Tập trung vào phân tích nguồn gốc và bản chất của nhà nước, Lý luận của những người Mác-xít đi sâu nghiên cứu về nhà nước một cách tổng thể những vấn đề chung nhát về bản chất, chức năng
Trang 1Học thuyết về Nhà nước của Chủ nghĩa Mác-Lênin
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Triết gia Ph.Ăng-ghen với các tác phẩm của mình đã đặt nền tảng cho Lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin về nhà nước
Học thuyết về Nhà nước của Chủ nghĩa Mác-Lênin hay còn gọi là Lý luận về Nhà nước và Pháp luật của Chủ nghĩa Mác- Lê nin là hệ thống những kiến thức của chủ
nghĩa Mác-Lênin về những quy luật phát sinh, phát triển đặc thù, những đặc tính chung
và biểu hiện quan trọng nhất của nhà nước nói chung và nhà nước Xã hội chủ nghĩa nói riêng[1] Tập trung vào phân tích nguồn gốc và bản chất của nhà nước, Lý luận của những người Mác-xít đi sâu nghiên cứu về nhà nước một cách tổng thể những vấn đề chung nhát
về bản chất, chức năng, vai trò của nhà nước, hình thức nhà nước, bộ máy nhà nước và làm sáng tỏ mối quan hệ giữa các bộ phận trong thượng tầng kiến trúc chính trị-pháp lý với các tổ chức xã hội, giữa nhà nước với cá nhân Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin thì nhà nước thực chất là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện chức năng quản lý đặc biệt nhằm duy trì trật tự xã hội, thực hiện mục đích bảo vệ địa vị của giai cấp thống trị trong xã hội
Những nội dung cơ bản ban đầu về học thuyết này được phản ánh thông qua tác phẩm:
"Nguồn gốc của gia đình, chế độ sở hữu và của nhà nước" của Ph.Ăng-ghen Qua tác phẩm này, Ăng-ghen đã phân tích các vấn đề về gia đình, nguồn gốc của giai cấp và của nhà nước và những quy luật tiếp tục phát triển và biến đổi sau này của chúng Ph.Ăng-ghen đã chỉ ra rằng nhà nước chỉ ra đời ở một giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội trên
Trang 2cơ sở xuất hiện chế độ tư hữu và gắn liền với nó là sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng, ông cũng luận chứng về tính chất giai cấp và tính lịch sử của nhà nước, làm sáng tỏ chứa năng gia cấp cơ bản của nhà nước[2] Sau đó lý luận này được những người Mác-xít tiếp tục phát triển và hoàn thiện trong điều kiện mới Lý luận về nhà nước và pháp luật là một môn học bắt buộc trong chương trình học Đại học đối với các ngành khoa học xã hội như Luật học, chính trị, hành chính, khoa học xã hội và nhân văn ở các Trường Đại học tại Việt Nam.
o 3.1 Quản lý dân cư theo lãnh thổ
o 3.2 Thiết lập quyền lực công cộng
o 5.1 Nhà nước Chiếm hữu nô lệ
o 5.2 Nhà nước Phong kiến
• 7 Tư tưởng Hồ Chí Minh
o 7.1 Nhà nước của dân, do dân và vì dân
Lịch sử cho thấy không phải khi nào xã hội cũng có nhà nước Trong xã hội nguyên thuỷ,
do kinh tế còn thấp kém, chưa có sự phân hóa giai cấp, cho nên chưa có nhà nước Đứng đầu các thị tộc và bộ lạc là các tộc trưởng (hay tộc chủ) do những người dân ở đó bầu ra, quyền lực của những người đứng đầu thuộc về uy tín và đạo đức, việc điều chỉnh các
Trang 3quan hệ xã hội được thực hiện bằng những quy tắc chung, những tập quán trong cộng đồng Trong tay họ không có và không cần một công cụ cưỡng bức đặc biệt nào.
Sự ra đời
Ph.Ăng-ghen đã mô tả sự ra đời của nhà nước trên cơ sở sự tan rã của chế độ thị tộc Theo đó xã hội loài người qua quá trình phát triển đã dẫn đến sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất Vào thời cổ đại đã diễn ra ba lần phân công lao động xã hội
Chăn nuôi tách khỏi trồng trọt là đòn bẩy cho kinh tế và hình thành mầm mống tư hữu
• Lần phân công thứ nhất, chăn nuôi đã trở thành một ngành kinh tế độc lập và tách
ra khỏi trồng trọt, từ đây mầm mống của chế độ tư hữu phát triển và "gia đình cá thể đã trở thành một lực lượng đang đe dọa thị tộc"[3]
• Lần phân công thứ hai, thủ công nghiệp tách ra khỏi nông nghiệp, lần phân công này dẫn đến hình thành bước đầu chế độ nô lệ với số lượng nô lệ ngày càng tăng
và họ bị đẩy đi làm việc ở ngoài đồng ruộng và trong xưởng thợ, thành từng đoàn mười người, người hai người một[4] điều đó cho thấy sự phân hóa xã hội, phân tầng xã hội sâu sắc
• Lần phân công thứ ba, sản xuất tách bạch với trao đổi dẫn đến sự xuất hiện của tầng lớp thương nhân, lần đầu tiên xuất hiện một giai cấp tuy không tham gia sản
xuất một tý nào nhưng lại chiếm toàn bộ quyền lãnh đạo sản xuất và bắt những người sản xuất phụ thuộc vào mình về mặt kinh tế… và bóc lột cả hai, một giai cấp mà lịch sử loài người trước đó chưa hề biết đến[5]
Qua ba lần phân công lao động này cho thấy lực lượng sản xuất phát triển dẫn đến năng suất lao động tăng, của cải làm ra ngày càng nhiều, và dẫn đến có của cải dư thừa kèm theo đó là sự tích trữ, đồng thời xuất hiện một bộ phận chiến đoạt của cải dư thừa đó (do nắm quyền quản lý, cai quản) hoặc giàu lên nhờ tích trữ, đầu cơ từ đây đã có sự phân hóa
giàu nghèo, giữa người có của và người không có của, sự phân hóa giàu nghèo này dẫn
đến hiện tượng phân tầng xã hội, phân chia thành các tầng lớp khác nhau từ đó dẫn đến
phân chia giai cấp đồng thời và kéo theo xuất hiện mâu thuẫn giai cấp và điều không
tránh khỏi là đấu tranh giai cấp, lúc này nhà nước đã có tiền đề rõ ràng cho sự ra đời của mình
“ Cái tập quán giao cho những chức vụ của thị tộc cho một số gia đình nhất
định đã biến thành một cái quyền không thể chối cãi của những gia đình đó
được đảm nhiệm chức vụ ấy, bằng những gia đình ấy còn mạnh vị giàu có
nữa, họ bắt đầu tập hợp nhau lại bên ngoài thị tộc của họ thành một giai cấp
”
Trang 4riêng biệt, có đặc quyền, rằng nhà nước vừa mới ra đời đã thừa nhận những
tham vọng ấy của họ
— Ph.Ăng-ghen [6]
Lực lượng sản xuất phát triển đã dẫn đến sự ra đời chế độ tư hữu và từ đó xã hội phân chia thành các giai cấp đối kháng và cuộc đấu tranh giai cấp không thể điều hoà được xuất hiện Điều đó dẫn đến nguy cơ các giai cấp chẳng những tiêu diệt lẫn nhau mà còn tiêu diệt luôn cả xã hội, tạo ra một tình trạng loạn lạc hỗn độn Xã hội lúc này đòi hỏi phải có một tổ chức mới đủ sức dập tắt cuộc xung đột công khai giữa các giai cấp ấy, hoặc cùng lắm là để làm cho cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra trong lĩnh vực kinh tế, dưới một hình thức gọi là hợp pháp và để thảm hoạ đó không diễn ra, một cơ quan quyền lực
đặc biệt đã ra đời và đó chính là nhà nước Từ nhu cầu phải kiềm chế sự đối lập của các
giai cấp, làm cho cuộc đấu tranh của những giai cấp có quyền lợi về kinh tế mẫu thuẫn nhau đó không đi đến chỗ tiêu diệt lẫn nhau và tiêu diệt luôn cả xã hội… và giữa cho sự xung đột đó năm trong vòng trật tự[7]
Và như vậy là Nhà nước đã xuất hiện một cách khách quan, nó là sản phẩm của một xã hội đã phát triển đến một giai đoạn nhất định, nó không phải là một quyền lực từ bên ngoài áp đặt và xã hội mà là một lực lượng nảy sinh từ xã hội, một lực lượng tựa hồ như đứng trên xã hội, có nhiệm vụ làm dịu bớt sự xung đột và giữ cho sự xung đột đó nằm trong vòng trật tự[8] Nhà nước đầu tiên trong lịch sử là nhà nước Chiếm hữu nô lệ, xuất hiện trong cuộc đấu tranh không điều hoà giữa giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ Tiếp đó
là Nhà nước Phong kiến, Nhà nước Tư sản và sau cùng là Nhà nước Xã hội chủ nghĩa
Nguyên nhân trực tiếp
Nguyên nhân trực tiếp của sự xuất hiện nhà nước là mâu thuẫn giai cấp không thể điều
hoà được V.I.Lênin nhận định: Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu
thuẫn giai cấp không thể điều hoà được Bất cứ ở đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà, về mặt khách quan, những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được, thì nhà nước xuất hiện Và ngược lại: sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ rằng những mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hoà được[9] Nhà nước chỉ ra đời, tồn tại trong một giai đoạn nhất định của
sự phát triển xã hội và sẽ mất đi khi những cơ sở tồn tại của nó không còn nữa
“ Chỉ khi nào xã hội không còn giai cấp đối kháng và giai cấp nói chng thì lúc
đó nhà nước mới biến mất Sự tiêu vong của nhà nước là quá trình lâu dài,
chỉ có thế hệ những người lớn lên trong điều kiện lịch sử mới, tức là bước
quá độ từ chủ nghĩa xã hội lên chủ nghĩa cộng sản mới hình dung được sự
tiêu vong của nhà nước… khi nhà nước tỏ ra thật sự là đại biểu của toàn xã
hội, nhân danh xã hội năm quyền sở hữu về các tư liệu sản xuất, việc quản lý người được thay bằng quản lý các quá trình sản xuất, lúc đó mới có thể đưa
bộ máy nhà nước xếp vào viện bảo tàng đồ cổ, bên cạnh cái xa kéo sợi và cái
Trang 5— Ph.Ăng-ghen
Hình thức xuất hiện
Sự xuất hiện nhà nước ở các vùng và của các dân tộc khác nhau cũng có những đặc điểm khác nhau về kinh tế, xã hội và ngoại cảnh Theo Ph Ăng-ghen có ba hình thức xuất hiện điển hình:
Thành bang Aten Cổ đại
• Nhà nước Nhã Điển: Là hình thức thuần túy và cổ điển nhất Nhà nước Nhã Điển nãy sinh chủ yếu và trực tiếp từ sự đối lập giai cấp và phát triển ngay trong nội bộ
xã hội thị tộc
• Nhà nước La Mã: Là kết quả của cuộc cách mạng với thắng lợi của giới bình dân chống lại quý tộc Lã Mã nhưng sau một thời gian giới bình dân và quý tộc hoàn toàn bị hòa tan vào nhau
• Nhà nước của người Nhật Nhĩ Man: Nãy sinh trực tiếp từ việc chinh phục đất
đai rộng lớn của người khác Tuy người Nhật Nhĩ Man chiến thắng đế chế La Mã nhưng do nhiều lý do và hoàn cảnh kinh tế như cơ sở kinh tế, trình độ phát triển kinh tế của người chinh phục và kẻ bị chinh phục, mức độ của cuộc chiến đấu… nên việc tổ chức xây dựng nhà nước của người Nhật Nhĩ Man có một số đặc điểm riêng
• Sau này Mác và Ăng-ghen có đề cập thêm thêm về những hình thức nhà nước cổ
đại ở Phương Đông, nơi mà tồn tại một hình thức mà C.Mác gọi là "phương thức
sản xuất Châu Á"[11] ông đi sâu phân tích về bộ máy nhà nước ở Ấn Độ cổ đại và khẳng định là nhà nước chuyên chính Phương Đông kết hợp với mô hình công xã nông thôn Nhà nước phương Đông ra đời một phần cũng do nhu cầu trị thủy và yêu cầu chống xâm lấn
Trang 6“ Nhà nước chẳng qua chỉ là một bộ máy trấn áp của một giai cấp này đối với
giai cấp khác, điều đó trong chế độ cộng hòa dân chủ cũng hoàn toàn giống
— Ph.Ăng-ghen [12]
Đàn áp là một trong những biểu hiện quan trọng của bản chất giai cấp của nhà nước
Vì thế, về bản chất Nhà nước chẳng qua chỉ là một bộ máy của một giai cấp này dùng để
trấn áp một giai cấp khác[13], là bộ máy dùng để duy trì sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác, là cơ quan quyền lực của một giai cấp đối với toàn xã hội, là công cụ chuyên chính của một giai cấp
Theo chủ nghĩa Mác thì không có và không thể có nhà nước đứng trên các giai cấp hoặc nhà nước chung cho mọi giai cấp Nhà nước chính là một bộ máy do giai cấp thống trị về kinh tế thiết lập ra nhằm hợp pháp hóa và củng cố sự áp bức của chúng đối với quần chúng lao động Giai cấp thống trị sử dụng bộ máy nhà nước để đàn áp, cưỡng bức các giai cấp khác trong khuôn khổ lợi ích của giai cấp thống trị Đó là bản chất của nhà nước theo nguyên nghĩa, tức nhà nước của giai cấp bóc lột Theo bản chất đó, nhà nước không thể là lực lượng điều hòa sự xung đột giai cấp, mà trái lại, nó càng làm cho mâu thuẫn giai cấp ngày càng gay gắt Cũng theo bản chất đó, nhà nước là bộ máy quan trọng nhất của kiến trúc thượng tầng trong xã hội có giai cấp
Cũng theo những người Mác-xít, tất cả những hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội do nhà nước tiến hành, xét cho cùng, đều xuất phát từ lợi ích của giai cấp thống trị Thực tế lịch
sử đã chứng minh rằng, cho dù được che giấu dưới hình thức tinh vi như thế nào, cho dù
có bị khúc xạ qua những lăng kính phức tạp ra sao, nhà nước trong mọi xã hội có giai cấp đối kháng cũng chỉ là công cụ bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị
“ Nhà nước, nói chung chỉ là sự phản ánh dưới hình thức tập trung những nhu cầu kinh tế của giai cấp thống trị trong sản xuất ”
— Ph.Ăng-ghen [14]
“ Nhà nước là một bộ máy dùng để duy trì sự thống trị của giai cấp này đối với
giai cấp khác, và theo đúng nghĩa của nó, là một bộ máy trấn áp đặc biệt của giai cấp này đối với một giai cấp khác ”
— VI.Lê nin [15]
Trang 7Nhà tù công cụ trấn áp của nhà nước
Tuy nhiên cũng có trường hợp, nhà nước giữ được một mức độ độc lập nào đó đối với cả hai giai cấp đối địch, khi cuộc đấu tranh giữa chúng đạt tới thế cân bằng nhất định hoặc nhà nước cũng có thể thực hiện sự thỏa hiệp về quyền lợi tạm thời giữa những giai cấp để chống lại một giai cấp khác (theo kiểu khế ước xã hội) Những trường hợp trên là có tính chất ngoại lệ và tạm thời Sự phát triển của nền kinh tế - xã hội nói chung và của cuộc đấu tranh giai cấp nói riêng sẽ phá vỡ thế cân bằng giữa các giai cấp thù địch với nhau, sẽ phá vỡ sự thoả hiệp tạm thời giữa các giai cấp với nhau và tất yếu sẽ tập trung quyền lực vào tay một giai cấp nhất định
“ Nếu nhà nước và pháp quyền nhà nước của nó là do những quan hệ kinh tế
quyết định, thì dĩ nhiên pháp quyền công dân cũng thế, vai trò của pháp
quyền này về thực chất chỉ là để xác nhận những quan hệ kinh tế bình thường tồn tại giữa những cá nhân riêng biệt trong những hoàn cảnh nhất định ”
— Ph.Ăng-ghen [16]
Đặc trưng
Các nhà nước được tổ chức một cách khác nhau Song, theo Chủ nghĩa Mác-Lênin thì bất
kỳ nhà nước nào cũng có ba đặc trưng cơ bản sau:
Quản lý dân cư theo lãnh thổ
Khác với tổ chức thị tộc, bộ lạc thời nguyên thủy được hình thành trên cơ sở những quan
hệ huyết thống, Nhà nước được hình thành trên cơ sở phân chia dân cư theo lãnh thổ mà
họ cư trú Quyền lực nhà nước có hiệu lực với mọi thành viên trong lãnh thổ không phân biệt huyết thống Đặc trưng này làm xuất hiện mối quan hệ giữa từng người trong cộng đồng với nhà nước Mỗi nhà nước được xác định bằng một biên giới quốc gia nhất định Nhà nước xuất hiện đã lấy sự phân chia lãnh thổ làm điểm xuất phát và để cho công dân thực hiện nhưng quyền và nghĩa vụ xã hội của họ theo nơi cư trú, không kể họ thuộc thị tộc và bộ lạc nào[17]
Thiết lập quyền lực công cộng
Nhà nước lúc này đã tách phần nào khỏi xã hội và không còn hòa nhập với dân cư nữa, quyền lực trong xã hội không thuộc về xã hội và thuộc về giai cấp thống trị Và để thực
Trang 8hiện quyền lực công cộng cần có một lớp người đặc biệt chuyên làm nhiệm vụ quản lý và cưỡng chế.
“ Không những dưới chế độ quân chủ mà cả dưới chế độ cộng hòa dân chủ,
nhà nước vẫn là nhà nước, nghĩa là vẫn giữ nguyên đặc thù tính chất chủ yếu của nó là: biến những viên chức, công bộc của xã hội, những cơ quan của
mình thành những ông chủ đứng trên đầu xã hội ”
— Ph.Ăng-ghen [18]
Điều này dẫn đến Nhà nước tổ chức một bộ máy quyền lực chuyên nghiệp mang tính cưỡng chế đối với mọi thành viên trong xã hội, khác với các cơ quan điều hành công việc chung trong thị tộc, bộ lạc, nhà nước của giai cấp thống trị nào cũng có một bộ máy quyền lực chuyên nghiệp Bộ máy quyền lực đó bao gồm các đội vũ trang đặc biệt (quân đội, cảnh sát, nhà tù, v.v.) và bộ máy quản lý hành chính mà xã hội (cán bộ, công chức, viên chức, lãnh đạo, quan lại nha sai ) mà xã hội thị tộc, bộ lạc không hề biết đến trước
đó Nhà nước thực hiện quyền lực của mình trên cơ sở sức mạnh cưỡng bức của pháp luật
và dùng các thiết chế (tổ chức) bạo lực để pháp luật của mình được thực thi trong thực tế quản lý
Thuế khóa
Thuế khóa - nguồn thu chính của nhà nước - họa phẩm tranh sơn dầu về cảnh thu thuế
Nhà nước hình thành hệ thống thuế khóa để duy trì và tăng cường bộ máy cai trị Nhà nước không thể tồn tại nếu không dựa vào thuế khóa, quốc trái và các hình thức bóc lột khác Đó là những chế độ đóng góp có tính chất cưỡng bức mà được luật lệ định ra để nuôi sống bộ máy cai trị, chi cho các hoạt động thường xuyên hay đột xuất của nhà nước
Hệ thống thuế khóa, cống nạp như vậy hoàn toàn không có trong hình thức tổ chức xã hội thị tộc, bộ lạc Nó chỉ tồn tại gắn liền với hình thái tổ chức nhà nước Bằng các hình thức khác nhau như vậy, nhà nước của giai cấp bóc lột không những là công cụ trấn áp giai cấp mà còn là công cụ thực hiện sự bóc lột các giai cấp bị áp bức
Sỡ dĩ nhà nước phải đặt ra các loại thuế vì bộ máy của nhà nước bao gồm những người đặc biệt, tách khỏi lao động sản xuất để thực hiện chức năng quản lý, bộ máy đó phải được nuôi dưỡng từ nguồn tài chính lấy từ khu vực sản xuất trực tiếp (vì Nhà nước và nhân viên của nó đã tách hẵn khỏi sản xuất nên không thể có thu nhập) Nếu thiếu thuế thì bộ máy nhà nước không thể tồn tại được và mặt khác chỉ có nhà nước mới có quyền đặt ra thuế và thu thuế vì nhà nước là tổ chức duy nhất có tư cách đại diện chính thức của toàn xã hội
Chức năng
Trang 9Bản chất giai cấp của nhà nước được thể hiện ở các chức năng của nó Tùy theo góc độ khác nhau, chức năng của nhà nước được phân chia khác nhau Dưới góc độ tính chất của quyền lực chính trị, nhà nước có chức năng thống trị chính trị của giai cấp và chức năng
xã hội Dưới góc độ phạm vi tác động của quyền lực, nhà nước có chức năng đối nội và chức năng đối ngoại Trong các yếu tố của kiến trúc thượng tầng, nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng, có tác dụng quyết định năng lực hiện thực hóa của một nền kinh tế vì
Trong hai chức năng đó thì chức năng thống trị chính trị là cơ bản nhất có vai trò chi phối chức năng xã hội phải phụ thuộc và phục vụ cho chức năng thống trị chính trị Giai cấp thống trị bao giờ cũng biết giới hạn kiện toàn cách thực hiện chức năng xã hội trong khuôn khổ lợi ích của mình Song, chức năng xã hội lại là cơ sở cho việc thực hiện chức năng giai cấp, bởi vì chức năng giai cấp chỉ có thể được thực hiện thông qua chức năng
Trang 10xã hội và cũng chỉ thực hiện tốt chức năng xã hội thì vai trò, tư cách đại biểu, đại diện cho xã hội, toàn thể cộng đồng mới có hiệu lực nhất Ph Ăngghen viết:
“ Ở khắp nơi, chức năng xã hội là cơ sở của sự thống trị chính trị và sự thống
trị chính trị cũng chỉ kéo dài chừng nào nó còn thực hiện chức năng xã hội
— Ph.Ăng-ghen [20]
Đối nội và đối ngoại
Sự thống trị chính trị và sự thực hiện chức năng xã hội của nhà nước thể hiện trong lĩnh vực đối nội cũng như trong đối ngoại Chức năng đối nội của nhà nước nhằm duy trì trật
tự kinh tế, xã hội, chính trị và những trật tự khác hiện có trong xã hội Thông thường điều
đó phải được pháp luật hóa và được thực hiện nhờ sự cưỡng bức của bộ máy nhà nước Ngoài ra, nhà nước còn sử dụng nhiều phương tiện khác (bộ máy thông tin, tuyên truyền, các cơ quan văn hóa, giáo dục ) để xác lập, củng cố tư tưởng, ý chí của giai cấp thống trị, làm cho chúng trở thành chính thống trong xã hội
Chức năng đối ngoại của nhà nước nhằm bảo vệ biên giới lãnh thổ quốc gia và thực hiện các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội với các nhà nước khác vì lợi ích của giai cấp thống trị cũng như lợi ích quốc gia, khi lợi ích quốc gia không mâu thuẫn với lợi ích của giai cấp thống trị Chức năng đối ngoại là sự liên tục của chức năng đối nội Ngày nay, trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế (toàn cầu hóa, thế giới phẳng) thì việc mở rộng chức năng đối ngoại của nhà nước có tầm quan trọng đặc biệt
Nhưng cho dù như thế nào đi chăng nữa, theo quan điểm Mác-xít thì cả hai chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước đều xuất phát từ lợi ích của giai cấp thống trị Chúng là hai mặt của một thể thống nhất Tính chất của chức năng đối nội quyết định tính chất chức năng đối ngoại của nhà nước ngược lại tính chất và những nhu cầu của chức năng đối ngoại có tác động mạnh mẽ trở lại chức năng đối nội
Kiểu nhà nước
Kiểu nhà nước là khái niệm dùng để chỉ bộ máy thống trị đó thuộc về giai cấp nào, tồn tại trên cơ sở chế độ kinh tế nào, tương ứng với hình thái kinh tế-xã hội nào Mỗi kiểu nhà nước lại có thể tồn tại dưới các hình thức khác nhau Khác với hình thức nhà nước, hình thức nhà nước là khái niệm dùng để chỉ cách thức tổ chức và phương thức thực hiện quyền lực nhà nước Nói cách khác đó là hình thức cầm quyền của giai cấp thống trị Hình thức nhà nước bị quy định bởi bản chất giai cấp của nhà nước, bởi tương quan lực lượng giữa các giai cấp, bởi cơ cấu giai cấp - xã hội, bởi đặc điểm truyền thống chính trị của đất nước
Tương ứng với ba chế độ xã hội có đối kháng giai cấp trong lịch sử là hình thái kinh tế-xã hội chiếm hữu nô lệ, hình thái kinh tế-xã hội phong kiến và hình thái kinh tế-xã hội tư
Trang 11bản chủ nghĩa là ba kiểu nhà nước: nhà nước chiếm hữu nô lệ, nhà nước phong kiến và nhà nước tư sản Tùy theo tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của mỗi quốc gia mà mỗi kiểu nhà nước được tổ chức theo những hình thức nhất định Nhà nước xã hội chủ nghĩa mang bản chất "giai cấp vô sản", nhưng lại là một kiểu nhà nước đặc biệt.
Nhà nước Chiếm hữu nô lệ
Nhà nước chiếm hữu nô lệ bảo đảm quyền sở hữu của nô lệ cho chủ nô
Nhà nước chiếm hữu nô lệ hay còn gọi là nhà nước chủ nô là hình thức nhà nước đầu tiên trong lịch sử loài người và được coi là được coi là tổ chức quyền lực chính trị của giai cấp chủ nô trong xã hội Nhà nước chủ nô ra đời trên cơ sở sự tan rã của chế độ cộng sản nguyên thủy (sự tan rã của chế độ thị tộc, bộ lạc ) Các nhà nước chiếm hữu nô lệ đầu tiên xuất hiện khoảng 4000 - 5000 năm trước công nguyên ở châu Á và Bắc Phi (Trung Quốc, Ấn Độ, Ai Cập ) và ở châu Âu (Hy Lạp, La Mã)
Cơ sở kinh tế của nhà nước chủ nô chính là quan hệ sản xuất được đặc trưng bởi chế độ chiếm hữu tư nhân của chủ nô đối với toàn bộ tư liệu sản xuất và nô lệ Chủ nô là người
sở hữu toàn bộ đất đai, tư liệu sản xuất cộng với cả người sản xuất là nô lệ Do vậy, chủ
nô có toàn quyền bóc lột nô lệ, nô lệ phải hoàn toàn phục tùng chủ nô, và trở thành
những công cụ biết nói.
Về tổ chức nhà nước, đây là nhà nước của giai cấp chủ nô thời cổ đại mà tiêu biểu là các
hình thức lịch sử nhà nước chủ nô ở Hy Lạp và La Mã cổ đại như chính thể quân chủ và
chính thể cộng hoà, chính thể quý tộc và chính thể dân chủ Các hình thức này chỉ khác
nhau về cách thức và cơ chế hoạt động của tổ chức bộ máy nhà nước, còn bản chất của chúng đều là nhà nước của giai cấp chủ nô, nhằm thực hiện sự chuyên chính đối với nô lệ
Bấy giờ người ta đã phân biệt chính thể quân chủ và chính thể cộng hòa, chính thể quý tộc và chính thể dân chủ Chính thể quân chủ, tức là chính quyền của một người, trong chính thể cộng hòa thì không một quyền lực nào là không phải do bầu cử mà có, chính thể quý tộc tức là chính quyền của một thiểu số tương đối nhỏ hẹp, chính thể dân chủ tức
Trang 12là chính quyền của nhân dân… Tất cả sự phân biệt ấy đã xuất hiện trong thời đại chế độ
nô lệ Mặc dù có sự khác nhau như thế, nhưng nhà nước trong thời đại chế độ nô lệ, dù là quân chủ hay cộng hòa, quý tộc hay cộng hòa dân chủ đều là nhà nước chủ nô
– VI.Lê-nin [21]
Nhà nước Phong kiến
Đây là nhà nước của giai cấp địa chủ phong kiến Tiền đề hình thành nhà nước phong kiến là quan hệ sản xuất phong kiến được đặc trưng bằng chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản chủ yếu là ruộng đất và sự bóc lột một phần sức lao động của nông dân (chế độ tô, địa tô, sưu dịch ) về cơ sở xã hội, tồn tại hai giai cấp cơ bản là giai cấp địa chủ phong kiến và nông dân, cùng nhiều tầng lớp khác nhau nhưng lực lượng sản xuất chính chính
là nông dân (nông dân, tá điền, nông nô) và đây là một xã hội có kinh tế chủ đạo là tự cung tự cấp
Nhà nước phong kiến cũng được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau Nói chung, ở phương Tây, hình thức quân chủ phân quyền là hình thức nhà nước khá phổ biến Quyền lực nhà nước được chia thành quyền lực độc lập, địa phương phân tán Mỗi lãnh chúa phong kiến (hay chúa đất phong kiến) là một ông vua trên lãnh thổ của mình Mối liên hệ thực sự giữa các chúa phong kiến châu Âu chủ yếu được thiết lập bằng các hình thức liên minh của các nhà nước cát cứ, trong đó Thiên Chúa giáo trở thành mối quan hệ tinh thần thiêng liêng giữa các tiểu vương quốc phong kiến Nhưng sau đó nhà nước này dần dần chuyển biến từ phân quyền đến tập quyền chuyên chế, đây là đỉnh tột cùng của chế độ phong kiến
Nhà nước phong kiến chuyên chế - một biểu tượng cho sự thống trị của giai cấp địa chủ phong kiến
Ở phương Đông (tiêu biểu là Trung Quốc và Ấn Độ, Ba Tư), hình thức quân chủ tập quyền (quân chủ chuyên chế tập quyền) là hình thức nhà nước phổ biến dựa trên chế độ
sở hữu nhà nước về ruộng đất Trong nhà nước này, quyền lực của vua được tăng cường rất mạnh, hoàng đế có uy quyền tuyệt đối, ý chí của vua là pháp luật Hình thức này còn được tìm thấy ở các nước như Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản Dù tồn tại dưới bất kỳ hình thức nào, nhà nước phong kiến cũng chỉ là chính quyền của giai cấp địa chủ, quý tộc, là cơ quan bảo vệ những đặc quyền phong kiến, là công cụ của giai cấp địa chủ phong kiến dùng để áp bức, thống trị nông nô