử, dịch vụ thanh toán thẻ tín dụng quốc tế, dịch vụ ATM, dịch vụ thanh toán quốc tế qua mạng SWIFT Đến nay, NHNo hoàn toàn có đủ năng lực cung ứng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại, tiên tiến, tiện ích cho mọi đối tượng khách hàng trong và ngoài nước

Với vị thế là ngân hàng thương mại lớn nhất ở Việt Nam, NHNo đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ, đóng góp to lớn vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế của đất nước, được Đảng và Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới

2.1.2 Hoạt động thanh toán quốc tế tại NHNo & PTNT Việt Nam

2.1.2.1 Tổ chức hoạt động thanh toán quốc tế tại NHNo

Ngay trong những năm đầu chuyển hướng hoạt động ngân hàng từ cơ chế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường, tháng 2/1992, cùng với một số ngân hàng thương mại khác, NHNo được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho phép thực hiện các nghiệp vụ ngoại hối, tạo cơ sở pháp lý cho việc mở

ra các nghiệp vụ mới có tính quốc tế, theo hướng của một ngân hàng thương mại hiện đại

Mô hình hoạt động thanh toán quốc tế của NHNo hiện nay được tổ chức theo ngành dọc Sở quản lý, kinh doanh vốn và ngoại tệ, trực thuộc Trụ sở chính,

Trang 37

thành lập tháng 2/2004, là đầu mối quan hệ đại lý, thanh toán quốc tế và SWIFT cho toàn hệ thống cũng như việc quản lý tài khoản Nostro và hạch toán toàn bộ nguồn vốn ngoại tệ cho hệ thống NHNo & PTNT Việt Nam

Trong hoạt động thanh toán quốc tế, các chi nhánh trong hệ thống NHNo được chia thành 2 loại :

* Loại 1 : Các chi nhánh thực hiện thanh toán quốc tế trực tiếp : là các chi

nhánh có đủ điều kiện cần thiết về nhân sự, thị trường và khách hàng cũng như công nghệ để trực tiếp xử lý các nghiệp vụ thanh toán quốc tế và được phép hoạt động thanh toán quốc tế trực tiếp theo Quyết định số 388/HĐQT-QHQT ngày 05/09/2005 của Hội đồng Quản trị NHNo & PTNT Việt Nam

Chi nhánh trực tiếp nhận hồ sơ của khách hàng, xử lý và chịu trách nhiệm về các giao dịch phát sinh với các đối tác trong và ngoài nước Các điện giao dịch của chi nhánh sẽ được chuyển tới Hội sở chính bằng hệ thống SWIFT nội bộ, sau đó chuyển tiếp ra nước ngoài thông qua hệ thống SWIFT hoặc TELEX

* Loại 2 : Các chi nhánh thực hiện thanh toán quốc tế gián tiếp : là các chi

nhánh chưa đáp ứng đủ các điều kiện để thực hiện trực tiếp nghiệp vụ thanh toán quốc tế Tại chi nhánh cũng tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ do khách hàng xuất trình Những hồ sơ này sau đó sẽ được chuyển lên chi nhánh cấp trên được phép hoạt động thanh toán quốc tế trực tiếp để xử lý nghiệp vụ và chuyển tiếp ra nước ngoài

2.1.2.2 Kết quả hoạt động thanh toán quốc tế của NHNo & PTNT Việt Nam trong thời gian qua

Là một trong những ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam hiện nay, NHNo & PTNT Việt Nam có truyền thống hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp

Trang 38

và sản xuất nông thôn Không giống như ngân hàng Ngoại thương có được bề dày kinh nghiệm thanh toán quốc tế hơn 40 năm và mạng lưới khách hàng xuất nhập khẩu truyền thống rộng lớn, hoạt động thanh toán quốc tế của NHNo còn non trẻ Tuy nhiên, đây là mảng hoạt động ngày càng được quan tâm và cũng đã thu được những kết quả khả quan, từng bước khẳng định thương hiệu NHNo trong hoạt động mới mẻ này

Biểu 2.1 : Doanh số thanh toán XNK của 4 NHTM Nhà nước

DOANH SỐ THANH TOÁN XNK 4 NHTMNN

0 5000 10000 15000 20000 25000

ICB B IDV A GRIB A NK VCB

Năm 2005

(Nguồn : Báo cáo thường niên NHNo, NHCT, NHNT, NHĐT&PT 2004, 2005)

Hoạt động thanh toán quốc tế tại NHNo ra đời không chỉ đáp ứng nhu cầu của khách hàng, đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng mà đã đóng góp tích cực vào hoạt động kinh doanh chung của toàn hệ thống Thể hiện :

2.1.2.2.1 Hoạt động thanh toán quốc tế tăng trưởng cả về quy mô và chất lượng

Trong điều kiện các nghiệp vụ ngân hàng truyền thống như huy động vốn, tín dụng chịu sức ép cạnh tranh ngày càng gia tăng, cùng với xu thế phát triển mạnh mẽ của công nghệ ngân hàng, NHNo đã ngày càng chú trọng đến việc

Trang 39

cung ứng các dịch vụ ngân hàng trong đó có dịch vụ thanh toán quốc tế, coi đây là một chiến lược quan trọng nhằm đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của khách hàng, đồng thời thực hiện đa dạng hóa hoạt động ngân hàng theo mô hình ngân hàng hiện đại

Doanh số hoạt động thanh toán quốc tế tăng mạnh qua các năm thể hiện sự trưởng thành cả về quy mô và chất lượng

Biểu 2.2 : Doanh số thanh toán quốc tế NHNo 2001 -2005

Doanh số thanh toán quốc tế

0 1000 2000 3000 4000

(Nguồn : Đề án phát triển hoạt động ngoại tệ – CV 3129/NHNo-QHQT)

Từ năm 2001 đến nay, mạng lưới thanh toán quốc tế NHNo không ngừng được mở rộng, từ chỗ chỉ có 48 chi nhánh trực tiếp tham gia thanh toán quốc tế vào đầu năm 2001 thì đến cuối năm 2005 con số đó là 124 chi nhánh, bao gồm

96 chi nhánh cấp I và 28 chi nhánh cấp II

Hoạt động thanh toán quốc tế toàn hệ thống đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 34%/năm giai đoạn 2001 – 2005; trong đó năm 2005, doanh số thanh toán quốc tế tăng 20,7% so với năm 2004, tỷ trọng thanh toán quốc tế NHNo chiếm

Trang 40

trong tổng kim ngạch XNK cả nước tăng từ 8,30% năm 2004 lên 8,47% năm

2005

Bảng 2.3 : Tỷ trọng TTQT NHNo 2001 -2005

thanh toán TTQT

(tr $)

Kim ngạch XNK của Việt Nam (tr $)

Tỷ trọng TTQT NHNo/ KN XNK

(Nguồn : Báo cáo hoạt động kinh doanh đối ngoại năm 2001 – 2005)

Tính đến 31/12/2005, tổng số chi nhánh đã nối mạng thanh toán quốc tế trực tiếp qua hệ thống SWIFT là 122 chi nhánh Hầu hết các chi nhánh tham gia mạng SWIFT đã được cấp mã giao dịch riêng (84/122 chi nhánh), nhờ vậy rút ngắn được thời gian xử lý giao dịch tại đơn vị đầu mối

2.1.2.2.2 Các nghiệp vụ thanh toán quốc tế ngày càng được mở rộng

Khi mới triển khai, NHNo chỉ cung cấp các dịch vụ thanh toán quốc tế truyền thống như thanh toán bằng thư tín dụng, chuyển tiền Cho đến nay, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn do tham gia thị trường thanh toán quốc tế tương đối muộn so với các ngân hàng khác, NHNo đã đưa thêm một số sản phẩm thanh toán quốc tế mới để phục vụ khách hàng như chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất, nhờ thu, tài trợ trọn gói, xác nhận thư tín dụng, … Đặc biệt, NHNo là NHTM dẫn đầu về thanh toán khu vực biên giới, chủ yếu là buôn bán tiểu ngạch tại biên

Ngày đăng: 27/03/2013, 16:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1 :   Quy trình thanh toán tín dụng chứng từ - 68 Thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ - Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tại Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
Sơ đồ 1.1 Quy trình thanh toán tín dụng chứng từ (Trang 23)
Sơ đồ 1.2 : Các loại rủi ro trong thanh toán quốc tế bằng L/C - 68 Thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ - Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tại Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
Sơ đồ 1.2 Các loại rủi ro trong thanh toán quốc tế bằng L/C (Trang 24)
Bảng 2.3 : Tỷ trọng TTQT NHNo 2001 -2005 - 68 Thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ - Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tại Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
Bảng 2.3 Tỷ trọng TTQT NHNo 2001 -2005 (Trang 40)
Bảng 2.5 : Doanh số thanh toán quốc tế theo phương thức L/C - 68 Thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ - Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tại Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
Bảng 2.5 Doanh số thanh toán quốc tế theo phương thức L/C (Trang 44)
Bảng 3.1 : Các chỉ tiêu phát triển chủ yếu của NHNo đến 2010 - 68 Thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ - Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tại Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
Bảng 3.1 Các chỉ tiêu phát triển chủ yếu của NHNo đến 2010 (Trang 73)
Sơ đồ 3.1 : Phân loại hạn mức tín dụng, chiết khấu cho khách hàng tại NHNo - 68 Thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ - Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tại Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
Sơ đồ 3.1 Phân loại hạn mức tín dụng, chiết khấu cho khách hàng tại NHNo (Trang 83)
Sơ đồ 3.2 : Hệ thống giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong PT TDCT - 68 Thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ - Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tại Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
Sơ đồ 3.2 Hệ thống giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong PT TDCT (Trang 89)
SƠ ĐỒ TỔNG QUÁT VÀ HỆ THỐNG TỔ CHỨC NHNo - 68 Thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ - Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tại Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
o (Trang 100)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w