1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng tmcp tiên phong

96 503 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 694 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Uỷ ban Basel: “Quản lý rủi ro là một quá trình liên tục cần được thựchiện ở mọi cấp độ của một tổ chức tài chính và là yêu cầu bắt buộc để các tổ chứctài chính có thể đạt được các m

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, chưacông bố tại bất cứ nơi nào Mọi số liệu sử dụng trong luận văn này là những thôngtin xác thực

Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về lời cam đoan của mình

Hà Nội, ngày 28 tháng 05 năm 2012

Tác giả luận văn

Trang 2

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

NH : Ngân hàng

NHTM : Ngân hàng thương mại

NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần

Trang 3

DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ

Sơ đồ số 2.1 : Quy trình tín dụng NH Tiên Phong

Biểu đồ số 2.1: Tăng trưởng tín dụng giai đoạn 2001 – 2008

Biểu đồ số 2.2: Tăng trưởng tín dụng của NH Tiên Phong giai đoạn 2008 – 2011Biểu đồ số 2.3: Tổng tài sản NH Tiên Phong từ năm 2008 đến 30/06/2011

Biểu đồ số 2.4: Lợi nhuận sau thuế NH Tiên Phong từ năm 2008 tới 30/06/2011Bảng số 1.1 : Các chỉ tiêu xếp hạng tín dụng cá nhân

Bảng số 1.2 : Ra quyết định tín dụng theo điểm số của khách hàng

Bảng số 2.1 : Sơ lược tình hình phát triển của NH Tiên Phong

Bảng số 2.2 : Tình hình huy động vốn tại NH Tiên Phong giai đoạn 2008 - 2010Bảng số 2.3 : Các khoản cho vay của NH Tiên Phong theo thời gian

Bảng số 2.4 : Kết quả kinh doanh một số hoạt động khác

Bảng số 2.5 : Chất lượng các khoản nợ vay (giai đoạn 2008 – 30/06/2011)

Bảng số 2.6 : Trích lập dự phòng rủi ro (giai đoạn 2008 – 30/06/2011)

Bảng số 2.7 : Các chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng (giai đoạn 2008 – 30/06/2011)Bảng số 2.8 : So sánh nợ quá hạn với một số ngân hàng khác trong năm 2010

Trang 4

TÓM TẮT LUẬN VĂN Chương 1: CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO

TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại

Theo Luật các tổ chức tín dụng của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa ViệtNam, “hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàngvới nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng

và cung ứng các dịch vụ thanh toỏn”

Các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp gồm có: mua bán ngoại tệ, nhận tiềngửi, cho vay, bảo quản hộ tài sản, quản lý ngân quỹ, cung cấp các tài khoản giaodịch và thực hiện thanh toán, bảo lãnh, cho thuê thiết bị, cung cấp dịch vụ uỷ thác

và tư vấn,…

Trong đó, thu nhập từ tín dụng chiếm khoảng từ 1/2 đến 2/3 tổng thu nhậpcủa ngân hàng Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị dưới hìnhthức hiện vật hay tiền tệ từ người sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhấtđịnh người sử dụng hoàn trả lại cho người sở hữu một lượng lớn hơn

Tín dụng được phân chi theo nhiều tiêu chí: theo thời gian (tín dụng ngắn,trung, dài hạn), theo tài sản đảm bảo (tín chấp, có tài sản)…

1.2 Quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại

Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tín dụng là hoạt động kinh doanhđem lại lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng nhưng cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro rấtlớn

Các tiêu chí đánh giá rủi ro tín dụng gồm: tổng số nợ quá hạn, tỷ lệ giữa cáckhoản nợ quá hạn so với tổng dư nợ cho vay, cho thuê, tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ vàxấu/nợ quá hạn, tỷ lệ quỹ dự phòng rủi ro/nợ quá hạn,

Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng: do nguyên nhân chủ quan từ phía ngânhàng và khách quan từ phía khách hàng và môi trường kinh tế, chính trị, xã hội

Trang 5

Theo Uỷ ban Basel: “Quản lý rủi ro là một quá trình liên tục cần được thựchiện ở mọi cấp độ của một tổ chức tài chính và là yêu cầu bắt buộc để các tổ chứctài chính có thể đạt được các mục tiêu đề ra và duy trì khả năng tồn tại và sự minhbạch về tài chớnh”.

Các ngân hàng quản lý rủi ro tín dụng qua các phương thức như:

- Xây dựng hệ thống thông tin về ngành hàng và các khách hàng

- Xây dựng hệ thống chính sách, quy trình tín dụng

- Thực hiện công tác sàng lọc khách hàng trước khi cho vay

- Giám sát tín dụng và xử lý tín dụng có vấn đề

- Các điều kiện bảo đảm tín dụng

- Một số quy định hạn chế tín dụng bằng hạn mức tín dụng, lãi suất

Trong thời gian gần đây, đó cú một sự thay đổi cơ bản trong cơ cấu tổ chức

bộ máy và quy trình cấp tín dụng của một số ngân hàng Việt Nam Hiện nay, cácngân hàng đã chuyển dần từ mô hình quản lý rủi ro tín dụng phân tán sang mô hìnhquản lý rủi ro tín dụng tập trung Giờ đây, đến hầu hết các ngân hàng, chúng takhông còn thấy Phòng tín dụng, là bộ phận trước đây tiếp xúc khách hàng và tiếnhành thẩm định hồ sơ vay vốn để xem xét quyết định cho vay Chúng ta sẽ đượclàm quen với một khái niệm mới là Phòng Quan hệ khách hàng, là đầu mối tiếp xúc

và tiếp nhận đầy đủ các yêu cầu của khách hàng để các bộ phận chức năng xem xétphê duyệt

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại

- Nhân tố chủ quan, gồm: đội ngũ cán bộ ngân hàng, hệ thống chính sách, quytrình tín dụng của ngân hàng, tiềm lực tài chính và trình độ khoa học côngnghệ, nguồn vốn hoạt động của ngân hàng

Nhân tố khách quan: đó là khách hàng của ngân hàng và môi trường kinh tế chính trị - xã hội, môi trường tự nhiờn…

Trang 6

-CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG

TẠI NGÂN HÀNG TMCP TIÊN PHONG 2.1 Khái quát về Ngân hàng TMCP Tiên Phong

Biểu đồ số 2.3: Tổng tài sản NH Tiên Phong từ năm 2008 đến 30/06/2011

(Đơn vị: triệu đồng)

(Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2008, 2009, 2010 Ngân hàng Tiên Phong)

Biểu đồ số 2.4: Lợi nhuận sau thuế NH Tiên Phong từ năm 2008 tới 30/06/2011

NH Tiên Phong mặc dù mới gia nhập thị trường cũng đã đáp ứng được các quy định

về an toàn vốn, tăng khả năng đáp ứng nhu cầu vốn và các dịch vụ ngân hàng chokhách hàng, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho NH Tiên Phong trong việc đầu tư,phát triển công nghệ, nguồn nhân lực và mạng lưới

Trang 7

2.1 Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong

2.1.1 Xây dựng hệ thống thông tin về ngành hàng và các khách hàng

Do mới thành lập từ năm 2008 nên cơ sở dữ liệu của Ngân hàng về kháchhàng và ngành hàng hầu như chưa có Thông tin về khách hàng được thu thập mộtcách tự phát mỗi khi Ngân hàng có nhu cầu đánh giá về khách hàng Hiện tại, NHTiên Phong chưa có một bộ phận nào thực hiện việc nghiên cứu thị trường để đưa racác báo cáo định kỳ về một số ngành kinh tế/mặt hàng trọng điểm

Chính sự yếu kém trong công tác thu thập và lưu trữ thông tin khách hàngcũng như thông tin về thị trường, đã khiến cho quyết định của Ngân hàng trong việccấp tín dụng cho khách hàng còn nhiều thiếu xót

2.1.2.2 Quy trình tín dụng tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong

NH Tiên Phong hiện đang áp dụng một quy trình tín dụng thống nhất chomọi khách hàng Đối với một ngân hàng mới ra đời và chưa có lượng khách hàngđông đảo thì việc áp dụng quy trình tín dụng này là phù hợp

Trang 8

2.1.2.3 Chính sách tín dụng tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong

Về giới hạn tín dụng: Giới hạn tín dụng mà NH đang thực hiện tuân theo

Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010 là phù hợp Ngoài ra, trong một số trườnghợp cụ thể, giới hạn tín dụng của Ngân hàng thắt chặt hơn để đảm bảo hạn chế rủi

ro cho Ngân hàng

Về phân tán rủi ro tín dụng: So với các ngân hàng đã hoạt động lâu năm

trên thị trường như Ngân hàng Quân Đội, Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội, Ngân hàng

Á Chõu,… thỡ NH Tiên Phong chưa thực sự đa dạng hoá trong hoạt động tín dụngcủa mình

Về thẩm quyền phán quyết: thẩm quyền phán quyết bao gồm thẩm quyền ra

quyết định cấp tín dụng, thẩm quyền ký kết hợp đồng tín dụng Các thẩm quyền nàyđược phân theo từng cấp bậc trong NH Tiên Phong (thẩm quyền phán quyết của Uỷban Tín dụng, Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc, Giám đốc chi nhỏnh…)

Về lãi suất: Lãi suất áp dụng với từng khách hàng phụ thuộc vào xếp hạng

tín dụng của khách hàng, quan hệ tín dụng của khách hàng với Ngân hàng, và theotiêu chí rủi ro cao thì lợi nhuận cao và ngược lại

2.1.3 Thực hiện công tác sàng lọc khách hàng trước khi cho vay

Hiện tại Ngân hàng mới chỉ có hệ thống xếp hạng tín dụng dành cho kháchhàng doanh nghiệp Hệ thống này đã thể hiện tương đối đầy đủ tình hình tài chính

và phi tài chính của khách hàng, góp phần vào nâng cao chất lượng tín dụng tạiNgân hàng Việc thiếu hệ thống xếp hạng tín dụng cho khách hàng cá nhân là mộttrong những hạn chế mà Ngân hàng Tiên Phong cần khắc phục trong thời gian tới

2.1.4 Bảo đảm tiền vay

Hiện tại, việc cấp tín dụng không có tài sản bảo đảm tại Ngân hàng là rất hạnchế, bởi quy mô của Ngân hàng còn nhỏ, mạng lưới khách hàng còn mỏng cũngnhư quan hệ tín dụng với các khách hàng còn chưa lâu do Ngân hàng mới thành lập.Việc cấp tín dụng được đảm bảo bằng tài sản theo những tỷ lệ phù hợp với tínhthanh khoản của tài sản đó giỳp cho Ngân hàng hạn chế được nhiều rủi ro

Trang 9

2.1.5 Giám sát tín dụng và xử lý tín dụng có vấn đề

Giám sát tín dụng

Tại NH Tiên Phong, việc kiểm tra, giám sát các khoản vay được thực hiệnđịnh kỳ như sau: thông thường kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp 3 tháng một lần; đối với tài sản đảm bảo sẽ kiểm tra tuỳ theo từng loại tàisản đảm bảo, cụ thể: hàng tồn kho luân chuyển kiểm tra định kỳ 1 tháng/1 lần, ô tô,máy móc thiết bịi kiểm tra định kỳ 3 tháng/1 lần, bất động sản kiểm tra định kỳ 06tháng/1 lần

Xử lý tín dụng có vấn đề: Đế xử lý nợ xấu một cách có hiệu quả, Hội đồng

Xử lý Rủi ro Tín dụng của Ngân hàng Tiên Phong đã được thành lập bao gồm: Hộiđồng Xử lý Rủi ro Tín dụng Hội sở và Hội đồng Xử lý Rủi ro Tín dụng Chi nhánh

Trong trường hợp khách hàng không trả đúng và/hoặc đầy đủ gốc và/hoặc lãitiền vay, và có văn bản đề nghị hợp lý thì Ngân hàng xem xét việc cơ cấu lại thờihạn trả nợ, trên cơ sở khả năng tài chính của Ngân hàng và kết quả đánh giá khảnăng trả nợ của khách hàng vay

2.1.6 Một số quy định hạn chế tín dụng bằng hạn mức tín dụng, lãi suất

Ngân hàng đưa ra cho khách hàng một hạn mức tín dụng và lãi suất sao chophù hợp với nhu cầu của khách hàng cũng như đảm bảo hạn chế rủi ro cho Ngânhàng

2.2 Đánh giá thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong

Trang 10

- Thực hiện đúng quy trình tín dụng theo quy định của NH Tiên Phong.

- Xây dựng chính sách tín dụng hợp lý

- Đã xây dựng được hệ thống phân loại khách hàng và thực hiện việc phân loại

nợ theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhànước

- Công tác kiểm tra hoạt động tín dụng luôn được chú trọng

- Trình độ công nghệ thông tin tiên tiến

2.2.2 Hạn chế và nguyên nhân

2.2.2.1 Hạn chế

Bên cạnh những kết quả đáng khích lệ ở trên, quản lý rủi ro tín dụng tại NHTiên Phong còn tồn tại nhiều hạn chế, đặc biệt trong 06 tháng đầu năm 2011, khi mà

dư nợ duy trì ở mức thấp hơn năm 2010 nhưng tỷ lệ nợ xấu lại tăng mạnh

Ra đời cũng thời kỳ với NH Bảo Việt, mức dư nợ của NH Tiên Phong thấphơn nhưng tỷ lệ nợ quá hạn lại cao hơn nhiều Hoặc so sánh với NH Quân Đội (đãhoạt động được 17 năm trên thị trường), mức dư nợ của NH Quân Đội lớn gấpkhoảng 9 lần của NH Tiên Phong nhưng tỷ lệ nợ quá hạn/tổng dư nợ vay của haingân hàng xấp xỉ nhau, cho thấy quản lý tín dụng tại NH Tiên Phong còn nhiều hạnchế

2.2.2.2 Nguyên nhân

a Nguyên nhân chủ quan

- Một bộ phận cán bộ thiếu đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ

- Thông tin ngành hàng và khách hàng chưa đầy đủ

- Công tác sàng lọc khách hàng trước khi cho vay chưa tốt

- Thiếu giám sát và quản lý sau khi cho vay

- Quản lý tài sản bảo đảm là hàng tồn kho chưa tốt

b Nguyên nhân khách quan

Trang 11

- Khách hàng của ngân hàng: nguyên nhân chính từ phía khách hàng đó là do

khách hàng chủ tâm lừa đảo ngân hàng, sử dụng hồ sơ giấy tờ giả mạo đểlàm tài sản bảo đảm vay vốn tại Ngân hàng, khách hàng không trung thựctrong quá trình khai báo thông tin về tình hình tài chính của mình, thậm chíbáo cáo tài chính đã được kiểm toán bởi tổ chức có uy tín nhưng số liệu cũngkhông chính xác

- Ngoài ra, còn do tác động từ môi trường kinh tế - chính trị - xã hội, môitrường tự nhiên, ảnh hưởng tới cả khách hàng lẫn ngân hàng, khiến cho rủi rotín dụng xảy ra

Trang 12

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ RỦI RO

TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP TIÊN PHONG 3.1 Định hướng phát triển của Ngân hàng TMCP Tiên Phong

3.1.1 Định hướng phát triển của Ngân hàng TMCP Tiên Phong

Mục tiêu lâu dài:

- Tăng cường năng lực kinh doanh để thực hiện mục tiêu tạo giá trị cao nhất

cho cổ đông và khách hàng

- Tăng cường hiệu quả cộng sinh (synergy) với cổ đông và khách hàng trung

thành

- Tập trung, đầu tư, cải tiến công nghệ và chất lượng dịch vụ tốt nhất nhằm tạo

ra sự cạnh tranh khác biệt với các ngân hàng đối thủ

- Hiện nay Ebanking tại Việt Nam vẫn còn là mảnh đất trống, đây sẽ là cơ hội

để TienPhongBank có được ưu thế của người đi trước Chiến lược củaTienPhongBank là lấy ebank là lợi thế cạnh tranh: tạo sự khác biệt thu húttiền gửi; tạo ra sản phẩm mới nhanh trên nền công nghệ; triển khai mạng lướirộng trong thời gian ngắn; lợi nhuận cao hơn nhờ chi phí hoạt động hiệu quả

3.1.2 Quan điểm tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong

Trước bối cảnh tình hình kinh tế biến động, Ngân hàng Tiên Phong đã địnhhướng tăng cường quản lý rủi ro tín dụng bằng việc thắt chắt tín dụng: quản lý tốtdanh mục khách hàng hiện có và phát triển khách hàng có chọn lọc theo danh sách

ưu tiên, đảm bảo tăng trưởng tín dụng trong giới hạn Đặc biệt, ưu tiên đối vớinhững khách hàng có tình hình tài chính lành mạnh, minh bạch và có tài sản bảođảm có tính thanh khoản cao

3.2 Giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong

Từ nguyên nhân của những hạn chế còn tồn tại, một số giải pháp được đưa ra

cho Ngân hàng Tiên Phong gồm có:

Trang 13

- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ

- Xây dựng hệ thống thông tin nội bộ về ngành hàng và các khách hàng có

quan hệ với ngân hàng

- Xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng cá nhân

- Tăng cường phối hợp kiểm tra, kiểm soát tín dụng giữa bộ phận Quan hệ

Khách hàng với bộ phận Quản lý Rủi ro

- Nâng cao năng lực quản lý tài sản bảo đảm là hàng hoá tồn kho trên toàn hệ

thống

- Sử dụng hạn mức tín dụng và lãi suất để thắt chặt tín dụng

3.3 Một số kiến nghị

- Kiến nghị với Chính phủ và các ngành có liên quan

- Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước

Trang 14

LỜI MỞ ĐẦU

1/ Sự cần thiết của đề tài:

Trong nền kinh tế thị trường, cung cấp tín dụng là chức năng kinh tế cơ bảncủa ngân hàng Đối với hầu hết các ngân hàng, dư nợ tín dụng thường chiếm tới ẵtổng tài sản có và thu nhập từ tín dụng chiếm khoảng từ ẵ đến 2/3 tổng thu nhập củangân hàng Vả lại, rủi ro trong kinh doanh ngân hàng có xu hướng tập trung chủ yếuvào danh mục tín dụng Khi ngân hàng rơi vào trạng thái tài chính khó khăn nghiêmtrọng, thì nguyên nhân thường phát sinh từ hoạt động tín dụng của ngân hàng Việcngân hàng không thu hồi được vốn, có thể là do ngân hàng đó buụng lỏng quản lý,cấp tín dụng không minh bạch, áp dụng một chính sách tín dụng kém hiệu quả, hay

do nền kinh tế đi xuống không lường trước Do vậy, quản lý rủi ro tín dụng luônđược các ngân hàng quan tâm

Với Ngân hàng TMCP Tiên Phong, thời gian qua, hoạt động tín dụng cóbước phát triển mạnh nhưng do mới thành lập nên công tác quản lý rủi ro tín dụngcòn nhiều hạn chế, biểu hiện qua tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ không ngừng tăng qua cácnăm Làm thế nào để hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong đang

là vấn đề thực tiễn bức xúc hiện nay Đề tài “Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong” được lựa chọn nghiên cứu nhằm giải quyết vấn đề bức

xúc đó

2/ Vấn đề nghiên cứu

- Thế nào là rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng

- Nguyên nhân của rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là gì?

- Có những biện pháp nào để có thể tăng cường quản lý rủi ro tín dụng trong hoạtđộng ngân hàng?

3/ Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hóa lý thuyết về quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại

- Phân tích thực trạng rủi ro tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàngTMCP Tiên Phong

Trang 15

- Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại Ngânhàng TMCP Tiên Phong.

4/ Phạm vi nghiên cứu:

- Quản lý rủi ro tín dụng của Ngân hàng TMCP Tiên Phong từ năm 2008 đến nay

5/ Khung lý thuyết/cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu:

Lý thuyết quản lý rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng (dựa trên nguyêntắc giám sát liên quan đến đánh giá chính xác rủi ro tín dụng và định giá khoản vaycủa BASEL; một số mô hình đỏnh giỏ/định lượng rủi ro)

6/ Phương pháp nghiên cứu

- Quy trình nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu:

o Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích

o Phương pháp chuyên gia

o Phương pháp nghiên cứu tình huống

7/ Tổng quan nghiên cứu về đề tài

Số liệu thứ cấp, được thu thập qua các kênh:

Tổng hợp, phân tích, đánh giá những kết quả đạt được, hạn chế

Đề ra giải pháp

để khắc phục những hạn chế

Số liệu sơ cấp được thu thập qua phỏng vấn cán bộ phòng QLRR

Trang 16

Luận văn thạc sỹ tham khảo:

- Nguyễn Thị Thu Hằng (2008), Hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP

Á Châu

- Đặng Thái Hoà (2007), Quản lý rủi ro tín dụng tại Sở Giao dịch Ngân hàngNgoại thương Việt Nam

Luận văn tiến sỹ tham khảo:

- Nguyễn Hữu Thủy (1996), Những giải pháp chủ yếu hạn chế rủi ro tín dụngđối với ngân hàng thương mại nước ta trong giai đoạn hiện nay

- Nguyễn Thị Phương Lan (1995), Một số vấn đề về rủi ro ngân hàng trongđiều kiện kinh tế thị trường

- Chưa đưa ra tổng quan nghiên cứu về đề tài

- Chưa nêu được khung lý thuyết về quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng

- Chưa có được sự so sánh tương quan về chất lượng tín dụng giữa các ngânhàng

- Do tính chất thời điểm của các đề tài nghiên cứu, nờn cỏc thông tin về nhữngchính sách, quy định mới chưa được phản ánh trong đề tài nghiên cứu trước đây

8/ Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm 3 phần như sau:

Chương I: Các vấn đề cơ bản về quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại

Chương II: Thực trạng về quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong

Chương III: Giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong

Trang 17

Chương I: CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN

DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại

1.1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại

1.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm ngân hàng thương mại

- Khái niệm ngân hàng thương mại:

Ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh tế Các ngânhàng có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò mà chúng thựchiện trong nền kinh tế

Các tiếp cận thận trọng nhất là có thể xem xét các tổ chức này trên phươngtiện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp Ngân hàng là các tổ chức tài chínhcung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng,tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so vớibất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế Một số định nghĩa dựa trêncác hoạt động chủ yếu Ví dụ Luật các tổ chức tín dụng của nước Cộng Hòa XãHội Chủ Nghĩa Việt Nam ghi “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ

và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiềnnày để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toỏn”

- Đặc điểm ngân hàng thương mại:

NHTM có đặc điểm giống như các DN khác trong nền kinh tế, cũng sử dụngcác yếu tố sản xuất như lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động (tiền vốn)làm yếu tố đầu vào, để sản xuất ra những yếu tố đầu ra dưới hình thức dịch vụ tàichính mà khách hàng yêu cầu Tuy nhiên, khác với các DN khác, NHTM là loạihình DN đặc biệt, trong hoạt động kinh doanh thể hiện qua các đặc điểm sau:

o Vốn và tiền vừa là phương tiện, vừa là mục đích kinh doanh nhưng đồng thờicũng là đối tượng kinh doanh của NHTM

Trang 18

o NHTM kinh doanh chủ yếu bằng vốn của người khác Vốn tự có của NHTMchiếm một tỷ lệ rất thấp trong tổng nguồn vốn hoạt động, nên việc kinh doanh củaNHTM luôn gắn liền với một rủi ro mà ngân hàng buộc phải chấp nhận với mộtmức độ mạo hiểm nhất định Bởi vì trong hoạt động kinh doanh hàng ngày củamình, NHTM không những phải bảo đảm nhu cầu thanh toán, chi trả như mọi khiloại hình DN khác, mà còn phải đảm bảo tốt nhu cầu chi trả tiền gửi của kháchhàng Từ đó cho thấy, việc phân tích khả năng thanh khoản của NHTM có ý nghĩacực kỳ quan trọng.

o Hoạt động kinh doanh của NHTM có liên quan đến nhiều mặt, nhiều lĩnhvực hoạt động và nhiều đối tượng khách hàng khác nhau Do đó, tình hình tài chínhcủa NHTM có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động kinh doanh của các DN, tâm lýcủa người dân, cũng như của cả nền kinh tế Chính vì vậy, việc phân tích, đánh giáthực trạng tài chính của các NHTM không chỉ là nhu cầu cấp thiết phục vụ cho hoạtđộng quản lý của chính nhà quản trị ngân hàng mà còn là đòi hỏi mang tính bắtbuộc của ngân hàng trung ương…

o Hoạt động kinh doanh của NHTM là hoạt động chứa nhiều rủi ro, bởi lẽ nótổng hợp tất cả các rủi ro của khách hàng, đồng thời rủi ro trong hoạt động kinhdoanh ngân hàng có thể gây ảnh hưởng lớn cho nền kinh tế hơn bất kỳ rủi ro củaloại hình DN nào vì tính chất lây lan có thể làm rung chuyển toàn bộ hệ thống kinh

tế Do đó, trong quá trình hoạt động các NHTM phải thường xuyên cảnh giác,nghiên cứu, phân tích, đánh giá, dự báo và có những biện pháp phòng ngừa từ xa cóhiệu quả Ngoài ra, điều này cũng đòi hỏi ngân hàng tự đánh giá được khả năng chịuđựng rủi ro của mình

o Hoạt động kinh doanh của NHTM có những đặc thù riêng mà các DN trongcác ngành khác không có Đồng thời, hoạt động kinh doanh của NHTM diễn tiếnliên tục trong mỗi loại hình nghiệp vụ và các sản phẩm của NHTM có mối liên hệvới nhau rất chặt chẽ Điều này sẽ gây khó khăn trong việc tách riêng từng mặt hoạtđộng của ngân hàng để phân tích kết quả tài chính

Trang 19

1.1.1.2 Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại

Ngân hàng là một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho công chúng và doanhnghiệp Thành công của ngân hàng phụ thuộc vào năng lực xác định các dịch vụ tàichính mà xã hội có nhu cầu, thực hiện các dịch vụ đó một cách hiệu quả Các hoạtđộng chủa yếu của ngân hàng thương mại gồm:

Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi (muabán) ngoại tê: mua bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác, và hưởng phí dịchvụ

Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng đã tìm kiếmmọi cách để huy động được tiền Một trong những nguồn quan trọng là các khoảntiền gửi thanh toán và tiết kiệm của khách hàng Ngân hàng mở dịch vụ nhận tiềngửi để bảo quản hộ người có tiền với cam kết hoàn trả đúng hạn Trong cuộc cạnhtranh để tìm và giành được các khoản tiền gửi, các ngân hàng đã trả lãi cho tiền gửinhư là phần thưởng cho khách hàng, về việc sẵn sàng hy sinh nhu cầu tiêu dùngtrước mắt và cho phép ngân hàng sử dụng tạm thời để kinh doanh

Cho vay là một trong những hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại.Hoạt động cho vay của ngân hàng gồm cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng vàtài trợ cho dự án

- Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán

Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng không chỉ bảo quản màcòn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng Các tiện ích của thanh toán khôngdùng tiền mặt (an toàn, nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí) đã góp phần rútngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập cho khách hàng Khi ngân hàng mởchi nhánh, phạm vi thanh toán qua ngân hàng được mở rộng, càng tạo nhiều tiệních hơn Điều này khuyến khích khách hàng gửi tiền vào ngân hàng để nhờ ngânhàng thanh toán hộ

Trang 20

- Quản lý ngân quỹ

Các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của phần lớn các doanh nghiệp vànhiều cá nhân Nhờ đó, ngân hàng thường có mối quan hệ chặt chẽ với nhiều kháchhàng Do có kinh nghiệm trong quản lý ngân quỹ và khả năng trong việc thu ngân,nhiều ngân hàng đã cung cấp cho khách dịch vụ quản lý ngân quỹ, trong đó ngânhàng đồng ý quản lý việc thu và chi cho một công ty kinh doanh, tiến hành đầu tưphần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh lời và tín dụng ngắn hạn,cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán

- Tài trợ các hoạt động của Chính phủ

Khả năng huy động và cho vay với khối lượng lớn của ngân hàng đã trởthành trọng tâm chú ý của các Chính phủ Do nhu cầu chi tiêu lớn và thường là cấpbách trong khi thu không đủ, Chính phủ các nước đều muốn tiếp cận với khoản chovay của ngân hàng Ngày nay, Chính phủ giành quyền cấp phép hoạt động và kiểmsoát các ngân hàng Các ngân hàng được cấp giấy phép thành lập với điều kiện là họphải cam kết thực hiện với mức độ nào đó các chính sách của Chính phủ và tài trợcho Chính phủ Các ngân hàng thường mua trái phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhấtđịnh trên tổng lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động được

Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng rất lớn, và dongân hàng nắm giữ tiền gửi của các khách hàng, nên ngân hàng có uy tín trong bảolãnh cho khách hàng Trong những năm gần đây, nghiệp vụ bảo lãnh ngày càng đadạng và phát triển mạnh Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của mình muachịu hàng hóa và trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của tổ chức tíndụng khỏc…

- Ngoài ra, ngân hàng còn cung cấp một số các dịch vụ như dịch vụ ủy thác và

tư vấn, dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán, dịch vụ bảo hiểm, bảo quản tàisản hộ, cho thuê thiết bị trung/dài hạn…

1.1.2 Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại

Trang 21

1.1.2.1 Khái niệm, đặc điểm hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại

a Khái niệm

Tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả Tín dụng là sựchuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ từngười sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định người sử dụng hoàntrả lại cho người sở hữu một lượng lớn hơn

Tín dụng ngân hàng được hiểu là quan hệ vay mượn lẫn nhau theo nguyêntắc hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định, giữa một bên là ngân hàngthương mại và một bên là các cá nhân, các tổ chức khác

b Đặc điểm

Tín dụng có ba đặc điểm cơ bản sau:

- Có sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ người này sang người

khác;

- Sự chuyển giao này mang tính chất tạm thời

- Khi hoàn lại lượng giá trị đã chuyển giao cho người sở hữu phải kèm theo

một lượng giá trị dụi thờm tức là lợi tức

1.1.2.2 Các phương thức tín dụng của ngân hàng thương mại

a Tín dụng chia theo thời gian

Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng, vì thờigian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của tín dụng cũng như khả nănghoàn trả của khách hàng Theo thời gian, tín dụng được phân thành:

- Tín dụng ngắn hạn: Từ 12 tháng trở xuống tài trợ cho tài sản lưu động

- Tín dụng trung hạn: Từ trên 1 năm đến 5 năm tài trợ cho các tài sản cố định

như phương tiện vận tải, trang thiết bị…

- Tín dụng dài hạn: Trên 5 năm tài trợ cho công trình xây dựng như nhà, sân

bay, cầu, đường, máy móc thiết bị có giá trị lớn, thường có thời gian sử dụnglâu

b Tín dụng chia theo hình thức tài trợ

Trang 22

Tín dụng được chia thành cho vay, bảo lãnh, cho thuờ…

- Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng

phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định Cho vay là tàisản lớn nhất trong khoản mục tín dụng Cho vay thường được định lượngtheo 2 chỉ tiêu: Doanh số cho vay trong kỳ và dư nợ cuối kỳ Doanh số chovay trong kỳ là tổng số tiền mà ngân hàng đã cho vay ra trong kỳ Dư nợcuối kỳ là số tiền mag ngân hàng hiện đang còn cho vay vào thời điểm cuối

kỳ Khi lập các báo cáo tài chính (thời điểm), cho vay được ghi dưới hìnhthức dư nợ Một số ngân hàng thường ghi giảm dư nợ phần trích lập dựphòng tổn thất hoặc lãi được nhận trước

- Chiết khấu thương phiếu là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng

tương ứng với giá trị của thương phiếu, trừ đi phần thu nhập của ngân hàng

để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn (hoặc một giấy nợ)

- Cho thuê là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng thuê theo

những thỏa thuận nhất định Sau thời gian nhất định, khách hàng phải trả cảgốc lẫn lãi cho ngân hàng Cho thuê tài sản trung và dài hạn (Leasing) đượcghi vào khoản mục tài sản theo giá trị tài sản cho thuê trừ đi phần tiền thuêngân hàng đã thu được (dư nợ cho thuê)

- Bảo lãnh là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính hộ

khách hàng của mình Mặc dù không phải xuất tiền ra, song ngân hàng đãcho khách hàng sử dụng uy tín của mình để thu lợi Bảo lãnh được ghi vàotài khoản ngoại bảng, đó là giá trị mà ngân hàng cam kết trả thay khách hàngcủa mình Phần bảo lãnh ngân hàng phải thực hiện chi trả được ghi vào tàisản nội bảng (mục cho vay bắt buộc, tính vào nợ quá hạn)

c Tín dụng được chia theo hình thức bảo đảm

Tín dụng chia theo hình thức bảo đảm gồm: tín dụng khụng có bảo đảm vàtín dụng có đảm bảo bằng tài sản thế chấp, cầm cố

- Tín dụng không cần tài sản đảm bảo có thể được cấp cho các khách hàng có

uy tín, thường là khách hàng làm ăn thường xuyên có lãi, tình hình tài chính vững

Trang 23

mạnh, ít xảy ra tình trạng nợ nần dây dưa, hoặc món vay tương đối nhỏ so với vốncủa người vay Các khoản cho vay theo chỉ thị của Chính phủ mà Chính phủ yêucầu, không cần tài sản đảm bảo Các khoản cho vay đối với các tổ chức tài chínhlớn, các công ty lớn, hoặc những khoản cho vay trong thời gian ngắn mà ngân hàng

có khả năng giám sát việc bán hàng…cũng có thể không cần tài sản đảm bảo

- Tín dụng dựa trên cam kết đảm bảo yêu cầu ngân hàng và khách hàng phải

ký hợp đồng đảm bảo Ngân hàng phải kiểm tra, đánh giá được tình trạng của tàisản đảm bảo (quyền sở hữu, giá trị, tính thị trường, khả năng bán, khả năng tàichính của người thứ ba…), có khả năng giám sát việc sử dụng hoặc có khả năng bảoquản tài sản đảm bảo

d Phân loại khác

- Theo ngành kinh tế (cụng, nụng nghiệp…)

- Theo đối tượng tín dụng (tài sản lưu động, tài sản cố định)

- Theo mục đích (sản xuất, tiờu dựng…)

Cỏc cách phân loại này cho thấy tính đa dạng hoặc chuyên môn hóa trongcấp tín dụng của ngân hàng Với xu hướng đa dạng, các ngân hàng sẽ mở rộngphạm vi tài trợ song vẫn có thể duy trì những lĩnh vực mà ngân hàng có xu thế Ví

dụ ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt nam, bên cạnh việc đadạng hóa các ngành tài trợ, vẫn tập trung tài trợ cho lĩnh vực nông nghiệp và nôngthôn Cách phân loại trên cho phép ngân hàng theo dõi rủi ro và sinh lợi gắn liềnvới những lĩnh vực tài trợ, để có chính sách lãi suất, bảo đảm, hạn mức và chínhsách mở rộng phù hợp

1.2 Quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại

1.2.1 Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại

1.2.1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại

Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tín dụng là hoạt động kinh doanhđem lại lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng nhưng cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro rấtlớn Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh rủi ro, theo đuổi lợi nhuận với rủi ro chấp

Trang 24

nhận được là bản chất ngân hàng P Volker, cựu chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ(FED) cho rằng: “Nếu ngân hàng không có những khoản vay tồi thỡ đú không phải

là hoạt động kinh doanh” Rủi ro tín dụng là một trong những nguyên nhân chủ yếugây tổn thất và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng kinh doanh ngân hàng Cónhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro tín dụng:

Trong tài liệu “Financial Institutions Management – A Modern Perpective”,Anthony Saunders định nghĩa rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàngcấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tínhmang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ cả về sốlượng và thời hạn

Theo khoản 1 điều 2 quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng

để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hànhkèm theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc Ngânhàng Nhà nước, rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngânhàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năngthực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết

Các định nghĩa đa dạng, nhưng tựu chung lại có thể rút ra các nội dung cơbản của rủi ro tín dụng như sau:

- Rủi ro tín dụng khi người vay sai hẹn trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ theohợp đồng, bao gồm vốn và/hoặc lãi Sự sai hẹn có thể là trễ hẹn hoặc không thanhtoán

- Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng vàgiảm giá trị thị trường của vốn Trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua

lỗ, hoặc ở mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản

- Đối với các nước đang phát triển (như Việt Nam), cỏc ngân hàng thiếu đadạng trong kinh doanh các dịch vụ tài chính, vì vậy tín dụng được coi là dịch vụsinh lời chủ yếu, đặc biệt đối với cỏc ngõn hàng nhỏ Vì vậy rủi ro tín dụng cao haythấp sẽ quyết định hiệu quả kinh doanh của ngân hàng

Trang 25

- Rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng của ngân hàng là hai đại lượng đồng biến vớinhau trong một phạm vi nhất định: lợi nhuận kỳ vọng càng cao thì rủi ro tiềm ẩncàng lớn.

- Rủi ro là điều không thể loại trừ hoàn toàn được mà chỉ có thể hạn chế sựxuất hiện cũng như tác hại mà chúng gây ra

Tuy nhiên, chúng ta cần hiểu rủi ro tín dụng theo nghĩa xác suất, là khả năng,

do đó có thể xảy ra hoặc không xảy ra tổn thất Điều này có nghĩa là một khoản vay

dù chưa quá hạn nhưng vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tổn thất, một ngân hàng có

tỷ lệ nợ quá hạn thấp nhưng nguy cơ rủi ro tín dụng sẽ rất cao nếu danh mục đầu tưtín dụng tập trung vào một nhúm khỏch hàng, ngành hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro.Cách hiểu này sẽ giúp cho hoạt động quản lý rủi ro tín dụng được chủ động trongphòng ngừa, trích lập dự phòng, đảm bảo chống đỡ và bù đắp tổn thất khi rủi ro xảyra

1.2.1.2 Đặc điểm của rủi ro tín dụng

Để chủ động phòng ngừa rủi ro tín dụng có hiệu quả, nhận biết các đặc điểmcủa rủi ro tín dụng rất cần thiết và hữu ích Rủi ro tín dụng có những đặc điểm cơbản sau:

- Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp: Trong quan hệ tín dụng, ngân hàngchuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng Rủi ro tín dụng xảy ra khi kháchhàng gặp những khó khăn và thất bại trong quá trình sử dụng vốn; hay nói cáchkhác những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng là nguyên nhân chủyếu gây ra rủi ro tín dụng của ngân hàng

- Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp: đặc điểm này biểu hiện ở

sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình thức, hậu quả của rủi ro tín dụng do đặctrưng của thị trường tài chính kinh doanh tiền tệ Do đó khi phòng ngừa và xử lý rủi

ro tín dụng phải chú ý đến mọi dấu hiệu rủi ro, xuất phát từ nguyên nhân bản chất

và hậu quả do rủi ro tín dụng đem lại để có biện pháp phòng ngừa phù hợp

- Rủi ro tín dụng có tính tất yếu (tức luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tíndụng của ngân hàng thương mại): tình trạng thông tin bất cân xứng đã làm cho ngân

Trang 26

hàng không thể nắm bắt được các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ, điềunày làm cho bất cứ khoản vay nào cũng tiềm ẩn rủi ro đối với ngân hàng Kinhdoanh ngân hàng thực chất là kinh doanh rủi ro ở mức độ phù hợp và đạt được lợinhuận tương ứng.

1.2.1.3 Các tiêu chí đánh giá rủi ro tín dụng

a Tổng số nợ quá hạn

Hiện nay, việc phân loại nợ được thực hiện theo quyết định NHNN ngày 22/04/2005 và quyết định 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 củaNgân hàng Nhà nước Theo đó, nợ được chia ra làm 5 nhóm: nợ nhóm 1 (nợ đủ tiêuchuẩn), nợ nhóm 2 (nợ cần chú ý), nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nợ nhóm 4 (nợnghi ngờ), nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) Khi nợ của khách hàng quá hạn từ

493/2005/QĐ-10 ngày trở lên sẽ được xếp vào nợ nhóm 2 và trên CIC sẽ hiện thông tin về nợ quáhạn từ nhóm 2 cho đến nhóm 5 Do vậy, tổng nợ quá hạn của Ngân hàng sẽ đánhgiá gồm nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5

Nợ quá hạn là chỉ tiêu phản ánh chung giá trị tuyệt đối của toàn bộ các khoản

nợ quá hạn của ngân hàng Chỉ tiêu này chưa cho biết trong tổng số nợ đó, nợ không

có khả năng thu hồi là bao nhiêu? Nợ có khả năng thu hồi là bao nhiêu? Và như vậy

nó chưa phản ánh một cách chính xác nguy cơ rủi ro của ngân hàng Trường hợp haiNHTM cựng cú tổng số nợ quá hạn nhưng ngân hàng có nhiều nợ không có khảnăng thu hồi hơn hoặc tiềm lực tài chính thấp hơn sẽ có nguy cơ rủi ro cao hơn

b. Tỷ lệ giữa các khoản nợ quá hạn so với tổng dư nợ cho vay, cho thuê

Tỷ lệ giữa cáckhoản nợ quá hạn =

so với tổng dư nợ

Nợ quá hạn -Tổng dư nợChỉ tiêu này phản ánh chỉ số tương đối giữa dư nợ mà ngân hàng không thuhồi được đúng như thời hạn cam kết trong các hợp đồng tín dụng và tổng số nợ màngân hàng đã cho vay Chỉ tiêu này phản ánh mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng,

nó cho biết cứ 100 đơn vị tiền tệ khi ngân hàng cho vay thì có bao nhiêu đơn vị tiền

tệ mà ngân hàng không thu hồi được đúng hạn theo hợp đồng Tỷ lệ này càng cao

Trang 27

thì khả năng rủi ro càng cao Nếu tỷ lệ này lớn hơn 7% thì ngân hàng bị coi là cóchất lượng tín dụng yếu kém, còn nếu nhỏ hơn 5% thì ngân hàng được đánh giá là

có nghiệp vụ tín dụng tốt, chất lượng cho vay cao Tuy nhiên, các con số được sửdụng để tính chỉ số này lại được đo tại một thời điểm nhất định nên chưa phản ánhhoàn toàn chính xác chất lượng tín dụng của ngân hàng

c Tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ và xấu/nợ quá hạn:

Tỷ lệ nợ xấu

trên tổng =

dư nợ

Nợ xấu -Tổng dư nợ

Tỷ lệ nợ xấu trên nợ =quá hạn

Nợ xấu -Tổng nợ quá hạn

Nợ xấu là các khoản nợ được xếp vào nợ nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5 (thời gianquá hạn từ 91 ngày trở lên) Các chỉ số này phản ánh chỉ tiêu tương đối của nợ xấu –một bộ phận quan trọng của nợ quá hạn Thông thường, khi khách hàng có nợ xấuthỡ cỏc ngân hàng sẽ không cấp tín dụng cho khách hàng đó Đây là những chỉ tiêuphản ánh về thực tế và nguy cơ nợ quá hạn của ngân hàng Tỷ lệ này càng cao thìchứng tỏ chất lượng tín dụng của ngân hàng càng thấp

- Tỷ lệ quỹ dự phòng rủi ro/nợ quá hạn

Tỷ lệ này cho biết quỹ dự phòng rủi ro có khả năng bù đắp bao nhiêu cho cáckhoản nợ quá hạn khi chúng chuyển thành các khoản cho vay không thu hồi được vốn Tỷ

lệ này càng cao tức là quỹ dự phòng rủi ro đủ bù đắp các thiệt hại có thể xảy ra trong quátrình cho vay của ngân hàng càng nhiều, giảm nguy cơ rủi ro tín dụng của ngân hàng vàngược lại

Tỷ lệ qũy

dự phòng trên =

tổng nợ quá hạn

Tổng số tiền trích lập dự phòng RRTD -

Tổng nợ quá hạnTheo hệ thống PEARLS của Hiệp hội tín dụng thế giới về đánh giá tình hìnhtài chính của ngân hàng thì một ngân hàng được coi là hoạt động với độ an toàn cao

Trang 28

nếu ngân hàng đó phân bổ đủ dự phòng cho 100% nợ quá hạn trên 12 tháng và 35%

nợ quá hạn từ 1 – 12 tháng

Ngoài ra, tùy theo tình hình cụ thể của mỗi ngân hàng trong từng thời kỳ mà

có thể có thờm cỏc tiêu chí khác để đánh giá, so sánh thực trạng rủi ro tín dụngnhằm xây dựng các biện pháp xử lý kịp thời: điểm của khách hàng, tớnh kộm đadạng của tín dụng, các khoản cho vay có vấn đề…

1.2.2 Quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại

1.2.2.1 Khái niệm quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại

Theo Uỷ ban Basel: “Quản lý rủi ro là một quá trình liên tục cần được thựchiện ở mọi cấp độ của một tổ chức tài chính và là yêu cầu bắt buộc để các tổ chứctài chính có thể đạt được các mục tiêu đề ra và duy trì khả năng tồn tại và sự minhbạch về tài chớnh”

Hoạt động quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại là nhằm bảođảm các tài sản và công nợ, vị trí kinh doanh, các hoạt động tín dụng của ngân hàngkhông phải gánh chịu những rủi ro có thể làm ảnh hưởng tới sự tồn tại, khả năngcạnh tranh và phát triển của ngân hàng Để thực hiện quản lý rủi ro tín dụng, ngânhàng cần thực hiện tốt bốn bước sau:

- Bước 1: Nhận biết được rủi ro tín dụng, bao gồm xác định được rủi ro, hiểu

và nắm bắt được các nguyên nhân gây ra rủi ro

- Bước 2: Đo lường rủi ro, nghĩa là tính toán ra con số cụ thể về mức độ rủi ro

tín dụng mà ngân hàng đang đối mặt, tính toán mức độ thiệt hại tài chính nếurủi ro xảy ra

- Bước 3: Điều tiết rủi ro, bao gồm các biện pháp chủ động hướng tới việc

tránh, hạn chế, phòng ngừa rủi ro và những biện pháp nhằm tăng cường khảnăng chịu đựng rủi ro tín dụng của ngân hàng như tăng vốn điều lệ, trích lập

dự phòng rủi ro đầy đủ

Trang 29

- Bước 4: Giám sát rủi ro tín dụng, ngân hàng phải cập nhật kịp thời rủi ro tín

dụng phát sinh, theo dõi sát sao diễn biến của rủi ro tín dụng để có biện pháp

xử lý hợp lý, kịp thời

Qua đó, có thể hiểu quản lý rủi ro tín dụng là việc các nhà quản trị ngân hànglập kế hoạch hoạt động và sử dụng các công cụ quản lý thích hợp nhằm tối ưu hoákhả năng thu hồi vốn vay từ khách hàng và hạn chế tối đa tác động tiêu cực của cáckhoản nợ xấu

1.2.2.2 Các phương thức quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại

a Xây dựng hệ thống thông tin về ngành hàng và các khách hàng

Thời đại ngày nay, thông tin có một vai trò vô cùng quan trọng đối với hoạtđộng cho vay Do vậy, thông tin, đặc biệt là thông tin để đánh giá rủi ro cần luônđược cập nhật và khai thác triệt để, tạo tiền đề vững chắc cho các quyết định chovay của Ngân hàng, có như vậy mới phục vụ cho hoạt động đánh giá rủi ro mộtcách hiệu quả

Thông tin nội bộ gồm thông tin về khách hàng đang quan hệ tại ngân hàng vàthông tin về các ngành kinh tế Thông tin về khách hàng được thu thập qua kênhthông tin về khách hàng đã và đang có quan hệ tại ngân hàng Từ đó ngân hàng sẽxây dựng được hệ thống cơ sở dữ liệu về quan hệ tín dụng của khách hàng tại ngânhàng Ngoài ra, ngân hàng cũng cần không ngừng thu thập thông tin liên quan vềkhách hàng qua cỏc kờnh khỏc như: Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) của Ngânhàng Nhà nước (NHNN), các phương tiện thông tin đại chúng: tivi, báo, đài,internet…, các bạn hàng của doanh nghiệp…

Thông tin về ngành kinh tế được thu thập thông qua các phương tiện thôngtin đại chúng Bên cạnh đó, ngân hàng cũng có thể xây dựng cho mình mộtphũng/ban chuyờn nghiên cứu về thị trường, các lĩnh vực kinh tế, các mặt hàng cụthể để từ đó đưa ra báo cáo phân tích định ký thỏng/quý/năm, phục vụ cho công tácthẩm định và đánh giá rủi ro của ngân hàng

b Xây dựng hệ thống chớnh sách, quy trình tín dụng

Trang 30

Chính sách tín dụng là các văn bản liên quan đến lĩnh vực tín dụng, gồm có:

cơ cấu tín dụng, chính sách về lãi suất, chính sách về ưu tiên hoặc hạn chế cấp tíndụng, thẩm quyền ra quyết định của các chức danh/phũng ban… Các chính sách tíndụng được mỗi ngân hàng đưa ra dựa trên quan điểm của ngân hàng đó về tình hìnhkinh tế từng thời kỳ, từng mảng thị trường cũng như với từng khách hàng Cácchính sách tín dụng đưa ra càng bám sát với tình hình nền kinh tế càng đảm bảo hạnchế được rủi ro cho ngân hàng

Cấp tín dụng cho khách hàng được thực hiên qua rất nhiều khâu, do vậy việcchuẩn hoỏ cỏc bước thức hiện theo quy trình thống nhất giúp cho Ngân hàng hoạtđộng chuyên nghiệp và thời gian xử lý sẽ nhanh chóng Quy trình tín dụng thôngthường được thống nhất qua các bước sau: thiết lập hồ sơ khách hàng  thẩm định

hồ sơ khách hàng  ra quyết định và ký hợp đồng  giải ngân và thu nợ  thanh lýhợp đồng và xử lý tranh chấp (nếu có)

c Thực hiện công tác sàng lọc khách hàng trước khi cho vay

Muốn lựa chọn được những khách hàng đạt điều kiện cho vay, ngân hàngphải thường xuyên đánh giá khách hàng và thẩm định tính khả thi của dự án đầu tư

Để giảm thiểu được phần nào rủi ro trong hoạt động tín dụng, khi ngân hàng tiếpnhận đề nghị vay vốn của khách hàng, cần phải phân tích, thẩm định về khách hàng

và xem xét phương án vay vốn Cán bộ tín dụng cần phải nghiên cứu hết sức cẩnthận dưới nhiều khía cạnh để quyết định xem có cho vay được hay không và nếucho vay được thì cho vay bao nhiêu, trong thời gian bao lâu Việc phân tích, thẩmđịnh được tiến hành càng kỹ thì ngân hàng càng tránh được những rủi ro có thể xảy

ra Ngân hàng sàng lọc khách hàng thông qua việc chấm điểm khách hàng và xếphạng tín dụng khách hàng (khách hàng được đánh giá trên cả khía cạnh tài chính lẫnphi tài chính) Các mô hình chấm điểm có thể sử dụng gồm:

Mô hình điểm số Z

Mô hình điểm số Z do E I Altman hình thành để cho điểm tín dụng đối vớicác công ty sản xuất của Mỹ Đại lượng Z là thước đo tổng hợp để phân loại rủi rotín dụng đối với người vay và phụ thuộc vào: trị số của các chỉ số tài chính của

Trang 31

người đi vay (X1) và tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất

vỡ nợ của người vay trong quá khứ

Từ đó, Altman đi đến mô hình cho điểm như sau:

Z = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,6X4 + 1,0X5

Trong đó: X1 là tỷ số vốn lưu động rũng/tổng tài sản

X2 là tỷ số lợi nhuận giữ lại/tổng tài sản

X3 là tỷ số lợi nhuận trước thuế và tiền lói/tổng tài sản

X4 là tỷ số thị giá cổ phiếu/giỏ trị ghi sổ của nợ dài hạn

X5 là tỷ số doanh thu/tổng tài sảnTrị số Z càng cao thì người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp Theo mô hìnhcho điểm Z của Altman, bất cứ công ty nào có điểm số Z thấp hơn 1,81 phải đượcxếp vào nhóm có nguy cơ rủi ro tín dụng cao và không được cho vay

Hạn chế của mô hình:

- Mô hình này chỉ cho phép phân biệt khách hàng thành hai nhóm là “vỡ nợ”

và “khụng vỡ nợ” Trong thực tế, vỡ nợ được phân thành nhiều loại, từkhông trả hay chậm trễ trong việc trả lãi tiền vay, đến việc không hoàn trả nợgốc và lãi tiền vay Điều này hàm ý, cần có một mô hình cho điểm chính xáchơn, toàn diện hơn theo nhiều thang điểm để phân loại khách hàng thànhnhiềm nhóm tương ứng với các mức độ vỡ nợ khác nhau

- Không có lý do rõ ràng để giải thích sự bất biến về tầm quan trọng của các

biến số theo thời gian, dù là trong ngắn hạn Tương tự như vậy, các biến số(X) cũng không phải là bất biến, đặc biệt là khi điều kiện thị trường về kinhdoanh thường xuyên thay đổi Ngoài ra mô hình cũng giả thiết rằng các biến

số X là hoàn toàn độc lập không phụ thuộc lẫn nhau

- Đã không tính tới một số nhân tố quan trọng nhưng khó lượng hóa, nhưng lại

ảnh hưởng đáng kể đến mức độ rủi ro tín dụng của khách hàng Ví dụ, yếu tố

“danh tiếng” của khách hàng, hay yếu tố vĩ mô như chu kỳ kinh tế, chu kỳkinh doanh Nhìn chung, các nhân tố này thường không được đề cập trong

Trang 32

mô hình ghi điểm tín dụng “Z” Mặt khác, mô hình cho điểm thường không

sử dụng các thông tin đại chúng có sẵn, như giá cả thị trường của các tài sảntài chính

Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng

Ngày nay, nhiều ngân hàng sử dụng phương pháp cho điểm để xử lý các đơnxin vay của người tiêu dùng Thực tế, nhiều tổ chức thẻ tín dụng đã sử dụng môhình điểm số để xử lý số lượng đơn yêu cầu ngày một gia tăng, những ngân hàngcũng sử dụng mô hình này để đánh giá những khoản tín dụng mua sắm xe hơi, trangthiết bị gia đình, bất động sản và kinh doanh nhỏ Nhiều khách hàng yêu thích sựthuận tiện và nhanh chóng khi những yêu cầu tín dụng của họ được xử lý bằng hệthống cho điểm tự động Thông thường, khách hàng có thể gọi điện thoại đến ngânhàng để liên hệ xin vay, thông qua hệ thống máy tính nối mạng, trên cơ sơ dữ liệucủa khách hàng, trong vài phút ngân hàng có thể thông báo kết quả tín dụng chokhách hàng

Mô hình cho điểm tín dụng thường sử dụng từ 7 đến 12 hạng mục, mỗi hạngmục được cho điểm từ 1 đến 10 Ví dụ, bảng dưới đây cho thấy những hạng mục vàđiểm của chúng thường được sử dụng ở ngân hàng Mỹ

Bảng số 1.1: Các chỉ tiêu xếp hạng tín dụng cá nhân

1 Nghề nghiệp của người vay

Chuyên gia hay phụ trách kinh doanhCông nhân có kinh nghiệm (tay nghề cao)Nhân viên văn phòng

Sinh viênCông nhân không có kinh nghiệmCông nhân bán thất nghiệp

1087542

Trang 33

Nhà thuê hay căn hộSống cùng bạn hay người thân

42

TốtTrung bìnhKhông có hồ sơTồi

10520

4 Kinh nghiệm nghề nghiệp

Nhiều hơn 1 năm

Từ 1 năm trở xuống

52

5 Thời gian sống tại địa chỉ hiện hành

Nhiều hơn 1 năm

Từ 1 năm trở xuống

21

6 Điện thoại cố định

CóKhông

20

7 Số người sống cùng (phụ thuộc)

KhôngMộtHaiBaNhiều hơn ba

33442

8 Các tài khoản tại ngân hàng

Có tài khoản tiết kiệm và phát hành sécChỉ có tài khoản tiết kiệm

Chỉ có tài khoản phát hành sécKhông có

4320Khách hàng có điểm số cao nhất theo mô hình với 8 hạng mục nêu trên là 43điểm, thấp nhất là 9 điểm Giả sử ngân hàng biết rằng , mức 28 điểm là ranh giớigiữa khách hàng có tín dụng tốt với khách hàng có tín dụng xấu; trên cơ sở đó, ngânhàng hình thành một khung chính sách tín dụng tiêu dùng theo mô hình điểm số nhưsau:

Trang 34

Bảng số 1.2: Ra quyết định tín dụng theo điểm số của khách hàng

Từ 28 điểm trở xuống Từ chối tín dụng

Rõ ràng là mô hình điểm số đã loại bỏ được sự phán xét chủ quan trong quátrình cho vay và giảm đáng kể thời gian quyết định tín dụng của ngân hàng Tuynhiên, mô hình này cũng có một số nhược điểm như không thể điều chỉnh một cáchnhanh chóng để thích ứng với những thay đổi trong nền kinh tế và những thay đổitrong cuộc sống gia đình Một mô hình điểm số không linh hoạt có thể đe dọa đếnchương trình tín dụng tiêu dùng của ngân hàng, bỏ sót những khách hàng lànhmạnh, làm giảm lòng tin của cộng đồng vào dịch vụ ngân hàng

d Giám sát tín dụng và xử lý tín dụng có vấn đề

Những biến động trong nền kinh tế làm suy yếu một số công ty và làm tăngnhu cầu tín dụng đối với các công ty khác, trong khi đó, từng cá nhân thì có thể bịmất việc làm, nhiễm bệnh hiểm nghèo làm cho người vay không có khả năng trả nợ.Cán bộ tín dụng phải nhạy cảm với những diễn biến như vậy và định kỳ phải kiểmtra tất cả các khoản tín dụng cho đến khi chúng đến hạn

Trong khi ngày nay các ngân hàng sử dụng rất nhiều các quy trình khác nhau

để kiểm tra tín dụng, tuy nhiên, những nguyên lý chung đang được áp dụng tại hầuhết các ngân hàng bao gồm:

- Tiến hành kiểm tra tất cả các loại tín dụng theo định kỳ nhất định, ví dụ định

kỳ 30, 60, hay 90 ngày đối với các khoản tín dụng nhỏ và vừa; đối với nhữngkhoản tín dụng lớn thì phải thường xuyên hơn

Trang 35

- Xây dựng kế hoạch, chương trình, nội dụng quá trình kiểm tra một cách thận

trọng và chi tiết, bảo đảm rằng những khía cạnh quan trọng nhất của mỗikhoản tín dụng phải được kiểm tra, bao gồm:

a/ Kế hoạch trả nợ của khách hàng, nhằm bảo đảm rằng khách hàngkhông chậm trễ trong việc thanh toán nợ theo kế hoạch

b/ Chất lượng và điều kiện của tài sản dùng làm bảo đảm tín dụng

c/ Tính đầy đủ và hợp lệ của hợp đồng tín dụng, bảo đảm rằng ngân hàng

có đầy đủ thầm quyền hợp pháp để sở hữu các tài sản bảo đảm tín dụng đối vớingười vay trước tòa án nếu cần thiết

d/ Đánh giá điều kiện tài chính và những dự báo về người vay xem đãthay đổi, trên cơ sở đó xem xét lại nhu cầu tín dụng của người vay thay đổi nhưthế nào

e/ Đánh giá xem khoản tín dụng có tuân thủ chính sách cho vay của ngânhàng và các tiêu chuẩn do cơ quan quản lý đặt ra

- Kiểm tra thường xuyên các khoản tín dụng lớn, bởi vì nếu các “đại gia” bị vỡ

nợ sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến điều kiện tài chính của ngân hàng

- Quản lý chặt chẽ và thường xuyên các khoản tín dụng có vấn đề, tăng cường

kiểm tra giám sát khi phát hiện những dấu hiệu không lành mạnh liên quanđến khoản tín dụng của ngân hàng

- Tăng cường kiểm tra tín dụng khi nền kinh tế có những biểu hiện đi xuống,

hoặc những ngành nghề sử dụng nhiều tín dụng của ngân hàng có biểu hiệnnhững vấn đề nghiêm trọng trong phát triển (ví dụ như xuất hiện các đối thủcạnh tranh mới, hay có sự áp dụng công nghệ mới đòi hỏi phải có sản phẩmmới và các phương pháp phân phối mới)

Kiểm tra tín dụng không phải là công việc thừa, lãng phí, mà rất cần thiết đểhình thành chính sách cho vay của ngân hàng một cách lành mạnh Nó không nhữnggiúp cho nhà quản lý nhận ra những vấn đề một cách nhanh chóng, mà còn có tácdụng kiểm tra thường xuyên xem cán bộ tín dụng có chấp hành đúng chính sách chovay của ngân hàng Với lý do này, đồng thời tăng cường tính khách quan của côngtác kiểm tra tín dụng, hầu hết các ngân hàng lớn đều thành lập phòng “kiểm tra tín

Trang 36

dụng” độc lập với “phũng tớn dụng” Kiểm tra tín dụng cũng giúp cho hội đồngquản trị và Ban giám đốc điều hành trong việc đánh giá toàn bộ tiềm ẩn rủi ro đốivới ngân hàng, từ đó đề ra các biện pháp phòng chống cũng như định hướng chínhsách “quỹ dự trữ bù đắp rủi ro” và chiến lược tăng vốn chủ sở hữu của ngân hàngtrong tương lại.

Xử lý tín dụng có vấn đề: Cho dù hầu hết các ngân hàng đã xây dựng một cơchế bảo đảm an toàn tín dụng, nhưng điều không thể tránh khỏi là một số khoản tíndụng vẫn được thể hiện trên sổ sách là những khoản tín dụng có vấn đề Nhữngkhoản tín dụng có vấn đề thường bao gồm các trường hợp: (i) người vay không thểtrả nợ đúng hạn một hay nhiều kỳ, (ii) tài sản bảo đảm tín dụng giảm giá đáng kể.Vậy ngân hàng phải làm gì khi tín dụng có vấn đề? Các chuyên gia ngân hàng sẽtìm ra các giải pháp nhằm thu hồi những khoản tín dụng có vấn đề theo một số bướcnhư sau:

- Luôn luôn đặt mục tiêu là: Tận dụng tối đa các cơ hội để thu hồi đầy đủ nợ

đã vay

- Khẩn trương khám phá và báo cáo kịp thời mọi vấn đề thực chất liên quan

đến tín dụng, mọi chậm trễ đều làm cho tình hình tín dụng trở nên xấu hơn

- Trách nhiệm xử lý tín dụng có vấn đề phải được độc lập với chức năng cho

vay nhằm tránh những xung đột có thể xảy ra với quan điểm của cán bộ tíndụng trực tiếp cho vay

- Chuyên gia xử lý tín dụng cần hội ý khẩn với khách hàng về các giải pháp có

thể, đặc biệt là tính giảm chi phí, tăng nguồn thu, và tăng cường cải tiến côngtác quản lý Trước khi hội ý với khách hàng, chuyên gia cần phân tích sơ bộtín dụng có vấn đề và những nguyên nhân có thể, ghi chú mọi vấn đề đặc biệtkhám phá ra (kể cả những chủ nợ có liên quan) Xây dựng kế hoạch hànhđộng sau khi đã xác định được rủi ro đối với ngân hàng và bổ sung hồ sơ tíndụng (đặc biệt là yêu cầu bổ sung tài sản làm vật bảo đảm tín dụng để phùhợp với tình hình mới)

Trang 37

- Dự tính những nguồn có thể dùng để thu nợ có vấn đề (bao gồm nguồn thu từ

thanh lý tài sản và số dư tiền gửi tại ngân hàng )

- Chuyên gia cần tiến hành nghiên cứu nghĩa vụ thuế và những tranh chấp xem

khách hàng còn nghĩa vụ tài chính nào chưa thực hiện

- Đối với doanh nghiệp, chuyên gia cần đánh giá chất lượng, năng lực và sự

nhất quán trong quản lý, đồng thời trực tiếp tiến hành khảo sát các hoạt động

và các tài sản của doanh nghiệp

- Chuyên gia phải cân nhắc mọi phương án có thể để hoàn thành việc thu hồi

nợ có vấn đề, bao gồm cả việc thỏa thuận gia hạn nợ tạm thời nếu kháchhàng chỉ gặp khó khăn trước mắt, hoặc tìm kiếm giải pháp nhằm tăng cường

lưu chuyển tiền tệ cho khách hàng Các khả năng khỏc cú thể là bổ sung tài

sản bảo đảm tín dụng, yêu cầu có bảo lãnh của người thứ ba, cơ cấu lạidoanh nghiệp, sát nhập, hay thanh lý công ty, nộp đơn xin phá sản

e Các điều kiện bảo đảm tín dụng

Khi đánh giá khía cạnh bảo đảm tiền vay, cán bộ tín dụng phải tự hỏi: ngườivay có sở hữu một giá trị nào hay tài sản nào có chất lượng để hỗ trợ cho khoảnvay? Cán bộ tín dụng phải đặc biệt chú ý đến những yếu tố nhạy cảm như: tuổi thọ,điều kiện và mức độ chuyên dụng của tài sản người vay Khía cạnh công nghệ cũngphải đặc biệt chú ý, bởi vì nếu tài sản của người vay có công nghệ lạc hậu thì giá trịgiảm rất nhiều và rất khó tìm được người mua trong khi công nghệ lại thay đổi hàngngày Trên thực tế, chẳng hạn như đối với các NHTM Trung Quốc lấy việc đánh giákhả năng trả nợ của khách hàng là cốt lõi, xem thu nhập kinh doanh bình thườngcủa khách hàng là nguồn vốn trả nợ chủ yếu, tài sản đảm bảo là nguồn trả nợ thứyếu Do vậy, tài sản bảo đảm không phải là nhân tố chính quyết định có cho mộtdoanh nghiệp vay hay không

- Lý do nhận đảm bảo tín dụng:

Trong khi những công ty lớn và các khách hàng khỏc cú hệ số tín nhiệm caokhông cần có bảo đảm tín dụng Những khách hàng còn lại thường được yêu cầu

Trang 38

phải có biện pháp bảo đảm tín dụng như cầm cố, thế chấp tài sản hay bảo lãnh trả

nợ của người thứ ba Việc ngân hàng nhận bảo đảm tín dụng nhằm hai mục đích là:

thứ nhất, nếu người vay không trả nợ theo quy định, thì ngân hàng có quyền bán tài

sản cầm cố hay thế chấp để thu hồi nợ, thứ hai, nhận bảo đảm tín dụng tạo cho ngân

hàng lợi thế về tâm lý so với người vay Bởi vì một tài sản khi đã là vật đặt cọc (như

xe hơi, đất đai, nhà cửa…), buộc người đặt cọc (người vay) phải có trách nhiệmnhiều hơn trong việc hoàn trả nợ vay để khỏi phải gán những tài sản giá trị củamình

Khi nhận bảo đảm tín dụng, ngân hàng phải xác định rõ ràng và chính xácnhững tài sản nào là đối tượng có thể gán nợ và có thể bán được, đồng thời phảichứng minh được bằng văn bản cho các chủ nợ khác biết rằng mình là người hợppháp có quyền chiếm đoạt tài sản nếu như người vay không trả được nợ Khi đãnhận tài sản thế chấp, ngân hàng sẽ có vị thế ưu tiên trong việc nhận gán nợ so vớicác chủ nợ khác và ngay cả với chủ sở hữu

- Các loại bảo đảm tín dụng thông thường:

a/ Tài khoản phải thu: Ngân hàng nhận bảo đảm tín dụng bằng việc quy định

tỷ lệ % (thông thường từ 40 đến 90%) giá trị của tài khoản phải thu (bán hàng chịu,hay tín dụng thương mại) theo số liệu trên bảng cân đối tài chính Khi khách hàngcủa người vay thanh toán tiền hàng mua chịu, thì số tiền này được dùng để trả nợcho ngân hàng

b/ Bao thanh toán: Ngân hàng có thể mua tài khoản phải thu của người vay

theo một tỷ lệ % nhất định theo giá trị ghi sổ Tỷ lệ % này phụ thuộc vào chất lượng

và thời hạn của các khoản phải thu Bởi vì ngân hàng đã mua khoản phải thu(chuyển giao quyền sở hữu), nên ngân hàng sẽ thông báo cho khách hàng của ngườivay là khoản tiền thanh toán mua hàng chịu sẽ trả trực tiếp cho ngân hàng Thôngthường, người vay phải cam kết với ngân hàng là sẽ bù đắp khoản tiền phải thunhưng thực tế không thu được

c/ Hàng tồn kho: Để bảo đảm tín dụng, ngân hàng có thể nhận hàng tồn kho,

vật tư, nguyên liệu của người vay làm tài sản cầm cố Thông thường, ngân hàng chỉcho vay một tỷ lệ % nhất định (từ 30 đến 80%) trên giá trị thị trường hiện hành của

Trang 39

tài sản cầm cố, nhằm phòng ngừa hàng hóa giảm giá Tài sản cầm cố có thể dongười vay kiểm soát hoàn toàn, nhưng giấy tờ sở hữu do ngân hàng nắm giữ Một

sự lựa chọn khác có thể là, ngân hàng là người nắm giữ tài sản cầm cố cho đến khinào nợ được trả hoàn toàn

d/ Thế chấp tài sản cố định: Các ngân hàng cũng có thể chấp nhận bảo đảm

tín dụng bằng tài sản cố định (đất đai và những công trình gắn liền với đất)

e/ Bảo lãnh của bên thứ ba: Trong trường hợp người vay không có tài sản

bảo đảm tín dụng thì phải có một bên thứ ba đứng ra bảo lãnh Bảo lãnh là việc bênthứ ba cam kết với bên cho vay là sẽ thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho người vay,nếu người vay không trả được nợ thì đến hạn Bảo lãnh có thể là có bảo đảm bằngtài sản hoặc uy tín

f Một số quy định hạn chế tín dụng bằng hạn mức tín dụng, lãi suất

Có thể khẳng định rằng không một ngân hàng nào lường trước được mọi sựbất ngờ khi ký kết một hợp đồng tín dụng Để ngăn ngừa, giảm thiểu rủi ro tín dụngthì Ngân hàng thường áp dụng một số biện pháp hạn chế bằng cách khống chế khốilượng tín dụng, áp dụng nhiều mức lãi suất khác nhau đối với khách hàng Muốnthu được lợi nhuận, ngân hàng phải thực hiện các khoản cho vay có kết quả tốt,được hoàn trả đầy đủ và đúng thời hạn cả gốc và lãi Song do thông tin không cânxứng nên những khách hàng đi vay có những dự án rủi ro lại vẫn có thể được lựachọn, do ngân hàng cú ớt thông tin về những cơ hội đầu tư và về hoạt động của cáckhách hàng vay tiền Khi người đi vay đã có được món tiền vay, có khả năng họ sẽđầu tư vào những dự án có rủi ro cao, khiến họ khó có khả năng hoàn trả lại mónvay cho ngân hàng Một trong những biện pháp giúp ngân hàng đối phó với sự lựachọn đối nghịch và rủi ro đạo đức là việc đưa ra hạn mức tín dụng Ngân hàng cóthể từ chối không cho vay đối với những khách hàng có nhu cầu vay quá lớn hoặccho vay với mức thấp hơn Hơn thế nữa, khi khách hàng muốn vay vốn đầu tư vàonhững dự án có rủi ro cao thì họ cũng sẵn sàng chấp nhận mức lãi suất cao Lãi suấtcao hơn chỉ khiến cho sự lựa chọn đối nghịch xấu thêm với ngân hàng Để ngănngừa rủi ro về đạo đức, ngân hàng sẽ không cấp khối lượng tín dụng quá lớn cho

Trang 40

một khách hàng hay một nhóm khách hàng, chỉ cho vay số tiền ít hơn nhu cầu họmuốn trong đơn đề nghị vay vốn, qua đó kiểm soát được các khoản vay, khả năngthu hồi vốn cao.

1.2.3 Đánh giá hoạt động quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại

Các ngân hàng đã xây dựng được một môi trường tín dụng thích hợp: Hộiđồng quản trị đã thực hiện phê duyệt định kỳ chính sách rủi ro tín dụng, xem xét rủi

ro tín dụng và xây dựng một chiến lược xuyên suốt trong hoạt động của ngân hàng(tỷ lệ nợ xấu, mức độ chấp nhận rủi ro…) Trên cơ sở này, Ban Tổng giám đốc cótrách nhiệm thực thi các định hướng này và phát triển các chính sách, thủ tục nhằmphát hiện, đo lường, theo dõi và kiểm soát nợ xấu trong mọi hoạt động, ở cấp độ củatừng khoản tín dụng và cả danh mục đầu tư Các ngân hàng đã xác định và quản lýrủi ro tín dụng trong mọi sản phẩm và hoạt động của mình, đặc biệt là các sản phẩmmới phải có sự phê duyệt của Hội đồng quản trị hoặc Ủy ban của Hội đồng quản trị

Các ngân hàng đã xác định rõ ràng các tiêu chí cấp tín dụng lành mạnh (thị trườngmục tiêu, đối tượng khách hàng, điều khoản và điều kiện cấp tín dụng…) Các ngânhàng đã xây dựng các hạn mức tín dụng cho từng loại khách hàng vay vốn và nhómkhách hàng vay vốn để tạo ra các loại hình rủi ro tín dụng khác nhau nhưng có thể

so sánh và theo dõi được trên cơ sở xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàngtrong các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau Bất kỳ ngân hàng nào cũng có quy trình

rõ ràng trong phê duyệt tín dụng, các sửa đổi tín dụng với sự tham gia của các bộphận tiếp thị, bộ phận phân tích tín dụng và bộ phận phê duyệt tín dụng cũng nhưtrách nhiệm rạch ròi của các bộ phận tham gia, đồng thời, cần phát triển đội ngũnhân viên quản lý rủi ro tín dụng có kinh nghiệm, kiến thức nhằm đưa ra các nhậnđịnh thận trọng trong việc đánh giá, phê duyệt và quản lý rủi ro tín dụng Việc cấptín dụng cần được thực hiện trên cơ sở giao dịch công bằng giữa cỏc bờn, đặc biệt,cần có sự cẩn trọng và đánh giá hợp lý đối với các khoản tín dụng cấp cho cáckhách hàng có quan hệ

Ngày đăng: 04/11/2014, 10:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Nguyễn Văn Tiến (2005), Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
Tác giả: Nguyễn Văn Tiến
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2005
9. PGS.TS Phan Thu Hà (2009), Quản trị ngân hàng thương mại, NXB Giao thông Vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị ngân hàng thương mại
Tác giả: PGS.TS Phan Thu Hà
Nhà XB: NXBGiao thông Vận tải
Năm: 2009
10. Trần Thu Tâm. 2009. Quản lý nợ xấu phát sinh thách thức cho tiến trình hội nhập các NHTM Việt Nam hiện nay [Trực tuyến]. Địa chỉ:http://www.cib.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=1414&Itemid=113 [Truy cập:16/10/2011] Link
12. Vụ các NH – NHNN. 2009. QL nợ xấu Phần 3: Kinh nghiệm quản lý nợ xấu ở một số quốc gia Kinh nghiệm QL nợ xấu của Trung Quốc” [Trực tuyến]. Địa chỉ: http://www.cib.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=2892&Itemid=113 [Truy cập: 10/10/2011] Link
1. Báo cáo tài chính năm 2009, 2010, quý II/2011 NH TMCP Tiên Phong 2. Báo cáo tài chính năm 2010 NH TMCP Bảo Việt Khác
4. Báo cáo tài chính năm 2010 NH TMCP Sài Gòn – Hà Nội 5. Báo cáo tài chính năm 2010 NH TMCP Sài Gòn Thương Tín 6. Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH Khác
11. Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (2008) Basel II Sự thống nhất quốc tế về đo lường và các tiêu chuẩn vốn, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số 1.1: Các chỉ tiêu xếp hạng tín dụng cá nhân - giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng tmcp tiên phong
Bảng s ố 1.1: Các chỉ tiêu xếp hạng tín dụng cá nhân (Trang 32)
Bảng số 2.1: Sơ lược tình hình phát triển của NH Tiên Phong - giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng tmcp tiên phong
Bảng s ố 2.1: Sơ lược tình hình phát triển của NH Tiên Phong (Trang 47)
Bảng số 2.2: Tình hình huy động vốn tại NH Tiên Phong giai đoạn 2008 - 2010 - giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng tmcp tiên phong
Bảng s ố 2.2: Tình hình huy động vốn tại NH Tiên Phong giai đoạn 2008 - 2010 (Trang 48)
Bảng số 2.3: Các khoản cho vay của NH Tiên Phong theo thời gian - giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng tmcp tiên phong
Bảng s ố 2.3: Các khoản cho vay của NH Tiên Phong theo thời gian (Trang 49)
Bảng số 2.4: Kết quả kinh doanh một số hoạt động khác - giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng tmcp tiên phong
Bảng s ố 2.4: Kết quả kinh doanh một số hoạt động khác (Trang 50)
Bảng số 2.5: Chất lượng các khoản nợ vay (giai đoạn 2008 – 30/06/2011) - giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng tmcp tiên phong
Bảng s ố 2.5: Chất lượng các khoản nợ vay (giai đoạn 2008 – 30/06/2011) (Trang 68)
Bảng số 2.7: Các chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng (giai đoạn 2008 – 30/06/2011) - giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng tmcp tiên phong
Bảng s ố 2.7: Các chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng (giai đoạn 2008 – 30/06/2011) (Trang 69)
Bảng số 2.8: So sánh nợ quá hạn với một số ngân hàng khác trong năm 2010 - giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng tmcp tiên phong
Bảng s ố 2.8: So sánh nợ quá hạn với một số ngân hàng khác trong năm 2010 (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w