1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dạy học bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống trong sách giáo khoa Ngữ văn 12

61 1,2K 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 9,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lí do chọn đề tài Trong cuộc sống hàng ngày, khi đứng trước một vấn đề, hiện tượng về đời sống xã hội, chúng ta thường đưa ra những lời bàn luận, nhận xét của bản thân nhằm trao đổi với

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong cuộc sống hàng ngày, khi đứng trước một vấn đề, hiện tượng về đời sống xã hội, chúng ta thường đưa ra những lời bàn luận, nhận xét của bản thân nhằm trao đổi với người khác xem vấn đề đó đúng hay sai, hay dở, tốt

hay xấu Việc bàn luận ay diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi được thể hiện bằng

những hình thức khác nhau Thông qua việc bàn bạc ấy mà con người có thể nhận thức và phản ánh thế giới một cách khoa học, vạch ra và chỉ rõ quy luật bản chất của sự vật khách quan Song dù được thê hiện bằng hình thức nào thì những vấn đề trong đời sống hàng ngày khi được đưa ra bàn luận đều được gọi là nghị luận về một hiện tượng đời sống xã hội Như vậy nghị luận về một hiện tượng đời sống xã hội được nảy sinh từ nhu cầu giao tiếp của con người

và quay trở lại phục vụ đời sống con người Tuy nhiên không phải ai cũng

nhận thấy được điều này Khi những vấn đề, hiện tượng đời sống được đưa ra

bàn luận, đã không ít người bao gồm cả người nói (người viết) do thiếu kĩ năng diễn đạt nên đã không thuyết phục được người nghe (người đọc) Điều

nay cho thay việc nghiên cứu và dạy kiểu văn ban nay là cần thiết Bởi qua đó

con người biết sử dụng kiểu văn bản này đúng lúc, đúng chỗ nhằm đạt được những mục đích nhất định

Thực tế trong chương trình Ngữ văn ở phổ thông, Làm văn là một trong

những phân môn gây nhiều khó khăn cho người giáo viên dạy Ngữ văn Cái

khó của phân môn này được thể hiện trên nhiều phương diện như: kiến thức dạy học, tài liệu tham khảo, phương pháp dạy học Cũng chính vì thế nhiều khi phần Làm văn dường như bị bỏ quên trong quá trình đạy học ở phố thông Khi dạy phân môn Làm văn, không ít giáo viên đã lúng túng khi xác định nội dung dạy học, lựa chọn phương pháp dạy học cho phần môn này Còn với người học, cái khó là ở chỗ: kiến thức thì khô khan, lí thuyết thì xa rời thực

Trang 2

hành, việc tổ chức day hoc thi so sai, cling nhac Do vay phân môn này không

có sức hấp dẫn đối với cả người dạy lẫn người học

Xuất phát từ thực tế trên, trong chương trình Ngữ văn đã có sự đối mới Đặc biệt là trong phân môn Làm văn: trước đây người ta chỉ chú trọng kiểu

bài nghị luận văn học mà xem nhẹ kiểu bài nghị luận xã hội, thậm chí là lãng

quên Tuy nhiên khi đổi mới chương trình thì kiểu bài nghị luận xã hội đã được chú trọng hơn nhưng dường như nó lại gây khó khăn cho học sinh hơn

là kiểu bài nghị luận văn học Bởi lẽ từ trước đến nay, các em quen dựa dẫm

vào những tài liệu tham khảo, những bài văn mẫu mà không chịu độc lập tư duy Trong khi đó nghị luận xã hội nói chung, cụ thể là nghị luận về một hiện

tượng đời sống xã hội rất phong phú, nó không cố định như nghị luận văn học Nghị luận về một hiện tượng đời sống đòi hỏi ở các em học sinh một sự

linh hoạt trong nhận thức vấn đề Song từ sự nhận thức vấn đề đi đến trình

bày cái hiểu của mình là chuyện không dễ dàng đối với nhiều em Do các em

thiếu kĩ năng viết, không nắm được kĩ năng tạo lập được văn bản Mà mục

đích cuối cùng của việc dạy học Làm văn ở trường phô thông là giúp các em học sinh có thể tạo lập được những văn bản hay, có tính sáng tạo Đề đạt được

điều này, thì việc triển khai nội dung dạy học bài: “Nghị luận về một hiện

tượng đời sống” là rất thiết thực Nó không chỉ cung cấp cho các em học sinh những tri thức về một hiện tượng đời sống xã hội mà điều quan trọng là hình thành và củng cố cho các em kĩ năng để có thể viết được một bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống hay, tạo sự hấp dẫn, lôi cuốn người đọc Từ yêu cầu cụ thể đó, chương trình sách giáo khoa Ngữ văn phổ thông đã giới thiệu những kiến thức cơ bản làm văn “Nghị luận về một hiện tượng đời sống” trong chương trình lớp 9 và được cụ thể hóa ở chương trình sách giáo khoa Ngữ văn lớp 12 nhằm rèn cho các em kĩ năng tạo lập được văn bản nghị

luận về một hiện tượng đời sống Từ thực tế Ấy, việc nghiên cứu và tìm ra

Trang 3

hướng dạy học nội dung bài: “Nghị luận về một hiện tượng đời sống” là cần

thiết Bởi qua đó ta có thể đưa ra những cách trang bị kiến thức khoa học nhất giúp các em có thể lĩnh hội tốt nhất bài học này và nội dung kiến thức có liên

văn Bởi mục đích cuối cùng của việc dạy văn là giúp người đọc có thể tạo lập

được những văn bản hay, sáng tạo Và Làm văn chính là phân môn cơ sở giúp

người học đạt được mục đích này

Mặt khác: bắt nguồn từ nhu cầu của cuộc sống, của xã hội và quay trở

lại phục vụ cuộc sống xã hội nên văn nghị luận có vai trò to lớn đối với con người và xã hội Xuất phát từ vai trò to lớn ấy nên các nhà nghiên cứu về Làm

văn nói chung, đặc biệt là nghiên cứu về văn nghị luận luôn chú trọng nghiên cứu loại văn bản này

Khi nghiên cứu loại văn bán này, các nhà nghiên cứu ít nhiều đã chú ý đến việc phân chia văn bản thành những kiểu bài khác nhau Bởi mỗi kiểu bài

sẽ có những đặc trưng riêng bên cạnh những đặc trưng chung Việc phân chia như vậy sẽ giúp người học nắm được những đặc điểm riêng của từng kiểu bài

Từ đó có khả năng tạo lập được những văn bản hay, đúng

Các nhà nghiên cứu khi phân loại văn bản nghị luận đều dựa vào những

tiêu chí khác nhau Song nhìn chung các nhà nghiên cứu đều phân chia văn

nghị luận thành 2 loại: nghị luận văn học và nghị luận xã hội

Trang 4

Các tác giả: Đỗ Ngọc Thống, Phạm Minh Hiếu, Nguyễn Thành Thi

Nếu là nghị luận xã hội thì sẽ có hướng tiếp cận của kiểu bài nghị luận xã hội

và nếu là nghị luận văn học thì sẽ có hướng tiếp cận của kiểu bài nghị luận

văn học

Bàn về cách hiểu mới về văn nghị luận, các tác giả trong cuốn “Làm văn ” nêu: “Viết bài văn nghị luận thực chất là nêu lên những suy nghĩ của người viết trước một vấn đề trong cuộc sống hoặc văn học nhằm thuyết phục người đọc” Ở đây tác giá cũng đã đề cập đến nghị luân văn học và nghị luận

xã hội Và khi nói đến một vấn đề, hiện tượng trong đời sống tức là đã đề cập đến nghị luận về một hiện tượng đời sống

Để làm rõ về văn bản nghị luận, các tác giả đã chỉ rõ: “Nghị luận chính

trị xã hội là loại đề yêu cầu bàn bạc vấn đề chính trị, đạo đức, luân lí hay một

vấn đề xã hội” Ở đây, các tác giả đã chỉ ra phạm trù của nghị luận xã hội đó là: nghị luận chính trị; nghị luận đạo đức, tư tưởng; nghị luận hiện tượng đời

sống xã hội Bên cạnh đó, trong cuốn sách này các tác giả cũng lưu ý một số

điểm khác nhau khi làm đề văn nghị luận xã hội với nghị luận văn học, giữa

nghị luận về một hiện tượng đời sống với một tư tưởng đạo lí Tuy nhiên những lưu ý đó mới chỉ được các tác giả nêu một cách khái quát Và khi chỉ ra cách làm bài văn nghị luận các tác giả cũng trình bày cách làm của văn nghị

luận chung chung mà chưa quan tâm đến cách làm cụ thể đối với mỗi kiểu bài

Trang 5

Tác giả Nguyễn Trí trong cuốn: “Văn nghị luận trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở” cũng chỉ ra cách phân loại căn cứ vào nội dung bài

sẽ có các loại sau: nghị luận chính trị (có đề tài là các vấn đề chính trị), nghị luận xã hội (dé tài là các vấn đề xã hội), nghị luận đạo đức (đề tài là các vấn

đề đạo đức, nhân sinh quan), nghị luận văn học (đề tài là các vấn đề trong văn học) Ở đây tác giả tách nghị luận chính trị, nghị luận đạo đức thành kiểu

bài riêng không nằm trong nghị luận xã hội như các tác giả trong cuốn “Làm văn” Dù phân chia như vậy nhưng các tác giả cũng đã đề cập đến sự khác

nhau về đề tài của các kiểu bài nghị luận xã hội và nêu được đặc trưng cơ bản

của nghị luận xã hội

Trong cuốn: “Rèn luyện kĩ năng văn nghị luận” của Bảo Quyến, tác giả cũng đã bàn về văn nghị luận Theo Bảo Quyến thì cũng phân loại văn nghị

luận làm hai loại: nghị luận văn học và nghị luận xã hội Và trong văn nghị luận xã hội lại bao gồm nhiều dạng nghị luận khác nhau như: nghị luận đạo đức, tư tưởng; nghị luận về một hiện tượng đời sống

Trong chương trình THCS, THPT trước kia, kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống xã hội cũng được đề cập nhưng chỉ chú trọng tới một

thao tác chính Đó là do các tác giả chưa thống nhất cách phân chia kiểu bài

nghị luận mà coi mỗi thao tác lập luận là một kiểu bài riêng Đến chương trình đối mới thì kiểu bai nghị luận về một hiện tượng đời sống đã được đưa

vào một bài riêng, cụ thể trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn lớp 9, tập 2 Và đến lớp 12 các em học sinh lại được tiếp cận kiểu bài này nhưng ở

mức độ cao hơn

Trong cuốn: “Hướng dẫn thực hiện chương trình SGK lớp 12 môn Ngữ văn”, các tác giả cũng bàn đến phương pháp dạy học kiểu bài nghị luận trong

đó có bài: “Nghị luận về một hiện tượng đời sống” Song nhìn chung các tác

giả mới chỉ nói một cách chung nhất về quy trình đạy học kiểu bài này gồm

Trang 6

các bước (Bước 1: Tìm hiểu đề, xác định yêu cầu đề bài; Bước 2: Tìm ý và

lập dàn ý; Bước 3: Xây dựng dàn ý; Bước 4: Học sinh thảo luận đề rút ra cách làm và sau đó đọc phần Ghi nhớ; Bước 5: Luyện tập thực hành)

Nói tóm lại: việc phân chia các kiểu bài nghị luận không thống nhất đã

dẫn tới tình trạng nghiên cứu cụ thể về kiểu bài: “Nghị luận về một hiện tượng

đời sống” còn ít, chưa sâu sắc Mặc dù các tác giả cũng nói đến phương pháp dạy học kiểu bài này, song các tác giả mới chỉ nói một cách chung nhất Điều này dẫn đến tình trạng gây khó khăn cho giáo viên về nguồn tư liệu, còn đối với học sinh thì còn lúng túng, không nắm chắc cách thức tạo lập kiểu văn

bản này Việc dạy kiểu văn bản nghị luận nói chung va kiểu bài nghị luận về

một hiện tượng đời sống nói riêng ở trường phổ thông đòi hỏi cần phải xây

dựng được cơ sở lí thuyết và cách làm kiểu bài nghị luận về một hiện tượng

đời sống để học sinh hiểu và biết cách làm bài, tạo lập được những văn bản đúng, hay và hấp dẫn, lôi cuốn bạn đọc

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Thông qua việc trình bày những kiến thức cơ bản về văn bản: “Mghị

luận về một hiện tượng đời sống ”, chúng tôi muốn vận dụng vào việc tổ chức dạy học nội dung này cho học sinh THPT đặc biệt là học sinh lớp 12 Qua đó giúp học sinh nắm được cách viết bài nghị luận về một hiện tượng đời sống

Trước hết là kĩ năng tìm hiệu đề và lập dàn ý Bên cạnh đó giúp học sinh có ý

thức và khả năng tiếp thu những vấn đề xã hội mang tính thời sự Đồng thời

giúp học sinh có đủ kiến thức và tự tin khi tham gia nghị luận về bất cứ một hiện tượng đời sống nào với lập luận chặt chẽ, chính xác, hợp lí, toàn diện và

có sức thuyết phục cao

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Trang 7

Để đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài, khóa luận tập trung vào những nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Trình bày hệ thống những kiến thức về văn nghị luận và kiểu bài nghị

luận về một hiện tượng đời sống

- Vận dụng những tri thức đó vào việc thực hiện day hoc bai: “Nghi

luận về một hiện tượng đời sóng ” trong sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập 1

- Đánh giá hiệu quả của việc vận dụng các tri thức đó vào việc dạy học

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Xuất phát từ mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi tập

trung nghiên cứu quá trình tổ chức dạy những kĩ năng làm văn cho học sinh

lớp 12, THPT

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Đề tài này tập trung tìm hiểu những kiến thức chung về nghị luận một

hiện tượng đời sống và việc tạo lập kĩ năng nghị luận một hiện tượng đời sống

trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 12, tập l

5 Phương pháp nghiên cứu

Khi làm khóa luận này, tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: 5.1 Phương pháp tổng hợp lí luận và thực tiễn:

Đây là phương pháp cơ bản trong nghiên cứu khoa học Bản chất của

phương pháp này là dựa trên các thông tin đã có bằng các thao tác tư duy

logic dé rit ra các kết luận khoa học Phương pháp này được sử dụng để thu thập nguồn tư liệu nghiên cứu lịch sử vấn đề và cơ sở lí thuyết của đề tài

%.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm:

Phương pháp này được thể hiện qua một số phương diện sau:

- Xây dựng cơ sở thực nghiệm sư phạm thông qua các bài thiết kế nội

dung dạy học Cơ sở thực nghiệm được xác định dựa vào các tri thức về giáo

Trang 8

dục, tâm lí, về trình độ nhận thức của từng đối tượng và căn cứ vào hệ thống

tri thức về văn bản nghị luận một hiện tượng đời sống

- Tổ chức thực hiện giảng dạy ở trường phô thông

- Thông qua quá trình thực hiện giảng dạy, đánh giá nhận thức của học sinh và đánh giá về nội dung về Làm văn trong chương trình sách giáo khoa

Từ đó đưa ra một số đề xuất về nội dung cũng như việc giảng dạy làm văn

cho học sinh lớp 12

6 Đóng góp của khóa luận

*Về mặt lí luận:

Khóa luận tập trung trình bày cơ sở lí luận về văn bản nghị luận một

hiện tượng đời sống nói riêng và văn bản nghị luận nói chung ở các phương diện: khái niệm, đặc điểm, cách thực hiện khi tiến hành nghị luận một hiện tượng đời sống

Phần nội dung: gồm 3 chương

*Chương 1: Văn bản nghị luận và dạng bài nghị luận về một hiện tượng đời sống

*Chương 2: Dạy học bài “Nghị luận về một hiện tượng đời sống ”

*Chương 3: Thực nghiệm

Phần kết luận

Trang 9

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

VĂN BẢN NGHỊ LUẬN VÀ DẠNG BÀI NGHỊ LUẬN VẺ MỘT

HIỆN TƯỢNG ĐỜI SÓNG

1.1 Văn bản nghị luận

1.1.1 Khái niệm văn bản nghị luận

Nghị luận là một dạng thức giao tiếp cơ bản của con người Nhờ có nó

mà con người có thể bản luận và làm rõ các vấn đề của tự nhiên và xã hội

Cũng thông qua bàn luận, con người có thể hiểu và tin nhau hơn Vì vậy nghị

luận là phương thức biểu đạt nảy sinh do nhu cầu của con người và nó quay trở lại phục vụ cho đời sống con người Cho nên có thể nói nghị luận là hình thức giao tiếp nảy sinh cùng với sự xuất hiện của con người, hình thành và

phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của xã hội loài người Xuất

phát từ vai trò của phương thức biểu đạt này đối với đời sống và con người nên kiểu văn nghị luận cũng rất được chú trọng nghiên cứu

Từ rất xa xưa, trong cuốn “Văn tâm điêu long” của Lưu Hiệp, tác giả đã khẳng định: “Luận ấy là tổ chức, sắp xếp các ý kiến để làm sáng tỏ một đạo lí nào đó” Không chỉ vậy, tác giá Lưu Hiệp còn trình bày một cách cụ thê hơn

về kiểu văn bản này Theo ông phạm vi của “luận” trong đời sống là rất rộng

Lưu Hiệp nói: “Nghị luận làm thành một thể là để phân biệt đúng sai, phải

trái, tìm hết lí lẽ, truy cứu ở cái chỗ vô hình, khoan xuyên vật cứng để cho

thông, khơi chỗ sâu để xem giới hạn, nó là cái giỏ dé bắt trăm điều suy nghĩ,

là thước đo cân nhắc vạn sự Vì thế cho nên nghĩa lí của nó phải không được

mâu thuẫn, lời lẽ kị vụn vặt, phải làm cho tâm hợp đạo lí, mọi kẽ hở đều được bịt, lời phù hợp mà ý chặt chẽ, kẻ địch không tìm được chỗ lợi dụng, đó là cốt

yếu của nó Chính vì vậy luận giống như việc bổ củi, quý ở chỗ chẻ được lý

Trang 10

ra, còn như dao sắc quá bỏ lý mà chặt ngang, người ngụy biện đi ngược ý nghĩa mà nói lấy được thì đọc văn tuy thấy hay đấy nhưng xét ra thì hóa ra dối trá” Những điều bàn luận trên cho thấy từ cỗ xưa, người ta đã có những hiểu

biết cực kì sâu sắc, toàn điện về bản chất của văn nghị luận

Cùng với sự trôi chảy của thời gian, việc sử dụng văn nghị luận cũng

ngày càng được phát triển rộng rãi Con người có thể sử dụng loại văn bản

này ở mọi lúc, mọi nơi nhằm phục vụ nhu cầu trao đối, bàn luận tin tức Cũng bởi vậy, nhà mĩ học Chu Quang Tiềm khẳng định: “Nêu sự thực, trình bày lý

lẽ đã trở thành hoạt động xã hội ngày càng phổ biến, ngày càng quan trọng trong đời sống chúng ta Họp thảo luận phải thuyết lý, làm báo cáo phải

thuyết lý, viết xã luận phải thuyết lý, soạn sách giáo khoa phải thuyết

lý Tóm lại phàm là ở những chỗ động não, phàm là ở những nơi phải biện

hộ cho mình, thuyết phục người khác, không thể không thuyết lý” Muốn hoàn thành thuyết lý đó, ngoài cách phát biểu bằng miệng, chủ yếu phải viết

thành văn bản nghị luận Điều này khẳng định nghị luận là kiểu văn được sử

dụng một cách rộng rãi trong đời sống xã hội của con người Xã hội ngày càng phát triển thì văn bán nghị luận ngày càng được hoàn thiện hơn Nhờ có kiểu văn bản này mà con người có thể thể hiện được đầy đủ nhận thức của

bản thân đối với đối tượng được đề cập

Văn nghị luận là loại văn chương nghị sự, dùng luận cứ, luận chứng để

phân tích làm rõ vấn đề Nói cách khác: đó là tên gọi chung cho một thê loại

văn vận dụng các hình thức tư duy lôgic như khái niệm, phán đoán, suy lí để

nêu sự việc, trình bày lí lẽ, phân biệt đúng sai và tiến hành phân tích luận chứng khoa học đối với hiện thực khách quan, quy luật bản chất của sự vật

Qua đó đề nhằm biểu đạt tư tưởng, chủ trương, ý kiến quan điểm của người nói (người viết) đối với vấn đề được nghị luận Đề làm rõ vấn đề nêu trên, ta xét ngữ liệu sau:

Trang 11

Khi bàn về vấn đề nảy sinh trong thực tế, nhiều người cho rằng Toán học là khô khan, nhưng tác giả Nguyễn Cảnh Toàn trong bài “4 bảo foán học là khô khan” đã viết:

“Toán học có vẻ đẹp của sự giản dị, hài hòa, tiết kiệm Cảm nhận điễu

này sẽ thúc đấy toán học tiễn tới Ví dụ : a? = b2 + c° là vẻ đẹp giản dị của

định lý Piago Cội nguôn của vẻ đẹp đó chính là tiền dé Oclit Vứt bỏ vẻ đẹp

này ẩi thì cái giản đị trên cũng biến mắt Vòng tròn đẹp, với sự đối xứng tuyệt hảo mà căn nguyên là vẻ đẹp tiết kiệm Rèn luyện tr duy toán học là như vậy, không nên hiểu phiến diện, chỉ rèn luyện tư duy lôgic, chỉ vuc dau vao giải hết bài toán khó này đến bài toán khó khác thì tầm nhìn không được mở rộng, tr duy không được mềm mại Câu chuyện “hình thoi” và “số không” nói trên cho ta thấy ngay rằng với những câu chuyện đơn giản như vậy cũng có thể rèn luyện cho tư duy thêm mêm mại, sự rung cảm thêm tỉnh tế, nhem nhóm lên đồng lửa và hoài bão toán học tương lai”

(Theo Diễn đàn tuổi trẻ Việt Nam)

Nội dung được trình bày ở đoạn văn trên là một vấn đề được nảy sinh

từ thực tế cuộc sông Thực tế đó là nhiều người cho rằng: toán học là khô

khan, không có vẻ đẹp, chỉ có sự cứng nhắc Tuy nhiên tác giả Nguyễn Cảnh

Toàn lại cảm nhận được vẻ đẹp tinh tế, sự mềm mại, uyên chuyên của toán học Đề làm nỗi bật nội dung vấn đề, ông đã trình bày lần lượt ý kiến, nêu ra

cơ sở để cảm nhận được vẻ đẹp Ấy Theo ông vẻ đẹp của toán học chỉ có thể

nhận thấy được khi con người có sự say mê, tìm tòi, con người mới nhận thấy

vẻ đẹp ấy là vẻ đẹp của sự giản dị, hài hòa và tiết kiệm Thông qua những lí

lẽ, lập luận người viết đã chỉ ra những dẫn chứng, những biểu hiện về vẻ đẹp của toán học Cách trình bày như vậy chính là cách biểu đạt của văn đạt nghị luận

Trang 12

Có thể nói: nghị luận chính là công cụ quan trọng để con người nhận

thức và phản ánh thế giới một cách khách quan, vạch ra và chỉ rõ quy luật, bản chất của sự vật khách quan Bởi vậy nội dung bàn luận dù thuộc lĩnh vực

khoa học hay tự nhiên, dù thuộc phạm vi lĩnh vực nào của cuộc sống, nghị luận đều có tác dụng gợi mở Nhờ có nó con người mới nhận thức đúng sai,

phát hiện chân lý, phát triển và tổng kết chân lý Và cũng thông qua việc bàn luận về các vấn đề của tự nhiên và thế giới, con người có thê truyền bá những

tư tưởng tiên tiến, những nhận thức mới của loài người Qua đó đánh giá các quan điểm, tư tưởng một cách chính xác khoa học Cùng với sự phát triển của

thời gian, cho đến nay văn nghị luận đã hoàn thiện với nhiều kiểu loại văn bản

tương ứng với những hình thức vận động của thế giới và của xã hội

Tóm lại, văn nghị luận là loại văn trong đó người viết đưa ra những lí

lẽ, dẫn chứng về một vấn đề nào đấy va thông qua cách thức bàn luận mà làm cho người đọc hiểu, tin, tán đồng những ý kiến của mình và hành động theo

những điều mà mình đề xuất

1.1.2 Đặc điểm của văn bản nghị luận

Văn nghị luận đã hình thành từ xa xưa và phát triển cùng với sự phát triển của tư tưởng, văn hóa của nhân loại và góp phần vào sự phát triển ấy Ngày nay văn nghị luận ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn Nó thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống Nó là vũ khí sắc bén, giúp con người nhận

thức đúng đắn các lĩnh vực của đời sống xã hội và hướng dẫn, thúc đây hoạt động thực tiễn của con người

Về cơ bản văn nghị luận bao gồm các đặc điểm sau:

1.1.2.1 Văn nghị luận được tạo lập nhằm giải quyết một vấn đề nào đó trong cuộc sống Người viết sẽ trình bày các tư tưởng, quan điểm của mình

về vấn đề đặt ra để thuyết phục người đọc tán thành và làm theo

Trang 13

Bất cứ văn bản nghị luận nào được tạo lập đều giải quyết một vấn đề nào đó trong cuộc sống Chang han: trong văn bản nghị luận “Không có gì

quý hơn độc lập tự do”, Bác đã viết:

“Hỡi đông bào và chiến sĩ cả nước!

Đề quốc Mĩ dã man, gây ra chiến tranh xâm lược hòng ăn cướp nước

ta, nhưng chúng đang thua to

Chúng ô ạt mang gần 30 vạn quân viễn chỉnh vào miền Nam nước ta Chúng nuôi dưỡng ngụy quyển, ngụy quân làm công cụ hại dân, phản nước Chúng dùng những phương tiện chiến tranh cực kì man rợ như: chất độc hóa học, bom na pan Chúng dùng chính sách đốt sạch, giết sạch, phá sạch Bằng những tội ác ấy, chúng hòng khuất phục đông bào miễn Nam ta

Nhưng dưới sự lãnh đạo và khôn khéo của Mặt trận dân tộc giải phóng,

quân và dân miễn Nam ta đã đoàn kết chặt chẽ, chiến đấu anh dũng, đã thắng lợi vẻ vang và quyết tâm chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn để giải phóng

miễn Nam, bảo vệ miễn Bắc, tiến tới thống nhất nước nhà

Giặc Mĩ trắng trợn dùng không quân bắn phá miền Bắc nước nhà, hòng gỡ thế thất bại của chúng ở miền Nam và hòng ép chúng ta “đàm phán” theo ý muốn của chúng

Nhưng miễn Bắc không hè nao múng Quân và dân ta càng hăng hái thi đua sản xuất, chiến đầu anh dũng Đến nay chúng ta đã bắn tan xác hơn 1200 máy bay địch Chúng ta quyết tâm đánh thắng chiến tranh phá hoại của địch, đồng thời hết sức hết lòng tỉng hộ đồng bào miễn Nam ruột thịt

Gần đây giặc Mĩ điên cuông leo thang thêm một bước rất nghiêm trọng: chúng bắn phá ngoại ô Hà Nội và Hải Phòng Đó là hành động tuyệt vọng của chúng, khác nào con thu di bị thương nặng, giãy giụa một cách hưng tợn trước hơi thở cuối cùng

Trang 14

Giôn-xơn và bè lũ biết rằng: chúng có thể đưa 50 vạn quân, 1 triệu

quân hoặc nhiều hơn thế nữa để day mạnh chiến tranh xâm lược ở miễn Nam

Việt Nam Chúng có thể dùng hàng nghìn máy bay, tăng cường đánh phá miễn Bắc Nhưng chúng không thể lay chuyển được ý chí sắt đá, quyết tâm chống Mĩ, cứu nước của nhân dân Việt Nam anh hùng Chúng càng hăng say

thì tội ác của chúng càng thêm nặng Chiến tranh có thể kéo dài Š năm, 10

năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có

gì quý hơn độc lập, tự do Đến ngày thắng lợi, nhân dân sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn

( ) Đông bào và chiến sĩ yêu quý!

Chúng ta có chính nghĩa, có sức mạnh đoàn kết của toàn dân từ Bắc đến Nam, có truyền thống đấu tranh bất khuất, lại có sự đồng tình ủng hộ

rộng lớn của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và nhân dân tiễn bộ trên toàn

thế giới, chúng ta nhất định thắng lợi!

Trước tình hình mới, chúng ta quyết đồng tâm nhất trí, vượt mọi gian

kho hi sinh, kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ lịch sử vẻ vang của dân tộc ta là

đánh thắng giặc Mĩ xâm lược!

Nhân dịp này, tôi xin thay mặt nhân dân Việt Nam nhiệt liệt cảm ơn sự

ung hộ và giúp đỡ hết lòng của nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa, của

nhân dân tiễn bộ trên thế giới, kể cả nhân dân Mĩ Hiện nay, trước âm mưu

tội ác mới của đề quốc Mĩ, tôi tin chắc rằng nhân dân và Chính phủ các nước

xã hội chủ nghĩa anh em, các nước yêu chuộng hòa bình và chính nghĩa trên thế giới càng ra sức ủng hộ và giúp đỡ hơn nữa nhân dân Việt Nam chống

Mĩ, cứu nước đến thang loi hoàn toàn

Nhân dân Việt Nam nhất định thắng!

Giặc Mĩ nhất định thua!

Trang 15

Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh muôn

năm!

Đẳng bào và chiến sĩ cả nước anh dũng tiến lên!”

(Trích Hô Chí Minh toàn tập, tập 12, NXB Chính trị Quốc gia, 2000)

Đây là một văn bản nghị luận được tạo lập với mục đích động viên tinh

thần yêu nước của mọi người dân mang dòng máu “Con Rồng cháu Lạc” Năm 1966, khi cuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn ra quyết liệt: đế quốc

Mĩ đã đàn áp đồng bào miền Nam, leo thang chiến tranh ra miền Bắc, đem bom đạn đánh phá các tuyến đường giao thông huyết mạch hòng ngăn chặn

nhân dân ta đấu tranh giành lại độc lập, tự do Trong hoàn cảnh Ấy, bài văn

của Bác có ý nghĩa như một lời hiệu triệu, kêu gọi nhân dân cả nước đồng lòng đánh đuôi kẻ thù đế quốc Mĩ Do vậy vấn dé dat ra trong van bản trên mà người viết đề cập đến là vấn đề có ý nghĩa xã hội, được mọi người quan tâm Chính điều này đã có tác dụng thuyết phục người nghe (người đọc)

Như vậy: văn nghi luận được tạo lập nhằm giải quyết một vấn đề nào

đó đặt ra trong cuộc sống Người viết trình bày các ý kiến, quan điển của mình vấn đặt ra để thuyết phục người nghe (người đọc) tán thành và làm theo 1.1.2.2 Văn nghị luận coi trọng tính lập luận

Có thể khẳng định: trong văn nghị luận không thể thiếu yếu tố lập luận

Nói cách khác yếu tố cơ bản của văn nghị luận chính là lập luận Lập luận chính là nghệ thuật cơ bản của văn bản nghị luận

Sở dĩ có thể khẳng định điều trên, bởi lẽ: Nghị luận là bàn luận, là nói lí

lẽ, là thuyết phục người đọc bằng lập luận lôgic chặt chẽ Cái hay của bài văn

nghị luận cũng chính là ở chỗ đó Có luận điểm mới mẻ, độc đáo là hết sức

quan trọng, nhưng để bài văn nghị luận có sức thuyết phục cao thì luận điểm

chưa đủ Ở đây cần nói đến vai trò của lập luận Phải biết lập luận tức là phải

biết trình bày và triển khai các luận điểm; biết nêu vấn đề và giải quyết các

Trang 16

vấn đề; biết dùng lí lẽ và dẫn chứng đề làm sáng tỏ điều mình muốn nói, để

người đọc hiểu, tin và đồng tình với mình Luận điểm là nội dung còn lập luận chính là hình thức diễn đạt nội dung

Lập luận là dựa vào các sự thật đáng tin cậy và các lí lẽ xác đáng để nêu lên ý kiến của mình về một vấn đề nhất định Khi lập luận, người viết một mặt nêu nêu rõ các luận điểm để mọi người biết mình muốn nói gì, tán thành

điều gì, phản đối điều gì Mặt khác nêu ra các lí lẽ dẫn chứng (luận cứ) và tô chức các li 18, dẫn chứng ấy một cách hợp lí (tiến hành luận chứng) nhằm thuyết phục người đọc (người nghe) tin vào nhận định và ý kiến của mình

Trong văn bản nghị luận gồm có luận điểm và luận cứ Đề có thê phát

huy vai trò của luận điểm và luận cứ trong văn nghị luận thì luận điểm và luận

cứ phải được cấu trúc thành một hệ thống Các luận điểm sẽ tạo nên bộ xương

cho cấu trúc văn nghị luận Đến lượt mình, các luận cứ lại tạo nên tạo nên cho các đoạn nghị luận hoặc cho một số đoạn nghị luận xoay quanh một luận điểm Chính luận điểm, luận cứ tạo sự gắn kết các ý, các đoạn trong văn bản với nhau, tạo ra tính thống nhất của văn bản

Một bài văn nghị luận có thể có một luận điểm chính (luận điểm lớn)

và nhiều luận điểm phụ (luận điểm nhỏ, luận điểm mở rộng) Các luận điểm nhỏ liên kết với nhau để soi sáng, làm rõ luận điểm chính của toàn bài

Trong văn bản “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, luận điểm chính

la: Gia trị cao quý của độc lập, tự do Luận điểm này được làm sáng tỏ qua hai

luận điểm mở rộng trình bày kế tiếp nhau: Đế quốc Mĩ gây chiến tranh xâm lược định cướp nước ta và khẳng định truyền thống yêu nước, tinh thần quyết

tâm chiến đấu bảo vệ độc lập, tự do của dân tộc ta

Bài văn có kết cấu chặt chẽ với hai phần chính:

Trong phần thứ nhất, Bác nêu bật đã tâm của đế quốc Mĩ bằng cách liệt

kê hàng loạt các hoạt động mà chúng đang tiến hành trên đất nước ta (kéo 6 at

Trang 17

30 vạn quân vào miền Nam nước ta, nuôi dưỡng ngụy quân, ngụy quyền, dai

chất hóa học, đem bom đánh phá miền Bắc ) Thủ pháp liệt kê cấp tiến đã tạo cho đoạn văn có sức tác động mạnh mẽ không chỉ đối với nhân dân Việt Nam mà còn thức tỉnh lương tri nhân loại thế giới Trong phần thứ nhất này, Người còn kết hợp thủ pháp tăng cấp với thủ pháp tương đồng (hay có thể gọi thủ pháp đòn bẩy): Đế quốc Mĩ càng xảo quyệt, độc ác, càng tàn bạo bao nhiêu thì ý chí sắt đá, quyết tâm đánh giặc của nhân dân ta càng được đề cao bấy nhiêu Đoạn văn này vừa có ý nghĩa khép lại phan thứ nhất vừa chuyền ý sang phần thứ hai một cách tài tình Kết thúc phần này là lời khẳng định đanh

thép: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa

Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự đo.” Phần thứ hai cũng được mở đầu bằng câu: “Đồng bào và chiến sĩ yêu quý!” Đây là một quãng ngừng nghỉ để chuyển sang giọng điệu kêu gọi mạnh

mẽ, thống thiết lên án tội ác của giặc, khẳng định tinh thần quyết tâm đánh

giặc của nhân dân ta để rồi kêu gọi đồng bào, chiến sĩ hãy đồng tâm hiệp lực hơn nữa Cách chuyên ý như vậy hết sức lôgic và mạch lạc Trong phần thứ hai này, giọng điệu của Bác không mạnh mẽ, quyết tâm như đoạn trước nhưng có sức tác động không hề giảm cũng bởi sự liên kết các ý mạch lạc và khéo léo Không chỉ khẳng định quyết tâm của dân tộc, Người còn cám ơn sự ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa, của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới trong đó có cả nhân dân Mĩ Bằng cách ấy, Người không chỉ tranh thủ được

sự ủng hộ của dư luận tiến bộ mà còn khéo léo cô lập kẻ thù ngay trong lòng nước MI

Như vậy trong văn bản: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, các luận điểm xuất phát và luận điểm mở rộng đều là những luận điểm khái quát, tiêu biểu, chân thực và đúng đắn Vì thế, các luận điểm này đã góp phần khẳng

Trang 18

định luận điểm chính nêu ra trong phần kết luận Các luận cứ Bác nêu ra để khẳng định từng luận điểm mở rộng cũng có tính chân thực, đúng đắn, tiêu biểu Do đó các luận cứ đã làm sáng tỏ các luận điểm mà chúng cần khẳng

định

Khi xem xét tính hệ thống của các luận điểm và luận cứ, cần phải chú ý

đến vai trò của từng luận điểm và luận cứ, mối quan hệ và cách sắp xếp của chúng trong hệ thống Văn bản nghị luận thường gồm 3 phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài Theo cách bố cục thông thường thì luận điểm xuất phát thường

được đặt ở phần Mở bài nhằm giới thiệu vấn đề đặt ra trong bài Các luận điểm mở rộng thường được trình bày trong phần Thân bài nhằm phát triển các

ý, triển khai cách lập luận Luận điểm chính thường được đưa vào phần Kết luận như một kết qua tat yếu của quá trình lập luận

Cách sắp xếp hệ thống luận điểm có liên quan đến nghệ thuật lập luận

Nghệ thuật lập luận được thể hiện trên hai cấp độ: cấp độ bài và cấp độ đoạn Lập luận là cách nêu các luận điểm mở rộng dẫn đến luận điểm chính Lập luận còn là cách nêu luận cứ dẫn đến luận điểm Trong thực tế có rất

nhiều cách lập luận khác nhau.Tùy vào mục đích của mỗi bài viết mà người

viết có thể sử dụng một trong các cách lập luận theo quan hệ sau: quan hệ

phân - tổng - hợp, quy nạp, diễn dịch, móc xích, song hành Chẳng hạn trong bài viết: “Sức mạnh của âm nhạc”, tác giả - Phạm Tuyên đã sử dụng

lập luận diễn dịch Theo cách lập luận này, luận điểm chính được nêu ra

trước, các luận điểm mở rộng được nêu tiếp sau nhằm minh chứng cho luận điểm chính.Tác giả viết như sau:

“Âm nhạc với những đường nét giai điệu trầm bồng, nhặt khoan đã có tác động tới nhiều mặt trong cuộc sống xung quanh chúng ta

Đời xưa người ta đã giao cho nghệ thuật này một sức mạnh có tính

chất huyễn bí tới vạn vật xung quanh, nhưng ngày nay bằng những thí nghiệm

Trang 19

khoa học, người ta cũng đã ghi nhận những tác dụng khá cụ thể Sử dụng một

loại âm nhạc nào đấy trên tàu đánh cá thì sẽ thu hút được cá kéo nhau chui vào lưới; sử dụng loại nhạc nào đó thì lượng sữa sẽ nhiều hơn khi người ta vất sữa bò; có loại cây phát triển nhanh hơn khi ta cho phát một loại nhạc

nào đáy ở khu vực trông

Nhiều nước trên thế giới đã vận dụng âm nhạc trong các xí nghiệp, công trường để nâng cao năng suất lao động của công nhân Tại nhà máy sản

xuất điện thoại PERM của Liên Xô, các nhà tâm lí học, sinh lí học và các cán

bộ âm nhạc đã phối hợp đưa âm nhạc vào giờ làm việc của công nhân Sau một thời gian ổn định với những điều kiện làm việc ổn định, có những ca

năng suất đã tăng tới 17% Trên thể giới lại đã hình thành một bộ môn

chuyên nghiên cứu việc chữa bệnh bằng âm nhạc và một số bệnh đã được điều trị có kết quả Hiện nay ở Ba Lan có 26 trong số 35 bệnh viện thần kinh

đã sử dụng âm nhạc vào việc chữa bệnh Ở Việt Nam ta, Viện Quân Y 103 cũng đã bước dau nghiên cứu sử dụng âm nhạc vào việc chữa bệnh và đạt

được kết quả tối

Tuy nhiên tác dụng lớn lao nhất của âm nhạc mà không ai phủ nhận được là bằng những âm thanh có tổ chức (tức là những bài ca, bản ca), thông qua thính giác mà tác động đến tư tưởng và tình cảm của con người ”

(Phạm Tuyên, Các bạn trẻ đến với âm nhạc, NXB Thanh niên, 1982)

Trong bài viết trên, tác giả đã đặt luận điểm chính ở phần Mở bài và ba

luận điểm mở rộng làm thành các đoạn tiếp theo nhằm khẳng định giá trị của

luận điểm chính

Ngược lại với lập luận theo quan hệ diễn dịch được sử dụng trong bài

“Sức mạnh của âm nhạc” thì tác giả của bài: “Hai biển hồ” lại sử dụng lập

luận theo quan hệ quy nạp để xây dựng hệ thống lập luận Tác giả viết như

sau:

Trang 20

“Người ta bảo ở bên Pa-le-xtin có hai biển hồ Biển hồ thứ nhất gọi

là biển Chết Đúng như tên gọi không có sự sống nào bên trong cũng như xung quanh biển hô này Nước trong hồ không có một loại cá nào có thể sống nổi Ai ai cũng đều không muốn sống gân đó Biển hô thứ hai đó là Ga-li-lê

Đây là biển hỗ thu hút nhiều khách du lịch nhất Nước ở biển hồ lúc nào cũng

trong xanh mát rượi, người có thể uống được mà cá cũng sống được Nhà cửa được xây cất rất nhiều ở đây Vườn cây xung quanh tốt tươi nhờ nguôn nước này

Nhưng điều kì lạ là cả hai biển hỗ này đều được đón nhận nguồn nước

từ sông Giooc-đăng Nước sông Giooc-đăng cháy vào biển Chết Biển Chết đón nhận và giữ riêng cho mình mà không chia sẻ nên nước trong biển Chết trở nên mặn chát Biển hồ Ga-li-lê cũng đón nhận nguồn nước từ sông Giooc- đăng rồi từ đó tràn qua các hồ nhỏ và sông lạch, nhờ vậy nước trong hồ này luôn sạch và mang lại sự sống cho cây cối, muông thú, con người

Một định lí trong cuộc sống mà ai cũng đông tình: Một ánh lửa sẻ chia

là ánh lửa lan tỏa, một đồng tiền kinh doanh là một đồng tiền sinh lợi Đôi

môi có hé mở mới nhận được nụ cười Bàn tay có rộng trao ban, tâm hôn mới

tràn ngập niềm vui sướng

Thật bắt hạnh cho ai cả cuộc đời chỉ biết giữ riêng cho mình “sự sống”

trong họ rỗi cũng sẽ chết dẫn chết mòn như nước trong lòng biến Chết ”

(Theo Quà tặng cuộc sống, báo Tuổi trẻ, NXB Tuổi trẻ 2001) Văn bản trên gồm bốn đoạn, tác giả đã sử dụng lập luận theo quan hệ quy nạp để xây dựng luận điểm Từ các luận điểm trình bày trong ba đoạn đầu (hiện tượng có thực về sự tiếp nhận nước sông Giooc-đăng và đặc điểm cuộc

sống hai hồ, các chỉ tiết và cách sống hòa đồng, ), tác giả đã dần khẳng định

luận điểm chính trong đoạn thứ tư: “cuộc đời chỉ biết giữ riêng cho mình” sẽ

là bất hạnh, là đi đến cái chết

Trang 21

Như vậy lập luận có một ý nghĩa và tầm quan trọng rất lớn trong văn nghị luận Nó thể hiện năng lực suy lí, năng lực thuyết phục của người viết, cũng là yếu tố tạo nên sự lôgic, độ chính xác, sắc bén và tính nghệ thuật của

văn nghị luận

Nhìn chung văn nghị luận có nhiều cách lập luận khác nhau Song sử

dụng các cách lập luận đó như thế nào để đạt được mục đích nghị luận mới là

quan trọng Một bài văn có thể sử dụng một hay nhiều cách lập luận nhưng

đều nhằm mục đích thuyết phục người nghe Việc sử dụng các cách lập luận cần phải được vận dụng một cách linh hoạt và thích hợp

1.1.2.3 Văn bản nghị luận phải dùng từ, đặt câu chính xác, trong sáng

Trong văn nghị luận, để có thể tạo ra những bài văn nghị luận hay thì

trước hết bài văn đó phải đúng Một bài văn đúng là bài văn phải đúng về nội dung kiến thức Điều đó có nghĩa là dùng từ, đặt câu phải chính xác

Trong lần nói chuyện với các thầy giáo dạy văn, Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng nói: “ Ä#ục đích của việc dạy văn là phải rèn luyện cho học sinh

có ý thức, từ đó có cô gắng rồi có khả năng tự mình suy nghĩ, suy nghĩ nhiễu, suy nghĩ sâu về những điều mình muốn nói, muốn viết và khi nói, khi viết phải diễn tả cái gì mình suy nghĩ, mình cân bày tỏ một cách trung thành, sáng tỏ,

chính xác, làm nồi bật điều mình muốn nói” Như vậy, trong học văn việc rèn

luyện khả năng diễn đạt cũng quan trọng không kém gì rèn luyện khả năng suy nghĩ độc lập Nói đến khả năng diễn đạt là nói đến vốn ngôn ngữ và khả năng sử dụng vốn ngôn ngữ đó Khác với ngôn ngữ gợi cảm, giàu hình ảnh trong văn miêu tả và trong văn kế chuyện, văn nghị luận đòi hỏi ngôn ngữ cần

phải trong sáng, chính xác, rành mạch và có hình ảnh Để đạt yêu cầu đó

trong văn nghị luận, chúng ta cần phải học cách “đừng ứừ với một chính xác nghiệt ngã” (M Gor-ki), phải học cách viết câu chặt chẽ, mạch lạc, giản di có sức lôi cuôn người đọc

Trang 22

Những bài viết của Bác Hồ thể hiện sự mẫu mực về cách dùng từ chính

xác, giản dị Chăng hạn: để giải thích '?z2o động là vinh quang”, Bác đã không nói dài dòng hay dùng những từ hoa mĩ Bác nói: “Trong xd hdi ta không có nghệ thấp hèn, chỉ có những kẻ lười biếng, ÿ lại mới đáng xấu hổ” Bác còn vận dụng rất tài tình lời ăn tiếng nói hàng ngày của quần chúng Phân

tích tầm quan trọng của việc tiết kiệm, Bác nói: “Sán xuất mà không biết tiết

kiệm thì khác nào giỏ vào nhà trống” Hoặc khi giải thích: “Thế nào là học tot”, đồng chí Trường Chinh không đưa ra những lời lẽ cầu kì mà dùng ngay những lời bình thường mà bất cứ em học sinh ở cấp nào cũng có thể hiểu

được: “Học (ốt trước hết học sinh phải đi học cho đều, chăm chú lắng nghe

thấy cô giáo giảng ở lóp, học thuộc bài trên cơ sở hiểu thấu môn học, nắm

vững kiến thức không thuộc như vẹt theo đúng chương trình học” “Học đều,

chăm đều, không “học gạo, học lỏi ” “Đi học đều, chăm chú nghe giảng, thuộc bài” , ta thấy ở đây những từ được dùng là những từ học sinh hay dùng nhưng do đặt đúng chỗ, dùng đúng nghĩa nên vẫn diễn tả đươc đầy đủ

khai niém “hoc 160”

Trong văn nghị luận, ngoài những yêu cầu trên, có lúc câu và từ còn cần có hình ảnh và cảm xúc Sử dụng hình ảnh đúng lúc, đúng chỗ là tạo điều

kiện thuận lợi cho người đọc đến với chân lí, đến với sự thật một cách dễ

dàng hơn, đồng thời cũng gây ấn tượng sâu sắc hơn Chẳng hạn: khi bàn về văn thơ Nguyễn Đình Chiêu, Phạm Văn Đồng có viết: “Trên trời có những vì sao có ánh sáng khác thường nhưng con mắt chúng ta phải chăm chủ nhìn mới thấy và càng nhìn càng thấy sáng Văn thơ Nguyễn Đình Chiếu cũng

vậy.” Hình ảnh so sánh trong lời nhận xét này nhắc nhở những ai quen với loại văn trau chuốt thì chớ đem cái thước đo quen thuộc ấy mà đánh giá thơ văn của nhà yêu nước Nguyễn Đình Chiều Đồng thời gợi ra trong người đọc

cảm nhận tổng quát rất xác đáng về thơ văn của ông

Trang 23

Nhìn chung, trong văn nghị luận không loại trừ việc sử dụng ngôn ngữ

có hình ảnh Trái lại, do yêu cầu của nội dung, trong văn nghị luận đã dùng rất nhiều những câu, những từ giàu hình ảnh, gợi cảm xúc

Nói tóm lại, khi viết văn nghị luận phải dùng từ chính xác, trong sáng,

có hình ảnh, điễn tả đúng nhất ý tưởng của mình, câu văn phải mạch lạc, rõ ràng, hùng hồn hoặc giàu cảm xúc

1.1.3 Phân loại văn bản nghị luận

Văn nghị luận chiếm khối lượng lớn trong kho tàng văn hóa của loài người Trong xã hội hiện đại, nhu cầu nghị luận của con người ngày càng cao,

do đó văn nghị luận ngày phát triển Việc phân chia văn nghị luận, người ta dựa vào những tiêu chí khác nhau Trong cuốn: “Văn nghị luận trong chương trình Ngữ văn THCS”, nhóm các tác giả do Nguyễn Trí chủ biên đã phân chia

văn nghị luận dựa trên những tiêu chí sau:

- Căn cứ vào nội dung bài, người ta chia ra làm các loại văn nghị luận:

nghị luận chính trị (có đề tài là các vấn đề chính trị); nghị luận xã hội (có đề tài là các vấn đề xã hội); nghị luận đạo đức (có đề tài là các vấn đề đạo đức, nhân sinh quan ); nghị luận văn học (có các đề tài là các vấn đề văn học

như: các vấn đề lí luận văn học, tác giả, tác phẩm văn học )

- Căn cứ vào đặc điểm của cách nghị luận trong khi làm sáng tỏ vấn để

đặt ra, người ta chia làm các kiểu bài: lập luận giải thích, lập luận bình luận,

lập luận chứng minh

Hiện nay người ta chia văn nghị luận thành 2 thể loại: Nghị luận chính

trị - xã hội (lay đối tượng là những vấn để xã hội, chính trị); nghị luận văn học

(lấy đối tượng là các vấn đề văn học) Trong quá trình viết bài văn nghị luận

văn học vẫn cần dùng kiến thức xã hội, chính trị cũng như viết bài nghị luận

xã hội cũng vẫn cần kiến thức văn học Ứng với hai phạm vi trên là các dạng văn nghị luận trong nhà trường phố thông, cụ thé như:

Trang 24

+ Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lý

+ Nghị luận về một hiện tượng, sự kiện trong đời sống

+ Nghị luận về một tác phẩm văn học

+ Nghị luận về một ý kiến, một nhận xét đối với văn học

Trong mỗi dạng văn nghị luận trên, sẽ sử dụng một số thao tác nghị

luận sau:

+ Giải thích: là thao tác dùng lí lẽ để giảng giải, cắt nghĩa nhằm làm

sáng tỏ nội dung của một ý kiến, một nhận định hoặc một đoạn trích tác phẩm của một nhà tư tưởng, nhà phê bình, nhà văn, nhà thơ

+ Chứng minh: là thao tác dùng dẫn chứng (chủ yếu) và lí lẽ (hỗ trợ) để

khiến cho người đọc (người nghe) tin vào một vấn đề nào đó trong đời sống

hoặc trong văn học

+ Bình luận: là đề xuất và thuyết phục người đọc (người nghe) tán đồng

với một nhận xét, đánh giá, bàn luận của mình về một vấn để nào đó trong đời

sống hoặc trong văn học

+ Phân tích: là phương pháp tư duy khoa học rất quen thuộc Quá trình

phân tích là giải thích, chia tách một vấn đề, một sự vật, một hiện tượng thành

những bộ phận nhỏ để tìm hiểu từng bộ phận và mối quan hệ giữa, qua đó tìm

hiểu toàn bộ vấn đề

+ Bình giảng: là giảng giải nội dung, ý nghĩa của câu thơ, đoạn thơ hoặc đoạn văn, bài văn, phân tích, bình giá về cái hay cái đẹp về nghệ thuật cũng như nội dung của tác phẩm

Nhìn chung, việc phân loại văn nghị luận, hầu hết các nhà nghiên cứu

đều phân chia văn nghị luận thành hai loại đó là: nghị luận xã hội và nghị luận

văn học Trong mỗi loại lại có những dạng nghị luận khác nhau Và mỗi dạng

sẽ sử dụng một số thao tác nghị luận khác nhau

Trang 25

1.2 Dạng bài nghị luận về một hiện tượng đời sống

1.2.1 Khái niệm nghị luận về một hiện tượng đời sống

Xung quanh chúng ta hàng ngày có biết bao chuyện xảy ra: có hiện tượng tốt, có hiện tượng xấu Vậy tất cả những gì xảy ra trong cuộc sống hàng ngày đều được coi là hiện tượng đời sống Trước những hiện tượng đời sống

ấy, con người luôn đưa ra những lời bàn luận, đánh giá nhằm mục đích nhận thức và phản ánh được sự vật và hiện tượng trong đời sống khách quan Khi bàn luận thì người nói (người viết) có thể sử dụng những thao tác lập luận khác nhau như: chứng minh, giải thích, bình luận, phân tích Song dù sử dụng thao tác lập luận nào chăng nữa thì chúng đều thuộc thê loại nghị luận

Do vậy những hiện tượng trong đời sống được đưa ra bàn luận được gọi là nghị luận về một hiện tượng đời sống

Như vậy, hiểu một cách khái quát: Nghị luận về một hiện tượng đời

sống là kiểu bài sử dụng tổng hợp các thao tác lập luận để cho người đọc (người nghe) hiểu đúng, hiểu rõ, hiểu sâu để đồng tình hay phán đối trước

những hiện tượng đời sống có ý nghĩa xã hội Nói cách khác: Nghị luận về

một hiện tượng đời sống là bàn về một sự việc, hiện tượng có ý nghĩa đối với

xã hội, đáng khen, đáng chê hay có vấn đề đáng suy nghĩ

Vi dụ sau đây chính là một văn bản nghị luận về một hiện tượng đời sống

Bệnh lề mề Trong đời sống hiện nay có một hiện tượng khá phổ biến, mọi người thường thấy nhưng thường bỏ qua Đó là bệnh lề mê mà coi thường giờ giác

là một biểu hiện Cuộc họp ấn định vào lúc 8 giờ sáng mà 9 giờ mới có người

đến Giấy mời hội thảo ghỉ 14 giờ mà mãi đến 15 giờ mọi người mới có mặt

Hiện tượng này xuất hiện trong nhiều cơ quan, đoàn thể, trở thành một thói

khó chữa

Trang 26

Những người lề mê ấy, khi ra sân bay, lên tàu hỏa, đi nhà hát chắc là

không dám đến muộn, bởi đến muộn là có hại ngay đến quyền lợi thiết thân

của họ Nhưng đi họp, hội thảo là việc chung, có đến muộn thì cũng không thiệt gì Thế là hết chậm lần này đến chậm lần khác và bệnh lề mê không sửa được

Bệnh lề mê suy cho cùng là do một số người thiếu tự trọng và chưa biết tôn trọng người khác tạo ra Họ chỉ quỷ thời gian của mình mà không tôn trọng thời gian của người khác Họ không coi mình là người có trách nhiệm đối với công việc chung của mọi người

Bệnh lề mê gây hại cho tập thể Đi họp muộn, nhiều vấn đề không được

bàn bạc thấu đáo, hoặc khi cần lại phải kéo dài thời gian Bệnh lề mê gây hại

cho những người biết tôn trọng giờ giác Ai đến đúng giờ lại cứ phải đợi người đến muộn Bệnh lề mê còn tạo ra tập quán không tốt: Muốn người dự đến đúng giờ như mong muốn, giấy mời thường phải ghỉ giờ khai mạc sớm hơn 30 phút hay 1 gio!

Cuộc sống văn mình hiện đại đòi hỏi mọi người phải tôn trọng lẫn

nhau và hợp tác với nhau Những cuộc họp không thật cần thiết thì không nên

tổ chức Nhưng những cuộc họp cần thiết thì mọi người cần tự giác tham dự đúng giờ Làm việc đúng giờ là tác phong của người có văn hóa

(Phương Thảo) (Theo SỚK Ngữ Văn 9, tập 2, NXB Giáo dục) Trong bài viết trên, tác giả đã đưa ra những lời bàn trước một hiện tượng hết sức phổ biến trong đời sống hàng ngày - đó là sự chậm chạp, lề mề

ở một số người Hiện tượng này đã trở thành một thói quen và lâu dần trở

thành “căn bệnh”, căn bệnh ấy được gọi là: “bệnh lề mề”

Người viết đã sử dụng các thao tác lập luận khác nhau để bàn về hiện tượng đời sống này Sau khi nêu lên vấn đề cần bàn luận: “Bệnh lề mề” trong

Trang 27

phần Mở bài, thì tác giả bài viết đã triển khai vấn đề một cách cụ thể trong

phần Thân bài Tác giả bài viết đã nêu những biểu hiện cụ thể và nguyên nhân dẫn đến căn bệnh này ( Đi hội họp, hội thảo là việc chung, có đến muộn thì cũng không thiệt gì Thế là hết chậm lần này đến chậm lần khác và bệnh lề mê không sửa được; Bệnh lề m suy cho cùng là do một số người thiếu tự trọng

và chưa biết tôn trọng người khác tạo ra Họ chỉ quỷ thời gian của mình mà không tôn trọng thời gian của người khác Họ không coi mình là người có trách nhiệm đối với công việc chung của mọi người) Ö đây, người viết đã sử dụng thao tác giải thích nguyên nhân dẫn đến căn bệnh lề mề của nhiều người Sau đó tác giả bài viết sử dụng thao tác phân tích đề chỉ ra hậu quả của căn bệnh này (Bệnh lề mê gây hại cho tập thể; Bệnh lề mê gây hại cho những người biết tôn trọng giờ giấc; bệnh lề m còn tạo ra tập quán không tốt )

Và cuối cùng người viết đã đánh giá hiện tượng và kêu gọi mọi người cần phải đấu tranh với căn bệnh này

Như vậy, văn bản: “Bệnh lề mề” chính là một văn bản nghị luận về một

hiện tượng đời sống Tác giả bài viết đã sử dụng các thao tác lập luận khác

nhau để người đọc hiểu đúng, hiểu rõ thói quen chậm chạp, lề mề ở nhiều người trong công việc chung gây ảnh hưởng đến người khác Từ đó có thái độ phản đối, lên án khi đứng trước hiện tượng này

1.2.2 Đặc trưng cơ bán của dạng bài nghị luận về một hiện tượng đời

sống

1.2.2.1 Nghị luận về một hiện tượng đời sống có phạm vi đề tài rộng

Nghị luận về một hiện tượng đời sống tức là những vấn đề, những hiện

tượng trong đời sống hàng ngày được đưa ra bàn luận Thực tế thì những vấn

đề của đời sống xã hội rất đa dạng, phong phú, biểu hiện ở nhiều mức độ, tinh chất khác nhau Chắng hạn, khi bàn về vấn đề Giáo dục thì sẽ có: giáo dục

mầm non, tiểu học; giáo dục THCS; giáo dục THPT; giáo dục Đại học; giáo

Trang 28

dục sau Đại học Và trong từng vấn đề thì lại có những biểu hiện khác nhau

về mức độ, tính chất Cùng bàn về phương pháp dạy học nhưng giáo dục mầm

non, tiểu học sẽ khác giáo dục THCS, giáo dục THPT Hay khi bàn về

phương tiện dạy học, đối tượng dạy học ở các cấp học này cũng khác nhau Khi bàn về những vấn đề của đời sống xã hội, không chỉ là những hiện tượng thông thường mà nó còn liên quan đến cả văn hóa phong tục, tập quán, đạo đức của xã hội Do vậy đề tài của nghị luận về một hiện tượng đời sống hết có phạm vi rộng rãi Hàng ngày có biết bao sự việc, hiện tượng xảy ra, có

sự việc tốt, có sự việc xấu Có thể là một vụ cãi lộn đánh nhau, thói ăn chơi đua đòi, tai nạn giao thông, hiện tượng môi trường bị ô nhiễm, những tiêu cực

trong thi cử .tất cả đều được đưa ra để bàn luận

Để làm rõ vấn đề nêu trên, ta xét một vải ví dụ sau:

Tiếng kêu cứu của môi trường

Thành ngữ Việt Nam có câu: “Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm” Vậy

mà “ngôi nhà chung ” của chúng ta đang tràn ngập nước Việc rác bừa bãi đã trở thành mối quan tâm lo lắng cho người biết trân trọng và yêu quý môi trường

Ở một số nước tiên tiễn trên thế giới, vệ sinh công cộng rất được quan tâm Tuy nhiên ở nước ta đây mới là vấn đề của các ngành chức năng Bởi vậy rác có mặt ở khắp các nơi: trên đường phó, trong nhà xe, bênh viện, trường học, di tích thắng cảnh, Đến đâu cũng thấy rác, thậm chí ngôi bên

bờ hô, dù là hỗ đẹp nồi tiếng người ta cũng tiện tay vứt rác xuống Rác gồm

đủ loại với đủ chất liệu khác nhau từ vỏ hoa quả đến vỏ đô hộp, bao bì nỉ

lông, vỏ chai thủy tỉnh, sỉ than, gỗ, giấy

Rác thải phong phú bao nhiêu thì tác hại mà nó gây ra lớn bấy nhiêu Rác thai làm mắt mỹ quan nơi công cộng, biển những thăng cảnh thành những bãi rác Ai đã từng du ngoạn Hương Sơn, chắc chắn không thể quên hình ảnh

Trang 29

khắp các lối di, các sườn núi rác tràn ngập và dày đặc Chón “Nam thiên đệ nhất động” bớt hấp dẫn du khách hơn có lẽ cũng vì như vậy Không chỉ có thế, rác thải bùa bãi còn gây ô nhiễm môi trường, không khí không trong lành, sông hô ô nhiễm, sinh vật ở sông hỗ bị chết Tất cả những điều đó đều

có thể làm nguy hại đến sức khỏe của con người Đôi khi rác thải, vỏ hoa quả, đô hộp, trẻ bị chảy máu, nhiễm trùng vì dẫm

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hượng trên Song về cơ bản có thê nhận thấy nạn vút rác bùa bãi là do thiếu ý thức của một số người, do chưa có nhiều thùng rác ở nơi công cộng và chưa thực sự có những biện pháp xử lí nghiêm khắc đối với những người vi phạm

Trong khi chúng ta còn đang lúng túng tìm giải pháp khắc phục thì hàng ngày, hàng giờ hành tỉnh xanh của chúng ta đang oằn mình vì rác Bởi vậy ngoài việc đặt thùng rác ở nơi công cộng, treo biển cắm đồ rác ở một số nơi

và phạt nghiệm khắc với người vi phạm Chúng ta cần phải giáo dục ý thức về vấn đề này và phải nhanh chóng khắc phục hậu quả ở những nơi đã bi vitt rac bừa bãi, nhằm ngăn chặn hành vi tiếp tục xả rác của những người vô ý thức Bên cạnh đó cần nhân rộng những phong trào giàu ý nghĩa như: “Chủ nhật xanh”, “Xanh sạch đẹp thành phố” Đề “ngôi nhà chung ” của chúng ta luôn

sạch sẽ, an lành

Thành ngữ Việt Nam từng nói: “Góp gió thành bão” Vì vậy mỗi học sinh chúng ta cần ý thức giữ gìn vệ sinh nơi cộng cộng để trái đất này mãi mãi là hành tỉnh xanh đáng yêu ”

(Theo Van hoc và Tuổi (rẻ, số tháng 6(165), NXB Giáo dục) Bài viết trên đây đã bàn về một hiện tượng đang được mọi người trong

xã hội quan tâm đó chính là: ô nhiễm môi trường, cụ thể là tác giả bài viết đã

chỉ rõ thực trạng ô nhiễm môi trường là do việc vứt rác bừa bãi Tác giả bài viết đã chỉ rõ nguyên nhân của việc vứt rác bừa bãi gây ra ô nhiễm môi

Trang 30

trường chính là do ý thức của con người Từ việc chỉ ra tác hại, nguyên nhân của việc vứt rác bừa bãi, tác giả bài viết còn đưa ra những giải pháp, đề xuất

để giúp môi trường bớt ô nhiễm

Trong một bài viết khác, bài: “Khan hiếm nước ngọt" người viết lại quan tâm đến một hiện tượng khan hiếm nước ngọt Tác giả viết như sau:

“Nhìn vào bản đô thế giới, đâu đâu ta cũng thấy mênh mông là nước

Đại dương bao quanh lục địa Rồi mạng lưới sông ngòi chẳng chịt Lại có những hỗ lớn nằm sâu trong đất liền lón chẳng kém gì biển cả Cảm giác đó khiến nhiều người chúng ta tin rằng: thiếu gì thì thiếu chứ con người và muôn loài trên qua dat không bao giờ thiếu nước Xin được nói ngay rằng nghĩ nhĩ vậy là nhằm to Đúng là bề mặt quả đất mênh mông là nước, nhưng đó là nước mặn chứ đâu phải là nước ngọt, lại càng không phải là nước sạch mà con ngưới và động vật, thực vật xung quanh ta có thể dùng được Hai phần ba nước trên hành tỉnh mà chúng ta đang sống là nước mặn Trong số nước ngọt

còn lại thì hẳu hết bi đóng băng ở Bắc Cục, Nam Cực và trên dãy núi Hi-ma-

lay-a Vậy thì con người có thể khai thác nước ngọt ở sông, suối, đầm, ao, hỗ

và nguôn nước ngắm Số nước ngọt như vậy không phải là vô tận, cứ dùng hết lại có mà đang ngày càng bị nhiễm bẩn bởi chính con người Đủ thứ rác thải,

từ rác thải vô cơ, hữu cơ, những thứ rác có thể tiêu hủy được tới cả những thứ hàng chục năm sau chưa chắc đã phân hủúy, cả những chất độc hại được

vô tr ngắm xuống đất, thải ra sông suối Như vậy là nguồn nước sạch lại càng khan hiếm hơn nữa

Theo tổ chức Y tế thế giới, trên hành tỉnh có khoảng hai tỉ người đang sống trong cánh thiếu nước ngọt để dùng trong sinh hoạt hàng ngày Dự báo tới năm 2015 một nứa dân số trên hành tỉnh sẽ rơi vào hoàn cảnh không đủ nước để dùng

Ngày đăng: 04/11/2014, 09:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w