Thu nhập của doanh nghiệp có thể từ nhiều hoạt động khác nhau, bởi lẽ hoạtđộng sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường rất năng động và linh hoạt,mọi doanh nghiệp có thể đầu tư
Trang 1Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kếtquả nêu trong chuyên đề là trung thực, xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vịthực tập
Tác giả chuyên đề
Đỗ Văn Tư
Trang 2Học Viện Tài Chính Chuyªn §Ò Tèt NghiÖp
Lời nói đầu
Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành thành phần phát triển phong phú và đadạng theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa có sự quản lý của Nhà nước, đánh dấumột bước ngoặt quan trọng trong lịch sử, nền kinh tế nø¬c ta khẳng định sâu sắcmột nền kinh tế mới phù hợp với quy luật phát triển của xã hội loài người Cácdoanh nghiệp phải được thực sự bình đẳng trên thị trường, cạnh tranh lành mạnh,vai trò của Nhà nước cần được quán triệt trên một góc độ nhất định, các doanhnghiªp phải có quyền tự chủ về mọi mặt, tự chịu trách nhiệm về đầu ra cũng nhưđầu vào và mục đích cuối cùng phải là lợi nhuận Lợi nhuận được coi là đòn bảykinh tế hữu hiệu nhất như hiện nay, kích thích mạnh mẽ mọi hoạt động sản xuấtkinh doanh của các doanh nghiệp , nó cho phép các doanh nghiÖo tồn tại và tựkhẳng định mình trên thị trường và góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển ý thứcđược mọi vai trò của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường cũng nh vai trò củalợi nhuận, các chủ thể doanh nghiệp đã thực sự về vấn đề này bằng cách thực hiệnhạch toán kinh doanh theo cơ chế mới và trong môi trường mới
Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng có được những hướng đi vàbiện pháp tăng lợi nhuận hợp lý Từ đó thực tế đã xảy ra nhiều doanh nghiệp phásản, nên các doanh nghiệp phải nắm được lý luận cơ bản về lợi nhuận
Để củng cố thêm kiến thức lý luận và thực tế, em thực sự quan tâm đến vấn
đề lợi nhuận ở các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trßng để có điều kiện ápdụng sơ sở lý luận cũng như các kiến thức được nghiên cứu và học tập trong “ HọcViện Tài Chính “vào quá trình sản xuất kinh doanh
Đề tài: Lợi nhuận và một số biện pháp cơ bản góp phần tăng lợi nhuận
ở Công ty TNHH SX và TM Dệt May Bình Minh “ là một đề tài có tính chất
Trang 3thiết thực và cấp bách, chính vì vậy trong thời gian thùc tập tại Công ty TNHH SX
và TM Dệt May Bình Minh, em đã quyết định chọn đề tài này
Nội dung chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1 - Lợi nhuận và sự cần thiết phải phấn đấu tăng lợi nhu©n của doanh nghiệp trong điều kiện kinh doanh hiện nay.
Chương 2 - Tình hình phấn đấu tăng lợi nhuận của Công ty.
Chương 3 - Một số biện pháp chủ yếu nhằm góp phần tăng lợi nhuận ở Công ty TNHH SX và TM Dệt May Bình Minh
Do kiến thức cũng nh kinh nghiệm thực tế còn nhiều hạn chế nên bài viếtcòn nhiều thiếu sót mong thầy cô giáo và các bạn thông cảm
Nhân đây em xin được cảm ơn sự giúp đỡ của ban giám đốc và nhân viêncác phòng ban của Công ty TNHH SX & TM Dệt may Bình Minh trong quá trìnhviết và hoàn thiện chuyên đề này
CHƯƠNG 1 LợI NHUậN và sự cần thiết phảI phấn đấu tăng lợi nhu©n CủA DOANH
NGHIệP trong điều kiện kinh doanh
Trang 4Học Viện Tài Chính Chuyªn §Ò Tèt NghiÖp
hiện nay
1 Lợi nhuận của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
1.1 Lợi nhuận và tư suất lợi nhuận của doanh nghiệp
Như đã nêu ở phần đầu mục đích của việc thực hiện các hoạt động kinhdoanh của các doanh nghiệp sản xuất là lợi nhuận Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng
để đánh giá hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh Nó là kếtquả tài chính cuối cùng sau một quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Từ góc độ của doanh nghiệp, có thể thấy rằng lợi nhuận của doanh nghiệp
là khoản tiền chênh lệch giữa doanh thu và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạtđược doanh thu đó từ các hoạt động của doanh nghiệp để lại
Thu nhập của doanh nghiệp có thể từ nhiều hoạt động khác nhau, bởi lẽ hoạtđộng sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường rất năng động và linh hoạt,mọi doanh nghiệp có thể đầu tư vào các lĩnh vực khác nhau, kéo theo lợi nhuận thuđược cũng đa dạng theo phương thức đầu tư của doanh nghiệp: lợi nhuận thu được
từ hoạt động sản xuất kinh doanh; lợi nhuận thu được từ hoạt động tài chính; lợinhuận bất thường
1.1.2 Nội dung lợi nhuận
1.1.2.1 Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh
Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh là khoản chênh lệch giữa doanhthu của hoạt động kinh doanh trừ đi chi phí của hoạt động kinh doanh (bao gồm giá
Trang 5thành toàn bộ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đã tiêu thụ và thuế phải nộp theo quyđịnh (trị thuế thu nhập của doanh nghiệp ))
Các cách xác định lợi nhuận hoạt động kinh doanh nh sau:
Lợi nhuận hoạt động kinh doanh =Doanh thu thuần - GVHB - CPBH -CPQLDN.
Trong đó doanh thu thuần được xác định:
Doanh thu thuần = Tổng DT bán hàng - Các khoản giảm giá hàng bán - Trị giá hàng bán bị trả lại - Thuế gián thu
Trong đó:
- Trị giá vốn hàng bán phản ánh trị gÝa vốn của thành phẩm, hàng hóa,lao vụ, dịch vụ xuất bán trong kỳ bao gồm các khoản chi phí: nguyên vật liệu trựctiếp , nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung
- Chi phí bán hàng:là những chi phí thực tế phát sinh trong quá trìnhtiêu thụ sản phẩm hàng hoá dịch vụ bao gồm: Chi phí bảo quản, đóng gói, vậnchuyển, quảng cáo, bảo hành sản phẩm
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: là các chi phí liên quan đến quản lýchung của doanh nghiệp bao gồm chi phí quản lý kinh doanh, quản lý hành chính,chi phí khấu hao tài sản cố định chung cho toàn doanh nghiệp…
- Doanh thu thuần là doanh thu bán hàng trừ đi các khoản giảm giá hàngbán, trị giá hàng bán bị trả lại và thuế gÝan thu
- Lợi nhuận gộp của doanh nghiệp = Doanh thu thuần - GVHB.
- Lợi nhuận gộp sau khi trừ đi chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phíbán hàng gọi là lợi nhuận trước thuế từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp
1.1.2 2 Lợi nhuận của các hoạt động khác
Trang 6Học Viện Tài Chính Chuyªn §Ò Tèt NghiÖp
Là khoản chênh giữa doanh thu và chi phí của các hoạt động khác và thuếphải nộp theo quy định (trị thuế thu nhập doanh nghiệp ), các hoạt động khác là cáchoạt động tài chính và hoạt động bất thường
1.1.2.2.1 Lợi nhuận từ hoạt động tài chính.
Lợi nhuận từ hoạt động tài chính là khoản chênh lệch giữa thu nhập hoạtđộng tài chính với chi phí hoạt động tài chính
Lợi nhuận hoạt động tài chính = Doanh thu hoạt động tài chính - Chi phí hoạt động tài chính - Thuế gián thu (nếu có).
Thu nhập hoạt động tài chính gồm: thu nhập từ hoạt động than gia góp vốnliên doanh, thu nhập từ hoạt động đầu tư mua bán chứng khoán ngắn và dài hạn,thu nhập về tài sản cố định
Chi phí hoạt động tài chính phản ánh những khoản chi phí và các khoản lỗliên quan đến các hoạt động về vốn nh chi phí liên doanh, chi phí liên quan đến vayvốn…
1.1.2.2.2 Lợi nhuận bất thường.
Lợi nhuận bất thường là khoản chênh lệch giữa thu nhập bất thường và chiphí bất thường
Lợi nhuận bất thường = DT bất thường - CP bất thường - Thuế gián thu (nếu có).
Thu nhập bất thường của doanh nghiệp là những khoản doanh nghiệp thuđược không thường xuyên như thu về nhượng bán, thanh lý tài sản cố định, thu vềphạt vi phạm hợp đồng kinh tế, các khoản nợ khó đòi đã xử lý, xổ số, khoản nợkhông xác định được chủ
Chi phí bất thường là những khoản chi phí liên quan đến hoạt động bấtthường nh: chi phí thanh lý nhượng bán tài sản cố định…
Trang 7Sau khi đã xác định được lợi nhuận của các hoạt động tiến hành tổng hợp lạiđược lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp nh sau:
Lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp bằng tổng lợi nhuận từ hoạtđộng kinh doanh, lợi nhuận từ hoạt động tài chính và lợi nhuận hoạt động bấtthường
Lợi nhuận sau thuế thu nhập được xác định nh sau:
Lợi nhuận sau thuế thu nhập = Lợi nhuận trước thuế thu nhập x (1-thuế suất thuế thu nhập )
Ta có thể tóm tắt quy trình hình thành lợi nhuận qua sơ đồ sau:
Doanh thu từ hoạt động kinh
Giảm giá hàng bán
Hàng bán bị trả lại
Thuế gián thu
Doanh thu thuần Lãi hoạt động
khác
Chi phíhoạtđộngkhác
Trang 8Học Viện Tài Chính Chuyªn §Ò Tèt NghiÖp
Giá vốnhàng bán
Lợi nhuận gộphoạt động sảnxuất kinhdoanh
Lợi nhuận hoạtđộng Tài chính
Tổng lợi nhuận của doanh nghiệpChi phí quản lý
doanhnghiÖp,chi phí bánhàng
Lợi nhuận trướcthuế
Thuế thu nhậpdoanh nghiệp
Tổng lợi nhuậnsau thuếLợi nhuận giữ vị trí quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp vì trong điều kiện hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường, sựtồn tại và phát triển của doanh nghiệp phụ thuộc vào doanh nghiệp đó có tạo đượclợi nhuận hay không Vì thế lợi nhuận được coi là đòn bẩy kinh tế quan trọng đồngthời còn là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp
Lợi nhuận tác động đến tất cả mọi hoạt động của doanh nghiệp, có ảnhhưởng trực tiếp đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, việc thực hiện được chỉtiêu lợi nhuận là điều kiện quan trọng đảm bảo cho tình hình tài chính của doanhnghiệp được vững chắc
Lợi nhuận là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp nói lên kết quả toàn bộ hoạtđộng sản xuất kinh doanh Nếu doanh nghiệp phấn đấu cải tiến kỹ thuật hoạt độngsản xuất kinh doanh làm tăng doanh thu và hạ giá thành sản phẩm thì lợi nhuận sẽtăng lên một cách trực tiếp Ngược lại, nếu chi phí cao, giá thành sản phẩm tăng thìlợi nhuận sẽ trực tiếp giảm Vì vậy, lợi nhuận là một chỉ tiêu quan trọng nhất đểđánh giá chất lượng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Lợinhuậnhoạtđộngkhác
Trang 9Lợi nhuận còn là nguồn tích luỹ cơ bản để mở rộng tái sản xuất xã hội, sựtham gia đóng góp của các doanh nghiệp vào ngân sách Nhà nước được phản ánh ở
số thuế thu nhập mà doanh nghiệp phải nộp Nh vậy, lợi nhuận là nguồn để mởrộng tái sản xuất và là kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, cũngcần lưu ý rằng không thể coi lợi nhuận là chỉ tiêu duy nhất để đánh giá chất lượnghoạt động sản xuất kinh doanh, và cũng không thể chỉ dùng nó để so sánh chấtlượng hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp khác nhau, bởi vì:
- Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng, nó chịu ảnh hưởng bởi nhiềunhân tố, có những nhân tố thuộc về chủ quan, có những nhân tố thuộc về kháchquan và có sự bù trừ lẫn nhau
- Do điều kiện sản xuất kinh doanh, điều kiện vận chuyển, thị trườngtiêu thụ thường làm cho lợi nhuận doanh nghiệp không giống nhau
- Các doanh nghiệp cùng loại nếu quy mô sản xuất khác nhau thì lợinhuận thu được cũng khác nhau, ở những doanh nghiệp lớn nếu công tác quản lýkém nhưng số lợi nhuận thu được vẫn có thể lớn hơn những doanh nghiệp có quy
mô nhỏ có công tác quản lý tốt hơn Cho nên để đánh gÝa đúng đắn chất lượnghoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngoài chỉ tiêu lợi nhuận tuyệt đối cònphải dùng chỉ tiêu tương đối là tư suất lợi nhuận (còn gọi là mức doanh lợi)
1.1.3 Tư suất lợi nhuận của doanh nghiệp
Hiện nay có nhiều cách tiếp cận và xác định tư suất lợi nhuận, mỗi cách cónội dung kinh tế khác nhau, sau đây là một số cách tính tư suất lợi nhuận:
1.1.3.1 Tư suất lợi nhuận vốn:
Trang 10Học Viện Tài Chính Chuyªn §Ò Tèt NghiÖp
Tư suất lợi nhuận vốn là quan hệ tư lệ giữa số lợi nhuận sau thuế đạt đượcvới số vốn sử dụng bình quân trong kỳ (gồm có vốn cố định, vốn lưu động) hoặcvốn chủ sở hữu
Tsv: là tư suất lợi nhuận vốn
P: là lợi nhuận sau thuế đạt được trong kỳ
Vbq: là tổng số vốn sản xuất được sử dụng trong kỳ (gồm vốn cố định và
vốn lưu động) hoặc vốn chủ sở hữu
Vốn cố định được xác định bằng nguyên gÝa tài sản cố định trừ đi số tiềnkhấu hao luỹ kế đã thu hồi Vốn lưu động bao gồm vốn dự trữ sản xuất, vốn sảnphẩm dở dang, bán thành phẩm tự chế, vốn thành phẩm Việc sử dụng tư suất lợinhuận vốn nói lên trình độ sử dụng tài sản vật tư, tiền vốn của doanh nghiệp manglại bao nhiêu lợi nhuận tương ứng, thông qua đó kích thích sử dụng vốn đạt hiệuquả cao
1.1.3.2 Tư suất lợi nhuận giá thành:
Tư suất lợi nhuận giá thành là quan hệ tư lệ giữa lợi nhuận trước hoặc sauthuế của sản phẩm tiêu thụ với giá thành toàn bộ của sản phẩm hàng hoá tiêu thụ
Trang 11Trong đó :
Tsg: là tư suất lợi nhuận giá thành
P: là lợi nhuận sau thuế sản phẩm
Zt: là giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hoá tiêu thụ trong kỳ
Thông qua tư suất lợi nhuận giá thành có thể thấy hiệu quả của chi phí bỏvào sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong kỳ (cho biết mỗi đồng chi phí sản xuất kinhdoanh mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận)
1.1.3.3 Tư suất lợi nhuận doanh thu bán hàng
Là quan hệ tư lệ giữa lợi nhuận sau thuế sản phẩm tiêu thụ với doanh thu tiêuthụ sản phẩm đạt được trong kỳ
Ts: là tư suất lợi nhuận doanh thu tiêu thụ
P: là lợi nhuận trước hoặc sau thuế sản phẩm tiêu thụ trong kỳ
T: là doanh thu tiêu thụ trong kỳ
Chỉ tiêu này nói lên trong kỳ 100 đồng doanh thu tiêu thụ sản phẩm đem lạibao nhiêu đồng lợi nhuận Nếu tư suất này thấp hơn tư suất chung của toàn nghµnhchứng tỏ doanh nghiệp bán hàng với giá thấp hoặc giá thành sản phẩm của doanhnghiệp cao hơn các nghµnh khác Ngoài ra chỉ tiêu doanh lợi như trên, người ta còn
sử dụng chỉ tiêu: tư suất lợi nhuận vốn, tư suất lợi nhuận giá trị tổng sản lượng, tưsuất lợi nhuận vốn đầu tư để đánh giá chất lượng xây dựng kế hoạch và thực hiện
kế hoạch trong kỳ
Trang 12Học Viện Tài Chính Chuyªn §Ò Tèt NghiÖp
Việc phấn đấu tăng lợi nhuận và hơn nữa, làm tăng tư suất lợi nhuận lànhiệm vụ thường xuyên của doanh nghiệp Chính vì vậy các doanh nghiệp luônkhông ngừng nghiên cứu thị trường, ứng dụng công nghệ, quy trình sản xuất tối ưunhất … hay nói cách khác đó là nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp
Nh chúng ta đã biết, lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh là bộ phậnchủ yếu chiếm tư trọng lớn nhất trong tổng lợi nhuận của doanh nghiệp đạt đượctrong kinh doanh Nên lợi nhuận là mục đích cuối cùng của việc sản xuất kinhdoanh, nó là động cơ chủ yếu của các nhà đầu tư, là tiêu chuẩn cao nhất đánh giáhiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, mức lợi nhuận cao hay thấp là căn cứ trựctiếp để người ta quyết định có nên sản xuất hay không? Để phấn đấu tăng lợi nhuậntại các doanh nghiệp cần thiết phải nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuậntiêu thụ sản phẩm
1.2.1 Mức sản phẩm sản xuất và tiêu thụ trong kỳ
Khối lượng tiêu thụ tăng sẽ làm cho tổng lợi nhuận tăng và ngược lại.Vìvậy , có thể nói rằng tăng khối lượng tiêu thụ là một trong những biện pháp để tănglợi nhuận cho doanh nghiệp.Việc tăng hay giảm khối lượng tiêu thụ sản phẩm phảnánh kết quả của sản xuất cả về khối lượng, chất lượng, chủng loại và thời hạn cũngnhư phản ánh kết quả công tác bán hàng của doanh nghiệp
Nh vậy, tác động của nhân tố chủ yếu phản ánh yếu tố chủ quan trong côngtác quản lý, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên, việc tăng khối lượngsản phẩm sản xuất và tiêu thụ sẽ làm tăng doanh thu, nhưng việc tăng sẽ có mộtgiới hạn nhất định, nó tuỳ thuộc vào quy mô sản xuất của doanh nghiệp và sở thíchcủa người tiêu dùng Bởi vì, nếu nhu cầu thị trường lớn nhưng quy mô sản xuất củadoanh nghiệp không đáp ứng được khối lượng sản phẩm sản xuất để tiêu thụ thì
Trang 13doanh thu sẽ không tăng Hoặc giả sử nếu quy mô sản xuất của doanh nghiệp lớn
mà thị trường tiêu thụ lại kém thì khối lượng tiêu thụ sản phẩm sẽ không tăng
1.2 2 Giá thành đơn vị sản phẩm tiêu thụ
Giá thành đơn vị sản phẩm tiêu thụ có mối liên hệ ngược chiều với lợi nhuậnđơn vị, khi giá thành đơn vị bình quân tăng sẽ làm lợi nhuận giảm và ngược lại, giáthành thay đổi có thể do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, mà chủ yếu là
sự thay đổi giá thành sản xuất của sản phẩm Trong công tác quản lý, phấn đấugiảm giá thành hàng bán là một trong những biện pháp để tăng lợi nhuận Do đó,các doanh nghiệp phải có chính sách quản lý chi phí khoa học và nâng cao cơ sởsản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất để giảm bớt chi phí, hạthấp giá thành từ đó làm hạ giá bán và tăng lợi nhuận
1.2.3 Chất lượng sản phẩm tiêu thụ
Đây là nhân tố quan trọng trong quyết định sự phát triển kinh doanh của cácdoanh nghiệp, chất lượng của sản phẩm càng tăng thì càng có uy tín chiếm lĩnh thịtrường, số lượng tiêu thụ được nhiều hơn Hiện nay, trong điều kiện các yếu tố sảnxuất khác không thay đổi, việc đảm bảo tăng chất lượng sản phẩm là điều kiện cơbản để tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tăng doanh lợi cho doanhnghiệp Do đó, các doanh nghiệp luôn nâng cao thiết bị sản xuất, công nghệ kỹthuật , đào tạo nâng cao tay nghề cho đội ngũ lao động để đáp ứng nhu cầu của thịtrường
Trang 14Học Viện Tài Chính Chuyªn §Ò Tèt NghiÖp
thay đổi kết cấu của sản phẩm tiêu thụ trong kỳ thường do sự biến động của thịtrường, tức là sự tác động của nhân tố khách quan Nhưng để đáp ứng cho nhân tốthị trường thường xuyên biến động, bản thân doanh nghiệp phải tự vận động vàđiều chỉnh từ khâu sản xuất đến khâu bán hàng nên nó mang yếu tố chủ quan trongcông tác quản lý của doanh nghiệp Chính vì thế các nhà quản lý phải nắm chắcđược nhu cầu thị trường để đưa ra các biện pháp điều chỉnh thích hợp làm tăng lợinhuận
Tuy nhiên, cũng không vì lợi ích trước mắt mà làm ảnh hưởng không tốt tớilợi ích lâu dài, đó là phải sản xuất đầy đủ số lượng sản phẩm theo đơn đặt hàng,đảm bảo chất lượng sản phẩm như trong hợp đồng vì nếu không doanh nghiệp sẽ tựlàm mất chữ tín của mình trên thị trường
1.2 5 Giá bán đơn vị sản phẩm
Giá bán sản phẩm là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới doanh thu tiêu thụ sảnphẩm, từ đó ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp Tuy nhiên, trong điều kiệnnền kinh tế thị trường như hiện nay thì giá bán được hình thành một cách kháchquan do quan hệ cung cầu trên thị trường Nên doanh nghiệp không thể tự điềuchỉnh tăng hoặc giảm giá bán sản phẩm cùng loại trên thị trường, còn nếu do phẩmcấp hàng hoá thay đổi làm cho giá bán bình quân thay đổi lại là tác động của nhân
tố chủ quan Do đó, nếu ta cố định các nhân tố khác lại, giá bán sản phẩm trên thịtrường tăng lên thì lợi nhuận trên thị trường cũng tăng và ngược lại
1.2 6 Mức thuế phải nộp của sản phẩm tiêu thụ
Mức thuế phải nộp của sản phẩm tiêu thụ là trách nhiệm và nghĩa vụ của cácdoanh nghiệp để xây dựng ngân sách Nhà nước, nên đây là nhân tố khách quan ảnhhưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp, khoản thuế này sẽ làm giảm lợi nhuận củadoanh nghiệp
1.2 7 Nhân tố thị trường
Trang 15Nếu như thị trường ổn định, thì sản phẩm được tiêu thụ bình thường, nhưngkhi cung và cầu thay đổi sẽ làm cho giá cả thay đổi, do đĩ khối lượng sản phẩmtiêu thụ khơng ổn định dẫn đến doanh thu khơng ổn định và kéo theo lợi nhuận thayđổi Vì vậy, thị trường cũng ảnh hưởng lớn tới lợi nhuận.
1.3 Vai trị của Tài chính doanh nghiệp trong việc gia tăng lợi nhuận: 1.3.1 TCDN huy động vốn đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp diễn
ra bình thương:
TCDN giúp cho doanh nghiệp huy động kịp thời các nhu cầu vốn ngắn hạnhoặc vốn dài hạn trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, giúp cho doanhnghiệp nắm bắt được các cơ hội đầu tư phát triển và mở rộng hoË động sản xuấtkinh doanh nhằm gia tăng lợi nhuận và mở rộng thị phần
1.3.2 TCDN giữ vai trị quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:
Vai trị này thể hiện ở chỗ:
• Việc đưa ra quyết định đầu tư ®uĩng đắn phụ thuộc rất lớn vào việcđánh giá, lựa chọn đầu tư trên gĩc độ tài chính
• Việc huy động vốn kịp thời, đầy đủ sẽ giúp doanh nghiệp chip được cơhội kinh doanh
• Lựa chọn các hình thức và phương pháp huy động vốn thích hợp cĩthể giảm bớt được chi phí sử dụng vốn gĩp phần gia tăng lợi nhuận
• Sử dụng địn bẩy tài chính và đặc biệt là địn bẩy kinh doanh là yếu tốgia tăng đáng kể tư suất lợi nhuận và vốn chủ sở hữu
• Huy động tối đa vốn hiện cĩ vào hoạt động kinh doanh cĩ thể tránhđược thiệt hại do ø đọng vốn, tăng vịng quay tài sản, giảm được số vốn vay dogiảm được khoản lãi vay phải trả gĩp phần rất lớn tới việc tăng lợi nhuận sau thuếcủa doanh nghiệp
Trang 16Học Viện Tài Chính Chuyªn §Ò Tèt NghiÖp
1.3.3 TCDN là một công cụ hữu ích để kiểm tra tình hình kinh doanh của doanh nghiệp:
Việc kiểm tra giám sát bằng tiền các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệpthông qua tình hình thu chi tiền tệ hàng ngày, thông qua các chỉ tiêu tài chính vàđặc biệt thông qua các báo cáo tài chính có thể kiểm soát kịp thời, tổng quát cáchoạt động của doanh nghiệp, từ đó phát hiện nhanh chóng nhõng tồn tại và tiềmnăng chưa được khai thác để đưa ra các quyết định thích hợp ®iiªï chỉnh các hoạtđộng nhầm đạt tới các mục tiêu của doanh nghiệp
Trên đây là các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp vàqua sự phân tích trên có thể giúp doanh nghiệp có các biện pháp, phương hướngthích hợp để tăng lợi nhuận
2 Sự cần thiết phải phấn đấu tăng lợi nhuận của các doanh nghiệp 2.1 Xuất phát từ vai trò của lợi nhuận đối với quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận có vị thỊ hàng đầu và đặc biệt quantrọng với nền kinh tế xã hội nói chung và đối với các doanh nghiệp nói riêng cũng
nh đối với bản thân mỗi người lao động Trong phạm vi chuyên đề nay em xinđược nêu những vai trò của lợi nhuận mà các doanh nhân nào cũng phải nghĩ tới
Thứ nhất: Lợi nhuận là thước đo, là chỉ tiêu chất lượng phản ánh kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp, nói cách khác thông qua chỉ tiêu lợinhuận cho phép đánh giá nhiều mặt hoạt động của doanh nghiệp từ khâu chuẩn bịsản xuất đến khâu tiêu thụ thụ sản phẩm
Thứ hai: Lợi nhuận của doanh nghiệp là một khoản thu quan trọng của ngân
sách Nhà nước dưới hình thức thuế thu nhập của doanh nghiệp và các loại thuế
Trang 17khác Nếu sản xuất càng phát triển thì lợi nhuận càng tăng và do đó, nguồn thu chingân sách càng tăng lên và ngược lại.
Thứ ba: Lợi nhuận là nguồn tích luỹ quan trọng để doanh nghiệp đầu tư tái
sản xuất và tái sản xuất mở rộng
Thứ tư: Lợi nhuận là một trong những đòn bẩy kinh tế quan trọng hoàn thiện
các mặt hoạt động của doanh nghiệp Sử dụng lợi nhuận một cách đúng đắn, hợp lý
sẽ góp phần giải quyết mối quan hệ giữa ba lợi ích: lợi ích người lao động, lợi íchtập thể và lợi ích xã hội
Qua bốn vai trò của lợi nhuận đối với quá trình sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp ta thấy lợi nhuận có vị trí hết sức to lớn đối với mỗi doanh nghiệp nóiriêng và đối với toàn bộ nền kinh tế nói chung Tuy nhiên, ta cũng cần lưu ý rằngkhông thể coi lợi nhuận là chỉ tiêu duy nhất để đánh giá chất lượng hoạt động sảnxuất kinh doanh và còng không thể dùng chóng để so sánh chất lượng hoạt độngcủa các doanh nghiệp với nhau
2.2 Xuất phát từ yêu cầu của việc phát huy quyền tự chủ của các doanh nghiệp trong cơ chế quản lý mới
Hiện nay, quyền tự chủ của các doanh nghiệp luôn được đặt lên hàng đầu để
tự quyết định hạch toán, đầu tư sản xuất kinh doanh trong môi trường cạnh tranhgay gắt và quyết liệt Nhưng quyền tự chủ của các doanh nghiệp luôn đặt rong sựđiều tiết vĩ mô của Nhà nước, Nhà nước đã đưa ra nhiều giải pháp đúng đắn nhằmtừng bước tạo môi trường kinh doanh lành mạnh và buộc các doanh nghiệp phảihạch toán kinh doanh thực sự, các doanh nghiệp không còn con đường nào khác làphải làm sao đứng vững trên đôi chân của mình và tự khẳng định mình trên thịtrường Muốn vậy, doanh nghiệp phải tự bảo toàn và phát triển vốn bằng các hoạtđộng sản xuất kinh doanh có lãi, tích luỹ vốn cho doanh nghiệp mình
Trang 18Học Viện Tài Chính Chuyªn §Ò Tèt NghiÖp
Nói tóm lại, từ khi quyền tự chủ của các doanh nghiệp được xác định trong
cơ chế quản lý mới thì cũng là lúc doanh nghiệp ý thức được sự cần thiết của việcphÂn đấu tăng lợi nhuận nhằm củng cố được vị thỊ của mình trên thị trường trongnước và thị trường quốc tế
3 Phương hướng và biện pháp nhằm tăng lợi nhuận đối với các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường
Nh các phần trên em đã trình bày, lợi nhuận giữ vị trí quan trọng trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Vì trong điều kiện hạch toán kinhdoanh theo cơ chế thị trường, doanh nghiệp có tồn tại và ph¸y triển được hay khôngđiều quyết định là doanh nghiệp có tạo ra được lợi nhuận hay không? Vì thế lợinhuận được coi là đòn bẩy kinh tế quan trọng, đồng thời còn là một chỉ tiêu cơ bản
để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Chính vì những lý do trên mà các doanh nghiệp luôn phải tìm cho mìnhnhững biện pháp và phương hướng phù hợp để tăng lợi nhuận của doanh nghiệp
3.1 Hạ giá thành sản phẩm
Ngày nay hạ giá thành sản phẩm cũng là vũ khí lợi hại của các doanh nghiệp, nó thúc đẩy cạnh tranh tăng lợi nhuận của các doanh nghiệp, hạ giá thành sảnphẩm cũng là biện pháp cơ bản và lâu dài trong chiến lược phát triển sản xuất vàkinh doanh Để hạ giá thành sản phẩm cần thực hiện tốt một số biện pháp nh: sửdụng tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu, phấn đấu tăng năng suất lao động, tổ chứcsắp xếp lao động hợp lý, nâng cao trình độ tay nghề của công nhân viên …
3.1 1 Sử dụng tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu
Tiết kiệm chi phí nguyên liệu, vật liệu , năng lượng, giảm tư lệ hao hụt, mứctiêu hao nguyên liệu, vật liệu , tổ chức cung ứng vật tư kịp thời phục vụ sản xuất ,
sử dụng vật liệu thay thế thích hợp góp phần hạ thấp giá thành sản xuất của doanhnghiệp Nên chi phí nguyên liệu, vật liệu thường chiếm tư lÔ lớn trong toàn bộ chi
Trang 19phí sản xuất và giá thành sản phẩm của mỗi doanh nghiệp Do đó giảm được chiphí nguyên liệu , vật liệu là một trong những biện pháp chủ yếu để giảm giá thànhsản phẩm Để giảm được chi phí nguyên liệu, vật liệu cần phải thực hiện được cácvấn đề sau:
- Phải có kế hoạch cung ứng nguyên liệu, vật liệu phù hợp với quy hoạchsản xuất Đó là cần phải kết hợp hài hòa giữa quá trình sản xuất và cung ứngnguyên liệu, vật liệu phù hợp, có kế hoạch dự trữ nguyên liệu, vật liệu hợp lý, tránhtrường hợp dự trữ nguyên liệu, vật liệu quá lớn dẫn tới tồn kho nguyên liệu, chu kỳchu chuyển nguyên liệu, vật liệu chậm làm cho ø đọng vốn
- Cần phải có kế hoạch quản lý, bảo quản nguyên liệu, vật liệu Để làm tốtvấn đề này đòi hỏi các doanh nghiệp phải có những biện pháp tài chính, cụ thể là:giao trách nhiệm đến từng người lao động, có chế độ thưởng phạt công minh đốivới những nguêi lạm dụng nguyên liệu, vật liệu làm thất thoát và hư hỏng nguyênliệu, vật liệu Từ đó có thể làm cho nguyên liệu, vật liệu không bị hao hụt, không bịgiảm chất lượng
Bên cạnh đó cần phải kiểm tra thường xuyên các định mức tiêu hao nguyênliệu, vật liệu, tư lệ hao hụt nguyên liệu, vật liệu và tư lệ phế phẩm Muốn vậy cầnphải tổ chức kiểm tra thường xuyên, đồng thời cải tiến công nghệ, nâng cao taynghề ;nâng cao ý thức tự giác của công nhân trong sản xuất
3.1.2 Phấn đấu tăng năng suất lao động
PhÂn đấu tăng năng suất lao động là để giảm mức tối thiểu thời gian hao phísản xuất ra một đơn vị sản phẩm hay tăng số lượng sản phẩm cùng trong một đơn
vị thời gian Để tăng năng suất lao động cần áp dụng các biện pháp sau:
- Cải tiến máy móc thiết bị, ứng dụng khoa học công nghệ mới đồng thờiđào tạo nâng cao tay nghề cho công nhân viên, cán bộ quản lý và hành chính
Trang 20Học Viện Tài Chính Chuyªn §Ò Tèt NghiÖp
- Phải có biện pháp quản lý và sử dụng có hiệu quả máy móc thiết bị Đó
là định kỳ hay thường xuyên phải kiểm tra và sửa chữa máy móc thiết bị để khắcphục kịp thời những hỏng hóc và thanh lý những máy móc thiết bị kém hiệu quả để
từ đó quyết định đầu tư máy móc thiết bị mới Bên cạnh việc quản lý trên ta cầnphải kết hợp khai thác hết công suất máy móc, tính năng của khoa học công nghệnhư: giảm tối thiểu số giờ nghỉ của máy, tổ chức vừa đủ số máy hoạt động …từ đólàm cho quá trình sản xuất diễn ra một cách liên tục
- Tổ chức sắp xếp lao động hợp lý với khả năng của từng công nhân viên,luôn nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động cũng như ý thức trách nhiệmcủa họ, tăng cường kû luật lao động, sử dụng đòn bẩy kinh tế để khuyến khíchngười lao động nhiệt tình với công việc
3.2 Tăng số lượng , nâng cao chất lượng sản xuất và tiêu thụ
Đây là biện pháp mà doanh nghiệp nào cũng muốn thực hiện để tăng thêmlợi nhuận cũng như chiếm lĩnh được thị trường lâu dài Để làm được điều này thìcác doanh nghiệp cần kết hợp chặt chẽ với biện pháp (1) đã nêu ở trên như: chútrọng đến việc nâng cao công dụng máy móc thiết bị, nâng cao tay nghề cho côngnhân viên, tổ chức hợp lý quá trình sử dụng, cung ứng vật tư hàng hoá, đồng thờiphải có chính sách giá cả hợp lý (như một đòn bẩy kích cầu ) để tiêu thụ đượcnhiều sản phẩm Do đó để thực hiện tốt biện pháp này các doanh nghiệp cần phảithực hiện tốt các công việc sau:
-Nội dung cũng giống nh biện pháp trên nhưng cần chú trọng đầu tư vàochiều sâu: nghĩa là các doanh nghiệp cần ứng dụng khoa học công nghệ tiến tiếnvào sản xuất một số sản phẩm có ưu thỊ nhất của doanh nghiệp để tạo một sức bậtlớn Nếu bước trên thực hiện tốt, có uy tín cao thì tiếp tục đẩy mạnh và mạnh dạnứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ để hiện ®aÞ dây chuyền sản xuất đểsản xuất toàn bộ các sản phẩm của doanh nghiệp có chất lượng cao Có nh vậy mới
Trang 21tăng năng suất lao động, tăng sản lượng và nâng cao chất lượng sản phẩm sản xuất
và tiêu thụ
-Tổ chức tốt công tác quản lý và sử dụng lao động Tổ chức tốt công tác quản
lý và có một quy mô sản xuất hợp lý sẽ làm cho tính linh hoạt được nâng cao trongsản xuất từ đó giảm bớt thời gian rỗi, tập trung vào sản xuất nâng cao số lượng sảnphẩm Bên cạnh đó doanh nghiệp còn có chính sách sử dụng lao động hợp lý, đó làmạnh dạn bỏ bớt lực lượng lao động gián tiếp mà không còn có tác dụng sắp xếplực lượng lao động trực tiếp và hợp lý và chú trọng đào tạo định kỳ, đặc biệt chú ýtới đời sống vật chất cũng như đời sống tinh thần của công nhân viên
- Thúc đẩy quá trình tiêu thụ sản phẩm, đòi hỏi các doanh nghiệp phải cóbiện pháp như: nghiên cứu thị trường, phân loại thị trường, xây dựng một chínhsách marketing thích hợp (như chi một khoản chi phí lớn cho quảng cáo và giớithiệu sản phẩm ), đồng thời doanh nghiệp phải có chính sách giá cả hợp lý với từngmặt hàng nhưng chất lượng phải đảm bảo và khối lượng sản phẩm sản xuất phảiluôn đáp ứng đầy đủ nhu cầu thị trường
3.3 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh là nhân tố tác động rấtnhạy cảm tới lợi nhuận của doanh nghiệp Vì khi nâng cao hiệu quả sử dụng vốn thìchắc chắn doanh nghiệp sẽ đảm bảo vốn ổn định cho sản xuất, mở rộng quy mô sảnxuất đồng thời tác động đến mọi mặt trong doanh nghiệp
Vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành hai bộ phậnchính Đó là vốn cố định và vốn lưu động Muốn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn,doanh nghiệp phải quan tâm quản lý và sử dụng vốn cố định và vốn lưu động mộtcách hợp lý, doanh nghiệp phải chú ý đến các yếu tố làm tăng (giảm) vốn cố định
và vốn lưu động và các đặc trưng cu¶ chóng, thúc đẩy vòng quay vốn góp phầntăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Ngày nay , trong cơ chế thị trường các doanh
Trang 22Học Viện Tài Chính Chuyªn §Ò Tèt NghiÖp
nghiệp phải chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trướcpháp luật Để thuận tiện cho việc quản lý và sản xuất kinh doanh thì vốn sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp được thể hiện rõ nh sau:
- Một bộ phận được dùng cho sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp, hìnhthành vốn cố định và vốn lưu động đó là bộ phận vốn chủ yếu phục vụ cho mụcđích kinh doanh chính Để sử dụng có hiệu quả bộ phận vốn này, doanh nghiệp cóthể sử dụng các biện pháp sau:
+ Tăng tối đa công suất tài sản cố định nhằm thúc đẩy tăng năng suất laođộng, đồng thời sử dụng ta× sản hợp lý sẽ tránh được hao mòn vô hình, thanh lý tàisản kém hiệu quả, đầu tư tài sản mới vào sản xuất, phát huy tối đa vai trò của tàichính trong việc quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
+ Tăng cường công tác kiểm tra, giám đốc tài chính đối với các bộ phận vốnlưu động nh vốn dư sau sản xuất, vốn sản phẩm đang chế tạo và vốn thành phẩm.Kiểm tra chặt chẽ các định mức tiêu hao, phát huy tính năng động sáng tạo, tự giác
và tự chủ của người lao động Từ đó khẳng định được trình độ quản lý và nâng caohiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
- Bộ phận thứ hai là bộ phận vốn đầu tư ra bên ngoài doanh nghiệp nh: đầu
tư góp vốn liên doanh, đầu tư mua cổ phiếu và trái phiếu trên thị trường vốn
Như vậy trên đây là mọt số biện pháp cơ bản để tăng lợi nhuận, không phảicác doanh nghiệp áp dụng một cách máy móc dập khuôn mà tuỳ từng điều kiện sảnxuất của các doanh nghiệp, cũng như tuỳ thuộc vào lợi thế riêng của mình để lựachọn linh hoạt, tìm các biện pháp cho thích hợp để kích thích tăng lợi nhuận gópphần phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên , việc phấn đấu tăng lợi nhuận phải đượcthực hiện một cách lành mạnh, tránh trường hợp vì chạy theo lợi nhuận mà bất chấpmọi thủ đoạn hay cố tình sản xuất ra những sản phẩm kém phẩm chất để tiêu thụ
Trang 23Để nghiên cứu một cách cụ thể và chi tiết hơn vấn đề lợi nhuận, chúng ta sẽtiến hành xem xét quá trình thực hiện lợi nhuận ở Công ty TNHH SX và TM DệtMay Bình Minh
Chương 2 Tình hình thực hiện lợi nhuận và các biện pháp phấn đấu tăng lợi nhuận ở
- Địa chỉ: Khu CN Trường An, An Khánh - Hoài Đức - Hà Nội.
- Tên giao dịch: BINH MINH TEXTILE TRADING AND PRODUCTION
COMPANY LIMITED.
- Giấy phép thành lập Công ty TNHH SX và TM Dệt May Bình Minh:
Số 0302001054 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội (Hà Tây cũ)
- Ngày cấp: 20/12/2004.
- Người đại diện của doanh nghiệp:
Ông Nguyễn Văn Hộ - Chức danh: Giám đốc
Trang 24Học Viện Tài Chính Chuyªn §Ò Tèt NghiÖp
Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Dệt may Bình Minh trước đây có tên là Công ty TNHH Bình Minh Công ty TNHH Bình Minh ra đời ngày
25/05/1993 có trụ sở đặt tại Số 5 Ngõ 27 - Đường Đại Cồ Việt - Quận Hai BàTrưng - Hà Nội, Giấy phép thành lập số 781GP-UB do UBND Thành phố Hà Nộicấp, là một công ty tư nhân kinh doanh trong lĩnh vực dệt các loại sản phẩm maymặc từ sợi len Acrylic 100% sản phẩm dệt kim Từ khi thành lập đến nay công ty
đã được 18 năm tuổi Sau hơn 18 năm xây dựng, trưởng thành và phát triển, từ chỗcông ty chỉ là một xưởng sản xuất nhỏ, cơ sở hạ tầng thấp kém, trang thiết bị thiếuthốn và lạc hậu đến nay công ty đã trở thành một doanh nghiệp có nhiều cơ sở sảnxuất lớn, cơ sở hạ tầng được nâng cấp, máy móc thiết bị hiện đại được đầu tư giúpcho công ty ổn định sản xuất kinh doanh, đồng thêi tạo công ăn việc làm cho hơn
5000 lao động tại các làng nghề dệt may ở TP Hà Nội và các tỉnh lân cân
Các sản phẩm của công ty đều được sản xuất từ sợi Acrylic 100%, sợiCotton, sợi Peco, sợi PE, các loại vải dệt kim và các sản phẩm may mặc bằng vảiRib, Intertok, Lascost, các loại khăn mặt, khăn tắm, khăn ăn…Các loại vải Denim
và các sản phẩm quần áo Jeans và cuối cùng là các loại mò mềm…được xuất khẩusang nhiều thị trường có uy tín như: Bắc Mü,Châu Âu, Hàn Quốc, Nhật Bản
Trải qua nhiều khó khăn, từ buổi ban đầu thành lập công ty đã luôn phấn đấuhoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình và đã đạt được nhiều thành tích trong sảnxuất kinh doanh Công ty đã được Ngành dệt may Việt Nam cấp giấy chứng nhận
“Chứng nhận thương hiệu Việt yêu thích” ngày 18/02/2002, Năm 2003 Công ty đãđược cấp “Bằng khen về thành tích xuất khẩu năm 2003” theo Q§ số 1116/H§XKNK ngày 08/9/2003, năm 2004 Công ty nhận được bằng khen về chấp hành tốtcác chính sách và pháp luật về thuế”, ngoài ra Công ty cũng nhận được rất nhiềucác bằng khen, giấy chứng nhận khác nữa…
1.1.1 Thời gian đầu thành lập - Công ty TNHH Bình Minh ( 1993 - 1995)
Trang 25Nắm bắt được nhu cầu của thị trường Đông Âu về các sản phẩm dệt là rấtlớn, giám đốc công ty lúc bấy giờ là bà Đỗ Thị Loan đã quyết định thành lập Công
ty TNHH Bình Minh chuyên kinh doanh các hàng dệt may từ sợi Acrylic 100% vàxuất khẩu sang thị trâng Đông Âu như : Nga, Ba Lan…
Do điều kiện ban đầu còn khó khăn về cơ sở hạ tầng như mặt bằng, nhàxưởng còn trật trội, máy móc thiết bị chưa được đầu tư nhiều nên những năm đầuthành lập công ty chỉ chuyên hoạt động xuất nhập khẩu các hàng dệt may chủ yếu
là quần áo người lớn và trẻ em Trong thời gian này do thiếu thốn về mặt bằng sảnxuất nên công ty phải nhập nguyên vật liệu từ Trung Quốc rồi giao tới các hộ giacông ở các làng nghề dệt và xuất khẩu các mặt hàng đó tới các nước Đông Âu Sốcông nhân lúc bấy giờ của công ty chỉ khoảng 200 người, máy móc thiết bị cònthiếu
1.1.2 ổn định và từng bước phát triển sản xuất, đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu (1995 - 1999):
Sang đến giai đoạn 1995 - 1999, công ty đã dần dần ổn định được sản phẩm
và đầu ra cho sản phẩm của mình Nắm bắt được thị trường và sản phẩm, công ty
đã ngày càng mở rộng quy mô sản xuất và thị trường tiêu thụ, phát triển mẫu mã,chủng loại sản phẩm nên đã có được nhiều bạn hàng tin cậy và tiếp tục duy trì, pháttriển các mặt hàng chủ lực là các sản phẩm quần áo len Khối lượng hàng xuất khẩucủa công ty ra các thị trường Đông Âu ngày càng tăng
Kết thúc năm 1999 công ty đã xuất khẩu được gần 20 triệu sản phẩm cácloại
1.1.3 Đổi mới và phát triển bền vững ( Từ năm 2000 đến nay)
Trong điều kiện cơ sở vật chất chật trội, máy móc trang thiết bị còn thiếu màthị trường tiêu thụ của công ty ngày càng lớn, công ty đã quyết định bắt tay vào quá
Trang 26Học Viện Tài Chính Chuyªn §Ò Tèt NghiÖp
trình đổi mới Việc đầu tiên là tiến hành nâng cấp cơ sở hạ tầng, đầu tư máy mócthiết bị phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh
Trong năm 2004, trên nền tảng đang phát triển, công ty lập phương án đầu
tư vay thêm vốn để tiến hành xây dựng nhà xưởng, đầu tư mua sắm máy móc thiết
bị sản xuất Với số vốn vay và vốn tự có công ty đã xây dựng cơ sở sản xuất trêndiện tích đất 20.000 m2 tại khu Công nghiệp Trường An thuộc xã An Khánh, huyệnHoài Đức, TP Hà Nội (Hà Tây cũ) và các nhà xưởng vừa và nhỏ trên các địa bànlân cận
Năm 2005, Công ty đã có cơ sở hạ tầng khang trang rộng rãi, máy móc thiết
bị hiện đại Với những điều kiện vật chất ấy, công ty đã dần đi vào sản xuất ổn địnhvíi trên 3000 công nhân viên làm việc trực tiếp tại các xưởng sản xuất của công ty
và có trên 800 hộ gia công bên ngoài để đáp ứng nhu cầu của thị trường Doanh thuhàng năm của công ty đã tăng và dần ổn định
Do nhu cầu nguyên vật liệu nhập từ Trung Quốc không ổn định và phải chờđợi lâu ngày, mặt khác do đặc thù sản phẩm cần nhiều mầu khác nhau, công ty đãđầu tư thêm xưởng nhuộm để đáp ứng nhu cầu nguyên vật liệu cho sản xuất củamình Việc đầu tư thêm xưởng nhuộm là một bước phát triển rất lớn của công ty vìqua việc đầu tư vào xưởng nhuộm công ty không chỉ đáp ứng được nhu cầu nguyênvật liệu của mình mà còn trở thành một nhà cung cấp len sợi chủ yếu cho nhu cầucủa thị trường Việt Nam
Sau một quá trình tìm hiểu khai thác về những thuận lợi do địa bàn khu Côngnghiệp Trường An thuộc xã An Khánh - Hoài Đức - Hà Nội (Hà Tây Cũ) có thểmang lại cho việc sản xuất kinh doanh của công ty như: đây là khu vực tập trunghầu hết các nhà sản xuất hàng dệt len xuất khẩu nên nhu cầu về len sợi là rất lớn,mặt khác nguồn nhân công tại khu vực này nhiều nên có thể đáp ứng tốt nhu cầu vềlao động cho công ty Vì vậy, để thuận tiện cho việc sản xuất và giao dịch với
Trang 27khách hàng Ban giám đốc công ty đã quyết định chuyển trụ sở chính của công tyTNHH Bình Minh về địa chỉ tại khu CN Trường An thuộc xã An Khánh - Hoài
Đức - Hà Nội (Hà Tây cũ) và đổi tên thành Công ty TNHH Sản xuất và Thương
mại Dệt May Bình Minh.
Từ khi thành lập và chuyển đổi đến nay trải qua những khó khăn của buổiban đầu, công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Dệt may Bình Minh đã khôngngừng phát triển,với số lượng công nhân lúc này đã lên tới 5000 công nhân và trên
1000 hộ gia công bên ngoài, với các máy móc dây chuyển sản xuất hiện đại, tìnhhình sản xuất kinh doanh đi vào ổn định và trên đà phát triển mạnh, trong nhữngnăm gần đây doanh thu của công ty liên tục tăng mạnh…
2 1.2 Đặc điểm hoạt động của Công ty TNHH SX và TM Dệt May Bình Minh:
1.2.1 Tổ chức bộ máy quản lý công ty:
Hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp đạt hiệu quả cao haythấp điều đó phụ thuộc vào cơ chế tổ chức bộ máy quản lý của doanh nghiệp đó
- Công ty TNHH SX và TM Dệt May Bình Minh là đơn vị hạch toán kế toánkinh doanh
độc lập Bộ máy quản lý của công ty được chỉ đạo thống nhất từ trên xuống dưới.Hiện nay do quy mô hoạt động của công ty ngày càng được phát triển nên cơ cấucũng thay đổi theo hướng hiện đại
Ta có thể quan sát sơ đồ bộ máy công ty tại Bảng 1 và thấy rõ mỗi liên hệ
giữa các phòng ban
Trang 28Bảng1: SƠ ĐỒ BỘ MÁY QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY
Ghi chú:
Quan hệ trực tuyến Quan hệ chức năng
PhòngTCHC
Phßng
Kü Thuật
Phân xưởng I
Tổ c¾t
I
TæMay (1-8)
Tổ c¾tII
TæMay (9-16)
Tổ c¾tIII
Tæ
May(17-20)
Phân xưởng II xưởng IIIPhân
Trang 291.2.2 Tổ chức sản xuất tại Công ty:
Công nghệ ngành may tương đối phức tạp bao gồm nhiều công đoạn khácnhau và có mối quan hệ mật thiết với nhau Do vậy quy trình sản xuất của Công
ty bao gồm 2 giai đoạn:
Bước 1: Nhận tài liệu kỹ thuật và sản phẩm mẫu do khách hàng gửi đến
Phòng kỹ thuật nghiên cứu tài liệu và may thử một sản phẩm mẫu Sau đó kháchhàng kiểm tra nhận xét và đóng góp ý kiến Ta có sơ đồ:
Quy trình công nghệ
Bước 2: Quan sát Bảng 2 để thấy quy trình sản xuất của công ty
(1) Nguyên liệu đưa vào công đoạn thiết kế giáo mẫu Tại đây sẽ được xácđịnh tiêu hao căn cứ vào mẫu của từng mặt hàng và các thông số kỹ thuật Sau
đó mẫu cứng rồi chuyển sang công đoạn cắt
(2) Từ mẫu cứng với các thông số kỹ thuật Tổ cắt sẽ tiến hành cắt, đánh
số mẫu bó buộc tạo thành bán thành phẩm cắt
(3) Bán thành phẩm cắt được chuyển sang giai đoạn may: Các tổ may thựchiện thao tác may, lắp ráp các loại bộ phận Tuỳ theo yêu cầu của sản phẩm mà
có số công đoạn thêu giặt
(3a) Công đoạn in, mài (3b) Công đoạn thùa, khuyết, đính
(4) Sản phẩm hoàn chỉnh với công đoạn thùa, khuyết, đính, dập cúc
Bộ phận cắt vàmay ra sảnphẩm mẫu
Bộ phậnnghiên cứu ramẫu giấy
Trang 30Bảng 2: Quy trình sản xuất sản phẩm của công ty.
Nhập kho TP
Trang 31(5), (6) Sau khi được dập cúc các sản phẩm được vệ sinh sạch sẽ, là phẳngsau đó chuyển sang bộ phận hoàn thành để gấp, bao gói, gấu móc, đong hộp.
(7) Sản phẩm hoàn thành được nhập kho, kết thúc quy trình sản xuất vớiCông ty TNHH SX và TM Dệt May Bình Minh Công tác chỉ đạo hướng dẫnviệc thực hiện sản xuất được triển khai từ Phòng kỹ thuật xuống các kỹ thuật phânxưởng đến tổ sản xuất và từng công nhân.
1.2.3 Tổ chức công tác kế toán ở Công ty TNHH SX và TM Dệt May Bình Minh.
Công ty TNHH SX và TM Dệt May Bình Minh áp dụng hình thức sổ kếtoán nhật ký chứng từ kết hợp với việc xử lý số liệu trên máy vi tính và côngtác hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên Đối vớicông tác khấu hao tài sản cố định, công ty áp dụng theo phương pháp khấu haotuyến tính, đơn vị tiền tệ kế toán sử dụng trong ghi chép là đồng Việt Nam.Công ty áp dụng mô hình tổ chức kế toán tập trung tức là toàn bộ công tác kếtoán trong công ty được tiến hành tập trung ở phòng tài chính-kế toán, ở cácnhà máy thành viên không mở sổ sách và không hình thành bộ máy nhân sự kếtoán riêng mà chỉ bố trí các nhân viên kinh tế, thống kê phân xưởng làm nhiệm
vụ thực hiện hạch toán ban đầu thu nhập, kiểm tra và có thể xử lý sơ bộ chứng
từ có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh ở các nhà máy rồi định kỳgửi về phòng kế toán công ty Căn cứ vào các chứng từ kế toán do tổ nghiệp vụgửi về, phòng kế toán tiến hành toàn bộ công tác kế toán trên cơ sở chế độ kếtoán
Phòng Kế toán - Tài chính gồm 20 người: Kế toán trưởng, 2 Phó phòng
kế toán kiêm kế toán tổng hợp, 16 nhân viên kế toán và một thủ quỹ Nhiệm vụđược phân công nh sau:
Trang 32Học Viện Tài Chính Chuyên đề tốt nghiệp
- Kế toán trưởng: là người trực tiếp phụ trách phòng kế toán tài chínhcủa Công ty, chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý tài chính cấp trên và Giámđốc Công ty về các vấn đề có liên quan đến tình hình tài chính và công tác kếtoán, có nhiệm vụ quản lý và điều hành phòng kế toán hoạt động theo chức năngchuyên môn Kiểm tra, chỉ đạo công tác quản lý sử dụng vật tư, tiền vốn trongtoàn công ty theo đúng chế độ Nhà nước
- Phó Phòng Kế toán - Tài chính: có nhiệm vụ hàng ngày căn cứ vàocác nhật ký chứng từ, bảng kê, bảng phân bổ (do kế toán nguyên vật liệu, kế toánthanh toán, kế toán tiền lương cung cấp) để vào sổ tổng hợp cân đối theo dõi tàikhoản, lập bảng cân đối tài khoản sau đó vào sổ cái tài khoản, lập báo cáo tàichính theo quy định
- Kế toán nguyên vật liệu: căn cứ vào phiếu nhập kho, phiếu xuất khovật liệu công cụ dụng cụ để vào sổ chi tiết vật tư Cuối tháng tổng hợp lên sổtổng hợp xuất, lập bảng kê số 3, bảng kê tính giá thực tế vật liệu công cụ, dụng
cụ, bảng phân bổ và từ các hoá đơn kiêm phiếu xuất kho của bên bán để vào sổchi tiết thanh toán với người bán hàng
- Kế toán TSC§ và XDCB: tổ chức ghi chép, phản ánh số liệu, hiệntrạng và các giá trị TSC§, tình hình mua bán thanh lý TSC§
- Kế toán tiền lương: có nhiệm vụ căn cứ vào các bảng tổng hợpthanh toán lương và phụ cấp do tổ nghiệp vụ dưới các nhà máy chuyển lên để lậpcác bảng tổng hợp thanh toán lương cho các nhà máy, phòng ban, lập bảng phân
bổ tiền lương và BHXH
- Kế toán chi phí và giá thành: căn cứ vào bảng phân bổ nguyên vậtliệu, công cụ dụng cụ, bảng tổng hợp vật liệu xuất dụng, bảng phân bổ tiềnlương, và các nhật ký chứng từ có liên quan để ghi vào sổ tập hợp chi phí sản
Trang 33từng mặt hàng cụ thể.
- Kế toán thành phẩm và tiêu thụ: có nhiệm vụ theo dõi tình hình xuấtnhập kho thành phẩm, tình hình tiêu thụ, mở sổ chi tiết bán hàng cho từng loạihàng, mở thẻ theo dõi nhập xuất tồn thành phẩm sau đó theo dõi vào sổ chi tiếtbán hàng cho từng loại
- Kế toán thanh toán: theo dõi tình hình thu chi, sử dụng quỹ tiền mặt,TGNH của công ty, mở sổ theo dõi thu chi tiền mặt hàng ngày, đối chiếu số dưtrên tài khoản của công ty với sổ ngân hàng, theo dõi tình hình thanh toán củacông ty với các đối tượng như khách hàng, nhà cung cấp
- Thủ quỹ: quản lý quỹ tiền mặt của công ty và thực hiện thu chi tiềnmặt theo phiếu thu, phiếu chi
- Nhân viên kinh tế các nhà máy: chịu sự chỉ đạo ngành dọc củaphòng kế toán tài chính của công ty, thực hiện tổng hợp các việc xảy ra trong nhàmáy sau đó báo cáo lên phòng tài chính của công ty
Sơ đồ bộ máy kế toán của công ty:
Kế toán trưởng
Phó phòng Kế toán(kế toán tổng hợp)
Thủ quỹ
và XDCB
Kế toán tiền lương
và BHXH
Kế toán chi phí
và giá thành
Kế toán
TP và tiêu thụ
Kế toán thanh toán
Nhân viên kinh tế
Trang 34Học Viện Tài Chính Chuyên đề tốt nghiệp
1.2.4.Phần mềm kế toán áp dụng tại công ty:
Công ty áp dụng hình thức kế toán Nhật ký chứng từ là phù hợp với đặcđiểm của Công ty Hệ thống chứng từ ban đầu được tổ chức hợp pháp, hợp lệ,đầy đủ, quá trình luân chuyển chứng từ được tổ chức một cách khoa học Thực
tế Công ty áp dụng kế toán máy chương trình FAST tạo điều kiện cho việc luânchuyển chứng từ sổ sách nói riêng và cho công tác kế toán nói chung
Hàng tháng, quý, năm, phòng tài chính-kế toán có nhiệm vụ phải báo cáochính thức về hoạt động sản xuất kinh doanh cho lãnh đạo công ty và các cơquan quản lý như cục quản lý vốn và tài sản, cơ quan thuế, ngân hàng, cơ quanthống kê
1.3 Những thuận lợi và khó khăn của Công ty TNHH SX và TM Dệt May Bình Minh.
Từ một doanh nghiệp chỉ hoạt động theo chỉ tiêu, kế hoạch, đến nayCông ty TNHH SX và TM Dệt May Bình Minh đã có thể vững vàng ứng phóvới những biến động của cơ chế mới, sản phẩm của công ty đã được chấp nhận
và có chỗ đứng trên thị trường, sản xuất đi vào ổn định, kinh doanh có lợinhuận, hoàn thành nghĩa vụ với nhà nước, người lao động có việc làm Cóđược kết quả nh ngày hôm nay là cả một sự cố gắng, nỗ lực cao của tập thể cán
bộ công nhân viên trong công ty Nhưng không chỉ dừng ở đó, Công ty TNHH
SX và TM Dệt May Bình Minh vẫn tiếp tục phấn đấu nhằm đạt được những sựphát triển mới hơn, để sản phẩm của công ty không chỉ dừng lại ở thị trườngtrong nước mà có thể vươn ra thị trường khu vực và quốc tế Trong quá trình
đó, công ty không phải không có những khó khăn, thuận lợi nhất định Do đó,
Trang 35- Công ty đã trải qua nhiều năm hoạt động trong cơ chế thị trườngnhờ đó đã có được những kinh nghiệm thực tế về những yêu cầu của thị trường
và khả năng đáp ứng của công ty, đồng thời công ty đã từng bước trưởng thànhtrên nhiều mặt, nhiều lĩnh vực
- Công tác nhập nguyên vật liệu của công ty được thực hiện tươngđối dễ dàng Bởi vì nguyên liệu chính để sản xuất Dệt may là Bông cotton, hồ,thuốc nhuộm trong khi đó ở nước ta có trữ lượng rất phong phú và giá cả lại rẻ.Đối với một số loại vật liệu khác phải nhập ngoài thì do cơ chế mở cửa của nhànước ta nên công tác nhập khẩu cũng diễn ra tương đối dễ dàng
- Công ty có đội ngũ công nhân lành nghề, giàu kinh nghiệm, độingũ cán bộ lãnh đạo có trình độ và tâm huyết với công ty đã được tôi luyện, thửthách qua nhiều năm, sẵn sàng đồng cam cộng khổ với công ty, cùng tìm rahướng giải quyết, khắc phục khó khăn để thực hiện tốt các mục tiêu của Công
ty
1.3.2 Khó khăn:
Trang 36Học Viện Tài Chính Chuyên đề tốt nghiệp
Bên cạnh những thuận lợi sẵn có, Công ty TNHH SX và TM Dệt MayBình Minh còn vấp phải một số khó khăn chủ yếu sau:
- Khó khăn đầu tiên thuộc về vấn đề thị trường, mặc dù trong một sốnăm gần đây, sản phẩm của công ty đã tìm được chỗ đứng trên thị trường ViệtNam song khả năng tiêu thụ vẫn còn khiêm tốn Sản phẩm Dệt may của ViệtNam hiện đang phải đối mặt cạnh tranh với các sản phẩm nổi tiếng của nướcngoài nh Dệt may của Trung Quốc, Đài Loan
- Khó khăn nữa là công ty thiếu vốn đầu tư Là một doanh nghiệpđang trên đà phát triển nên sẽ cần một lương vốn rất lớn để đầu tư trang thiết bịmáy móc và phụ tùng.Tình hình kinh tế khó khăn, lãi xuất và giá cả thị trườngleo thang có nhiều biến động khiến cho công ty phải rất khó khăn trong việctính toán và đưa ra phương án kinh doanh Đầu tư thêm thì có thÓ bị thua lỗ dolãi xuất của ngân hàng quá cao, không đầu tư thì không thể phát triển đượccông ty, không đáp ứng được nhu cầu thị trường
Từ những khó khăn và thuận lợi đã phân tích ở trên, vấn đề cấp thiết đặt
ra hiện nay cho công ty là tìm ra phương hướng giải quyết và đề ra những giảipháp cụ thể có tính khả thi nhằm tận dụng những tiềm năng, cơ hội, vượt quathử thách, khắc phục khó khăn, đẩy mạnh công tác tiêu thụ, tăng doanh thu tiêuthụ sản phẩm
2 Tình hình thực hiện lợi nhuận ở Công ty TNHH SX và TM Dệt
May Bình Minh năm 2009 và 2010.
2.1 Khái quát tình hình tài chính của công ty:
Qua Bảng 3 về cơ cấu tài sản và nguồn vốn của Công ty, ta thấy:
+ Xét về tổng tài sản của công ty cuối năm 2010 là 25.8 tỷ đồng, tăng 3.1
tỷ đồng so với đầu năm 2010 là 22.7 (tương ứng với tỉ lệ tăng là 13.8%) Việc
Trang 37các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn.
+ Xét về cơ cấu tài sản: Tài sản ngắn hạn và tài sản sài hạn đều tăng
nhưng tốc độ tăng của tài sản ngắn hạn cao hơn khiến tỷ trọng tài sản thay đổi.Tài sản ngắn hạn tăng từ 13.8 tỷ đồng lên 16.4 tỷ đồng với tỷ lệ tăng 18.6% đãnâng cao tỷ trọng tài sản ngắn hạn trong tổng tài sản từ 61.02% lên thành63.59% Tài sản dài hạn tăng với tốc độ chậm hơn (6.29%), từ 8.83 tỷ đồng lên9.38 tỷ đồng nên tỷ trọng tài sản dài hạn trong tổng tài sản từ 38.98% xuống36.91% Nguyên nhân là do trong năm công ty tăng cường tiền mặt, đưa vào tiềngửi ngân hàng để thu lãi suất
+ Xét nguồn vốn của công ty cuối năm 2010 là 25.8 tỷ đồng, tăng 3.1 tỷ
đồng so với đầu năm 2010 là 22.7 tỷ đồng (tương ứng với tỉ lệ tăng là 13.8%) Tổng nguồn vốn tăng chủ yếu là do công ty đã đẩy mạnh vay nợ( chú trọng nợ ngắn hạn, giảm các khoản nợ dài hạn), đồng thời công ty cũng huy động thêm vốn chủ sở hữu nhằm đầu tư mua sắm máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất để
mở rộng quy mô sản xuất
Trang 38Bảng 3: Bảng Cân Đối Kế Toán:
Đơn vị tính:đồng
Cuối năm 2010 Cuối năm 2009 Chênh lệch
TÀI SẢN Số tiền
Tỷ trọng Số tiền
Tỷ
Tỷ trọng
A – Tài sản ngắn hạn 16,397,433,317 63.59% 13,825,407,128 61.02% 2,572,026,189 18.60% 2.57%
I.Tiền và các khoản tương đương tiền 3,413,019,945 20.81% 1,639,724,777 11.86% 1,773,295,168 108.15% 8.95%
II Các khoản đầu tư TC ngắn hạn 7,400,000,000 45.13% 2,900,000,000 20.98% 4,500,000,000 155.17% 24.15%
III Các khoản phải thu 4,103,223,030 25.02% 5,888,044,003 42.59% (1,784,820,973) -30.31% -17.57%
Trang 39Tỷ trọng nợ phải trả và vốn chủ sở hữu là khá cân bằng, đều sấp xỉ 50% Tổng nợ phải trả năm 2010 là 12.8 tỷ đồng, tăng lên 1.4 tỷ đồng so với năm 2009
là 11.4 tỷ đồng (tỷ lệ tăng 11.95%) Tốc độ tăng chậm hơn so với tốc độ tăng của vốn chủ sở hữu nên tỷ trọng nợ phải trả trong tổng nguồn vốn giảm từ 50.37% xuống 49.55% Các khoản nợ ngắn hạn tăng mạnh từ 6.96 tỷ đồng lên 12.17 tỷ đồng với tỉ lệ tăng 74,76% Do có mức tăng đột biến này mà tỷ trọng của nợ ngắn hạn tăng cao từ 61.53% lên 95.27% Trong đó chủ yếu do tăng các khoản người mua trả tiền trước và phải trả người lao động Như vậy, đã có lượng đơn đặt hàng lớn cho năm sắp tới để công ty hoàn toàn tự tin vào khả năng tăng trưởng lợi nhuậncủa mình trong năm tiếp theo Việc vay của người lao động là nhằm nâng cao tráchnhiệm của họ trong công việc qua việc sử dụng đồng vốn của chính mình Nợ dài hạn giảm mạnh từ 4.447 tỷ đồng xuống 604 triệu đồng ( tỷ lệ giảm 34.24%) Sở dĩ
nợ dài hạn giảm nhiều như vậy là do công ty đã thanh toán tiền vay để xây dựng phân xưởng 2 cho Ngân hàng Đầu tư Tỷ trọng nợ dài hạn giảm từ 38.97% xuống 4.73% Việc chuyển đổi cơ cấu sang chủ yếu là vay nợ ngắn hạn cũng phù hợp do các khoản vay ngắn hạn dễ huy động hơn và tình hình tài chính của công ty cho phép dễ dàng huy động các khoản vay này
Tổng vốn chủ sở hữu tăng từ 11.244 tỷ đồng lên 13.007 tỷ đồng (tỷ lệ tăng 15.68%) giúp tỷ trọng vốn chủ sở hữu tăng từ 49.63% lên 50.45% trong tổng nguồn vốn Trong đó khoản mục vốn chủ sở hữu tăng từ 11.218 tỷ đồng lên 12.99
tỷ đồng Khoản mục này tăng là do yếu tố các quỹ thuộc vốn chủ sở hữu tăng Lợi nhuận chưa phân phối cũng tăng nhẹ, góp phần vào sự tăng lên của vốn chủ sở hữu Tuy nhiên công tác khen thưởng của công ty chưa được thực hiện tốt ( quỹ khen thưởng phúc lợi bị cắt giảm từ 25.6 tỷ đồng xuống còn 16.8 tỷ đồng) Việc này cần được chấn chỉnh để không gây ảnh hưởng tới thái độ làm việc của công nhân và cán bộ trong công ty
Trang 40Học Viện Tài Chính Chuyên đề tốt nghiệp
Như vậy, các bước điều chỉnh về quy mô, cơ cấu vốn và nguồn vốn của công
ty trong thời gian vừa qua về cơ bản là tương đối hợp lý, tuy nhiên để có cái nhìn chính xác hơn về tác động của chúng đến lợi nhuận của doanh nghiệp, ta cần đi sâu xem xét hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh sau này.
2.2 Đánh giá khái quát tình hình thực hiện lợi nhuậncủa công ty năm 2010:
2.2.1 Tình hình thực hiện kế hoạch lợi nhuận:
Nhận thức được tầm quan trọng của lợi nhuận đối với sự tồn tại và phát triển, trước mỗi năm tài khóa, công ty luôn tiến hành nghiên cứu bối cảnh thị trường cũng như tình hình hoạt động của công ty để đưa ra kế hoạch về chỉ tiêu mua và bán ra làm mục tiêu phấn đấu cho năm tới
Qua Bảng 4, ta thấy: năm 2010 là một năm phục hồi của nền kinh tế sau cơn
suy thoái và doanh nghiệp cũng đạt được doanh thu và lợi nhuận vượt trội so với
kế hoạch Mặc dù giá vốn hàng bán tăng nhiều hơn so với dự kiến với tỉ lệ cao hơn
tỉ lệ tăng doanh thu thuần do các nguyên liệu đầu vào tăng giá nhưng lợi nhuận gộpvẫn tăng với tỉ lệ cao hơn tỉ lệ tăng của hai yếu tố trên
Ta đi sâu vào phân tích tình hình lợi nhuận thực tế của công ty để có cái nhìnsâu sắc và đúng đắn hơn về những thành tựu mà doanh nghiệp đạt được
2.2.2 Tình hình lợi nhuận thực tế của công ty:
Qua Bảng 5 và Bảng 6, ta thấy:
+ Về cơ cấu, năm 2010, lợi nhuận trước thuế đạt 3.4 tỉ đồng trong đó lợi
nhuận từ hoạt động kinh doanh chính chiếm đa số (tới 3.2 tỉ đồng) và không có lợi nhuận từ hoạt động khác chứng tỏ công ty đã chú trọng chủ yếu vào việc kinh doanh chính của mình Lợi nhuận từ hoạt động tài chính dự không cao nhưng cũng góp phần vào sự tăng lên của tổng lợi nhuận trước thuế Phần lợi nhuận khác của năm 2010 lại là không có