Ôn tập triết học cao học có đáp án Câu 1: Phân tích mối quan hệ giữa vật chất với ý thức và vận dụng mối quan hệ này vào công cuộc đổi mới nước ta hiện nay? Câu 2. Anh chị hãy phân tích cơ sở lý luận và và nêu ra các yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang vận dụng nguyên tắc này như thế nào vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay ? Câu 3.Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, anh ( chị) hãy phân tích làm sáng tỏ luận điểm sau đây của C. Má.c: Tập hợp 35 câu hỏi và đáp án môn triết ôn thi cao học
Trang 1M c l c ục lục ục lục
Câu 1: Phân tích mối quan hệ giữa vật chất với ý thức và vận dụng mối quan hệ này vào công cuộc đổi mới nước ta hiện nay? 3Câu 2 Anh chị hãy phân tích cơ sở lý luận và và nêu ra các yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang vận dụng nguyên tắc này như thế nào vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay ? 6Câu 3.Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, anh ( chị) hãy phân tích làm sáng tỏ luận điểm sau đây của C Má.c: 8
“ Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất, nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng” 10Câu 4 Phân tích cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện Vì sao trong hoạt động nhận thức và trong thực tiễn chúng ta phải tôn trọng nguyên tắc toàn diện? Hãy vận dụng nguyên tắc này vào công cuộcđổi mới ở nước ta hiện nay 11Câu 5 Phân tích cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển Vì sao trong hoạt động nhận thức và trong thực tiễn chúng ta phải tôn trọng nguyên tắc phát triển? Hãy vận dụng nguyên tắc này vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay 15Câu 6: Vì sao trong hoạt động nhận thức và thực tiễn chúng ta phải tôn trọng nguyên tắc lịch sử - cụ thể ? Hãy vận dụng nguyên tắc này vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay 18Câu 7: Phân tích nội dung nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của triết học Mác – Lênin; Vận dụng nguyên tắc này vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay 26CÂU 8 Bằng lý luận và thực tiễn, Anh( chị) hãy chứng minh rằng: “ Trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị Điều đó có nghĩa là giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị trong xã hội” 32CÂU 9??????????: Bằng hiểu biết của mình về nội dung của chủ nghĩa duy vật lịch sử, Anh ( chị) hãy làm sáng tỏ luận điểm sau đây của Lênin: 33
“ Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học Một lý luận hếtsức hoàn chỉnh và chặt chẽ đã thay cho sự lộn xộn và sự tùy tiện, vẫn ngự trị từ trước đến nay trongcác quan niệm về lịch sử và chính trị” 33CÂU 10: Hãy giải thích và chứng minh luận điểm sau đây của Lênin: 41
“ Chỉ có đem quy những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem quy những quan hệ sảnxuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên” 41Câu 11 Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Vận dụng mối quan hệ này vào việc xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng ở nước ta hiện nay 44
Trang 2Câu 12: Anh ( chị) hãy làm rõ sự khác biệt giữa quan niệm về con người trong triết học Mác với quanniệm về con người trong lịch sử triết học trước Mác và vận dụng các quan điểm về con người trong triết học Mác vào việc phát huy nguồn lực con người ở Việt Nam hiện nay 44Câu 13/ Lý luận là gì? Tư duy lý luận là gì? Vai trò của triết học Mác trong việc nâng cao năng lực tư duy lý luận? Bình luận nhận định của Ph.Ăngghen: “Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận”… “Cứ mỗi lần khoa học đạt được thành tựu mới thì triết học phải thay đổi hình thức tồn tại của chính mình” 51Câu 15/ Phân tích cơ sở triết học (lý luận & phương pháp luận) trong khẳng định của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật kháchquan” 55Câu 16 Bằng lý luận và thực tiễn, chứng minh rằng: “Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới
mà còn góp phần sáng tạo ra thế giới” 57Câu 21 Phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc lịch sử – cụ thể Tại saonói: “Nguyên tắc lịch sử – cụ thể là ‘linh hồn’ phương pháp luận của chủ nghĩa Mác” Đảng CSVN đã vận dụng nguyên tắc này như thế nào vào thực tiễn cách mạng VN hiện nay? 59Câu 22 Phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc phân tích mâu thuẫn (phân đôi cái thống nhất) Đảng CSVN đang vận dụng nguyên tắc này như thế nào vào quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay? 61Câu 23 Phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc phân tích lượng – chất.Đảng CSVN đang vận dụng nguyên tắc này như thế nào vào quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay? 65Câu 24 Phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc phủ định biện chứng Đảng CSVN đang vận dụng nguyên tắc này như thế nào vào quá trình xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay? 69Câu 25: Bằng lý luận và thực tiễn, chứng minh rằng, cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ là một quátrình khó khăn, lâu dài, phức tạp; cái mới có thể thất bại tạm thời nhưng cuối cùng nó sẽ chiến thắng cái cũ 73Câu 26: Giải thích câu nói của V.I.Lênin: “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về
sự thống nhất của các mặt đối lập Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có sự giải thích và một sự phát triển thêm” 74Câu 27: Giải thích câu nói của V.I.Lênin: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn là quan điểm thứ nhất
và cơ bản của lý luận nhận thức” 76Câu 28: Phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn? 77Câu 29: Hình thái kinh tế xã hội là gì? Vạch ra ý nghĩa của học thuyết hình thái kinh tế – xã hội? Phân tích tư tưởng của Mác: “Sự phát triển hình thái kinh tế – xã hội là quá trình lịch sử – tự nhiên” Đảng CSVN đã vận dụng học thuyết hình thái KT-XH như thế nào vào thực tiễn cách mạng VN hiện nay? 78
Trang 3Câu 31: Phân tích nội dung cơ bản của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển củalực lượng sản xuất Tại sao nói quy luật này là quy luật cơ bản và phổ biến nhất của xã hội lòai người Đảng CSVN đã vận dụng quy luật này như thế nào vào quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay 78Câu 32 :Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng? Sự vận dụng mối quan hệ này trong công cuộc đổi mới ở nước ta? 83Câu 33 : Giai cấp là gì? Bằng lý luận và thực tiễn, chứng minh rằng: “Trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị Điều đó có nghĩa là giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị trong xã hội” 85Câu 34:Nhà nước pháp quyền là gì? So sánh NNPQ tư sản & NNPQ xã hội chủ nghĩa Phân tich cơ sở kinh tế, cơ sở chính trị và cơ sở xã hội của NNPQ xã hội chủ nghĩa Việt Nam 85Câu 35:Phân tích quan điểm của triết học Mác - Lênin về bản chất con người và về vấn đề giải phóngcon người 87
“Con người là một thực thể tự nhiên mang đặc tính xã hội; có sự thống biện chứng giữa hai phươngdiện tự nhiên và xã hội” 89
Câu 1: Phân tích mối quan hệ giữa vật chất với ý thức và vận dụng mối quan hệ này vào công cuộc đổi mới nước ta hiện nay?
+Vật chất là phạm trù triết học, là sản phẩm của sự trừu tượng hóa nên không có các thuộc tính cụ thể mà
ta cảm nhận trực tiếp bằng giác quan Vì vậy ta không thể đồng nhất vật chất với một dạng cụ thể củanó.Thuộc tính cơ bản của vật chất là tồn tại khách quan tất cả những gì tồn tại ngoài ý thức có thể tácđộng vào giác quan
-Khái niệm về ý thức: Ý thức là toàn bộ hoạt động tinh thần diễn ra trong đầu óc con người, phản ánh thếgiới vật chất xung quanh, hình thành phát triển trong quá trình lao động và định hình thể hiện ra bằngngôn ngữ
-Mối quan hệ giữa vật chất với ý thức
+Tính quyết định của vật chất đối với ý thức
Trang 4 Vật chất có trước ý thức
Vật chất là nguồn gốc của ý thức
Vật chất quyết định ý thưc
Vật chất quyết định nội dung ý thức
Vật chất quyết định hình thức biểu hiện (tồn tại) của ý thức
Vật chất quyết định vai trò và tác dụng của ý thức
+Vai trò của ý thức đối với vật chất
Bản thân ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thực
Khi thông qua lực lượng vật chất và bằng lực lượng vật chất (vật chất hóa tri thức khoa học, quầnchúng hóa quan điểm cách mạng…), ý thức đi vào hoạt động thực tiễn của con người, khi đó nó
Vật chất hóa ý thức càng sâu rộng thì sức tác động của ý thức càng lớn
*Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất với ý thức vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay
Thựctrạng:
_Trướcđổimới:
Kinhtế(vậtchất):
Cơsởvậtchấtkỹthuậtyếukém,cơcấukinhtếnhiềumặtmấtcânđối,năngxuấtlaođộngthấp,sảnxuấtchưađảmbảonhucầuđờisống,sảnxuấtnôngnghiệpchưacungcấpđủthựcphẩmchonhândân,nguyênliệuchocôngnghiệp,hànghoáchoxuấtkhẩu
Chínhtrị(ýthức):
Chúngtachưatìmrađượcđầyđủnhữngnguyênnhânđíchthựccủasựtrìtrệtrongnềnkinhtếcủanướctavàcũngchưađềracácchủtrươngchínhsáchvàtoàndiệnvềđổimới,nhấtlàvềkinhtế,chúngtachưakiênquyếtkhắcphụcchủquan,trìtrệtrongbốtrícơcấukinhtế,cảitạoxãhộichủnghĩavàquảnlýkinhtếvàphạmnhữngsailầmtronglĩnhvựcphânphốilưuthông
_Sauđổimới:
Chínhtrị:
Đảngvànhànướcđãđisâunghiêncứu,phântíchtìnhhình,lấyýkiếnrộngrãicủacơsở,củanhândân.vàđặcbiệtlàđổimớitưduyvềkinhtế
ĐạihộilầnthứVIcủaĐảngđãrútrabàihọckinhnghiệmlớn,trongđó:phảiluônxuấtpháttừthựctế,tôntrọngvàhànhđộngtheoquyluậtkháchquan.Đảngđãđềrađườnglốiđổimới,mởrabướcngoặttrongsựnghiệpxâydựngchủnghĩaxãhộiởnướcta.VàđếnĐạihộiđạibiểutoànquốclầnthứVII,tađãđánhgiátìnhhìnhchínhtrịxãhộiViệtNamsauhơnbốnnămthựchiệnđườnglốiđổimới:côngcuộcđổimớibướcđầuđãđạtđượcnhữngthànhtựubướcđầurấtquantrọng,tìnhhìnhchínhtrịcủađấtnướcổnđịnh
Kinhtế:
Trang 5Đảng chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ,đưa đất nước ta trở thành một nước công nghiệp; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, phù hợp theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa; phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủđộng hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi liềnvới phát triển văn hoá, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến
bộ và công bằng xã hội, boả vệ và cải thiện môi trường; kết hợp phát trển kinh tế xã hội với tăngcường quốc phòng an ninh
Cùng với quá trinh vận dụng của Đảng trong công cuộc đổi mới kinh tế đất nước thì phát triểngiáo dục và đào tạo khoa học ông nghệ, xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân téc Về giáodục đào tạo tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện đổi mới nội dung phương pháp va hệ thốngquản lý giáo dục…Về khoa học công nghệ khoa học xã hội và nhân văn hướng vào giải đáp các vấn đề
lý luận và thực tiễn, dự báo các xu thế phát triển , cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đườnglối chủ trương cuả Đảng …
Tăng cường quốc phòng và an ninh bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa la bảo vệ vững chắc độc lập
tự chủ, an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, kết hợp chặt chẽ kinh tế quốc phòng và an ninh và kinh tếtrong các chiến lược Mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó chủ độnghội nhập kinh tê quốc tế và khu vực Phát huy sức manh đại đoàn kết toàn dân
+Biết tìm kiếm, khai thác, tổ chức, sử dụng những lực lượng vật chất (cá nhân-cộng đồng, kinh tế-quân
sự, trong nước-ngoài nước, quá khứ-tương lai…) để phục vụ cho sự nghiệp Đổi mới
+Coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, coi đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực chủ yếu phát triểnđất nước
+Biết kết hợp hài hòa các dạng lợi ích khác nhau (kinh tế, chính trị, tinh thần: cá nhân, tập thể, xã hội…)thành động lực thúc đẩy Đổi mới
+ “Mọi đường lối chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”
-Khơi dậy và phát huy tối đa sức mạnh tinh thần, truyền thống tốt đẹp của dân tộc
+Coi sự thống nhất nhiệt tình cách mạng và tri thức khoa học là động lực tinh thần thúc đẩy công cuộcĐổi mới
+Bồi dưỡng nhiệt tình phẩm chất cách mạng, khơi dậy lòng yêu nước nồng nàn, ý chí quật cường, tài tríngười Việt Nam…
Trang 6+Coi trọng và đẩy mạnh công tác giáo dục tư tưởng (chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng HCM…), nângcao và đổi mới tư duy lý luận (về CNXH và con đường đi lên CNXH…)
+Phổ biến tri thức khoa học – công nghệ cho cán bộ, nhân dân
- Khắc phục chủ nghĩa chủ quan duy ý chí, đầu óc bảo thủ, trì trệ trong quá trình Đổi mới
+Kiên quyết ngăn ngừa tái diễn bệnh chủ quan duy ý chí; lối suy nghĩ, hành động giản đơn; nóng vộichạy theo nguyện vọng chủ quan ảo tưởng, bất chấp quy luật hiện thực khách quan
+Chống lại thái độ thụ động, ỷ lại, bảo thủ, trì trệ, thói thờ ơ lãnh đạm…
+Phê phán thói vô trách nhiệm hay đổ lỗi cho hoàn cảnh mà lẫn trốn trách nhiệm cá nhân…
Câu 2 Anh chị hãy phân tích cơ sở lý luận và và nêu ra các yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang vận dụng nguyên tắc này như thế nào vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay ?
ý muốn chủ quan của mình làm chính sách, không được lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiếnlược, sách lược cách mạng Tuy nhiên, việc thực hiện nguyên tắc khách quan không có nghĩa là quanđiểm khách quan xem nhẹ, tính năng động, sáng tạo của ý thức mà nó còn đòi hỏi phát phát huy tínhnăng động sáng tạo của ý thức, của nhân tố chủ quan
Vật chất là cái có trước tư duy Vật chất tồn tại vĩnh viễn và ở một giai đọan phát triển nhất định của mình nó mới sản sinh ra tư duy Do tư duy phản ánh thế giới vật chất, nên tron
g quá trình nhận thức đối tượng ta không được xuất phát từ tư duy, từ ý kiến chủ
quan của chúng ta về đối tượng.mà phải xuất phát từ chính bản thân đối tượng, từ bản chất của nó, không được ”bắt” đối tượng tuân theo tư duy mà phải “bắt” tư duy tuân
theo đối tượng Không ép đối tượng thỏa mãn một sơ đồ chủ quan hay một “Lôgíc” nào đó,
mà phải rút ra những sơ đồ từ đối tượng, tái tạo trong tư duy các hình tượng, tưtưởng- cái lôgíc phát triển của chính đối tượng đó
Toàn bộ “nghệ thuật” chinh phục bản chất của sự vật, hiện tượng được gói ghém trong
sự tìm kiếm, chọn lựa, sử dụng những con đường, cách thức, phương tiện thâm nhậphữu hiệu vào “thế giới” bên trong của sự vật, “nghệ thuật” chinh phục như thế không mang đến cho sự vật, hiện tượng một cái gì đó xa lạ với chính nó Điều này đặt ra cho chủ thể một tình thế khó khăn Làm như thế nào để biết chắc chắn những suy nghĩ của chúng ta về sư vật là khách quan, là phù hợp với bản thân sự vật? Nguyên tắc khách
Trang 7quan đòi hỏi được bổ sung thêm yêu cầu phát huy tính năng động sáng tạo của chủ thể vànguyên tắc tính đảng
Giới tự nhiên và xã hội không bao giờ tự phơi bày tòan bộ bản chất của mình ra thành các hiện tượng điển hình Con người không phải chỉ nhận thức những cái gì bộc lộ ra trước chủ thể Do đó để phản ánh khách thể như một chỉnh thể, chủ thể tư duy không thể không bổ sung những yếu tố chủ quan như đề xuất các giả thuyết, đưa ra các dự đóan
khoa học ….thiếu những điều này tư duy sẽ không mang tính biện chứng, sẽ không thể hiện bản tính sáng tạo thông qua trí tưởng tượng của chính mình Yêu cầu phát huy tính năng độn
g sáng tạo của chủ thể đòi hỏi chủ thể tư duy phải biến đổi, thậm chí cải tạo đối tượng để tì
m ra bản chất của nó Những biến đổi, cải tạo đó là chủ quan nhưng không phải tùy tiện, mà
là những biến đổi và cải tạo đối tượng phù hợp quy luật của hiện thực thuộc lĩnh vựcnghiên cứu
Yêu cầu khách quan trong xem xét có ý nghĩa rất quan trọng trong nhận thức các hiện tượng thuộc đời sống xã hội Đối tượng nghiên cứu bao gồm cái vật chất và cái tinh thầnchứa đầy những cái chủ quan, những cái lý tưởng và luôn chịu sự tác động của các lực lượng tự phát của tự nhiên lẫn lực lượng tự giác ( ý chí,lợi ích, mục đích, nhân cách, cá tính khác nhau ) của con người.Ờ đây đối tượng, khách thể tư duy quyện chặt vào chủ thể tư duy bằng hệ thống những mối liên hệ chằng chịt Do đó cần phải cụ thể hóa
nguyên tắc khách quan trong xem xét các hiện tượng xã hội, tức là phải kết hợp nó với các yêu cầu phát huy tính năng động, sáng tạocủachủ thể và nguyên tắc tính đảng Điều này
có nghĩa là nguyên tắc khách quan trong xem xét không chỉ bao hàm yêu cầu xuất
phát từ chính đối tượng, từ những quy luật vận động và phát triển của nó, không được thêm bớt tùy tiện chủ quan, mà nó còn phải biết phân biệt những quan hệ vật chất với những quan hệ tư tưởng, các nhân tố khách quan với các nhân tố chủ quan, thừa nhận các quan hệ vật chất khách quan tồn tại xã hội là nhân tố quyết định.còn những hiện tượng tinh thần, tư tưởng được quy định bởi đời sống vật chất củacon người và các quan hệ kinh tế của họ nhưng chúng có ảnh hưởng ngược lại tồn tại xã hội Phải coi xã hội là một
là một cơ thể sống tồn tại và phát triển không ngừng chứ không phải là cái gì đó kếtthành một cách máy móc Phân tích một cách khách quan những quan hệ sản xuất cấuthành một hình thái kinh tế xã hội nhất định và cần phải nghiên cứu những quyluật vận hành và phát triển của hình thái xã hội đó
Khi nhận thức các hiệntượng xã hội chúng ta phải chú trọng đến mức độ quan tâm và năng lực nhận thứccủa cáclựclượng xã hội đối với việc giải quyết các vấn đề xã hội, đốivới khuynh hướng phát triển của các hiện tượng xã hội, đối với việc đánh giá tình hình
xã hội ….những đánh giá có giá trị hơn, những cách giải quyết đúng hơn thường là
những đánh giá, những cách giải quyết thuộc về các lực lượng xã hội biết đứng trên lập trường của giai cấp tiên tiến, của những lực lượng cách mạng của thời đại đó Vì vậy tính khách quan trong xem xét các hiện tượng xã hội nhất quán với nguyên tắctính đảng Vi
ệc xem thường nguyên tắc này dễ dẫnđến vi phạm yêu cầu của nguyên tắc khách
quan trong xem xét, dễ biến nó thành chủ nghĩa khách quan, cản trở việc nhận thức
đúng đắn các hiện tượng xã hội phức tạp
Những yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan trong xem xét :
Nguyên tắc khách quan trong xem xét có mối liên hệ mật thiết với các nguyên tắc khác của
Trang 8lôgíc biện chứng Nó thể hiện ở yêu cầu cụ thể sau :
Trong hoạt động nhận thức :
Chủ thể phải :
Một là : Xuất phát từ hiện thực khách quan, tái hiện lại nó như nó vốn có mà không được tùy
tiện đưa ra những nhận định chủ quan
Hai là : Phải biết phát huy tính năng động, sáng tạo của chủ thể, đưa ra các giả thuyết khoa học
có giá trị về khách thể, đồng thời biết cách tiếnhành kiểm chứng các giả tuyết đó bằng thực nghiệm
Trong hoạt động thực tiễn :
Chủ thể phải :
Một là : Xuất phát từ hiện thực khách quan, phát hiệnra nhữngquy luật chi phối nó
Hai là : Dựa trên các quy luật khách quan đó, chúng ta vạch ra các mục tiêu, kế họach, tìm kiếm các biện pháp, phương thức để tổ chức thực hiện Kịp thời điều chỉnh, uốn nắn họat động của conngười đi theo lợi ích và mục đích đã đặt ra
Phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức có nghĩa là phát huy vai trò tri thức, tình cảm, ý chí, lý trí ….tức là phát huy vai trònhân tố conngười trong họat động nhận thức và
họat động thực tiễn cải tạo hiện thực khách quan, vươn lên làm chủ thế giới
Đảng Cộng Sản Việt Nam đã vận dụng như thế nào vào sự nghiệp cách mạng của Việt Nam :
Sai lầm của Đảng ta trước thời kỳ đổi mới: Đại hội lần thứ VI đã chỉ rõ Đảng đã “nóng vội chạy theo
nguyện vọng chủ quan”, “giản đơn hóa, muốn thực hiện nhiều mục tiêu của CNXH trong điều kiện nước
ta mới có chặng đường đầu tiên”: “chưa nắm vững và vận dụng đúng quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ
SX với tính chất và trình độ SX”; việc đầu tư cơ sở sai và tràn lan, không có cơ sở khoa học, không phùhợp với điều kiện thực tế về tài nguyên, lao động của từng vùng nên việc khai thác nguồn vốn đầu tưkhông hiệu quả, nhiều công trình đầu tư dở dang và thậm chí không đủ nguyên liệu để đưa vào hoạt động(cụ thể như đầu tư nhà máy đường đều khắp các tỉnh nhưng có tỉnh không đủ nguyên vật liệu để cung cấpcho nhà máy hoạt động); dùng kế hoạch pháp lệnh để chỉ huy toàn bộ nền kinh tế đất nước, “duy trì quálâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp” - một cơ chế "gắn liền với tư duy kinh tế dựa trênnhững quan niệm giản đơn về chủ nghĩa xã hội, mang nặng tính chất chủ quan, duy ý chí", “có nhiều chủtrương sai trong việc cải cách giá cả, tiền lương, tiền tệ “ cùng với “việc bố trí cơ cấu kinh tế trước hết là
SX và đầu tư thường chỉ xuất phát từ lòng mong muốn đi nhanh, không tính đến điều kiện khả năng thực
tế ” nên dẫn đến việc SX chậm phát triển, mâu thuẩn giữa cung và cấu ngày càng gay gắt do việc áp dụngnhững chính sách, chủ trương trên đã vi phạm những quy luật khách quan của nền kinh tế SX hàng hóa(quy luật cung cầu quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, phá sản …) Tóm lại, việc bỏ qua không thừanhận và vận dụng những quy luật khách quan của phương thức sản xuất, của nền kinh tế hàng hóa vàoviệc chế định các chủ trương chính sách kinh tế làm cho nền kinh tế nước ta bị trì trệ khủng hoảng trầmtrọng nguyên nhân: Đó là sự yếu kém lạc hậu về tư duy lý luận, trí thức lý luận không đáp ứng đượcyêu cầu của thực tiễn Đó là việc hiểu và vận dụng chưa đúng nguyên lý, quy luật, phạm trù, chưa chú ýtiếp thu kế thừa những thành tựu, kỹ thuật công nghệ mới của chủ nghĩa tư bản, của nhân loại, thậm chícòn có định kiến phủ nhận một cách cực đoan những thành tựu đó, chưa chú ý tổng kết những cái mới từ
sự vận động, phát triển của thực tiễn theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì nguyên nhân của bệnh chủ quan làkém lý luận, lý luận và lý luật suông
Trang 9Rút kinh nghiệm từ những sai lầm trên, Đại hội Đảng lần VI (1986) đã chỉ rõ bài học kinh nghiệm trongthực tiễn cách mạng ở nước ta là “Đảng phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quyluật là điều kiện đảm bảo sự dẫn đầu của Đảng” (Văn kiện Đại hội Đảng lần VI trang 30) Đây là sự vậndụng đúng đắn nguyên tắc khách quan, thừa nhận vai trò quyết định của vật chất và các quy luật kháchquan vốn có của nó trong việc đề ra các chế định, chủ trương, chính sách vào thực tế của công cuộc xâydựng đất nước ta từ sau ĐH Đảng lần VI
Đại hội Đảng lần VI đã xác định xây dựng quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa là một công việc to lớn,không thể làm xong trong một thời gian ngắn, không thể nóng vội làm trái quy luật Văn kiện Đại hội xácđịnh: "Nay phải sửa lại cho đúng như sau: Đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ thường xuyên,liên tục trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, với những hình thức và bước đi thích hợp, làm choquan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, luôn có tác dụng thúc đẩy sựphát triển của lực lượng sản xuất" Đại hội cũng phát hiện một vấn đề lớn có tính lý luận, hoàn toàn mớimẻ: "Kinh nghiệm thực tiễn chỉ rõ: lực lượng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong trường hợp quan hệsản xuất lạc hậu, mà cả khi quan hệ sản xuất phát triển không đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa so vớitrình độ phát triển của lực lượng sản xuất" Trên cơ sở đó, Đại hội xác định: "Nền kinh tế nhiều thànhphần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ"
Trong cơ cấu sản xuất và cơ cấu đầu tư, Đảng và Nhà nước đã điều chỉnh lại theo hướng "không bố tríxây dựng công nghiệp nặng vượt quá điều kiện và khả năng thực tế", tập trung sức người, sức của vàoviệc thực hiện ba chương trình mục tiêu: sản xuất lương thực- thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng và sảnxuất hàng xuất khẩu Đây là những chương trình chẳng những đáp ứng được nhu cầu bức xúc nhất lúcbấy giờ mà còn là điều kiện thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa, là cái gốc tạo ra sản phẩm hàng hóa
Về cơ chế quản lý kinh tế, lần đầu tiên khái niệm về hàng hóa, thị trường được đưa vào Nghị quyết mộtcách rõ ràng "Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vậnhành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước" (Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội: ) Cơ chế quản lý kinh tế được Đại hội VI xác định : "Tính kế hoạch là đặctrưng số một của cơ chế quản lý kinh tế ngay từ buổi đầu của thời kỳ quá độ Sử dụng đúng đắn quan hệhàng hóa - tiền tệ là đặc trưng thứ hai của cơ chế về quản lý kinh tế" Vì vậy, chúng ta phấn đấu thi hànhchính sách một giá, đó là giá kinh doanh thương nghiệp và xây dựng hệ thống ngân hàng chuyên nghiệpkinh doanh tín dụng và dịch vụ ngân hàng, hoạt động theo chế độ hạch toán kinh tế
Vấn đề phân phối đã được chú trọng hơn trong quan hệ SX bằng việc thực hiện nhiều hình thức phânphối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng thời dựa trên mức đónggóp các nguồn lực khác vào kết quả sản xuất kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội
Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quátrình phát triển Công bằng xã hội phải thể hiện cả ở khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn ở khâuphân phối kết quả sản xuất Văn kiện Đại hội chỉ rõ: "Để phát triển sức sản xuất, cần phát huy khả năngcủa mọi thành phần kinh tế, thừa nhận trên thực tế còn có bóc lột và sự phân hóa giàu nghèo nhất định
Trang 10trong xã hội, nhưng phải luôn quan tâm bảo vệ lợi ích của người lao động, vừa khuyến khích làm giàuhợp pháp, chống làm giàu phi pháp, vừa coi trọng xóa đói giảm nghèo".
Đồng thời với các đổi mới trong lĩnh vực kinh tế, việc đổi mới bắt đầu từ việc Đảng phải đổi mới tư duy
lý luận, nâng cao năng lực, trình độ lý luận của Đảng để nhận thức đúng và hành động đúng phù hợp với
hệ thống các quy luật khách quan Đồng thời với việc đổi mới tư duy lý luận, việc tăng cường phát huydân chủ, phát huy tiềm năng cán bộ KHKT, đội ngũ cán bộ quản lý và tăng cường công tác tổng kết thựctiễn, tổng kết cái mới, không ngừng bổ sung, phát triển, hoàn chỉnh lý luận về mô hình, mục tiêu, bước đi,đổi mới và kiện toàn tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị … là những biện phápnhằm từng bước sửa chữa sai lầm và khắc phục bệnh của chủ quan duy ý chí
Câu 3.Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, anh ( chị) hãy phân tích làm sáng tỏ luận điểm sau đây của C Má.c:
“ Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất, nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”
Gợi ý
Gỉải thích luận điểm
Ở đây, "Vũ khí của sự phê phán" và "lý luận" là khoa học, tư tưởng khoa học, lý luận khoa học,thuộc phạm trù ý thức, còn "sự phê phán của vũ khí” và "lực lượng vật chất" là hoạt động vật chất, hoạtđộng thực tiễn của con người, thuộc phạm trù vật chất Như vậy, C Mác khẳng định, lý luận khoa họcphải thông qua hoạt động của con người thì mới trở thành lực lượng vật chất
Phân tích Luận điểm trên tức là làm rõ quan hệ giữa vật chất với ý thức :
Về vật chất, V.I.Lênin đã đưa ra định nghĩa kinh điển về vật chất: ‘‘Vật chất là phạm trù triết họcdùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng tachép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”
Còn ý thức là toàn bộ hoạt động tinh thần diễn ra trong đầu óc con người, phản ánh thế giới vậtchất xung quanh, hình thành phát triển trong quá trình lao động và định hình thể hiện ra bằng ngôn ngữ.Như vậy bản chất của ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan của bộ óc conngười; là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan
+ Trong mối quan hệ với ý thức, vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau; vật chất là nguồngốc của ý thức; vật chất quyết định ý thức; ý thức là sự phản ánh đối với vật chất
Ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao, là bộ óc người nên chỉ khi có con ngườimới có ý thức Trong mối quan hệ giữa con người với thế giới vật chất thì con người là kết quả quá trình
phát triển lâu dài của thế giới vật chất, là sản phẩm của thế giới vật chất, tức vật chất có trước, ý thức có sau.
Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên, nguồn gốc xã hội của ý thức (bộ óc người, thế giớikhách quan tác động đến bộ óc gây ra hiện tượng phản ánh, lao động, ngôn ngữ) đều, hoặc là chính bảnthân thế giới vật chất (thế giới khách quan), hoặc là những dạng tồn tại của vật chất (bộ óc người, hiện
tượng phản ánh, lao động, ngôn ngữ) nên vật chất là nguồn gốc của ý thức.
Trang 11Sự vận động và phát triển của ý thức, hình thức biểu hiện của ý thức bị các quy luật sinh học, cácquy luật xã hội và sự tác động của môi trường sống quyết định Những yếu tố này thuộc lĩnh vực vật chất
nên vật chất không chỉ quyết định nội dung mà còn quyết định cả hình thức biểu hiện cũng như mọi
sự biến đổi của ý thức.
+ Ý thức tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người:
Ý thức là ý thức của con người nên nói đến vai trò của ý thức là nói đến vai trò của con người.Bản thân ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thực Muốn thay đổi hiện thực conngười phải tiến hành những hoạt động vật chất Song, mọi hoạt động của con người đều do ý thức chỉđạo, nên vai trò của ý thức không phải trực tiếp tạo ra hay thay đổi thế giới vật chất mà nó trang bị chocon người tri thức về thực tại khách quan, trên cơ sở ấy con người xác định mục tiêu, đề ra phư ơnghướng, xây dựng kế hoạch, lựa chọn phương pháp, biện pháp, công cụ, phương tiện, v.v để thực hiệnmục tiêu của mình
Như Mác nói, khoa học, là sản phẩm của tư duy, của trí tuệ, nếu không thông qua hoạt động củangười lao động (công nhân, nông dân, tầng lớp trí thức…), thì không thể biến thành cái gì cả, không thểsinh ra tác động tích cực hay tiêu cực
Câu 4 Phân tích cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện Vì sao trong hoạt động nhận thức và trong thực tiễn chúng ta phải tôn trọng nguyên tắc toàn diện? Hãy vận dụng nguyên tắc này vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay.
4.1 Phân tích cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện
Định nghĩa
Nguyên tắc toàn diện trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn là một trong những nguyên tắc
phương pháp luận cơ bản, quan trọng của phép biện chứng duy vật Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi, muốnnhận thức được bản chất của sự vật, hiện tượng chúng ta phải xem xét sự tồn tại của nó trong mối liên hệqua lại giữa các bộ phận, yếu tố, thuộc tính khác nhau trong tính chỉnh thể của sự vật, hiện tượng ấy vàtrong mối liên hệ qua lại giữa sự vật, hiện tượng đó với sự vật hiện tượng khác; tránh cách xem xét phiếndiện, một chiều Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi phải xem xét: đánh giá từng mặt, từng mối liên hệ, và phảinắm được đâu là mối liên hệ chủ yếu, bản chất quy định sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng;tránh chủ nghĩa chiết trung, kết hợp vô nguyên tắc các mối liên hệ; tránh sai lầm của thuật nguy biện, coicái cơ bản thành cái không cơ bản, không bản chất thành bản chất hoặc ngược lại, dẫn đến sự nhận thứcsai lệch, xuyên tạc bản chất sự vật, hiện tượng
Nguyên tắc toàn diện là một phần của nguyên lý mối quan hệ phổ biến nên cũng có những tính chất củanguyên lý này là khách quan và phổ biến
Cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Mọi sự vật, hiện tượng hay quá trình (vạn vật) trong thế giới đều tồn tại trong muôn vàn mối liên hệ ràngbuộc lẫn nhau Mối liên hệ tồn tại khách quan, phổ biến và đa dạng
Trang 12Trong muôn vàn mối liên hệ chi phối sự tồn tại của chúng có những mối liên hệ phổ biến.Mối liên hệ phổbiến tồn tại khách quan, phổ biến; chúng chi phối một cách tổng quát quá trình vận động, phát triển củamọi sự vật, hiện tượng xảy ra trong thế giới.
4.2 Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn phải tôn trọng nguyên tắc toàn diện
Phát hiện nhiều mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt,…) đang chi phối sự tồntại của bản thân sự vật Sẽ xem xét được sự vật từ nhiều góc độ, từ nhiều phương diện
Xác định được những mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt,…) nào là bêntrong, cơ bản, tất nhiên, ổn định…; còn những mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu
tố, mặt,…) nào là bên ngoài, không cơ bản, ngẫu nhiên,không ổn định…;
Từ những mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt…) bên trong, cơ bản, tấtnhiên, ổn định…sẽ lý giải được những mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố,mặt…) còn lại Qua đó, xây dựng một hình ảnh về sự vật như sự thống nhất các mối quan hệ, liên hệ (haynhững đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt…), phát hiện ra quy luật (bản chất) của nó
Đánh giá đúng vai trò của từng mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt,…) chiphối sự vật
Thông qua hoạt động thực tiễn, sử dụng đồng bộ nhiều công cụ, phương tiện, biện pháp thích hợp (màtrước hết là những công cụ, phương tiện, biện pháp vật chất) để biến đổi những mối liên hệ, quan hệ (haynhững đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt…) của bản thân sự vật, đặc biệt là những mối liên hệ, quan hệ (…)bên trong, cơ bản, tất nhiên, quan trọng… của nó
Nắm vững sự chuyển hóa các mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt…) của bảnthân sự vật, kịp thời sự dụng các công cụ, phương tiện, biện pháp bổ sung để phát huy hay hạn chế sự tácđộng của chúng, nhằm lèo lái sự vật vận động, phát triển theo đúng quy luật và hợp lợi ích chúng ta Quántriệt và vận dụng sáng tạo nguyên tắc toàn diện sẽ giúp chủ thể khắc phục được chủ nghĩa phiến diện, chủnghĩa chiết trung, chủ nghĩa ngụy biện… trong hoạt động thực tiễn và nhận thức của chính mình
Nếu không tôn trọng nguyên tắc toàn diện
Mắc phải ba sai lầm là chủ nghĩa phiến diện, chủ nghĩa chiết trung, chủ nghĩa ngụy biện:
Chủ nghĩa phiến diện là cách xem xét chỉ thấy một mặt, một mối quan hệ, tính chất nào đó màkhông thấy được nhiều mặt, nhiều mối quan hệ, nhiều tính chất của sự vật; chỉ xem xét sự vật ởmột góc độ hay từ một phương diện nào đó mà thôi
Chủ nghĩa chiết trung là cách xem xét chỉ chú ý đến nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vậtnhưng không rút ra được mặt bản chất, không thấy được mội liên hệ cơ bản của sự vật; mà coichúng như nhau, kết hợp chúng một cách vô nguyên tắc, tùy tiện
Chủ nghĩa ngụy biện là cách xem xét qua đó đánh tráo cái cơ bản với cái không cơ bản, cái chủyếu với cái thứ yếu,… hay ngược lại nhằm đạt được mục đích hay lợi ích của mình một cách tinhvi
Trang 13Ngoài ra nếu không tôn trọng nguyên tắc toàn diện ta sẽ dễ sa vào chủ nghĩa bình quân, quan điểm dànđều, tức không thấy được trọng tâm, trọng điểm, điều cốt lõi trong cuộc sống vô cũng phức tạp.
4.3 Vận dụng nguyên tắc toàn diện vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay
Vận dụng của Đảng
Trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước, Đảng ta quán triệt thực hiện nguyên tắc toàn diện, tuynhiên chúng ta không thực hiện rập khuôn mà có sự kết hợp chặt chẽ giữa “chính sách dàn đều” và “chínhsách trọng điểm” Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định cần phải đổi mới toàn diện các lĩnh vực của đờisống xã hội; chú trọng tăng trưởng kinh tế đi liền với thực hiện công bằng xã hội, giải quyết những vấn đềcủa xã hội; đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa, đi tới bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc; vừa chủ độnghội nhập kinh tế quốc tế, vừa đảm bảo độc lập, tự chủ, an ninh quốc phòng…trong đó xác định phát triểnkinh tế là trọng tâm
Về mặt kinh tế:
Ngay trong việc phát triển kinh tế, quan điểm toàn diện cũng được Đảng ta áp dụng thể hiện cụ thể ở việcthực hiện phát triển chính sách kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xãhội chủ nghĩa Cụ thể là Nhà nước vẫn thừa nhận vai trò tích cực của các thành phần kinh tế khác cũngnhư thừa nhận sự tồn tại của hình thức sở hữu tư nhân.Tuy nhiên, trong đó Đảng ta vẫn đặc biệt nhấnmạnh và coi trọng hình thức sở hữu công cộng với vai trò chủ đạo là thành phần kinh tế quốc doanh trong
cơ chế thị trường
Giai đoạn hiện nay, Đảng và nhà nước ta vẫn tuân thủ nguyên tắc trên song song đó là sàng lọc, lựa chọn
và giữ nguyên các tập đoàn quốc doanh kinh doanh có hiệu quả đồng thời xóa bỏ các tập đoàn, doanhnghiệp quốc doanh làm ăn kém hiệu quả gây hệ lụy xấu cho toàn bộ nền kinh tế
Về chính trị:
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định: "Xét trên tổng thể, Đảng ta bắt đầu côngcuộc đổi mới từ đổi mới về tư duy chính trị trong việc hoạch định đường lối và chính sách đối nội, đốingoại Không có sự đổi mới đó thì không có mọi sự đổi mới khác Song, Đảng ta đã đúng khi tập trungtrước hết vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đổi mới kinh tế, khắc phục khủng hoảng kinh tế - xã hội,tạo điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để giữ vững ổn định chính trị, xây dựng và củng cố niềmtin của nhân dân, tạo thuận lợi để đổi mới các mặt khác nhau của đời sống xã hội"
Đảng cộng sản Việt Nam xác định phải ngày càng hoàn thiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý,phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nâng cao năng lực lãnh đạo và năng lực tổ chức thực tiễn củaĐảng, Nhà nước phải được xây dựng thành Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, quản lý xã hộibằng pháp luật Nước ta đã và đang xây dựng một nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vữngmạnh, từng bước hiện đại hóa xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực
Đổi mới chính trị thể hiện ở đổi mới tổ chức, đổi mới bộ máy, phân cấp lãnh đạo của Đảng, dân chủ hoátrước hết từ trong Đảng Đổi mới chính trị, tạo điều kiện cho đổi mới kinh tế Khi đường lối chính trị,thiết chế chính trị được đổi mới phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thì chính trị trở thành định hướng
Trang 14cho phát triển kinh tế Đồng thời tạo môi trường phát triển về an ninh trật tự để phát triển kinh tế và chínhtrị còn đóng vai trò can thiệp điều tiết, khắc phục những mặt trái do đổi mới kinh tế đưa đến
Tăng cường quốc phòng an ninh: bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ bảo
vệ an ninh quốc gia trật tự an toàn xã hội và nền văn hoá
Về văn hoá, xã hội
Đảng ta coi nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định đối với sự phát triển của đất nước.Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Cùng với sự đẩy mạnh phát triển kinh tế, chính trị, Đảng ta chủ trương giải quyết tốt các vấn đề xã hội coiđây là một hướng chiến lược thể hiện bản chất ưu việt của chế độ ta
Phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dântộc
Bên cạnh đó, gắn kết tăng trưởng kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống, phát triển y tế, giáo dục
Đề xuất vận dụng cho công cuộc đổi mới đất nước
Tạo lập tính đồng bộ các yếu tố của nền kinh tế Vận dụng quan điểm tòan diện đồng bộ các yếu tố của thịlao động, thị trường hàng hóa và dịch vụ, thị trường vốn, thì tường bất động sản, thị trường nhà ở, thịtrường đất đai,…là yếu tố cần thiết để thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển Bên cạnh đó, còn phảihòan chỉnh đồng bộ và toàn diện hệ thống các công cụ quản lý thị trường xã hội chủ nghĩa Văn kiện Đạihội VIII của Đảng chỉ rõ: Nhà nước quản lý thị trường bằng pháp luật, kế hoạch, cơ chế, chính sách cácđòn bẩy kinh tế và bằng các nguồn lực của khu vực kinh tế Nhà nước Hệ thống các công cụ được Đảng
và Nhà nước chỉ ra là: Các công cụ pháp luật là bảm đảo môi trường pháp lý, môi trường kinh doanh chomọi thành phần kinh tế phát triển; công cụ kế hoạch; các công cụ chính sách (CS tiền tệ, CS tài chính );các công cụ khác (thông tin, truyên truyền dự trữ của Nhà nước, sức mạnh của doanh nghiệp Nhà nước,
…) Hàng loạt các công cụ này không thể bỏ qua bất cứ công cụ nào, nếu thiếu đi một trong những công
cụ trên thì hậu quả không lường sẽ xảy ra
Phải triệt để thực hiện dân chủ, theo đó phải triển khai và thực hiện đồng bộ: thực sự tôn trọng các quyền
tự do báo chí, quyền bình đẳng trước pháp luật; Triệt để tôn trọng nguyên tắc “Quốc hội là cơ quan quyềnlực cao nhất”; Đảm bảo có hệ thống tòa án độc lập là sự phân quyền vô cùng quan trọng; Tạo cơ chế côngkhai, minh bạch, thực sự dân chủ Nếu bồn điểm nêu trên được thực hiện, dân chúng sẽ tin tưởng ở ĐảngCộng sản, tin tưởng ở người lãnh đạo và hy vọng về một đất nước tốt đẹp hơn
Chú trọng xây dựng văn hoá trong đảng, nhất là phong cách văn hoá lãnh đạo, văn hoá quản lý; trong đó,trước hết cán bộ, công chức phải là những người làm gương, đi đầu; chống những hiện tượng phản vănhoá, phi văn hoá Đa dạng hoá các hình thức hoạt động để thu hút toàn dân tham gia phong trào” Toàndân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, chú trọng chất lượng, không chạy theo phong trào, hình thức.Tiếp tục đầu tư các thiết chế văn hoá, phát huy hiệu quả sử dụng phục vụ trong cộng đồng dân cư Quantâm xây dựng lối sống lành mạnh, có văn hoá, có lý tưởng trong thanh, thiếu niên
Trang 15Câu 5 Phân tích cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển Vì sao trong hoạt động nhận thức và trong thực tiễn chúng ta phải tôn trọng nguyên tắc phát triển? Hãy vận dụng nguyên tắc này vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay
5.1 Cơ sở lý luận
Khái niệm
Phát triển là quá trình vận động đi lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đếnhoàn thiện hơn; nguồn gốc của sự phát triển là mâu thuẫn giữa các mặt đối lập bên trong sự vật, hiệntượng và giải quyết mâu thuẫn đó là động lực của sự phát triển; phát triển vừa diễn ra dần dần, vừa nhảyvọt đi theo đường xoáy ốc, dường như lặp lại sự vật, hiện tượng cũ nhưng trên cơ sở cao hơn; thể hiệntính quanh co, phức tạp, có thể có những bước thụt lùi tương đối trong sự phát triển
Tính chất của sự phát triển.Phát triển có tính khách quan; tính phổ biến; tính kế thừa và tính đa dạng,phong phú.Các tính chất đó của sự phát triển phản ánh tính chất của các sự vật, hiện tượng trong thế giới
đa dạng
Từ nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy vật, rút ra nguyên tắc phát triển trong nhận thức
và thực tiễn
Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển là nội dung nguyên lý về sự phát triển
Vận động là thuộc tính cố hữu, là phương thức tồn tại của vật chất; vận động được hiểu như sự thay đổinói chung “Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất, tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất,
là một thuộc tính cố hữu của vật chất, thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũtrụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy”
Phát triển là khuynh hướng vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoànthiện đến hoàn thiện hơn, do mâu thuẫn trong bản thân sự vật gây ra Phát triển là một khuynh hướng vậnđộng tổng hợp của hệ thống sự vật, trong đó, sự vận động có thay đổi những quy định về chất (thay đổikết cấu – tổ chức) của hệ thống sự vật theo khuynh hướng tiến bộ giữ vai trò chủ đạo; còn sự vận động cóthay đổi những quy định về chất của sự vật theo xu hướng thoái bộ và sự vận động chỉ có thay đổi nhữngquy định về lượng của sự vật theo xu hướng ổn định giữ vai trò phụ đạo, cần thiết cho xu hướng chủ đạotrên
“Hai quan điểm cơ bảnvề sự phát triển (sự tiến hóa): sự phát triển coi như là giảm đi và tăng lên, như lậplại; và sự phát triển coi như sự thống nhất của các mặt đối lập Quan điểm thứ nhất thì chết cứng, nghèonàn, khô khan.Quan điểm thứ hai là sinh động Chỉ có quan điểm thứ 2 mới cho ta chìa khóa của “sự vậnđộng”, của tất thảy mọi cái “đang tồn tại”; chỉ có nó mới cho ta chìa khóa của những “bước nhảy vọt”,của “sự gián đoạn của tính tiệm tiến”, của “sự chuyển hóa thành mặt đối lập”, của sự tiêu diệt cái cũ và sựnảy sinh ra cái mới”
Trang 16Phát triển như sự chuyển hóa: giữa các mặt đối lập; giữa chất và lượng; giữa cái cũ và cái mới; giữa cáiriêng và cái chung; giữa nguyên nhân và kết quả; giữa nội dung và hình thức; giữa bản chất và hiệntượng; giữa tất nhiên và ngẫu nhiên; giữa khả năng và hiện thực.
Phát triển là quá trình tự thân của thế giới vật chất, mang tính khách quan, phổ biến và đa dạng: phát triểntrong giới tự nhiên vô sinh; phát triển trong giới tự nhiên hữu sinh; phát triển trong xã hội; phát triểntrong tư duy, tinh thần
Nội dung của nguyên tắc phát triển trong nhận thức và thực tiễn.
Nguyên tắc phát triển yêu cầu, khi xem xét sự vật, hiện tượng, phải đặt nó trong trạng thái vận động, biếnđổi, chuyển hoá để không chỉ nhận thức sự vật, hiện tượng trong trạng thái hiện tại, mà còn phải thấyđược khuynh hướng phát triển của nó trong tương lai Cần chỉ ra nguồn gốc của sự phát triển là mâuthuẫn, còn động lực của sự phát triển là đấu tranh giữa các mặt đối lập trong sự vật, hiện tượng đó
Nguyên tắc phát triển yêu cầu, phải nhận thức sự phát triển là quá trình trải qua nhiều giai đoạn, từ thấpđến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Mỗi giai đoạn phát triển lại cónhững đặc điểm, tính chất, hình thức khác nhau; bởi vậy, phải phân tích cụ thể để tìm ra những hình thứchoạt động, phương pháp tác động phù hợp để hoặc, thúc đẩy, hoặc kìm hãm sự phát triển đó
Nguyên tắc phát triển đòi hỏi trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn phải nhạy cảm với cáimới, sớm phát hiện ra cái mới, ủng hộ cái mới hợp quy luật, tạo điều kiện cho cái mới phát triển; phảichống lại quan điểm bảo thủ, trì trệ, định kiến v.v Sự thay thế cái cũ bằng cái mới diễn ra rất phức tạp,nhiều khi cái mới hợp quy luật chịu thất bại tạm thời, tạo nên con đường phát triển không thẳng mà quanh
co, phức tạp; tránh lạc quan và bi quan thái quá trong quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng Trongquá trình thay thế cái cũ bằng cái mới phải biết kế thừa những yếu tố tích cực đã đạt được từ cái cũ màphát triển sáng tạo chúng trong điều kiện mới
5.2 Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, tôn trọng nguyên tắc phát triển sẽ mang lại:
- Sự phát triển là tiến trình khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn, nguyện vọng, ý chí, ý thức conngười Dù con người có muốn hay không muốn, sự vật vẫn phát triển theo khuynh hướng chung nhấtcủa thế giới vật chất Tôn trọng nguyên tắc phát triển giúp các sự vật hiện tượng phát triển theo đúngquy luật của nó dần dẫn tới sự tiến bộ, tiến hóa
- Tránh được sự lạc hậu không còn phù hợp trong hoạt động nhận thức và thực tiễn tránh nguy cơ bịđào thải
- Giúp khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến trong hoạt động nhận thức và thực tiễn
Ngược lại, không tôn trọng nguyên tắc phát triển sẽ mang lại hậu quả sau:
- Xuất hiện những tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến trong hoạt động nhận thức và thực tiễn
- Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, các sự vật hiện tượng không ngừng vận động và phát triển,nếu ta kìm hãm hoặc lở đi sự vận động phát triển đó sẽ trợ nên lạc hậu , không còn phù hợp dẫn đếnnguy cơ bị đào thải
- Nếu không tôn trong nguyên tắc phát triển mà cố gắng tác động vào quá trình phát triển tự nhiên của
nó sẽ gậy ra những tác dụng ngược, những hậu quả không đáng có, mang lại những kết quả khôngnhư mong muốn
Trang 175.3 Vận dụng nguyên tắc phát triển trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay Vận dụng của Đảng
Phát triển hình thái xã hội với mục đích cao nhất là trở thành một nước XHCN, cũng giống như tất cả cácnước trên thế giới, Việt Nam đã dần phát triển, trải qua các hình thái kinh tế xã hội từ thấp nhất là “công
xã nguyên thủy” đến các hình thái cao hơn như “chiếm hữu nô lệ”, “phong kiến”, và hiên tại mục tiêu củaViệt Nam là nềnkinh tế thị trường định hướng XHCN Tôn trọng nguyên tắc phát triển sẽ giúp Việt Namnhanh chóng đạt được sự tiến bộ, đạt được những mục tiêu đề ra, ngày càng rút ngắn khoản cách với cácnước khác trên thế giới
Phát triển nền kinh tế bao cấp (những năm chiến tranh) thành nền kinh tế thị trường, sau khi kháng chiếnchống Pháp thắng lợi, nước ta bắt đầu xây dựng một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung ,váo thời điểmnày mô hình này đã quy tựu những điểm tích cực của nó, biến Việt Nam từ một nền kinh tế lạc hậu, phântán nay đã tập trung lại để ổn định và phát triển kinh tế Sau năm 1975, khi đất nước thống nhất, chúng tavẫn tiếp tục xây dựng nền kinh tế tập trung như cũ, kìm hãm sự phát triển của những cái mới tốt hơn đếnnăm 1986 cơ chế này vẫn chưa đc xóa bỏ, cho đến khi văn kiện Đại Hội Đại Biểu toàn quốc lần thứ VI
đc ban hành nước ta mới bắt đầu nhận ra sự quan trọng của phát triển và dần hình thành nền kinh tế thịtrường cho đến nay
Phát triển về nhận thức tư tưởng, lý luận của Đảng Cộng Sản Việt Nam, trong giai đoạn sau khi thốngnhất đất nước chúng ta đã có một sự lạc hậu về nhận thức trong thời kỳ quá độ, đặc biệt là bệnh chủ quan,duy ý chí , lối suy nghĩ và hành động đơn giản, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan,đến Đại hộiVII Đảng ta đã có nhiều cố gắng nghiên cứu tìm tòi, xây dựng đường lối, xậy dựng mục tiêu và phươnghướng XHCN, Đảng nhận định cần xóa bỏ ngay nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp Hiện nay, tưtưởng của Đảng ta là xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.Qua đó, ta có thể thấy, nhậnthức về tư tưởng, lý luận của Đảng ta có những thay đổi, chuyển biến theo các giai đoạn, và hoản cảnhkhác nhau, tôn trọng nguyên tắc phát triển
Đề xuất vận dụng cho công cuộc đổi mới đất nước
Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững kinh tế vĩ mô, đảm bảo an ninh kinh tế Tăng trưởngkinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân, luôn coitrọng và bảo vệ cải thiện môi trường, giữ vững ổn định chính trị xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập để đảmbảo cho đất nước phát triển nhanh và bền vững
Đổi mới đồng bộ, phù hợp về kinh tế và chính trị vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩadân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.Lấy việc thực hiện mục tiêu này làm tiêu chuẩn caonhất để đánh giá hiệu quả của quá trình đổi mới và phát triển.Ngoài ra phải mở rộng dân chủ, phát huy tối
đa nhân tố con người; coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển Nângcao năng lực và tạo cơ chế để nhân dân thực hiện đầy đủ quyền làm chủ, nhất là dân chủ trực tiếp để pháthuy mạnh mẽ mọi khả năng sáng tạo và bảm đảm đồng thuận cao trong xã hội, tạo động lực phát triển đấtnước
Phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất với trình độ khoa học, công nghệ ngày càng cao; đồng thời hoànthiện quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.Tạo môi trường cạnh
Trang 18tranh bình đẳng, minh bạch.Phát triển đồng bộ, hòan chỉnh và ngày càng hiện đại các loại thị trường.Tiếptục hòan thiện cơ chế quản lý và phân phối, bảo dảm công bằng lợi ích, tạo động lực thúc đẩy phát triểnkinh tế xã hội.Cuối cùng là xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhậpquốc tế ngày càng sâu rộng.Phát triển lực lượng doanh nghiệp trong nước với nhiều thương hiệu mạnh đểlàm chủ thị trường trong nước, mở rộng thị trường ngoài nước.Trong hội nhập quốc tế, phải luôn chủđộng thích ứng với những thay đổi của tình hình, bảo đảm hiệu quả và lợi ích quốc gia.
Trong quá trình thực hiện đi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, qua mỗi giai đoạn có sự tổng kếtđúc rút kinh nghiệm, từ đó đề ra những cơ chế chính sách ngày càng hòan thiện
Thực hiện có hiệu quả tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội trong từng bước và từng chínhsách phát triển như tập trung giải quyết tốt chính sách lao động, việc làm và thu nhập; Bảo đảm an sinh xãhội; nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân và công tác dân số, kế hoạch hóa gia đinh, bào vệ
và chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em; Đấu tranh phòng, chống có hiệu quả tệ nạn xã hội, tai nạn giaothông
Câu 6: Vì sao trong hoạt động nhận thức và thực tiễn chúng ta phải tôn trọng nguyên tắc lịch sử
-cụ thể ? Hãy vận dụng nguyên tắc này vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay.
Nguyên tắc lịch sử cụ thể là gì?
Nguyên tắc lịch sử - cụ thể là khoa học về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển, tức là một hệ thốngcác nguyên lý, quy phạm, phạm trù nói về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển xảy ra trong toàn bộthế giới Mỗi sự vật, hiện tượng hay quá trình tồn tại trong hiện thực đều được tạo thành từ những yếu tố,
bộ phân khác nhau; có muôn vàn sự tương tác (mối liên hệ, quan hệ) với nhau và với các sự vật, hiệntượng hay quá trình khác nhau; qua đó nó bộc lộ ra thành những đặc điểm tính chất không giống nhau.Thêm vào đó, mỗi sự vật, hiện tương hay quá trình đều tồn tại trong tiến trình phát sinh, phát triển và diệtvong của chính mình; quá trình này thể hiện một cách cụ thể bao gồm mọi sự thay đổi và phát triển diễn
ra trong những điều kiện, hòan cảnh khác nhau, tương tác với những sự vật, hiện tượng hay quá trình khácnhau, trong những không gian và theo những thời gian không như nhau
Cơ sở lý luận của nguyên tắc lịch sử - cụ thể bao gồm toàn bộ nội dung của hai nguyên lý là nguyên lý
về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển
Hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật là hai nguyên lý cơ bản và đóng vai trò xương sống trongphép duy vật biện chứng của triết học Mác - Lênin khi xem xét, kiến giải sự vật, hiện tượng Trong hệthống đó nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển là hai nguyên lý khái quát nhất.Nội dung hai nguyên lý cơ bản như sau:
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là nguyên tắc lý luận xem xét sự vật, hiện tượng khách quantồn tại trong mối liên hệ, ràng buộc lẫn nhau tác động, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các sự vật, hiệntượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện tượng trong thế giới
Nguyên lý về sự phát triển là nguyên tắc lý luận mà trong trong đó khi xem xét sự vật, hiện tượngkhách quan phải luôn đặt chúng vào quá trình luôn luôn vận động và phát triển (vận động tiến lên
từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật)
Phương pháp thống nhất cái lịch sử và cái lôgích
Trang 19Vận dụng nguyên tắc lịch sử cụ thể vào thực tế, nhất thiết phải áp dụng phương pháp lịch sử và phươngpháp logic Phương pháp lịch sử là phương pháp diễn lại tiến trình phát triển của các hiện tượng và các sựkiện lịch sử với mọi tính chất cụ thể của chúng Phương pháp logic là phương pháp nghiên cứu quá trìnhphát triển lịch sử, nghiên cứu các hiện tượng lịch sử trong hình thức tổng quát, nhằm vạch ra bản chất quyluật, khuynh hướng chung trong sự vận động của chúng Tiêu chuẩn của chân lý là lý luận ăn khớp vớithực tiễn, tức là cái lôgích phản ảnh đúng bản chất của lịch sử Mặc khác, trong nhận thức, cái lôgích kháiquát được mà chưa được thực tiễn lịch sử kiểm tra thì chưa hẳn đã là chân lý, vì chân lý bao giờ cũng cụthể trong tri giác, Lê-nin nhấn mạnh: “nếu chân lý là trừu tượng thì tức là không phải chân lý” Vì thế,trong thực tế, hai phương pháp lịch sử và lôgích phải thâm nhập vào nhau và ảnh hưởng lẫn nhau.
Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn nếu tôn trọng nguyên tắc lịch sử - cụ thể sẽ mang lại hiệu quả
gì ? Ngược lại nếu không tôn trọng nguyên tắc lịch sử - cụ thể sẽ mang lại hậu quả gì ?
Trong hoạt động nhận thức, chủ thể phải tìm hiểu quá trình hình thành, tồn tại và phát triển cụ thể củanhững sự vật cụ thể trong những điều kiện, hòan cảnh cụ thể
Trong hoạt động thực tiễn, chủ thể phải xây dựng được những đối sách cụ thể, áp dụng cho những sự vật
cụ thể, đang tồn tại trong những điều kiện, hòan cảnh, quan hệ cụ thể mà không nên áp dụng những khuônmẫu chung chung cho bất cứ sự vật nào, trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh, quan hệ cụ thể nào
Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn nếu tôn trọng nguyên tắc lịch sử - cụ thể sẽ giúp nhận thấy:
- Sự vật đang (đã hay sẽ) tồn tại thông qua những chất, lượng nào; thể hiện qua những độ nào;đang (đã hay sẽ) thực hiện những bước nhảy nào để tạo nên những chất, lượng mới nào…
- Sự vật đang (đã hay sẽ) bị tác động bởi những mâu thuẫn nào; những mâu thuẫn đó đang nằm ởgiai đoạn nào, có vai trò như thế nào đến sự vận động, phát triển của sự vật…
- Sự vật đang (đã hay sẽ) trải qua những lần phủ định biện chứng nào; cái cũ nào đang (đã hay sẽ)phải mất đi, cái mới nào đang (đã hay sẽ) xuất hiện…
- Trong mối quan hệ với những sự vật khác, những điều gì được coi là những cái riêng hay cái đơnnhất, điều gì là cái chung hay cái đặc thù/ cái phổ biến; chung quy định nhau, chuyển hóa lẫnnhau như thế nào
- Bản chất của sự vật là gì, nó được thể hiện qua những hiện tượng nào; hiện tượng nào là giảtưởng, hiện tượng nào là điển hình
- Nội dung của sự vật là gì, nó đang (đã hay sẽ) tồn tại thông qua những hình thức nào; hình thứcnào phù hợp với nội dung của sự vật, hình thức nào không phù hợp với nội dung, cái gì làm chonội dung của sự vật biến đổi
- Trong bản thân sự vật, hiện thực là gì; hiện thực đó đang (đã hay sẽ) nảy sinh ra những khả năngnào; mỗi khả năng đó trong những điều kiện cụ thể nào có độ tất yếu hiện thực hóa ra sao…Nhận biết được những điều đó sẽ giúp ta:
- Có quan điểm đánh giá chính xác đặc điểm cũng như những điểm mạnh, điểm yếu của sự vật đó
- Dễ dàng có phương hướng, hành động đúng đem lại hiệu quả cao
- Áp dụng những chính sách cụ thể vào tình hình thực tế một cách đúng đắn, mang lại thắng lợi
Trang 20- Tổng quát được các sự kiện xảy ra trong nghiên cứu khoa học hay các biến cố xảy ra trong cáctiến trình lịch sử nhân loại; nhận thức được tính muôn vẻ của tự nhiên, tính phong phú của lịch sửtrong sự thống nhất.
Nguyên tắc lịch sử - cụ thể còn được coi là “linh hồn” phương pháp luận của triết học Mác – Lênin Nótổng hợp trong mình những nguyên tắc, quan điểm, yêu cầu mang tính phương pháp luận của triết họcMác – Lênin, do đó, hiểu theo nghĩa rộng, nó cũng chính là phương pháp biện chứng Vì thế trong hoạtđộng nhận thức và thực tiễn, nếu không tôn trong nguyên tắc lịch sử - cụ thể đồng nghĩa với việc đi ngượclại với phương pháp biện chứng, tức phương pháp siêu hình:
- Nhận thức đối tượng ở trạng thái cô lập, tách rời đối tượng ra khỏi các chỉnh thể khác và giữa cácmặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối
- Nhận thức đối tượng ở trạng thái tĩnh tại; nếu có sự biến đổi thì đấy chỉ là sự biến đổi về sốlượng, nguyên nhân của sự biến đổi nằm ở bên ngoài đối tượng
Mà hậu quả của phương pháp siêu hình là làm cho con người chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt màkhông nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy màkhông nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những
sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng
Tóm lại, trong hoạt động nhận thức và thực tiễn nếu không tôn trọng nguyên tắc lịch sử - cụ thể sẽ manglại những hậu quả rất nghiệm trọng, ta sẽ luôn nhìn nhận sự vật hiện tượng một cách phiến diện, trừutượng và sẽ không bao giờ giải quyết được các mâu thuẫn; sẽ không bao giờ có được những phươnghướng, hành động đúng khi giải quyết vấn đề
(Về hậu quả của việc không vận dụng nguyên tắc lịch sử cụ thể do không có tài liệu tham khảo mà tự suyluận nên cần liên lạc với Thầy để hỏi lại)
Nguyên tắc lịch sử - cụ thể gợi mở cho chúng ta điều gì công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay ?
i Đảng ta vận dụng như thế nào?
Từ năm 1930, Đảng ta đã lựa chọn con đường CNXH Ngày nay, để xây dựng thành công CNXH, Đảng
đề ra đường lối xây dựng nền kinh tế thị trường, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; ưu tiên pháttriển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng XHCN; phát huycao độ nội lực đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triểnnhanh, có hiệu quả và bền vững; thực hiện tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hóa, từng bướccải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cảithiện môi trường; kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường an ninh, quốc phòng; bảo vệ và xâydựng hệ thống chính trị vững mạnh
Những điều kiện cụ thể ảnh hưởng đến quá trình xây dựng và phát triển đất nước:
Điều kiện trong nước:
Bức tranh chung của nền kinh tế Việt Nam năm trước khi đổi mới là tăng trưởng thấp 3,7% /năm, làmkhông đủ ăn và dựa vào nguồn viện trợ là chính Thu nhập quốc dân trong nước sản xuất chỉ đáp ứngđược 80-90% thu nhập quốc dân sử dụng Đến năm 1985 tỷ trọng thu từ bên ngoài chiếm 10,2% thu nhậpquốc dân sử dụng, nợ nước ngoài lên tới 8,5 tỷ rúp và 1,9 tỷ USD Cũng vào các năm đó nền kinh tế rơi
Trang 21vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, siêu lạm phát tăng ở mức 774,7% vào các năm 1986 kéo theo giá
cả leo thang và vô phương kiểm soát
Sự tàn phá nặng nề của chiến tranh và nền kinh tế bao cấp yếu kém dài để lại nhiều hậu quả nặng nề: cơ
sở vật chất kém với nền khoa học công nghệ, kỹ thuật lạc hậu, hầu hết các hệ thống máy móc trong các xínghiệp đều do Liên Xô cũ giúp đỡ từ chiến tranh nên năng suất lao động thấp, chất lượng kém
Điều kiện địa lý cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền kinh tế Về địa hình nước tatrải dài trên nhiều vĩ tuyến, bề ngang hẹp, địa hình phức tạp mang đậm nét của sự phân dị sâu sắc về điềukiện tự nhiên, kinh tế, xã hội Các đặc điểm này chi phối sự phân công lao động xã hội theo lãnh thổ vàphát triển các vùng kinh tế Nằm ở Tây Thái Bình Dương và Đông Nam Á, khu vực khá phát triển cao, ổnđịng, nơi cửa ngõ của giao lưu kinh tế Việt Nam có nhiều khả năng phát triển nhiều loại hình kinh tếkhác nhau dựa trên những lợi thế về vận tải biển, dịch vụ viễn thông, du lịch Tài nguyên khoáng sảnphân bố không đều trên các vùng, ngay ở mỗi vùng cũng phân tán và thiếu đồng bộ không gắn với nhaugây khó khăn cho việc khai thác sử dụng chúng và ảnh hưởng đến việc bố trí kinh tế các vùng Về dân sốnước ta dân số còn đông, nguồn lao động dồi dào nhưng phân bố không đồng đều
Về chế độ chính trị : Quan hệ giữa kinh tế và chính trị là một trong những vấn đề cơ bản của công cuộcđổi mới ở Việt Nam Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin thì kinh tế quyết định chính trị "chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế, chính trị không phải là mục đích mà chỉ là phương tiện đểthực hiện mục đích kinh tế" Lênin đã chỉ rõ " Để thoả mãn những lợi ích kinh tế thì quyền lực chính trịchỉ được sử dụng làm phương tiện đơn thuần" Khẳng định đó của Lênin không có nghĩa là phủ nhận vaitrò quyết định của kinh tế đối với chính trị mà muốn nhấn mạnh tác động của chính trị đối với kinh tế.Vấn đề kinh tế không thể tách rời vấn đề chính trị mà nó được xem xét giải quyết theo một lập trườngchính trị nhất định Như vậy chúng ta có thể khẳng định rằng kinh tế và chính trị thống nhất biện chứngvới nhau trên nền tảng quyết định của kinh tế
Sau khi miền Bắc giải phóng và từ sau năm 1975 thống nhất đất nước cả nước ta đã kiên quyết đi theocon đường XHCN – đây là sự lựa chọn tất yếu và đúng đắn Tuy nhiên vì không qua giai đoạn TBCN nênchúng ta gặp nhiều khó khăn và bỡ ngỡ trong công cuộc xây dựng một hệ thống chính trị vững mạnh.Thêm vào đó khi ta đang trong tình trạng ban đầu của công cuộc đổi mới, một giai đoạn quan trọng màchính trị là yếu tố định hướng dẫn đường thì CNXH ở Liên Xô cũ và các nước Đông Âu sụp đổ hàng loạt
đã gay nhiều hoang mang cho Đảng và nhân dân ta Điều này cũng chứng tỏ rằng đang có nhiều thế lựcphản động không ngừng tìm cách phá hoại, lật đổ chế độ CNXH ở nước ta
Điều kiện thế giới:
Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, mặc dù thế giới còn nhiều diễn biến phức tạp nhưng hoà bình và hợptác là xu thế chủ đạo, là đòi hỏi bức xúc của các dân tộc và các quốc gia Các cuộc cách mạng khoa học
và công nghệ đạt đựơc những bước tiến vượt bậc đặc biệt trong lĩnh vực tin học, viễn thông, sinh học, vậtliệu mới và năng lượng mới đang đẩy mạnh quá trình quốc tế hoá cao độ các lực lượng sản xuất dẫn đến
sự phân công lao động quốc tế ngày càng sâu sắc Như vậy có nghĩa là ngày nay không một nền kinh tếnào có thể đứng tách ra khỏi cộng đồng quốc tế Tình hình đó đòi hỏi sự hợp tác ngày càng rộng tạo nênthế tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nước dù lớn hay nhỏ, phát triển hay đang phát triển Trong lịch sử pháttriển của xã hội có lẽ chưa bao giờ có một sự hợp tác để phát triển rộng rãi đan xen lồng ghép và nhiềutầng lớp như hiện nay với sự hình thành nhiều tổ chức kinh tế lớn trong khu vực và thế giới như ASEAN,WTO, AFTA, APEC…
Trang 22Đối với các khu vực, Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á châu Á Thái Bình Dương, một khu vựcđựơc coi là có nền kinh tế năng động và có tốc độ tăng trưởng cao trên thế giói trong những năm gần đây.Hầu hết các nước trong khu vực như Singapor, Thái Lan, Inđônêxia đều đã tiến hành nền KTTT đượcmấy thập kỷ và một số nước đã trở thành các nước công nghiệp mới (NIC).
Như vậy thế giới và khu vực đã phát triển vượt xa khá xa về mọi mặt đặc biệt là về kinh tế Vì thế đã đặt
ra cho Việt Nam nhiều thách thức trong quá trình phấn đấu xây dựng và cải tiến nền KTTT định hướngXHCN
Vận dụng vào quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN và những thành tựu đạt được
Giai đoạn 1986-1991
Đây là giai đoạn đầu chúng ta chuyển sang nền KTTT Do chưa nhận thức đầy đủ những yếu tố cụ thểảnh hưởng đến nền kinh tế nên ta đã có một số chính sách chưa đúng Một chính sách sai lầm trong giaiđoạn này là tập trung công nghiệp hoá - hiện đại hoá theo hướng ưu tiên cho công nghiệp nặng Đây làmột sai lầm nghiêm trọng đã làm mất nhiều thời gian và tốn nhiều tiền bạc bởi lúc này với xuất phát điểm
và kinh tế rất thấp, cơ sở vật chất công nghệ còn lạc hậu thêm vào đó là thiếu vốn và thiếu đội ngũ cácnhà khoa học tài giỏi Trong khi đó ta có đầy đủ các điều kiện để phát triển công nghiệp nhẹ Sự khéo léocần cù của người Việt Nam sự ưu đãi của thiên nhiên khí hậu tạo nên một danh mục nông sản phong phú
và nhiều loại hình sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ Với những điều kiện đó ta hoàn toàn có thể phát triểnnhững ngành công nghiệp nhẹ mà chỉ ít vốn như công nghiệp chế biến thực phẩm, đồ mỹ nghệ…
Chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần nhưng trong giai đoạn này lượng hàng hoá của chúng
ta còn ít và chất lượng còn chưa tốt Chính vì thế, hàng hoá sản xuất ra không có sức cạnh tranh trên thịtrường vì số lượng hàng hoá ít nên phần lớn vẫn phải nhập khẩu và chưa xuất khẩu được hàng hoá ra thịtrường thế giới
Với điều kiện địa lý địa hình phức tạp, hệ thống giao thông vận tải còn yếu kém như trên chưa có nhữngchính sách phát triển kinh tế phù hợp với từng vùng, từng miền, chúng ta đã rơi vào tình trạng đầu tư pháttriển kinh tế tràn lan, không tập trung gây nên sự bất hợp lý giữa các vùng
Cơ cấu giữa các thành phần kinh tế cũng là một vấn đề đang quan tâm Trong giai đoạn này các thànhphần kinh tế mới như kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản Nhà nước chưa phát triển, chủ yếu vẫn làthành phần kinh tế Nhà nước Nguyên nhân của vấn đề này là do ta vẫn còn chậm đổi mới các hình thức
sở hữu tư liệu sản xuất đã có trong nền kinh tế bao cấp cũ và chưa có được những chính sách phù hợp đểkinh tế tư bản tư nhân và tư bản Nhà nước phát triển
Tóm lại trong giai đoạn này mặc dù đã đạt được một số thành tựu, nền kinh tế đã từng bước ổn định vàphát triển, các cơn sốt do hậu quả của cơ chế quan liêu bao cấp đã dần vơi đi nhưng nền kinh tế Việt Namvẫn chưa bước hẳn ra sự khủng hoảng của những năm đổi mới
Giai đoạn 1991-nay
Giai đoạn này do đã dần điều chỉnh phù hợp với những điều kiện, nhân tố cụ thể ảnh hưởng đến nềnKTTT nền kinh tế Việt Nam đã đạt được một số thành tựu đáng kể:
Trang 23Điều đầu tiên cần nói đến là tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và tương đối ổn định Giai đoạn 1986-1990,GDP tăng trung bình là 3,9% thì giai đoạn này GDP tăng bình quân 8,2% Cơ cấu giữa các thành phầnkinh tế và các ngành cũng hợp lý hơn Hàng loạt công ty, doanh nghiệp tư nhân hoạt động trong mọi lĩnhvực ra đời Dịch vụ thương mại phát triển tưong đối mạnh đã tạo điều kiện cho sản xuất hàng hoá, làmcho số lượng hàng hoá phong phú hơn và chất lượng không ngừng cải tiến Giao thông vận tải được chútrọng và sửa chữa và xây mới nên hàng hoá đã đến được các vùng sâu, vùng xa và miền núi.
Một thành tựu quan trọng hơn nữa là trong điều kiện kinh tế thế giới với sự cạnh tranh rất khốc liệt gây ra
sự phân cực giàu nghèo mạnh mẽ với nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng, Đảng ta kịp thời rútkinh nghiệm và đã có những đường lối, chính sách định hướng cho nền kinh tế phát triển theo định hướngXHCN, hướng thị trường hàng hóa vào quỹ đạo cạnh tranh lành mạnh cùng phát triển Chính vì vậy nềnKTTT của ta chẳng những không xảy ra khủng hoảng mà còn tránh được ảnh hưởng tiêu cực từ nhữngcuộc khủng hoảng ở các nước trong khu vực và thế giới cụ thể là cuộc khủng hoảng tiền tệ vào năm 1997.Tuy nhiên nền kinh tế nước ta so với khu vực và thế giới vẫn là một nền kinh tế kém phát triển và cần cónhiều biện pháp để phát triển để theo kịp các nước khác
KTTT đã ra đời và phát triển qua nhiều giai đoạn và cho đến nay nó vẫn là kiể kinh tế xã hội tiến bộ nhất.Trải qua các giai đoạn phát triển, KTTT ngày càng được hoàn thiện và được áp dụng trên nhiều quốc gia.Nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam mặc dù mới ra đời cách đây hơn một thập kỷ nhưng cũng đãtrải qua nhiều thăng trầm, không ngừng vận động và luôn biến đổi dưới sự tác động của nhiều yếu tố cảbên ngoài lẫn bên trong bản thân của nền kinh tế Các yếu tố này vừa không ngừng có ảnh hưởng đến sựphát triển của nền KTTT vừa chịu sự tác động của chính nền KTTT đó Như vậy trải qua mỗi giai đoạnlại hình thành nên những yếu tố mới khiến cho công cuộc xây dựng và phát triển nền KTTT định hướngXHCN ở Việt Nam ngày càng phức tạp, đòi hỏi phải có sự phân tích kỹ lượng chi tiết kịp thời từng yếu
tố Chính vì vậy quan điểm lịch sử cụ thể luôn là quan điểm gắn liền với quá trình xây dựng nền KTTTđịnh hướng XHCN ở Việt Nam
ii Chúng ta vận dụng như thế nào?
Muốn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam cần thực hiện đồng
bộ nhiều giải pháp:
Thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần:
Thừa nhận trên thực tế còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ là một trong những điềukiện cơ sở thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát triển, nhờ đó mà sử dụng có hiệu quả sức mạnh tổng hợp củamọi thành phần kinh tế
Cùng với việc đổi mới, củng cố nền kinh tế Nhà nước và kinh tế hợp tác, thừa nhận việc khuyến khíchcác thành phần kinh tế cá thể, tư nhân phát triển là nhận thức quan trọng về xây dựng chủ nghĩa trong thời
kỳ quá độ Theo hướng đó mà khu vực kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể và các hình thứckinh tế hỗn hợp khác đều được khuyến khích phát triển theo định hướng tiến lên chủ nghĩa xã hội Tất cảcác thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, tuy vị trí, quy mô, tỷ trọng, trình độ có khác nhaunhưng tất cả đều là nội lực của nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Mở rộng phân công lao động, phát triển kinh tế vùng, lãnh thổ tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường.
Phân công lao động là cơ sở của việc trao đổi sản phẩm Để đẩy mạnh phát triển kinh tế hàng hoá, cầnphải mở rộng phân công lao động xã hội, phân công lại lao động và dân cư trong phạm vi cả nước cũngnhư từng địa phương, từng vùng theo hướng chuyên môn hoá, hợp tác hoá nhằm khai thác mọi nguồn lực,
Trang 24phát triển mọi nghành nghề, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện có và tạo việc làm chongười lao động Cũng với mở rộng phân công lao động xã hội trong nước, phải tiếp tục quan hệ kinh tếvới nước ngoài nhằm gắn phân công lao động trong nước với phân công lao động quốc tế nhờ đó mà thịtrường trong nước được mở rộng, tiềm năng về lao động, tài nguyên, cơ sở vật chất hiện có được khaithác có hiệu quả Thị trường được khai thông trên khắp mọi miền của đất nước, gắn liến với thị trường thếgiới Cần phải tiếp tục phát triển mạnh thị trường hàng hoá và dịch vụ hình thành thị trường sức lao động
có tổ chức, quản lý chặt chẽ đất đai và thị trường nhà cửa, xây dựng thị trường vốn, từng bước hình thànhthị trường chứng khoán Để khai thác có hiệu quả tiềm năng về vốn, sức lao động, công nghệ, tài nguyên,thực hiện mở rộng phân công lao động xã hội, cần phải từng bước hình thành đồng bộ các loại thị trườngtiền tệ, vốn, sức lao động, chất xám, thông tun, tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng…Điều này sẽ đảm bảocho việc phân bố và sử dụng các yếu tố đầu vào, đầu ra của quá trình sản xuất phù hợp với yêu cầu của sựphát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Đẩy mạnh công tác nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp chỉ có thể đứng vững trong cạnh tranh nếu thường xuyênđổi mới công nghệ để hạ chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm Muốn vậy phải đẩy mạnh công tácnghiên cứu và ứng dụng các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học vào quá trình lưu thông hàng hoá
So với thế giới trình độ công nghệ sản xuất của nước ta là còn thấp kém, không đồng bộ do vậy khả năngcạnh tranh của hàng hoá chúng ta ở trong nước và ở nước ngoài là còn kém Bởi vậy để phát triển kinh tếhàng hoá chúng ta cần phải đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Hệ thống kết cấu hạ tầng cơ sở và dịch vụ hiện đại, đồng bộ cũng đóng vai trò quan trọng cho sự pháttriển kinh tế xã hội Hệ thống đó ở nước ta đã quá lạc hậu, không đồng bộ mất cân đối nghiêm trọng nên
đã cản trở nhiều đến quyết tâm của các nhà đầu tư trong cả nước lẫn nước ngoài, cản trở phát triển hànghoá ở mọi miền đất nước Vì thế cần gấp rút xây dựng và củng cố các yếu tố của hệ thống kết cấu đó.Trước mắt, Nhà nước cần tập trung ưu tiên xây dựng nâng cấp một số yếu tố thiết yếu như đường sá, cầucống, bến cảng, sân bay, điện, nước, hệ thống thông tin liên lạc, ngân hàng dịch vụ bảo hiểm…
Giữ vững ổn định chính trị, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đổi mới các chính sách tài chính tiền tệ giá cả.
Sự ổn định chính trị bao giờ cũng là nhân tố quan trọng để phát triển, nó là điều kiện để các nhà sản xuấtkinh doanh trong nước và nước ngoài yên tâm đầu tư Giữ vững ổn định chính trị ở nước ta hiện nay làgiữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý của Nhànước, phát huy đầy đủ vai trò làm chủ của nhân dân
Hệ thống pháp luật đồng bộ là công cụ rất quan trọng để quản lý nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
Nó tạo nên hàng lang pháp lý cho tất cả mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp trong
và nước ngoài Với hệ thống pháp luật đồng bộ và pháp chế nghiêm ngặt, các doanh nghiệp chỉ có thể làmgiàu trên cơ sở tuân thủ pháp luật
Đổi mới chính sách tài chính tiền tệ, giá cả nhằm mục tiêu thúc đẩy phát triển, huy động và sử dụng cóhiệu quả các nguồn lực, bảo đảm quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia, giảm lạm pháp nhằm đưa nềnkinh tế ổn định hơn
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống điều tiết kinh tế vĩ mô, đào tạo đội ngũ quản lý kinh tế và các nhà kinh doanh giỏi:
Hệ thống điều tiết kinh tế vĩ mô phải được kiện toàn, phù hợp với nhu cầu kinh tế thị trường, bao gồmđiều tiết bằng các chiến lược và kế hoạch kinh tế, pháp luật chính sách và các đòn bẩy kinh tế, hành chính
Trang 25giáo dục khuyến khích hỗ trợ và cả răn đe, trừng phạt, ngăn ngừa, điều tiết thông qua bộ máy nhà nước,các đoàn thể…
Mỗi cơ chế quản lý kinh tế có đội ngũ cán bộ quản lý kinh doanh tương ứng Chuyển sang phát triển nềnkinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi chúng ta phải đẩy mạnh sựnghiệp đào tạo và đào tạo lại đội ngũ quản lý kinh tế, cán bộ kinh tế, cán bộ kinh doanh cho phù hợp vớimục tiêu phát triển kinh tế trong thời kỳ mới Đội ngũ đó phải có năng lực chuyên môn giỏi, tương ứngmau lẹ với cơ chế thị trường, dám chịu trách nhiệm, chịu rủi ro và trung thành với con đường xã hôị chủnghĩa mà Đảng và nhà nước ta đã chọn Song song với đào tạo và đào tạo lại thì cần có phưong hướng sửdụng, bồi dưỡng, đãi ngộ đúng đắn với đội ngũ đó, nhằm kích thích hơn việc nâng cao trình độ nghiệp vụ,bản lĩnh quản lý, tài năng kinh doanh của họ Cơ cấu của đội ngũ cán bộ cần phải đựơc chú ý đảm bảo ở
cả phạm vi vĩ mô cũng như lẫn cả vi mô, cả cán bộ quản lý cũng như kinh doanh
Thực hiện chính sách đối ngoại có lợi cho phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thực hiện có hiệu quả kinh tế đối ngoại chúng ta phải đa dạng hoá hình thức, đa dạng hoá đối tác Phảiquán triệt nguyên tắc đôi bên cùng có lợi, không can thiệp vào nội bộ của nhau cũng không phân biệt chế
độ chính trị - xã hội Cải cách cơ chế quản lý xuất khẩu, thu hút rộng rãi nguồn vốn đầu tư nước ngoài,thu hút kỹ thuật, nhân tài và kinh nghiệm quản lý Nếu chúng ta thực hiện chính sách đối ngoại tốt thìchúng ta sẽ có rất nhiều cơ hội trong việc thu hút đầu tư nước ngoài bên cạnh đó còn có cơ hội tiếp thucông nghệ hiện đại, những thành tựu khoa học kỹ thuật trên thế giới đồng thời cũng học hỏi được kinhnghiệm kỹ năng quản lý của các nhà lãnh đạo Đây là một trong những điều kiện thuận lợi cho nền kinh tếcủa nước ta nhất là trong giai đoạn phát triển lên chủ nghĩa xã hội
Giải quyết những hạn chế còn tồn tại của kinh tế thị trường
Thị trường Việt Nam hiện nay hoạt động còn yếu, nó chưa đủ mức độ để báo hiệu những cơ hội mới Khuvực tư nhân còn thiếu kỹ năng và kinh nghiệm cần thiết để đáp ứng các tín hiệu về thời cơ mà họ nhậnđược Do có sự liên lạc có hiệu quả giữa Nhà nước và tư nhân là cần thiết làm cho các chiến lược pháttriển nền kinh tế nước nhà có thể thực hiện được
Nhà nước ta cần xây dựng được hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và có tính đồng bộ Hệ thống pháp luậtcần được bổ sung và hoàn thiện trên các lĩnh vực: sử dụng, chuyển nhượng và cho thuê đất đai, thị trườngbất động sản, thị trường vốn…Bổ sung, điều chỉnh bộ luật thuế tránh chống chéo khuyến khích đầu tưtrong nước, xác định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của cá nhân, xây dựng bộ luật thương mại, luật ngânsách, luật hành chính Nhà nước…Cải cách gắn liền với đổi mới kinh tế là một nhân tố quyết định đảmbảo nền kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định, bền vững ở nước ta
Đổi mới cơ chế quản lý và sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước đồng thời xác định lại mục tiêu chiến lượcphát triển kinh tế xã hội phù hợp với kinh tế xã hội của nước ta trong thời đại ngày nay
Những giải pháp nói trên tác động qua lại với nhau sẽ tạo nên sức mạnh thúc đẩy nền kinh tế hàng hoácủa nước ta phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Về phần vận dụng: chủ yếu là vận dụng về phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa,mọi người có thời gian thì viết thêm, còn không thì chỉ cần ghi các ý chính
Câu 7: Phân tích nội dung nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của triết học Mác – Lênin; Vận dụng nguyên tắc này vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay.
Phạm trù thực tiễn:
Trang 26- Theo quan điểm Mác thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử- xãhội của con người nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân con người
- Hoạt động thực tiễn là hoạt động mà con người sử dụng những công cụ vật chất tác động vàonhững đối tượng vật chất nhất định, làm biến đổi chúng theo mục đích của mình, hoạt động thực tiễn baogiờ cũng là hoạt động vật chất mang tính chất sáng tạo, và có tính mục đích, tính lịch sử- xã hội
Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
- Thực tiễn có mối quan hệ biện chứng với hoạt động nhận thức Trong mối quan hệ với nhậnthức, vai trò của thực tiễn được biểu hiện trước hết ở chỗ, thực tiễn là cơ sở, động lực chủ yếu và trực tiếpcủa nhận thức, Ăngghen khẳng định “chính việc người ta biến đổi tự nhiên, chứ không phải chỉ một mìnhgiới tự nhiên, với tính cách giới tự nhiên, là cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp của tư duy con người, và trítuệ con người đã phát triển song song với việc người ta cải biến tự nhiên”
- Con người quan hệ với thế giới không phải bắt đầu bằng lý luận mà bằng thực tiễn Chính từtrong qúa trình hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới mà nhận thức của con người được hình thành, pháttriển Thông qua hoạt động thực tiễn con người tác động vào thế giới buộc thế giới phải bộ lộ ra nhữngthuộc tính, những tính quy luật để con người nhận thức chúng Thoát ly thực tiễn, nhận thức đã thoát lykhỏi mảnh đất hiện thực nuôi dưỡng nó phát triển vì thế không thể đem lại những tri thức sâu sắc, xácthực, đúng đắn về sự vật, sẽ không có khoa học, không có lý luận
- Trong qúa trình hoạt động cải biến thế giới, con người cũng biến đổi luôn cả bản thân mình,thực tiễn rèn luyện các giác quan của con người làm cho chúng tinh tế hơn, trên cơ sở đó phát triển tốthơn Nhờ đó con người ngày càng đi sâu vào nhận thức thế giới, khám phá những bí mật của nó, làmphong phú và sâu sắc tri thức của mình về thế giới Thực tiễn còn đề ra những nhu cầu, nhiệm vụ, phươnghướng phát triển của nhận thức, vì thế nó luôn thúc đẩy sự ra đời của các ngành khoa học
- Thực tiễn còn là cơ sở để chế tạo công cụ, phương tiện máy móc mới, hỗ trợ con người trongqúa trình nhận thức, khám phá, chinh phục thế giới Ăngghen cho rằng, nhu cầu cấp thiết của thực tiễn,của sản xuất sẽ thúc đẩy nhận thức khoa học phát triển nhanh hơn hàng chục trường đại học Lịch sử pháttriển khoa học đã chứng minh rằng, mọi tri thức dù trực tiếp hay gián tiếp suy cho cùng đều bắt nguồn từthực tiễn
- Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức còn thể hiện ở chỗ, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý.Theo Mac và Ăngghen thì “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quanhay không, hoàn toàn không phải là một vấn đề lý luận mà là một vấn đề của thực tiễn Chính trong thựctiễn mà con người phải chứng minh chân lý” Tất nhiên, nhận thức xã hội còn có tiêu chuẩn riêng, đó làtiêu chuẩn lô gic nhưng tiêu chuẩn lô gic không thể thay thế cho tiêu chuẩn thực tiễn, và xét đến cùng nócũng phụ thuộc vào tiêu chuẩn thực tiễn
- Tư tưởng của Lênin về vai trò của thực tiễn đối với nhận thức vẫn đang là nguyên tắc phươngpháp luận quan trọng hướng dẫn chúng ta trong hoạt động thực tiễn, trong nghiên cứu khoa học Nếu
Trang 27không bám sát thực tiễn cuộc sống chúng ta sẽ không thể có lý luận, không thể có khoa học, không xácđịnh nổi bất kỳ đề tài khoa học nào với đúng nghĩa của nó Trong hệ thống các khái niệm, phạm trù, cácnguyên lý và các quy luật tạo nên lý luận, quy luật là hạt nhân của lý luận, là sản phẩm của qúa trình nhậnthức nên bản chất của lý luận là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh một cách gầnđúng đối tượng nhận thức.
- Lý luận là trình độ cao hơn về chất so với kinh nghiệm Tri thức lý luận là tri thức khái quát trithức kinh nghiệm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loàingười, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong qúa trình lịch sử” Lý luận đượchình thành trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm, nhưng không phải mọi lý luận đều trực tiếp xuất phát từ kinhnghiệm Do tính độc lập tương đối của nó, lý luận có thể đi trước những dữ kiện kinh nghiệm mà vẫnkhông làm mất đi mối liên hệ giữa lý luận với kinh nghiệm
- Khác với kinh nghiệm, lý luận mang tính trừu tượng và khái quát cao nên nó đem lại sự hiểubiết sâu sắc về bản chất, về tính quy luật của các sự vật, hiện tượng khách quan Vì vậy, nhiệm vụ củanhận thức lý luận là đem quy sự vận động bề ngoài chỉ biểu hiện trong hiện tượng về sự vận động bêntrong thực sự
- Chủ nghĩa Mac-Lênin xem xét lý luận và thực tiễn trong sự thống nhất biện chứng Thực tiễn làhoạt động vật chất còn lý luận là hoạt động tinh thần, nên thực tiễn đóng vai trò quyết định trong quan hệđối với lý luận Lênin viết: “Thực tiễn cao hơn nhận thức (lý luận) nó có ưu điểm không những của tínhphổ biến mà của tính hiện thực trực tiếp”
- Tính phổ biến của thực tiễn đối với nhận thức (lý luận) thể hiện ở chỗ, thực tiễn là khâu quyếtđịnh đối với hoạt động nhận thức Một lý luận được áp dụng trong thời gian càng dài, không gian càngrộng thì hiệu qủa đạt được càng cao, càng khẳng định tính chân lý của thực tiễn Ngay cả một giả thiếtkhoa học muốn trở thành lý luận phải thông qua hoạt động thực nghiệm kiểm tra, xác nhận Như vậy, chỉ
có qua hoạt động thực tiễn thì lý luận mới có giá trị tham gia vào qúa trình biến đổi hiện thực
- Hoạt động lý luận là hoạt động đặc biệt nó thống nhất hữu cơ với hoạt động thực tiễn Vì vậy,khi nhấn mạnh vai trò của thực tiễn đối với lý luận, chủ nghĩa Mac-Lênin cũng khẳng đinh tính tích cựccủa sự tác động trở lại của lý luận đối với thực tiễn Lênin khẳng định:“không có lý luận cách mạng thìkhông có phong trào cách mạng” Lý luận là “kim chỉ nam” cho hành động thực tiễn Cố nhiên để có thểgiải đáp được những vấn đề của cuộc sống, lý luận phải không ngừng liên hệ bằng những hình thức khácnhau với thực tiễn Cho nên, thực chất vai trò của lý luận đối với thực tiễn là ở chỗ lý luận đem lại chothực tiễn những tri thức đúng đắn về những quy luật vận động và phát triển của thế giới khách quan
- Lý luận có thể dự kiến được sự vận động của sự vật trong tương lai, chỉ ra những phương hướngmới cho sự phát triển của thực tiễn Lý luận khoa học làm cho con người trở nên chủ động, tự giác, hạnchế tình trạng “mò mẫm”, tự phát Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh ví“không có lý luận thì lúng túng nhưnhắm mắt mà đi”
- Tuy nhiên cũng phải thấy rằng, do tính gián tiếp, tính trừu tượng cao trong sự phản ánh hiệnthực nên lý luận có khả năng xa rời thực tiễn và trở thành ảo tưởng Vì thế, không được cường điệu vai tròcủa lý luận, mặt khác không được xem nhẹ thực tiễn và tách rời lý luận với thực tiễn Điều đó cũng cónghĩa là phải quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong nhận thức khoa học và hoạtđộng cách mạng
- Trong Triết học Macxit và trong chủ nghĩa Mac-Lênin, sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễnnhư một thuộc tính vốn có, một đòi hỏi nội tại Nguyên tắc này có ý nghĩa to lớn rong việc nhận thứckhoa học và hoạt động thực tiễn
Trang 28- Hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn thống nhất với nhau dưới nhiều hình thức và trình độbiểu hiện khác nhau Lý luận bắt nguồn từ thực tiễn, phản ánh (khái quát) những vấn đề của đời sống sinhđộng Nhưng thước đo tính cao thấp của lý luận với thực tiễn biểu hiện trước hết ở chỗ lý luận đó phảihướng hẳn về đời sống hiện thực, để giải quyết những vấn đề do chính sự phát triển của thực tiễn đặt ra,
và như vậy, lý luận góp phần thúc đẩy thực tiễn phát triển, bởi vì ở bên ngoài sự thống nhất lý luận vàthực tiễn, tự thân lý luận không thể biến đổi được hiện thực, nói cách khác, hoạt động lý luận không cómục đích tự thân mà vì phục vụ thục tiễn, để cải tạo thực tiễn
- Thực chất của sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là phải quán triệt được thực tiễn là cơ sở,
là động lực, mục đích của lý luận, của nhận thức, là tiêu chuẩn của chân lý (lý luận) Như trên đã nói, lýluận đích thực bao giờ cũng bắt nguồn từ thực tiễn, do thực tiễn quy định Thực tiễn quy định lý luận thểhiện ở nhu cầu, nội dung, phương hướng phát triển của nhận thức, lý luận Thực tiễn biến đổi thì lý luậncũng biến đổi theo, nhưng lý luận cũng tác động trở lại thực tiễn bằng cách soi đường, chỉ đạo, dẫn đắtthực tiễn
- Trên cơ sở nhận thức và vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn phải chốngbệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều Chúng ta coi trọng kinh nghiệm thực tiễn và không ngừng tích luỹvốn kinh nghiệm quý báu đó.Song chỉ dừng lại ở trình độ kinh nghiệm, thỏa mãn với vốn kinh nghiệmcủa bản thân, coi kinh nghiệm là tất cả, tuyệt đối hóa kinh nghiệm đồng thời coi nhẹ lý luận, ngại học tập,nghiên cứu lý luận, ít am hiểu lý luận, không quan tâm tổng kết kinh nghiệm để đề xuất lý luận thì sẽ rơivào lối suy nghĩ giản đơn, tư duy áng chừng, đại khái, phiến diện thiếu tính lô gic, tính hệ thống, do đó,trong hoạt động thực tiễn thì mò mẫm, tuỳ tiện, thiếu tính đồng bộ về lý luận trong tất cả các lĩnh vực dovậy đễ rơi vào bệnh kinh nghiệm chủ nghiã
- Mặt khác, thái độ thực sự coi trọng lý luận đòi hỏi phải ngăn ngừa bệnh giáo điều Nết tuyệt đốihóa lý luận, coi lý luận là bất di bất dịch, việc nắm lý luận chỉ dừng lại ở những nguyên lý chung chungtrừư tượng không chú ý đến những hoàn cảnh lịch sử cụ thể của sự vận dụng lý luận thì dễ mắc bệnh giáođiều
- Thực chất những sai lầm của bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều đều là vi phạm nguyên tắcthống nhất giữa lý luận và thực tiễn Để ngăn ngữa, khắc phục có hiệu qủa hai căn bệnh trên phải coitrọng cả lý luận và thực tiễn
Vận dụng nguyên tắc này vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay.
Nguyên tắc thống nhất lý luận và thực tiễn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc nghiêncứu, giải quyết các vấn đề của qúa trình phát triển xã hội, nhất là trong thời đại ngày nay khi thực tế cuộcsống đang đặt ra và đòi hỏi phải giải quyết rất nhiều những vấn đề lý luận và thực tiễn nảy sinh của việcxây dựng, phát triển dời sống kinh tế, văn hóa của xã hội Hơn lúc nào hết lý luận Mac – Lênin trong sựthống nhất cao với thực tiễn phải thể hiện vai trò hướng dẫn, chỉ đạo trong công việc, giải quyết nhữngvấn đề cấp bách và trọng đại do cuộc sống hiện thực đặt ra cho chúng ta trong công cuộc công nghiệp hóa– hiện đại hóa đất nước hiện nay Những thành qủa mà chúng ta có được ngày hôm nay là kết qủa của sựnăng động, sáng tạo của Đảng, Nhà nước ta trong qúa trình vận dụng nguyên tắc thông nhất giữa lý luận
và thực tiễn vào hoàn cảnh lịch sử Việt nam trong thời kỳ qúa độ lên chủ nghĩa xã hội
Căn bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa:
- Trong triết học, bệnh kinh nghiệm được hiểu là khuynh hướng tư tưởng và hành động tuyệt đối
hóa kinh nghiệm, coi kinh nghiệm là duy nhất Biểu hiện của người mắc bệnh kinh nghiệm là đề cao tháiquá kinh nghiệm, coi thường lý luận, tri thức khoa học Vận dụng kinh nghiệm để giải quyết những vấn
Trang 29đề thực tiễn một cách máy móc dẫn đến áp đặt kinh nghiệm trong hoạt động nhận thức và hoạt động thựctiễn.
- Đề cao thực tiễn để hạ thấp lý luận nắm thực tiễn chỉ ở những biểu hiện vụn vặt, bề ngoài.Trong khi đó, họ nắm lý luận một cách chấp vá và thiếu hệ thống nên họ càng hạ thấp lý luận
Trước thời kì đổi mới, căn bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa biểu hiện ở việc bắt chước một cách rậpkhuôn theo mô hình XHCN ở Liên Xô ( cũ ) : Liên Xô có bao nhiêu bộ ta cũng có bấy nhiêu bộ, Liên Xôphát triển công nghiệp nặng thì ta cũng phát triển công nghiệp nặng mà không xem xét đến điều kiện cụthể của Việt Nam, đồng thời không chú ý đến phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ trong khi nước
ta là một nước nông nghiệp với tất cả những điều kiện vật chất khách quan đều thuận lợi để phát triểnnông nghiệp
Chúng ta đã khắc phục bằng cách thực hiện công nghiệp hóa theo từng bước phù hợp với điềukiện đất nướ theo từng thời kỳ Theo đó, sẽ giảm dần tỷ trọng của các ngành nông nghiệp và tăng dần tỷtrọng các ngành công nghiệp, dịch vụ trong nền kinh tế
Trong giai đoạn hiện nay, bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa biểu hiện ở việc cán bộ làm việc theo kinhnghiệm, thói quen cũ, áp dụng các quy định một cách máy móc các cơ quan cấp trên Các văn bản banhành chồng chéo, thậm chí mâu thuẫn lẫn nhau thiếu nhất quán, dẫn đến khó khăn trong việc thực hiện
Căn bệnh giáo điều chủ nghĩa:
- Bệnh giáo điều là khuynh hướng tư tưởng cường điệu vai trò lý luận, coi nhẹ thực tiễn, tách rời
lý luận khỏi thực tiễn, thiếu quan điểm lịch sử - cụ thể, áp dụng kinh nghiệm một cách rập khuôn, máymóc
- Biểu hiện của bệnh giáo điều là bệnh sách vở, nắm lý luận chỉ dừng ở câu chữ theo kiểu “tầmchương trích cú”; hiểu lý luận một cách phiến diện, hời hợt, biến lý luận thành tín điều và áp dụng lý luậnmột cách máy móc; vận dụng sai ly luận vào thực tiễn, không bổ sung, điều chỉnh lý luận Nguyên nhâncủa bệnh giáo điều là do yếu kém về lý luận, cụ thể:
- Hiểu lý luận bằng kinh nghiệm, hiểu lý luận một cách đơn giản, phiến diện, cắt xén, sơ lược…
- Xuyên tạc, bóp méo lý luận…
Đảng ta đã hiểu một cách phiến diện tư tưởng của Marx, chủ trương tiêu diệt các tôn giáo, vìMarx cho tôn giáo là thuốc phiện của loài người Sai lầm trong nhận thức này dẫn đến việc ngay từ khimới lên nắm chính quyền đã muốn xoá sạch tôn giáo, phật giáo mà không nghĩ rằng đó là một công cụgiáo dục đạo đức cho tất cả mọi người kể cả những trẻ em hết sức có hiệu quả, thay vào đó là một nềngiáo dục chay đại loại như dạy cho các cháu phải “yêu tổ quốc, yêu đồng bào ” Một xã hội vô đạo vàtình trạng thất nghiệp tất yếu sẽ dẫn đến một thế hệ trẻ đa phần là hư hỏng về đạo đức và chẳng biết đếnkhi nào mới trở lại được như xưa
Trước đây chúng ta đã nhận thức giáo điều mô hình chủ nghĩa xã hội của Liên Xô, bởi coi đó làkiểu mẫu duy nhất mà không tính đến điều kiện đặc thù của Việt Nam Rất tiếc, khi phát hiện ra sai lầm,chúng ta đã chậm khắc phục, sửa chữa, nên căn bệnh này vẫn còn tác động tiêu cực đến sự phát triển củađất nước Để căn bản khắc phục căn bệnh này theo tinh thần của phép biện chứng duy vật, chúng ta phảitriệt để phân tích mọi vấn đề trong tính lịch sử - cụ thể của nó Từ đó mà tìm ra những giải pháp phù hợp ,tránh rập khuôn, máy móc, tránh tuyệt đối hoá các tri thức đã có
Cụ thể ở chính sách phát triển sau năm 1975 ở nước ta, nước ta tiếp tục xây dựng nền kinh tế tậptrung bao cấp theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung trên phạm vi cả nước dựa trên chế độ công hữu hóa về
tư liệu sản xuất, tập trung phát triển các hình thức tổ chức sản xuất dịch vụ quốc doanh, HTX nông thôn.Qua đó ta đã bộc lộ sự lạc hậu về nhận thức lý luận trong thời kỳ quá độ, có những thành kiến chưa đúng
Trang 30về chế độ tư hữu sản xuất, chưa thật sự thừa nhận những quy luật sản xuất hàng hóa tồn tại khách quan vàkhông thấy được rằng "Nền kinh tế nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ", sự có mặt củanhiều thành phần kinh tế với các mối quan hệ tác động qua lại của nó sẽ tạo động lực cho sự phát triểnkinh tế trong giai đoạn này Đó là một biểu hiện của căn bệnh giáo điều chủ nghĩa Từ đó gây ra nhữnghậu quả vô cùng xấu đến sự phát triển của nền kinh tế:
- Nhà nước bao cấp phải tiến hành bù lỗ gây ra những hậu quả nghiêm trọng
- Ngân sách thâm hụt nặng nề
- Nền kinh tế suy yếu, đời sống khó khăn, nền kinh tế Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng
và tụt hậu
Khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều có hiệu quả và các kết quả đạt được
Hoàn cảnh giai cấp vô sản của nước ta trong buổi đầu cách mạng vừa giành độc lập tự do làmmảnh đất màu mỡ cho các bệnh này phát triển nhanh, tuy nhiên chúng ta đã để chúng tồn tại quá dài Đểkhắc phục triệt để bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều, chúng ta cần phải quán triệt nguyên tắc thốngnhất giữa lý luận và thực tiễn trong triết học Mác – Lênin Cụ thể:
- Bám sát thực tiễn, lý luận phải gắn liền với thực tiễn, thường xuyên kiểm tra trong thực tiễn vàkhông ngừng phát triển cùng thực tiễn, tăng cường học tập nâng cao trình độ lý luận, bổ sung, vận dụng lýluận phù hợp với thực tiễn;
- Phải coi trọng lý luận và công tác lý luận; nâng cao dân trí, đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục và đàotạo, phổ biến rộng rãi tri thức khoa học – công nghệ…;
- Phải đổi mới công tác lý luận của Đảng dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh Quán triệt nhiệm vụ, hướng nghiên cứu chủ yếu và phương châm lớn chỉ đạo hoạt động lýluận của Đảng;
- Hoàn thiện cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Vì kinh tế thị trường luôn vận động
và biến đổi, đòi hỏi mọi thành phần, mọi chủ thể kinh tế phải năng động, sáng tạo, phải thường xuyênbám sát thị trường để ứng phó cho phù hợp
- Phải đổi mới tư duy lý luận, khắc phục sự lạc hậu của lý luận, thu hẹp khoảng cách giữa lý luận
và thực tiễn bằng cách:
+ Từ bỏ lối nghiên cứu kinh viện, tư biện;
+ Thường xuyên đối chiếu lý luận với cuộc sống, vận dụng lý luận vào hoàn cảnh thực tế củanước ta;
- Coi trọng và thường xuyên tổng kết thực tiễn, qua đó sửa đổi, phát triển lý luận đã có, bổ sunghoàn chỉnh đường lối, chính sách, hình thành lý luận mới, quan điểm mới để chỉ đạo sự nghiệm đổi mới
Trang 31bình đẳng trước pháp luật, đó là yêu cầu khách quan Trong quá trình đổi mới, gần 30 năm qua, Đảng vàNhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiềuthành phần Thực tiễn đổi mới cũng cho thấy nhiều thành phần kinh tế đương nhiên là có nhiều hình thức
sở hữu, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngàycàng trở thành nền tảng vững chắc
Trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo phải rất nhậy bén, kiên quyết, sáng tạo, bám sát thực tiễn đấtnước, kịp thời đề ra các giải pháp phù hợp với tình hình mới; tăng cường công tác tuyên truyền tạo sựđồng thuận cao, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội
Đại hội lần thứ IX của Đảng (tháng 4-2001) trên cơ sở tổng kết thực tiễn của đất nước sau 15 nămđổi mới đã bổ sung, làm sáng tỏ thêm một số vấn đề, hoàn thiện thêm một bước những nhận thức về chủnghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Mục tiêu của cách mạng nước ta được xácđịnh là : "Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,văn minh" Con đường đi lên của nước ta là phát huy sức mạnh Đại đoàn kết toàn dân, thực hiện côngnghiệp hóa, hiện đại hóa; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng nhanh lựclượng sản xuất, đồng thời từng bước xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp, bảo đảm côngbằng xã hội ; mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế đi đôi với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc ; xây dựng một
hệ thống chính trị thật sự dân chủ, kỷ cương, năng động, trong sạch
Như vậy, rõ ràng là cho đến Đại hội lần thứ IX, nhận thức của chúng ta về chủ nghĩa xã hội vàcon đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta theo tinh thần đổi mới đã từng bước được xác lập và khôngngừng hoàn thiện Đó là kết quả của công tác tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, xuất phát từ thựctiễn và cuộc sống của xã hội Việt Nam, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ ChíMinh Có thể nói, sự đổi mới tư duy, đi sâu vào tổng kết thực tiễn là khâu đột phá của Đảng ta trong côngtác lý luận
Đại hội lần thứ IX của Đảng và Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ươngĐảng đã chỉ ra, là phải tiếp tục đi sâu tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận và dùng lý luận để hướngdẫn và cắt nghĩa những vấn đề do thực tiễn đặt ra
Đi vào thực tiễn sẽ tìm ra qui luật phát triển, đề ra chủ trương phù hợp để làm nên những điều kỳdiệu mới, đất nước ta nhất định có những bước phát triển vượt bậc Trong thực tế công cuộc xây dựng đấtnước vừa qua có những lĩnh vực phát triển với tốc độ nhanh cần được đi sâu phân tích tổng kết như :
- Với một cơ chế khoán phù hợp thực tiễn chúng ta đã tạo nên bước nhảy vọt trong sản xuấtlương thực từ nước thiếu ăn trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới
- Với cơ chế chính sách khuyến khích xuất khẩu phù hợp đã làm cho kim ngạch xuất khẩu trongmột thời gian ngắn tăng lên vượt bậc
- Với chủ trương xóa đói giảm nghèo đúng đắn, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn chỉ trong mấy năm
tỷ lệ đói nghèo nước ta giảm đi một nửa
- Với một Luật doanh nghiệp phù hợp thực tiễn chỉ trong hơn một năm đã làm cho kinh tế dândoanh phát triển gấp đôi
CÂU 8 Bằng lý luận và thực tiễn, Anh( chị) hãy chứng minh rằng: “ Trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị Điều đó có nghĩa là giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị trong xã hội”
Quan điểm về vai trò của quan hệ giữa người và người về vật chất đối với quan hệ giữa người vàngười về tinh thần Về điều này, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Trong mọi thời đại, những tư tưởng củagiai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị Điều đó có nghĩa là giai cấp nào là lực lượng vật chất thốngtrị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị trong xã hội Giai cấp nào chi phối những tư liệu
Trang 32sản xuất vật chất thì cũng chi phối luôn cả những tư liệu sản xuất, thành thử nói chung những tư tưởngcủa những người không có tư liệu sản xuất tinh thần cũng đồng thời bị giai cấp thống trị đó chi phối.Những tư tưởng thống trị không phải là cái gì khác mà chỉ là sự biểu hiện tinh thần của những quan hệ vậtchất thống trị, chúng là những quan hệ vật chất thống trị được biểu hiện dưới hình thức tư tưởng; do đó là
sự biểu hiện của chính ngay của những quan hệ làm cho một giai cấp trở thành giai cấp thống trị; do đó,
đó là những tư tưởng của sự thống trị của giai cấp ấy”
Luận điểm trên chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, trong
đó cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng
phư-và đồng thời kiến trúc thượng tầng thường xuyên có sự tác động trở lại cơ sở hạ tầng kinh tế của xã hội
- Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng: (Sách giáo trình Triết quyển màu xanh dượng trang 118-119).
- Sự tác động trờ lại của kiến trúc thượng tầng đến cơ sở hạ tầng: (Sách giáo trình Triết quyển màu xanh dượng trang 119-120).
Chứng minh bằng thực tiễn:
Trong lịch sử, từ xa xưa cho đến nay, vẫn thường xuyên xảy ra những cuộc chiến tranh tàn khốc
mà nguyên nhân sâu xa của mọi cuộc chiến tranh giữa người và người là sự tranh giành các tư liệu sinhhoạt (thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo ) Thông thường, để gây ra một cuộc chiến tranh thì người gâychiến phải tìm một lý do tư tưởng nào đó, tức là phải coi cuộc chiến chiến tranh ấy là “hợp lý”, “có giá trịphổ biến” Điều này cũng đúng đối với các hành vi bạo lực của nhà nước dùng để trấn áp sự phản khángcủa những người không chấp hành pháp luật của nhà nước “Thật ra, mỗi giai cấp mới thay thế cho giaicấp thống trị trước mình, muốn thực hiện được mục đích của mình, đều nhất thiết phải biểu hiện lợi íchcủa bản thân mình thành lợi ích chung của mọi thành viên trong xã hội hay nói một cách trừu tượng: phảigắn cho những tư tưởng của bản thân mình một hình thức phổ biến, phải biểu hiện những tư tưởng đóthành những tư tưởng duy nhất hợp lý, duy nhất có giá trị phổ biến” Nhà nước tư sản “chẳng phải là cái
gì khác mà chỉ là hình thức tổ chức mà những người tư sản buộc phải dùng đến để bảo đảm lẫn cho nhau
sở hữu và lợi ích của họ, ở ngoài nước cũng như ở trong nước”, “nhà nước là hình thức mà các cá nhânthuộc một giai cấp thống trị dùng để thực hiện lợi ích chung của họ và là hình thức dưới đó toàn bộ xã hộicông dân của một thời đại được biểu hiện một cách tập trung”
Trang 33CÂU 9: Bằng hiểu biết của mình về nội dung của chủ nghĩa duy vật lịch sử, Anh ( chị) hãy làm sáng
tỏ luận điểm sau đây của Lênin:
“ Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học Một
lý luận hết sức hoàn chỉnh và chặt chẽ đã thay cho sự lộn xộn và sự tùy tiện, vẫn ngự trị từ trước đến nay trong các quan niệm về lịch sử và chính trị”
- Trước Mác các quan niệm về lịch sử mang tính duy tâm, phản khoa học…
Trước khi C.Mác đưa ra học thuyết về hình thái kinh tế xã hội thì về cơ bản chủ nghĩa duy tâm giữ vai tròthống trị trong khoa học xã hội Thể hiện ở chỗ có những quan điểm cho rằng lịch sử phát triển không cóquy luật mà chỉ theo chiều hướng ngẫu nhiên, không đoán định, hoặc lịch sử phát triển phụ thuộc vào ýmuốn, ý thích chủ quan của con người, con người muốn phát triển như thế nào thì lịch sử sẽ phát triểnnhư vậy, đặc biệt là ý chí của những lãnh tụ, những bậc anh hùng, hoặc quan điểm cho rằng lịch sử là đờisống con người ở một thời đại
Lịch sử không chỉ là cuộc đời và những chuyến thám hiểm của các nhà quý tộc, các vị vua, các vị linhmục… mà nó cho thấy những giai đoạn nối tiếp nhau của những phương thức sản xuất khác nhau, nhờnhững phương thức sản xuất đó con người đạt được sức mạnh để chiến thắng thiên nhiên
- C Mác & Ăngghen đã vận dụng những nguyên lý của CNDVBC và PBCDV vào việc phân tích xã hộihình thành nên CNDVLS với những quan niệm duy vật và khoa học về lịch sử:
+ SXVC quyết định sự tồn tại, phát triển của xã hội;
- Sản xuất vật chất là yêu cầu khách quan của sự sinh tồn của xã hội Mọi người trong xã hội đều có nhucầu tiêu dùng (thức ăn, quần áo, nhà ở và các đồ dùng khác) Muốn vậy thì phải sản xuất Bởi vì, sản xuất là điều kiện của tiêu dùng, sản xuất vật chất càng phát triển thì mức tiêu dùng củacon người và xã hội càng cao; và ngược lại Bất cứ xã hội nào cũng không thể tồn tại được nếu không tiếnhành sản xuất ra của cải vật chất - Sản xuất vật chất là cơ sở hình thành tất cả các quan hệ xã hội khác
- Sản xuất vật chất còn là cơ sở cho sự tiến bộ xã hội Sản xuất vật chất của xã hội nói chung khôngngừng tiến lên từ thấp lên cao Mỗi khi sản xuất phát triển đến một giai đoạn mới, cách thức sản xuất củacon người thay đổi, kỹ thuật được cải tiến, năng suất lao động nâng cao, quan hệ giữa người với ngườitrong quá trình sản xuất thay đổi thì mọi mặt của đời sống xã hội cũng thay đổi theo
PTSX quyết định đời sống chính trị và tinh thần nói chung => Toản + Tâm
- Trong mỗi xã hội, phương thức sản xuất thống trị như thế nào thì tính chất của chế độ xã hội như thế ấy;kết cấu giai cấp và tính chất của các mối quan hệ giữa các giai cấp, cũng như các quan điểm về chính trị, pháp quyền, đạo đức, triết học v.v, đều do phương thức sản xuất quyết định
- Phương thức sản xuất quyết định sự chuyển biến của xã hội loài người qua các giai đoạn lịch sử Khimột phương thức sản xuất mới ra đời, thay thế phương thức sản xuất cũ đã lỗi thời thì mọi mặt của đờisống xã hội cũng có sự thay đổi căn bản từ kết cấu kinh tế đến kết cấu giai cấp, từ các quan điểm tư tưởng
xã hội đến các tổ chức xã hội Lịch sử xã hội loài người đã biết đến năm phương thức sản xuất kế tiếpnhau từ thấp lên cao, tương ứng với nó có năm xã hội cụ thể: cộng sản nguyên thuỷ, nô lệ, phong kiến, tưbản chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa (mà chủ nghĩa xã hội là giai đoạn thấp) Do đó, lịch sử xã hội loàingười trước hết là lịch sử của sản xuất, lịch sử của các phương thức sản xuất kế tiếp nhau trong quá trìnhphát triển Việc thay thế phương thức sản xuất cũ bằng phương thức sản xuất mới diễn ra không đơn giản,
dễ dàng Đó là quá trình cải biến cách mạng Phương thức sản xuất mới muốn trở thành phương thứcsảnxuất thống trị thì phải trải qua cách mạng xã hội và gắn liền với chế độ chính trị Từ đó có thể rút rakết luận: Cái chìa khoá để nghiên cứu những quy luật của lịch sử xã hội không phải tìm thấy ở trong
Trang 34óc người, trong tư tưởng và ý niệm của xã hội, mà là ở trong phương thức sản xuất của xã hội, trong mỗigiai đoạn nhất định của lịch sử.
+ Sự phát triển của xã hội loài người là một quá trình lịch sử - tự nhiên ( theo các quy luật khách quan)Với việc phát hiện ra quan niệm duy vật về lịch sử, C.Mác không chỉ loại bỏ được khiếm khuyết căn bảncủa những lý luận lịch sử trước đó và "lần đầu tiên” giúp chúng ta “nghiên cứu một cách chính xác nhưkhoa lịch sử tự nhiên, những điều kiện xã hội của đời sống quần chúng và những biến đổi của những điềukiện ấy", mà còn "mở đường cho việc nghiên cứu rộng rãi vàtoàn diện quá trình phát sinh, phát triển vàsuy tàn của các hình thái kinh tế xã hội"(14) Và, khi nghiên cứu một xã hội cụ thể - xã hội tư bản với
quan niệm này, C.Mác đã khám phá ra các quy luật của sự phát triển xã hội, xây dựng nên học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội và quan niệm về sự phát triển xã hội với tư cách một quá trình lịch sử - tự nhiên.
Đúng như V.I.Lênin đã chỉ rõ, khi nghiên xã hội tư bản với tư cách một chỉnh thể xã hội, C.Mác đã "làm
nổi bật riêng lĩnh vực kinh tế" và trong tất cả mọi quan hệ xã hội, "làm nổi bật riêng những quan hệ sản xuất, coi đó là những quan hệ cơ bản, ban đầu và quyết định tất cả mọi quan hệ khác"; đồng thời, "đem
quy những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độcủa những lực lượng sản xuất" Bằng cách đó, V.I.Lênin khẳng định, C.Mác đã "có được một cơ sở vữngchắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên"(15) Trongtoàn bộ lịch sử tư tưởng xã hội, V.I.Lênin nhấn mạnh, quan niệm duy vật về lịch sử của C.Mác là một
"quan niệm khoa học duy nhất về lịch sử", "một nguyên lý đã được chứng minh một cách khoa học" và
do vậy, tư tưởng coi sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên của
ông, "tự bản thân nó, cũng đã là một tư tưởng thiên tài rồi"(16) "Triết học của chủ nghĩa Mác là chủ nghĩa duy vật" Khi xây dựng hệ thống triết học của mình, C.Mác không chỉ làm cho phép biện chứng
duy vật trở thành một khoa học và sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử mà còn tạo ra bước ngoặt cáchmạng trong quan niệm về con người và giải phóng con người Coi tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại củacon người - đó là con người phải có khả năng sống rồi mới có thể "làm ra lịch sử", C.Mác cho rằng, hành
vi lịch sử đầu tiên của con người là "sản xuất ra bản thân đời sống vật chất" Với quan niệm này, khi phêphán quan điểm duy tâm tư biện của Hêghen về con người, C.Mác đã đưa ra quan niệm coi con người là
một thực thể sinh học - xã hội hiện thực và khẳng định "con người không phải là một sinh vật trừu tượng,
ẩn náu đâu đó ở ngoài thế giới", mà "con người chính là thế giớicon người, là nhà nước, là xã hội"(17).
Với việc đặt ra theo một cách mới nhiệm vụ nhận thức đời sống xã hội hiện thực của con người, C.Mác
đã triệt để phê phán quan điểm của Phoiơbắc về con người Và, khi phê phán Phoiơbắc đã "hòa tan thế
giới tôn giáo vào cơ sở trần tục của nó", "hòa tan bản chất tôn giáo vào bản chất con người", C.Mác đã
khẳng định: "Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trongtính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội"(18) Với luận điểm coi "giới
tự nhiên là thân thể vô cơ của con người", C.Mác đã khẳng định rằng, "con người là một bộ phận của giới
tự nhiên"(19) Song, hoạt động sinh sống của con người, theo C.Mác, là "hoạt động sinh sống có ý thức"
và do vậy, bằng hoạt động lao động của mình, con người đã làm biến đổi bản chất tự nhiên và tạo ra bảnchất xã hội của chính mình Rằng, con người không chỉ sống trong môi trường tự nhiên, mà còn sốngtrong môi trường xã hội, nên tự nhiên và xã hội trong mỗi con người gắn bó khăng khít với nhau; yếu tốsinh học trong mỗi con người không phải tồn tại bên cạnhyếu tố xã hội, mà chúng hòa quyện vào nhau vàtồn tại trong yếu tố xã hội; do vậy, bản tính tự nhiên được chuyển vào bản tính xã hội và được cải biến ởtrong đó Và, chỉ có trong xã hội, con người mới thể hiện bản chất tự nhiên và xã hội của mình; do vậy, tựnhiên và xã hội thống nhất với nhau trong bản chất con người, làm cho con người trở thành một chỉnh thểtồn tại với cả hai mặt tự nhiên và xã hội, hình thành nên mối quan hệ khăng khít: Con người - tự nhiên -
xã hội
Trang 35Khẳng định "bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội", C.Mác còn tiến hành phân tích vị thếchủ thể, vai trò sáng tạo lịch sử của con người Xem xét vị thế của con người trong tiến trình phát triểncủa lịch sử, C.Mác đã đi đến quan niệm rằng, khuynh hướng chung của tiến trình phát triển lịch sử đượcquy định bởi sự phát triển của lực lượng sản xuất - "kết quả của nghịlực thực tiễn của con người" Hoạtđộng thực tiễn này, đến lượt nó, lại bị quy định bởi những điều kiện sinh tồn của con người, bởi "mộthình thức xã hội đã tồn tại trước khi có những lực lượng sản xuất ấy" Mỗi thế hệ con người bao giờ cũngnhận được những lực lượng sản xuất do thế hệ trước tạo ra và sử dụng chúng làm phương tiện cho hoạtđộng sản xuất mới Nhờ sự chuyển giao lực lượng sản xuất này mà con người đã "hình thành nên mối liên
hệ trong lịch sử loài người, hình thành lịch sử loài người" Lực lượng sản xuất và do đó, cả quan hệ sảnxuất - quan hệ xã hội của con người, ngày càng phát triển thì "lịch sử đó càng trở thành lịch sử loàingười" Với quan niệm này, C.Mác kết luận: "Xã hội… là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa nhữngcon người", "lịch sử xã hội của con người luôn chỉ là lịch sử của sự phát triển cá nhân của những conngười"(20); và con người vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của tiến trình phát triển lịch sử, con người làmnên lịch sử của chính mình và do vậy, lịch sử là lịch sử của con người, do con người và vì con người
+ Nguồn gốc, bản chất, chức năng của nhà nước
ra, một cơ quan quyền lực đặc biệt đã ra đời Đó là nhà nước Nhà nước đầu tiên trong lịch sử là nhà nướcchiếm hữu nô lệ, xuất hiện trong cuộc đấu tranh không điều hoà giữa giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ Tiếp đó là nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản Nguyên nhân trực tiếp của sự xuất hiện nhà nước làmâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được
II Bản chất nhà nước
Khái niệm Nhà nước:
Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, có bộ máy chuyên trách để cưỡng chế và quản
lý xã hội nhằm thực hiện và bảo vệ trước hết lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp đốikháng, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản trong xã hội xãhội chủ nghĩa
Bản chất của Nhà nước:
Bản chất của nhà nước thể hiện dưới hai đặc tính cơ bản:
Thứ nhất, là tính giai cấp của Nhà nước: thể hiện ở chỗ nhà nước là công cụ thống trị trong xã hội để
thực hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, củng cố và bảo vệ trước hết lợi ích của giai cấp thống trị trong xãhội Bản chất của nhà nước chỉ rõ nhà nước đó là của ai, do giai cấp nào tổ chức và lãnh đạo, phục vụ lợiích của giai cấp nào?
Trong xã hội bóc lột (xã hội chiếm hữu nô lê, xã hội phong kiến, xã hội tư sản) nhà nước đều có bản chấtchung là thiết chế bộ máy để thực hiện nền chuyên chính của giai cấp bóc lột trên 3 mặt: Kinh tế, chính trị
và tư tưởng
Vì vậy, nhà nước tồn tại với hai tư cách:
Một là bộ máy duy trì sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác
Trang 36Hai là tổ chức quyền lực công – tức là nhà nước vừa là người bảo vệ pháp luật vừa là người bảo đảm cácquyền của công dân được thực thi
Thứ hai là tính xã hội hay còn gọi là vai trò kinh tế - xã hội của Nhà nước
Trong nhà nước, giai cấp thống trị chỉ tồn tại trong mối quan hệ với các tầng lớp giai cấp khác, do vậyngoài tư cách là công cụ duy trì sự thống trị, nhà nước còn là công cụ để bảo vệ lợi ích chung của toàn xãhội
Như vậy, vai trò kinh tế - xã hội là thuộc tính khách quan, phổ biến của Nhà nước Tuy nhiên, mức độbiểu hiện cụ thể và thực hiện vai trò đó không giống nhau giữa các nhà nước khác nhau Vai trò và phạm
vi hoạt động của nhà nước phụ thuộc vào từng giai đoạn phát triển cũng như đặc điểm của mỗi nhà nước,song phải luôn tính đến hiệu quả hoạt động của nhà nước
Để hoạt động có hiệu quả, nhà nước phải chọn lĩnh vực hoạt động nào là cơ bản, cần thiết để tác động.Bởi nếu không có sự quản lý của nhà nước sẽ mang lại hậu quả xấu cho xã hội
III Chức năng của nhà nước
Nhà nước có 2 chức năng: đối nội và đối ngoại Chức năng đối nội:
• Chủ yếu là trấn áp, bạo lực để bảo vệ địa vị thống trị của giai cấp bóc lột
• Đàn áp các cuộc cách mạng của quần chúng
• Sử dụng bộ máy truyền thông, các cơ quan VH, GD, các tổ chức XH, làm cho tư tưởng, tổ chức của giaicấp thống trị thống trị XH
Chức năng đối ngoại: chủ yếu là bảo vệ và mở rộng lãnh thổ bằng các cuộc chiến tranh xâm lược nhaunhằm mở rộng sự thống trị của giai cấp bóc lột trong nước
Quan hệ giữa 2 chức năng: trong 2 chức năng thì chức năng đối nội là chủ yếu và quyết định vì:
• Tính chất đường lối đối nội quyết định tính chất, đường lối đối ngoại
• Ngoài ra nhà nước còn có chức năng công quyền như duy trì trật tự công cộng, xét xử những vụ tranhchấp thông thường trong XH, quản lý kinh tế, văn hóa
+ Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, ý thức xã hội mang tính độc lập tương đối tác động trở lại tồntại xã hội
III TỒN TẠI XÃ HỘI QUYẾT ĐỊNH Ý THỨC XÃ HỘI VÀ TÍNH ĐỘC LẬP TƯƠNG ĐỐI CỦA
Ý THỨC XÃ HỘI
1 Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội
a) Khái niệm tồn tại xã hội, ý thức xã hội
Khái niệm tồn tại xã hội dùng để chỉ phương diện sinh hoạt vật chất và các điều kiện sinh hoạt vật
chất của xã hội Các yếu tố cơ bản tạo thành tồn tại xã hội bao gồm: phương thức sản xuất vật chất, các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên - hoàn cảnh địa lý và dân cư Các yếu tố đó tồn tại trong mối quan hệ
thống nhất biện chứng, tác động lẫn nhau tạo thành điều kiện sinh tồn và phát triển của xã hội, trong đóphương thức sản xuất vật chất là yếu tố cơ bản nhất
Khái niệm ý thức xã hội dùng để chỉ toàn bộ phương diện sinh hoạt tinh thần của xã hội, nảy sinh
từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định
Giữa ý thức xã hội và ý thức cá nhân có sự thống nhất biện chứng nhưng không đồng nhất Mối
quan hệ giữa ý thức xã hội và ý thức cá nhân thuộc mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng
b) Vai trò quyết của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội
Trang 37Một trong những công lao to lớn của C.Mác và Ph.Ăngghen là đã phát triển chủ nghĩa duy vật đếnđỉnh cao, xây dựng quan điểm duy vật về lịch sử, giải quyết một cách khoa học vấn đề về sự hình thành
và phát triển của ý thức xã hội Các ông đã chứng minh rằng, đời sống tinh thần của xã hội hình thành vàphát triển trên cơ sở của đời sống vật chất; rằng không thể tìm nguồn gốc của tư tưởng, tâm lý xã hộitrong bản thân nó, nghĩa là không thể tìm trong đầu óc con người mà phải tìm trong hiện thực vật chất Sựbiến đổi của một thời đại nào đó cũng sẽ không thể giải thích được chính xác nguyên nhân cuối cùng nếuchỉ căn cứ vào ý thức của thời đại ấy Theo C.Mác: " không thể nhận định về một thời đại đảo lộn nh ưthế căn cứ vào ý thức của thời đại đó Trái lại, phải giải thích ý thức ấy bằng những mâu thuẫn của đờisống vật chất, bằng sự xung đột hiện có giữa các lực lượng sản xuất xã hội và những quan hệ sản xuất xãhội".1
Quan điểm trên đây đối lập với quan điểm của chủ nghĩa duy tâm về xã hội, tức đối lập với quanđiểm đi tìm nguồn gốc của ý thức tư tưởng trong bản thân ý thức tư tưởng, coi đó là nguồn gốc của mọihiện tượng xã hội, quyết định sự phát triển xã hội và trình bày lịch sử các hình thái ý thức xã hội tách rời
cơ sở kinh tế - xã hội Ngược lại, theo quan điểm duy vật lịch sử thì tồn tại xã hội quyết định ý thức xãhội; ý thức xã hội là sự phản ánh đối với tồn tại xã hội và phụ thuộc vào tồn tại xã hội; mỗi khi tồn tại xãhội (nhất là phương thức sản xuất) biến đổi thì những tư tưởng và lý luận xã hội, những quan điểm vềchính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, văn hóa, nghệ thuật, v.v tất yếu sẽ biến đổi theo Cho nên ởnhững thời kỳ lịch sử khác nhau nếu chúng ta thấy có những lý luận, quan điểm, tư tưởng xã hội khácnhau thì đó là do những điều kiện khác nhau của đời sống vật chất quyết định
Quan điểm duy vật lịch sử về nguồn gốc của ý thức xã hội không phải dừng lại ở chỗ xác định sựphụ thuộc của ý thức xã hội vào tồn tại xã hội, mà còn chỉ ra rằng, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hộikhông phải một cách giản đơn trực tiếp mà thường thông qua các khâu trung gian Không phải bất cứ tưtưởng, quan niệm, lý luận hình thái ý thức xã hội nào cũng phản ánh rõ ràng và trực tiếp những quan hệ
kinh tế của thời đại, mà chỉ khi nào xét đến cùng thì chúng ta mới thấy rõ những mối quan hệ kinh tế được
phản ánh bằng cách này hay cách khác trong các tư tưởng ấy
2 Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội
Quan điểm duy vật biện chứng về xã hội không chỉ khẳng định tính quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội mà còn Iàm sáng tỏ những nội dung của tính độc lập tương đối của ý thức xã hội Nội dung tính độc lập tương đối của ý thức xã hộiđược phân tích trên các phương diện chính sau:
Thứ nhất, ý thức xã hội thường lạc hậu so với tồn tại xã hội
Theo nguyên lý tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội thì khi tồn tại xã hội biến đổi sẽ tất yếu dẫntới những sự biến đổi của ý thức xã hội Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp, sự biến đổi của tồntại xã hội đều ngay lập tức dẫn đến sự biến đổi của ý thức xã hội; trái lại, nhiều yếu tố của ý thức xã hội(trong đời sống tâm lý xã hội và hệ tư tưởng xã hội) có thể còn tồn tại rất lâu dài ngay cả khi cơ sở tồn tại
xã hội sản sinh ra nó đã được thay đổi căn bản Vì vậy, những tư tưởng cũ, lạc hậu thường được các lựclượng xã hội phản tiến bộ lưu giữ và truyền bá nhằm chống lại các lực lượng xã hội tiến bộ
Thứ hai, ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội.
Khi khẳng định tính thường lạc hậu hơn của ý thức xã hội so với tồn tại xã hội, chủ nghĩa duy vậtlịch sử đồng thời thừa nhận rằng, trong những điều kiện nhất định, tư tưởng của con người, đặc biệtnhững tư tưởng khoa học tiên tiến có thể vượt trước sự phát triển của tồn tại xã hội, dự báo được tương lai
và có tác dụng tổ chức, chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người, hướng hoạt động đó vào việc giảiquyết những nhiệm vụ mới do sự phát triển chín muồi của đời sống vật chất của xã hội đặt ra Tuy nhiên,suy đến cùng, khả năng phản ánh vượt trước ý thức xã hội vẫn phụ thuộc vào tồn tại xã hội
1 C.Mác, Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t 13, tr 15
Trang 38Thứ ba, ý thức xã hội có tính kế thừa trong sự phát triển của nó.
Lịch sử phát triển đời sống tinh thần của xã hội cho thấy rằng, những quan điểm lý luận của mỗithời đại không xuất hiện trên mảnh đất trống không mà được tạo ra trên cơ sở kế thừa những tài liệu lýluận của các thời đại trước
Do ý thức có tính kế thừa trong sự phát triển, nên không thể giải thích được một tư tưởng nào đónếu chỉ dựa vào những quan hệ kinh tế hiện có, không chú ý đến các giai đoạn phát triển tư tưởng trước
đó Lịch sử phát triển của tư tưởng đã cho thấy những giai đoạn hưng thịnh hoặc suy tàn của triết học, vănhọc, nghệ thuật, v.v nhiều khi không phù hợp hoàn toàn với những giai đoạn hưng thịnh hoặc suy tàn củakinh tế
Trong xã hội có giai cấp, tính chất kế thừa của ý thức xã hội gắn với tính chất giai cấp của nó.Những giai cấp khác nhau kế thừa những nội dung ý thức khác nhau của các thời đại trư ớc Các giai cấptiên tiến tiếp nhận những di sản tư tưởng tiến bộ của xã hội cũ để lại
Thứ tư, sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội trong sự phát triển của chúng
Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội là một nguyên nhân làm cho trong mỗi hìnhthái ý thức có những mặt, những tính chất không thể giải thích được một cách trực tiếp từ tồn tại xã hội Lịch sử phát triển của ý thức xã hội cho thấy, thông thường ở mỗi thời đại, tùy theo những hoàncảnh lịch sử cụ thể có những hình thái ý thức nào đó nổi lên hàng đầu và tác động mạnh đến các hình thái
ý thức khác Ngày nay, trong sự tác động lẫn nhau giữa các hình thái ý thức xã hội, ý thức chính trịthường có vai trò đặc biệt quan trọng Ý thức chính trị của giai cấp cách mạng định hướng cho sự pháttriển theo chiều hướng tiến bộ của các hình thái ý thức khác
Thứ năm, ý thức xã hội có khả năng tác động trở lại tồn tại xã hội
Chủ nghĩa duy vật lịch sử không những phê phán quan điểm duy tâm (là quan điểm đã tuyệt đối hóavai trò của ý thức xã hội), mà còn bác bỏ quan điểm duy vật tầm thường hay chủ nghĩa duy vật kinh tế(tức quan điểm phủ nhận tác dụng tích cực của ý thức xã hội trong đời sống xã hội)
Mức độ ảnh hưởng của tư tưởng đối với sự phát triển xã hội phụ thuộc vào những điều kiện lịch sử
cụ thể; vào tính chất của các mối quan hệ kinh tế mà trên đó tư tưởng nảy sinh; vai trò lịch sử của giai cấpmang ngọn cờ tư tưởng; vào mức độ phản ánh đúng đắn của tư tưởng đối với các nhu cầu phát triển xãhội; vào mức độ mở rộng của tư tưởng trong quần chúng; v.v Cũng do đó, ở đây cần phân biệt vai tròcủa ý thức tư tưởng tiến bộ và ý thức tư tưởng phản tiến bộ đối với sự phát triển xã hội
Như vậy, nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử về tính độc lập tương đối của ý thức xã hội đãchỉ ra bức tranh phức tạp trong lịch sử phát triển của ý thức xã hội và đời sống tinh thần xã hội nói chung;
nó bác bỏ mọi quan điểm siêu hình, máy móc, tầm thường về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xãhội
Quan điểm duy vật mácxít về tính quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội và tính độc lậptương đối của ý thức xã hội là một trong những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử; là mộttrong những cơ sở phương pháp luận căn bản của hoạt động nhận thức và thực tiễn Theo nguyên lý này,một mặt, việc nhận thức các hiện tượng của đời sống tinh thần xã hội cần phải căn cứ vào tồn tại xã hội đãlàm nảy sinh ra nó, nhưng mặt khác cũng cần phải giải thích các hiện tượng đó từ những phương diệnkhác nhau thuộc nội dung tính độc lập tương đối của chúng Do đó, trong thực tiễn cải tạo xã hội cũ, xâydựng xã hội mới cần phải được tiến hành đồng thời trên cả hai mặt tồn tại xã hội và ý thức xã hội, trong
đó việc thay đổi tồn tại xã hội cũ là điều kiện cơ bản nhất để thay đổi ý thức xã hội cũ; đồng thời, cũngcần thấy rằng không chỉ những biến đổi trong tồn tại xã hội mới tất yếu dẫn đến những thay đổi to lớntrong đời sống tinh thần của xã hội mà ngược lại, những tác động của đời sống tinh thần xã hội, vớinhững điều kiện xác định cũng có thể tạo ra những biến đổi mạnh mẽ, sâu sắc trong tồn tại xã hội
Trang 39+ Bản chất con người…
b) Bản chất của con người
Hạn chế căn bản của quan niệm duy vật siêu hình, trực quan là đã trừu tượng hóa, tuyệt đối hóaphương diện tự nhiên của con người, thường xem nhẹ việc lý giải con người từ phương diện lịch sử xã hộicủa nó, do đó về căn bản chỉ thấy bản tính tự nhiên của con người Khác với quan niệm đó, quan niệmduy vật biện chứng về con người trong khi thừa nhận bản tính tự nhiên của con người còn lý giải conngười từ giác độ các quan hệ lịch sử xã hội, từ đó phát hiện bản tính xã hội của nó Hơn nữa, chính bảntính xã hội của con người là phương diện bản chất nhất của con người với tư cách "người", phân biệt conngười với các tồn tại khác của giới tự nhiên Như vậy, có thể định nghĩa con người là một thực thể tựnhiên nhưng đó là thực thể tự nhiên mang đặc tính xã hội Vậy, bản chất của con người, xét trên phươngdiện tính hiện thực của nó, chính là "tổng hòa của các quan hệ xã hội", bởi xã hội chính là xã hội của conngười, được tạo nên từ toàn bộ các quan hệ giữa người với người trên các mặt kinh tế, chính trị, vănhóa…
Theo quan điểm duy vật biện chứng về bản chất xã hội của con người thì sự hình thành và pháttriển của con người cùng những khả năng sáng tạo lịch sử của nó cần phải được tiếp cận từ giác độ phântích và lý giải sự hình thành và phát triển của những quan hệ xã hội của nó trong lịch sử Xét từ giác độnhân chủng học, tức phương diện bản tính tự nhiên, “người da đen” vẫn chỉ là người da đen, như ng chỉtrong quan hệ kinh tế - chính trị của xã hội chiếm hữu nô lệ anh ta mới có thể bị biến thành “người nôlệ”, còn trong quan hệ kinh tế - chính trị xã hội xã hội chủ nghĩa, anh ta là “người tự do”, làm chủ và sángtạo lịch sử Như thế, không có một bản chất nô lệ cố hữu và bất biến của người da đen hay da trắng, nó làsản phẩm tất yếu của những quan hệ kinh tế - chính trị - xã hội trong những điều kiện lịch sử xác định, khinhững quan hệ này thay đổi thì do đó cũng có sự thay đổi bản chất của con người Cũng do vậy, sự giảiphóng bản chất con người cần phải là hướng vào sự giải phóng những quan hệ kinh tế - chính trị - xã hộicủa nó, thông qua đó mà có thể phát huy khả năng sáng tạo lịch sử của con người
Như vậy, không có con người phi lịch sử mà trái lại luôn gắn với những điều kiện hoàn cảnh lịch sửnhất định Cần phải từ quan niệm như thế mới có thể lý giải đúng đắn về khả năng sáng tạo lịch sử củacon người Sự hạn chế về năng lực sáng tạo lịch sử của những con người tiểu nông không thể lý giải từbản tính tự nhiên của họ mà trái lại cần phải được lý giải từ giác độ tính hạn chế về trình độ phát triển củacác quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa của xã hội tiểu nông Như thế, con người, xét từ giác độ bản chất
xã hội của nó, là sản phẩm của lịch sử; lịch sử sáng tạo ra con người trong chừng mực nào thì con ngườilại cũng sáng tạo ra lịch sử trong chừng mực đó Đây là biện chứng của mối quan hệ giữa con người - chủthể của lịch sử với chính lịch sử do nó tạo ra và đồng thời lại bị quy định bởi chính lịch sử đó Từ đó cóthể thấy hạn chế cơ bản của quan niệm duy vật siêu hình về bản chất của con người chính là ở chỗ chỉnhận thấy tính quyết định của hoàn cảnh lịch sử đối với con người mà không nhận thấy mối quan hệ sángtạo của con người trong quá trình cải tạo hoàn cảnh và do đó cũng chính là cải tạo bản thân nó
Như vậy, với tư cách là thực thể xã hội, con người trong hoạt động thực tiễn, thông qua hoạt độngthực tiễn, tác động vào giới tự nhiên, làm cải biến giới tự nhiên theo nhu cầu sinh tồn và phát triển của nóthì đồng thời con người cũng sáng tạo ra lịch sử của chính nó, thực hiện sự phát triển của lịch sử đó
Từ quan niệm khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin về con người có thể rút ra ý nghĩa phương pháp luận quan trọng sau đây:
Một là, để lý giải một cách khoa học những vấn đề về con người thì không thể chỉ đơn thuần từ
phương diện bản tính tự nhiên của nó mà điều căn bản hơn, có tính quyết định phải là từ phương diện bảntính xã hội của nó, từ những quan hệ kinh tế - xã hội của nó
Trang 40Hai là, động lực cơ bản của sự tiến bộ và phát triển của xã hội chính là năng lực sáng tạo lịch sử
của con người Vì vậy, phát huy năng lực sáng tạo của mỗi con người, vì con người chính là phát huynguồn động lực quan trọng thúc đẩy sự tiến bộ và phát triển của xã hội
Ba là, sự nghiệp giải phóng con người, nhằm phát huy khả năng sáng tạo lịch sử của nó phải là
hướng vào sự nghiệp giải phóng những quan hệ kinh tế - xã hội Trên ý nghĩa phương pháp luận đó có thểthấy một trong những giá trị căn bản nhất của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa chính là ở mục tiêu xóa
bỏ triệt để các quan hệ kinh tế - xã hội áp bức và bóc lột, ràng buộc khả năng sáng tạo lịch sử của conngười Thông qua cuộc cách mạng đó nó cũng thực hiện sự nghiệp giải phóng toàn nhân loại bằngphương thức xây dựng mối quan hệ kinh tế - xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa nhằm xác lập
và phát triển một xã hội mà tự do, sáng tạo của người này trở thành điều kiện cho tự do và sáng tạo củangười khác Đó cũng chính là thực hiện triết lý đạo đức nhân sinh cao đẹp nhất của chủ nghĩa cộng sản:
"mỗi người vì mọi người; mọi người vì mỗi người"
+ Quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo ra lịch sử
2 Khái niệm quần chúng nhân dân và vai trò sáng tạo lịch sử của quần chúng nhân dân
a) Khái niệm quần chúng nhân dân
Con người là chủ thể sáng tạo ra lịch sử nhưng không phải là theo phương thức hành vi đơn lẻ, rờirạc, cô độc của mỗi con người mà là theo phương thức liên kết những con người thành sức mạnh cộngđồng xã hội có tổ chức, có lãnh đạo của những cá nhân hay các tổ chức chính trị, xã hội nhất định nhằmgiải quyết các nhiệm vụ lịch sử trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa của xã hội - cộng đồng đó
chính là quần chúng nhân dân.
b) Vai trò sáng tạo lịch sử của quần chúng nhân dân và vai trò của cá nhân trong lịch sử
Về căn bản, tất cả các nhà tư tưởng trong lịch sử trước Mác đều không nhận thức đúng vai trò sángtạo lịch sử của quần chúng nhân dân Về nguồn gốc lý luận, điều đó có nguyên nhân từ quan điểm duytâm, tôn giáo và phương pháp siêu hình trong phân tích các vấn đề xã hội
Theo quan điểm duy vật duy vật lịch sử, quần chúng nhân là chủ thể sáng tạo chân chính ra lịch
sử, lực lượng quyết định sự phát triển của lịch sử Do đó lịch sử trước hết và căn bản là lịch sử hoạt động của quần chúng nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hoi
Vai trò chủ thể sáng tạo ra lịch sử, quyết định tiến trình phát triển lịch sử của quần chúng nhân dânđược phân tích từ ba giác độ sau đây:
Thứ nhất, quần chúng nhân dân là lực lượng sản xuất cơ bản của mọi xã hội, trực tiếp sản xuất ra
của cải vật chất đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của con người, của xã hội - đây là nhu cầu quantrọng bậc nhất của mọi xã hội ở mọi thời đại, mọi giai đoạn lịch sử
Thứ hai, cùng với quá trình sáng tạo ra của cải vật chất, quần chúng nhân dân đồng thời cũng là lực
lượng trực tiếp hay gián tiếp sáng tạo ra các giá trị tinh thần của xã hội; là lực lượng trực tiếp hay giántiếp "kiểm chứng" các giá trị tinh thần đã được các thế hệ và các cá nhân sáng tạo ra trong lịch sử Hoạtđộng của quần chúng nhân dân là cơ sở hiện thực có ý nghĩa quyết định và là cội nguồn phát sinh nhữngsáng tạo văn hóa tinh thần của xã hội Mọi giá trị sáng tạo tinh thần dù qua phương thức nào thì cuối cùngcũng là để phục vụ hoạt động của quần chúng nhân dân và nó chỉ có ý nghĩa hiện thực một khi được vậtchất hóa bởi hoạt động thực tiễn của nhân dân
Thứ ba, quần chúng nhân dân là lực lượng và động lực cơ bản của mọi cuộc cách mạng và các cuộc
cải cách trong lịch sử Lịch sử nhân loại đã chứng minh rằng, không có một cuộc cách mạng hay cuộc cảicách xã hội nào có thể thành công nếu nó không xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng của đông đảo quầnchúng nhân dân Với ý nghĩa như vậy có thể nói: cách mạng là "ngày hội của quần chúng" và trong những