Cùng với sự phát triển của toàn hệ thống, NH ĐTPT Thăng Long cũng đã tranh thủ cơ hội và bằng sự nỗ lực chủ quan luôn vươn lên đủ sức đương đầu với những thách thức mới, nắm bắt những vận hội mới, tạo nên những bước tiến nổi bật. Trong đó, phải kể đến sự phát triển theo hướng tích cực của nghiệp vụ cho vay trung – dài hạn một hoạt động đã từng bước đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế, góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, cho vay trung – dài hạn là một nghiệp vụ hết sức phức tạp, do vậy một trong những mục tiêu, định hướng quan trọng của ngành ngân hàng nói chung và NH ĐTPT Thăng Long nói riêng trong thời gian tới là phải hoàn thành, phát triển nghiệp vụ này.
Trang 1MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY TRUNG – DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1 Cho vay trung - dài hạn và vai trò của nó đối với nền kinh tế 4
1.1.1 Khái niệm cho vay trung – dài hạn 4
1.1.2 Một số đặc trưng của cho vay trung - dài hạn 5
1.1.3 Các hình thức cho vay trung – dài hạn 6
1.1.3.1 Cho vay theo dự án đầu tư 6
1.1.3.2 Cho thuê tài chính 7
1.1.3.3 Cho vay tiêu dùng 7
1.1.3.4 Cho hợp vốn 7
1.1.3 Vai trò của cho vay trung - dài hạn 8
1.1.4.1 Đối với nền kinh tế 8
1.1.4.2 Đối với doanh nghiệp 8
1.1.4.3 Đối với ngân hàng 9
1.2 Chất lượng cho vay trung – dài hạn 9
1.2.1 Khái niệm 9
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay trung – dài hạn 11
1.2.2.1 Chỉ tiêu định tính 11
1.2.2.2 Chỉ tiêu định lượng 12
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng cho vay trung – dài hạn của ngân hàng thương mại 14
1.2.3.1 Nhân tố khách quan 14
1.2.3.2 Nhân tố chủ quan 16
Trang 21.2.4 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng cho vay trung- dài hạn của
ngân hàng thương mại 18
1.2.4.1 Nâng cao chất lượng cho vay trung - đài hạn là đòi hỏi bức thiết đối với sự phát triển kinh tế 18
1.2.4.2 Nâng cao chất lượng cho vay quyết định sự tồn tại và phát triển của các ngân hàng thương mại 19
CHƯƠNG2 THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY TRUNG – DÀI HẠN TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐÂU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN THĂNG LONG 20
2.1 Khái quát về Chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Thăng Long 20 2.1 Quá trình hình thành và phát triển 20
2.1.2 Cơ cấu tổ chức 22
2.1.3 Tình hình hoạt động 22
2.1.3.1 Hoạt động huy động vốn 22
2.1.3.2 Hoạt động sử dụng vốn 27
2.1.3.3 Hoạt động dịch vụ 30
2.1.4 Kết quả tài chính 33
2.2 Thực trạng chất lượng cho vay trung – dài hạn tại NHĐT&PT Thăng Long 36
2.2.1 Tình hình cho vay trung - dài hạn tại NH ĐT& PT Thăng Long 36 2.2.1.1 Doanh số cho vay và doanh số thu nợ của hoạt động cho vay trung – dài hạn 36
2.2.2.2 Kết quả cho vay trung – dài hạn 38
2.2.2.3 Tình hình nợ quá hạn của cho vay trung – dài hạn và nợ quá hạn của chi nhánh 40
Trang 32.2.2 Đánh giá chất lượng cho vay trung – dài hạn tại NH ĐT&PT
Thăng Long 42
2.2.2.1 Kết quả đạt được và nguyên nhân 42
2.2.2.2 Một số vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân 46
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY TRUNG – DÀI HẠN TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN THĂNG LONG 51
3.1 Định hướng nâng cao chất lượng cho vay trung – dài hạn tại Chi nhánh NH ĐT&PT Thăng Long 51
3.1.1 Định hướng chủ yếu 51
3.1.2 Định hướng hoạt động cho vay trung – dài hạn 52
3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay trung – dài hạn tại NH ĐT&PT Thăng Long 53
3.2.1 Mở rộng nguồn vốn cho vay trung – dài hạn 53
3.2.2 Nâng cao chất lượng công tác thẩm định 54
3.2.3 Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng quản lý trong quá trình cho vay, theo dõi đôn đốc trong quá trình thu nợ và thu lãi 55
3.2.4 Dự báo các rủi ro tiềm ẩn trong tín dụng trung - dài hạn và có biện pháp phòng ngừa hữu hiệu 57
3.2.5 Mở rộng cho vay thành phần kinh tế ngoài quốc doanh 59
3.2.6 Cho vay đầy đủ, kịp thời đối với các dự án đầu tư từng công trình 59
3.2.7 Phát triển các trung tâm dịch vụ và tư vấn đầu tư 60
3.2.8 Đẩy mạnh công tác đào tạo cán bộ 60
3.2 9 Thực hiện chiến lược khách hàng 62
3.3 Giải pháp hỗ trợ 62
3.4 Kiến nghị 63
Trang 43.4.2 Kiến nghị đối với ngân hàng nhà nước 64 3.4.3Kiến nghị đối với NH ĐT&PT Việt Nam 65
KẾT LUẬN 67
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị thực tập
Tác giả luận văn
Bùi Thị Thanh Huyền
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ sau khi đổi mới hệ thống Ngân hàng Việt Nam (1998) đến nay, các Ngân hàng thương mại Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể, trở thành kênh dẫn vốn quan trọng cho nền kinh tế đất nước Các nghiệp vụ ngân hàng cũng ngày càng phát triển đa dạng và phong phú
Cùng với sự phát triển của toàn hệ thống, NH ĐT&PT Thăng Long cũng đã tranh thủ cơ hội và bằng sự nỗ lực chủ quan luôn vươn lên đủ sức đương đầu với những thách thức mới, nắm bắt những vận hội mới, tạo nên những bước tiến nổi bật
Trong đó, phải kể đến sự phát triển theo hướng tích cực của nghiệp vụ cho vay trung – dài hạn - một hoạt động đã từng bước đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế, góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, cho vay trung – dài hạn là một nghiệp vụ hết sức phức tạp,
do vậy một trong những mục tiêu, định hướng quan trọng của ngành ngân hàng nói chung và NH ĐT&PT Thăng Long nói riêng trong thời gian tới là phải hoàn thành, phát triển nghiệp vụ này
Xuất phát từ nhận thức trên, qua một thời gian thực tập tại NH ĐT&PT Thăng Long, cùng với việc nghiên cứu lý luận và tình hình thực tế, tôi đã
mạnh dạn chọn đề tài “Các giải pháp nâng cao chất lượng cho vay trung – dài hạn tại Chi nhánh Ngân hàng đầu tư và phát triển Thăng Long”
2 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về hoạt động cho vay trung – dài hạn tại ngân hàng thương mại
Trang 7- Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động cho vay trung – dài hạn tại Chi nhánh NH ĐT&PT Thăng Long
- Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng cho vay trung – dài hạn tại Chi nhánh NH ĐT&PT Thăng Long
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động cho vay trung – dài hạn tại ngân hàng thương mại
- Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng hoạt động cho vay trung – dài hạn tại Chi nhánh NH ĐT&PT Thăng Long giai đoạn 2008 – 2010
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn, những phương pháp được sử dụng
để nghiên cứu là: Phương pháp tổng hợp, so sánh, phân tích, thống kê và phương pháp đánh giá Việc nghiên cứu theo các phương pháp nêu trên được gắn với quan điểm thực tiễn về các giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng
5 Nội dung đề tài gồm các phần như sau
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về chất lượng cho vay trung – dài hạn tại Ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng về chất lượng cho vay trung – dài hạn tại Chi nhánh Ngân hàng đầu tư và phát triển Thăng Long
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng cho vay trung – dài hạn tại Chi nhánh Ngân hàng đầu tư và phát triển Thăng Long
Trang 8Để hoàn thành đề tài này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ từ nhiều phía:
+ Sự hướng dẫn nhiệt tình, ý kiến đóng góp quý báu của thầy giáo – tiến sỹ Nghiêm Văn Bẩy
+ Sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của các anh chị phòng quan hệ khách hàng 1 Chi nhánh Ngân hàng đầu tư và phát triển Thăng Long Tuy nhiên, do thời gian thực tập, cũng như trình độ có hạn nên bài luận văn cuối khóa chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế, khiếm khuyết
Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô, bạn bè
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Trang 9CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY TRUNG – DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Cho vay trung - dài hạn và vai trò của nó đối với nền kinh tế
1.1.1 Khái niệm cho vay trung – dài hạn
Ngân hàng thương mại ra đời là một tất yếu khách quan và đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế Hiện nay, ngân hàng thương mại được coi là hệ thần kinh, là trái tim, là dấu hiệu báo hiệu trạng thái của nền kinh tế Với chức năng của mình, ngân hàng là nơi “bơm” vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, tạo nên sự vận động nhịp nhàng và thúc đẩy quá trình phát triển của nền kinh tế Ngoài ra, kết hợp với các ngành kinh tế khác, ngân hàng có vai trò tham gia bình ổn thị trường tiền tệ, kiểm soát lạm phát, góp phần tăng trưởng kinh tế tạo công ăn việc làm cho người lao động…Và đặc biệt quan trọng hơn, ngân hàng là kênh dẫn vốn cho sự phát triển kinh tế
Ngày nay, các doanh nghiệp luôn phải tìm cách phát triển đổi mới kỹ thuật, công nghệ nhằm tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường dẫn đến nhu cầu vốn trung - dài hạn thường xuyên phát sinh Ngân hàng thương mại với chức năng trung gian tài chính có khả năng cho các doanh nghiệp vay vốn với khối lượng lớn, thời gian dài dưới hình thức cho vay trung – dài hạn
Cho vay trung – dài hạn được hiểu là loại cho vay có thời gian trên một năm được sử dụng để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ đời sống Cho vay trung hạn là khoản cho vay có thời hạn trên một năm đến 5 năm Cho vay dài hạn là khoản cho vay có thời hạn trên 5 năm Cho vay trung – dài hạn của ngân hàng được cấp cho khách hàng để xây
Trang 10dựng mới, mở rộng, cải tạo, khôi phục, hoàn thiện, hợp lý hóa trình công nghệ, quy trình sản xuất
Hiện nay, Việt nam đang trong giai đoạn hội nhập và toàn cầu hóa nền kinh tế Đảng và nhà nước ta chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước ưu tiên theo chiều sâu Nhu cầu vốn trung - dài hạn rất lớn trong khi các doanh nghiệp chưa có nhiều thời gian để tích lũy đủ vốn Đồng thời việc đầu tư của công chúng qua việc mua trái phiếu, cổ phiếu do các doanh nghiệp phát hành còn rất hạn chế do thị trường chứng khoán chưa phát triển mạnh Cho nên, trong thực tiễn, để đáp ứng nhu cầu vốn trung - dài hạn, ngoài việc sử dụng phần vốn chủ sở hữu, các doanh nghiệp chủ yếu tìm đến
sự tài trợ của hệ thống ngân hàng thương mại thông qua hình thức cho vay trung - dài hạn
1.1.2 Một số đặc trưng của cho vay trung - dài hạn
Cho vay trung - dài hạn có những đặc điểm quan trọng sau:
- Cho vay trung – dài hạn với thời gian dài, độ rủi ro cao hơn so với cho vay ngắn hạn, để giảm bớt rủi ro, ngoài việc quy định phải có bảo đảm, ngân hàng cho vay còn có quy định khách hàng phải có vốn chủ sở hữu tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh và đời sống Tỷ lệ vốn chủ sở hữu tham gia tùy thuộc vào tính chất của từng dự án, mức độ rủi ro và hiệu quả của dự án
- Thời hạn trả nợ vốn vay phụ thuộc vào tính chất, đặc điểm của dự án đầu
tư, nhưng thời hạn trả nợ có thể rút ngắn trong trường hợp hiệu quả của dự án mang lại cao Khách hàng có thể trả nợ trước hạn nếu được sự đồng ý của ngân hàng cho vay Việc trả nợ trước hạn sẽ giúp ngân hàng thu được nợ chắc chắn nhưng đôi khi ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng
Trang 11- Cách trả nợ thường sử dụng là: mỗi kỳ trả một phần nợ gốc bằng nhau, hoặc số tiền gốc trả mỗi kỳ không bằng nhau Trong một số trường hợp, khách hàng vay phải duy trì một số tiền nhất định trong suốt thời gian vay vốn Khoản tiền này có tính chất như một khoản phí cam kết, giúp hạn chế rủi
ro cho ngân hàng
- Nguồn trả nợ là khấu hao và một phần lợi nhuận dự án đầu tư mang lại
- Về cách thức giải ngân: Có thể giải ngân một lần, hoặc nhiều lần, đảm bảo cho khách hàng sử dụng tiền vay đúng mục đích Ngân hàng không cho rút vốn khi các nhu cầu chi tiêu liên quan đến dự án chưa phát sinh
- Lãi suất cho vay trung – dài hạn thường cao hơn lãi suất cho vay ngắn hạn, có thể là lãi suất cố định trong suốt thời kỳ vay vốn, cũng có thể là lãi suất biến đổi tùy thuộc vào sự biến động của thị trường
1.1.3 Các hình thức cho vay trung – dài hạn
1.1.3.1 Cho vay theo dự án đầu tư
Đây là hình thức cho vay trung – dài hạn phổ biến trong nền kinh tế thị trường Ngân hàng thương mại tiến hành mọi hoạt động và tự chịu trách nhiệm với từng dự án đầu tư của khách hàng mà họ đã lựa chọn để tài trợ
Chính vì vậy, công việc của ngân hàng không chỉ đơn thuần là cho vay
mà còn phải quán xuyến hàng loạt các công việc khác có liên quan đến thực thi có hiệu quả của dự án như: quy hoạch sản xuất, thiết kế, quy trình công nghệ, tiêu chuẩn thiết bị máy móc, giá cả thị trường, hiệu quả đầu tư Bởi vì việc quy định cấp một khoản tín dụng sẽ ràng buộc ngân hàng với người vay trong một số thời gian, cho nên cần phải nghiên cứu một cách nghiêm túc và xem xét kỹ lưỡng các rủi ro có thể xảy ra
Trang 121.1.3.2 Cho thuê tài chính
Cho thuê tài chính là một hoạt động cho vay trung – dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê và bên thuê Bên cho thuê cam kết mua máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê Bên thuê sử dụng tài sản thuê, và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê được hai bên thỏa thuận
1.1.3.3 Cho vay tiêu dùng
Nhằm giúp người tiêu dùng có nguồn tài chính để trang trải nhu cầu về nhà ở, đồ dùng gia đình và phương tiện đi lại…
Căn cứ vào mục đích cho vay, cho vay tiêu dùng có thể chia thành cho vay nhà đất, cho vay mua sắm phương tiện đi lại và cho vay tiêu dùng khác
Căn cứ vào cách thức hoàn trả, cho vay tiêu dùng có thể chia thành 3 loại: cho vay tiêu dùng hoàn trả một l lần; cho vay trả góp; cho vay tiêu dùng tuần hoàn
1.1.3.4 Cho hợp vốn
Cho vay hợp vốn là hình thức cho vay trong đó có hai hay nhiều tổ chức tín dụng tham gia vào một dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất kinh doanh của một khách hàng vay
Hình thức này được được áp dụng trong các trường hợp: Các dự án đầu tư đòi hỏi một khoản vốn lớn mà các ngân hàng riêng lẻ thì không đáp ứng hết được ngân hàng thường chỉ được phép đầu tư vốn tới một mức độ nhất định so với tổng nguồn vốn của mình và không được đầu tư quá nhiều vốn vào một công ty
để đảm bảo an toàn vốn tài sản Thậm chí, đối với một vài dự án ngân hàng có thể
Trang 13đáp ứng toàn bộ nhưng rủi ro quá lớn ngân hàng không muốn đảm nhận hết Do vậy, cho vay đồng tài trợ là một họat động tín dụng giúp ngân hàng phân tán rủi
ro và có thể sử dụng tối đa nguồn vốn của họ cho đầu tư vào các dự án dài hạn
1.1.3 Vai trò của cho vay trung - dài hạn
1.1.4.1 Đối với nền kinh tế
Cho vay có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, hoạt động cho vay trung - dài hạn nếu có hiệu quả sẽ có tác động tới mọi lĩnh vực kinh tế - chính trị - xã hội Phát triển cho vay trung - dài hạn sẽ giảm bớt đáng kể các khoản bao cấp
từ ngân sách cho đầu tư xây dựng cơ bản và giảm bớt thâm hụt ngân sách, phục vụ cho sự tăng trưởng của nền kinh tế
Mặt khác, trong quá trình cho vay ngân hàng sẽ hướng cho hoạt động của doanh nghiệp đi đúng hướng, từng bước tạo tiền đề vật chất cho xã hội
Mặc dù là một đơn vị kinh doanh, nhưng các ngân hàng quốc doanh vẫn là một bộ phận của nhà nước, hoạt động cho vay trung - dài hạn cũng nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế quốc gia thông qua các chính sách ưu đãi trong cho vay
Cho vay trung - dài hạn còn góp phần chuyển dịch cơ cấu đầu tư, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý, tạo công ăn việc làm, tạo tiền đề cho sự ổn định đời sống, trật tự an toàn xã hội
1.1.4.2 Đối với doanh nghiệp
Với những khoản vay trung – dài hạn, các doanh nghiệp có vốn để đầu tư vào tài sản cố định, mà vẫn được chủ động điều hành các hoạt động kinh doanh, tiến hành các dự án lớn mà không phải phân chia quyền lực nếu lựa chọn việc tài trợ thông qua phát hành cổ phiếu, không phải đối phó với
Trang 14các trái phiếu hay cổ phiếu ưu đãi khi doanh nghiệp không còn cần vốn nữa
và có ý muốn thu lại số cổ phiếu này Thêm vào đó, việc trả nợ trung - dài hạn cũng được ấn định theo định kỳ theo từng kỳ hạn hợp lý và ổn định.Vì vậy,
doanh nghiệp có cơ sở để thực hiện trách nhiệm trả nợ của họ
Như vậy, có thể nói, cho vay trung - dài hạn là trợ thủ đắc lực cho các doanh nghiệp đạt được mục tiêu kinh doanh: lợi nhuận, an toàn, phát triển không ngừng trong khi nguồn vốn trung - dài hạn doanh nghiệp có trong tay không đủ đáp ứng nhu cầu
1.1.4.3 Đối với ngân hàng
Cho vay trung – dài hạn tạo ra lợi nhuận cao hơn rất nhiều so với việc dùng nó để cho vay ngắn hạn, vì mỗi món vay trung - dài hạn cấp cho doanh nghiệp thường là rất lớn, lãi suất cao
Cho vay trung - dài hạn còn là vũ khí cạnh tranh rất có hiệu quả giữa các ngân hàng với nhau Với sản phẩm này, ngân hàng sẽ phục vụ tốt hơn cho các chủ doanh nghiệp và thu hút ngày càng nhiều khách hàng đến với ngân hàng
Mở rộng cho vay trung - dài hạn giúp đẩy mạnh cho vay ngắn hạn Vì vốn vay trung – dài hạn nếu được các doanh nghiệp sử dụng hiệu quả sẽ làm tăng năng lực sản xuất, do đó nhu cầu vốn lưu động tăng lên Các doanh nghiệp sẽ tìm đến với chính ngân hàng đã cho vay trung – dài hạn vì hai bên
đã có sự hiểu nhau
1.2 Chất lượng cho vay trung – dài hạn
1.2.1 Khái niệm
Trang 15Chất lượng cho vay là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng, đảm bảo an
toàn hay hạn chế rủi ro về vốn, tăng lợi nhuận của ngân hàng phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng Đứng trên góc độ ngân hàng thương mại, chất lượng cho vay là khoản
cho vay được đảm bảo an toàn, sử dụng đúng mục đích, phù hợp với các chính sách tín dụng của ngân hàng, hoàn trả gốc và lãi đúng thời hạn, đem lại lợi nhuận cho ngân hàng với chi phí thấp, tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường, làm lành mạnh hóa các quan hệ kinh tế, phục vụ tăng trưởng và phát triển
Đứng trên góc độ lợi ích của khách hàng, khoản cho vay có chất lượng
là phù hợp với mục đích sử dụng của khách hàng với lãi suất và kỳ hạn hợp
lý, thủ tục đơn giản, thuận tiện, thu hút được nhiều khách hàng mới nhưng vẫn đảm bảo được nguyên tắc chung
Đối với nền kinh tế, khoản cho vay có chất lượng phải hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh, tiêu dùng hợp pháp, góp phần phục vụ sản xuất, lưu thông hàng hóa, giải quyết công ăn việc làm, xây dựng các cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, khai thác khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ
và tập trung vốn cho sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế
Chất lượng cho vay là một khái niệm vừa có tính tương đối, nó vừa cụ thể (thể hiện thông qua một số chỉ tiêu định lượng được như dư nợ, nợ quá hạn…) vừa trừu tượng (thể hiện thông qua khả năng thu hút khách hàng, tác động đến nền kinh tế…) Hơn nữa, chất lượng cho vay là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh mức độ thích nghi của ngân hàng thương mại với sự thay
Trang 16đổi môi trường bên ngoài, nó thể hiện sức mạnh của ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại
Chất lượng cho vay trung - dài hạn chính là vốn cho vay trung - dài
hạn của ngân hàng được khách hàng đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh, dịch vụ một cách hiệu quả tạo ra một số tiền lớn hơn vừa đủ để hoàn trả gốc, lãi, trang trải chi phí khác và có lợi nhuận, phù hợp với điều kiện của ngân hàng.Thông qua đó, ngân hàng thu được gốc và lãi đúng thời hạn, còn khách hàng có vốn đầu tư, có nguồn thu bù chi và có lợi nhuận Xét về tổng thể, ngân hàng vừa tạo ra được hiệu quả kinh tế vừa tạo ra được hiệu quả xã hội
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay trung – dài hạn
Trang 171.2.2.2 Chỉ tiêu định lượng
- Doanh số cho vay trung – dài hạn: Đây là chỉ tiêu phản ánh ngân hàng cho vay trung – dài hạn được nhiều hay ít Chỉ tiêu này càng lớn thể hiện nghiệp
vụ này đang được phát triển mạnh, ngân hàng có nhiều khách hàng uy tín
- Doanh số thu nợ cho vay trung – dài hạn: Chỉ tiêu này phản ánh khả năng thu nợ của ngân hàng
- Dư nợ cho vay trung – dài hạn: phản ánh lượng vốn ngân hàng cho vay trung – dài hạn chưa thu nợ Trong đó:
Tỷ lệ dư nợ cho vay trung – dài hạn = Dư nợ cho vay trung – dài hạn/ Tổng dư nợ
- Lợi nhuận cho vay trung - dài hạn: phản ánh chênh lệch giữ chi phí đầu vào và thu nhập đầu ra của ngân hàng
+ Tỷ lệ lợi nhuận từ cho vay trung – dài hạn = Lợi nhuận cho vay trung – dài hạn/ Tổng dư nợ cho vay trung – dài hạn
Thông qua chỉ tiêu này, ta sẽ thấy được khả năng sinh lời của hoạt động cho vay trung - dài hạn Bất kỳ một khoản cho vay nào cho dù đó là khoản ngắn hạn hay trung - dài hạn không thể xem là có chất lượng cao nếu nó không đem lại lợi nhuận thực tế cho ngân hàng Tuy nhiên, đối với các ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng quốc doanh thì lợi nhuận nhiều khi không phải là cái đích để ngân hàng hướng tới mà điều quan trọng là thực hiện được chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước
+ Chỉ tiêu Lợi nhuận từ hoạt động cho vay trung – dài hạn/ Tổng lợi nhuận : phản ánh vai trò, vị trí của hoạt động cho vay trung – dài hạn trong toàn bộ hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Trang 18+ Nợ quá hạn của cho vay trung – dài hạn: là chỉ tiêu cơ bản cho biết chất lượng một khoản cho vay trung – dài hạn Trong đó:
Tỷ lệ NQH cho vay TDH = NQH cho vay TDH/ Dư nợ cho vay TDH
Đến kỳ hạn trả nợ và lãi tiền vay, nếu bên đi vay không đủ tiền để trả
và không được gia hạn nợ thì ngân hàng sẽ chuyển số nợ đó sang nợ quá hạn
Nợ quá hạn chính là điều mà ngân hàng không hề mong muốn nhưng nó không phải là thước đo chuẩn để căn cứ vào đó đánh giá chất lượng tín dụng của món vay Trên thực tế, các ngân hàng luôn cố gắng tìm cách để hạ tỷ lệ
nợ quá hạn tới mức thấp nhất có thể được
Chỉ tiêu NQH cho vay TDH/ Tổng dư nợ: cho biết nợ quá hạn của trung – dài hạn chiếm bao nhiêu trong tổng dư nợ tín dụng Tỷ lệ này không
có hoặc càng nhỏ càng tốt
Chỉ tiêu NQH khó đòi cho vay TDH/ Tổng dư nợ cho vay cao sẽ phản ánh rằng món cho vay của ngân hàng có chất lượng rất thấp, hoạt động của ngân hàng không có hiệu quả và các chỉ tiêu khác để đánh giá chất lượng tín dụng trung - dài hạn trở nên không có giá trị Vì vậy, chỉ tiêu này không có hoặc càng thấp càng tốt
+ Nợ xấu: là nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5
Tỷ lệ nợ xấu cho vay TDH = Nợ xấu cho vay TDH/ Dư nợ cho vay TDH
- Chỉ tiêu vòng quay của vốn cho vay trung dài hạn:
Vòng quay của vốn cho vay TDH = Doanh số cho vay TDH/ Dư nợ cho vay TDH bình quân
Chỉ tiêu này cho ta biết ngân hàng thu nợ theo kế hoạch trong hợp đồng tín dụng được bao nhiêu để có thể lại cho vay dự án mới Vòng quay của vốn
Trang 19càng lớn thì càng tốt vì điều đó khẳng định ngân hàng thu được nhiều nợ và chứng tỏ nguồn vốn trung - dài hạn ngân hàng đã đầu tư hoạt động có hiệu quả Ngược lại, nếu vòng quay của vốn càng nhỏ thì việc thu nợ của ngân hàng là kém và nguồn vốn trung - dài hạn mà ngân hàng đã đầu tư hoạt động kém hiệu quả
Như vậy, khi xem xét đánh giá chất lượng cho vay trung - dài hạn, ta không thể căn cứ vào một chỉ tiêu cụ thể nào mà phải sử dụng tổng hợp một
hệ thống các chỉ tiêu bao gồm các chỉ tiêu định tính và định lượng, cả về lợi nhuận thuần tuý và lợi ích xã hội, cả trên quan điểm ngân hàng và khách hàng Thực hiện được điều này sẽ giúp cho bản thân các ngân hàng cũng như khách hàng đánh giá được chất lượng tín dụng một cách chính xác đầy đủ nhất Qua đó, có thể giải quyết được những hạn chế, vướng mắc cũng như phát huy được những ưu điểm để nâng cao chất lượng tín dụng trung - dài hạn, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế đất nước
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng cho vay trung – dài hạn của ngân hàng thương mại
1.2.3.1 Nhân tố khách quan
Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế trong nước và nước ngoài dù thay đổi theo chiều hướng nào cũng đều tác động tới chất lượng cho vay trung – dài hạn của ngân hàng Các hiện tượng lạm phát, biến động tỷ giá… đều ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, từ đó quyết định đến khả năng trả nợ ngân hàng, và do đó quyết định đến chất lượng của các món vay trung – dài hạn
Môi trường chính trị - xã hội
Trang 20Môi trường chính trị - xã hội ổn định sẽ giúp cho các doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư lâu dài cho hoạt động sản xuất kinh doanh Ngược lại, nếu môi trường chính trị - xã hội mà bất ổn thì các doanh nghiệp sẽ không dám mạnh dạn đầu tư mà chỉ duy trì ở mức tái sản xuất giản đơn để bảo đảm an toàn vốn Điều này sẽ ảnh hưởng tới quy mô các khoản cho vay trung - dài hạn của ngân hàng, các món vay chủ yếu sẽ là ngắn hạn còn khoản cho vay trung - dài hạn sẽ không có hoặc rất nhỏ vì sự không ổn định về chính trị - xã hội dẫn đến việc kinh doanh của doanh nghiệp gặp nhiều rủi ro, bất trắc hơn nên nó sẽ ảnh hưởng tới công tác thu nợ của ngân hàng
Tuy nhiên, không chỉ có tình hình chính trị xã hội trong nước mà cả tình hình chính trị - xã hội ở nước ngoài cũng có ảnh hưởng tới chất lượng cho vay trung - dài hạn bởi vì hiện nay các quan hệ kinh tế - xã hội ngày càng được
mở rộng cho nên các loại hình doanh nghiệp đa quốc gia cũng ngày càng tăng
cả về số lượng và quy mô hoạt động Vì vậy, mọi biến động về kinh tế - xã hội ở nước ngoài đều có ảnh hưởng tới tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong nước và ảnh hưởng tới chất lượng cho vay trung - dài hạn
và chất lượng cho vay trung - dài hạn nói riêng
Trang 21 Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng là kim chỉ nan đảm bảo cho hoạt động tín dụng đi đúng quỹ đạo, nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của mọi ngân hàng Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút được nhiều ngân hàng, đảm bảo khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng trên cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ pháp luật, đường lối chính sách của nhà nước và đảm bảo công bằng xã hội
Môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên có một ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng tín dụng của ngân hàng nói chung đặc biệt là cho vay trung - dài hạn nói riêng bởi vì thiên tai là một yếu tố bất khả kháng, chúng ta không thể dự đoán một cách chắc chắn là khi nào những thiên tai như bão lũ lụt, hạn hán, hoả hoạn, dịch bệnh…sẽ xảy ra và mức độ ảnh hưởng, thiệt hại của chúng là như thế nào Thông thường, khi thiên tai xảy ra, nó thường gây thiệt hại rất lớn cho các ngành sản xuất, dịch vụ, gây ra các biến động xấu ngoài dự kiến trong mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và các khách hàng của mình làm cho vốn của ngân hàng đầu tư vào các doanh nghiệp sẽ ít nhiều bị ảnh hưởng và dẫn tới rủi ro làm giảm chất lượng tín dụng
Trang 22- Rủi ro trong công việc kinh doanh của khách hàng: rủi ro do không tính toán
kỹ, rủi ro do biến động giá đầu vào…
Về phía ngân hàng
- Công tác thẩm định
Cho vay trung - dài hạn được tiến hành chủ yếu dựa trên các dự án đầu
tư Muốn xem xét dự án có đủ độ tin cậy để có thể cho vay được hay không, ngân hàng cần tiến hành thẩm định dự án đầu tư
Mục đích của việc thẩm định dự án đầu tư là nhằm giúp ngân hàng rút
ra kết luận chính xác về tính khả thi, hiệu quả kinh tế, khả năng trả nợ và những rủi ro có thể xảy ra của dự án để đưa ra quyết định cho vay hoặc từ chối cho vay
Thông qua công tác thẩm định, ngân hàng sẽ phát hiện, bổ sung thêm những giải pháp nhằm nâng cao tính khả thi của dự án đồng thời làm cơ sở để xác định số tiền cho vay, thời gian cho vay, mức thu nợ hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả
Thẩm định tín dụng một cách kỹ càng, đúng quy trình thẩm định sẽ góp phần giảm được những rủi ro của cho vay trung - dài hạn, giúp ngân hàng thu được lợi nhuận và đảm bảo tính ổn định của các khoản vay
- Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng của một ngân hàng là kim chỉ nan cho hoạt động tín dụng của ngân hàng đó Bên cạnh việc phải phù hợp với đường lối phát triển của nhà nước thì chính sách tín dụng còn phải đảm bảo kết hợp hài hoà quyền lợi của người gửi tiền, người đi vay và quyền lợi của chính bản thân ngân hàng Chính sách tín dụng phải tạo ra sự công bằng, không những phải
Trang 23đảm bảo an toàn cho hoạt động của ngân hàng mà còn phải đảm bảo đủ sức hấp dẫn đối với khách hàng
- Chất lượng nhân sự
Việc tuyển chọn nhân sự nếu được làm tốt sẽ giúp cho ngân hàng có thể ngăn ngừa được những sai phạm có thể xảy ra khi thực hiện chu kỳ khép kín của một khoản tín dụng
- Công tác tổ chức của ngân hàng
Công tác tổ chức không chỉ tác động tới chất lượng cho vay mà còn tác động tới mọi hoạt động của ngân hàng Nếu công tác tổ chức không khoa học
sẽ làm ảnh hưởng tới thời gian ra quyết định đối với món vay, không đáp ứng kịp thời các yêu cầu của khách hàng, không theo dõi sát sao được công việc Công tác tổ chức ở đây đề cập tới vấn đề giao việc đúng người, đúng việc Nếu được tổ chức tốt, các công việc đối với một món vay sẽ được thực hiện tuần tự, chặt chẽ, vừa đảm bảo về mặt thời gian vừa không có sự sơ hở nên sẽ làm cho chất lượng của món vay được nâng cao
- Thông tin tín dụng
Những thông tin chính xác về khách hàng sẽ giúp ích rất nhiều cho ngân hàng trong những công việc có liên quan đến việc cho vay, theo dõi và quản lý tiền vay từ đó giúp chất lượng tín dụng được nâng cao hơn
1.2.4 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng cho vay trung- dài hạn của ngân hàng thương mại
1.2.4.1 Nâng cao chất lượng cho vay trung - đài hạn là đòi hỏi bức thiết đối với sự phát triển kinh tế
Trang 24Đảm bảo chất lượng tín dụng nói chung, cho vay trung – dài hạn nói riêng là điều kiện để ngân hàng làm tốt vai trò trung tâm thanh toán: khi chất lượng tín dụng được đảm bảo sẽ tăng vòng quay vốn tín dụng, với một khối lượng tiền như cũ, có thể thực hiện số lần giao dịch lớn hơn, tạo điều kiện tiết kiệm tiền trong lưu thông, củng cố sức mua của đồng tiền
Chất lượng tín dụng nói chung, cho vay trung – dài hạn nói riêng góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ, tăng trưởng kinh tế, tăng uy tín quốc gia
Chất lượng cho vay trung - dài hạn được nâng cao sẽ góp phần tăng hiệu quả sản xuất xã hội, đảm bảo sự phát triển cân đối giữa các vùng, các ngành trong cả nước, ổn định và phát triển kinh tế
Chất lượng cho vay trung - dài hạn góp phần làm lành mạnh quan hệ tín dụng: hoạt động tín dụng được mở rộng với các thủ tục đơn giản hoá, thuận tiện nhưng vẫn tuân thủ các nguyên tắc tín dụng sẽ góp phần cho vay đúng các đối tượng cần thiết, giảm thiểu và đi đến xoá bỏ nạn cho vay nặng lãi chủ yếu hiện nay đang hoành hành ở nông thôn và các vùng xa xôi hẻo lánh
Tín dụng nói chung và cho vay trung - dài hạn nói riêng có mối quan hệ mật thiết với nền kinh tế - xã hội, thiết lập một mối cơ chế chính sách đồng bộ,
có hiệu quả sẽ có tác động tích cực với mọi mặt của nền kinh tế - xã hội, điều đó cũng có thể hiện chất lượng hoạt động tín dụng trong nền kinh tế thị trường
1.2.4.2 Nâng cao chất lượng cho vay quyết định sự tồn tại và phát triển
của các ngân hàng thương mại
Trang 25Chất lượng cho vay trung - dài hạn tốt làm tăng khả năng cung cấp dịch
vụ, thu hút được nhiều khách hàng, tạo ra một hình ảnh về biểu tượng và uy tín của ngân hàng
Chất lượng cho vay trung - dài hạn tốt làm tăng khả năng sinh lợi của sản phẩm, dịch vụ ngân hàng do giảm được sự chậm trễ, giảm chi phí nghiệp
vụ, chi phí quản lý, các chi phí thiệt hại do không thu hồi được vốn vay đã cho vay Mặt khác, nó còn đảm bảo khả năng thanh toán và lợi nhuận của ngân hàng, tạo thế mạnh cho ngân hàng trong cạnh tranh, tạo thuận lợi cho sự tồn tại lâu dài của ngân hàng Bên cạnh đó, chất lượng cho vay tốt giúp ngân hàng củng cố các mối quan hệ xã hội bằng những điều kiện tốt nhất
Có thể nói, với những ưu thế trên, việc củng cố và tăng cường chất lượng cho vay trung - dài hạn của các ngân hàng thương mại là sự cần thiết khách quan vì sự tồn tại và phát triển lâu dài của các ngân hàng thương mại
Vì vậy, chất lượng cho vay luôn luôn đòi hỏi phải được nâng cao
CHƯƠNG2 THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY TRUNG – DÀI HẠN TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐÂU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN THĂNG LONG 2.1 Khái quát về Chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Thăng Long
2.1 Quá trình hình thành và phát triển
Trang 26Long) là một Chi nhánh trực thuộc của hệ thống Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam Tiền thân của Chi nhánh đó là một phòng chuyên quản trực thuộc Ngân hàng Kiến thiết Trung ương theo Quyết định số 103/TC-QĐ/TCCB ngày 03/4/1974, với nhiệm vụ chính là cấp phát, kiểm tra và thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho việc xây dựng công trình Cầu Thăng Long Phòng này đặt trụ sở tại xã Đông Ngạc - Từ liêm - Hà Nội và lấy tên con dấu riêng là: “Ngân hàng kiến thiết Trung ương - Phòng chuyên quản công trình cầu Thăng Long”
Từ khi có Quyết định số 75/NH-QĐ ngày 17/7/1981 của Tổng giám đốc NHNN Việt Nam, phòng được mang tên “Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư Xây dựng công trình trọng điểm Cầu Thăng Long”, được giao nhiệm vụ quản lý các nguồn vốn dành cho đầu tư xây dựng cơ bản cầu Thăng Long, thực hiện hạch toán và tiến hành cho vay, cấp phát, thanh toán quản lý tiền mặt, kiểm soát thu chi quỹ tiền lương trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản đối với các khách hàng xây lắp có mở tài khoản tại Chi nhánh, thực hiện theo đúng chế độ chính sách, thể lệ và kế hoạch của Nhà nước Ngày 27/6/1988 theo quyết định số 52/NH-QĐ của Tổng Giám đốc NHNN Việt Nam về việc đổi tên “Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư Xây dựng công trình trọng điểm cầu Thăng Long” thành “Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng cầu Thăng Long”
Để phù hợp với tổ chức bộ máy NHĐT&PT Việt Nam, năm 1991 theo Quyết định số 38/NH-QĐ ngày 2/4/1991 của Thống đốc NHNN Việt Nam, Chi nhánh được đổi tên thành “Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và phát triển Thăng Long” trực thuộc NHĐT&PT Việt Nam và chuyển trụ sở làm việc ra địa điểm tại đường cao tốc Thăng Long - Nội Bài thuộc xã Cổ Nhuế - Từ Liêm - Hà Nội, nay đổi tên là đường Phạm Văn Đồng - Từ liêm - Hà Nội
Đến năm 1994, Thống đốc NHNN Việt Nam ra Quyết định số 38 NH/QĐ-NH ngày 10/11/1994 điều chỉnh chức năng và nhiệm vụ của
Trang 27NHĐT&PT Thăng Long - Trực thuộc NHĐT&PT Việt Nam, cho phép Chi nhánh được chuyển sang hoạt động kinh doanh như một NHTM
Đến đầu năm 2009, do địa điểm kinh doanh không thuận lợi, chi nhánh
đã chuyển trụ sở sang số 8 Phạm Hùng - Cầu Giấy – Hà Nội
2.1.2 Cơ cấu tổ chức
Tính đến nay, Chi nhánh có 22 phòng, 140 cán bộ công nhân viên, trong đó có 74 nữ và 66 nam, số cán bộ chủ chốt là 38 người trong đó Ban giám đốc gồm 4 người (một Giám đốc và ba Phó giám đốc) Được chia thành
05 khối hoạt động: khối Quan hệ khách hàng, khối Quản lý rủi ro, khối Tác nghiệp, khối Hỗ trợ, khối Phòng giao dịch trực thuộc và mỗi khối có 01 đồng chí trong Ban Giám đốc Chi nhánh phụ trách
- Khối Quan hệ khách hàng: gồm 02 Phòng Quan hệ khách hàng và 01 Phòng Quan hệ khách hàng cá nhân
- Khối Tác nghiệp: gồm Phòng Quản trị tín dụng với chức năng thực hiện quản trị khoản vay; 02 Phòng Dịch vụ khách hàng; Phòng Thanh toán quốc tế; Phòng kho quỹ
- Khối Quản lý rủi ro: gồm phòng Quản lý rủi ro và tổ xử lý nợ
- Khối Hỗ trợ: bao gồm Phòng Tài chính kế toán, Phòng Tổ chức hành chính, Phòng Kế hoạch tổng hợp, Phòng Điện toán
- Khối Phòng Giao dịch trực thuộc: hiện tại có 09 phòng giao dịch thuộc khối là: Phòng Giao dịch số 1,2,3,4,5,7,8,9,10
2.1.3 Tình hình hoạt động
Trang 28Vốn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng là những giá trị tiền tệ được ngân hàng tạo lập và huy động để sử dụng cho hoạt động kinh doanh nhằm đạt được các mục tiêu khác nhau
Nghiệp vụ tạo vốn là nghiệp vụ khởi đầu của ngân hàng thương mại Vốn là cơ sở của ngân hàng thương mại để tổ chức mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Chính vì sự quan trọng của nên ngoài vốn ban đầu cần thiết, tức là vốn điều lệ, theo luật định, ngân hàng phải chăm lo tới việc tăng trưởng vốn trong suốt quá trình hoạt động Ta sẽ xem xét tình hình huy động vốn của chi nhánh qua bảng số liệu sau:
Trang 29Bảng 2.1 Tình hình huy động vốn tại NH ĐT& PT Thăng Long
Đơn vị: tỷ đồng
Nội dung
Số tuyệt đối
Tỷ trọng (%)
Số tuyệt đối
Tỷ trọng (%)
Số tuyệt đối
Tỷ trọng (%)
Trang 30Biểu 1: Tổng vốn huy động giai đoạn năm 2008 - 2010
Qua bảng số liệu trên, ta thấy nguồn vốn huy động của NH Đ T & PT Thăng Long có sự thay đổi qua các năm Cụ thể, trong năm 2009, tổng vốn huy động được 3182 tỷ đồng tăng 0.73% so với năm 2008, số tuyệt đối tăng
23 tỷ đồng so với năm 2008 Mức tăng quy mô vốn huy động chậm do tình hình kinh tế Việt nam và thế giới gặp nhiều khó khăn Bước sang năm 2010, kinh tế thế giới dần vượt qua khủng hoảng và phục hồi, huy động vốn của chi nhánh tăng mạnh, tăng 12,92% so với năm 2009, số tuyệt đối tăng 411 tỷ đồng đạt 3593 tỷ đồng
- Xét theo thành phần kinh tế:
+ Tiền gửi dân cư tăng dần qua các năm cả về số tiền và tỷ trọng: Năm
2008 là 1142 tỷ đồng, chiếm 36,2% tổng nguồn vốn huy động năm 2008 Năm 2009 là 1226 tỷ đồng, chiếm 38,5%, tăng thêm 84 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 7,36% so với năm 2008 Năm 2010 là 1395 tỷ đồng, chiếm 39%, tăng thêm
169 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 13,78% so với năm 2009
+ Huy động vốn từ các định chế tài chính tăng về số tiền và tương đối ổn định về tỷ trọng: Năm 2009 là 673 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 21,2%, tăng 73 tỷ
Trang 31đồng, tương ứng 12,17% so với năm 2008 Năm 2010 là 676 tỷ đồng, chiếm
tỷ trọng 19%, tăng 3 tỷ đồng, tức 0,45% so với năm 2009
+ Tiền gửi của các tổ chức kinh tế luôn chiếm tỷ lớn trong tổng nguồn vốn huy động của chi nhánh Do tình hình kinh tế khó khăn nên năm 2009, nguồn vốn huy động này giảm cả về tỷ trọng và số tiền Huy động vốn năm 2008 đạt
1417 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 44,9% Năm 2009 đạt 1283 tỷ đồng, giảm 134
tỷ đồng, tức giảm 9,46%, về tỷ trọng chiếm40,3% Năm 2010, nguồn vốn này tăng mạnh cả về tỷ trọng và số tiền đạt 1522 tỷ đồng, tăng 239 tỷ đồng, tức giảm 18,63%, chiếm tỷ trọng 42% trong tổng nguồn vốn huy động trong năm
- Xét về loại tiền:
+ Vốn huy động bằng VND vẫn chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng nguồn vốn huy động qua các năm Năm 2008 là 2622 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 83% Năm 2009 đạt 2681 tỷ đồng, tăng 59 tỷ đồng, tức 22,5%,về tỷ trọng chiếm 84,3% Năm 2010 đạt 3054 tỷ đồng, tăng 373 tỷ đồng, tức 13,91% so với năm
2009, về tỷ trọng chiếm 85% tổng nguồn vốn huy động năm 2010
+ Vốn huy động bằng ngoại tệ năm 2008 là 537 tỷ đồng, chiểm tỷ trọng 17% Năm 2009 đạt 501 tỷ đồng, giảm 36 tỷ đồng, tức giảm 6,7% so với năm
2008, chiếm tỷ trọng 15,7% Năm 2010, đạt 539 tỷ đồng, tăng 38 tỷ đồng, tức tăng 7,85% so với năm 2009, chiếm tỷ trọng 15%
Trang 32+ Tiền gửi ngắn hạn năm 2009 giảm mạnh so với năm 2008, nhưng lại tăng mạnh vào năm 2010 Cụ thể: Năm 2008 đạt 1535 tỷ đồng, chiếm 48,6% Năm
2009 đạt 1350 tỷ đồng, giảm 185 tỷ đồng, tỷ lệ giảm 12,05%, chiếm 42,4% Năm 2010, đạt tới 2137 tỷ đồng, tăng 787 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 58,3%, chiếm tỷ trọng 59% tổng vốn huy động Loại tiền gửi này luôn chiêm tỷ trọng lớn là do nền kinh tế lạm phát, biến động mạnh về lãi suất, chính sách của ngân hàng dẫn đến người gửi tiền chủ yếu tập trung gửi tiền kỳ hạn ngắn
+ Tiên gửi trung – dài hạn năm 2008 đạt 866 tỷ đồng, chiếm 27,4 % Năm
2009, đạt 924 tỷ đồng, tăng 58 tỷ, tỷ lệ tăng 6,7%, chiếm tỷ trọng 29,1% Năm 2010, đạt 737 tỷ đồng, giảm 187 tỷ đồng, tỷ lệ giảm 20,24%, chiếm tỷ trọng 21% Nguồn vốn này giảm là do Bảo hiểm xã hội rút 140 tỷ đồng vốn trung – dài hạn năm 2010
Như vậy, giai đoạn 2008 – 2009, tốc độ tăng vốn huy động của chi nhánh không ổn định do một số nguyên nhân khách quan như sự phụ thuộc vào biến động kinh tế thế giới, địa bàn hoạt động kém thuận lợi, cơ chế lãi suất chưa được mềm dẻo so với các ngân hàng thương mại cổ phần trên cùng địa bàn… Tuy nhiên, trong tình hình tài chính thế giới khó khăn như hiện nay, với kết quả đạt được, chứng tỏ, NH ĐT& PT Thăng Long đã có một thị phần vốn ổn định và hiệu quả, đã tạo niềm tin và uy tín trong dân cư và các tổ chức kinh tế đến các ngân hàng
Trang 33Than và Khoáng sản Việt nam, Tập đoàn Hà Đô, Công ty Matexim, các đơn
vị lớn thuộc tổng công ty xây dựng xuất nhập khẩu Việt nam (Vinaconex)… bên cạnh đó chi nhánh chú trọng, chủ động phát triển tín dụng đối với các khách hàng vừa và nhỏ, khách hàng ngoài quốc doanh, khách hàng kinh doanh thương mại, khách hàng có mặt hàng xuất khẩu….nhằm thay đổi cơ cấu tín dụng của chi nhánh theo hướng giảm dần dư nợ xây lắp Cụ thể, tình hình cho vay của chi nhánh như sau:
Bảng 2.2: Tình hình cho vay của NH ĐT&PT Thăng Long
Đơn vị: Tỷ đồng
Chỉ tiêu
Số tiền
Tỷ trọng
Số tiền
Tỷ trọng
Số tiền
Tỷ trọng Tổng dư nợ 1,980 100% 2,069 100% 1,712 100%
(Nguồn: báo cáo tổng kết chi nhánh Thăng Long năm 2008-2010)
Trang 340 500
1000
1500
2000
2500
Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Dư nợ cho vay
Biểu 2: Dư nợ cho vay giai đoạn 2008 - 2010
Năm 2008, tổng dư nợ là 1980 tỷ đồng Năm 2009, là 2069 tỷ đồng, tăng 89 tỷ đồng, tỷ lệ tăng đạt 4,5% Năm 2010 là 1712 tỷ đồng, giảm 357 tỷ
đồng, tỷ lệ giảm là 17,25% so với 2009.Trong đó:
Xét về kỳ hạn:
Cho vay ngắn hạn có xu hướng thu hẹp về tỷ trọng qua các năm Năm 2008,
dư nợ cho vay ngắn hạn đạt 1579 tỷ đồng; năm 2009 là 1580 tỷ đồng; năm
2010 là 1147 tỷ đồng Tỷ trọng qua các năm lần lượt là: 80%, 76%, 67% Cho vay trung – dài hạn có xu hướng mở rộng cả về số tiền và tỷ trọng Về số tiền, năm 2008 là 401 tỷ đồng; 2009 là 489 tỷ đồng; 2010 là 565 tỷ đồng Về
tỷ trọng lần lượt là: 20%, 24%, 33%
Xét theo đối tượng khách hàng:
Trang 35Đối tượng khách hàng chủ yếu vẫn là các tổ chức kinh tế Năm 2008, dư
nợ TCKT đạt 1782 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 90% Năm 2009 là 1821 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 88% Năm 2010 là 1447, chiếm tỷ trọng 85%
Dư nợ bán lẻ cũng tăng dần qua các năm Năm 2008 là 198 tỷ đồng, chiếm 10% Năm 2009 là 248 tỷ đồng, chiếm 12% Năm 2010 là 265 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 15%
Xét theo loại tiền :
Cho vay bằng VND chiếm tỷ trọng lớn và tăng dần qua các năm Năm
2008 đạt 1446 tỷ đồng chiếm 73% Năm 2009 đạt 1555 tỷ đồng, chiếm 75% Năm 2010 đạt 1475 tỷ đồng chiếm 86%
Cho vay bằng ngoại tệ có xu hướng giảm dần Năm 2008 đạt 534 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 27% Năm 2009 đạt 514 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 25% Năm 2010 đạt 237 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 14%
2.1.3.3 Hoạt động dịch vụ
Thu dịch vụ luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu nhập ròng từ hoạt động kinh doanh của chi nhánh Trong 3 năm qua, chi nhánh đã triển khai tích cực và toàn diện các sản phẩm, đáp ứng ngày càng đầy đủ, kịp thời nhu cầu
sử dụng của các tổ chức kinh tế như: dịch vụ tín dụng, bảo lãnh, thanh toán, kinh doanh ngoại tệ, các sản phẩm bán lẻ ( ATM/POS, BSMS, thanh toán lương, thấu chi tài khoản, thanh toán hóa đơn tiền điện…)
Trang 36Bảng 2.3 Thu dịch vụ tại chi nhánh
(Nguồn: báo cáo tổng kết chi nhánh Thăng Long các năm 2008-2010)
Trang 37
tỷ đồng đạt 102% so với kế hoạch Trong đó:
Thu dịch vụ thanh toán trong nước và quốc tế là dòng sản phẩm có tốc
độ tăng trưởng cao và đang dần khẳng định để trở thành 1trong những dòng sản phẩm chủ lực tại chi nhánh Năm 2008, tổng thu dịch vụ thanh toán trong nước và quốc tế đạt 3,57 tỷ đồng ; năm 2009 đạt 5,7 tỷ đồng và 2010 đạt 7,31
Trang 38nếu năm 2008, thu dịch vụ kinh doanh ngoại tệ đạt 7,662 tỷ đồng thì năm
2009 đạt 1,95 tỷ đồng và năm 2010 đạt 2,45 tỷ đồng
Dịch vụ bảo lãnh cũng giảm dần qua các năm Trong năm 2009, 2010 chi nhánh chỉ đạo tập trung xử lý nợ xấu, lãi treo, nợ ngoại bảng, giảm dần dư nợ cho vay xây lắp Do vậy, doanh số cho vay, phí bảo lãnh giảm Năm 2008 là 24,26 tỷ đồng Năm 2009 là 17,2 tỷ đồng Năm 2010 là 16,5 tỷ đồng
Các dịch vụ khác cũng được ngày càng mở rộng và thu được những kết quả đáng kể như dịch vụ tín dung, dịch vụ thẻ, dịch vụ BSMS, dịch vụ WU, dịch vụ thu phí bảo hiểm…
2.1.4 Kết quả tài chính
Căn cứ nhiệm vụ được giao, xuất phát từ tình hình thực tế trên địa bàn Chi nhánh NH ĐT & PT Thăng Long đã tích cực triển khai nhiều biện pháp thực hiện kế hoạch kinh doanh năm 2010, nhờ đó mà thu nhập hàng năm không ngừng tăng Ta xem xét kết quả kinh doanh của chi nhánh qua bảng số liệu sau :
Bảng 2.4 : Kết quả kinh doanh
Số tiền
Số tiền Số tiền Tỷ lệ Số tiền Tỷ lệ
Chênh lệch thu chi
trước DPRR 100.3 73.89 116.4 -26.41 -26% 42.51 58% Trích DPRR trong
Lợi nhuận trước 53.3 53.89 55.4 0.59 1% 1.51 3%
Trang 39Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Lợi nhuận trước thuế
Biểu 4: Lợi nhuận trước thuế giai đoạn 2008 - 2010 Năm 2008, lợi nhuận trước thuế đạt 53,3 tỷ đồng, trong đó chênh lệch thu chi trước dự phòng rủi ro đạt 100,3 tỷ đồng, chi nhánh trích dự phòng rủi
ro 47 tỷ đồng Năm 2009, mặc dù lợi nhuận trước thuế tăng 1%, đạt 53,89 tỷ đồng, song chênh lệch thu chi trước dự phòng rủi ro chỉ đạt 73,89 tỷ đồng Lợi nhuận trước thuế tăng là do trong năm chi nhánh chỉ trích 20 tỷ đồng để
dự phòng rủi ro Năm 2010, lợi nhuận trước thuế của ngân hàng đạt tới 55,4
tỷ đồng Trong đó, đáng mừng là chênh lệch thu chi trước dự phòng rủi ro đạt tới 116,4 tỷ đồng, tăng 58% so với năm 2009 và trích dự phòng rủi ro 61 tỷ đồng, tăng 205% so với năm 2009
Kết quả trên cho thấy dấu hiệu rất khả quan trong kết quả kinh doanh của
NH ĐT&PT Thăng Long và cũng là điều kiện thuận lợi cho ngân hàng tiếp