Mặc dù vậy, tất cả các công trình nghiên cứu về kế toán quản trị đã công bố đều chưa nghiên cứu chuyên sâu về kế toán quản trị áp dụng trong doanh nghiệp xây dựng, trong khi ngành xây dự
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các thông tin, số liệu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng, cụ thể Kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Hà Nội, ngày tháng 10 năm 2012
Tác giả
Đoàn Thị Thanh Yến
Trang 2MỤC LỤC
Bảng tổng hợp kết quả phỏng vấn ( Phụ lục 1.1) 5
1.1.2 Kế toán quản trị chi phí 10
Bước 1 Lập danh mục công tác xây dựng hoặc kết cấu mới của công trình chưa có trong danh mục định mức xây dựng được công bố 25
Báo cáo kết quả kinh doanh công ty cổ phần Xây lắp Tân Mai theo chức năng của phí ( Phụ lục 1.3) 42
Báo cáo kết quả kinh doanh công ty cổ phần Xây lắp Tân Mai theo cách ứng xử của phí ( Phụ lục 1.4) 42
1.3.5 Kế toán quản trị chi phí với việc ra quyết định trong doanh nghiệp xây dựng 43
Sơ đồ tổ chức tập đoàn Hoàng Hà ( Phụ lục 2.1) 52
Mô hình tổ chức Công ty CP Xây lắp Tân Mai ( Phụ lục 2.2) 52
Tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty CP Xây lắp Tân Mai ( Phụ lục 2.3) 53 Tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty CP Xây lắp Phương Mai ( Phụ lục 2.4) 53
Hạch toán chi phí theo phương thức khoán chi phí (Phụ lục 2.5) 57
Hạch toán chi phí theo phương thức khoán công trình ở đơn vị cấp trên 57
( Phụ lục 2.6) 57
Hạch toán chi phí theo phương thức khoán công trình ở đơn vị cấp dưới .57
(Phụ lục 2.7) 57
Dự toán xây dựng (Phụ lục 2.8) .58
Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 61
Giấy đề nghị tạm ứng (Phụ lục 2.9) 62
Kế toán tiến hành lập phiếu nhập kho ( Phụ lục 2.11) 63
Trang 3Phiếu xuất kho (Phụ lục 2.12) 63
Báo cáo vật tư tháng 12 năm 2011 (Phụ lục 2.13) 63
Sổ chi tiết tài khoản 621(Phụ lục 2.14) 63
Sổ cái tài khoản 621 (Phụ lục 2.15) 63
Kế toán chi phí nhân công trực tiếp 63
Bảng chấm công (Phụ lục 2.16) 64
Bảng thanh toán tiền lương (Phụ lục 2.17) 64
Sổ chi tiết tài khoản 622 (Phụ lục 2.18) 64
Hạch toán chi phí sử dụng máy thi công 64
Bảng tổng hợp chi phí thuê máy (Phụ lục 2.19) 65
Sổ chi tiết tài khoản 6231 (Phụ lục 2.20) 66
Bảng khấu hao TSCĐ (Phụ lục 2.21) 66
Sổ chi tiết tài khoản 6234 (Phụ lục 2.22) 66
Sổ chi tiết tài khoản 6237 (Phụ lục 2.23) 67
Hạch toán chi phí sản xuất chung 67
Sổ chi tiết tài khoản 6271 (Phụ lục 2.24) 67
Bảng phân bổ khấu hao TSCĐ (Phụ lục 2.25) 68
Sổ chi tiết 6274 - CT Nhà 35,36,37 (Phụ lục 2.26) 68
Sổ cái 6274 - Phân xưởng (Phụ lục 2.27) 68
Sổ chi tiết 6277 (Phụ lục 2.28) 68
Sổ cái 6277 (Phụ lục 2.29) 68
Bảng tổng hợp chi phí sản xuất chung (Phụ lục 2.30) 68
Tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp 68
Bảng tổng hợp chi phí sản xuất (Phụ lục 2.31) 69
Thẻ tính giá thành sản phẩm xây lắp (Phụ lục 2.32) 70
Sổ chi tiết tài khoản 1541 (Phụ lục 2.33) 70
Sổ cái tài khoản 1541 (Phụ lục 2.34) 70
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tổng quan tình hình nghiên cứu kế toán quản trị chi phí xây dựng
Các vấn đề kế toán quản trị, trong đó có kế toán quản trị chi phí được các tác giả Việt Nam bắt đầu nghiên cứu từ những năm đầu 1990 Tác giả Nguyễn Việt Anh (Năm 1995), Đại học Kinh tế Quốc Dân, trong luận án “Vấn đề hoàn thiện kế toán Việt Nam” đã trình bày phương hướng và giải pháp xây dựng hệ thống kế toán tài chính và kế toán quản trị trong các doanh nghiệp Việt Nam, tuy nhiên những đề xuất kế toán quản trị trong công trình này mang tính cơ bản nhất của hệ thống kế toán quản trị, khi kế toán quản trị bắt đầu được nghiên cứu tại Việt Nam Từ đầu những năm 2000, đã có nhiều nghiên cứu về một số vấn đề cụ thể của kế toán quản trị áp dụng riêng cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ và các doanh nghiệp sản xuất Tác giả Nguyễn Văn Bảo (năm 2002), Đại học Kinh tế Quốc Dân trong luận
án “Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính và kế toán quản trị doanh nghiệp nhà nước về xây dựng”, tác giả Lê Việt Hùng (năm 2009), Đại học Kinh tế Quốc Dân trong luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại công ty cổ phần Xây dựng Giao thông 1 Thái Nguyên”, tác giả Nguyễn Thị Kim Cương (năm 2010), Đại học Đà Nẵng “Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại công ty cổ phần Vinaconex 25” Trong các công trình này, các tác giả đã hệ thống nội dung cơ bản của hệ thống kế toán quản trị và dề xuất phương hướng ứng dụng kế toán quản trị vào các ngành cụ thể theo phạm vi nghiên cứu của đề tài Mặc dù vậy, tất cả các công trình nghiên cứu về kế toán quản trị đã công bố đều chưa nghiên cứu chuyên sâu về kế toán quản trị áp dụng trong doanh nghiệp xây dựng, trong khi ngành xây dựng đang cần những thông tin kế toán quản trị chi phí cơ bản vào thực tiễn hoạt động kinh doanh của từng ngành trong những hoàn cảnh kinh tế - pháp lý cụ thể không đơn giản Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu chưa đi sâu nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển của kế toán quản trị trên góc
độ mối quan hệ với môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp Hơn nữa, mặc
dù các công trình nghiên cứu kế toán quản trị tại một số nước tuy nhiên chỉ ở
Trang 6mức độ khái quát nhất về kế toán quản trị, chưa đi sâu nghiên cứu về việc vận dụng cụ thể từng phương pháp kế toán quản trị ở từng nền kinh tế và hệ thống pháp lý với các mức độ phát triển khác nhau, để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí cho phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế ở Việt Nam
Chính vì vậy, các công trình nghiên cứu cần tập trung là xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí áp dụng đặc thù cho các doanh nghiệp xây dựng trên cơ sở nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống kế toán quản trị trên thế giới gắn liền với bối cảnh cụ thể, kinh nghiệm vận dụng các phương pháp kế toán quản trị chi phí trong các nền kinh tế khác nhau, đặc biệt là các nền kinh tế có tính chất tương đồng nền kinh tế Việt Nam
2 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong quá trình hội nhập và xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới hiện nay, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải có hệ thống thông tin đầy
đủ, kịp thời, chính xác phục vụ cho việc điều hành, quản lý và ra các quyết định sản xuất kinh doanh
Kế toán với chức năng thông tin và kiểm tra các hoạt động kinh tế tài chính của một đơn vị, một tổ chức ngày càng giữ vai trò tích cực trong việc quản lý, điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế của các đơn vị và có ý nghĩa quan trọng cho mọi đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin tuỳ theo mục đích khác nhau
Xuất phát từ yêu cầu và tính chất của thông tin cung cấp, thông tin kế toán được chia thành thông tin kế toán tài chính và thông tin kế toán quản trị Thông tin
kế toán tài chính chủ yếu cung cấp cho các đối tượng bên ngoài đơn vị sử dụng để
ra các quyết định hữu ích tuỳ từng đối tượng, còn thông tin kế toán quản trị chỉ cung cấp cho các nhà quản trị nội bộ đơn vị để ra quyết định điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh Kế toán quản trị mới được phát triển trong giai đoạn gần đây nhưng đã thực sự trở thành một công cụ khoa học giúp nhà quản trị trong công tác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của đơn vị
Trang 7Ở Việt Nam, kế toán quản trị còn khá mới mẻ, các doanh nghiệp mới chỉ có
hệ thống kế toán tài chính hoàn chỉnh, còn hệ thống kế toán quản trị phục vụ cho công tác quản lý và ra quyết định hầu như chưa có Đồng thời, việc triển khai ứng dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp vào hoạt động quản lý chưa được quan tâm đúng mức Hơn nữa, về mặt luật pháp, Nhà nước ta mới chỉ ban hành những văn bản pháp quy, chế độ hướng dẫn về hệ thống kế toán tài chính áp dụng bắt buộc cho các doanh nghiệp, còn kế toán quản trị mới chỉ được đề cập và vận dụng không bắt buộc đối với các doanh nghiệp trong thời gian gần đây
Mặc dù vậy, kế toán quản trị vẫn được coi là một hoạt động thiết yếu trong một tổ chức để giúp lãnh đạo xem xét, đánh giá các hoạt động của tổ chức nhằm đưa ra các quyết định đúng đắn và hiệu quả nhất
Hơn nữa, trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh việc quản lý tốt chi phí luôn được doanh nghiệp quan tâm và đặt lên hàng đầu Kiểm soát và quản lý tốt chi phí là cơ sở để nhà quản trị đưa ra các quyết định kinh doanh hợp lý, hiệu quả nhằm mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Chính vì vậy, việc hoàn thiện kế toán quản trị chi phí là rất cần thiết đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn đứng vững trên thương trường
Ngành xây dựng là một trong những ngành có vị trí quan trọng trong nền kinh
tế quốc dân và là một trong những ngành có mức độ cạnh tranh khá gay gắt giữa các doanh nghiệp trong nước cũng như các doanh nghiệp nước ngoài Khả năng cạnh tranh của các sản phẩm xây dựng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như giá cả, chất lượng công trình, uy tín, thương hiệu, các biện pháp marketing Chính vì vậy, thông tin về chi phí trong các doanh nghiệp xây dựng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc giúp các nhà quản trị kiểm soát chi phí để vừa có thể đưa ra được các sản phẩm với giá cạnh tranh, vừa nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, góp phần tăng nhanh tổng mức lợi nhuận và gia tăng giá trị cho chủ sở hữu - luôn luôn và sẽ mãi mãi là mục tiêu số một của mọi nhà doanh nghiệp
Đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin về chi phí trong các doanh nghiệp chính là hệ thống kế toán chi phí Tuy nhiên hệ thống kế toán chi phí
Trang 8trong các doanh nghiệp xây dựng thuộc Tập đoàn Hoàng Hà hiện nay mới chỉ tập trung vào kế toán tài chính (để lập các báo cáo tài chính là chủ yếu) Hệ thống kế toán chi phí hướng vào việc cung cấp thông tin phục vụ cho việc lập kế hoạch, kiểm soát và đánh giá việc lập kế hoạch trong nội bộ doanh nghiệp còn rất hạn chế Hệ thống kế toán chi phí hiện nay không thể cung cấp các thông tin phù hợp, kịp thời và tin cậy cho việc ra quyết định kinh doanh của các nhà quản trị doanh nghiệp Bởi vậy, để nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp, một mặt phải hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán, mặt khác phải hoàn thiện kế toán quản trị và đặc biệt là kế toán quản trị chi phí phù hợp với đặc điểm của từng loại hình doanh nghiệp, nhằm tạo ra những thông tin cần thiết, giúp quản trị doanh nghiệp tìm mọi biện pháp giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp Nhận thức được tầm quan trọng của kế toán quản trị và kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp nói chung và trong các công ty thuộc Tập
đoàn Hoàng Hà nói riêng, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu là: "Kế toán quản trị chi phí xây dựng trong các công ty thuộc Tập đoàn Hoàng Hà"
3 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu, hệ thống hoá các lý luận chung về kế toán quản trị, mối quan
hệ giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính trên góc độ kế toán chi phí, lịch sử phát triển của kế toán quản trị và mô hình kế toán quản trị chi phí của một số quốc gia nhằm góp phần làm sáng tỏ bản chất, vai trò, nội dung của kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp Đồng thời thông qua nghiên cứu thực tiễn, kế toán quản trị chi phí xây lắp tại các Công ty xây dựng Từ đó đề xuất những biện pháp nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí xây dựng trong các công ty xây dựng thuộc Tập đoàn Hoàng Hà
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Với mục tiêu trên, đối tượng nghiên cứu của đề tài là cơ sở lý luận chung về kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp, thực trạng kế toán quản trị chi phí trong các công ty xây dựng thuộc Tập đoàn Hoàng Hà
Phạm vi nghiên cứu: đề tài chủ yếu khảo sát và sử dụng số liệu năm 2011 của 3 công ty thuộc Tập đoàn Hoàng Hà: Công ty CP xây lắp Tân Mai, Công ty CP xây lắp Phương Mai và Công ty CP Xây lắp Hoàng Mai
Trang 95 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:
Phương pháp phỏng vấn:
Phương pháp phỏng vấn được thực hiện thông qua phỏng vấn trực tiếp hoặc phỏng vấn qua điện thoại một số nhà quản lý cũng như những nhân viên trực tiếp thực hiện công tác kế toán và một số bộ phận có liên quan như các phòng chức năng như Phòng kế hoạch, phòng kế toán, phòng sản xuất, phòng hành chính…Phương pháp phỏng vấn thu thập được những thông tin chung về các đơn vị và thông tin về
kế toán Để thực hiện phương pháp này, tôi đã thiết lập các câu hỏi phỏng vấn và tiến hành phỏng vấn các đối tượng đã định rồi ghi lại các câu trả lời của người được phỏng vấn Phương pháp này giúp cho tôi tìm hiểu cụ thể hơn về những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu, có thể thu thập được những nhận xét, đánh giá của những người quản lý và những người trực tiếp tham gia vào công tác kế toán tại công ty
Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Để có cơ sở đánh giá thực trạng kế toán quản trị chi phí tại các công ty thuộc Tập đoàn Hoàng Hà, tôi đã tiến hành thu thập các tài liệu kế toán, chuẩn mực kế toán, giáo trình kế toán, sách báo và các trang web kế toán nhằm thu thập các thông tin về phân tích hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Ngoài ra, từ các tài liệu kế toán thu thập được từ các chi nhánh nghiên cứu, tôi tiến hành phân tích số liệu và so sánh với lý luận chung từ đó có thể đưa đánh giá và đưa ra các đề xuất hoàn thiện phân tích kế toán quản trị chi phí tại các công ty thuộc Tập đoàn Hoàng
Trang 10Hà Tôi thu thập tài liệu và tổng hợp các tài liệu từ chứng từ kế toán, sổ kế toán và các báo cáo kế toán có liên quan kế toán quản trị chi phí tại các công ty thuộc Tập đoàn Hoàng Hà Các tài liệu được sử dụng để phân tích thực trạng của các công ty
trong luận văn như: Báo cáo tài chính (Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh, Thuyết minh báo cáo tài chính…), báo cáo thường niên, báo cáo quản trị
Các kết quả từ tài liệu thu thập được giúp tôi có thông tin tổng quát về công tác kế toán quản trị chi phí xây dựng tại các công ty thuộc Tập đoàn Hoàng Hà Vì hoạt động phân tích kế toán quản trị chi phí chịu chi phối và điều chỉnh bởi các quy định
và chuẩn mực kế toán, các thông tư hướng dẫn kèm theo, do đó tôi cũng đã tìm và nghiên cứu các chuẩn mực kế toán của Việc nam và Quốc tế, luật kế toán, các thông
tư hướng dẫn việc thực hiện các chuẩn mực kế toán, giáo trình kế toán của một số trường đại học… đây là nguồn thông tin quan trọng để tôi thực hiện chương 2 và chương 3 của luận văn này
Phương pháp phân tích dữ liệu
Qua các tài liệu đã thu thập được, tôi đã sử dụng phương pháp so sánh số liệu giữa thực tế với kế hoạch và so sánh giữa thực tế hoạt động với các văn bản quy định và thông tư hướng dẫn của Nhà nước…
Mục đích của phương pháp này là phân tích các thông tin đầu vào đã thu thập được để đưa ra các thông tin, các kết luận phù hợp Qua đó, tôi có được những
số liệu tổng hợp để hoàn thành nội dung chương 2 và chương 3 của luận văn
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đây là một đề tài nghiên cứu về kế toán quản trị chi phí xây dựng, trong điều kiện hiện nay, đất nước ta đang trong giai đoạn phát triển và hội nhập thì đề tài này mang tính cấp bách khách quan và có ý nghĩa cao về lý luận và thực tiễn
- Về mặt lý luận
- Luận văn đã nêu lên được: Khái niệm, bản chất của kế toán quản trị, các nhân
tố ảnh hưởng, nội dung của kế toán quản trị (phân loại chi phí, xây dựng định mức chi phí, lập dự toán, thu thập thông tin, lập báo cáo quản trị ), còn mô hình kế toán quản
trị của một số nước áp dụng
Trang 11- Đề tài đã hệ thống hoá và phân tích nhằm sáng tỏ những vấn đề lý luận về kế toán quản trị chi phí xây dựng trong các doanh nghiệp cũng như trong các công ty xây dựng thuộc Tập đoàn Hoàng Hà.
- Về mặt thực tiễn
- Khảo sát thực trạng phân tích kế toán quản trị chi phí tại các công ty thuộc Tập đoàn Hoàng Hà Từ đó, tác giả đưa ra các đánh giá khách quan về những tồn tại
và những thành tựu đã đạt được trong công tác kế toán quản trị chi phí tại các công
ty thuộc Tập đoàn Hoàng Hà
- Đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí tại các công ty thuộc Tập đoàn Hoàng Hà Đồng thời chỉ rõ những điều kiện cần thiết phải thực hiện từ phía Nhà nước cũng như bản thân doanh nghiệp để tăng tính khả thi cho các giải pháp hoàn thiện
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Lý luận cơ bản về kế toán quản trị chi phí xây dựng trong các doanh nghiệp xây dựng
Chương 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí xây dựng trong các doanh nghiệp xây dựng thuộc Tập đoàng Hoàng Hà
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí xây dựng trong các doanh nghiệp xây dựng thuộc Tập đoàn Hoàng Hà
CHƯƠNG 1
Trang 12LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ XÂY DỰNG
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG
1.1 Khái niệm và bản chất kế toán quản trị
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
Kế toán là một bộ phận cấu thành cơ bản trong hệ thống các công cụ quản lý kinh
tế vi mô, nó có vai trò tích cực trong việc điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế của các đơn vị, có ý nghĩa cho mọi đối tượng tuỳ theo các lợi ích khác nhau
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, vai trò của kế toán càng giữ một vị thế quan trong ở bất cứ loại hình đơn vị nào Đối với các doanh nghiệp kinh doanh, kế toán là một nguồn thông tin quan trọng để đưa ra các quyết định kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp, kế toán là công cụ theo dõi tình hình sử dụng và cấp phát nguồn kinh phí của ngân sách nhằm góp phần tiết kiệm và nâng cao hiệu quả sử dụng kinh phí
Như vậy, kế toán là một công cụ quan trọng để quản lý nền kinh tế nói chung
và các đơn vị trong nền kinh tế nói riêng Xét ở các đơn vị trong nền kinh tế, thông tin kế toán chia thành 2 bộ phận cơ bản: Thông tin kế toán cung cấp cho các đối tượng bên ngoài sử dụng để đưa ra quyết định hữu ích cho từng đối tượng, ví dụ các
nhà đầu tư, các cơ quan thuế được gọi là kế toán tài chính Thông tin kế toán chỉ
cung cấp cho các cấp quản trị trong nội bộ doanh nghiệp sử dụng để đưa ra quyết
định điều hành các hoạt động kinh doanh được còn gọi là kế toán quản trị.
Trong các doanh nghiệp kinh doanh, mục tiêu cuối cùng đó là lợi nhuận thu được khi đã đầu tư vào hoạt động Nhưng để đạt lợi nhuận cao nhất các nhà quản trị kinh doanh cần phải có các quyết định kinh doanh một cách sáng suốt và khoa học Muốn quyết định kinh doanh có tính khả thi cao phải dựa vào hệ thống thông tin kế toán quản trị cung cấp
Như vậy kế toán quản trị có nhiệm vụ theo dõi tình hình biến động của các tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí, kết quả của doanh nghiệp bằng các thước đo
Trang 13khác nhau, gắn với các quan hệ tài chính để cung cấp cho các cấp quản trị theo yêu cầu cụ thể.
Để hiểu rõ hơn về kế toán quản trị, chúng ta xem xét một số khái niệm về kế toán quản trị trên các góc độ khác nhau:
- GS Robert S.Kaplan, trường Đại học Harvard Business School (HBS), trường phái kế toán quản trị của Mỹ, “ Kế toán quản trị là một bộ phận của hệ thống thông tin quản trị trong các tổ chức mà nhà quản trị dựa vào đó để hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức ”
Theo quan điểm này, kế toán quản trị là công cụ gắn liền với hoạt động quản trị của các tổ chức Nó có vai trò quan trọng cho các tổ chức xây dựng các dự toán, hoạch định các chính sách và kiểm soát mọi hoạt động của tổ chức
- GS H.BOUQUIN Đại học Paris- Dauphin, trường phái kế toán quản trị của Pháp , “ Kế toán quản trị là một hệ thống thông tin định lượng cung cấp cho các nhà quản trị đưa ra quyết định điều hành các tổ chức nhằm đạt hiệu quả cao ”
Với GS H.BOUQUIN, kế toán quản trị là công cụ cung cấp thông tin cho các nhà quản trị, dựa vào thông tin đó các nhà quản trị đưa ra quyết định điều hành các hoạt động nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao
- Giáo trình kế toán quản trị củaTrường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội do PGS.TS Nguyễn Minh Phương chủ biên, “ Kế toán quản trị là quy trình định dạng,
đo lường, tổng hợp, phân tích, lập báo biểu, giải trình và thông đạt các số liệu tài chính và phi tài chính cho ban giám đốc lập kế hoạch trong phạm vi nội bộ một doanh nghiệp để đảm bảo cho việc sử dụng có hiệu quả các tài sản và quản lý chặt chẽ các tài sản đó ”
Như vậy theo quan điểm này, kế toán quản trị đã được khái quát thành các công việc cụ thể theo chức năng và là công cụ cung cấp thông tin cho các nhà quản trị để đưa ra quyết định điều hành các hoạt động kinh doanh
- Giáo trình kế toán quản trị củaTrường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh do TS Phạm Văn Dược chủ biên , “ Kế toán quản trị là hệ thống thông tin cung cấp cho các nhà quản trị để xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra
Trang 14đánh giá và ra quyết định cho các tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả của các hoạt động ”
- TS Phạm Văn Dược, kế toán quản trị đã được khái quát thành các chức năng
cụ thể mà các nhà quản trị phải thực hiện với mục tiêu nâng cao hiệu quả của các hoạt động
Từ những quan điểm trên ta có thể khái quát bản chất của kế toán quản trị như sau:
- Kế toán quản trị là một bộ phận cấu thành của kế toán nói chung trong các tổ chức kinh tế, đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh
- Thông tin kế toán quản trị chủ yếu cung cấp cho các nhà quản trị doanh nghiệp đưa ra các quyết định điều hành các hoạt động kinh doanh
- Thông tin kế toán quản trị thường cụ thể và mang tính chất định lượng nhiều
vì gắn với các hoạt động kinh doanh
- Thông tin kế toán quản trị được cụ thể hoá thành các chức năng cơ bản của các nhà quản trị
- Chức năng cơ bản của nhà quản trị đó là chức năng ra quyết định điều phối các hoạt động kinh doanh diễn ra hàng ngày
1.1.2 Kế toán quản trị chi phí.
- Kế toán quản trị chi phí là nội dung cơ bản kế toán quản trị trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh Mục tiêu cuối cùng của các doanh nghiệp kinh doanh
là chỉ tiêu tổng lợi nhuận thu về sau một kỳ hoạt động, hoặc sau một dự án đầu tư Muốn cho lợi nhuận cao nhất thì tổng chi phí của doanh nghiệp phải là thấp nhất Các nhà quản trị doanh nghiệp đều mong muốn chi phí thấp nhất, muốn chi phí thấp nhất một trong các biện pháp mà các nhà quản trị áp dụng đó là kiểm soát chi phí thông qua các định mức chi phí Mặt khác khi đã xác định đúng chi phí cho từng đối tượng, đó là căn cứ để phân tích mối quan hệ giữa chi phí, doanh thu và lợi nhuận
từ đó đưa ra các quyết định ngắn hạn và dài hạn cho các doanh nghiệp
Như vậy nội dung của kế toán quản trị chi phí có thể khái quá như sau:
Trang 15- Xây dựng các dự toán chi phí, định mức chi phí một cách khoa học góp phần chủ động trong các hoạt động kinh doanh.
- Phân loại chi phí để góp phần kiểm soát chi phí
- Tập hợp và xác định chi phí cho từng đối tượng và bộ phận nhằm đánh giá kết quả của các bộ phận
- Phân tích mối quan hệ giữa chi phí, doanh thu, khối lượng và lợi nhuận để đưa ra quyết định ngắn hạn và dài hạn
- Phân tích kết quả chi phí thực hiện so với các dự toán để đưa ra quyết định ứng xử cho phù hợp
1.1.3 Các phương pháp kế toán quản trị
Là một bộ phận của kế toán doanh nghiệp, kế toán quản trị sử dụng phương pháp chứng từ, phương pháp đối ứng tài khoản, phương pháp tính giá, phương pháp tổng hợp - cân đối kế toán, kế toán quản trị còn sử dụng một số phương pháp
kỹ thuật nghiệp vụ riêng làm cơ sở để cung cấp thông tin cho quản trị doanh nghiệp, đó là:
Nhận diện, phân loại chi phí
Chi phí là nhân tố chủ yếu tác động đến kết quả hoạt động kinh doanh, nhiệm
vụ kiểm soát chi phí, dự toán biến động của chi phí đối với nhà quản trị là rất quan trọng Nhận diện cách phân loại chi phí sao cho hữu ích và thích hợp là một phương pháp nghiệp vụ của kế toán quản trị, theo quan điểm chi phí được phân làm nhiều loại khác nhau nhằm thỏa mãn các mục đích khác nhau của nhà quản trị Có thể nói nhận diện đúng phương pháp phân loại chi phí là chìa khóa mở ra các quyết định kinh doanh
Sử dụng các kỹ thuật phân tích để cung cấp thông tin dạng đặc thù
Kế toán sử dụng nhiều phương pháp phân tích như phương pháp so sánh, phương pháp xác định nhân tố ảnh hưởng nhằm cung cấp những thông tin hữu ích cho nhu cầu đặc thù quản trị
Thiết kế thông tin trên báo cáo
Trang 16Quá trình ra quyết định, lập kế hoạch và điều hành của nhà quản trị sẽ dựa vào thông tin trên báo cáo để đánh giá và đề ra quyết định đúng đắn nhất cho hoạt động sản xuất kinh doanh Thông tin sẽ không có tác dụng nếu thiếu tiêu chuẩn so sánh
nó Do vậy, thông tin phải được thiết kế trên báo cáo thể hiện dạng so sánh được
Truyền đạt thông tin dưới dạng mô hình, phương trình, đồ thị
Phần lớn thông tin cần thiết đều thông qua quá trình phân tích, định lượng do
kế toán quản trị cung cấp nên kế toán quản trị cần phải truyền đạt ý nghĩ, nhu cầu và các kỹ thuật tính toán thông tin để nhà quản trị có thể hiểu được hết khả năng và hạn chế của thông tin cung cấp Ngoài ra, nếu có thể được, các thông tin đã định lượng cần thiết kế nên được trình bày dưới dạng mô hình, phương trình, đồ thị, hình
vẽ vì đây là cách trình bày dễ hiểu, dễ thấy và nhất là mối quan hệ, xu hướng biến động của thông tin đang nghiên cứu
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp xây dựng
- Đặc điểm về sản phẩm và dịch vụ: Các công ty xây dựng kinh doanh trong
lĩnh vực xây lắp nên các sản phẩm của các công ty gồm: dịch vụ xây dựng dân dụng, xây dựng công nghiệp có quy mô lớn, mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất dài, đặc biệt sản phẩm sản xuất ngay tại nơi tiêu thụ
- Đặc điểm về công nghệ kỹ thuật: Lĩnh vực xây dựng là lĩnh vực có sử dụng
các thiết bị, máy móc có công suất lớn, chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản của công ty Các công ty xây dựng luôn chú trọng vào việc đổi mới công nghệ, mở rộng, nâng cao chất lượng máy móc thiết bị để nâng cao hiệu suất làm việc, tiết kiệm chi phí, giảm giá thành
- Đặc điểm về vốn: Trong mọi doanh nghiệp ,vốn đều bao gồm 2 bộ phận: vốn
chủ sở hữu và vốn vay, mỗi bộ phận này lại được cấu thành bởi nhiều khoản mục khác nhau tùy theo tính chất của chúng
Vốn chủ sở hữu: Đối với mọi loại hình doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp gồm bộ phận sau: Vốn góp ban đầu; lợi nhuận không chia; các quỹ của doanh nghiệp; tăng vốn bằng phát hành cổ phiếu mới
Trang 17Vốn vay: Để bổ sung vốn cho quá trình sản xuất – kinh doanh, doanh nghiệp không thể chỉ sử dụng vốn chủ sở hữu mà còn có thể sử dụng vốn vay thông qua các nguồn tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại, vay thông qua phát hành trái phiếu.
- Đặc điểm về tài sản: Tài sản là những yếu tố ban đầu cần thiết để doanh
nghiệp có thể hoạt động Tài sản là một tài nguyên có giá trị kinh tế được một cá nhân, một tổ chức hay một quốc gia sở hữu hoặc quản lý với hy vọng thu được lợi nhuận từ chúng Tài sản của doanh nghiệp gồm tài sản dài hạn và tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp bao gồm có tiền mặt, các khoản phải thu, hàng tồn kho và các khoản phải thu khác như tiền tạm ứng, đặt cọc Ở mỗi doanh nghiệp, tương ứng với từng lĩnh vực hoạt động kinh doanh khác nhau thì sẽ có cơ cấu và nguồn tài sản ngắn hạn khác nhau Nó phù hợp với quy mô và khả năng hoạt động của từng công ty Tiền mặt, khoản phải thu và hàng tồn kho là các yếu tố không thể thiếu trong bất kỳ công ty nào Tài sản dài hạn là những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong nhiều kỳ kinh doanh hoặc hơn một năm tài chính Tài sản cố định (TSCĐ) hữu hình, TSCĐ vô hình, TSCĐ thuê tài chính, bất động sản đầu tư, đầu tư vào công ty con, đầu tư vào công ty liên kết, đầu tư góp vốn liên doanh, đầu tư dài hạn khác và đầu tư XDCB ở doanh nghiệp, chi phí trả trước dài hạn, tài sản thuế thu nhập hoãn lại
- Đối thủ cạnh tranh: Phân tích đối thủ cạnh tranh là quá trình đánh giá điểm
yếu và điểm mạnh của các đối thủ hiện tại và tiềm tàng Những phân tích này cung cấp cho doanh nghiệp bức tranh về chiến lược tấn công và phòng ngự, qua đó họ có thể xác định những cơ hội và thách thức Đối thủ cạnh tranh của các công ty xây
dựng thuộc Tập đoàn Hoàng Hà là các công ty xây dựng trên địa bàn Hà Nội (Tổng công ty Sông Đà, Tổng công ty đầu tư và phát triển nhà Hà Nội, Tổng công ty xây dựng Hà Nội, công ty cổ phần đầu tư và xây dưng Công nghiệp, công ty cổ phần Đầu tư và Xây dựng Quốc tế COMPA ) và cả trong và ngoài nước.
Trang 18- Khách hàng: Đến cuối năm 2011, cả nước có khoảng 36.000 doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng, tổng doanh thu đạt 283.000 tỷ đồng Các doanh nghiệp hiện đang gặp không ít khó khăn Nhu cầu của khách hàng đối với lĩnh vực xây dựng cũng có xu hướng giảm Khách hàng của các công ty xây dựng là các cá nhân, tổ chức có nhu cầu về xây dựng nhà ở, các công trình giao thông, công trình nhà chung cư, trường học, bệnh viện
- Chính sách vĩ mô của Nhà nước: Nhà nước có nhiệm vụ hướng dẫn tiêu dùng
cho nhân dân, thỏa mãn nhu cầu tiều dùng Đảng và nhà nước ta đang nỗ lực để
hoàn thiện các chính sách về thuế, luật kinh tế và các chinh sách vĩ mô khác (chính sách tiền tệ, tài khóa, quản lý ngoại hối, giá cả, phân phối lưu thông; tiến tới hạ lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng) nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao hiệu quả
kinh doanh, phát triển kinh tế của đất nước Các chính sách và luật pháp của nhà nước ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp Ngành xây dựng cần tích cực xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách theo hướng đồng
bộ, nâng cao chất lượng ban hành, phù hợp với thực tiễn, tạo ra những đột phá trong việc huy động các nguồn lực tham gia đầu tư xây dựng và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước trong các lĩnh vực của ngành, đặc biệt là lĩnh vực phát triển đô thị, phát triển nhà ở, hoạt động kinh doanh bất động sản…
1.3 Nội dung kế toán quản trị chi phí xây dựng trong các doanh nghiệp xây dựng
1.3.1 Phân loại chi phí
Chi phí sản xuất kinh doanh là sự tiêu hao nguyên vật liệu, nhân công, khấu hao tài sản cố định và các khoản chi phí khác để tạo ra sản phẩm và dịch vụ Xét trong quá trình chu chuyển vốn thì chi phí được coi là các yếu tố đầu vào để đổi lấy các yếu tố đầu ra đó là doanh thu thành phẩm hay dịch vụ Trong thực tế có nhiều tiêu thức phân loại chi phí, mỗi tiêu thức đều có ý nghĩa khác nhau đối với quá trình quản trị doanh nghiệp
Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí
Cách “ứng xử” của chi phí là thuật ngữ để biểu thị sự thay đổi của chi phí tương ứng với các mức độ hoạt động đạt được Trong doanh nghiệp sản xuất, các
Trang 19chỉ tiêu thể hiện mức độ hoạt động như: khối lượng công việc đã thực hiện, khối lượng sản phẩm sản xuất, số giờ máy hoạt động, Xét theo cách ứng xử, chi phí của doanh nghiệp được chia thành 3 loại: Biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp.
- Biến phí: là những chi phí xét về mặt tổng số sẽ thay đổi tỷ lệ thuận với mức
độ hoạt động của doanh nghiệp trong phạm vi hoạt động Mức độ hoạt động có thể
là số lượng sản phẩm sản xuất, số lượng sản phẩm tiêu thụ, số giờ máy hoạt động, doanh thu bán hàng thực hiện
Trong doanh nghiệp sản xuất, biến phí tồn tại khá phổ biến như: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí năng lượng Trong doanh nghiệp thương mại, biến phí thường bao gồm: Giá vốn hàng bán, hoa hồng cho người bán
Biến phí thường có các đặc điểm sau:
- Biến phí đơn vị thường không thay đổi Dựa vào đặc điểm này các nhà quản trị xây dựng định mức biến phí góp phần kiểm soát các khoản chi phí
- Xét về tổng số biến phí thay đổi tỷ lệ thuận với mức độ hoạt động
- Trong trường hợp doanh nghiệp không hoạt động thì biến phí không phát sinh
- Biến phí của doanh nghiệp gồm nhiều loại khác nhau, xét theo cách ứng
xử của chi phí có thể chia biến phí thành 2 loại cơ bản: biến phí tỷ lệ và biến phí cấp bậc
Biến phí tỷ lệ là các biến phí hoàn toàn tỉ lệ thuận với mức độ hoạt động Ví dụ: Vật liệu chính trong doanh nghiệp sản xuất sản phẩm; xi măng, sắt, thép trong các doanh nghiệp xây lắp
Biến phí cấp bậc là các biến phí chỉ thay đổi khi thay đổi quy mô của phạm vi hoạt động Các chi phí này chỉ biến đổi khi các hoạt động đã có sự biến đổi đạt đến một mức độ cụ thể nào đó Ví dụ: Chi phí bảo dưỡng máy móc, chi phí tiền lương của bộ phận công nhân phụ
Trang 20Sơ đồ 1.1 Đồ thị minh hoạ biến phí
- Định phí: là những chi phí xét về mặt tổng số không thay đổi theo mức độ
hoạt động trong phạm vi của quy mô hoạt động Trong các doanh nghiệp sản xuất, các loại chi phí bất biến thường gặp là chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí tiền lương nhân viên quản lý, chi phí quảng cáo
Định phí thường có đặc điểm sau:
- Trong giới hạn của quy mô hoạt động, xét về tổng chi phí thì định phí thường không thay đổi Nếu xét định phí trên một đơn vị mức độ hoạt động thì thay đổi tỷ
lệ nghịch với mức độ hoạt động Doanh nghiệp có hoạt động hay không thì định phí vẫn tồn tại Do vậy, các nhà quản trị muốn cho cho định phí đơn vị sản phẩm thấp cần khai thác tối đa công suất của các tài sản đã tạo ra các định phí đó
- Định phí trong doanh nghiệp cũng đa dạng và phong phú Xét ở khía cạnh quản lý chi phí, định phí được chia thành 2 loại: định phí bắt buộc và định phí không bắt buộc
Định phí bắt buộc là những định phí không thể thay đổi một cách nhanh chóng, chúng thường liên quản đến tài sản cố định và cấu trúc tổ chức sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Thể hiện rõ nhất là chi phí khấu hao TSCĐ hay tiền lương nhân viên quản lý ở các phòng ban chức năng Các định phí bắt buộc gắn liền với
Biến phí cấp bậc
Mức độ hoạt động
Chi phíChi phí
Mức độ hoạt độngBiến phí tỷ lệ
Trang 21các mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp, chúng biểu hiện tính chất cố định khá vững chắc và ít chịu sự tác động của các quyết định trong quản lý ngắn hạn, không thể cắt giảm hết trong thời gian ngắn Để quản lý loại chi phí này cần tập trung vào việc nâng cao hiệu suất sử dụng các yếu tố vật chất và nhân lực cơ bản của doanh nghiệp.
Định phí không bắt buộc là các định phí có thể được thay đổi nhanh chóng bằng các quyết định của nhà quản trị doanh nghiệp Chúng thường được kiểm soát theo các kế hoạch ngắn hạn và phụ thuộc nhiều vào chính sách quản lý hàng năm của các nhà quản trị, có thể cắt giảm khi cần thiết Do vậy, loại chi phí này còn được gọi là chi phí bất biến tuỳ ý hay chi phí bất biến quản trị Thuộc loại chi phí này gồm chi phí quảng cáo, chi phí nghiên cứu phát triển, chi phí đào tạo nhân viên
- Chi phí hỗn hợp: là loại chi phí mà bao gồm cả các yếu tố của định phí và
biến phí Ở một mức độ hoạt động cụ thể nào đó, chi phí hỗn hợp mang đặc điểm của chi phí bất biến, và khi mức độ hoạt động tăng lên, chi phí hỗn hợp sẽ biến đổi như đặc điểm của chi phí khả biến Hiểu theo một cách khác, phần bất biến trong chi phí hỗn hợp thường là bộ phận chi phí cơ bản để duy trì các hoạt động ở mức độ tối thiểu, còn phần khả biến là bộ phận chi phí sẽ phát sinh tỉ lệ với mức độ hoạt động tăng thêm Trong các doanh nghiệp sản xuất, chi phí hỗn hợp cũng chiếm một
tỉ lệ khá cao trong các loại chi phí, chẳng hạn như chi phí điện thoại, chi phí bảo trì máy móc thiết bị,
Trong thực tế các nhà quản trị muốn kiểm soát các khoản chi phí hỗn hợp cần phải xác định quy mô hoạt động của doanh nghiệp và sử dụng các phương pháp phân tích chi phí hỗn hợp thành 2 bộ phận biến phí và định phí Việc phân tích này được thực hiện bằng một trong các phương pháp: phương pháp cực đại, cực tiểu; phương pháp đồ thị phân tán và phương pháp bình phương bé nhất và các phương pháp khác
- Phương pháp cực đại - cực tiểu: Căn cứ vào chi phí phát sinh mà mức độ
hoạt động qua các thời kỳ, kế toán xác định mức chênh lệch chi phí ở mức độ hoạt
Trang 22động cao nhất và thấp nhất, mức độ hoạt động ở 2 điểm cao nhất và thấp nhất, từ đó tính ra biến phí đơn vị theo công thức:
Biến phí đơn vị (b) = Chênh lệch chi phí ở mức độ hoạt động
cao nhất và thấp nhấtChênh lệch mức độ hoạt động cao nhất và
thấp nhấtXác định tổng biến phí và định phí:
Tổng biến phí ở mức hoạt động
cao nhất (thấp nhất) =
Mức hoạt động cao nhất (thấp nhất)
X
Biến phí đơn vị (b)
nhất)
-Tổng biến phí ở mức hoạt động cao nhất (thấp nhất)
Từ đó xây dựng được phương trình chi phí hỗn hợp có dạng:
- Phương pháp đồ thị phân tán: Với phương pháp này, trước hết chúng ta
sử dụng đồ thị để biểu diễn tất cả các số liệu thống kê được để xác định mối quan hệ giữa chi phí hỗn hợp với mức độ hoạt động tương ứng Sau đó, quan sát
và kẽ đường thẳng qua tập hợp các điểm vừa biểu diễn trên đồ thị sao cho đường thẳng đó là gần với các điểm nhất và phân chia các điểm thành hai phần bằng nhau về số lượng các điểm Đường thẳng kẻ được sẽ là đường đại diện cho tất cả các điểm và được gọi là đường hồi qui Điểm cắt giữa đường biểu diễn với trục
Trang 23tung phản ánh chi phí cố định Độ dốc của đường biểu diễn phản ánh tỉ lệ biến phí (biến phí đơn vị)
Sơ đồ 1.2 Phương pháp đồ thị phân tán
- Phương pháp bình phương nhỏ nhất (phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính)
Phương pháp bình phương nhỏ nhất căn cứ trên sự tính toán của phương trình
X: là qui mô hoạt động (còn gọi là sản lượng)
Từ phương trình này, tập hợp n phần tử quan sát, ta có hệ phương trình sau:
Định phí
Trang 24Giải hệ thống phương trình này ta sẽ xác định được các yếu tố a, b và lập được phương trình hồi quy thích hợp.
Phương pháp này có ưu điểm là kết quả chính xác hơn vì sử dụng phân tích thống kê để xác định đường hồi quy cho các điểm nhưng lại có nhược điểm là quá
trình tính toán phức tạp hơn
Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động
Chi phí phát sinh trong các doanh nghiệp sản xuất, xét theo từng hoạt động có chức năng khác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh mà chúng phục vụ, được chia thành hai loại: chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất
- Chi phí sản xuất
Giai đoạn sản xuất là giai đoạn biến nguyên vật liệu thành thành phẩm bằng sức lao động của công nhân kết hợp với việc sử dụng máy móc thiết bị Chi phí sản xuất bao gồm ba khoản mục: chi phí nguyên liệu vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung Trong các doanh nghiệp xây lắp, chi phí sản xuất ngoài 3 khoản mục trên còn có khoản mục chi phí sử dụng máy thi công
Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là giá
trị của những nguyên vật liệu cấu thành thực thể của sản phẩm và có thể xác định được một cách tách biệt, rõ ràng, cụ thể cho từng sản phẩm Đặc điểm của chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có thể tập hợp thẳng cho các đồi tượng chịu chi phí, thường mang tính chất biến phí, nó cấu thành nên thực thể của sản phẩm, chiếm tỷ trọng khá cao trong chỉ tiêu giá thành sản phẩm Thông thường chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có thể định mức cho một đơn vị sản phẩm vừa cơ sở xây dựng dự toán, vừa là cơ sở kiểm soát chi phí
Chi phí nhân công trực tiếp: Chi phí nhân công trực tiếp là chi phí về tiền
lương, phụ cấp, các khoản trích theo lương, tiền ăn ca của những lao động trực tiếp xây lắp Chi phí nhân công trực tiếp có thể tập hợp thẳng cho đối tượng chịu chi phí Khoản mục chi phí này thường mang tính chất biến phí, thường xây dựng định mức cho một đơn vị sản phẩm nhằm góp phần kiểm soát chi phí, xây dựng hệ thống
dự toán chi phí
Trang 25Chi phí sản xuất chung: Chi phí sản xuất chung là các chi phí phát sinh trong
phạm vi các phân xưởng để phục vụ hoặc quản lý quá trình sản xuất sản phẩm Chi phí sản xuất chung bao gồm các yếu tố sau:
- Chi phí nhân viên phân xưởng, đội sản xuất: Là tiền lương, phụ cấp, các khoản trích theo lương và các khoản khác phải trả cho nhân viên phân xưởng, đội sản xuất như: Quản đốc, phó quản đốc phân xưởng, đội trưởng, đội phó các đội sản xuất, nhân viên kinh tế
- Chi phí vật liệu phục vụ cho phân xưởng, đội sản xuất như: văn phòng phẩm, các vật liệu khác cần thiết khi sửa chữa, bảo dưỡng phân xưởng
- Chi phí công cụ, dụng cụ phục vụ cho phân xưởng, đội sản xuất như: quần áo bảo hộ lao động của công nhân, các dụng cụ phục vụ công nhân sản xuất như búa, cưa, que hàn
- Chi phí khấu hao tài sản cố định phục vụ cho quá trình sản xuất như nhà xưởng, máy móc, thiết bị Mỗi tài sản cố định có những đặc điểm khác nhau do vậy việc vận dụng phương pháp khấu hao cho các tài sản cũng khác nhau nhằm thu hồi vốn đầu tư
- Chi phí dịch vụ mua ngoài như tiền điện thoại, tiền điện, tiền nước phục vụ cho quá trình sản xuất
- Chi phí khác bằng tiền như: Tiền tiếp khách ở phân xưởng, thiệt hại trong quá trình sản xuất
Chi phí sản xuất chung bao gồm nhiều yếu tố chi phí, có yếu tố mang tính chất định phí, có yếu tố mang tính chất biến phí, có yếu tố hỗn hợp mang cả tính chất định phí và biến phí Do vậy, các nhà quản trị muốn kiểm soát được các yếu tố trong khoản mục chi phí này cần phải tách các yếu tố thành hai bộ phận định phí và biến phí
Chi phí sử dụng máy thi công:
Chi phí sử dụng máy thi công là các khoản chi phí phục vụ cho đội máy thi công hoặc mua ngoài để thi công cho các công trình và hạng mục công trình Chi phí sử dụng máy thi công bao gồm: Tiền lương phải trả cho công nhân điều khiển
Trang 26máy thi công, chi phí nguyên vật liệu sử dụng cho máy thi công, chi phí dụng cụ sản xuất, chi phí khấu hao, chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí khác bằng tiền phục vụ cho máy thi công Đặc điểm của chi phí sử dụng máy thi công là chi phí hỗn hợp mang cả tính chất định phí và biến phí.
Chi phí sản xuất chung và chi phí sử dụng máy thi công theo mối quan hệ của chi phí với đối tượng chịu chi phí thường là chi phí gián tiếp Do vậy, cuối mỗi kỳ hoạt động cần phải phân bổ các khoản mục chi phí này theo tiêu thức phù hợp tuỳ theo tính chất của chi phí và điều kiện cụ thể của doanh nghiệp để phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm, dịch vụ
- Chi phí ngoài sản xuất
Chi phí ngoài sản xuất là các chi phí phát sinh ngoài quá trình sản xuất sản phẩm liên quan đến quá trình tiêu thụ sản phẩm hoặc phục vụ công tác quản lý chung toàn doanh nghiệp Thuộc loại chi phí này gồm có hai khoản mục chi phí: Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
Chi phí bán hàng: Khoản mục chi phí này bao gồm các chi phí phát sinh phục
vụ cho khâu tiêu thụ sản phẩm Có thể kể đến các chi phí như chi phí vận chuyển, bốc dỡ thành phẩm giao cho khách hàng, chi phí bao bì, khấu hao các phương tiện vận chuyển, tiền lương nhân viên bán hàng, hoa hồng bán hàng, chi phí tiếp thị quảng cáo,
Chi phí quản lý doanh nghiệp: Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm tất cả
các chi phí phục vụ cho công tác tổ chức và quản lý quá trình sản xuất kinh doanh nói chung trên giác độ toàn doanh nghiệp Khoản mục này bao gồm các chi phí như: chi phí văn phòng, tiền lương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý doanh nghiệp, khấu hao tài sản cố định của doanh nghiệp, các chi phí dịch
vụ mua ngoài khác,
Chi phí ngoài sản xuất bao gồm nhiều yếu tố, mỗi yếu tố cũng thường bao gồm cả định phí và biến phí Do vậy, muốn kiểm soát các yếu tố chi phí cần tách thành 2 bộ phận định phí và biến phí Chi phí ngoài sản xuất được coi là chi phí gián tiếp nếu xét theo mối quan hệ giữa chi phí với đối tượng chịu chi phí Do vậy,
Trang 27để xác định chính xác kết quả tiêu thụ, kết quả kinh doanh của các bộ phận cần phải
có các tiêu thức phân bổ chi phí phù hợp
Căn cứ vào mối quan hệ của chi phí với đối tượng chịu chi phí
Chi phí chia thành 2 dạng: Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
Chi phí trực tiếp đó là các khoản chi phí mà kế toán có thể tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí Ví dụ, vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp Một đối tượng chịu chi phí mà có tỷ trọng chi phí trực tiếp cao thì độ chính xác của chỉ tiêu giá thành, kết quả của các đối tượng càng cao
Chi phí gián tiếp đó là các khoản chi phí mà kế toán không thể tập hợp trực tiếp cho các đối tượng chịu chi phí, do vậy đối với từng yếu tố chi phí gián tiếp kế toán phải phân bổ cho từng đối tượng chịu chi phí Ví dụ, tiền lương của nhân viên phân xưởng Độ chính xác của chi phí gián tiếp cần phân bổ còn phụ thuộc vào tiêu thức phân bổ.Tiêu thức phân bổ phải lựa chọn cho phù hợp và thường dựa vào những căn cứ khoa học như : Thuận tiện cho việc tính toán, thống nhất cả kỳ hạnh toán, có tính đại diện cao cho chi phí gián tiếp cần phân bổ
Các cách phân loại chi phí khác nhằm mục đích ra quyết định.
Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được Chi phí kiểm soát được đó là các khoản chi phí phát sinh trong phạm vi quyền của các nhà quản trị đối với các khoản chi phí đó Như vậy đối với các nhà quản trị cao có phạm vi quyền hạn rộng rãi đối với chi phí hơn các nhà quản trị thấp Chi phí không kiểm soát được đó là các khoản chi phí phát sinh ngoài phạm vi kiểm soát của các cấp quản trị doanh nghiệp
Chi phí chênh lệch đó là các khoản chi phí có ở phương án này nhưng chỉ có một phần hoặc không có ở phương án khác
Chi phí cơ hội đó là lợi ích bị mất đi vì chọn phương án và hành động này thay cho hành động và phương án khác
1.3.2 Xây dựng định mức và lập dự toán chi phí
Lập dự toán chi phí sản xuất có ý nghĩa quan trọng trong hệ thống kế toán quản trị doanh nghiệp, nó là một khâu trong chu kỳ hoạch định, kiểm soát và ra
Trang 28quyết định của nhà quản trị doanh nghịêp Quá trình dự toán chi phí sản xuất ở doanh nghiệp rất phức tạp, bởi lẽ đó là mối quan hệ với định mức chi phí, là sự liên kết các mục tiêu ở từng khâu của quá trình kinh doanh Việc dự toán chi phí sản xuất đúng hay không, có liên kết phù hợp và sát với khả năng, điều kiện của doanh nghiệp hay không, sẽ chi phối rất nhiều đến các quyết định kinh doanh và mục tiêu chung của doanh nghiệp.
Việc lập dự toán chi phí sản xuất phải căn cứ vào định mức chi phí Định mức chi phí sản xuất kinh doanh là chỉ tiêu dự toán chi phí cho từng đơn vị dự toán từng đơn vị sản phẩm sản xuất, còn dự toán được lập cho toàn bộ sản lượng sản phẩm dự kiến sản xuất trong kỳ Như vậy dự toán và định mức chi phí sản xuất có quan hệ mật thiết với nhau ảnh hưởng lẫn nhau Nếu định mức chi phí xây dựng không hợp
lý, không sát với thực tế thì dự toán được lập trên cơ sở đó sẽ không có tính khả thi cao, giảm tác dụng kiểm soát thực tế Hiện nay, ở Việt Nam đã ban hành nhiều thông tư hướng dẫn việc việc xây dựng định mức và lập dự toán chi phí Thông tư 04/2010/TT-BXD ngày 26 tháng 5 năm 2010 hướng dẫn lập và quản lý chi phí đầu
tư xây dựng công trình (Thay thế Thông tư số 05/2007/TT-BXD ngày 25/7/2007)
Xây dựng định mức chi phí
Xây dựng định mức chi phí phải tuân theo nguyên tắc chung là phải tìm hiểu xem xét một cách khách quan nghiêm túc toàn bộ tình hình thực tế thực hiện chi phí sản xuất đối với mỗi đơn vị sản phẩm về mặt hiện vật của những kỳ trước, đánh giá chất lượng sản phẩm và các vấn đề liên quan đến năng suất và hiệu quả lao động của doanh nghiệp Sau đó kết hợp với những thay đổi về thị trường, thay đổi về điều kiện kinh tế kỹ thuật để điều chỉnh bổ sung định mức chi phí cho phù hợp với điều kiện mới và yêu cầu mới Có nghĩa là kết quả đạt được ở kỳ trước là căn cứ để dự đoán tương lai để xây dựng định mức chi phí cho kỳ tương lai phù hợp và sát với thực tế hơn Định mức chi phí là chỉ tiêu phản ánh mức hoạt động hiệu qủa cho kỳ
dự toán sắp thực hiện
Định mức chi phí thường chia làm hai loại: Định mức lý tưởng và định mức thực tế
Trang 29- Định mức lý tưởng được xây dựng trong điều kiện sản xuất kinh doanh hoàn hảo nhất về máy móc, thiết bị sản xuất, sự lành nghề của lao động và các điều kiện khác cũng hoàn hảo, không có sự gián đoạn trong thời gian sản xuất Thực tế điều
đó là khó đáp ứng được, do vậy định mức lý tưởng không có tính thực tế và không được áp dụng trong thực tế Định mức lý tưởng chỉ có ý nghĩa xem xét tham khảo khi đánh giá định mức thực tế
- Định mức thực tế là định mức được xây dựng chặt chẽ trên cơ sở phù hợp với điều kiện thực tế và có khả năng đạt được Đối với nhà quản trị doanh nghiệp định mức thực tế là cơ sở khoa học đánh giá, so sánh hiệu quả của sản xuất kinh doanh ở từng bộ phận phát hiện những chỗ không bình thường kém hiệu quả để có biện pháp khắc phục Hệ thống định mức chi phí trong doanh nghiệp xây lắp được xây dựng theo trình tự sau:
Bước 1 Lập danh mục công tác xây dựng hoặc kết cấu mới của công trình chưa có trong danh mục định mức xây dựng được công bố
Mỗi danh mục công tác xây dựng hoặc kết cấu mới phải thể hiện rõ đơn vị tính khối lượng và yêu cầu về kỹ thuật, điều kiện, biện pháp thi công chủ yếu của công tác kết cấu
Bước 2 Xác định thành phần công việc
Thành phần công việc phải nêu rõ các bước công việc thực hiện của từng công đoạn theo thiết kế tổ chức dây chuyền công nghệ thi công từ khi bắt đầu đến khi hoàn thành, phù hợp với điều kiện, biện pháp thi công và phạm vi thực hiện công việc của công tác hoặc kết cấu
Bước 3 Tính toán xác định hao phí vật liệu, nhân công, máy thi công
Trang 30- Hao phí vật liệu: xác định theo thiết kế và điều kiện, biện pháp thi công công trình hoặc định mức sử dụng vật tư được công bố.
- Hao phí nhân công: xác định theo tổ chức lao động trong dây chuyền công nghệ phù hợp với điều kiện, biện pháp thi công của công trình hoặc tính toán theo định mức lao động được công bố
- Hao phí máy thi công: xác định theo thông số kỹ thuật của từng máy trong dây chuyền hoặc định mức năng suất máy xây dựng được công bố và có tính đến hiệu suất do sự phối hợp của các máy thi công trong dây chuyền
+ Phương pháp 2 Tính toán theo số liệu thống kê - phân tích
Phân tích, tính toán xác định các mức hao phí vật liệu, nhân công, máy thi công từ các số liệu tổng hợp, thống kê như sau:
- Từ số lượng hao phí về vật liệu, nhân công, máy thi công thực hiện một khối lượng công tác theo một chu kỳ hoặc theo nhiều chu kỳ của công trình đã và đang thực hiện
- Từ hao phí vật tư, sử dụng lao động, năng suất máy thi công đã được tính toán từ các công trình tương tự
- Từ số liệu công bố theo kinh nghiệm của các chuyên gia hoặc tổ chức chuyên môn nghiệp vụ
+ Phương pháp 3 Tính toán theo khảo sát thực tế
Tính toán xác định các mức hao phí từ tài liệu thiết kế, số liệu khảo sát thực tế của công trình (theo thời gian, địa điểm, khối lượng thực hiện trong một hoặc nhiều chu kỳ ) và tham khảo định mức sử dụng vật tư, lao động, năng suất máy được công bố
- Hao phí vật liệu: tính toán theo số liệu khảo sát thực tế và đối chiếu với thiết kế, quy phạm, quy chuẩn kỹ thuật
- Hao phí nhân công: tính theo số lượng nhân công từng khâu trong dây chuyền sản xuất và tổng số lượng nhân công trong cả dây chuyền, tham khảo các quy định về sử dụng lao động
Trang 31- Hao phí máy thi công: tính toán theo số liệu khảo sát về năng suất của từng loại máy và hiệu suất phối hợp giữa các máy thi công trong cùng một dây chuyền, tham khảo các quy định về năng suất kỹ thuật của máy.
* Nội dung tính toán các thành phần hao phí
+ Tính toán định mức hao phí về vật liệu
Định mức hao phí vật liệu cần thiết để hoàn thành một đơn vị khối lượng công tác hoặc kết cấu xây dựng kể cả hao hụt vật liệu được phép trong quá trình thi công, gồm:
- Vật liệu chủ yếu (chính): như cát, đá, xi măng, gạch ngói, sắt thép, trong công tác bê tông, xây, cốt thép, sản xuất kết cấu, là những loại vật liệu có giá trị cao và chiếm tỷ trọng lớn trong một đơn vị khối lượng hoặc kết cấu thì qui định mức bằng hiện vật và tính theo đơn vị đo lường thông thường
- Vật liệu khác (phụ): như dầu nhờn, sơn, ve, bột bả, chổi quét, là những loại vật liệu có giá trị nhỏ, khó định lượng chiếm tỷ trọng ít trong một đơn vị khối lượng hoặc kết cấu thì qui định mức bằng tỷ lệ phần trăm so với chi phí của các loại vật liệu chính
Định mức hao phí vật liệu được xác định trên cơ sở định mức vật liệu được công bố hoặc tính toán theo một trong ba phương pháp nêu trên
Tính toán hao phí vật liệu chủ yếu
Công thức tổng quát xác định định mức hao phí vật liệu (VL) trong định mức xây dựng là:
VL = QV x Khh + QV
LC x KLC x Ktđ Trong đó:
- QV: Số lượng vật liệu sử dụng cho từng thành phần công việc trong định mức (trừ vật liệu luân chuyển), được tính toán theo một trong ba phương pháp trên;Đối với vật liệu cấu thành nên sản phẩm theo thiết kế thì số lượng vật liệu được xác định từ tiêu chuẩn thiết kế, ví dụ bê tông tính theo mác vữa thì trong đó
đá dăm, cát, xi măng, nước tính từ tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam (TCXDVN), hoặc tiêu chuẩn của công trình,
Trang 32Đối với vật liệu phục vụ thi công theo thiết kế biện pháp tổ chức thi công được xác định theo kỹ thuật thi công và số lần luân chuyển theo định mức vật tư được công bố hoặc tính toán đối với trường hợp chưa có trong định mức vật tư
- QV
LC: Số lượng vật liệu luân chuyển (ván khuôn, giàn giáo, cầu công tác )
sử dụng cho từng thành phần công việc trong định mức được tính toán theo một trong ba phương pháp trên;
- Khh: Định mức tỷ lệ hao hụt vật liệu được phép trong thi công:
Khh = 1 + Ht/c
Ht/c: Định mức hao hụt vật liệu trong thi công theo các quy định trong định mức vật tư được công bố, theo khảo sát, theo thực tế của các công trình tương tự, hoặc theo kinh nghiệm của các chuyên gia hoặc tổ chức chuyên môn nghiệp vụ đối với những vật tư chưa có trong định mức
Định mức hao hụt được qui định cho loại vật liệu rời, vật liệu bán thành phẩm (vữa xây, vữa bê tông) và cấu kiện (cọc, dầm đúc sẵn)
- KLC: Hệ số luân chuyển của loại vật liệu cần phải luân chuyển quy định trong định mức sử dụng vật tư Đối với vật liệu không luân chuyển thì KLC=1 Đối với vật liệu luân chuyển thì KLC < 1
Hệ số luân chuyển của vật liệu luân chuyển được xác định theo công thức sau:
h x (n -1) + 2 2n
Trong đó:
- h: Tỷ lệ được bù hao hụt từ lần thứ 2 trở đi;
- n: Số lần sử dụng vật liệu luân chuyển (n > 1);
- Ktđ: Hệ số sử dụng thời gian do tiến độ thi công công trình là hệ số phản ánh việc huy động không thường xuyên hoặc tối đa lượng vật liệu để hoàn thành công tác xây dựng theo đúng tiến độ Hệ số này chỉ ảnh hưởng đến vật liệu luân chuyển, ví dụ như huy động giàn giáo, côp pha, cây chống,
KLC =
Trang 33Khi biện pháp thi công sử dụng một lần hoặc nhiều lần thì bổ sung thêm hệ số này cho phù hợp với điều kiện xây dựng công trình Hệ số này được tính theo tiến độ, biện pháp thi công hoặc theo kinh nghiệm của tổ chức, chuyên môn nghiệp vụ.
Tính toán hao phí vật liệu khác
Đối với các loại vật liệu khác (phụ) được định mức bằng tỷ lệ phần trăm so với tổng chi phí các loại vật liệu chính định lượng trong định mức xây dựng và được xác định theo loại công việc, theo số liệu kinh nghiệm của chuyên gia hoặc định mức trong công trình tương tự
+ Tính toán định mức hao phí về lao động
Định mức hao phí lao động trong định mức xây dựng được xác định trên định mức lao động cơ sở (thi công) được công bố hoặc tính toán theo một trong ba phương pháp trên
- Đơn vị tính của định mức lao động cơ sở là giờ công
- Đơn vị tính của định mức lao động trong định mức xây dựng là ngày công Mức hao phí lao động được xác định theo công thức tổng quát:
NC = ∑ (tg
đm x Kcđđ) x 1/8 Trong đó:
- tg
đm : Định mức lao động cơ sở: là mức hao phí lao động trực tiếp xây dựng cho một đơn vị tính khối lượng công tác hoặc kết cấu xây dựng cụ thể;
- Kcđđ : Hệ số chuyển đổi định mức xây dựng
Hệ số này được tính từ định mức lao động cơ sở (thi công) chuyển sang định mức xây dựng hoặc lấy theo kinh nghiệm của các nhà chuyên môn
Trị số này phụ thuộc vào nhóm công tác, loại tổ hợp đơn lẻ hay hỗn hợp mà đưa ra các hệ số khác nhau tuỳ theo loại công tác, yêu cầu kỹ thuật và điều kiện thi công cụ thể
và thường trong khoảng từ 1,05 ÷1,3
- 1/8: Hệ số chuyển đổi từ định mức giờ công sang định mức ngày công
+ Tính toán định mức hao phí về máy xây dựng
Định mức hao phí về máy thi công trong định mức xây dựng được xác định trên
cơ sở định mức năng suất máy thi công được công bố hoặc tính toán theo một trong ba phương pháp trên
Trang 34Đơn vị tính của định mức năng suất máy thi công là giờ máy, ca máy,
Tính toán hao phí máy thi công chủ yếu
Công thức tổng quát xác định định mức hao phí về ca máy, thiết bị xây dựng:
- Kcđđ: Hệ số chuyển đổi định mức xây dựng
Hệ số này được tính từ định mức năng suất máy thi công chuyển sang định mức xây dựng hoặc lấy theo kinh nghiệm của chuyên gia hoặc tổ chức chuyên môn nghiệp vụ
Trị số này phụ thuộc vào nhóm công tác, loại tổ hợp đơn lẻ hay hỗn hợp mà phân
ra các hệ số khác nhau tuỳ theo loại công tác, yêu cầu kỹ thuật và điều kiện thi công cụ thể và thường trong khoảng từ 1,05 ÷1,3
- Kcs: Hệ số sử dụng năng suất là hệ số phản ánh việc sử dụng hiệu quả năng suất của tổ hợp máy trong dây chuyền liên hợp, hệ số này được tính toán theo năng suất máy thi công của các bước công việc và có sự điều chỉnh phù hợp khi trong dây chuyền dùng loại máy có năng suất nhỏ nhất
Tính toán hao phí máy và thiết bị xây dựng khác
Đối với các loại máy và thiết bị xây dựng phụ được định mức bằng tỷ lệ phần trăm
so với tổng chi phí các loại máy chính định lượng trong định mức xây dựng và được xác định theo loại công việc theo kinh nghiệm của chuyên giá hoặc định mức trong công trình tương tự
+ Phương pháp 4 Kết hợp các phương pháp trên
Khi sử dụng phương pháp này, có thể vận dụng cách tính một trong 3 phương pháp trên để xác định định mức hao phí vật liệu, nhân công và máy thi công cho công tác chưa có trong hệ thống định mức dự toán được công bố
Bước 4 Lập các tiết định mức trên cơ sở tổng hợp các hao phí về vật liệu, lao động, máy thi công
Trang 35Tập hợp các tiết định mức trên cơ sở tổng hợp các khoản mục hao phí về vật liệu, nhân công và máy thi công.
Mỗi tiết định mức gồm 2 phần:
- Thành phần công việc: qui định rõ, đầy đủ nội dung các bước công việc theo thứ tự từ khâu chuẩn bị ban đầu đến khi kết thúc hoàn thành công tác hoặc kết cấu xây dựng, bao gồm cả điều kiện và biện pháp thi công cụ thể
- Bảng định mức các khoản mục hao phí: mô tả rõ tên, chủng loại, qui cách vật liệu chủ yếu trong công tác hoặc kết cấu xây dựng, và các vật liệu phụ khác; loại thợ; cấp bậc công nhân xây dựng bình quân; tên, loại, công suất của các loại máy, thiết bị thiết bị chủ yếu và một số máy, thiết bị khác trong dây chuyền công nghệ thi công để thực hiện hoàn thành công tác hoặc kết cấu xây dựng
Trong bảng định mức, hao phí vật liệu chủ yếu được tính bằng hiện vật, các vật liệu phụ tính bằng tỷ lệ phần trăm so với chi phí vật liệu chính; hao phí lao động tính bằng ngày công không phân chia theo cấp bậc cụ thể mà theo cấp bậc công nhân xây dựng bình quân; hao phí máy, thiết bị chủ yếu được tính bằng số ca máy, các loại máy khác (máy phụ) được tính bằng tỷ lệ phần trăm so với chi phí của các loại máy, thiết bị chủ yếu
Các tiết định mức xây dựng được tập hợp theo nhóm, loại công tác hoặc kết cấu xây dựng và thực hiện mã hoá thống nhất
Lập dự toán chi phí sản xuất
Việc lập dự toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại các doanh nghiệp xây lắp phải dựa trên nhiều nguồn thông tin có tính căn cứ được sử dụng một cách đồng bộ như: thông tin về kinh tế và tài chính trong nước và trên thế giới, quan hệ cung cầu hàng hoá, quan hệ tài chính với các bên hữu quan, sự đồng bộ trong điều hành các hoạt động của doanh nghiệp, tổ chức và chất lượng thông tin kế toán của niên độ tài chính đã qua cùng với khả năng phân tích, dự toán của người quản lý…
cụ thể căn cứ các yếu tố như:
- Bối cảnh kinh tế tổng quát của thị trường mà doanh nghiệp xây lắp đang hoạt động được cơ quan chuyên môn về dự báo kinh tế công bố
Trang 36- Chính sách giá cả (đơn giá xây dựng, giá chuẩn…)
- Mức độ cạnh tranh trên thị trường xây lắp
- Định mức kinh tế kỹ thuật do Nhà nước quy định, các định mức nội bộ do Tổng công ty, công ty xây dựng dựa trên các định mức mà Nhà nước ban hành phù hợp với tình hình thực tế thi công cho từng công trình
- Mối quan hệ giữa chi phí – lợi nhuận (định mức lợi nhuận)…
Dự toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp bao gồm:
* Tổng dự toán công trình: Là tổng mức chi phí cần thiết cho việc đầu tư xây
dựng công trình thuộc dự án được tính toán cụ thể ở giai đoạn thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế kỹ thuật thi công
- Chi phí thiết bị bao gồm chi phí mua sắm thiết bị công nghệ và các trang thiết bị khác phục vụ sản xuất, làm việc, sinh hoạt của công trình, chi phí vận chuyển, bảo quản, bảo dưỡng tại hiện trường, thuế và phí bảo hiểm thiết bị công trình
- Chi phí khác bao gồm chi phí ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư (điều tra, khảo sát, tư vấn đầu tư, tuyên truyền quảng cáo công trình), chi phí ở giai đoạn thực hiện đầu tư, chi phí ở giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác, sử dụng
- Chi phí dự phòng là chi phí để dự trù vốn cho các khối lượng phát sinh do thay đổi thiết kế theo yêu cầu của chủ đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt, khối lượng phát sinh không lường trước được, dự phòng do yếu tố trượt giá trong quá trình thực hiện dự án
Trang 37* Dự toán xây lắp cho từng hạng mục công trình:
Dự toán xây lắp hạng mục công trình được xác định trên cơ sở khối lượng các loại công tác xây lắp tính toán từ bản vẽ kỹ thuật, đơn giá xây dựng cơ bản (định mức xây lắp chi tiết) do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố ban hành hoặc đơn giá công trình (định mức công trình) đối với những công trình được lập đơn giá riêng, định mức các chi phí tính theo tỷ lệ % do Bộ Xây Dựng ban hành và các chế
độ chính sách của nhà nước có liên quan, bao gồm:
- Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Dự toán chi phí nguyên vật liệu
trực tiếp được lập dựa trên cơ sở dự toán khối lượng xây lắp, định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chênh lệch về vật liệu (nếu có)
- Dự toán chi phí nhân công trực tiếp: Dự toán chi phí nhân công trực tiếp
được lập căn cứ vào khối lượng công tác xây lắp,định mức thời gian xây dựng và định mức theo đơn giá giờ công trực tiếp
- Dự toán chi phí sử dụng máy thi công: Được lập dựa trên cơ sở dự toán khôí
lượng công tác xây lắp, định mức chi phí máy thi công và hệ số điều chỉnh chi phí máy thi công
Trang 38- Dự toán chi phí sản xuất chung: Đây là một khoản mục chi phí gián tiếp đối
với từng công trình, hạng mục công trình nên thông thường dự toán chi phí sản xuất chung tính cho các công trình, hàng mục công trình được căn cứ vào định mức chi phí chung theo quy định hiện hành của Nhà nước (đối với trường hợp dự án chỉ có một hạng mục xây lắp) Còn đối với dự án có nhiều hạng mục xây lắp thì sau khi xác định chi phí chung cho toàn bộ dự án sẽ phân bổ chi phí chung của toàn bộ dự
án cho từng hạng mục theo tỷ trọng chi phí trực tiếp của từng hạng mục công trình
Dự toán chi phí Định mức chi phí
Sản xuất chung = chung (tính theo tỷ lệ %) x Chi phí trực tiếp
- Dự toán giá thành sản phẩm xây lắp: được căn cứ vào dự toán các khoản
mục chi phí như: Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, dự toán chi phí phân công trực tiếp, dự toán chi phí máy thi công, dự toán chi phí sản xuất chung
1.3.3 Thu thập thông tin chi phí
Để phục vụ cho quá trình phân tích chi phí của công trình, hạng mục công trình nhằm đưa ra quyết định đúng đắn, kế toán quản trị cần thu thập và xem xét nhiều nguồn thông tin khác nhau Tổng hợp các nguồn thông tin này sẽ giúp cho nhà quản trị có được cái nhìn toàn diện và tổng thể về công trình, hạng mục công trình cần xem xét
Trách nhiệm quản lý chi phí trong doanh nghiệp liên quan đến nhiều bộ phận như thủ kho, kế toán nguyên vật liệu, kế toán tiền lương, phải có sự liên hệ, phối hợp trong việc thực hiện hạch toán chi phí công trình Từ đó cung cấp thông tin cho nhà quản trị chính xác, nhanh chóng và kịp thời
Để thu thập thông tin thực hiện về chi phí xây dựng phục vụ yêu cầu quản lý được thực hiện như sau:
- Thu thập quá khứ: Chi phí được thể hiện trong các công trình, hạng mục công trình
- Thu thập tương lai: Chi phí được thể hiện qua các định mức chi phí, phương pháp thi công
Trong hai cách thu thập trên ta có thể phân ra như sau:
Trang 39+ Hạch toán ban đầu:
Căn cứ vào nội dung các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến các yếu tố chi phí trong doanh nghiệp Hệ thống chứng từ phản ánh và cung cấp thông tin chi phí nguyên vật liệu của doanh nghiệp bao gồm:
Hoá đơn mua hàng
Phiếu nhập kho - mẫu số 01 - VT
Phiếu xuất kho - Mẫu số 02 - VT
Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ
Bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn kho vật tư trong kỳ
Biên bản kiểm kê vật tư cuối kỳ
Hệ thống chứng từ phản ánh và cung cấp thông tin chi phí nhân công của doanh nghiệp bao gồm:
Bảng chấm công
Hợp đồng giao khoán công việc
Phiếu giao nhận sản phẩm
Bảng phân bổ chi phí nhân công
Bảng thanh toán tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn
Hệ thống chứng từ phản ánh và cung cấp thông tin chi phí sản xuất chung, chi phí bán hàng, chi phí quản lý của doanh nghiệp bao gồm: Hoá đơn mua văn phòng phẩm, tiền điện, tiền nước và các chứng từ khác
Khi tổ chức hạch toán ban đầu ở các doanh nghiệp cần phân công trách nhiệm
cụ thể cho từng người lập chứng từ đối với mỗi loại chứng từ Sự thống nhất giữa các bộ phận liên quan như vật tư, kế hoạch, kỹ thuật là rất quan trọng
Như vậy hệ thống chứng từ phản ánh và cung cấp thông tin về chi phí của kế toán quản trị và kế toán tài chính gần như nhau, chúng đều xuất phát từ hệ thống chứng từ ban đầu do Bộ tài chính quy định áp dụng đối với tất cả các doanh nghiệp.Bên cạnh đó tuỳ theo đặc điểm hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
Trang 40mà có thể đưa ra mẫu, biểu chứng từ phù hợp với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình như phiếu tính giá thành sản phẩm, báo cáo kế toán quản trị chi phí.
+ Hạch toán chi tiết
Hạch toán chi tiết chi phí là một công việc có khối lượng lớn, nó đòi hỏi phản ánh toàn bộ các chi phí liên quan đến công trình, hạng mục công trình
- Hệ thống báo cáo quản trị chi phí:
Báo cáo kế toán quản trị là sản phẩn cuối cùng của kế toán quản trị nên việc
tổ chức báo cáo quản trị quyết định đến chất lượng hiệu quả thông tin kinh tế do kế toán quản trị cung cấp Tùy theo sự phân cấp quản lý và yêu cầu quản lý từng chỉ tiêu để có thể xác định nội dung và biểu mẫu báo cáo cho phù hợp Do tính chất linh hoạt của báo cáo kế toán quản trị nên không thể xây dựng biểu mẫu thống nhất cho các doanh nghiệp mà các doanh nghiệp phải căn cứ vào hệ thống thông tin nội bộ
để xây dựng hệ thống báo cáo quản trị cho riêng mình
Yêu cầu khi xây dựng báo cáo kế toán quản trị là:
- Các thông tin trên báo cáo phải được chia thành các chỉ tiêu phù hợp với tiêu chuẩn đánh giá thông tin trong mỗi tình huống ra quyết định
- Các chỉ tiêu báo cáo phải có mối quan hệ chặt chẽ, logic
- Các chỉ tiêu số liệu thực tế, dự toán, định mức phải so sánh được với nhau giúp các nhà quản trị có thể kiểm soát được hoạt động
1.3.4 Phân tích thông tin và lập báo cáo quản trị
Phân tích thông tin
Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng và lợi nhuận các nhà quản trị kinh doanh thường vận dụng để xác định mức lợi nhuận cần đạt được khi phải sản xuất và tiêu thụ khối lượng sản phẩm theo cơ cấu đã xác định nhằm thoả mãn nhu cầu thị trường và lợi nhuận doanh nghiệp tối đa
- Phân tích mối quan hệ giữa chi phí – khối lượng – lợi nhuận:
Phân tích mối quan hệ giữa chi phí - khối lượng - lợi nhuận là một trong các công cụ phân tích cơ bản nhất của các nhà quản lý sử dụng trong việc lập kế hoạch
và các tình huống ra quyết định Phân tích mối quan hệ giữa chi phí - khối lượng