1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp xây lắp tại ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển việt nam – chi nhánh hà nội

124 565 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ năm 1995 trở về trước, với thế mạnh là một Ngân hàng chuyên cấpphát vốn đầu tư xây dựng cơ bản và cho vay các nhà thầu thi công, đến nay khichính thức chuyển sang hoạt động kinh doanh

Trang 1

- -NGUYỄN THỊ DIỆU LINH

N¢NG CAO CHÊT L¦îNG CHO VAY NG¾N H¹N §èI VíI DOANH NGHIÖP X¢Y L¾P T¹I NG¢N HµNG TH ƯƠNG M I ẠI

C PH N §ÇU T¦ Vµ PH¸T TRIÓN VIÖT NAM Ổ PHẦN §ÇU T¦ Vµ PH¸T TRIÓN VIÖT NAM ẦN §ÇU T¦ Vµ PH¸T TRIÓN VIÖT NAM

CHI NH¸NH Hµ NéI

Chuyên ngành : Kinh tế tài chính - Ngân hàng

Mã số : 60.31.12

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ KIM NHUNG

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học,độc lập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và cónguồn gốc rõ ràng.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Diệu Linh

Trang 3

CHƯƠNG 1: TỔ PHẦN §ÇU T¦ Vµ PH¸T TRIÓN VIÖT NAMNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠII VÀ HOẠIT ĐỘNG CHO VAY NGẮN HẠIN CỦA NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠII ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 4

1.1 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG, NGUYÊN TẮC CHOVAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 41.1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại 41.1.2 Hoạt động và nguyên tắc cho vay của Ngân hàng thương mại 61.2 DOANH NGHIỆP XÂY LẮP VÀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY NGẮN HẠNCỦA NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 91.2.1 Tổng quan về doanh nghiệp xây lắp 91.2.2 Hoạt động cho vay ngắn hạn của ngân hàng đối với doanh nghiệp xây lắp 211.3 NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CỦA HOẠT ĐỘNG CHO VAY NGẮNHẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 271.3.1 Quan niệm về chất lượng trong cho vay ngắn hạn 271.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng hoạt động cho vay ngắn hạn của ngânhàng đối với doanh nghiệp xây lắp 291.4 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNGCHO VAY NGẮN HẠN CỦA NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆPXÂY LẮP 361.4.1 Nhóm nhân tố khách quan 361.4.2 Nhóm nhân tố chủ quan 38

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠING CHẤT LƯỢNG CHO VAY NGẮN HẠIN ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP TẠII NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠII CỔ PHẦN §ÇU T¦ Vµ PH¸T TRIÓN VIÖT NAM PHẦN §ÇU T¦ Vµ PH¸T TRIÓN VIÖT NAMN ĐẦN §ÇU T¦ Vµ PH¸T TRIÓN VIÖT NAMU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH HÀ NỘI 45

2.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀPHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH HÀ NỘI 45

Trang 4

2.1.2 Cơ cấu tổ chức tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triểnViệt Nam – Chi nhánh Hà Nội 482.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu

tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội 492.2 THỰC TRẠNG CHO VAY NGẮN HẠN VÀ CHẤT LƯỢNG CHO VAYNGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP XÂY LẮP TẠI BIDV HÀ NỘI 562.2.1 Những vấn đề cơ bản trong hoạt động cho vay ngắn hạn tại BIDV Hà Nội 562.2.2 Thực trạng cho vay ngắn hạn đối với các doanh nghiệp xây lắp tại BIDV

Hà Nội 632.2.3 Phân tích chất lượng cho vay ngắn hạn đối với các DNXL tại BIDV HàNội 682.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐIVỚI DOANH NGHIỆP XÂY LẮP TẠI BIDV HÀ NỘI 772.3.1 Những kết quả đạt được 772.3.2 Những hạn chế tồn tại và nguyên nhân 78

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY NGẮN HẠIN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP XÂY LẮP TẠII NGÂN

HÀNG THƯƠNG MẠII CỔ PHẦN §ÇU T¦ Vµ PH¸T TRIÓN VIÖT NAM PHẦN §ÇU T¦ Vµ PH¸T TRIÓN VIÖT NAMN ĐẦN §ÇU T¦ Vµ PH¸T TRIÓN VIÖT NAMU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH HÀ NỘI 86

3.1 ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG BIDV HÀ NỘITRONG THỜI GIAN TỚI 863.1.1 Định hướng chung của Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Pháttriển Việt Nam giai đoạn 2011-2015 863.1.2 Định hướng hoạt động năm 2012 tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu

tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hà Nội 883.2 CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY NGẮN HẠNĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 89

Trang 5

3.2.2 Xây dựng chiến lược Marketing 93

3.2.3 Hoàn thiện quy trình, chính sách cho vay đối với doanh nghiệp xây lắp 95

3.2.4 Hoàn thiện hệ thống định hạng tín dụng đối với khách hàng vay vốn 96

3.2.5 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phòng ngừa, hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay ngắn hạn 100

3.2.6 Phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro chính xác, phù hợp với quy định 101

3.2.7 Áp dụng các biện pháp xử lý linh hoạt các khoản tín dụng đã cấp 102

3.2.8 Đẩy mạnh đào nhằm nâng cao chất lượng cán bộ 103

3.2.9 Khai thác hiệu quả những ứng dụng công nghệ thông tin 104

3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 105

3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan 105

3.3.3 Kiến nghị với Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam 109

3.3.4 Kiến nghị với các chủ thể tham gia hoạt động xây lắp 110

KẾT LUẬN 113

Trang 6

BIDV Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam

BIDV Hà Nội Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hà

NộiCNTT Công nghệ thông tin

DNXL Doanh nghiệp xây lắp

NHNN Ngân hàng Nhà nước

NHTM Ngân hàng thương mại

NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần

TA2 Đề án chuyển đổi mô hình tổ chức BIDV giai đoạn

2007-2010TCTD Tổ chức tín dụng

SIBS Hệ thống quản lý dữ liệu Ngân hàng

SXKD Sản xuất kinh doanh

VLXD Vật liệu xây dựng

DNNN Doanh nghiệp nhà nước

Trang 7

Sơ đồ 2.1: Mô hình hoạt động tại BIDV Hà Nội 48 Bảng 2.1: Kết quả kinh doanh của BIDV Hà Nội giai đoạn

2009 - 2011 50 Bảng 2.2: Tình hình huy động vốn của BIDV Hà Nội giai đoạn 2009 - 2011 52 Bảng 2.3: Tình hình sử dụng vốn của BIDV Hà Nội giai đoạn 2009 - 2011 55 Bảng 2.4: Tình hình dư nợ cho vay đối với DNXL tại BIDV

Hà Nội giai đoạn 2009 - 2011 64 Bảng 2.5: Cơ cấu dư nợ cho vay ngắn hạn phục vụ thi công xây lắp 65 Bảng 2.6: Doanh số cho vay ngắn hạn đối với DNXL giai đoạn 2009 - 2011 66 Bảng 2.7: Doanh số thu nợ ngắn hạn đối với DNXL giai đoạn 2009 - 2011 67 Bảng 2.8: Tỷ lệ dư nợ cho vay ngắn hạn đối với DNXL có TSĐB giai đoạn 2009 - 2011 69 Bảng 2.9: Tỷ lệ nợ ngắn hạn quá hạn của DNXL giai đoạn 2009-2011 71 Bảng 2.10: Tỷ lệ TLDP cụ thể đối với từng nhóm nợ 74 Bảng 2.11: Tỷ trọng thu nhập từ hoạt động cho vay đối với DNXL giai đoạn 2009-2011 76

Bảng 3.1: Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ 97

Biểu đồ:

Biểu đồ 2.1: Lợi nhuận trước thuế tại BIDV Hà Nội giai đoạn 2009 - 2011 51 Biểu đồ 2.2: Cơ cấu huy động vốn của BIDV Hà Nội theo khách hàng giai đoạn 2009 - 2011 53 Biểu đồ 2.3: Cơ cấu sử dụng vốn tại BIDV Hà Nội theo kỳ hạn giai đoạn 2009 - 2011 56 Biểu đồ 2.4: Cơ cấu dư nợ DNXL theo đối tượng khách hàng giai đoạn 2009 - 2011 66

Trang 8

Biểu đồ 2.6: Tỷ trọng doanh số thu nợ ngắn hạn đối với DNXL từ năm 2009 đến 2011 68 Biểu đồ 2.7: Tỷ lệ dư nợ cho vay ngắn hạn đối với DNXL

có TSĐB giai đoạn 2009 - 2011 70 Biểu đồ 2.8: Dư nợ ngắn hạn quá hạn của DNXL giai đoạn

2009 – 2011 72 Biểu đồ 2.9: Tỷ lệ Nợ quá hạn của DNXL giai đoạn 2009 – 2011 72 Biểu đồ 2.10: Tỷ trọng cho vay và thu nhập từ các DNXL76

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) nói chung vàNgân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội (BIDV HàNội) nói riêng đã không ngừng nỗ lực trong hoạt động: Một mặt vừa là NHTMtiên phong trong việc thực thi các chính sách tiền tệ của Chính phủ và NHNN để

ổn định kinh tế vĩ mô: Đi đầu trong việc hạ lãi suất cho vay, thực hiện tốt chủtrương hỗ trợ lãi suất của Chính phủ nhằm giúp các doanh nghiệp vượt qua khókhăn trong suy thoái kinh tế, tham gia vào nhiều chương trình an sinh xã hộiđồng thời vẫn đảm bảo hoạt động kinh doanh hiệu quả cao và an toàn hệ thống

BIDV Hà Nội là một trong những Chi nhánh được thành lập sớm nhất của

hệ thống BIDV (chỉ thành lập sau Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển ViệtNam một tháng) Với 55 năm xây dựng và phát triển, BIDV Hà Nội đã góp phầnkhông nhỏ đóng góp cho việc xây dựng, phát triển kinh tế đất nước và kinh tếThủ đô Từ năm 1995 trở về trước, với thế mạnh là một Ngân hàng chuyên cấpphát vốn đầu tư xây dựng cơ bản và cho vay các nhà thầu thi công, đến nay khichính thức chuyển sang hoạt động kinh doanh của NHTM, BIDV nói chung vàBIDV Hà Nội nói riêng vẫn là Ngân hàng có uy tín và kinh nghiệm hàng đầu củaViệt Nam trong lĩnh vực cho vay đầu tư xây dựng cơ bản, xây lắp các công trìnhphục vụ kiến thiết đất nước Bằng nguồn vốn cho vay, BIDV Hà Nội đã giúp chocác doanh nghiệp là các Chủ đầu tư và các Nhà thầu thi công xây dựng nhiềucông trình trọng điểm quốc gia góp phần phát triển kinh tế đất nước đồng thờiphân loại, lựa chọn các doanh nghiệp có năng lực thi công, khả năng thích nghi

và đáp ứng tốt những điều kiện phát triển trong nền kinh tế hội nhập, cạnh tranh

để hỗ trợ, song hành cùng với các doanh nghiệp tồn tại và phát triển vững chắc

Hiện nay, theo định hướng của hệ thống, BIDV Hà Nội đã và đang hướngtới là một Chi nhánh Ngân hàng kinh doanh đa năng, tổng hợp, đa dạng các loạihình cung cấp dịch vụ đồng thời không ngừng mở rộng thị phần, mở rộng đốitượng khách hàng Tuy nhiên, với hơn nửa thế kỷ lịch sử hình thành và pháttriển, nhóm khách hàng truyền thống chủ yếu hiện nay của BIDV Hà Nội vẫn là

Trang 10

các khách hàng hoạt động trong lĩnh vực thi công xây lắp Các loại hình dịch vụchủ yếu mà BIDV Hà Nội cung cấp cho nhóm đối tượng khách hàng này là: Chovay bổ sung vốn lưu động ngắn hạn, cho vay đầu tư tài sản, cấp bảo lãnh, cácdịch vụ thanh toán trong và ngoài nước… trong đó sản phẩm dịch vụ chiếm tỷtrọng lớn và mang lại thu nhập cao cho BIDV Hà Nội là cho vay bổ sung vốnlưu động ngắn hạn Mặt khác, trong giai đoạn hiện nay, các doanh nghiệp xâylắp đang đứng trước những khó khăn, thử thách, đặc biệt là thiếu vốn, thiếu thiết

bị thi công… nên ảnh hưởng lớn đến khả năng thi công và đảm bảo tiến độ côngtrình đúng theo yêu cầu đặt ra, do vậy làm ảnh hưởng lớn đến khả năng trả nợcho Ngân hàng, dẫn đến ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của Ngân hàng

Xuất phát từ thực tiễn trên, học viên đã lựa chọn đề tài: “Nâng cao chất

lượng cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp xây lắp tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội” để làm đề

tài cho luận văn thạc sĩ của mình

2 Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu những lý luận chủ yếu liên quan đến hoạt động của các ngânhàng thương mại (NHTM) nói chung và hoạt động cho vay ngắn hạn đối với cácdoanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp nói riêng trong điều kiện cácngân hàng hướng tới hoạt động cho vay an toàn, hiệu quả

- Phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng cho vay ngắn hạn đối với doanhnghiệp xây lắp tại BIDV Hà Nội trong thời gian gần đây, nêu bật các kết quả đạtđược và những mặt còn tồn tại hạn chế đồng thời chỉ ra các căn nguyên củanhững tồn tại đó

- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng trong chovay ngắn hạn đối với doanh nghiệp xây lắp tại BIDV Hà Nội

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng cho vay ngắn hạn đối với các doanhnghiệp xây lắp tại BIDV Hà Nội

- Phạm vi nghiên cứu: Các số liệu về tình hình hoạt động cho vay xây lắptại BIDV Hà Nội

Trang 11

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử đồngthời kết hợp với phương pháp thống kê kinh tế, phân tích kinh tế và tổng hợp, hệthống hóa lý luận để làm sang tỏ các vấn đề đặt ra nhằm tìm ra các giải pháp nângcao chất lượng cho vay ngắn hạn đối với các DNXL tại BIDV Hà Nội

5 Kết cấu luận văn

Ngoài mở đầu và kết luận, nội dung luận văn gồm ba chương, đó là:

- Chương 1: Tổng quan về Ngân hàng thương mại và hoạt động cho vay ngắn

hạn của Ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp xây lắp

- Chương 2: Thực trạng chất lượng cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp xây lắp

tại Ngân hàng TMCP ĐT&PT Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội

- Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn đối với doanh

nghiệp xây lắp tại Ngân hàng TMCP ĐT&PT Việt Nam– Chinhánh Hà Nội

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY NGẮN HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH

NGHIỆP XÂY LẮP

1.1 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG, NGUYÊN TẮC CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại

1.1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại (NHTM) là một trong các tổ chức tài chính quan trọngnhất của nền kinh tế, là công cụ thực hiện các chính sách kinh tế, chính sách tiền tệcủa Chính phủ nhằm ổn định và phát triển kinh tế vĩ mô của mỗi quốc gia

Ngân hàng là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết nền kinh tế.Hàng triệu cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế - xã hộiđều gửi tiền tại ngân hàng Ngân hàng đóng vai trò là người thủ quỹ cho toàn xãhội Ngân hàng là tổ chức cho vay chủ yếu đối với các doanh nghiệp, cá nhân, hộgia đình và một phần đối với Nhà nước Khi doanh nghiệp và người tiêu dùngphải thanh toán cho các khoản mua hàng hoá và dịch vụ, họ thường sử dụng séc,

uỷ nhiệm chi, thẻ tín dụng hay tài khoản điện tử… Và khi họ cần thông tin tàichính hay lập kế hoạch tài chính, họ thường đến các ngân hàng để được tư vấn.Các khoản tín dụng của ngân hàng cho Chính phủ là nguồn tài chính quan trọng

để đầu tư phát triển

Theo Luật Các tổ chức tín dụng được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hộiChủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 6 năm2010: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả cáchoạt động ngân hàng theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng 2010 Theotính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàngthương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã”

1.1.1.2 Chức năng và hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại

Là trung gian tài chính: Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với

Trang 13

hoạt động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hailoại cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế (1) các cá nhân và tổ chức tạm thờithâm hụt chi tiêu, tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vìthế họ là những người cần bổ sung vốn; và (2) cá nhân và tổ chức thặng dư trongchi tiêu, tức là thu nhập hiên tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hoá,dịch vụ và do vậy họ có tiền để tiết kiệm.

Tạo phương tiện thanh toán: Khi ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản

tiền gửi thanh toán của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng để muahàng hoá, dịch vụ Do đó, bằng việc cho vay (hay tạo tín dụng) các ngân hàng đãtạo ra phương tiện thanh toán

Trung gian thanh toán: Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh

toán giá trị hàng hoá và dịch vụ Để việc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện vàtiết kiệm chi phí, ngân hàng đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toánnhư thanh toán bằng séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ… cung cấp mạnglưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàngcần Các ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừ với nhau thông qua ngânhàng trung ương hoặc thông qua các trung tâm thanh toán

Để thực hiện các chức năng của mình, các NHTM có các hoạt động chủyếu sau:

Hoạt động huy động vốn: là hoạt động cơ bản đầu tiên của một NHTM.

Một trong các nguồn vốn huy động quan trọng nhất là các khoản tiền gửi Ngânhàng mở dịch vụ nhận tiền gửi để bảo quản hộ người có tiền với cam kết hoàntrả đúng hạn cả gốc và lãi cho khách hàng đúng hạn

Hoạt động cho vay và đầu tư: Trên cơ sở nguồn vốn tự có và nguồn vốn

huy động được, cho vay và đầu tư là hoạt động kinh doanh chính, chiếm tỷ trọnglớn nhất ở phần lớn các NHTM, phản ánh hoạt động đặc trưng của ngân hàng.Trong đó nghiệp vụ cho vay được ngân hàng thỏa thuận với khách hàng đểkhách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp

vụ cho vay, chiết khấu, bảo lãnh và các nghiệp vụ khác

Hoạt động kinh doanh ngoại tệ: Thực hiện nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ

Trang 14

là việc NHTM tham gia kinh doanh ngoại tệ trên thị trường hối đoái với tư cáchkinh doanh cho khách hàng (ngân hàng hưởng phí dịch vụ) và kinh doanh chochính bản thân ngân hàng NHTM tiến hành mua bán ngoại tệ trên thị trườnggiao ngay hay thực hiện các giao dịch mua bán kỳ hạn các loại ngoại tệ và hưởngphí dịch vụ

Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán:Ngân hàng

thực hiện việc cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán theo yêucầu của cá nhân và doanh nghiệp

Ngoài ra, ngân hàng còn thực hiện cung cấp dịch vụ ủy thác và tư vấn,cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán, cung cấp dịch vụ bảo hiểm, dịch

vụ đại lý

1.1.2 Hoạt động và nguyên tắc cho vay của Ngân hàng thương mại

1.1.2.1 Khái niệm hoạt động cho vay, nguyên tắc cho vay của NHTM

Khái niệm

Theo Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốcNHNN về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng,hoạt động cho vay được hiểu là một hình thức cấp tín dụng, theo đó, tổ chức tín dụnggiao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời giannhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi

Nguyên tắc

Hoạt động cho vay trước tiên phải được đặt trên quan hệ tín nhiệm, do đódoanh nghiệp muốn vay vốn được từ ngân hàng thì phải tạo được uy tín, niềm tinđối với ngân hàng trên cơ sở đáp ứng đầy đủ các điều kiện vay vốn của ngânhàng Ngân hàng cho doanh nghiệp vay cần đảm bảo 3 nguyên tắc:

- Doanh nghiệp phải sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận tronghợp đồng vay vốn:

Việc sử dụng vốn vay vào mục đích gì được ngân hàng và doanh nghiệpthỏa thuận và ghi trong hợp đồng vay vốn Doanh nghiệp phải cam kết sử dụng vốnvay đúng mục đích thỏa thuận nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn vay và khảnăng thu hồi nợ sau này Do vậy, về phía ngân hàng, trước khi cho vay cần tìm hiểu

Trang 15

rõ mục đích vay vốn của doanh nghiệp đồng thời phải kiểm tra xem doanh nghiệp

có sử dụng vốn vay đúng mục đích hay không Về phía các doanh nghiệp, việc sửdụng vốn vay đúng mục đích góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay đồngthời giúp doanh nghiệp đảm bảo khả năng trả nợ cho ngân hàng

- Doanh nghiệp phải hoàn trả nợ gốc và lãi vay đúng thời hạn đã thỏathuận trong hợp đồng cho vay:

Hoàn trả nợ gốc và lãi là một nguyên tắc không thể thiếu trong hoạt độngcho vay Điều này xuất phát từ tính chất tạm thời nhàn rỗi của nguồn vốn màngân hàng sử dụng để cho vay Đại đa số nguồn vốn mà ngân hàng sử dụng đểcho vay là vốn huy động từ khách hàng gửi tiền, do đó, sau khi cho vay trongmột thời gian nhất định ngân hàng cần thu hồi vốn gốc và lãi cho vay để cónguồn thu để trả gốc và lãi tiền gửi Đây là điều kiện để ngân hàng tồn tại vàphát triển

- Ngân hàng tài trợ dựa trên những phương án có hiệu quả:

Thực hiện nguyên tắc này là điều kiện để thực hiện nguyên tắc thứ hai.Phương án hoạt động có hiệu quả đảm bảo cho khả năng thu hồi được vốn đầu tư

và có lãi để trả nợ ngân hàng Các khoản tài trợ của ngân hàng phải gắn liền vớiviệc hình thành tài sản của doanh nghiệp Trong trường hợp không thấy an toàn,ngân hàng sẽ đòi hỏi doanh nghiệp phải có Tài sản đảm bảo (TSĐB) khi cho vay

1.1.2.2 Phân loại hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

Hoạt động cho vay của các NHTM hiện nay rất đa dạng và phong phú vớinhiều hình thức khác nhau Việc phân loại tín dụng có ý nghĩa quan trọng trong thựchiện cân đối nguồn vốn huy động và sử dụng vốn của ngân hàng Phân loại hoạt độngcho vay có cơ sở khoa học là tiền đề để thiết lập các quy trình thích hợp và nâng caohiệu quả QLRR Có thể phân hoạt động cho vay dựa trên các tiêu thức sau:

Căn cứ theo thời gian:

Cho vay ngắn hạn: là các khoản vay có thời gian vay đến 12 tháng.

Cho vay trung hạn: là các khoản vay có thời gian vay từ trên 1 năm đến

5 năm

Cho vay dài hạn: là các khoản vay có thời hạn từ trên 5 năm.

Trang 16

Căn cứ theo hình thức tài trợ vốn vay: Có cho vay Thấu chi, Cho

vay trực tiếp từng lần, Cho vay theo hạn mức, Cho vay luân chuyển, Cho vay trảgóp, Cho vay gián tiếp

Căn cứ theo TSĐB vốn vay: gồm có Cho vay có TSĐB, Cho vay

không có TSĐB

1.1.2.3 Hoạt động cho vay ngắn hạn của NHTM

Hoạt động cho vay ngắn hạn của các NHTM nhằm tài trợ cho tài sản lưuđộng hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn của Nhà nước, doanh nghiệp, hộ sảnxuất và nguồn vốn này tham gia vào hầu hết các khâu trong hoạt động tạo ra sảnphẩm phục vụ nhu cầu của con người từ khâu sản suất đến khâu lưu thông, tiêuthụ sản phẩm

Đối tượng, mục đích cho vay ngắn hạn của các NHTM cũng rất đa dạng,phong phú:

- Cho Nhà nước vay để tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của Nhà nước

- Cho vay đối với các tổ chức tài chính khác như các ngân hàng, các công tytài chính, quỹ tín dụng… nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản

- Cho vay đối với doanh nghiệp nhằm tài trợ, bổ sung nhu cầu vốn lưu độngcho hoạt động sản xuất kinh doanh

Các NHTM căn cứ quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, quy chế chovay của NHNN để xây dựng chính sách cấp tín dụng phù hợp với định hướngkinh doanh của hệ thống trong từng thời kỳ Tuy nhiên hiên nay, để được vayvốn, trừ trường hợp Nhà nước hoặc cơ quan Nhà nước, các tổ chức tài chính có

uy tín, còn lại các doanh nghiệp, các công ty và hộ sản xuất đều phải có phương

án sản xuất kinh doanh khả thi và TSĐB nợ vay theo quy định của Ngân hàng.Ngân hàng thực hiện phân tích toàn diện về khách hàng vay vốn, xác định hiệuquả sử dụng vốn vay, rủi ro, khả năng và nguồn trả nợ Ngân hàng và các vấn đềliên quan khác

Một số trường hợp ngân hàng không phân tích được phương án vay (dothông tin không đầy đủ hoặc không chính xác, hoặc rủi ro lớn) ngân hàng quyếtđịnh số tiền cho vay dựa vào giá trị của tài sản sản đảm bảo

Trang 17

Số tiền có thể cho vay = Giá trị TSĐB x Tỷ lệ cho vay

Nếu nhu cầu vay lớn hơn số tiền có thể cho vay, ngân hàng sẽ cho vay theo sốtiền có thể cho vay; nếu nhu cầu vay nhỏ hơn, ngân hàng sẽ cho vay theo nhu cầu

1.2 DOANH NGHIỆP XÂY LẮP VÀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY NGẮN HẠN CỦA NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 1.2.1 Tổng quan về doanh nghiệp xây lắp

1.2.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp xây lắp

Xây lắp được hiểu một cách cơ bản là những công việc thuộc quá trìnhxây dựng và lắp đặt thiết bị các công trình, hạng mục công trình

Doanh nghiệp xây lắp (DNXL) là loại hình doanh nghiệp hoạt động tronglĩnh vực thi công xây dựng công trình, bao gồm xây dựng và lắp đặt thiết bị côngtrình mới, sửa chữa, cải tạo, di dời, tu bổ, phục hồi, phá vỡ công trình, bảo hành,bảo hành công trình…

Trách nhiệm của doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp:

- Đăng ký hoạt động xây dựng tại các cơ quan có thẩm quyền theo quy địnhcủa pháp luật

- Chịu trách nhiệm trước pháp luật và Chủ đầu tư về các nội dung đã camkết trong hợp đồng, bao gồm cả số lượng, chất lượng, tính chính xác của sảnphẩm, thời gian thực hiện hợp đồng, có quy định và hướng dẫn sử dụng côngtrình trước khi bàn giao công trình xây dựng, thực hiện bảo hành chất lượng sảnphẩm xây dựng và công trình theo quy định

- Thực hiện chế độ bảo hiểm công trình xây dựng, thực hiện an toàn laoðộng, bảo vệ môi trýờng sinh thái trong quá trình xây dựng Thông tin rộng rãi

về năng lực hoạt động của Doanh nghiệp để Chủ đầu tư biết và lựa chọn

1.2.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp xây lắp

Ngành xây lắp là ngành sản xuất vật chất đặc biệt có những đặc điểm riêngkhác so với những ngành sản xuất vật chất khác Xuất phát từ những đặc thù riêng

đó, sản phẩm xây lắp cũng có đặc điểm riêng, khác với sản phẩm hàng hóa củangành sản xuất vật chất khác ở chỗ mỗi sản phẩm đều có yêu cầu riêng về côngnghệ, về quy phạm, về tiện nghi, về mỹ quan và sự an toàn Những đặc điểm riêng

Trang 18

của ngành và đặc điểm của sản phẩm xây lắp sẽ chi phối công tác tổ chức quản lý,điều hành Việc nghiên cứu nắm rõ các đặc điểm này, giúp ngân hàng đưa ranhững quyết định chính xác, nắm rõ được những rủi ro và đề ra những phương ánkhắc phục rủi ro, nhằm tiến hành cho vay, bảo lãnh có hiệu quả.

Trong xây dựng người ta thường phân biệt giữa một bên là Chủ đầu tư(bên A) và Doanh nghiệp thi công xây lắp - thường được gọi là các Nhà thầu(bên B) Các doanh nghiệp thi công xây lắp là các đơn vị ký hợp đồng thi côngxây lắp trực tiếp với Chủ đầu tư hoặc nhận lại một phần việc thi công xây lắpcông trình từ các Nhà thầu chính (còn gọi các doanh nghiệp này là các Nhà thầuphụ), chịu trách nhiệm trong vấn đề xây dựng các công trình theo thiết kế củaChủ đầu tư Hiện nay, hầu hết các công trình, hạng mục công trình sử dụngnguồn vốn ngân sách, Chủ đầu tư là các doanh nghiệp Nhà nước đều được thựchiện tổ chức đấu thầu hoặc chỉ định thầu theo quy chế đấu thầu của Chính phủnhằm chọn được các nhà thầu có đầy đủ tư cách pháp nhân, năng lực thi côngthực sự với chất lượng đảm bảo và giá cả hợp lý

Đặc điểm về sản xuất kinh doanh:

Các hoạt động sản xuất chính của Doanh nghiệp xây lắp (DNXL) là:

Chế tạo các sản phẩm thuộc các loại hình:

- Các loại thiết bị phục vụ cho các ngành công nghiệp nặng, công nghiệpnhẹ như: Dệt may, nhiệt điện, thuỷ điện, xi măng, dầu khí……

- Thiết bị xây dựng, thiết bị bê tông, thiết bị gạch, thiết bị băng tải, gầu tải,vít tải, thiết bị lọc bụi tĩnh điện, lọc bụi túi…

- Kết cấu thép, khung nhà công nghiệp, đầm chịu lực, giàn không gian

- Thiết bị phi tiêu chuẩn, đường ống công nghiệp

- Các loại bình bể, silo chứa

Xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình nhà ở dân dụng, công nghiệp,

các công trình thuỷ lợi, giao thông:

- Xây dựng cơ sở hạ tầng các khu đô thị, khu công nghiệp

- Xây dựng nhà công nghiệp, dân dụng, trường học, bệnh viện

- Xây dựng trạm bơm, đê, kè, hồ chứa nước., cảng sông, cảng biển

Trang 19

- Thi công các công trình giao thông.

- Xây dựng các công trình

Thực hiện lắp đặt:

- Lắp đặt thiết bị công nghệ cho các công trình, dự án xây dựng

- Lắp khung nhà công nghiệp, xưởng sản xuất

- Lắp thiết bị tự động, thiết bị điện, thiết bị đo, hiệu chỉnh điện

- Đào tạo công nhân kỹ thuật

- Xuất nhập khẩu thiết bị, vật tư

- Xuất khẩu lao động

- Tư vấn đầu tư lao động

- Thiết kế

Đặc điểm về cơ cấu tổ chức, quản lý trong các DNXL:

Các DNXL do đặc thù sản xuất kinh doanh trên diện rộng, sản phẩm sảnxuất ra nằm trên nhiều địa bàn khác nhau đòi hỏi cơ cấu tổ chức, quản lý phùhợp, đảm bảo hiệu quả kinh doanh Hiện nay, tuỳ vào quy mô hoạt động kinhdoanh và hình thức sở hữu mà các doanh nghiệp xây dựng có cơ cấu tổ chức,quản lý phù hợp với đặc điểm của đơn vị mình

- Đối với các doanh nghiệp là các tập đoàn, các Tổng công ty: Cơ cấu tổ chứcđược xây dựng theo mô hình Công ty mẹ- Công ty con, công ty liên doanh, liên kết…hoạt động kinh doanh theo định hướng, kế hoạch của Công ty mẹ

- Đối với các Công ty cổ phần, các công ty cổ phần có quy mô vốn, tài sảntương đối lớn: Thực hiện cơ cấu tổ chức theo mô hình Công ty mẹ- Công ty conkết hợp với việc thành lập các Chi nhánh, văn phòng đại diện, các xí nghiệp hạchtoán phụ thuộc, các nhà máy, trung tâm… Số lượng, quy mô và loại hình tổ chứcđược hình thành, sắp xếp phù hợp với quy mô hoạt động, sản xuất kinh doanh

Trang 20

của từng doanh nghiệp.

- Đối với các DNXL có quy mô vừa và nhỏ: Mô hình tổ chức quản lý sẽđược bố trí xắp xếp gọn nhẹ, đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh

Đặc điểm của sản phẩm xây lắp:

Thứ nhất, sản phẩm xây lắp có tính đơn chiếc, riêng lẻ.

Mỗi một sản phẩm xây lắp đều được thiết kế riêng theo mục đích sử dụngriêng Mỗi công trình đều có yêu cầu riêng về kỹ thuật, về quy phạm, về tiệnnghi, về mỹ quan, về an toàn… Do đó, khối lượng, chất lượng và chi phí xâydựng của mỗi công trình đều khác nhau

Từ đặc điểm này cho thấy sản phẩm xây lắp có thể giống nhau về hìnhthức, song về kết cấu, chất lượng thì không giống nhau hoàn toàn nếu xây dựng

ở những địa điểm khác nhau Nên mặc dù có thể sản xuất hàng loạt theo mẫuthiết kế thống nhất nhưng chi phí xây dựng không thống nhất Mỗi công trình, dự

án đầu tư đều bị chi phối bởi các điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, hoàn cảnhkhách quan… nên chi phí xây dựng cũng khác nhau Do đó, trong xây dựng luônđòi hỏi phải có dự toán cụ thể cho từng công trình, từng hạng mục công trình và

dự toán chi tiết theo thiết kế tổ chức thi công, dự án gắn liền với việc chấp hànhnghiêm chỉnh quy trình, quy phạm kỹ thuật Quá trình sản xuất xây lắp phải sosánh với dự toán, lấy dự toán làm thước đo, đồng thời để giảm bớt rủi ro phảimua bảo hiểm cho công trình xây lắp

Thứ hai, sản phẩm xây lắp có tính chất cố định, nơi sản xuất gắn liền với

nơi tiêu thụ sản phẩm, phụ thuộc trực tiếp vào điều kiện, khí hậu, địa chất, thủyvăn, khí hậu

Đặc điểm này cho thấy:

- Nơi tiêu thụ sản phẩm xây lắp gắn liền với nơi sản xuất và có tính chất

cố định lâu dài

- Nơi sản xuất biến động nên lực lượng sản xuất thi công (lao động, thiết

bị thi công, vật tư kỹ thuật…) luôn luôn di động.Đặc điểm này là một trở ngại lớncho công tác tổ chức sản xuất chung, khiến cho việc bố trí các công trình tạm thời

để phục vụ thi công như lán trại, kho tàng… phối hợp với phương tiện, máy móc,

Trang 21

thiết bị nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp và chi phí tốn kém.

- Chất lượng và giá cả (chi phí xây dựng) sản phẩm chịu ảnh hưởng trựctiếp của các điều kiện tự nhiên Do vậy, để giảm thiểu lãng phí, thất thoát do nguyênnhân khách quan bởi các tác động trên đòi hỏi trước khi khởi công xây dựng côngtrình phải làm thật tốt công tác chuẩn bị ðầu tý và chuẩn bị xây dựng

Điều này đòi hỏi cần có giải pháp tài chính để kiểm tra việc sử dụng và quản

lý vốn đầu tư ngay từ khâu đầu tiên là xác định chủ trương đầu tư, lựa chọn địađiểm, điều tra khảo sát, thăm dò… để dự án đầu tư bảo đảm tính khả thi cao Đặcđiểm này cũng cho thấy trình độ tổ chức quản lý có ý nghĩa quyết định đối với kếtquả hoạt động sản xuất của đơn vị xây lắp

Thứ ba, sản phẩm xây lắp có quy mô lớn, kết cấu phức tạp:

Sản phẩm xây dựng với tư cách là công trình xây dựng khi đã hoàn thànhđưa vào sử dụng, đưa vào trao đổi mua bán trên thị trường bất động sản là tài sản

cố định nên không thể là những sản phẩm bé nhỏ như sản xuất hàng loạt trong sảnxuất công nghiệp Do vậy, trong quản lý kinh tế, quản lý hoạt động đầu tư xâydựng đòi hỏi Chủ đầu tư cũng như Nhà Thầu xây dựng cần có kế hoạch, bố trí vốnphù hợp để sản phẩm được sản xuất, đưa vào sử dụng đáp ứng các yêu cầu về tiến

độ, chất lượng, kỹ thuật đảm bảo các tiêu chuẩn đề ra

Với đặc điểm quy mô lớn và phức tạp của sản phẩm xây lắp dẫn đến chu kỳsản xuất dài Do đó, vốn đầu tư bỏ vào để xây dựng dễ bị ứ đọng, gây lãng phí,hoặc ngược lại nếu thiếu vốn sẽ làm công tác thi công bị gián đoạn, kéo dài thờigian xây dựng Từ đặc điểm này yêu cầu trong công tác quản lý phải có kế hoạchthi công rõ ràng, hợp lý, có biện pháp kỹ thuật thi công tốt để rút ngắn thời gianxây dựng, tiết kiệm chi phí, hạ thành sản phẩm Trên góc độ tài chính đòi hỏi phải

có giải pháp quản lý chi phí và quản lý công tác thanh toán vốn đầu tư giữa Chủđầu tư với Nhà thầu, giữa Chủ đầu tư với cơ quan cấp vốn đầu tư xây dựng …

Thứ tư, sản phẩm xây lắp có thời gian sử dụng lâu dài, chất lượng của sản

phẩm có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả hoạt động của các ngành khác

Sản phẩm của các ngành sản xuất vật chất khác thường có thời gian sửdụng ngắn Sản phẩm của ngành xây lắp là các công trình xây dựng mang tính

Trang 22

chất là tài sản cố định nên có thời gian sử dụng rất lâu dài và tham gia vào nhiềuchu kỳ sản xuất, sử dụng nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu Từđặc điểm này đòi hỏi chất lượng công trình phải tốt Muốn vậy phải chú trọngnâng cao chất lượng công tác quản lý kinh tế và chất lượng xây dựng ở tất cả cáckhâu công tác: điều tra, khảo sát, lập dự án đầu tư, nghiệm thu, quyết toán vốnđầu tư dự án hoàn thành và chế độ bảo hành công trình.

Do đặc điểm thời gian sử dụng dài, tuổi thọ cao, nên sai lầm trong xây dựng

sẽ gây tổn thất lớn cả về giá trị và chất lượng công trình, từ đó gây ra những hậuquả trong ngắn hạn và dài hạn Do đó, trong quá trình thực hiện phải giám sát chặtchẽ mọi hoạt động và các chi phí phát sinh ở từng giai đoạn xây dựng và giám sátchất lượng công trình Đó là công việc thường xuyên, hàng ngày để đảm bảo nguồnvốn được sử dụng đúng mục đích và chất lượng công trình được đảm bảo

Thứ năm, đối tượng hạch toán chi phí cụ thể của DNXL là các hạng mục

công trình, các giai đọn của hạng mục hay nhóm hạng mục Điều này khiến choviệc lập dự toán chi phí và tính giá thành phải tiến hành thường xuyên và chia theotừng hạng mục công trình hay theo giai đoạn của từng hạng mục công trình Trongkhi đó, một đặc điểm cốt yếu của các sản phẩm xây lắp là phải bỏ nhiều chi phítrong thời gian kéo dài khiến chu kỳ sản xuất có độ dài lớn hơn hẳn so với các chu

kỳ sản xuất công nghiệp thông thường, từ đó làm cho công tác dự toán chi phí vàtính giá thành trở nên khó khăn hơn, đòi hỏi nhiều thời gian, công sức hơn Sảnphẩm xây lắp từ khi khởi công đến khi hoàn thành công trình bàn giao đưa vào sửdụng thường kéo dài Nó phụ thuộc vào quy mô, tính phức tạp về kỹ thuật của từngcông trình Quá trình thi công chia thành nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn lại chiathành nhiều công việc khác nhau Đặc điểm này đòi hỏi việc tổ chức quản lý vàgiám sát chặt chẽ sao cho bảo đảm chất lượng công trình đúng như thiết kế, dự toán

Đặc điểm đặc trưng của sản phẩm xây lắp này còn là nguyên nhân gây nêntình trạng ứ đọng vốn sản xuất trong khi nhu cầu vốn của các đơn vị xây lắp lại rấtlớn, chưa kể đến những nguyên nhân khác tới từ phia thủ tục, quy định về hoạtđộng xây dựng cơ bản của Chính phủ cũng như các yêu cầu riêng của Chủ đầu tưcàng làm cho tình trạng chậm trễ trong thanh toán trở nên phổ biến hơn trong các

Trang 23

Thứ sáu, sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thỏa

thuận với chủ đầu tư (giá đấu thầu) Do vậy, tính chất hàng hóa của sản phẩm xâylắp không thể hiện rõ như sản phẩm thông thường Sản phẩm thông thường khôngbiết người tiêu dùng là ai, còn sản phẩm xây lắp đã được quy định trước giá cả,người mua, người bán thông qua hợp đồng giao nhận thầu

Đặc điểm này khiến cho các đơn vị xây lắp có thể chủ động trong việc kýkết hợp đồng kinh tế, tuy nhiên, nó cũng đòi hỏi các doanh nghiệp này phải cóđược trình độ chuyên môn nhất định, cần am hiểu rõ về nghiệp vụ cũng như năngđộng trong kinh doanh thì mới có thể đảm bảo được những yêu cầu về kỹ thuậtcông trình và khả năng thực hiện công trình đúng như thỏa thuận trong hợp đồngxây dựng đã ký kết Đây là điều kiện cần để sản phẩm xây lắp có thể tiêu thụđược, từ đó DNXL mới có thể thanh lý hợp đồng, thanh toán nợ vay cho ngânhàng và có được lợi nhuận

Thứ bảy, sản phẩm xây lắp có liên quan đến nhiều ngành, vùng, địa phương:

Sản phẩm xây lắp là các công trình được sử dụng cho các ngành khác Ví

dụ như cầu, đường giao thông xây dựng xong để phục vụ các phương tiện vận tải

đi lại Nhà máy được xây dựng xong phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh củacác ngành sản xuất khác Do vậy, sản phẩm của ngành xây lắp có liên quan trựctiếp và gián tiếp tới hoạt động của nhiều ngành khác, có liên quan tới nhiều vùng,nhiều địa phương Từ đó, đòi hỏi cần phải chú ý cân nhắc kỹ các dự án đầu tưtrước khi triển kha như: Cần có sự đánh giá kỹ lưỡng trên các giác độ về quyhoạch tổng thể, kỹ thuật, kinh tế, thị trường, các tác động kinh tế - xã hội của sảnphẩm tới kinh tế vĩ mô và tới các ngành, lĩnh vực khác

Thứ tám, sản phẩm xây lắp mang tính tổng hợp về mặt kỹ thuật, kinh tế,

xã hội, văn hóa, nghệ thuật và quốc phòng

Đặc điểm này có thể dẫn đến phát sinh các mâu thuẫn, mất cân đối trongmối quan hệ tổng hợp giữa các mục tiêu, tiêu chí mà sản phẩm cần đạt đượctrong sự phối hợp giữa các khâu từ quá trình chuẩn bị đầu tư, chuẩn bị xây dựngcho đến quá trình thi công Để khắc phục tình trạng này đòi hỏi phải có trình độ

Trang 24

tổ chức, phối hợp các khâu từ công tác thẩm định dự án, chuẩn bị đấu thầu, giámsát thi công…

Đặc điểm về tình hình tài chính của các DNXL:

Thứ nhất, vốn tự có của DNXL thấp, chủ yếu tồn tại dưới dạng máy móc

thiết bị đã qua sử dụng, trụ sở doanh nghiệp Thực tế hiện nay, vốn chủ sở hữucủa DNXL chỉ chiếm khoảng 5 -15% trong tổng số nguồn vốn của doanh nghiệp,còn lại là vốn vay ngân hàng và các nguồn vốn chiếm dụng khác Do đó, gánhnặng về chi phí lãi vay lớn gây áp lực đến hiệu quả kinh doanh của doanhnghiệp Trong khi đó, do sản lượng thi công tăng lên cùng với yêu cầu cao vềchất lượng công trình đòi hỏi doanh nghiệp phải có vốn lưu động lớn cũng nhưtrang bị những thiết bị thi công hiện đại Vì vậy, nhu cầu vốn (cả vốn ngắn hạn

và vốn đầu tư trung, dài hạn) ngày càng tăng Do đó, trong hoạt động của cácđơn vị này, nhu cầu vay vốn ngân hàng để hoạt động là thường xuyên và rất lớn

Thứ hai, nhu cầu vốn lưu động của DNXL thường chiếm tỷ trọng lớn

trong tổng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Các ngân hàng thường cho vay các DNXL để bổ sung vốn lưu động, phục vụ thicông công trình Đối với nhu cầu đầu tư mới, Ngân hàng thường chỉ tham gia tàitrợ một phần, phần còn lại các DNXL tự bỏ vốn tự có của mình

Thứ ba, tốc độ chu chuyển vốn trong các DNXL thường không cao Do

quy mô lớn, thời gian sản xuất kéo dài nên vốn bỏ vào xây dựng các công trình

dễ bị ứ đọng, ảnh hưởng xấu đến tình hình tài chính của các DNXL Nếu côngtrình thiếu vốn hoạt động thì quá trình thi công sẽ bị gián đoạn, thời gian xâydựng bị kéo dài Khi công trình hoàn thành, công tác nghiệm thu, quyết toán vàthanh toán phụ thuộc nhiều vào Chủ đầu tư, do vậy, các DNXL thường bị chiếmdụng vốn trong thời gian dài, tốc độ quay vòng vốn lưu động thấp Nhu cầu vốnlưu động cần thiết cho thi công lớn trong khi vốn chủ sở hữu chiếm tỷ lệ nhỏtrong tổng nguồn vốn nên các DNXL phải huy động vốn bên ngoài, chủ yếu làvốn vay ngân hàng

Thứ tư, tình hình tài chính và chu chuyển vốn của các DNXL phụ thuộc

rất lớn vào tình hình tài chính, nguồn vốn thanh toán của Chủ đầu tư (Bên A)

Trang 25

Các DNXL có tình hình tài chính lành mạnh, kinh doanh có lãi thường là cácdoanh nghiệp có tình hình thanh toán công nợ tốt với Chủ đầu tư, sản lượng thựchiện được nghiệm thu thanh toán kịp thời theo giai đoạn, không bị chiếm dụngvốn Đồng thời, trước khi tham gia đấu thầu, ký kết hợp đồng xây lắp, cácDNXL cần đặc biệt quan tâm đến nguồn vốn thanh toán của công trình, uy tín vàtình hình tài chính của Chủ đầu tư để tránh rủi ro về thanh khoản trong quá trìnhthi công, nghiệm thu, thanh toán vốn.

Đặc điểm chu chuyển vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh:

Cũng như mọi doanh nghiệp khác, muốn tiến hành sản xuất kinh doanh, cácDNXL cần phải có tài sản lưu động Tài sản lưu động của Doanh nghiệp tồn tạidưới hai hình thái: hình thái vật chất là các công cụ, dụng cụ, nguyên vật liệu phục

vụ cho quá trình sản xuất, xây dựng, hàng hóa tồn kho (bán thành phẩm)…; hìnhthái phi vật chất là các tài sản ngắn hạn tồn tại dưới dạng giá trị như các khoảnphải thu từ Chủ đầu tư, các khoản ứng trước cho các nhà cung cấp vật tư, hànghóa…, các khoản ứng trước cho các nhà thầu phụ, các chi phí trích trước…Tài sảnlưu động tồn tại dưới hình thái vật chất chủ yếu diễn ra trong quá trình trực tiếpsản xuất và quá trình dự trữ sản xuất Tài sản lưu động tồn tại dưới hình thái phivật chất chủ yếu diễn ra trong quá trình lưu thông Tài sản lưu động tồn tại trongcác hình thức này liên tục đổi chỗ cho nhau và vận động không ngừng nhằm đảmbảo cho quá trình tái sản xuất được tiến hành thuận lợi và liên tục

Như vậy, DNXL nào cũng cần có một số vốn thích hợp để đầu tư và tàisản lưu động Số tiền dành để đầu tư cho những tài sản đó được gọi là vốn lưuđộng của doanh nghiệp Để quản lý vốn lưu động được tốt, chúng ta cần phânloại vốn lưu động Dựa theo vai trò trong quá trình tái sản xuất, vốn lưu độngđược chia thành ba loại, trong mỗi loại dựa theo công dụng lại được chia thànhnhiều khoản cụ thể Với DNXL vốn lưu động được chia thành:

- Vốn lưu động nằm trong quá trình dự trữ sản xuất

- Vốn lưu động nằm trong quá trình trực tiếp sản xuất

- Vốn lưu động nằm trong quá trình lưu thông

Đối với sản phẩm xây lắp bao giờ cũng được thi công ngay tại chỗ cho

Trang 26

nên sản phẩm không phải nhập kho và vận chuyển tới nơi tiêu thụ Mặt khác, thicông xây lắp hiện nay sản xuất theo kiểu đơn đặt hàng nên sản phẩm xây lắpkhông khó khăn gì trong việc tìm người tiêu thụ Ngay sau khi hoàn thành, cáccông trình xây lắp được bàn giao cho Chủ đầu tư Hai bên thực hiện nghiệm thu

và quyết toán công trình Chủ đầu tư sẽ thanh toán cho Nhà thầu dựa trên số tiềnđược quyết toán Như vậy, nhu cầu về vốn thành phẩm ở đây được xuất phát từsản lượng xây lắp phải bàn giao quyết toán trong kỳ kế hoạch và thời gian cầnthiết để làm thủ tục nghiệm thu, thanh quyết toán giữa Chủ đầu tư và Nhà thầu

1.2.1.3 Doanh nghiệp xây lắp với quan hệ tín dụng Ngân hàng

Những đặc điểm nêu trên của DNXL không những chi phối hoạt động sảnxuất kinh doanh và công tác tổ chức quản lý sản xuất của các đơn vị xây lắp, ảnhhưởng đến quá trình chu chuyển vốn của các doanh nghiệp này cũng như đến hiệuquả đầu tư của cả nền kinh tế mà còn tác động sâu sắc tới quan hệ tín dụng và chấtlượng tín dụng của các NHTM, thể hiện qua các khía cạnh sau:

Về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh

Hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNXL là hoạt động mang tính đặcthù cao, thể hiện ở cac sản phẩm của họ là công trình xây dựng với mục đích sửdụng phong phú, từ công trình xay dựng công nghiệp tới dân dụng, cầu đường,thủy lợi… Các đơn vị xây lắp chỉ tiến hành sản xuất khi chủ đầu tư có yêu cầu, đặthàng và sản phẩm của đơn vị xây lắp chỉ được tiêu thụ khi chủ đầu tư chấp thuậnviệc bàn giao, thanh quyết toán công trình Ngoài ra, hoạt động của các DNXLcòn phụ thuộc đáng kể vào khả năng phát triển, đầu tư cũng như khả năng mởrộng của nền kinh tế Nếu đầu tư cao, nhu cầu về xây dựng công trình sẽ ngàycàng lớn, từ đó mà thị trường cho hoạt động sản xuất của các đơn vị xây lắp được

mở rộng Đây cũng là cơ sở để các NHTM mở rộng hoạt động cấp tín dụng chocác DNXL để thực hiện thi công các công trình xây dựng phục vụ cho sự pháttriển của nền kinh tế Một điểm đáng lưu ý là các DNXL chỉ có đượng nguồn thukhi mà các chủ đầu tư đã nghiệm thu công trình và chấp thuận thanh toán, do đó,khả năng trả nợ của các DNXL phụ thuộc rất lớn vào sự chấp thuận này

Rõ ràng, sản phẩm xây lắp mà các DNXL cung cấp về cơ bản có thị

Trang 27

trường tiêu thụ, tuy nhiên nó vẫn mang tính bị động tương đối xét trên khía cạnh

có thể xảy ra khả năng chủ đầu tư không chấp thuận nghiệm thu công trình Vìvậy, quan hệ tín dụng giữa DNXL và NHTM không chỉ là quan hệ hai bên màcòn gắn kết chặt chẽ và chịu ảnh hưởng lớn từ bên thứ ba là chủ đầu tư Mốiquan hệ này thể hiện ở các tiêu chí như chất lượng công trình xây dựng, phươngthức nghiệm thu, phương thức thanh toán của chủ đầu tư, tiến độ xây dựng cũngnhư nguồn vốn xây dựng cơ bản của chủ đầu tư…

 Về hoạt động tài chính

- Vốn tự có của DNXL thấp, chủ yếu tồn tại dưới dạng máy móc thiết bị

đã qua sử dụng, trụ sở doanh nghiệp Thực tế hiện nay, vốn chủ sở hữu củaDNXL chỉ chiếm khoảng 5 -15% trong tổng số nguồn vốn của doanh nghiệp,còn lại là vốn vay ngân hàng và các nguồn vốn chiếm dụng khác Do đó, gánhnặng về chi phí lãi vay lớn gây áp lực đến hiệu quả kinh doanh của doanhnghiệp Trong khi đó, do sản lượng thi công tăng lên cùng với yêu cầu cao vềchất lượng công trình đòi hỏi doanh nghiệp phải có vốn lưu động lớn cũng nhưtrang bị những thiết bị thi công hiện đại Vì vậy, nhu cầu vốn (cả vốn ngắn hạn

và vốn đầu tư trung, dài hạn) ngày càng tăng Do đó, trong hoạt động của cácđơn vị này, nhu cầu vay vốn ngân hàng để hoạt động là thường xuyên và rất lớn

- Tại Việt Nam hiện nay, nhu cầu vốn lưu động của DNXL thường chiếm

tỷ trọng lớn trong tổng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp Các ngân hàng thường cho vay các DNXL để bổ sung vốn lưuđộng, phục vụ thi công công trình Đối với nhu cầu đầu tư mới, Ngân hàngthường chỉ tham gia tài trợ một phần, phần còn lại các DNXL tự bỏ vốn tự cócủa mình

- Tốc độ chu chuyển vốn trong các DNXL thường không cao Do quy mô

lớn, thời gian sản xuất kéo dài nên vốn bỏ vào xây dựng các công trình dễ bị ứđọng, ảnh hưởng xấu đến tình hình tài chính của các DNXL Nếu công trìnhthiếu vốn hoạt động thì quá trình thi công sẽ bị gián đoạn, thời gian xây dựng bịkéo dài Khi công trình hoàn thành, công tác nghiệm thu, quyết toán và thanhtoán phụ thuộc nhiều vào Chủ đầu tư, do vậy, các DNXL thường bị chiếm dụng

Trang 28

vốn trong thời gian dài, tốc độ quay vòng vốn lưu động thấp Nhu cầu vốn lưuđộng cần thiết cho thi công lớn trong khi vốn chủ sở hữu chiếm tỷ lệ nhỏ trongtổng nguồn vốn nên các DNXL phải huy động vốn bên ngoài, chủ yếu là vốn vayngân hàng.

- Một điểm nổi bật của các DNXL là các doanh nghiệp này chỉ thực sựtính được lỗ, lãi khi các công trình được thanh quyết toán bởi các chủ đầu tưcông trình DNXL chỉ xác định được mức lợi nhuận mình đạt được sau khi đãtính được chênh lệch giữa thu từ thanh toán công trình với các khoản chi phí nhưchi phí nhân công, khấu hao, chi phí quản lý, chi phí lãi vay… Điểm này có tácđộng lớn tới chất lượng tín dụng giữa NHTM và DNXL bởi nếu vốn chủ sở hữucủa Doanh nghiệp là quá nhỏ so với vốn vay sẽ khiến cho chi phí trả lãi có thểtrở nên quá cao đối với doanh nghiệp, từ đó nảy sinh rủi ro thanh toán cho phíaNHTM Vì vậy, để đảm bảo an toàn cho mình cũng như để giảm thiểu rủi rokhông đáng có cho các DNXL, các NHTM cần phải xây dựng một cơ chế phânloại DNXL theo qui mô cũng như xây dựng các chỉ tiêu tài chính về vốn tự cóphù hợp để áp dụng trong phân tích xếp hạng tín nhiệm đối với loại doanhnghiệp đặc thù này

 Về tổ chức quản lý trong các DNXL

Trong các DNXL, hoạt động đáng kể và có tác động lớn tới mọi hoạt độngkhác của doanh nghiệp là hoạt động quản lý thi công xây lắp công trình Nó khôngnhững trực tiếp tạo nên kết quả sản xuất kinh doanh của DNXL mà còn có ý nghĩaquyết định đối với chất lượng của hoạt động tổ chức Thêm vào đó, hoạt đôngquản lý thi công xây lắp công trình còn ảnh hưởng sâu sắc tới việc hoàn thành cáchợp đồng xây dựng đã ký kết, tới uy tín của đơn vị xây lắp triên lĩnh vực xâydựng, đồng thời tác động tới hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp Các DNXL phảithiết lập được một tổ chức quản lý hết sức khoa học, hợp lý thì mới có thể phốihợp hoạt động của các nhóm lao động, đảm bảo công tác cung ứng, dự trữ và bảoquản vật liệu… từ đó mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất có thể, đồng thời hạn chếtới mức tối đa những rủi ro tiềm tang trong quá trình xây dựng

Việc cấp tín dụng của các NHTM cho các DNXL không những mang lại

Trang 29

cho các doanh nghiệp này nguồn tài trợ cho hoạt động của mình mà còn là độnglực thúc đẩy hoạt động tổ chức quản lý trong các doanh nghiệp này Trước hết,

đó là bởi NHTM sẽ chỉ cấp tín dụng cho các DNXL có năng lực hoạt động tốt,

có phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả chứ không cấp tín dụng cho bất kỳdoanh nghiệp nào có nhu cầu Vì thế, chỉ có những DNXL hoạt động hiệu quảmới có thể tiếp cận nguồn vốn này Đây chính là động lực thúc đẩy các DNXLphát triển hơn nữa, hoàn thiện mọi qui trình sản xuất cũng như tổ chức quản lý

để có thể vận hành một cách tốt nhất, không những để có thể trở thành đối tượngcho vay của NHTM mà còn tận dụng một cách hiệu quả nguồn vốn mà doanhnghiệp huy động được

1.2.2 Hoạt động cho vay ngắn hạn của ngân hàng đối với doanh nghiệp xây lắp

1.2.2.1 Vai trò hoạt động cho vay ngắn hạn của ngân hàng đối với DNXL

Do đặc điểm của sản phẩm xây lắp như đã đề cập ở phần trên, doanhnghiệp muốn tham gia vào thị trường xây dựng thì yêu cầu phải có vốn lớn đồngthời đáp ứng được yêu cầu về mở rộng quy mô hoạt động qua các năm Đối vớicác DNXL thì vay vốn từ ngân hàng là một kênh huy động vốn vô cùng quantrọng Ngoài việc sử dụng tối đa vốn tự có và tận dụng nguồn vốn ứng trước từchủ đầu tư thì vốn vay ngân hàng là lựa chọn phù hợp đối với các DNXL Nguồnvốn vay ngân hàng đảm bảo và ổn định, giúp cho các doanh nghiệp có thể yêntâm sản xuất kinh doanh đúng kế hoạch Ngoài ra, vốn vay ngân hàng với nhiềuhình thức để doanh nghiệp lựa chọn cho phù hợp, kể cả thời gian và mức tiềnvay sao cho hợp lý

Tín dụng ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn cho các DNXL, giúp cácdoanh nghiệp này duy trì và mở rộng quá trình sản xuất kinh doanh, nâng caokhả năng cạnh tranh đồng thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp tồn tại và pháttriển trong nền kinh tế thị trường

Ngân hàng và các DNXL có quan hệ lâu dài nên ngân hàng có thể nắmđược tình hình tổ chức cũng như chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Với vai trò của mình, ngân hàng góp phần điều hòa vốn giữa các DNXL, thúcđẩy toàn bộ ngành xây dựng phát triển, tăng cường chữ tín với khách hàng

Trang 30

Hơn nữa, khi cho vay, ngân hàng phải tiến hành tìm hiểu, đánh giá, phântích tình hình tài chính, đánh giá mặt mạnh, mặt yếu, rủi ro hoạt động của doanhnghiệp Do vậy, để có thể vay vốn ngân hàng, các doanh nghiệp phải đảm bảokhả năng tài chính tốt Điều này bắt buộc các DNXL phải chủ động đứng vững

và có sức cạnh tranh lớn trên thị trường Tín dụng ngân hàng trở thành công cụkích thích quá trình sản xuất, quản lý kinh tế, kiểm tra, giám sát các hoạt độngsản xuất của doanh nghiệp

Đặc trưng cơ bản của cho vay ngân hàng là dựa trên cơ sở cho vay có hoàntrả cả gốc và lãi Điều này buộc các doanh nghiệp phải tính toán để có một tỷ lệlãi trên vốn vay lớn hơn lãi suất cho vay của ngân hàng, kích thích việc sử dụngvốn có hiệu quả Khi sử dụng vốn vay ngân hàng, các doanh nghiệp phải đảm bảokhả năng hoàn trả nợ vay đúng hạn, thực hiện đúng theo hợp đồng tín dụng Vìthế đòi hỏi các doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phísản xuất, tăng vòng quay vốn, nâng cao doanh lợi của doanh nghiệp

1.2.2.2 Đặc điểm cho vay ngắn hạn của ngân hàng đối với DNXL

Xuất phát từ các đặc điểm của các DNXL mà việc cho vay ngắn hạn củangân hàng đối với các DNXL có những đặc điểm như sau:

- Về đối tượng cho vay: Ngân hàng cho các DNXL vay ngắn hạn để

thanh toán vật tư, hàng hóa, chi phí thuê máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vậtliệu, tiền lương… để thi công các công trình Do vậy, việc cho vay thanh toánphải theo từng công trình Số tiền vay phải đảm bảo được sử dụng đúng vào việcthi công công trình đề nghị vay

- Về thời gian cho vay: Theo thời gian quay vòng vốn của từng doanh

nghiệp nhưng không lâu hơn thời gian thi công của công trình Tuy nhiên, do đặcđiểm của các DNXL là thời gian thi công một công trình thường kéo dài nên thờigian quay vòng vốn chậm, do đó thời gian cho vay các món vay ngắn hạn đốivới các DNXL thường dài hơn các doanh nghiệp thương mại Thời gian cho vaycủa từng món vay cụ thể đối với các DNXL thường từ 6 đến 9 tháng, một sốdoanh nghiệp có thể lên đến 12 tháng

- Về nguồn vốn trả nợ: Nguồn trả nợ các món vay ngắn hạn của các

Trang 31

DNXL chính là nguồn vốn thanh toán của các công trình Do vậy, khi cho vayngắn hạn các DNXL, các ngân hàng thường theo dõi rất chặt chẽ nguồn tiềnthanh toán của các công trình Các ngân hàng khi cho vay công trình nào thì luônyêu cầu doanh nghiệp phải chuyển toàn bộ tiền thanh toán của công trình đó vềtài khoản của doanh nghiệp tại ngân hàng mình.

- Về phương thức thu nợ: Căn cứ vào tình hình tài chính, đặc điểm thu

hồi và luân chuyển vốn của DNXL mà ngân hàng áp dụng các phương thức thu

nợ sao cho phù hợp Nếu ngân hàng áp dụng phương thức cho vay theo hạn mứcthì phương thức thu nợ được áp dụng phổ biến là thu theo thời gian đến hạn trả

nợ của các khoản nợ vay Nếu ngân hàng áp dụng phương thức cho vay theomón, quản lý theo từng công trình thì phương thức thu nợ là nguồn thu của côngtrình nào được dùng để thu hồi nợ vay của công trình đó Tuy nhiên, phương thứcthu nợ này tồn tại nhiều hạn chế, doanh nghiệp không chủ động về nguồn tàichính để trả nợ ngân hàng, có nhiều khả năng phải đề nghị ngân hàng gia hạn nợtrong khi trên tài khoản tiền gửi có nhiều tiền là nguồn thu, tiền ứng trước củaChủ đầu tư từ các công trình khác chưa đến hạn trả nợ

- Về số tiền cho vay: Do nguồn trả nợ của việc cho vay ngắn hạn các

DNXL là nguồn tiền thanh toán của công trình nên số tiền các ngân hàng cho cácdoanh nghiệp vay mỗi lần cũng dựa trên số tiền trong Hợp đồng thi công ký giữachủ đầu tư và nhà thầu và số tiền thực tế doanh nghiệp đã được thanh toán theotiến độ thi công

- Về việc kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay: Đặc điểm của các

DNXL là hàng hóa, vật tư mua về thường không được nhập vào kho mà thườngđược chuyển thẳng tới công trình để thi công, cấu thành nên chi phí sản xuấtkinh doanh dở dang Do đó, việc cho vay ngắn hạn DNXL, trước và trong khicho vay ngân hàng chỉ kiểm tra trên bề mặt hồ sơ và tiến độ thanh toán thực tếcủa chủ đầu tư cho doanh nghiệp về tài khoản của doanh nghiệp tại ngân hàng.Sau khi cho vay, định kỳ hoặc đột xuất ngân hàng sẽ cử cán bộ xuống thực tếcông trình để kiểm tra tiến độ thi công thực tế của doanh nghiệp từ đó đánh giáviệc sử dụng vốn vay của doanh nghiệp

Trang 32

- Về TSĐB: Các DNXL thường có tỷ lệ tài sản cố định trong tổng số tài

sản rất thấp Do đó, TSĐB là các tài sản hữu hình cho các khoản vay ngắn hạntại ngân hàng thường rất ít Để đảm bảo cho tỷ lệ TSĐB cần có theo quy định tạitừng Ngân hàng, Doanh nghiệp thường bảo đảm bằng các hình thức như tài sảncủa bên thứ ba, tín chấp, quyền đòi nợ khối lượng xây lắp hoàn thành, quyền đòi

nợ hình thành trong tương lai, cổ phiếu của công ty …

- Về những rủi ro chủ yếu trong cho vay ngắn hạn đối với các DNXL:

 Rủi ro về cơ chế, chính sách, hệ thống pháp luật:

Việc cho vay ngắn hạn các DNXL phải tuân theo một hệ thống các vănbản pháp luật của Nhà nước cũng như các văn bản, cơ chế chính sách của chính

hệ thống của ngành Ngân hàng Sản phẩm của ngành xây lắp liên quan đến nhiềungành nghề khác nhau nên không chỉ chịu sự tác động của hệ thống văn bảnpháp luật ngành xây dựng mà còn chịu sự tác động của hệ thống văn bản phápluật các ngành khác Khi hệ thống các văn bản pháp luật này có những sự thayđổi sẽ gây ảnh hưởng tới hoạt động của các DNXL Thậm chí có thể gây ảnhhưởng mạnh đến tình hình tài chính của doanh nghiệp kéo theo sự ảnh hưởngđến khả năng trả nợ của doanh nghiệp đối với ngân hàng

sự suy giảm kinh tế của các DNXL, nhu cầu về vốn vay ngắn hạn cũng như khảnăng tiếp cận nguồn vốn của các DNXL sẽ bị ảnh hưởng

Việc xây dựng các cở sở hạ tầng phục vụ cho việc phát triển nền kinh tế

xã hội của Nhà nước là thị trường đầu ra lớn nhất đối với các DNXL Khi đấtnước phát triển, nguồn ngân sách dồi dào thì Nhà nước sẽ đẩy mạnh việc xâydựng các trường học, bệnh viện, cầu, đường giao thông, các công trình, trụ sở

Trang 33

làm việc… Khi nền kinh tế trong giai đoạn khó khăn, thâm hụt ngân sách lớn thìviệc xây dựng các công trình này cũng bị cắt giảm, thậm chí có những công trình

do không đủ vốn thực hiện sẽ bị tạm dừng thi công… Lúc đó rủi ro sẽ xảy ra đốivới các DNXL cũng như đối với các ngân hàng cho vay xây lắp

Thị trường đầu vào của các DNXL là các nguyên vật liệu xây dựng: cát,

đá, sắt, thép, xi măng… Khi nền kinh tế bất ổn định dẫn đến sự biến động giá cảcủa các mặt hàng này sẽ làm tăng chi phí đầu vào của các DNXL, ảnh hưởng đếnlợi nhuận hoạt động của các doanh nghiệp cũng như nguồn trả nợ của các doanhnghiệp đối với ngân hàng

 Rủi ro về thanh khoản:

Khi ngân hàng cho các DNXL vay vốn ngắn hạn để thi công các côngtrình thì nguồn trả nợ chính của các doanh nghiệp đó chính là nguồn vốn thanhtoán của chủ đầu tư cho các nhà thầu Khi thực hiện ký kết hợp đồng thi côngcông trình, chủ đầu tư và nhà thầu đều thỏa thuận cụ thể về điều kiện và tiến độthanh toán cho nhà thầu Ngân hàng cho DNXL vay vốn ngắn hạn cũng dựa trêntiến độ thanh toán tiền đó của chủ đầu tư để quyết định số tiền và thời hạn cho vaytừng lần Tuy nhiên, trong quá trình thi công có rất nhiều công trình tiến độ thanhtoán tiền thực tế của chủ đầu tư cho nhà thầu lại không diễn ra theo đúng cam kếttrong hợp đồng Việc chậm thanh toán tiền của chủ đầu tư đã ảnh hưởng đến khảnăng trả nợ đúng hạn của DNXL đối với ngân hàng Do vậy, trong quá trình chovay ngắn hạn các DNXL, ngân hàng thường tìm hiểu về nguồn vốn đầu tư chocông trình mà DNXL thi công

 Rủi ro về đạo đức:

Đạo đức của con người luôn là yếu tố có tính chất quyết định đến sự thànhcông hay thất bại của một mục tiêu Đặc biệt là trong hoạt động tín dụng của cácNgân hàng Rủi ro về đạo đức về phía lãnh đạo doanh nghiệp lẫn phía cán bộ tíndụng ngân hàng đều gây ra những rủi ro đối với hoạt động cho vay của ngân hàng

Rủi ro trong quá trình tác nghiệp:

Trong quá trình xem xét, phê duyệt cấp hạn mức tín dụng cũng như quyếtđịnh cho vay từng lần, nếu cán bộ tín dụng không xem xét kỹ hồ sơ khoản vay,

Trang 34

có những nhầm lẫn trong quá trình xem xét hồ sơ, tạo lập khoản vay dẫn đến sựkhông đảm bảo của hồ sơ khoản vay về mặt pháp lý, mục đích sử dụng vốn vayđúng với đề xuất vay thì cũng có thể dẫn đến sự không đảm bảo chất lượng củakhoản vay cũng như khả năng thu hồi nợ.

1.2.2.3 Các loại hình cho vay ngắn hạn được áp dụng chủ yếu đối với DNXL

Hoạt động cho vay của NHTM có rất nhiều hình thức đa dạng và phongphú, việc phân loại chỉ có tính tương đối Tùy thuộc vào tiêu thức phân loại mà

có thể phân chia thành các hình thức cho vay khác nhau:

 Căn cứ vào thời hạn cho vay, cho vay DNXL gồm ba loại sau:

- Cho vay ngắn hạn: là các khoản vay có thời hạn đến 12 tháng Mụcđích là đáp ứng nhu cầu vốn lưu động phát sinh trong quá trình sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp như mua nguyên vật liệu, chi phí máy móc, chi phínhân công, thanh toán lương

- Cho vay trung hạn: là các khoản vay có thời hạn từ trên 1 năm đến 5năm Mục đích là vay vốn để sửa chữa, khôi phục, mua sắm tài sản cố định, xâydựng trụ sở, kho tàng loại nhỏ với thời gian thu hồi vốn nhanh

- Cho vay dài hạn: là các khoản vay có thời hạn từ trên 5 năm Mục đíchcủa cho vay dài hạn là sử dụng vốn vay để đầu tư những công trình có quy môlớn, mua sắm tài sản cố định lớn với thời gian thu hồi vốn lâu hơn

 Căn cứ vào phương thức cho vay:

- Cho vay theo hạn mức: Cho vay theo hạn mức tín dụng là một hình thứccho vay phổ biến thường áp dụng đối với khách hàng có quan hệ lâu năm và có uytín cao với ngân hàng Hạn mức tín dụng được khách hàng và ngân hàng thỏathuận trên cơ sở nhận định và phân tích tình hình tài chính và nhu cầu vốn củangân hàng đối với khách hàng Hạn mức tín dụng có thể là cả kỳ hoặc cuối kỳ.Thông thường khách hàng sử dụng hình thức cho vay theo hạn mức tín dụng sẽchủ động hơn trong thanh toán Khi cần vốn khách hàng chỉ cần trình bày phương

án sản xuất kinh doanh cùng các chứng từ chứng minh hợp lệ thì ngân hàng chovay theo hạn mức đã thỏa thuận Thường số dư nợ của doanh nghiệp trong mọithời điểm không được vượt quá hạn mức cho trước Tuy nhiên, trong trường hợp

Trang 35

hạn mức cuối kỳ số dư nợ trong kỳ có thể vượt quá hạn mức nhưng đến cuối kỳdoanh nghiệp phải trả nợ sao cho dư nợ giảm dưới hoặc bằng hạn mức.

- Cho vay theo món: Đây là hình thức phổ biến đối với khách hàngkhông có nhu cầu vay vốn thường xuyên hoặc không có đủ điều kiện để đượccấp hạn mức tín dụng Mỗi lần vay thì khách hàng lại phải làm thủ tục và hồ sơxin vay riêng Ngân hàng cũng xem xét từng món vay riêng, tiến hành thẩm định

và cho vay riêng biệt Với hình thức cho vay này, ngân hàng có thể kiểm soát dễdàng từng món vay riêng biệt, dễ phát hiện ra sai phạm hơn so với cho vay theohạn mức

 Căn cứ vào hình thức đảm bảo tiền vay:

- Cho vay không có TSĐB: là loại hình cho vay mà ngân hàng chủ yếudựa vào uy tín của khách hàng, không yêu cầu phải có tài sản thế chấp đảm bảocho khoản vay

- Cho vay có TSĐB: là loại hình cho vay mà ngân hàng yêu cầu doanhnghiệp vay phải thế chấp tài sản với tỷ lệ trên dư nợ vay nhất định tùy theo chínhsách khách hàng trong từng thời kỳ

1.3 NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CỦA HOẠT ĐỘNG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP XÂY LẮP

1.3.1 Quan niệm về chất lượng trong cho vay ngắn hạn

Khái niệm về chất lượng đã được các nhà kinh tế đề cập đến bằng nhiềucách “Chất lượng là sự phù hợp với mục đích và sự sử dụng”, là “Năng lực củamột sản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng” hay

“Chất lượng là một trình độ dự kiến trước về độ đồng đều và độ tin cậy với chiphí thấp và phù hợp với thị trường” Vậy có thể nói, chất lượng sản phẩm haydịch vụ được biểu hiện ở mức độ thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng và lợiích về mặt tài chính cho nhà sản xuất Ngân hàng cũng là một doanh nghiệp kinhdoanh trên lĩnh vực tiền tệ, những khoản cho vay cũng là một sản phẩm, nó cũng

có giá cả và chất lượng như những hàng hóa khác Đặc biệt hoạt động ngân hàng

là một trong những hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn nên vấn đề nângcao chất lượng cho vay nhằm giảm thiểu mức độ rủi ro tới mức thấp nhất, đảm

Trang 36

bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh ngân hàng lại càng quan trọng và cần thiếtphải được xem xét.

Chất lượng cho vay trong ngân hàng là vấn đề luôn được đề cập ở nhiềugóc độ khác nhau Đặc biệt là chất lượng trong cho vay ngắn hạn bởi tỷ trọngcho vay ngắn hạn trong tổng dư nợ tại các NHTM là rất lớn Trong đó, chấtlượng trong cho vay ngắn hạn các DNXL luôn được rất nhiều người quan tâmbởi vai trò to lớn của nó tác động đến không chỉ DNXL và ngân hàng mà còn tácđộng đến các ngành kinh tế khác, ảnh hưởng quan trọng đến việc xây dựng cơ sở

hạ tầng góp phần công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Vì vậy, chất lượng chovay có thể được xem xét dưới 3 góc độ chính: Ngân hàng, khách hàng và nềnkinh tế Tuy nhiên trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứuphân tích chất lượng cho vay dưới góc độ của NHTM

Chất lượng cho vay ngắn hạn DNXL là khái niệm phản ảnh hiệu quả hoạtđộng cho vay ngắn hạn xây lắp của ngân hàng Chất lượng cho vay là sự thỏamãn nhu cầu của khách hàng góp phần vào sự phát triển xã hội, đồng thời đảmbảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng

Đối với ngân hàng, chất lượng cho vay trước hết được đánh giá qua tính

an toàn của khoản vay hay khả năng trả nợ của khách hàng Vốn cho vay ra phảiđược hoàn trả đầy đủ và đúng thời hạn

NHTM là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ nênngoài việc đảm bảo an toàn vốn vay thì việc gia tăng lợi nhuận là mục tiêu màngân hàng luôn hướng tới Một khoản vay có chất lượng là khoản vay được hoàntrả đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi

Ngoài ra, chất lượng cho vay ngắn hạn các DNXL đối với các NHTM cònđược đánh giá qua khả năng mở rộng thị phần, đẩy mạnh hoạt động kinh doanhdịch vụ, tối ưu hóa lợi nhuận ngân hàng

Hiểu đúng được nội dung chất lượng cho vay, phân tích được tình hình và

từ đó tìm ra những nguyên nhân dẫn đến giảm sút chất lượng cho vay sẽ giúp chongân hàng tìm ra được các giải pháp hợp lý nhằm nâng cao chất lượng cho vay

Như vậy, có thể thấy chất lượng hoạt động cho vay ngắn hạn các DNXL

Trang 37

là mục tiêu tổng hợp, phản ánh kết quả của việc đáp ứng yêu cầu của khách hàng

là các DNXL phù hợp với sự phát triển của ngành xây dựng, định hướng củangân hàng và của nền kinh tế Chất lượng cho vay tốt không thể tự nhiên mà có,

nó là kết quả của một quá trình phối hợp những hoạt động hợp lý và linh hoạtgiữa Ngân hàng, DNXL và tình hình của nền kinh tế

1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng hoạt động cho vay ngắn hạn của ngân hàng đối với doanh nghiệp xây lắp

Chất lượng cho vay là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh độ thích nghi củaNgân hàng với sự thay đổi của môi trường bên trong và bên ngoài Nó thể hiệnsức mạnh của một ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại và phát triển

Vì vậy, để đánh giá hiệu quả hoạt động của một Ngân hàng thì phải đánh giáđược chất lượng cho vay của ngân hàng đó Có rất nhiều chỉ tiêu đánh giá chấtlượng cho vay, trong đó có những chỉ tiêu mang tính định lượng và có chỉ tiêumang tính định tính

1.3.2.1 Các chỉ tiêu định tính

- Chất lượng cho vay ngắn hạn đối với DNXL được coi là tốt khi ngânhàng đáp ứng được một cách đầy đủ, kịp thời nhu cầu của khách hàng Điều nàythể hiện ở khối lượng tín dụng được cung cấp thỏa mãn nhu cầu, phù hợp vớimục đích sử dụng vốn của khách hàng, chính sách lãi suất linh hoạt đảm bảo cânđối giữa hiệu quả kinh doanh khách hàng và lợi ích ngân hàng, thủ tục vay vốnđơn giản, thuận tiện trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc an toàn vốn Ngân hàng cungcấp vốn nhanh chóng kịp thời sẽ giúp cho các cá nhân, tổ chức tiết kiệm đượcthời gian, chi phí giao dịch cũng như nắm bắt kịp thời các cơ hội kinh doanh

- Các khoản cho vay ngắn hạn đối với các DNXL có được thực hiệntheo đúng quy trình tín dụng hay không? Quy trình tín dụng là tổng hợp cácnguyên tắc, quy định của ngân hàng trong việc cấp tín dụng Việc thực hiện đúngcác quy trình tín dụng hay không ảnh hưởng trực tiếp đến tính an toàn và khảnăng sinh lời của khoản vay Chất lượng cho vay chỉ được coi là tốt khi ngânhàng thu được đầy đủ và đúng hạn cả gốc và lãi của khoản vay

- Thời gian xét duyệt một khoản vay ngắn hạn của DNXL: Ngân hàng

Trang 38

thường cho các DNXL vay ngắn hạn để thanh toán cho các chi phí trực tiếp liênquan và phục vụ cho doanh nghiệp thực hiện các Hợp đồng thi công xây lắp Donhu cầu này là thường xuyên nên ngân hàng thường không nhiều khó khăn trongviệc đánh giá, xét duyệt khoản vay Do vậy, thời gian xét duyệt một khoản vayngắn hạn đối với các DNXL thường ngắn hơn các khoản vay trung, dài hạn Nếungân hàng kéo dài thời gian xét duyệt khoản vay có thể sẽ gây ảnh hưởng đếntiến độ thi công của công trình.

- Mức độ hài lòng của các DNXL đối với hoạt động cho vay ngắn hạncủa ngân hàng Mức độ hài lòng của các doanh nghiệp cho biết phần nào chấtlượng hoạt động của ngân hàng

- Chất lượng cho vay tốt được thể hiện khi đóng góp vào sự tăng trưởng

và phát triển kinh tế- xã hội của địa phương và đất nước Chỉ tiêu này thể hiện rõnhất khi cả ngân hàng và doanh nghiệp đều hoạt động hiệu quả trên cơ sở pháthuy tác dụng của khoản vay đã được cấp Từ đó góp phần ổn định nền kinh tế tàichính mỗi quốc gia thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải quyết công ăn việc làm, cảithiện thu nhập và nâng cao mức sống người dân

Các chỉ tiêu định tính như trên chỉ là căn cứ để đánh giá chất lượng cho vayngắn hạn đối với DNXL một cách khái quát Bởi những chỉ tiêu định tính này rấtkhó có thể lượng hóa, với những khách hàng khác nhau thì sự thỏa mãn và đánh giá

sẽ khác nhau Vì thế, ngân hàng thường sử dụng các chỉ tiêu định lượng để đánh giá

vì nó dễ tính toán Ngân hàng phân tích tổng hợp các chỉ tiêu, từ đó đưa ra kết luận

về chất lượng hoạt động cho vay ngắn hạn các DNXL của ngân hàng

1.3.2.2 Các chỉ tiêu định lượng

Nhóm chỉ tiêu này giúp các nhà phân tích, các nhà quản lý có thể đánh giátổng quát về chất lượng cho vay ngắn hạn đối với các DNXL

 Tỷ trọng dư nợ cho vay xây lắp so với tổng dư nợ

Tỷ trọng dư nợ cho vay ngắn hạn các DNXL trong tổng dư nợ là chỉ tiêuquan trọng phản ánh chất lượng cho vay ngắn hạn xây lắp tại NHTM Chỉ tiêunày cũng cho biết hoạt động cho vay ngắn hạn các DNXL có hiệu quả không, lợinhuận thu được từ hoạt động cho vay ngắn hạn xây lắp có cao hay không, từ đó

Trang 39

phản ánh chất lượng cho vay ngắn hạn DNXL tại NHTM Tỷ lệ dư nợ cho vayngắn hạn DNXL/tổng dư nợ cho vay ngắn hạn tại ngân hàng là chỉ tiêu quantrọng cho thấy quy mô, lượng cho vay ngắn hạn các DNXL có tăng theo thờigian qua các năm không Ngoài ra cũng có thể xét thêm chỉ tiêu tỷ trọng dư nợcho vay ngắn hạn của DNXL/ tổng dư nợ cho vay xây lắp như thế nào, qua đó tathấy ngân hàng có xu hướng cho các DNXL vay theo thời gian như thế nào.

 Chỉ tiêu doanh số cho vay và doanh số thu nợ

+ Doanh số cho vay: là tổng số tiền ngân hàng cho vay ra trong kỳ, đượccộng dồn các khỏan cho vay trong một kỳ kế toán, nó phản ánh lượng vốn màngân hàng đã giải ngân, thể hiện xu hướng mở rộng hay thu hẹp hoạt động chovay đối với DNXL

+ Doanh số thu nợ: phản ánh lượng vốn mà ngân hàng cho vay ra, đã thulại được từ phía khách hàng trong một thời kỳ nhất định Chỉ tiêu này cho thấytính hiệu quả của công tác quản lý, đôn đốc thu hồi nợ vay tại các ngân hàngtrong một thời kỳ nhất định

+ Dư nợ cho vay: phản ánh số tiền mà khách hàng đang nợ ngân hàng tạimột thời điểm nhất định Chỉ tiêu này cho thấy khả năng của ngân hàng trongviệc đáp ứng nhu cầu vốn vay của khách hàng cũng như khả năng cạnh tranh thuhút khách hàng của ngân hàng

 Tỷ lệ nợ quá hạn:

Theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của NHNN:

“Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quáhạn” Một khoản vay không trả đầy đủ, đúng hạn như thỏa thuận trong hợp đồngtín dụng thì trở thành nợ quá hạn Hay nói cách khác nợ quá hạn là khoản nợ màthời gian tồn tại của nó vượt quá thời gian cho vay theo thỏa thuận giữa Ngânhàng và khách hàng cộng với thời gian gia hạn nợ nếu khách hàng có yêu cầu

Tỷ lệ nợ quá hạn là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả cho vay của ngân hàng, phản ánh những rủi ro trong hoạt động cho vay mà ngân hàng phải đối mặt Tỷ lệ này được xác định qua công thức sau :

Tổng dư nợ DNXL

Trang 40

Chỉ tiêu nợ quá hạn cho biết trong tổng dư nợ cho vay ngắn hạn DNXLcủa ngân hàng có bao nhiêu % là nợ quá hạn.

Các khoản nợ quá hạn của các DNXL phát sinh có thể do những nguyênnhân chủ quan như trình độ quản lý của khách hàng yếu kém, công nghệ sản xuấtlạc hậu hay do những nguyên nhân khách quan như sự thay đổi trong chính sáchcủa nhà nước, sự thay đổi nguồn nguyên vật liệu đầu vào, nguồn vốn thanh toáncủa chủ đầu tư không đúng tiến độ… Nguyên nhân các khoản nợ quá hạn cũngkhác nhau, có khoản nợ do khách hàng gặp khó khăn tạm thời, chậm thanh toánnhưng cũng có khách hàng đình trệ sản xuất, thua lỗ nặng nề, không có khả năngtrả nợ hay có khách hàng cố tình chây ỳ không có ý thức trả nợ cho ngân hàng

Nếu ngân hàng có nhiều khoản nợ, tỷ lệ nợ quá hạn cao, ngân hàng sẽ gặpnhiều khó khăn, tình trạng kéo dài sẽ ảnh hưởng đến sự tồn tại của ngân hàng

Tỷ lệ nợ quá hạn cao, tính an toàn của khoản vay thấp, ngân hàng đứng trướcnguy cơ mất vốn, có thể dẫn đến mất khả năng thanh toán Tỷ lệ nợ quá hạn thấpcho thấy hiệu quả cho vay của ngân hàng cao Tuy nhiên, việc chuyển nợ quáhạn cần tuân thủ đúng nguyên tắc, tránh việc gia hạn nợ tràn lan để giảm tỷ lệ nợquá hạn

Thực tế cho thấy hoạt động cho vay ngắn hạn của ngân hàng nói chung vàđặc biệt là cho vay ngắn hạn các DNXL không thể không có nợ quá hạn Ngânhàng phải chấp nhận nợ quá hạn, cố gắng kiểm soát tỷ lệ này ở mức độ hợp lý

Qua chỉ tiêu này, ngân hàng có thể xem xét đánh giá khả năng trả nợ củacác DNXL, trên cơ sở đó có những chính sách cho vay thích hợp đối với ngànhnghề này

Nhìn chung, hoạt động cho vay ngắn hạn nói chung và cho vay ngắn hạnxây lắp nói riêng của NHTM tiềm ẩn rất nhiều rủi ro mà rủi ro lớn nhất là nguy

cơ không thu hồi được nợ Có rất nhiều nguyên nhân khiến cho ngân hàng khôngthu được nợ bao gồm cả những nguyên nhân khách quan và chủ quan Vấn đề làngân hàng phải làm thế nào để giảm tới mức thấp nhất khả năng mất vốn, khôngthu được nợ Để đạt được điều đó, ngân hàng phải có những biện pháp tích cựcnhằm phòng ngừa, hạn chế rủi ro Nếu tình hình thu nợ tốt, doanh số thu nợ cao,

Ngày đăng: 04/11/2014, 10:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. PGS, TS Lê Văn Tề (2009), Tín dụng Ngân hàng, Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín dụng Ngân hàng
Tác giả: PGS, TS Lê Văn Tề
Nhà XB: Nxb Giao thông vận tải
Năm: 2009
15. David Cox (1997), Nghiệp vụ Ngân hàng hiện đại, Nxb TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ Ngân hàng hiện đại
Tác giả: David Cox
Nhà XB: Nxb TP. Hồ Chí Minh
Năm: 1997
16. Peter S.Rose (2004), Quản trị Ngân hàng thương mại, Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Quản trị Ngân hàng thương mại
Tác giả: Peter S.Rose
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 2004
12. Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam: Báo cáo thường niên các năm 2009 - 2011 Khác
13. Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam: Báo cáo tín dụng các năm 2009- 2011 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1: Mô hình hoạt động tại BIDV Hà Nội - nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp xây lắp tại ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển việt nam – chi nhánh hà nội
Sơ đồ 2.1 Mô hình hoạt động tại BIDV Hà Nội (Trang 57)
Bảng 2.1: Kết quả kinh doanh của BIDV Hà Nội giai đoạn 2009 - 2011 - nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp xây lắp tại ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển việt nam – chi nhánh hà nội
Bảng 2.1 Kết quả kinh doanh của BIDV Hà Nội giai đoạn 2009 - 2011 (Trang 59)
Bảng 2.2: Tình hình huy động vốn của BIDV Hà Nội giai đoạn 2009 - 2011 - nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp xây lắp tại ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển việt nam – chi nhánh hà nội
Bảng 2.2 Tình hình huy động vốn của BIDV Hà Nội giai đoạn 2009 - 2011 (Trang 61)
Bảng 2.3: Tình hình sử dụng vốn của BIDV Hà Nội giai đoạn 2009 - 2011 - nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp xây lắp tại ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển việt nam – chi nhánh hà nội
Bảng 2.3 Tình hình sử dụng vốn của BIDV Hà Nội giai đoạn 2009 - 2011 (Trang 64)
Bảng 2.5: Cơ cấu dư nợ cho vay ngắn hạn phục vụ thi công xây lắp - nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp xây lắp tại ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển việt nam – chi nhánh hà nội
Bảng 2.5 Cơ cấu dư nợ cho vay ngắn hạn phục vụ thi công xây lắp (Trang 74)
Bảng 2.6: Doanh số cho vay ngắn hạn đối với DNXL - nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp xây lắp tại ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển việt nam – chi nhánh hà nội
Bảng 2.6 Doanh số cho vay ngắn hạn đối với DNXL (Trang 75)
Bảng 2.7: Doanh số thu nợ ngắn hạn đối với DNXL giai đoạn 2009 - 2011 - nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp xây lắp tại ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển việt nam – chi nhánh hà nội
Bảng 2.7 Doanh số thu nợ ngắn hạn đối với DNXL giai đoạn 2009 - 2011 (Trang 76)
Bảng 2.8: Tỷ lệ dư nợ cho vay ngắn hạn đối với DNXL có TSĐB - nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp xây lắp tại ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển việt nam – chi nhánh hà nội
Bảng 2.8 Tỷ lệ dư nợ cho vay ngắn hạn đối với DNXL có TSĐB (Trang 78)
Bảng 2.9: Tỷ lệ nợ ngắn hạn quá hạn của DNXL giai đoạn 2009-2011 - nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp xây lắp tại ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển việt nam – chi nhánh hà nội
Bảng 2.9 Tỷ lệ nợ ngắn hạn quá hạn của DNXL giai đoạn 2009-2011 (Trang 80)
Bảng 2.11: Tỷ trọng thu nhập từ hoạt động cho vay đối với DNXL - nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp xây lắp tại ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển việt nam – chi nhánh hà nội
Bảng 2.11 Tỷ trọng thu nhập từ hoạt động cho vay đối với DNXL (Trang 85)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w