Tuy nhiên cũng có thể do tính không hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ tại doanh nghiệp đối với quy trình bán hàng hoặc cũng có thể do yếu tố gian lận trong việc ghi nhận doanh thu v
Trang 1HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
NGUYỄN ĐÌNH HOÀN
HOÀN THIỆN QUY TRÌNH KIỂM TOÁN
DOANH THU BÁN HÀNG TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VIỆT ANH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2012
Trang 2HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
NGUYỄN ĐÌNH HOÀN
HOÀN THIỆN QUY TRÌNH KIỂM TOÁN
DOANH THU BÁN HÀNG TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VIỆT ANH
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60.34.30
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS, TS Thịnh Văn Vinh
HÀ NỘI - 2012
Trang 3Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGUYỄN ĐÌNH HOÀN
Trang 4Số hiệu bảng Tên bảng Trang
2.1 Trích số liệu phân tích sơ bộ Bảng cân đối kế toán tại ngày 31/12/2011 của Công ty Xi măng 462.2 Trích số liệu phân tích sơ bộ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2011 của Công ty Xi măng 49
DANH MỤC SƠ ĐỒ
2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy của Công ty TNHH Kiểm toán Việt Anh 27
Trang 5Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục sơ đồ
Chương 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUY TRÌNH KIỂM
TOÁN DOANH THU BÁN HÀNG TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO
1.1 Khái quát về doanh thu và kế toán doanh thu bán hàng trong kiểm toán
1.1.3 Đặc điểm của doanh thu bán hàng và ảnh hưởng tới công tác
1.2 Những nội dung cơ bản về kiểm toán doanh thu bán hàng trong kiểm
1.2.1 Ý nghĩa của kiểm toán doanh thu bán hàng trong kiểm toán báo
1.2.4 Quá trình kiểm soát nội bộ doanh thu và khảo sát kiểm soát nội
1.3 Quy trình kiểm toán doanh thu bán hàng trong kiểm toán báo cáo tài
1.3.3 Giai đoạn kết thúc kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng 24
Trang 62.1 Giới thiệu chung về Công ty TNHH Kiểm toán Việt Anh 252.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Việt Anh 25
2.1.3 Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính của Công ty Việt Anh 332.2 Thực trạng quy trình kiểm toán doanh thu bán hàng trong kiểm toán
2.3 Đánh giá thực trạng quy tình kiểm toán doanh thu bán hàng trong kiểm
2.3.1 Ưu điểm của quy trình kiểm toán doanh thu bán hàng trong kiểm
2.3.2 Nhược điểm của quy trình kiểm toán doanh thu bán hàng trong
2.3.4 Những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực trạng quy trình kiểm
Chương 3: HOÀN THIỆN QUY TRÌNH KIỂM TOÁN DOANH THU
BÁN HÀNG TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁI TÀI CHÍNH TẠI
3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện quy trình kiểm toán doanh thu bán hàng
3.1.2 Sự cần thiết phải hoàn thiện quy trình kiểm toán doanh thu bán
3.2 Nguyên tắc và yêu cầu hoàn thiện quy trình kiểm toán doanh thu bán
Trang 73.3.2 Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán doanh thu bán hàng 80
NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Báo cáo tài chính là hệ thống báo cáo được lập nhằm phản ánh tổng quát, toàn diện tình hình tài chính của doanh nghiệp Tính trung thực, hợp lý của các thông tin tài chính được phản ánh trên báo cáo tài chính là cơ sở đầu tiên đảm bảo cho việc ra quyết định hợp lý của các đối tượng quan tâm Và dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính đã ra đời như một nhu cầu tất yếu khách quan nhằm kiểm tra, xác nhận mức
độ trung thực, hợp lý tin cậy của các thông tin được trình bày và công bố trên báo cáo tài chính với các tiêu chuẩn, chuẩn mực đã được thiết lập
Trong các loại hình kiểm toán báo cáo tài chính (theo chủ thể kiểm toán), kiểm toán độc lập báo cáo tài chính là hoạt động đặc trưng nhất của nền kinh tế thị trường Cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế, số lượng của các công
ty kiểm toán ngày càng tăng, quy mô của từng công ty cũng không ngừng được mở rộng Do vậy, việc đảm bảo và nâng cao chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính đã
và đang được nhiều đối tượng quan tâm nhất là trong điều kiện bước đầu hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới
Đối tượng của kiểm toán báo cáo tài chính là các báo cáo tài chính, gồm Bảng cân đối kế toán, Kết quả hoạt động kinh doanh, Lưu chuyển tiền tệ và Thuyết minh báo cáo tài chính Các báo cáo này chứa đựng những thông tin tài chính và thông tin phi tài chính, thông tin định lượng và thông tin không địnhh lượng, phản ánh tình hình tài chính, kết quả kinh doanh, tình hình, kết quả lưu chuyển tiền tệ và các thông tin cần thiết khác để người sử dụng báo cáo tài chính có thể phân tích, đánh giá đúng đắn tình hình và kết quả kinh doanh của đơn vị
Trang 9Kiểm toán doanh thu bán hàng thường là công việc quan trọng, phức tạp, chiếm nhiều thời gian trong kiểm toán báo cáo tài chính Trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp, doanh thu bán hàng thường là khoản mục có giá trị lớn và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động kinh, xác định nghĩa vụ phải nộp thuế thu nhập doang nghiệp Những sai sót trên khoản mục này thường dẫn đến sai sót trọng yếu
về kết quả hoạt động kinh doanh nên doanh thu bán hàng thường là khoản mục chứa nhiều rủi ro đối với kiểm toán viên Do vậy, với mục tiêu không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp, việc nghiên cứu và hoàn thiện quy trình kiểm toán báo cáo tài chính nói chung và đặc biệt là hoàn thiện quy trình kiểm toán doanh thu bán hàng nói riêng là việc làm hết sức cần thiết đối với các công ty kiểm toán độc lập.Mặt khác, xuất phát từ thực trạng kiểm toán doanh thu bán hàng trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán Việt Anh đang còn có các hạn
chế nên tác giả đã chọn đề tài “Hoàn thiện quy trình kiểm toán doanh thu bán hàng trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán Việt Anh”
là cần thiết để góp phần phát triển dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính nói riêng và dịch vụ tài chính nói chung trong tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích chính của đề tài là hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán Việt Anh Ðể thực hiện mục đích trên, luận văn tập trung vào các mục đích cụ thể sau:
- Hệ thống hóa về mặt lý luận đối với quy trình kiểm toán doanh thu bán hàng trong kiểm toán báo cáo tài chính
- Nêu thực trạng cũng như hệ thống và phân tích có cơ sở khoa học trình tự, thủ tục các bước tiến hành kiểm toán doanh thu bán hàng trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty TNHH Kiểm toán Việt Anh thực hiện
Trang 10- Trên cơ sở khảo sát thực tế, nghiên cứu quy trình kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng trong thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán Việt Anh, luận văn đi vào phân tích, đánh giá thực trạng kiểm toán doanh thu bán hàng, từ đó đề ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình kiểm toán doanh thu bán hàng trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Kiểm toán Việt Anh.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Ðề tài nghiên cứu về lý luận và thực tiễn quy trình kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán Việt Anh Đề tài không nghiên cứu kiểm toán chu kỳ doanh thu bán hàng trong kiểm toán báo cáo tài chính, không nghiên cứu các thủ tục và nguyên tắc cần tuân thủ khi kiểm toán doanh thu bán hàng trong môi trường tin học
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tập trung vào quy trình kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng trong một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính (không nghiên cứu cho một cuộc kiểm toán doanh thu bán hàng độc lập, kết thúc không phải lập báo cáo kiểm toán) do Công ty Kiểm toán Việt Anh thực hiện, dựa trên cơ sở khảo sát tình hình kiểm toán báo cáo tài chính cùng với nghiên cứu quy trình kiểm toán doanh thu bán hàng tại một số khách hàng được thực hiện bởi Công ty TNHH Kiểm toán Việt Anh
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn đã khái quát, hệ thống hóa cơ sở lý luận về kiểm toán doanh thu bán hàng Phản ánh thực trạng quy trình kiểm toán doanh thu bán hàng trong kiểm toán báo cáo tài chính của Công ty TNHH Kiểm toán Việt Anh, từ đó đưa ra những nhận xét, đánh giá về các kết quả đã đạt được, những hạn chế và bất cập cần phải hoàn thiện trong quá trình thực hiện kiểm toán doanh thu bán hàng
Kết hợp giữa lý luận với thực tiễn về quy trình kiểm toán doanh thu bán hàng trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán Việt Anh, luận văn
đã đưa ra một số nội dung chủ yếu để hoàn thiện quy trình và phương pháp kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng trong kiểm toán báo cáo tài chính
Trang 115 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được trình bày gồm 3 chương:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về quy trình kiểm toán doanh thu bán hàng trong kiểm toán báo cáo tài chính
Chương 2: Thực trạng quy trình kiểm toán doanh thu bán hàng trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán Việt Anh
Chương 3: Hoàn thiện quy trình kiểm toán doanh thu bán hàng trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán Việt Anh
CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUY TRÌNH KIỂM TOÁN
DOANH THU BÁN HÀNG TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1 Khái quát về doanh thu và kế toán doanh thu bán hàng trong kiểm toán báo cáo tài chính
1.1.1 Khái niệm doanh thu, phân loại doanh thu bán hàng
1.1.1.1 Khái niệm doanh thu
Theo Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 14- Doanh thu và thu nhập khác:
“Doanh thu là tổng lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu” Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu được
Như vậy, doanh thu được xác định bao gồm tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được Bởi vậy các khoản thu hộ bên thứ ba không được coi là doanh thu vì không phải là nguồn lợi ích kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp hay như các khoản vốn góp của cổ đông mặc dù làm tăng vốn chủ sở hữu nhưng không phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp nên cũng không được coi là doanh thu
Trang 121.1.1.2 Phân loại doanh thu
Căn cứ theo lĩnh vực hoạt động, doanh thu trong doanh nghiệp bao gồm: doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanh thu nội bộ, doanh thu hoatn động tài chính và thu nhập khác
- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: là toàn bộ số tiền đã thu được hoặc
sẽ thu được từ các giao dịch và các nghiệp vụ phát sinh doanh thu như bán sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho khách hàng bao gồm cả các khoản phụ thu
và phí thu thêm ngoài (nếu có)
- Doanh thu nội bộ: là toàn bộ số tiền đã thu được hoặc sẽ thu được do bán
hàng hóa, sản phẩm, cung cấp dịch vụ tiêu dùng nội bộ giữa các đơn vị trực thuộc trong cùng một doanh nghiệp
- Doanh thu hoạt động tài chính: bao gồm các khoản tiền lãi từ hoạt động cho
vay, lãi tiền gửi, lãi bán hàng trả chậm, trả góp; cổ tức và lợi nhuận được chia; thu nhập từ hoạt động đầu tư mua bán chứng khoán ngắn hạn và dài hạn; chênh lệch do bán ngoại tệ, khoản lãi chênh lệch tỷ giá ngoại tệ; chênh lệch lãi chuyển nhượng vốn và các khoản thu nhập từ các hoạt động tài chính khác
- Thu nhập khác: là các khoản thu từ hoạt động xảy ra không thường xuyên
như nhượng bán, thanh lý tài sản cố định, tiền phạt do khách hàng vi phạm hợp đồng, nhận quà tặng, quà biếu…
1.1.2 Kế toán doanh thu bán hàng
Việc xác định và ghi nhận doanh thu phải tuân thủ các quy định theo Chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành kèm theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 14- Doanh thu và thu nhập khác và các Chuẩn mực Kế toán Việt Nam có liên quan khác
Ghi nhận doanh thu và chi phí phải theo nguyên tắc doanh thu phù hợp với chi phí Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì đồng thời phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra khoản doanh thu đó
Trang 13a) Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn tất cả năm (5) điều kiện sau:
- Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua;
- Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa;
- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;
- Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng;
- Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng
b) Doanh thu của giao dịch về cung cấp dịch vụ được ghi nhận khi kết quả của giao dịch đó được xác định một cách đáng tin cậy Trường hợp giao dịch về cung cấp dịch vụ liên quan đến nhiều kỳ thì doanh thu được ghi nhận trong kỳ theo kết quả phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng Cân đối kế toán của kỳ đó Kết quả của giao dịch cung cấp dịch vụ được xác định khi thỏa mãn tất cả bốn (4) điều kiện sau:
- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;
- Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch cung cấp dịch vụ đó;
- Xác định được phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng Cân đối kế toán;
- Xác định được chi phí phát sinh cho giao dịch và chi phí để hoàn thành giao dịch cung cấp dịch vụ đó
c) Doanh thu phát sinh từ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia của doanh nghiệp được ghi nhận khi thỏa mãn đồng thời hai (2) điều kiện sau:
- Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch đó;
- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn
Trang 14Doanh thu phải được theo dõi riêng biệt theo từng loại doanh thu Trong từng loại doanh thu lại được chi tiết theo từng khoản doanh thu, như doanh thu bán hàng
có thể được chi tiết thành doanh thu bán sản phẩm, hàng hóa nhằm phục vụ cho việc xác định đầy đủ, chính xác kết quả kinh doanh theo yêu cầu quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh và lập BCKQHĐKD của doanh nghiệp
Cuối kỳ kết toán, toàn bộ doanh thu thuần thực hiện được trong kỳ kế toán được kết chuyển vào tài khoản 911- Xác định kết quả kinh doanh Các tài khoản doanh thu không có số dư cuối kỳ
Theo Hệ thống Tài khoản Kế toán Việt Nam hiện hành, các tài khoản được sử dụng để phản ánh doanh thu bao gồm:
- Tài khoản 511- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
- Tài khoản 512- Doanh thu bán hàng nội bộ
- Tài khoản 515- Doanh thu hoạt động tài chính
- Tài khoản 521- Chiết khấu thương mại
- Tài khoản 531- Hàng bán bị trả lại
- Tài khoản 532- Giảm giá hàng bán
- Tài khoản 3387- Doanh thu chưa thực hiện
- Tài khoản 711- Thu nhập khác
1.1.3 Đặc điểm của doanh thu bán hàng và ảnh hưởng tới công tác kiểm toán doanh thu bán hàng
Trang 15Đặc điểm của doanh thu bán hàng chủ yếu do tính chất ngành nghề kinh doanh quy định Nhưng nhìn chung, đặc điểm của doanh thu bán hàng là thường biến động theo thị hiếu của thị trường, theo tính chất mùa vụ, theo tình hình kinh tế xã hội Ngoài ra, doanh thu bán hàng có thể tăng hoặc giảm do ảnh hưởng lợi thế hay bất lợi từ việc thay đổi các chính sách của Nhà nước Bởi vậy, khi tìm hiểu về doanh nghiệp, kiểm toán viên cần tiến hành đánh giá toàn diện các yếu tố có thể ảnh hưởng đến khả năng biến động doanh thu bán hàng của doanh nghiệp như: yếu tố thị hiếu (ví dụ đối với các mặt hàng thời trang, mỹ phẩm…) hay yếu tố mùa vụ (ví
dụ đối với các mặt hàng nông sản, điện lạnh,…) hay yếu tố kinh tế xã hội (điện tử viễn thông, bất động sản, vật liệu xây dựng ) hay yếu tố chính sách Nhà nước (ví dụ các hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, kinh doanh bất động sản…) Từ các hiểu biết chung đó, kiểm toán viên mới đánh giá được mức độ ảnh hưởng hợp lý của các yếu tố trên tới sự thay đổi doanh thu bán hàng trong năm tài chính để đi đến nhận định về sự tăng hay giảm doanh thu bán hàng trong năm của doanh nghiệp có được giải thích phù hợp hay còn tiềm ẩn sai phạm trong việc ghi nhận doanh thu để
từ đó kiểm toán viên có cơ sở quyết định thủ tục kiểm toán phù hợp
Trang 16Do tính chất phức tạp và nhạy cảm của quy trình doanh thu mà hệ thống kiểm soát nội bộ tại doanh nghiệp cần được thiết kế khoa học, chặt chẽ mới đảm bảo hoạt động kiểm soát nội bộ có hiệu quả, giảm thiểu được các sai phạm có thể xảy ra từ khâu xử lý đơn hàng của khách hàng đến khi tiêu thụ, thu được tiền hàng của khách hàng hay theo dõi thu hồi công nợ Tuy nhiên cũng có thể do tính không hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ tại doanh nghiệp đối với quy trình bán hàng hoặc cũng có thể do yếu tố gian lận trong việc ghi nhận doanh thu (ví dụ như tình huống điều tiết doanh thu để hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh năm, hay tăng doanh thu đối với một số công ty niêm yết chứng khoán trên sàn chứng khoản để có được báo cáo tài chính đẹp nhằm thu hút sự đầu tư của các nhà đầu tư hay để phục
vụ cho mục đích vay vốn ngân hàng hoặc tình huống ghi giảm doanh thu nhằm mục đích trốn, tránh thuế, điều tiết lợi nhuận cho các năm sau…) Do đó, doanh thu được phản ánh trên sổ kế toán có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với thực tế phát sinh Ngoài ra, có thể do một số trường hợp việc phân loại doanh thu không phù hợp có thể dẫn đến sai sót trong việc xác định kết quả sản xuất kinh doanh, tính không đúng nghĩa vụ thuế phải nộp như việc chuyển doanh thu nhóm hàng có thuế suất cao sang nhóm hàng có thuế suất thấp, doanh thu từ hoạt động thông thường sang hoạt động được ưu đãi miễn giảm thuế
Đây chính là các sai phạm liên quan đến việc ghi nhận doanh thu mà kiểm toán viên cần phải nắm vững đồng thời đối với từng trường hợp khách hàng cụ thể, trên cơ sở đánh giá hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ đối với quy trình bán hàng cũng như các điều kiện có thể dẫn đến việc doanh nghiệp cố tình ghi nhận không đúng doanh thu mà kiểm toán viên có thể phân tích, đánh giá để đi đến nhận định rủi ro cụ thể có thể xảy ra trong việc ghi nhận doanh thu không phù hợp Đây
là cũng là một căn cứ để kiểm toán viên quyết định lựa chọn thủ tục kiểm toán phù hợp nhằm phát hiện các sai phạm trong việc phản ánh doanh thu tại doanh nghiệp
để có sự điều chỉnh hay ý kiến kiểm toán phù hợp
1.2 Những nội dung cơ bản về kiểm toán doanh thu bán hàng trong kiểm toán báo cáo tài chính
Trang 171.2.1 Ý nghĩa của kiểm toán doanh thu bán hàng trong kiểm toán báo cáo tài chính
Doanh thu bán hàng là một chỉ tiêu quan trọng trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định, nó tác động trực tiếp đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, là cơ sở để xác định lợi nhuận, thuế thu nhập doanh nghiệp và các nghĩa vụ khác của doanh nghiệp
Doanh thu bán hàng thường được quan tâm, chú trọng khi xem xét báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Đây cũng là một chỉ tiêu có tính nhạy cảm cao
và dễ tiềm ẩn các sai phạm trong việc ghi nhận và trình bày trên báo cáo tài chính Ngoài ra, doanh thu bán hàng là chỉ tiêu có mối quan hệ mật thiết với các chỉ tiêu khác trên báo cáo tài chính như: chỉ tiêu Tiền, Phải thu khách hàng, Hàng tồn kho, Giá vốn hàng bán… Do đó, nếu như có bất kỳ sai phạm nào xảy ra đối với khoản mục doanh thu bán hàng sẽ dẫn đến các chỉ tiêu có liên quan trên cũng không được phản ánh đúng đắn, phù hợp Như vậy, thông qua việc kiểm toán doanh thu có thể phát hiện các gian lận, sai sót trong việc phản ánh các chỉ tiêu có liên quan và ngược lại
1.2.2 Mục tiêu kiểm toán doanh thu bán hàng
Mục tiêu của kiểm toán doanh thu bán hàng là kiểm toán viên phải đưa ra được ý kiến xác nhận chỉ tiêu doanh thu bán hàng, việc ghi nhận doanh thu bán hàng của doanh nghiệp có phù hợp với các quy định hiện hành, có được hạch toán đầy đủ, đúng kỳ, phản ánh được trung thực, hợp lý tình hình kinh doanh của doanh nghiệp xét trên các khía cạnh trọng yếu không? Cụ thể kiểm toán viên phải thông qua việc kiểm toán doanh thu bán hàng phải đạt được các mục tiêu cụ thể sau:
- Tính có thật: Doanh thu bán hàng thực tế có thể không xảy ra;
- Tính đầy đủ: Doanh thu có thể không được ghi nhận đầy đủ;
- Đánh giá: Doanh thu có thể không được tính toán đúng và ghi sổ chính xác;
- Tính đúng kỳ: Doanh thu bán hàng có thể không được ghi nhận đúng kỳ;
- Phân loại: Có thể doanh thu không được phân loại đúng đắn
1.2.3 Căn cứ kiểm toán doanh thu bán hàng
Trang 18Tài liệu phục vụ cho kiểm toán doanh thu bán hàng, bao gồm:
- Chế độ kế toán, Chuẩn mực Kế toán Việt Nam, các quy định hiện hành về kế toán doanh thu bán hàng;
- Các chính sách, quy chế, quy định về kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp đối với hoạt động bán hàng;
- Báo cáo tài chính của doanh nghiệp như: Bảng Cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Thuyết minh Báo cáo tài chính;
- Sổ sách kế toán như: sổ tổng hợp, sổ chi tiết các tài khoản liên quan, sổ nhật
ký bán hàng;
- Hồ sơ chứng từ liên quan của doanh nghiệp như: đơn đặt hàng, hợp đồng kinh tế, biên bản thanh lý hợp đồng, phiếu xuất kho, hoá đơn, biên bản giao nhận hàng hóa, phiếu thu, giấy báo có…
- Các tài liệu liên quan khác
1.2.4 Quá trình kiểm soát nội bộ doanh thu và khảo sát kiểm soát nội bộ doanh thu
1.2.4.1.Quá trình kiểm soát nội bộ doanh thu
Hệ thống kiểm soát nội bộ của mỗi đơn vị được xây dựng nhằm mục tiêu kiểm soát, đảm bảo các hoạt động của doanh nghiệp luôn tuân theo các quy định của pháp luật, tuân theo các quy chế, quy định, trình tự thủ tục do đơn vị đề ra Đối với doanh thu bán hàng, quá trình kiểm soát nội bộ nhằm đáp ứng các yêu cầu như:
- Mọi chuyến hàng bán ra đều phải có hợp đồng, đơn đặt hàng của khách hàng, hợp đồng vận chuyển, chứng từ vận chuyển, biên bản giao nhận, biên bản thanh lý hợp đồng
- Doanh nghiệp phải có hệ thống bảng biểu về giá bán, tỷ lệ chiết khấu, giảm giá, chính sách bán hàng trong từng giai đoạn được phê duyệt
- Doanh nghiệp phải có hệ thống sổ sách đầy đủ theo dõi thực hiện bán hàng theo từng đơn hàng, từng thương vụ: sổ kế toán tổng hợp, chứng từ, nhật ký bán hàng, báo cáo bán hàng, bảng kê bán hàng, sổ nhật ký bảo vệ, thẻ kho được ghi chép đầy đủ, kịp thời mọi nghiệp vụ bán hàng
Trang 19- Doanh nghiệp phải có sự tách biệt độc lập giữa các bộ phận tham gia bán hàng như người phê duyệt với người thực hiện, kế toán với thủ kho, kiểm tra với thực hiện
- Phải thể hiện được dấu hiệu của kiểm soát nội bộ trên toàn bộ các hồ sơ, chứng từ, sổ sách liên quan đến công tác bán hàng của những người có liên quan
- Định kỳ có sự đối chiếu số liệu với người mua hàng
1.2.4.2 Khảo sát kiểm soát nội bộ doanh thu
- Mục tiêu khảo sát làm rõ cơ sở dẫn liệu của kiểm soát nội bộ doanh thu Các
cơ sở dẫn liệu cần làm rõ khi khảo sát hệ thống kiểm soát nội bộ là:
+ Sự hiện hữu: Xem xét cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt động, mối quan hệ của hệ thống kiểm soát nội bộ, sự hiện hữu của quy chế kiểm soát nội bộ, các chính sách kiểm soát, các quy định về kiểm soát nội bộ;
+ Tính hiệu lực: Khảo sát sự vận hành của quy chế kiểm soát nội bộ, tính chặt chẽ
và phù hợp của quy chế kiểm soát nội bộ, đánh giá tính hiệu lực, hiệu quả và độ tin cậy của hệ thống kiểm soát nội bộ;
+ Tính liên tục: Xem xét, phát hiện những hạn chế của hệ thống kiểm soát nội
bộ của doanh nghiệp, đánh giá về hiệu quả hoạt động liên tục của hệ thống kiểm soát nội bộ, tình hình thực hiện các nguyên tắc tổ chức hoạt động kiểm soát nội bộ
- Nội dung khảo sát: khảo sát việc xây dựng (thiết kế) và thực hiện (vận hành) quy chế kiểm soát nội bộ doanh thu Cần đánh giá được các quy chế kiểm soát nội
bộ doanh thu được thiết kế như thế nào và thực hiện như thế nào, cụ thể:
+ Đảm bảo các nghiệp vụ bán hàng được ghi sổ là có căn cứ hợp lý;
+ Đảm bảo các khoản doanh thu bán hàng được phê chuẩn đúng đắn;
+ Đảm bảo sự đánh giá đúng đắn, hợp lý của các nghiệp vụ bán hàng;
+ Đảm bảo sự phân loại, hạch toán đúng đắn các khoản doanh thu bán hàng;+ Đảm bảo cho việc hạnh toán đày đủ, đúng kỳ các nghiệp vụ bán hàng;
+ Đảm bảo sự cộng dồn đúng đắn các nghiệp vụ bán hàng
- Phương pháp khảo sát: để thực hiện khảo sát kiểm soát nội bộ có thể thực hiện các phương pháp như:
Trang 20+ Kiểm tra: là việc kiểm tra, đánh giá sự tồn tại, tính đầy đủ, chặt chẽ, phù hợp
và hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ;
+ Quan sát: thực hiện tiếp cận và quan sát về thiết kế và vận hành của hệ thống kiểm soát nội bộ, giúp cho kiểm toán viên hiểu khái quát, sơ bộ đánh giá về kiểm soát nội bộ và giúp kiểm toán viên đánh giá phân tích các trọng yếu kiểm toán; + Phỏng vấn: Trao đổi, phỏng vấn các cán bộ quản lý và nhân viên có trách nhiệm của doanh nghiệp Qua những cuộc tiếp xúc, ngoài việc tìm hiểu về phương diện chuyên môn, kiểm toán viên cũng đánh giá sơ bộ về năng lực, phẩm chất các nhân viên của doanh nghiệp
1.3 Quy trình kiểm toán doanh thu bán hàng trong kiểm toán báo cáo tài chính
Trong kiểm toán báo cáo tài chính nói chung, kiểm toán doanh thu bán hàng nói riêng, để thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có giá trị làm căn cứ cho kết luận của kiểm toán viên về tính trung thực, hợp lý của các thông tin trình bày trên báo cáo tài chính đồng thời phải đạt hiệu quả kinh tế cho công ty kiểm toán, kiểm toán viên phải xác định quy trình kiểm toán cho cuộc kiểm toán đó Thông thường, quy trình kiểm toán được thực hiện qua 3 giai đoạn: lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kiểm toán và kết thúc kiểm toán
1.3.1 Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên của một cuộc kiểm toán, nó có vai trò quan trọng và ảnh hưởng đến chất lượng cũng như hiệu quả của toàn bộ cuộc kiểm toán Đó không chỉ là quá trình nhằm chuẩn bị những điều kiện cơ bản cho một cuộc kiểm toán mà còn là nguyên tắc cơ bản đã được quy định thành chuẩn mực đòi hỏi các kiểm toán viên phải tuân thủ khi tiến hành kiểm toán Do đó, việc lập kế hoạch kiểm toán gắn với kiểm toán doanh thu bán hàng được triển khai qua các bước công việc như sau:
- Chuẩn bị cho cuộc kiểm toán;
- Thu thập thông tin cơ sở về khách hàng;
- Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng;
Trang 21- Thực hiện các thủ tục phân tích;
- Đánh giá ban đầu về tính trọng yếu và rủi ro;
- Nghiên cứu, đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát;
- Thiết kế chương trình kiểm toán doanh thu bán hàng
Bước 1: Chuẩn bị cho cuộc kiểm toán
Quy trình kiểm toán được bắt đầu từ khi công ty kiểm toán nhận được đơn đặt hàng của doanh nghiệp Trên cơ sở đó, công ty kiểm toán xác định khả năng chấp nhận đơn đặt hàng, lý do kiểm toán của doanh nghiệp Đồng thời, công ty kiểm toán ước lượng quy mô phức tạp của cuộc kiểm toán và lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán thích hợp để thực hiện cuộc kiểm toán Và công việc cuối cùng trong giai đoạn chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán là thực hiện ký kết hợp đồng kiểm toán giữa doanh nghiệp và công ty kiểm toán
Bước 2: Thu thập thông tin cơ sở
Sau khi ký hợp đồng kiểm toán, kiểm toán viên bắt đầu lập kế hoạch kiểm toán tổng thể Trong bước công việc này, kiểm toán viên cần thu thập được các thông tin như:
- Thông tin chung về doanh nghiệp như: tên doanh nghiệp, loại hình doanh nghiệp, địa chỉ và sổ điện thoại, các thông tin khác ;
- Thông tin về quá trình hình thành và phát triển;
- Thông tin về nghành nghề và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp;
Ngoài ra, kiểm toán viên có thể xem xét lại kết quả kiểm toán phần hành doanh thu bán hàng của lần kiểm toán trước (nếu có) Các kết quả thanh, kiểm tra của cơ quan chức năng (nếu có)
Đây là những thông tin cơ sở cần thiết cho việc việc đánh giá tổng quát báo cáo tài chính nói chung và các thông tin liên quan đến doanh thu bán hàng nói riêng
Do đó, kiểm toán viên cần có những hiểu biết nhất định về tình hình hoạt động doanh nghiệp nói chung và về bán hàng nói riêng của đơn vị được kiểm toán
Bước 3: Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp
Trang 22Mục đích của việc thu thập các thông tin này là giúp kiểm toán viên nắm bắt được quy trình mang trình mang tính chất pháp lý của doanh nghiệp ảnh hưởng như thế nào đến các mặt hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Cách thức thu thập thông tin chủ yếu là thông qua phỏng vấn đối với Ban Giám đốc doanh nghiệp, các thông tin pháp lý cần thu thập bao gồm:
- Các hợp đồng và các cam kết quan trọng như: hợp đồng tín dụng, hợp đồng thuê tài chính, hợp đồng bảo hiểm,… các thông tin này giúp kiểm toán viên tiếp cận với những hoạt động tài chính của doanh nghiệp, những khía cạnh pháp lý có ảnh hưởng đến tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp;
Bước 4: Thực hiện các thủ tục phân tích
Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, việc thực hiện thủ tục phân tích sẽ giúp kiểm toán viên xác định trọng tâm kiểm toán báo cáo tài chính nói chung và trọng tâm của kiểm toán doanh thu bán hàng nói riêng
Thông thường trong kiểm toán doanh thu bán hàng, thủ tục phân tích, đánh giá tổng quát được áp dụng trong tất cả các giai đoạn của cuộc kiểm toán Các thủ tục phân tích có thể là:
Trang 23 Bước 5: Đánh giá ban đầu về trọng yếu và rủi ro
Ở các bước trên, kiểm toán viên mới chỉ thu thập các thông tin mang tính khách quan, đến bước này, kiểm toán viên phải căn cứ vào các thông tin đã thu thập được để đánh giá nhận xét nhằm đưa ra một kế hoạch phù hợp
- Đánh giá tính trọng yếu
Khi lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên phải xác định mức trọng yếu có thể chấp nhận được để làm tiêu chuẩn phát hiện các sai sót trọng yếu về mặt định lượng Đây cũng là công việc xét đoán mang tính nghề nghiệp của kiểm toán viên
và được thực hiện qua các bước:
+ Ước lượng ban đầu về tính trọng yếu;
+ Phân bổ ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho các khoản mục trong đó
có khoản mục doanh thu bán hàng;
- Rủi ro kiểm toán
Rủi ro kiểm toán là khả năng mà một Báo cáo kiểm toán không chuẩn xác, không thích hợp có thể được kiểm toán viên đưa ra Nếu trong BCTC còn có những sai sót và gian lận nghiêm trọng mà kiểm toán viên không phát hiện ra, do đó đưa ra
ý kiến nhận xét không thích hợp về BCTC, lúc đó sẽ có rủi ro kiểm toán
Mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán có mối quan hệ ngược chiều nhau, nếu mức trọng yếu được đánh giá cao thì rủi ro kiểm toán càng thấp và ngược lại Việc xác định mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán tương đối phức tạp, đòi hỏi kiểm toán viên phải có đủ trình độ cũng như kinh nghiệm phán đoán
Bước 6: Nghiên cứu, đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi
ro kiểm soát
- Nghiên cứu, đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ
Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp và đánh giá rủi ro kiểm soát là một phần việc hết sức quan trọng mà kiểm toán viên phải thực hiện trong một cuộc kiểm toán
Trang 24Việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ với quy trình bán hàng là cần thiết vì
nó là cơ sở cho việc xác định phạm vi thực hiện các thử nghiệm cơ bản với doanh thu bán hàng Các thông tin về hệ thống kiểm soát nội bộ với quy trình bán hàng cần được thu thập là:
+ Rà soát các biện pháp kiểm soát nội bộ trong suốt quy trình bán hàng (từ khi
có đơn đặt hàng đến khi giao hàng)
+ Khảo sát một số thủ tục kiểm soát nội bộ điển hình:
Kiểm soát độc lập quá trình lập hoá đơn và quá trình ghi sổ doanh thu bán hàng, hàng bán trả lại;
Kiểm tra xem doanh nghiệp có sử dụng một sơ đồ tài khoản đầy đủ và đúng đắn không;
Có các thủ tục quy định việc tính tiền và ghi sổ doanh thu hàng ngày không, đặc biệt là trước và sau kỳ khoá sổ kế toán;
Có phê duyệt hoá đơn bán hàng, đơn đặt hàng, huỷ đơn hàng, chiết khấu, tỷ
lệ chiết khấu, hàng bán trả lại không, có sự phê chuẩn phương thức bán hàng chịu, phương thức thanh toán, cước vận chuyển không;
Hợp đồng bán hàng có mẫu không, các hợp đồng bán hàng có được đánh số
và được theo dõi chặt chẽ không;
Doanh nghiệp có quy định mức giá, chiết khấu, hạn mức tín dụng không; Những thủ tục hợp lý được thực hiện để đánh giá khách hàng mới;
Kiểm tra sự thống nhất giữa hoá đơn bán hàng và phiếu giao hàng;
Kiểm tra sự thống nhất giữa hóa đơn bán hàng và đơn đặt hàng;
Kiểm tra sự thống nhất giữa chứng từ vận chuyển và các đơn đặt hàng đã phê chuẩn Các hợp đồng vận chuyển có đều được đánh số và ghi chép không;
Thứ tự liên tục của hoá đơn bán hàng và phiếu giao hàng, có được đánh số trước và được ghi chép không;
Có phân định trách nhiệm và ghi sổ Nhật ký bán hàng với ghi sổ chi tiết các khoản phải thu hay không
Trang 25- Đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát đối với doanh thu bán hàng
Trên cơ sở các thông tin đã thu thập được về hệ thống kiểm soát nội bộ đối với quy trình bán hàng, kiểm toán viên sẽ đưa ra đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát đối với doanh thu bán hàng Mức rủi ro kiểm soát có thể là thấp, trung bình hoặc cao tùy thuộc vào đánh giá của kiểm toán viên về tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ đối với quy trình bán hàng Mức rủi ro kiểm soát được xác định là cao nếu hoạt động kiểm soát được đánh giá là không hiệu quả Khi đó, kiểm toán viên
sẽ phải tiến hành nhiều hơn các thủ tục kiểm tra chi tiết với nghiệp vụ doanh thu bán hàng
Bước 7: Thiết kế chương trình kiểm toán doanh thu bán hàng
Thông thường các công ty kiểm toán thường phải nghiên cứu, xây dựng cho mình chương trình kiểm toán mẫu đặc thù cho từng phần hành Và dựa trên cơ sở hiểu biết của kiểm toán viên về tình hình kinh doanh của khách hàng, đặc điểm của doanh thu bán hàng, hệ thống kế toán, hệ thống kiểm soát nội bộ đối với quy trình bán hàng và nghiên cứu, đánh giá ban đầu về tính trọng yếu và rủi ro kiểm toán, kiểm toán viên sẽ xác định cụ thể ở từng khách hàng các thủ tục kiểm toán phù hợp
để thu thập bằng chứng kiểm toán, xây dựng lịch trình và quy mô chọn mẫu thực hiện các thủ tục kiểm toán đó
Như vậy, lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên, là tiền đề quan trọng
cho toàn bộ cuộc kiểm toán Việc lập kế hoạch kiểm toán khoa học, phù hợp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiến hành hai giai đoạn tiếp theo là thực hiện kiểm toán
và kết thúc kiểm toán, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động dịch vụ cung cấp, tăng cường khả năng cạnh tranh của công ty kiểm toán
1.3.2 Giai đoạn thực hiện kiểm toán doanh thu bán hàng
Trang 26Thực hiện kiểm toán doanh thu bán hàng là giai đoạn kiểm toán viên triển khai thực tế các công việc đã được thiết kế trong kế hoạch kiểm toán và chương trình kiểm toán doanh thu bán hàng Đây là giai đoạn kiểm toán viên thực hiện vận dụng các thủ tục kiểm toán như thử nghiệm kiểm soát hay thử nghiệm cơ bản nhằm thu thập các bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp đảm bảo đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý của việc trình bày và công bố các chỉ tiêu liên quan đến doanh thu bán hàng trên báo cáo tài chính.
Thực hiện các thử nghiệm kiểm soát
Kết quả các khảo sát về hoạt động kiểm soát nội bộ đối với quy trình bán hàng
sẽ là căn cứ để kiểm toán viên đưa ra quyết định về mức độ rủi ro kiểm soát đối với hoạt động bán hàng của doanh nghiệp để làm cơ sở cho quyết định về phạm vi, nội dung các thủ tục cơ bản cho phù hợp Phương pháp này có được áp dụng hay không
và mức độ áp dụng như thế nào phụ thuộc vào rủi ro kiểm soát được kiểm toán viên đánh giá khi lập kế hoạch kiểm toán Cụ thể, nếu rủi ro kiểm soát đạt mức thấp hoặc trung bình, kiểm toán viên sẽ xem xét thực hiện kỹ thuật điều tra hệ thống và các thử nghiệm chi tiết về kiểm soát
- Thực hiện kỹ thuật điều tra hệ thống
Khi kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng, kiểm toán viên tiến hành điều tra các nghiệp vụ bán hàng từ khi nhận được đơn đặt hàng cho đến khi bán hàng và thu được tiền hàng, theo dõi công nợ để đánh giá các bước kiểm soát được thiết lập trong hệ thống bán hàng của doanh nghiệp Thông thường, kỹ thuật điều tra hệ thống đã được thực hiện ở giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán và tiếp tục được kiểm toán viên áp dụng ở giai đoạn này để đánh giá mức độ rủi ro kiểm soát và thiết kế các thử nghiệm chi tiết về kiểm soát, đồng thời qua đó đánh giá lại mức độ rủi ro kiểm soát và thiết kế các thử nghiệm chi tiết về kiểm soát và điều chỉnh nội dung, phạm vi và lịch trình thực hiện các thử nghiệm cơ bản
- Thực hiện thử nghiệm chi tiết về kiểm soát
Trang 27Trên cơ sở kết quả thu được từ kỹ thuật điều tra hệ thống, nếu mức độ thỏa mãn về hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp với quy trình bán hàng vẫn được đảm bảo, kiểm toán viên có thể tiến hành chọn một số mẫu nhất định
để kiểm tra chi tiết về kiểm soát đối với mỗi loại kiểm soát do doanh nghiệp thực hiện Các thử nghiệm chi tiết về kiểm soát được lựa chọn phù hợp với mục tiêu kiểm toán đề ra với chức năng của hệ thống kiểm soát nội bộ, cụ thể:
+ Với mục tiêu doanh thu bán hàng đã ghi nhận là có thật: để kiểm tra cơ sở
dẫn liệu này, kiểm toán viên xem xét điều kiện cần và đủ để xác định là nghiệp vụ tiêu thụ, ghi nhận doanh thu theo chế độ quy định hiện hành;
+ Với mục tiêu doanh thu bán hàng được ghi nhận đầy đủ: kiểm toán viên cần
kiểm tra tính liên tục từ đầu đến cuối thứ tự các chứng từ vận chuyển và kiểm tra tính liên tục từ đầu đến cuối thứ tự các hoá đơn bán hàng, bằng cách đối chiếu các chứng từ vận chuyển và các hoá đơn bán hàng với sổ Nhật ký bán hàng và sổ chi tiết các khoản phải thu khách hàng (TK131);
+ Với mục tiêu doanh thu bán hàng được phân loại đúng đắn: kiểm toán viên
cần xem xét các chứng từ về doanh thu của từng nghiệp vụ cụ thể và so sánh nó với các tài khoản (sổ tổng hợp, sổ chi tiết) mà nó phản ánh, trên cơ sở nắm vững các quy định hiện hành về hạch toán doanh thu;
+ Với mục tiêu doanh thu bán hàng được phê chuẩn đúng đắn: kiểm toán viên
tiến hành xem xét dấu hiệu phê chuẩn trên các chứng từ bán hàng có phù hợp với quy định của doanh nghiệp (báo giá cho khách hàng, hợp đồng kinh tế, lệnh xuất hàng, phiếu xuất kho…);
+ Với mục tiêu doanh thu bán hàng được tính toán đúng: kiểm toán viên cần
tính toán lại số liệu trên hoá đơn bán hàng hoặc hoá đơn kiêm phiếu xuất kho về tổng doanh thu, doanh thu bán hàng bằng ngoại tệ ; Đối chiếu giá bán trên hoá đơn với bảng giá của doanh nghiệp; Đối chiếu các bút toán trên sổ Nhật ký bán hàng với các hoá đơn bán hàng; Đối chiếu số liệu trên hoá đơn bán hàng với các chứng từ vận chuyển, với đơn đặt hàng của khách hàng về mặt hàng, số lượng, họ tên khách hàng ;
Trang 28+ Với mục tiêu doanh thu bán hàng được ghi sổ đúng kỳ: kiểm toán viên phải
nắm vững các điều kiện cần và đủ để ghi nhận doanh thu, thu nhập trên cơ sở nguyên tắc phù hợp của kế toán
Với kết quả thực hiện thử nghiệm kiểm soát của kiểm toán viên đối với doanh thu giúp kiểm toán viên đánh giá lại rủi ro kiểm soát đối với quy trình bán hàng của doanh nghiệp (chấp nhận mức đánh giá ban đầu hay điều chỉnh tăng hoặc giảm) đống thời xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của thử nghiệm cơ bản được mở rộng hay thu hẹp so với chương trình kiểm toán đã xác định ở giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
Thực hiện thử nghiệm cơ bản
Các thủ tục kiểm toán được vận dụng trong bước thử nghiệm cơ bản bao gồm: thủ tục phân tích, đánh giá doanh thu bán hàng và thủ tục kiểm tra chi tiết số dư các nghiệp vụ doanh thu bán hàng
- Thực hiện thủ tục phân tích doanh thu bán hàng
Trong kiểm toán doanh thu bán hàng, kiểm toán có thể vận dụng thủ tục phân tích rất hữu ích Thực hiện thủ tục phân tích giúp cho kiểm toán viên đánh giá khái quát tính hợp lý và xu hướng biến động của doanh thu bán hàng để từ đó kiểm toán viên sẽ thận trọng khi xác định mức độ và phạm vi áp dụng các thủ tục kiểm toán khác Các thủ tục phân tích thường được áp dụng trong giai đoạn này bao gồm: phân tích xu hướng, phân tích tỷ suất, sử dụng giá trị ước tính và thủ tục phân tích khác
Trang 29+ Thứ nhất, phân tích xu hướng (phân tích ngang): là việc phân tích những
thay đổi theo thời gian của doanh thu bán hàng Với thủ tục phân tích này, kiểm toán viên có thể sử dụng việc so sánh các chỉ tiêu doanh thu bán hàng kỳ này với kỳ trước hoặc so sánh với kế hoạch doanh thu mà doanh nghiệp đặt ra, doanh thu bán hàng được sử dụng để phân tích có thể là tổng doanh thu, doanh thu thuần hoặc doanh thu theo từng mặt hàng Thông qua việc so sánh này, kiểm toán viên có thể nhận thấy sự biến động của tổng doanh thu, doanh thu từng mặt hàng là tăng hay giảm, có gì bất thường ở mức độ biến động này Nếu có sự biến động động quá lớn, biến động bất thường, kiểm toán viên cần tìm hiểu nguyên nhân biến động đồng thời đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nguyên nhân này, xem xét tính hợp lý của biến động
+ Thứ hai, phân tích tỷ suất: là việc phân tích số liệu doanh thu bán hàng
trong mối liên hệ với các chỉ tiêu khác thông qua một số tỷ suất như: tỷ lệ lãi gộp trên doanh thu, tỷ suất lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh trên doanh thu, tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên doanh thu, tỷ lệ chi phí bán hàng trên doanh thu… Sau khi tính toán các tỷ suất này, kiểm toán viên có thể tiến hành so sánh với số liệu của các doanh nghiệp khác cùng ngành để có thể đánh giá được hiệu quả kinh doanh, khả năng sinh lời của doanh nghiệp cao hay thấp, xu hướng biến động của doanh thu các sản phẩm theo các tháng trong năm thông qua tỷ lệ lãi gộp Bên cạnh đó, kiểm toán viên cũng có thể thực hiện thủ tục phân tích tỷ lệ giữa các khoản giảm trừ doanh thu đối với doanh thu bán hàng và so sánh với số liệu năm trước để thấy được xu hướng biến động và nguyên nhân biến động
Trang 30+ Thứ ba, so sánh doanh thu ghi nhận với giá trị doanh thu ước tính Ngoài
việc vận dụng thủ tục phân tích dọc, phân tích ngang, trong một số trường hợp, kiểm toán viên có thể sử dụng mô hình ước tính doanh thu bán hàng trên cơ sở thông tin thu thập được và so sánh với doanh thu được ghi nhận trong năm tài chính của doanh nghiệp Trong trường hợp mức sai lệch là không trọng yếu (mức chênh lệch giữa doanh thu ghi nhận và doanh thu ước tính nhỏ hơn mức trọng yếu phân bổ cho khoản mục doanh thu), kiểm toán viên có thể bỏ qua chênh lệch, thủ tục phân tích này được coi là bằng chứng đánh giá tính hợp lý của doanh thu được ghi nhận
và kiểm toán viên có thể xem xét để không nhất thiết thực hiện thủ tục kiểm tra chi tiết thêm nữa Khi sai lệch là trọng yếu, kiểm toán viên cần xem xét để mở rộng mẫu chọn kiểm tra chi tiết để xác định các nghiệp vụ ghi nhận doanh thu trong kỳ
đã được ghi nhận đúng đắn và phù hợp
+ Thứ tư, các thủ tục phân tích khác Ngoài việc sử dụng các thủ tục phân tích
trên, kiểm toán viên có thể sử dụng một số thủ tục phân khác như sau:
So sánh biến động doanh thu bán hàng so với biến động hàng tồn kho nhằm
xem xét khả năng tiêu thụ sản phẩm, tình trạng dữ trữ hàng trong năm của doanh nghiệp Trên cơ sở phân tích biến động, kiểm toán viên sẽ phỏng vấn và tìm hiểu kỹ hơn về nguyên nhân và đánh giá tính hợp lý của nguyên nhân biến động này
So sánh biến động doanh thu bán hàng so với biến động công nợ phải thu
của khách hàng nhằm xem xét yếu tố chính sách tín dụng với khách hàng của doanh
nghiệp trong năm có ảnh hưởng đến doanh thu bán hàng cũng như đánh giá về hiệu quả công tác thu hồi nợ
Như vậy, việc áp dụng các thủ tục phân tích doanh thu bán hàng giúp kiểm toán viên xác định trọng tâm kiểm toán cũng như định hướng nội dung, lịch trình và pham vi của các thủ tục kiểm tra chi tiết doanh thu bán hàng
- Thực hiện thủ tục kiểm tra chi tiết nghiệp vụ doanh thu bán hàng
Trang 31Kiểm tra chi tiết doanh thu bán hàng là việc thực hiện các thủ tục chi tiết nhằm kiểm tra các bằng chứng của số liệu của doanh thu bán hàng được ghi sổ trong kỳ
và xác định xem số liệu doanh thu bán hàng được phản ánh trên báo cáo tài chính
có đảm bảo tính đúng đắn, phù hợp hay không Kiểm tra chi tiết được chia làm các mức độ: tập trung, trung bình hay cơ bản là tùy thuộc vào rủi ro phát hiện của doanh thu bán hàng và độ tin cậy vào hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp đối với quy trình bán hàng Các thủ tục kiểm tra chi tiết doanh thu bán hàng được thiết kế phù hợp với mục tiêu kiểm toán, cụ thể:
+ Đối với mục tiêu hiện hữu và có thật: Kiểm toán viên cần thực hiện kiểm tra
các nghiệp vụ ghi nhận doanh thu trong năm đảm bảo tính hiện hữu thông qua việc kiểm tra các nghiệp vụ ghi nhận doanh thu phát sinh có đầy đủ hồ sơ chứng từ chứng minh (đơn đặt hàng, báo giá, hợp đồng kinh tế, hóa đơn tài chính, phiếu xuất kho, biên bản giao nhận hàng hóa, biên bản xác nhận khối lượng vận chuyển), hóa đơn tài chính được lập đầy đủ, số liệu được ghi chép chính xác, đồng thời kiểm toán viên sử dụng bảng giá đã được xét duyệt để đối chiếu với đơn giá trên hóa đơn, đối chiếu đơn đặt hàng với hóa đơn để xác định số lượng, chủng loại hàng hóa Ngoài
ra, đối với các nghiệp vụ giảm trừ doanh thu, kiểm toán viên cũng cần thực hiện việc kiểm tra số liệu hạch toán so với quy định cụ thể tại doanh nghiệp, đối chiếu với hồ sơ tài liệu, chứng từ liên quan
Trang 32+ Đối với mục tiêu tính toán đánh giá: Kiểm toán viên cần thực hiện thủ tục
kiểm tra việc xác định doanh thu bán hàng được tính toán đúng đắn thông qua việc tính toán lại giá trị doanh thu trên hóa đơn so với đơn giá, khối lượng hàng bán, tính toán lại thuế giá trị gia tăng được tính toán đúng đắn so với thuế suất thuế giá trị gia tăng của mặt hàng Đặc biệt, với trường hợp bán hàng có liên quan đến ngoại tệ thì khi kiểm tra chi tiết, kiểm toán viên cần phải kiểm tra việc quy đổi ngoại tệ ra đơn
vị tiền tệ kế toán tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ có đúng theo quy định hiện hành Ngoài ra, các nghiệp vụ giảm trừ doanh thu cũng cần được kiểm tra việc xác định khoản giảm trừ của doanh nghiệp có phù hợp so với quy định cụ thể tại doanh nghiệp và đã được tính toán theo đúng tỷ lệ giảm giá hay chiết khấu thương mại so với tổng doanh thu bán hàng được hưởng khoản giảm trừ hay không?
+ Với mục tiêu doanh thu bán hàng được phê chuẩn đúng đắn: Kiểm toán
viên cần khảo sát xem liệu chế độ bán hàng trả chậm, việc giao hàng (quy cách, phẩm chất) và định giá bán hàng của doanh nghiệp có được tuân theo một cách đúng đắn trong các hoạt động hàng ngày hay không;
Các khảo sát định giá bán hàng được thực hiện bằng cách so sánh giá bán trên các hoá đơn bán hàng (kể cả chi phí vận chuyển, phương thức thanh toán) với biểu giá bán của doanh nghiệp đã được phê chuẩn hoặc các hợp đồng xem có đúng đắn không;
+ Đối với mục tiêu đầy đủ: Kiểm toán viên cần thực hiện thủ tục kiểm tra việc
ghi nhận đầy đủ các nghiệp vụ phát sinh doanh thu vào sổ kế toán thông qua việc kiểm tra các chứng từ gốc đến các sổ kế toán Đồng thời, kiểm toán viên cũng thực hiện thủ tục đối chiếu các chứng từ bán hàng, nhật ký bán hàng với các sổ sách có liên quan như bảng kê theo dõi tình hình thực hiện hợp đồng bán hàng, sổ theo dõi thanh toán, báo cáo tình hình tiêu thụ hàng hóa…
Trang 33+ Đối với mục tiêu hạch toán đúng kỳ: Kiểm toán viên kiểm tra việc ghi nhận
đúng kỳ của doanh thu bán hàng để đảm bảo doanh thu bán hàng được phản ánh đúng niên độ thông qua việc tiến hành so sánh ngày của các nghiệp vụ tiêu thụ đã vào sổ với ngày trên sổ giao hàng, sổ và chứng từ vận chuyển (nếu có); Dùng các tỷ suất lãi gộp, hiệu suất hiệu quả kinh doanh để phản đoán các khoản doanh thu đã
có nhưng không được ghi sổ hoặc đã vào sổ nhưng thực tế chưa được ghi nhận doanh thu; Kiểm tra các nghiệp vụ tiêu thụ vào cuối và đầu kỳ kế toán, đặc biệt là các nghiệp vụ có số tiền lớn
+ Đối với mục tiêu phân loại: Để xác định doanh thu được phân loại phù hợp,
đảm bảo công tác quản lý cũng như cung cấp thông tin bán hàng một các dễ dàng, kiểm toán viên có thể thực hiện kiểm tra việc phân loại doanh thu theo các tiêu chí sau: phân biệt doanh thu các loại hàng hóa có mức thuế suất khác nhau, phân biệt doanh thu nội bộ và doanh thu bán ra bên ngoài, phân biệt doanh thu của doanh nghiệp với doanh thu hàng ký gửi đại lý…
Trên đây là những thủ tục kiểm tra chi tiết mà kiểm toán viên thường áp dụng trong việc kiểm tra chi tiết nghiệp vụ doanh thu bán hàng Tuy nhiên, tùy vào từng doanh nghiệp cụ thể với những đặc điểm về doanh thu bán hàng cũng như phụ thuộc vào xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên về tính trọng yếu và rủi ro liên quan đến khoản mục doanh thu bán hàng, độ tin cậy vào hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp đối với việc thực hiện quy trình bán hàng mà kiểm toán viên có thể xác định cụ thể các thủ tục kiểm toán áp dụng về nội dung, lịch trình và quy mô chọn mẫu của các thủ tục đó Hiệu quả của các thủ tục kiểm toán được xác định và thực hiện sẽ ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng bằng chứng kiểm toán thu thập được cũng như ý kiến kiểm toán được đưa ra sau cuộc kiểm toán
1.3.3 Giai đoạn kết thúc kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng
Trang 34Trong bước công việc này, kiểm toán viên tiến hành soát xét, tập hợp các bằng chứng kiểm toán đã thu thập được khi thực hiện các thủ tục kiểm toán và đưa ra ý kiến của kiểm toán viên về khoản mục doanh thu bán hàng được trình bày và công
bố trên báo cáo tài chính, đồng thời đưa ra các kiến nghị của kiểm toán viên về công tác quản lý bán hàng tại doanh nghiệp
Nhóm trưởng của nhóm kiểm toán sẽ tiến hành kiểm tra, soát xét lại toàn bộ kết quả làm việc của các kiểm toán viên và đánh giá tính đầy đủ của các bằng chứng thu thập được Sau khi xem xét, đánh giá lại tài liệu làm việc của thành viên trong nhóm kiểm toán, nhóm trưởng sẽ đưa ra ý kiến về chỉ tiêu doanh thu bán hàng được trình bày trên báo cáo tài chính có được trình bày trung thực và hợp lý xét trên các khía cạnh trọng yếu không, tức là các mục tiêu kiểm toán doanh thu bán hàng có được thỏa mãn không Nếu có sai phạm, kiểm toán viên sẽ xem xét mức trọng yếu
và có thể phải đưa ra bút toán điều chỉnh (xét trong điều kiện là là mức độ sai phạm
có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN DOANH THU BÁN HÀNG
TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VIỆT ANH
2.1 Giới thiệu chung về Công ty TNHH Kiểm toán Việt Anh
Trang 352.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Việt Anh
Công ty TNHH Kiểm toán Việt Anh (gọi tắt là Công ty, Việt Anh) được thành lập trên cơ sở sáp nhập Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn SUP (được thành lập
và hoạt động từ năm 2008) với Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán Việt VAAC (được thành lập và hoạt động từ năm 2003) Các thành viên chủ chốt của SUP và VAAC đều đã làm việc trong lĩnh vực kiểm toán từ cuối những năm 90 Sự sáp nhập này đã mang lại cho Công ty một đội ngũ đông đảo các chuyên gia có thể cung cấp các dịch vụ đa dạng cho khách hàng
Nam-Dưới đây là một số nét chính về lịch sử hình thành và phát triển của Công ty
* Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán Việt Nam (VAAC)
Tháng 01/2003: VAAC (Công ty Kiểm toán đầu tiên ở Hải Phòng) được thành lập với cơ cấu nhỏ gọn bao gồm 5 thành viên với 01 phòng nghiệp vụ kiểm toán báo cáo tài chính
Tháng 11/2004: VAAC mở rộng quy mô hoạt động và bổ nhiệm thêm 01 phó giám đốc
Tháng 10/2006: VAAC tiếp tục mở rộng quy mô và phát triển thêm một phòng nghiệp vụ Kiểm toán xây dựng cơ bản và phòng tư vấn tài chính và đào tạo Đồng thời Công ty cũng đã có đủ số lượng nhân viên có chứng chỉ thẩm định giá để cung cấp dịch vụ xác định giá trị doanh nghiệp
Tháng 01/2007: Công ty chuyển trụ sở về Số 5 Lý Tự Trọng, Quận Hồng Bàng, Hải Phòng
Tháng 10/2007: Thực hiện đăng ký kiểm toán cho tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết và tổ chức kinh doanh chứng khoán
Tháng 08/2009: Tiếp tục mở rộng quy mô Công ty và bổ nhiệm thêm 01 phó giám đốc
Trang 36Sau 8 năm hoạt động VAAC không ngừng lớn mạnh về quy mô và chất lượng dịch vụ với mức tăng trưởng doanh thu bình quân hàng năm khoảng 50% Dịch vụ của Công ty ngày càng đa dạng và đội ngũ nhân viên liên tục được bổ sung và đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ Nhân dịp kỷ niệm 5 năm thành lập, VAAC đã được Thành phố Hải Phòng tặng bằng khen đã có thành tích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ kiểm toán trên địa bàn thành phố Hải Phòng trong 05 năm từ
2003 -2007
* Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn SUP (SUP)
Tháng 06/2008: Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn SUP được thành lập với
4 thành viên đều là các cán bộ quản lý xuất thân từ Deloitte Việt Nam Công ty tập trung vào 02 mảng dịch vụ đó là kiểm toán báo cáo tài chính và tư vấn & đào tạo.Tháng 05/2009: Vào danh sách các công ty kiểm toán được cung cấp dịch vụ kiểm toán cho các dự án do ADB tài trợ
Tháng 6/2010: Mở rộng quy mô hoạt động bằng việc thành lập thêm một bộ phận tư vấn kế toán và tư vấn thuế
Tuy mới đi vào hoạt động được 02 năm nhưng SUP đã khẳng định được vị thế của mình thông qua việc liên tiếp được bổ nhiệm cung cấp dịch vụ kiểm toán cho nhiều khách hàng lớn là các tổng công ty nhà nước như VINATABA cũng như các
dự án lớn do Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) và Ngân hàng tái thiết Đức (KfW) tài trợ Công ty đã cung cấp nhiều dịch vụ tư vấn về hệ thống kiểm soát nội
bộ, kiểm toán nội bộ cũng như đào tạo về các chuyên đề kế toán, tài chính chuyên sâu cho nhiều tập đoàn lớn như: Prime Group, VINATABA,
* Công ty TNHH Kiểm toán Việt Anh (Việt Anh)
Tháng 9/2010: SUP và VAAC thực hiện sáp nhập để hình thành nên Công ty TNHH Kiểm toán Việt Anh Sự sáp nhập này đã tạo ra một công ty Kiểm toán lớn mạnh về quy mô hoạt động, đa dạng về dịch vụ cung cấp và đông đảo về đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp ở nhiều lĩnh vực hoạt động
2.1.2 Đặc điểm tổ chức và hoạt động của Công ty Việt Anh
2.1.2.1 Tổ chức bộ máy quản lý tại Công ty Việt Anh
Trang 372.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy của Công ty TNHH Kiểm toán Việt Anh
Công ty TNHH Kiểm toán Việt Anh hoạt động theo mô hình tổ chức chức năng, trong đó Ban Tổng Giám đốc chịu trách nhiệm trực tiếp về việc báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty trước Hội đồng Thành viên và chịu sự giám sát của Ban Kiểm soát trong quá trình hoạt động của mình
Giúp việc cho Ban Tổng giám đốc là các Giám đốc kiểm toán, Giám đốc Marketing và các phòng ban chức năng bao gồm:
Phòng kiểm toán độc lập và dịch vụ đảm bảo: thực hiện các dịch vụ kiểm toán
báo cáo tài chính thường niên Kiểm toán báo cáo tài chính cho mục đích thuế và dịch vụ quyết toán thuế Kiểm tra thông tin tài chính trên cơ sở các thủ tục thỏa thuận trước Soát xét và chuyển đổi báo cáo tài chính theo hệ thống Chuẩn mực kế toán và Chế độ kế toán của Việt Nam sang Chuẩn mực kế toán Quốc tế Soát xét báo cáo tài chính
BAN KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG
PHÒNG ĐÀO TẠO
VÀ
TƯ VẤN TÀI CHÍNH
PHÒNG
TƯ VẤN
KẾ TOÁN
VÀ TƯ VẤN THUẾ
PHÒNG
KẾ TOÁN
VÀ HÀNH CHÍNH TỔNG HỢP VĂN PHÒNG HÀ NỘI
P 801, Tầng 8 toà nhà Dilmah Tower,
Lô A2A, Phố Duy Tân,
Quận Cầu Giấy, Hà Nội
VĂN PHÒNG HẢI PHÒNG Tầng 7 toà nhà Hải Quân,
Số 5 Lý Tự Trọng, Quận Hồng Bàng, Hải Phòng
Trang 38Ban Kiểm soát Chất lượng: có trách nhiệm kiểm soát chất lượng các cuộc
kiểm toán do cán bộ Công ty thực hiện
Phòng Đào tạo và tư vấn tài chính: thực hiện các dịch vụ đào tạo và tư vấn tài
chính như: mua bán và hợp nhất doanh nghiệp, định giá doanh nghiệp, tư vấn về hệ thống quản trị doanh nghiệp
Phòng Tư vấn kế toán và tư vấn thuế: thực hiện các dịch vụ tư vấn về kế toán
và thuế
Phòng Kế toán và Hành chính - Tổng hợp: có trách nhiệm xây dựng các quy
chế ghi nhận các công văn đi, đến Công ty, quản lý các trang thiết bị- công cụ- dụng
cụ văn phòng, thực hiện chức năng hạch toán kế toán, lập báo cáo tài chính của Công ty theo quy định
Văn phòng tại Hải Phòng và Hà Nội: thực hiện khai thác thị trường, ký kết
hợp đồng với khách hàng
2.1.2.2 Lĩnh vực hoạt động của Công ty Việt Anh
Với đội ngũ toàn nhân lực chủ chốt là các chuyên gia đã có nhiều năm làm việc và giữ các vị trí quản lý cấp cao tại một trong bốn hãng kiểm toán hàng đầu trên thế giới, Công ty TNHH Kiểm toán Việt Anh cam kết sẽ đem lại cho khách hàng dịch vụ kiểm toán và đảm bảo với chất lượng cao nhất Công ty nằm trong
danh sách các công ty được chấp nhận kiểm toán cho các tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết (các công ty đã niêm yết trên sàn chứng khoán) và tổ chức kinh doanh
chứng khoán do Uỷ ban chứng khoán Nhà nước công bố Cụ thể, Công ty mang đến cho khách hàng những dịch vụ sau:
Kiểm toán độc lập và các dịch vụ đảm bảo
Kiểm toán báo cáo tài chính thường niên
Kiểm toán báo cáo tài chính cho mục đích thuế và dịch vụ quyết toán thuế.Kiểm tra thông tin tài chính trên cơ sở các thủ tục thỏa thuận trước
Soát xét và chuyển đổi báo cáo tài chính theo hệ thống Chuẩn mực kế toán và Chế độ kế toán của Việt Nam sang Chuẩn mực kế toán Quốc tế
Soát xét báo cáo tài chính
Trang 39Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư hoàn thành
Tư vấn kiểm soát nội bộ :
Vai trò của kiểm toán nội bộ ngày càng được nâng cao trong việc tối đa hóa lợi ích của chủ sở hữu Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi mà các công ty lớn, các tập đoàn kinh tế của Việt Nam đang phát triển nhanh chóng thì yêu cầu phải xây dựng một bộ phận kiểm toán nội bộ là hết sức cần thiết
Nhận thức được tầm quan trọng của kiểm toán nội bộ trong việc nâng cao tính tuân thủ cũng như thực hiện các mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp, Công ty đã tập hợp được một đội ngũ các chuyên gia hàng đầu của Việt Nam về kiểm toán nội
bộ Với hiểu biết sâu rộng về kiểm toán nội bộ và phương pháp kiểm toán khoa học trên cơ sở đánh giá rủi ro, các chuyên gia về kiểm toán nội bộ của Công ty có thể cung cấp cho khách hàng nhiều dịch vụ khác nhau về kiểm toán nội bộ và kiểm soát nội bộ như:
Tư vấn hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ
Tư vấn thiết lập và phát triển bộ phận kiểm toán nội bộ
Thực hiện hay kết hợp với kiểm toán viên nội bộ của doanh nghiệp để thực hiện các chức năng về kiểm toán nội bộ cho doanh nghiệp
Đồng thời với kinh nghiệm kiểm toán lâu năm trong nhiều lĩnh vực ngành nghề khác nhau, các chuyên gia của Công ty có thể cung cấp các chương trình đào tạo và hướng dẫn thực hành về kiểm toán nội bộ cho các kiểm toán viên nội bộ của khách hàng, chia sẻ kinh nghiệm thực tế để các kiểm toán viên có thể nhanh chóng thực hiện công việc của mình một cách hiệu quả nhất
Các dịch vụ gia tăng khác của Công ty bao gồm:
Hỗ trợ lập kế hoạch kinh doanh
Quản lý hợp đồng
Soát xét hệ thống quản trị doanh nghiệp
Kiểm tra tính tuân thủ
Tư vấn kế toán:
Trang 40Với mong muốn trợ giúp các doanh nghiệp xây dựng công cụ quản lý tiện ích, hiệu quả, các nhà quản trị doanh nghiệp nắm bắt kịp thời các thông tin tài chính để
từ đó ra các quyết định phụ hợp và đảm bảo tuân thủ pháp luật, Công ty đang cung cấp những dịch vụ tư vấn kế toán sau:
Hướng dẫn lập và quản lý chứng từ kế toán
Hướng dẫn và thực hiện ghi sổ sách kế toán
Hướng dẫn lập báo cáo tài chính
Tư vấn xây dựng hệ thống kế toán và tổ chức bộ máy kế toán thích hợp
Tư vấn xây dựng hệ thống báo cáo quản trị thích hợp
Tư vấn xây dựng phần mềm kế toán
Cung cấp dịch vụ ghi sổ kế toán, lập báo cáo tài chính, lập báo cáo thuế và các báo cáo khác theo yêu cầu của khách hàng
Tư vấn mua bán và hợp nhất doanh nghiệp
Dịch vụ định giá doanh nghiệp
Dịch vụ soát xét đặc biệt
Soát xét cơ cấu vốn đầu tư trong doanh nghiệp
Tư vấn tái cấu trúc doanh nghiệp
Tư vấn về hệ thống quản trị doanh nghiệp
Tư vấn thuế :