Tiểu luận LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNHTIỀN TỆ Tình hình các cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra ngày càng phức tạp gây ra những hậu quả nặng rất nề đối với cả quốc gia phát triển lẫn các quốc gia đang phát triển. Bên cạnh khủng hoảng tài chính người ta ngày càng đề cập và nghiên cứu một cách nghiên túc một loại khủng hoảng mới là “khủng khoảng nợ công”.
Trang 1TR ƯỜNG ĐẠI HỌC ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM NG Đ I H C Đ I H C KINH T TP HCM ẠI HỌC ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM ỌC ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM ẠI HỌC ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM ỌC ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM Ế TP HCM
KHOA NGÂN HÀNG
L P K23 ĐÊM 11 ỚP K23 ĐÊM 11
MÔN: LÝ THUY T TÀI CHÍNH – TI N T Ế TP HCM ỀN TỆ Ệ
KH NG HO NG N CÔNG VÀ NH NG TÁC ỦNG HOẢNG NỢ CÔNG VÀ NHỮNG TÁC ẢNG NỢ CÔNG VÀ NHỮNG TÁC Ợ CÔNG VÀ NHỮNG TÁC ỮNG TÁC
Đ NG Đ N TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH-TI N T ỘNG ĐẾN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH-TIỀN TỆ Ế TP HCM ỀN TỆ Ệ
Gi ng viên h ảng viên hướng dẫn ướng dẫn ng d n ẫn : TS Di p Gia ệp Gia
Trang 2H và tên ọc đêm 11 Di đ ng ộng
Trang 3PH N 1: KHÁI QUÁT V N CÔNG VÀ KH NG HO NG N CÔNG ẦN 1: KHÁI QUÁT VỀ NỢ CÔNG VÀ KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG ỀN TỆ Ợ CÔNG VÀ NHỮNG TÁC ỦNG HOẢNG NỢ CÔNG VÀ NHỮNG TÁC ẢNG NỢ CÔNG VÀ NHỮNG TÁC Ợ CÔNG VÀ NHỮNG TÁC 3
1.1 Nợ công 3
1.1.1 Khái niệm 3
1.1.2 Đặc trưng cơ bản của nợ công 4
1.1.2.1 Nợ công là khoản nợ ràng buộc trách nhiệm trả nợ của Nhà nước 4
1.1.2.2 Nợ công được quản lý theo quy trình chặt chẽ với sự tham gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền 5
1.1.2.3 Mục tiêu cao nhất của việc huy động và sử dụng nợ công là phát triển kinh tế xã hội, vì lợi ích cộng đồng 5
1.1.3 Phân loại nợ công 5
1.1.4 Các hình thức vay nợ và công cụ vay nợ công 6
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ công 7
1.2 Khủng hoảng nợ công 8
1.2.1 Khủng hoảng nợ công là gì ? 8
1.2.2 Đặc điểm của khủng hoảng nợ công 10
1.2.3 Nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng khủng hoảng nợ công 10
PH N 2: KH NG HO NG N CÔNG TRÊN TH GI I VÀ TÁC Đ NG ẦN 1: KHÁI QUÁT VỀ NỢ CÔNG VÀ KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG ỦNG HOẢNG NỢ CÔNG VÀ NHỮNG TÁC ẢNG NỢ CÔNG VÀ NHỮNG TÁC Ợ CÔNG VÀ NHỮNG TÁC Ế TP HCM ỚP K23 ĐÊM 11 ỘNG ĐẾN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH-TIỀN TỆ C A NÓ Đ N TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH-TI N T ỦNG HOẢNG NỢ CÔNG VÀ NHỮNG TÁC Ế TP HCM ỀN TỆ Ệ 12
(ĐI N HÌNH LÀ HY L P VÀ IRELAND) ỂN HÌNH LÀ HY LẠP VÀ IRELAND) ẠI HỌC ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM 12
2.1 Bối cảnh chung xảy ra khủng hoảng nợ công ở châu Âu 12
2.2 Khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp 13
2.2.1 Thực trạng khủng hoảng nợ công Hy Lạp 13
2.2.1.1 Tỷ lệ nợ công trên GDP 13
2.2.1.2 Tỷ trọng nợ công của Hy Lạp theo kỳ hạn 13
2.2.1.3 Thâm hụt cán cân vãng lai trong một thời gian dài 14
2.2.1.4 Tình trạng thâm hụt ngân sách 14
2.2.2 Nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng nợ công Hy Lạp 15
2.2.2.1 Tiết kiệm trong nước thấp dẫn tới phải vay nợ nước ngoài cho chi tiêu công 15
2.2.2.2 Chi tiêu công tăng cao dẫn đến thâm hụt ngân sách 15
2.2.2.3 Nguồn thu giảm sút cũng là một nhân tố dẫn tới tình trạng thâm hụt ngân sách và gia tăng nợ công 16
2.2.2.4 Sự tiếp cận dễ dãi với nguồn vốn đầu tư nước ngòai và việc sử dụng nguồn vốn không hiệu quả 17
2.2.2.5 Thiếu tính minh bạch và niềm tin của các nhà đầu tư 17
2.2.3 Tác động của khủng hoảng nợ công Hy Lạp đến tình hình tài chính – tiền tệ 18
2.2.3.1 Giá trái phiếu giảm và lãi suất tăng 18
2.2.3.2 Cắt giảm chi tiêu 18
2.2.3.3 Đầu tư trực tiếp FDI giảm 19
2.2.3.4 Hạ bậc xếp hạng tín dụng 20
Trang 42.2.4 Một số giải pháp 22
2.2.4.1 Nhận gói cứu trợ từ EU, IMF và hỗ trợ từ ECB 22
2.2.4.2 Giảm chi tiêu công, tăng thuế 23
2.2.4.3 Phát hành trái phiếu 23
2.2.5 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 24
2.2.5.1 Mô hình phát triển kinh tế 24
2.2.5.2 Về hoạch định chính sách tài khoá và quản lý nợ công 24
2.2.5.3. Về công tác công bố thông tin và minh bạch chính sách 25
2.3 Khủng hoảng nợ công Ireland 25
2.3.1 Thực trạng khủng hoảng nợ công Ireland 25
2.3.1.1 Tỷ lệ nợ công trên GDP 25
2.3.1.2 Tình trạng thâm hụt ngân sách 26
2.3.1.3 Thâm hụt cán cân vãng lai 27
2.3.2 Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng nợ công 27
2.3.3 Tác động của nợ công đến tình hình tài chính tiền tệ 28
2.3.3.1 Xếp hạng tín nhiệm bị hạ bậc 28
2.3.3.2 Giá trái phiếu giảm và lãi suất tăng 29
2.3.3.3 Tốc độ tăng trưởng GDP giảm 29
2.3.3.4 Đầu tư trực tiếp FDI giảm nhanh đáng kể 30
2.3.3.5 Cắt giảm chi tiêu 30
2.3.3.6 Lạm phát và thất nghiệp 31
2.3.4 Các chính sách áp dụng và kết quả đạt được 32
2.3.4.1 Các chính sách áp dụng 32
2.3.4.2 Kết quả đạt được 33
2.3.5 Kinh nghiệm cho Việt Nam 34
PH N 3: TH C TR NG N CÔNG VI T NAM VÀ GI I PHÁP ẦN 1: KHÁI QUÁT VỀ NỢ CÔNG VÀ KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG ỰC TRẠNG NỢ CÔNG VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP ẠI HỌC ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM Ợ CÔNG VÀ NHỮNG TÁC Ệ ẢNG NỢ CÔNG VÀ NHỮNG TÁC 36
3.1 Thực trạng nợ công Việt Nam 36
3.1.1 Tình hình nợ công Việt Nam giai đoạn 2006-2012 36
3.1.2 Cơ cấu nợ công Việt Nam hiện nay 39
3.1.2.1 Cơ cấu nợ công chia theo dư nợ 39
3.1.2.2 Cơ cấu dư nợ công chia theo chủ nợ 42
3.1.3 Thực trạng về quản lý và sử dụng nợ công Việt Nam giai đoạn 2006-2012 44
3.1.3.1 Thực trạng sử dụng nợ công Việt Nam 44
3.1.3.2 Thực trạng về quản lý nợ công Việt Nam 48
Trang 53.2.2 Đối với việc huy động và sử dụng nợ công 51 3.2.3 Đối với công tác quản lý nợ công 53
DANH M C B NG BI U, BI U Đ VÀ HÌNH ỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH ẢNG NỢ CÔNG VÀ NHỮNG TÁC ỂN HÌNH LÀ HY LẠP VÀ IRELAND) ỂN HÌNH LÀ HY LẠP VÀ IRELAND) Ồ VÀ HÌNH
B NG BI U ẢNG NỢ CÔNG VÀ NHỮNG TÁC ỂN HÌNH LÀ HY LẠP VÀ IRELAND)
Bảng 2.1 Xếp hạng tín nhiệm của Ireland theo Moody’s
Bảng 3.1 Số liệu nợ công của VN giai đoạn 2006-2011
Trang 6Bảng 3.3 Cơ cấu trong dư nợ Chính phủ bảo lãnh từ năm 2010 – 2012
Bảng 3.4 Hệ số ICOR của Việt Nam giai đoạn 2000 đến 2010
BI U Đ , HÌNH ỂN HÌNH LÀ HY LẠP VÀ IRELAND) Ồ VÀ HÌNH
Hình 1.1 Các thành phần của nợ công
Hình 2.1 Thâm hụt ngân sách ở một số nước Châu Âu
Hình 2.2 Lãi suất trái phiếu 10 năm của một số nước trên thế giới
Hình 2.3 Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Hi Lạp giai đoạn 2003-2009
Hình 2.4 Tỉ lệ thất nghiệp tại Hi Lạp
Hình 2.5 Tỉ lệ lạm phát tại Hi Lạp
Hình 2.6 Tỉ lệ nợ công trên GDP của Ireland trong những năm 2005 – 2012
Hình 2.7 Lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm của Ireland
Hình 2.8 Tăng truởng GDP Ireland giai đoạn 2007- 2011
Hình 2.9 Lạm phát ở Ireland trong các năm khủng hoảng
Hình 2.10 Lạm phát ở Ireland trong các năm khủng hoảng
Hình 3.1 Chỉ số nợ công/GDP của Việt Nam giai đoạn 2006-2012
Hình 3.2 Chỉ số nợ công/đầu người của Việt Nam giai đoạn 2006-2012
Hình 3.3 So sánh nợ công/GDP so với một số nước có nợ công cao của thế giới
Hình 3.4 So sánh nợ công/GDP của Việt Nam với một số nước trong khu vực
Hình 3.5 Cơ cấu dư nợ công Việt Nam năm 2012
Hình 3.6 Cơ cấu trong dư nợ chính phủ 2010-2012
Hình 3.7 Cơ cấu trong dư nợ chính phủ bảo lãnh 2010-2012
Hình 3.8 Cơ cấu nợ công Việt Nam chia theo chủ nợ năm 2012
Hình 3.9 ICOR trung bình của các thành phần kinh tế giai đoạn 2001-2009
Hình 3.10 Thâm hụt ngân sách Việt Nam giai đoạn 2001-2010
L I M Đ U ỜNG ĐẠI HỌC ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM Ở ĐẦU ẦN 1: KHÁI QUÁT VỀ NỢ CÔNG VÀ KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG
Tình hình các cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra ngày càng phức tạp gây ra nhữnghậu quả nặng rất nề đối với cả quốc gia phát triển lẫn các quốc gia đang phát triển.Bên cạnh khủng hoảng tài chính người ta ngày càng đề cập và nghiên cứu một cách
Trang 7đánh lên một hồi chuông cảnh báo cho các nước trên toàn thế giới cần phải nhận địnhmột cách thấu đáo về tình trạng nợ công của quốc gia mình Chính vì vậy, nghiên cứu
“khủng hoảng nợ công và tác động của nó đến tình hình tài chính – tiền tệ” là mộtviệc làm hết sức càn thiết và cấp bách hiện nay không chỉ ở Việt Nam mà cho tất cảcác nước trên thế giới
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính, dựa vào số liệu từ một số nghuồntin cậy, từ đó nhóm nghiên cứu đưa ra những phân tích, nhận định về thực trạng vàcông tác quản lý nợ công ở một số nước trên thế giới và Việt Nam Từ đó rút ra một
số kinh nghiệm cho Việt Nam từ cuộc khủng hoảng nợ công ở Hi Lạp và Ireland,đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao công tác sử dụng và quản lý nợcông nhằm ngăn chặn nợ công tăng cao, dẫn đến nguy cơ vỡ nợ ở Việt Nam
Đây là đề tài khá rộng và có tính bao quát cao Do đó, với những hạn chế về hiểubiết và khó khăn trong việc thu thập số liệu,nhóm nghiên cứu xin trình bày nhữngthông tin chính trong bài như sau:
Phần 1: Khái quát nợ công và khủng hoảng nợ công.
Phần 2: Khủng hoảng nợ công trên thế giới và tác động của nó đến tình hình tài
chính-tiền tệ (điển hình là Hy Lạp và Ireland)
Phần 3: Thực trạng nợ công ở Việt Nam và một số giải pháp.
Với những hạn chế đã nêu, sẽ còn có nhiều sai sót trong bài phân tích của nhóm,mong thầy và các bạn cho ý kiến đóng góp để bài nghiên cứu của nhóm được hoànthiện hơn
PH N 1: KHÁI QUÁT V N CÔNG VÀ KH NG HO NG N CÔNG ẦN 1: KHÁI QUÁT VỀ NỢ CÔNG VÀ KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG ỀN TỆ Ợ CÔNG VÀ NHỮNG TÁC ỦNG HOẢNG NỢ CÔNG VÀ NHỮNG TÁC ẢNG NỢ CÔNG VÀ NHỮNG TÁC Ợ CÔNG VÀ NHỮNG TÁC
1.1.1 Khái niệm
Hiện nay, có thể thấy, trên thế giới xuất hiện rất nhiều định nghĩa khác nhau về
nợ công, tùy thuộc vào mục đích và phạm vi sử dụng của mỗi tổ chức, mỗi quốc gia
Theo quan điểm của Ngân hàng thế giới (WB): Nợ công là toàn bộ những
khoản nợ của chính phủ và những khoản nợ được chính phủ bảo lãnh Trong đó:
Trang 8trị trực thuộc chính phủ và các đại lý của các tổ chức này, các doanhnghiệp nhà nước.
ngoài của khu vực tư nhân do chính phủ đứng ra bảo lãnh
Theo quan điểm của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF): Nợ công được hiểu là nợ của
khu vực tài chính công và nợ của khu vực phi tài chính công Trong đó:
các tổ chức tín dụng nhà nước) và các tổ chức phi tiền tệ (các tổ chức tíndụng không cho vay mà chỉ có chức năng hỗ trợ phát triển)
địa phương, các doanh nghiệp phi tài chính nhà nước
phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh, nợ chính quyền địa phương
Như vậy, xét theo khái niệm này, cần lưu ý là không tồn tại sự đồng nhất giữa:
“nợ chính phủ” và “nợ công” Nợ chính phủ trong trường hợp này chỉ là một trong bayếu tố cấu thành nên nợ công
Đối với ba cách định nghĩa trên, tuy mỗi cách mang tính đặc thù riêng và thíchhợp để sử dụng trong những hoàn cảnh cụ thể khác nhau song chúng đều có chungmột số đặc điểm như: là khoản tiền nợ liên quan đến chính phủ và hoạt động củachính phủ, mục đích là để tài trợ bù đắp cho thâm hụt ngân sách Do đó, để đơn giảnhóa cách thức tiếp vận vấn đề và đảm bảo tính logic khi phân tích, nghiên cứu khủnghoảng nợ công ở các chương tiếp theo, có thể hiểu khái quát về nợ công thông quakhái niệm sau:
Nợ công, còn gọi là nợ chính phủ hay nợ quốc gia, là tổng giá trị các khoản tiền
mà chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay nhằm tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách.
Sử dụng các định nghĩa này, ta cần quan tâm tới một số lưu ý sau đây:
nước đi theo hướng kinh tế thị trường thực chất, không tồn tại thành phần
Trang 9 Thâm hụt ngân sách nhà nước, hay còn gọi là bội chi ngân sách nhà nước, làtình trạng khi tổng chi tiêu của ngân sách nhà nước vượt quá các khoản thutrong cân đối (thu "không mang tính hoàn trả") của ngân sách nhà nước.
Như vậy, một cách chung nhất, có thể hiểu nợ công là hậu quả của vấn đề chitiêu công bất hợp lý Bởi lẽ mỗi quốc gia đều phải cân đối mức thu chi nên khi thukhông đủ chi, nhà nước phải đi vay dẫn đến hình thành nợ công Cũng theo cách tiếpcận này, nợ công có thể được tính bằng thâm hụt ngân sách luỹ kế đến một thời điểmnào đó
Trên lý thuyết, mỗi vấn đề kinh tế nên có một khái niệm chung thống nhất đểđảm bảo tính chặt chẽ trong phân tích Tuy nhiên, thực tế chỉ ra rằng có nhiều luồng
tư tưởng và quan điểm khác nhau của các nhà kinh tế về cùng một hiện tượng, sựviệc Trong trường hợp này, mỗi khu vực, quốc gia có một góc độ đánh giá khác nhau
về tình hình nợ công Căn cứ vào cơ cấu nợ công của mỗi quốc gia, ta sẽ nhận dạng:quốc gia này sử dụng định nghĩa nào đối với vấn đề nợ công của mình
1.1.2 Đặc trưng cơ bản của nợ công.
1.1.2.1 Nợ công là khoản nợ ràng buộc trách nhiệm trả nợ của Nhà nước.
Khác với các khoản nợ thông thường, nợ công được xác định là một khoản nợ
mà Nhà nước (bao gồm các cơ quan nhà nước có thẩm quyền) có trách nhiệm trảkhoản nợ ấy Trách nhiệm trả nợ của Nhà nước được thể hiện dưới hai góc độ trả nợtrực tiếp và trả nợ gián tiếp Trả nợ trực tiếp được hiểu là cơ quan nhà nước có thẩmquyền sẽ là người vay và do đó, cơ quan nhà nước sẽ chịu trách nhiệm trả nợ khoảnvay Trả nợ gián tiếp là trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền đứng ra bảolãnh để một chủ thể trong nước vay nợ, trong trường hợp bên vay không trả được nợthì trách nhiệm trả nợ sẽ thuộc về cơ quan đứng ra bảo lãnh (ví dụ: Chính phủ bảolãnh để Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam vay vốn nước ngoài)
1.1.2.2 Nợ công được quản lý theo quy trình chặt chẽ với sự tham gia của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tuân thủ nguyên tắc của nhà nước về quản lý nợ cộng.
Việc quản lý nợ công đòi hỏi quy trình chặt chẽ nhằm đảm bảo hai mục đích:Một là, đảm bảo khả năng trả nợ của đơn vị sử dụng vốn vay và cao hơn nữa là đảmbảo cán cân thanh toán vĩ mô và an ninh tài chính quốc gia; Hai là, đề đạt được nhữngmục tiêu của quá trình sử dụng vốn Bên cạnh đó, việc quản lý nợ công một cách chặtchẽ còn có ý nghĩa quan trọng về mặt chính trị xã hội Nguyên tắc quản lý nợ côngViệt Nam là Nhà nước quản lý thống nhất, toàn diện nợ công từ việc huy động, phân
bổ, sử dụng vốn vay đến việc trả nợ để đảm bảo hai mục tiêu cơ bản trên
Trang 10Nợ công được huy động và sử dụng không phải để thỏa mãn những lợi ích riêngcủa bất kỳ cá nhân, tổ chức nào, mà vì lợi ích chung của cộng đồng Ở Việt Nam,xuất phát từ bản chất của Nhà nước là thiết chế để phục vụ lợi ích chung của xã hội,Nhà nước là của dân, do dân và vì dân nên đương nhiên các khoản nợ công đượcquyết định phải dựa trên lợi ích của nhân dân, cụ thể là đề phát triển kinh tế – xã hộicủa đất nước và phải coi đó là điều kiện quan trọng nhất.
1.1.3 Phân loại nợ công.
Có nhiều tiêu chí để phân loại nợ công, mỗi tiêu chí có một ý nghĩa khác nhautrong việc quản lý và sử dụng nợ công
thổ, tổ chức tài chính quốc tế, tổ chức và cá nhân nước ngoài Như vậy, theopháp luật Việt Nam, nợ nước ngoài không được hiểu là nợ mà bên cho vay lànước ngoài, mà là toàn bộ các khoản nợ công không phải là nợ trong nước Việcphân loại nợ trong nước và nợ nước ngoài có ý nghĩa quan trọng trong quản lý
nợ Việc phân loại này về mặt thông tin sẽ giúp xác định chính xác hơn tìnhhình cán cân thanh toán quốc tế Và ở một số khía cạnh, việc quản lý nợ nướcngoài còn nhằm đảm bảo an ninh tiền tệ của Nhà nước Việt Nam, vì các khoảnvay nước ngoài chủ yếu bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi hoặc các phương tiệnthanh toán quốc tế khác
vay trực tiếp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cá nhân, tổ chức cho vay.Phương thức huy động vốn này xuất phát từ những hợp đồng vay, hoặc ở tầmquốc gia là các hiệp định, thỏa thuận giữa Nhà nước Việt Nam với bên nướcngoài Nợ công từ công cụ nợ là khoản nợ công xuất phát từ việc cơ quan nhànước có thẩm quyền phát hành các công cụ nợ để vay vốn Các công cụ nợ này
có thời hạn ngắn hoặc dài, thường có tính vô danh và khả năng chuyển nhượngtrên thị trường tài chính
Trang 11 Nợ công từ vốn vay ODA.
nghĩa vụ trả nợ
vay nợ, nếu bên vay không trả được nợ thì Chính phủ sẽ có nghĩa vụ trả nợ
lãnh
vay nợ và có nghĩa vụ trực tiếp trả nợ
vay nợ của chính quyền địa phương được coi là nguồn thu ngân sách và được đưa vàocân đối, nên về bản chất nợ công của địa phương được Chính phủ đảm bảo chi trảthông qua khả năng bổ sung từ ngân sách trung ương
1.1.4 Các hình thức vay nợ và công cụ vay nợ công.
Dựa vào đặc điểm và điều kiện cho vay của các khoản vay nợ, các hình thức vay
nợ được chia vào hai nhóm chính là: vay nợ gián tiếp (chủ yếu thông qua phát hànhtrái phiếu) và vay nợ trực tiếp từ trong và ngoài nước Mỗi cách vay nợ có ưu, nhượcđiểm riêng, thích hợp sử dụng cho những hoàn cảnh riêng, trong điều kiện xếp hạngtín dụng và vị thế nhất định của mỗi quốc gia
Vay nợ gián tiếp
Chính phủ các nước có thể tiến hành vay nợ gián tiếp từ các tổ chức, cá nhân để
bù đắp thâm hụt ngân sách thông qua việc phát hành các công cụ nợ như: tín phiếu,trái phiếu, hình thức chứng chỉ Trái phiếu trong trường hợp này được hiểu theonghĩa rộng, gồm có: trái phiếu (T-bonds), trái phiếu chính quyền địa phương(Municipal Bonds), trái phiếu ngoại tệ, công trái xây dựng tổ quốc và trái phiếu côngtrình; trong đó, trái phiếu chính phủ phát hành bằng nội tệ được coi là không có rủi rotín dụng vì chính phủ có thể tăng thuế thậm chí in thêm tiền để thanh toán cả gốc lẫnlãi khi đáo hạn Trái phiếu chính phủ phát hành bằng ngoại tệ (thường là các ngoại tệmạnh có cầu lớn) có rủi ro tín dụng cao hơn so với khi phát hành bằng nội tệ vì chínhphủ có thể không có đủ ngoại tệ để thanh toán
Trang 12Ngoài cách phát hành giấy vay nợ như một tài sản đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợcủa mình, chính phủ các nước còn một lựa chọn khác để tài trợ cho các khoản thâmhụt đáng kể thông qua con đường vay tiền trực tiếp từ các ngân hàng thương mại, cácthể chế siêu quốc gia (ví dụ: Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng thế giới, Ngân hàngPhát triển Châu Á…) Các nguồn vay này tồn tại dưới một số hình thức phổ biến như:vay viện trợ phát triển chính thức, vay có tính chất thương mại hay vay ưu đãi Thôngthường, các hình thức trực tiếp này được chính phủ của các nước có độ tin cậy tíndụng thấp áp dụng vì những nước này khó có khả năng vay nợ bằng phát hành tráiphiếu chính phủ.
Trong số các khoản vay trực tiếp đã liệt kê, nguồn vay ODA là nguồn vốn bổsung đều đặn nhất và có tầm quan trọng lớn đối với các nước đang phát triển Nguồnvay này có thể nhận được dưới các thể thức: viện trợ song phương, viện trợ đaphương, viện trợ không hoàn lại hay viện trợ của tổ chức phi chính phủ
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ công.
Một yêu cầu rất quan trọng đối với các chính phủ là đảm bảo tỷ lệ nợ công sovới GDP là ổn định, qua đó tăng hiệu quả quản lý nợ, quản lý thâm hụt ngân sách vàlàm tốt các công tác dự báo, lập kế hoạch ngân sách nhà nước, góp phần ổn định nềnkinh tế vĩ mô Để làm được điều đó, ta cần phải nắm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến nợcông, nhận biết các tác động, ngăn chặn từ đầu, phòng tránh và giải quyết kịp thời cáctác động có khả năng gây bất ổn tới tỉ lệ này
Thứ nhất, nợ công phụ thuộc chặt chẽ vào cân bằng ngân sách cơ bản Từ bản
chất nợ công đã phân tích ở trên, có thể nhận thấy mức thâm hụt ngân sách phản ảnhgiá trị tuyệt đối của nợ công chính phủ Điều đó đồng nghĩa với việc, khi khoảng cáchthâm hụt nhỏ, những khoản vay bù đắp giảm đi, làm cho nợ công được hạn chế
Thứ hai, lãi suất thực tế có tác động đến các khoản nợ vay của chính phủ, quyết
định xem các khỏan nợ này sẽ đắt hơn (khi lãi suất tăng lên) hay giảm đi (khi lãi suấtgiảm đi) Mặt khác, việc lãi suất tăng sẽ làm cho các khoản vay của chính phủ khókhăn hơn, không đảm bảo được cho vay nợ đúng hạn
Thứ ba, tốc độ tăng trưởng thực tế ảnh hưởng đến nợ công theo hai cơ chế Một
là, nền kinh tế phát triển hơn thì chính phủ dễ dàng vay tiền hơn, dẫn đến khả năng nợcông tăng lên Hai là, tăng trưởng nhanh thường đi kèm với lạm phát, dẫn đến việc
Trang 13Thứ tư, lãi suất ngoại tệ có liên quan đến các khoản vay nước ngoài của chính
phủ Cơ chế tác động của nhân tố này tương tự như lãi suất thực tế, chỉ khác nhau vềđối tượng hưởng lãi
Thứ năm, tỷ giá cũng có tác động tới việc vay nợ nước ngoài Sự biến động của
tỷ giá ảnh hưởng đến chi phí của khoản nợ công: có thể tăng lên (khi tỷ giá tăng) hoặcgiảm đi (khi tỷ giá giảm)
1.2.1 Khủng hoảng nợ công là gì ?
Cũng giống như tình trạng đa khái niệm của nợ công, tùy thuộc vào từng góc độnhìn nhận và đánh giá sự kiện, khủng hoảng nợ công được cắt nghĩa theo các cơ sởkhác nhau Hiểu một cách khái quát nhất, khủng hoảng nợ xảy ra khi thâm hụt ngânsách luỹ kế đến một thời điểm nào đó vượt quá khả năng kiểm soát, điều tiết và trả nợcủa chính phủ, dẫn đến suy giảm cáchoạt động kinh tế kéo dài và trầm trọng
Trải qua thời gian dài vận động phát triển của nền kinh tế thế giới nói chung,khái niệm về vấn đề khủng hoảng nợ công cũng được thay đổi nhiều lần và riêng rẽđối với từng tổ chức, khu vực độc lập
Theo cách tiếp cận từ các khoản nợ khất lại, Detragiache và Spilimbergo (2001) xác định rằng cuộc khủng hoảng nợ sẽ xảy ra nếu một trong hai hoặc cả hai
điều kiện sau đây xảy ra
Có những khoản nợ gốc hoặc lãi chưa hoàn trả hoặc đang trả dở dang song phảixin khất lại nghĩa vụ trả nợ đối với chủ nợ (ngân hàng, tổ chức sở hữu trái phiếu)chiếm trên 5% tổng dư nợ
Có một thỏa thuận gia hạn hoặc tái cơ cấu nợ với chủ nợ được liệt kê trong báobáo cáo Phát triển Tài chính Toàn cầu (GDF) của Ngân hàng Thế giới(WB)
Nhìn nhận khủng hoảng nợ công tương đương với tình trạng “tiền phá sản”, Sy (2004) đưa ra lập luận: giống như việc mất khả năng thanh toán những
khoản nợ trong khu vực tài chính doanh nghiệp, khủng hoảng nợ công là biểu hiện
“tiền phá sản” của trái phiếu chính phủ Theo định nghĩa đó, Sy đã chỉ ra từ năm 1994đếnnăm 2002, trên thế giới xảy ra 140 sự kiện “tiền phá sản”, làm giảm uy tín vànăng lực của thị trường trái phiếu chính phủ
Trong thời điểm hiện nay, định nghĩa về nợ công của Tổ chức Standard andPoor’s, Quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF) và Ngân hàng thế giới (WB) là một cách giảithích được ưa thích trích dẫn và sử dụng nhiều hơn cả
Theo Quỹ tiền tệ thế giới IMF, một quốc gia được xác nhận lâm vào khủng
hoảng nợ nếu nó được Tổ chức Standard & Poor’s liệt vào danh sách các nước không
Trang 14đưa ra để Standard and Poor’s xác định một quốc gia là không có khả năng hoàn trả
nợ là việc chính phủ của quốc gia đó không thể thanh toán đủ gốc hoặc tiền lãi chocác khoản nợ nước ngoài vào ngày đáo hạn hoặc trong thời gian ân hạn quy định(bao gồm các khoản phát sinh trong nghiệp vụ thanh toán nợ bằng hối phiếu, nghiệp
vụ SWAPs tài sản nợ…) Như vậy, tình hình vay nợ bất thường với quy mô lớn tạiQuỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) là một trong những dấu hiệu báo trước cho những bất ổntrong tình trạng nợ công của một quốc gia, có thể dẫn đến nguy cơ khủng hoảngnhanh chóng
Dù các khái niệm nêu trên diễn đạt khủng hoảng nợ công theo các cách khácnhau, có thể thấy rõ rằng mọi định nghĩa đều bao chứa những nội dung cơ bản tươngđồng Đó là: Khủng hoảng nợ công xảy ra khi chính phủ một quốc gia không thể trảđược nợ và buộc phải tìm kiếm, cầu viện đến các sự trợ giúp khác
1.2.2 Đặc điểm của khủng hoảng nợ công
Dựa vào những định nghĩa nêu trên, có thể chỉ ra một số đặt trung quan trọngmang tính bản chất đối với các cuộc khủng hoảng nợ công trên thế giới
Một là, khủng hoảng nợ công mang bản chất là khủng hoảng kinh tế, làm suy
giảm các hoạt động kinh tế kéo dài và trầm trọng hơn cả suy thoái trong chu kỳ kinhtế
Hai là, khủng hoảng nợ công không phân biệt quốc gia phát triển hay quốc gia
đang phát triển Điều này có nghĩa là, bên cạnh vấn đề thiếu nợ thường xuyên tái diễn
ở các quốc gia thuộc “thế giới thứ ba ”, khủng hoảng nợ hoàn toàn có khả năng xảy
ra ở những nước phát triển, nơi nền kinh tế tăng trưởng một cách tương đối cao và ổnđịnh
Ba là, khủng hoảng nợ công một khi đã diễn ra thường kéo dài trong một thời
gian, kéo theo nhiều hệ lụy không chỉ trên lĩnh vực kinh tế mà còn trong chính văn hóa-xã hội
trị-Bốn là, khủng hoảng nợ công gắn liền với mức độ tín nhiệm của chính phủ
quốc gia xảy ra sự kiện Khi nợ công liên tục tăng cao, nền kinh tế bị hạ bậc tín nhiệmtheo báo cáo của các tổ chức chuyên đánh giá tín nhiệm công ty và quốc gia, niềm tincủa người dân và giới đầu tư bị lung lay; khi đó nền kinh tế dễ trở thành mục tiêu tấn
Trang 15Nghiên cứu tình hình nợ công tại một số nước châu Âu có thể giúp rút ra một
số nguyên nhân phổ biến dẫn tới khủng hoảng như sau:
Một là, tất cả các nước rơi vào vòng xoáy nợ công đều có kỷ luật tài khóa lỏng
lẻo Tình hình thực hiện ngân sách chi cuối năm luôn vượt xa nghị quyết của quốchội về chi ngân sách được công bố đầu năm
Hai là, việc phân bổ nguồn vốn dễ bị ảnh hưởng bởi các mục tiêu chính trị
nhiều hơn mục tiêu kinhtế (ví dụ: chi phí quốc phòng – an ninh, chi trợ cấp xã hội,chi trả lương hưu cho công chức, chi bù lãi suất ngân hàng cho các dự án công ích,chi lễ tân nhà nước hay các lễ kỷ niệm…)
Ba là, thời gian thự thiện dự án kéo dài Hiếm có dự án công nào hoàn thành
đúng tiến độ, hậu quả là tiền lãi phải trả trên nợ vay tăng
Bốn là, hiệu quả sử dụng vốn thấp (thường thấp hơn các dự án vay vốn thương
mại của khu vực tư)
Năm là, trách nhiệm người đi vay không cao vì những người tham gia quyết
định vay nợ không hẳn là những người sẽ phải lo trả nợ nhất là khi người vay không
có cơ hội tái đắc cử
Sáu là, chính phủ có khả năng che đậy các vấn đề bất cập của tình hình nợ công
trong một thời gian khá dài ( có thể tới 10năm ) nên việc điều chỉnh chính sách khắcphục không được kịp thời
Trang 16PH N 2: KH NG HO NG N CÔNG TRÊN TH GI I VÀ TÁC Đ NG C A NÓ ẦN 1: KHÁI QUÁT VỀ NỢ CÔNG VÀ KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG ỦNG HOẢNG NỢ CÔNG VÀ NHỮNG TÁC ẢNG NỢ CÔNG VÀ NHỮNG TÁC Ợ CÔNG VÀ NHỮNG TÁC Ế TP HCM ỚP K23 ĐÊM 11 ỘNG ĐẾN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH-TIỀN TỆ ỦNG HOẢNG NỢ CÔNG VÀ NHỮNG TÁC
Đ N TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH-TI N T Ế TP HCM ỀN TỆ Ệ (ĐI N HÌNH LÀ HY L P VÀ IRELAND) ỂN HÌNH LÀ HY LẠP VÀ IRELAND) ẠI HỌC ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
Năm 2008 từ nước Mỹ bóng đen khủng hoảng tài chính lan rộng khắp các châulục, tác động tiêu cực tới mọi lĩnh vực và nhiều quốc gia trên thế giới Cuộc khủnghoảng này được “châm ngòi” bằng hoạt động cho vay thế chấp dưới chuẩn (sub-primemortgage) dễ dãi và thiếu kiểm soát ở Mỹ Số lượng các khoản vay loại này phát triểnbùng nổ trong thời kỳ hình thành bong bóng trên thị trường địa ốc ở Mỹ Tuy nhiên,điều đáng nói là rủi ro của hoạt động vay nợ này không chỉ được giới hạn giữa người
đi vay và các ngân hàng Tới lúc này, tai nạn xuất hiện theo kiểu hiệu ứng domino, từngười mua nhà, các ngân hàng thương mại, các ngân hàng đầu tư, tới các nhà đầu tưmua vào chứng khoán nợ địa ốc… cùng điêu đứng Sự đổ vỡ dây chuyền trong ngànhtài chính Mỹ ở thời kỳ đỉnh điểm giữa tháng 9/2008 đã lan qua Đại Tây Dương, tớichâu Âu, và gây ra những cơn “dư chấn” ở châu Á Các quốc gia có vấn đề về nợ côngtrong khu vực Châu Âu bao gồm các thành viên Hy Lạp, Ireland, Ý, Tây Ban Nha và
Bồ Đào Nha, và cũng có một số khu vực châu Âu không thuộc Liên minh châuÂu: Iceland, đất nước trải qua cuộc khủng hoảng tài chính lớn nhất trong năm 2008khi toàn bộ hệ thống ngân hàng quốc tế của nó sụp đổ
Cuộc khủng hoảng nợ công ở khu vực châu Âu là do các chính phủ phung phí đivay mượn quá nhiều và không thể trả nợ Chắc chắn đây là nhân tố quan trọng ở HyLạp, chính phủ nước này duy trì thâm hụt ngân sách 5 – 6% GDP sau 2002 Tìnhtrạng nhân sự cồng kềnh khu vực công và nạn trốn thuế phổ biến ở giới nhà giàu vàdoanh nghiệp ở nước này Bồ Đào Nha ghi nhận thâm hụt ngân sách khiêm tốn hơnchỉ khoảng 2 – 4 % GDP Ireland và Tây Ban Nha đều đạt thặng dư ngân sách tronghầu hết các năm từ lúc áp dụng đồng Euro đến khi xảy ra khủng hoảng Cuộc khủnghoảng sau đó đã lan sang Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và tiếp theo là Ý trong khu vựcđồng Euro Pháp đang là quốc gia có nhiều nguy cơ tụt hạng tín dụng, Cộng hòaSip cũng đã bị đẩy tới bờ vực để nhận gói cứu trợ.Yếu tố chung không phải là thâmhụt ngân sách lớn mà là thâm hụt tài khoản vãng lai lớn Các khoản thâm hụt này làhậu quả trực tiếp của dòng vốn tư nhân khổng lồ chảy vào trong cùng kỳ Khi vốn ồ ạt
Trang 17Ti u lu n môn tài chính ti n t ểu luận môn tài chính tiền tệ ật ền tệ ệp Gia GVHD: TS Di p Gia Lu t ệp Gia ật
chảy vào, khu vực tư nhân ôm vào những nghĩa vụ tài chính to lớn Việc đi vay ròngcủa khu vực tư nhân theo định nghĩa thâm hụt tài khoản vãng lai trừ cho cán cân ngânsách Giới hạn của qui trình này được xác định bởi trữ lượng, không phải lưu lượng.Vấn đề của các nước phụ cận Euro họ không thề phá giá đồng tiền để kiếm soát qui
mô thâm hụt vãng lai của mình.Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu thường bị coi lànguyên nhân gây ra đổ vỡ tài chính công, do kinh tế suy thoái khiến nguồn thu từ thuếcủa chính quyền giảm, trong khi chi tiêu công lại tăng lên vì các gói kích cầu và gánhnặng phúc lợi xã hội
Tuy nhiên, thực chất cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu chỉ là giọt nước làm tràn
ly Nguyên nhân đích thực gây khủng hoảng nợ công là sự quan liêu của chính quyền
đã để cho thâm hụt ngân sách kéo dài quá lâu mà không có giải pháp khắc phục hữuhiệu
2.2.1 Thực trạng khủng hoảng nợ công Hy Lạp
2.2.1.1 Tỷ lệ nợ công trên GDP
Từ lúc bắt đầu tham gia sử dụng đồng tiền chung châu Âu (Euro) vào giữa năm
2001 cho đến năm 2010, Hy Lạp luôn vượt chỉ tiêu nợ công theo quy định của hiệphội các nước thuộc khu vực EURO là 60%/ GDP Đến năm 2010, báo cáo của OECDcho thấy nợ công của Hy Lạp đã lên tới con số 330 tỷ Euro, tương đương với 147.8%GDP Các chuyên gia kinh tế dự đoán dù Hy Lạp có thực hiện được kế hoạch thắtlưng buộc bụng kéo dài 3 năm, nợ của Hy Lạp đến năm 2012 vẫn tăng lên mức 172%GDP
2.2.1.2 Tỷ trọng nợ công của Hy Lạp theo kỳ hạn
Rủi ro lớn nhất của Hy Lạp là nợ vay nước ngoài chiếm tỷ lệ lớn, có thể lênđến 80% Ước tính tỷ lệ trái phiếu do nước ngoài nắm giữ có thể lên tới 80% lượngtrái phiếu chính phủ phát hành Chủ nợ phần lớn là các ngân hàng châu Âu Các nước
Ý, Ireland cũng trong tình cảnh thâm hụt ngân sách và nợ công cao, nhưng không bịđánh giá nghiêm trọng bằng Hy Lạp Sở dĩ như vậy vì các nước này có nền kinh tếtương đối lớn, ngân sách lớn, khả năng kiểm soát nợ trong nước cao hơn, các chỉ số về
cơ cấu nợ cũng như các biến số về phát triển kinh tế vĩ mô tốt hơn Hy Lạp
Nhóm 5_CHĐ 11_K 23_UEH Trang 17
Trang 18Tính theo thời gian với mức vay nợ như trên, Hy Lạp phải đối mặt với khoản
nợ đến hạn phải thanh toán 8,5 tỉ euro (tương đương 11,3 tỉ đô la Mỹ) trái phiếu chínhphủ vào ngày 19-5-2010 Hầu hết các khoản nợ của Hy Lạp là ngắn hạn, trong đó, số
nợ phải trả trong năm 2010 là 16% tổng nợ Chưa đến một năm, một đợt trả nợ kế tiếpdiễn ra vào tháng 3/2011, với số tiền 8,6 tỷ Euro
2.2.1.3 Thâm hụt cán cân vãng lai trong một thời gian dài
Ngay từ khi gia nhập vào khu vực đồng tiền chung Euro tình trạng thâm hụtvẫn không được cái thiện mà có xu hướng ngày càng tăng, đến tháng 8 năm 2011 HyLạp báo cáo thâm hụt tài khoản vãng lai tương đương với 145 triệu EUR, tháng 8 năm
2012 là 2 169 triệu Euro Sự thâm hụt cán cân vãng lai của Hy Lạp bắt nguồn từ sựthâm hụt thương mại của nước này
Trang 19Ti u lu n môn tài chính ti n t ểu luận môn tài chính tiền tệ ật ền tệ ệp Gia GVHD: TS Di p Gia Lu t ệp Gia ật
những chính sách khắc khổ nhằm giảm thâm hụt ngân sách nhưng thâm hụt ngân sáchtrong 8 tháng đầu năm 2011 của Hy Lạp đã lên tới 18,1 tỷ euro (24,67 tỷ USD), tăngmạnh so với 14,813 tỷ euro cùng kỳ năm ngoái.Thâm hụt ngân sách Hy Lạp lại chủyếu gây ra bởi trình độ quản lý công yếu kém
2.2.2 Nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng nợ công Hy Lạp
Khủng hoảng nợ công của Hy Lạp xuất phát từ nguyên nhân chính là khả năngquản trị tài chính công yếu kém cùng với những khoản chi tiêu của chính phủ quá lớn,vượt khả năng kiểm soát Kết quả là thâm hụt ngân sách của Hy Lạp vượt hơn 13%GDP và tổng nợ công chiếm tới gần 130% GDP (năm 2010) Có thể nêu nhữngnguyên nhân chính của nợ công Hy Lạp, đó là:
2.2.2.1 Tiết kiệm trong nước thấp dẫn tới phải vay nợ nước ngoài cho chi
tiêu công
Thập niên 90 tỷ lệ tiết kiệm trong nước bình quân của Hy Lạp chỉ ở mức 11%,thấp hơn nhiều so với mức 20% của các nước như Bồ Đào Nha, Ý, Tây Ban Nha vàđang có xu hướng sụt giảm nhanh chóng Do vậy, đầu tư trong nước phụ thuộc khánhiều vào các dòng vốn đến từ bên ngoài, lợi tức trái phiếu liên tục giảm nhờ vào việcgia nhập liên minh châu Âu EU (năm 1981) và làn sóng bán tháo trái phiếu từ dânchúng cho thấy Hy Lạp đã để vuột khỏi tay một kênh huy động vốn sẵn có buộc chínhphủ Hy Lạp tăng cường vay nợ tài trợ cho chi tiêu công
2.2.2.2 Chi tiêu công tăng cao dẫn đến thâm hụt ngân sách
Tăng trưởng GDP của Hy Lạp vẫn được ca ngợi với tốc độ tăng trung bình hàngnăm là 4,3% (2001 – 2007) so với mức trung bình của khu vực Eurozone là 3,1% Tuynhiên, trong giai đoạn này, mức chi tiêu chính phủ tăng 87% trong khi mức thu củachính phủ chỉ tăng 31%, khiến cho ngân sách thâm hụt vượt quá mức cho phép 3%GDP của EU Theo đánh giá của các nhà kinh tế, bộ máy công quyền cồng kềnh vàthiếu hiệu quả của Hy Lạp chính là nhân tố chính đằng sau sự thâm hụt của quốc gianày
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), chi tiêu cho quản lý côngtrong tổng số chi tiêu công của Hy Lạp năm 2004 đã cao hơn nhiều so với các nướcthành viên OECD khác trong khi chất lượng và số lượng dịch vụ không được cải thiệnnhiều Năm 2008, khủng hoảng tài chính toàn nổ ra đã ảnh hưởng khá mạnh đến các
Nhóm 5_CHĐ 11_K 23_UEH Trang 19
Trang 20ngành công nghiệp chủ chốt của Hy Lạp, ngành du lịch và vận tải biển, doanh thu đềusụt giảm trên 15% trong năm 2009, kinh tế Hy Lạp cũng lâm vào tình trạng khó khăn,nguồn thu để tài trợ cho ngân sách nhà nước bị co hẹp mạnh Trong khi đó Hy Lạp lạiphải tăng cường chi tiêu công để kích thích kinh tế Chi tiêu kích thích kinh tế saukhủng hoảng năm 2008 cũng làm trầm trọng thêm vấn đề nợ công Sự già hóa dân số
và hệ thống lương hưu vào loại hào phóng bậc nhất khu vực châu Âu của Hy Lạpcũng được coi là một trong những gánh nặng cho chi tiêu công Dự đoán tỷ lệ sốngười trên 64 tuổi của Hy Lạp sẽ tăng từ 19% năm 2007 lên 32% năm 2060 Người vềhưu được hưởng một khoản tiền tương đương với 70-80% mức lương chính thứctrước khi về hưu chưa kể những lợi ích từ những cơ chế hỗ trợ khác với đủ 35 nămcống hiến so với mức 40 năm ở các quốc gia châu Âu khác Ước tính tổng số tiền chitrả cho lương hưu khu vực công của Hy Lạp sẽ tăng từ 11,5% GDP (2005) lên 24%(2050)
2.2.2.3 Nguồn thu giảm sút cũng là một nhân tố dẫn tới tình trạng thâm
hụt ngân sách và gia tăng nợ công
Trốn thuế và hoạt động kinh tế ngầm ở Hy Lạp là nhân tố làm giảm nguồn thungân sách Theo đánh giá của Ngân hàng thê giới (WB), kinh tế không chính thức ở
Hy Lạp chiếm tới 25 - 30% GDP(so với mức 15,6% GDP của Việt Nam; 13,1% GDPcủa Trung Quốc và Singapore; 11,3% GDP của Nhật Bản) Hệ thống thuế với nhiềumức thuế cao và bộ luật phức tạp cùng với sự điều tiết dư thừa và thiếu hiệu quả của
cơ quan quản lý là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trốn thuế và kinh tế ngầm pháttriển ở Hy Lạp
Theo Tổ chức Minh bạch quốc tế, Hy Lạp là một trong những nước có tỷ lệ thamnhũng cao nhất trong EU Không chỉ có công nhân viên chức không chịu nộp thuế, màviệc nhận tiền hối lộ còn khá phổ biến từ trung ương đến địa phương Năm 2008, hơn13% người Hy Lạp đã chi tới 750 triệu EUR tiền phong bì cho các lãnh đạo khu vựccông và khu vực tư, trong đó có bác sĩ là những người đòi nhiều tiền hơn cho các cuộcphẫu thuật; các nhà quy hoạch thành phố là những người quyết định thời gian giấyphép xây dựng được cấp và các quan chức ở địa phương cũng liên quan đến những vụviệc nhận hối lộ Thủ tướng Hy Lạp George Papandreou thừa nhận “tham nhũng mangtính hệ thống” (systematic corruption) là vấn đề cơ bản nhất dẫn đến tình trạng nợ
Trang 21Ti u lu n môn tài chính ti n t ểu luận môn tài chính tiền tệ ật ền tệ ệp Gia GVHD: TS Di p Gia Lu t ệp Gia ật
công Hy Lạp Thiệt hại mà tham nhũng gây ra cho Hy Lạp ước tính vào khoảng 8%GDP Tham nhũng không chỉ gây ra trốn thuế, nó còn làm tăng chi tiêu chính phủ,nhắm tới duy trì mức lương cao cho công chức và thực hiện các dự án có vốn đầu tưlớn thay vì nhắm vào các dự án tạo ra nhiều việc làm và nâng cao năng suất lao động.Mức lương cao không chỉ tạo ra gánh nặng ngân sách mà còn làm cho tính cạnh tranhcủa nền kinh tế Hy Lạp yếu đi Lương cao, đồng euro tăng giá từ mức 1 euro đổi hơn0,8 đô la Mỹ lên đến 1 euro đổi 1,6 đô la trong suốt giai đoạn từ 2000-2008 khiến sứccạnh tranh của hàng hóa Hy Lạp yếu và hệ quả tất yếu là một cán cân thương mạithâm hụt triền miên
2.2.2.4 Sự tiếp cận dễ dãi với nguồn vốn đầu tư nước ngòai và việc sử
dụng nguồn vốn không hiệu quả
Bên cạnh đó, việc gia nhập Eurozone năm 2001 là cơ hội lớn để Hy Lạp có thểtiếp cận với thị trường vốn quốc tế với việc sử dụng một đồng tiền được những nềnkinh tế lớn như Đức và Pháp bảo đảm cùng với sự quản lý chính sách tiền tệ của Ngânhàng Trung ương châu Âu (ECB) Nhờ việc gia nhập Eurozone Hy Lạp nghiễm nhiên
có được hình ảnh ổn định cao và chắc chắn trong mắt các nhà đầu tư, dễ dàng thu hútvốn đầu tư nước ngoài với mức lãi suất thấp Trong gần một thập kỷ qua, chính phủ
Hy Lạp liên tục bán trái phiếu để thu về hàng trăm tỷ đôla Số tiền này lẽ ra có thểgiúp kinh tế Hy Lạp tiến rất xa nếu chính phủ có kế hoạch chi tiêu hợp lý Tuy nhiên,chính phủ Hy Lạp đã chi tiêu quá tay (phần lớn cho cơ sở hạ tầng) mà hầu như khôngquan tâm đến các kế hoạch trả nợ dẫn đến mức nợ ngày càng tăng
2.2.2.5 Thiếu tính minh bạch và niềm tin của các nhà đầu tư
Sự thiếu minh bạch trong số liệu thống kê của Hy Lạp đã làm mất niềm tin củacác nhà đầu tư mà quốc gia này đã tạo dựng được với tư cách là một thành viên củaEurozone và nhanh chóng xuất hiện các làn sóng rút vốn ồ ạt khỏi các ngân hàng của
Hy Lạp, đẩy quốc gia này vào tình trạng khó khăn trong việc huy động vốn trên thịtrường vốn quốc tế Sự phụ thuộc vào nguồn tài chính nước ngoài đã khiến cho HyLạp trở nên rất dễ bị tổn thương trước những thay đổi trong niềm tin của giới đầu tư.Trong thời đại hội nhập kinh tế quốc tế, thì minh bạch luôn là một đòi hỏi lớn của cácnhà đầu tư Khủng hoảng nợ công của Hy Lạp do chính phủ không minh bạch các sốliệu, cố gắng vẽ nên bức tranh sáng, màu hồng về tình trạng ngân sách về những chính
Nhóm 5_CHĐ 11_K 23_UEH Trang 21
Trang 22sách sắp ban hành để khắc phục những khó khăn về ngân sách hay vấn đề kinh tế vĩ
mô do vậy, hiệu lực của những chính sách đó sẽ bị hạn chế nhiều.
2.2.3 Tác động của khủng hoảng nợ công Hy Lạp đến tình hình tài chính –
tiền tệ.
2.2.3.1 Giá trái phiếu giảm và lãi suất tăng.
Hình 2.2 Lãi suất trái phiếu chính phủ 10 năm một số nước trên thế giới
Nguồn : ECB
Từ năm 1998 đến năm 2011 Trái phiếu Chính phủ Hy Lạp có lãi trung bình5,21%, đạt mức cao lịch sử 11,39 % trong tháng 12 năm 2010 và một mức thấp kỷ lục3,23% trong tháng 9 năm 2005 Lãi suất trái phiếu của Hy Lạp thời gian gần đây tăngcao vì khủng hoảng nợ công, cán cân ngân sách thâm hụt, do đó chính phủ cần huyđộng vốn để trả nợ buộc phải phát hành trái phíếu Việc phát hành thêm trái phiếuchính phủ thì giá trái phiếu chính phủ giảm, thể hiện qua việc chính phủ phải nâng lãisuất trái phiếu thì mới huy động được người mua, theo báo cáo mới nhất thì lãi suấttrái phiếu của Hy Lạp đã lên đến 11,39%
2.2.3.2 Cắt giảm chi tiêu
Đứng trước nguy cơ vỡ nợ trong cuộc khủng hoảng nợ công trầm trọng hiện nay,chính phủ Hy Lạp buộc phải đưa ra nhiều biện pháp thắt chặt chi tiêu như tăng cácloại thuế nhằm cái thiện tình hình, mặc dù các chính sách mà theo các chuyên gia thìcác chính sách này cực kì đau đớn, và sẽ khiến cho cuộc sống của người dân trở nênkhó khăn hơn rất nhiều.Chính vì vậy, khi chính phủ Hy Lạp đưa ra các chính sách trên
đã gặp không ít những là sóng phản đối từ dân chúng
Trang 23Ti u lu n môn tài chính ti n t ểu luận môn tài chính tiền tệ ật ền tệ ệp Gia GVHD: TS Di p Gia Lu t ệp Gia ật
là 3,38 tỷ , 1.52 triệu và 699 triệu trong 3 năm tiếp theo Trong đó, thuế giá trịgia tăng (VAT) sẽ tăng từ 19% lến 23%
biệt đánh vào các công ty làm ăn với lợi nhuận lớn, bất động sản giá trị lớn
tăng một phần ba
giảm 200 triệu Euro và từ năm 2013 đến 2015, sẽ cắt giảm mỗi năm 333 triệuEuro
cửa hoặc sát nhập 1976 trường học
quỹ an sinh xã hội của Hy Lạp Tiếp đến, từ năm 2012 đến 2015 số cắt giảm lầnlượt là 1,28tỷ; 1,03 tỷ; 1,01 tỷ và 700 triệu Bên cạnh đó, độ tuổi về hưu sẽ tăng
từ 61 lên 65
nghiệp quốc doanh trong đó có OPAP, Hellenic Postbank, Hellenic Telecom.Bên cạnh đó cũng sẽ bán cổ phần tại Athens Water, công ty dầu khí HellenicPetroleum, công ty điện PPC và lender ATEbank và một số hải cảng, sân bay,đường cao tốc, quyền sở hữu đất và khai khoáng
Còn trong những năm tới, tỷ lên sa thải sẽ là cứ 5 người thì sẽ sa thải 1 người
Euro và từ 2012 đến 2015 sẽ giảm 1,81 triệu euro
2.2.3.3 Đầu tư trực tiếp FDI giảm
Chính phủ Hy Lạp đang thực hiện các biện pháp thắt lưng buộc bụng nhằm đảmbảo cam kết giảm thâm hụt ngân sách của Chính phủ Hy Lạp để nhận được sự trợ giúp
từ EU và IMF Vì thực hiện chính sách giảm chi tiêu, tăng thuế nên dẫn đến tình hìnhđầu tư FDI vào Hy Lạp giảm mạnh
Nhóm 5_CHĐ 11_K 23_UEH Trang 23
Trang 24Hình 2.3 Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Hi Lạp 2003-2009
Theo số liệu, trong thời gian 2006-2008 FDI vào Hy Lạp đã liên tục duy trì mức
độ cao hơn so với giai đoạn năm 2003 - 2005, mặc dù biến động Có nhiều yếu tố,chẳng hạn như cải thiện cơ sở hạ tầng, đã đóng một vai trò quan trọng trong sự giatăng đáng kể khối lượng FDI
Trong năm 2009 tổng luồng vốn vào Hy Lạp đạt 4,5 tỷ Euro, và luồng vốn ròngvượt quá 2,4 tỷ Euro So với năm 2008, dòng chảy FDI vào Hy Lạp sụt giảm 21% dohậu quả của cuộc khủng hoảng nợ công
2.2.3.4 Hạ bậc xếp hạng tín dụng
Ngày 15/6/2010, Tổ chức xếp hạng tín dụng Moody’s đã hạ 4 bậc xếp hạng tíndụng của Hy Lạp xuống mức không đầu tư và cảnh báo, việc Hy Lạp giảm thâm hụtngân sách sẽ tạo ra nhiều hậu quả xấu về kinh tế
Dù được EU và IFM hứa hẹn “bơm” tiền nhưng hình ảnh của Hy Lạp vẫn chưađược cải thiện trong mắt các tổ chức xếp hạng độc lập, vào 14/7/2011, hãng xếp hạngFitch đã hạ 3 bậc đối với mức tín dụng của Hy Lạp từ B+ xuống CCC, thấp nhất trongthang xếp hạng của Fitch Lý giải cho việc này, Fitch cho rằng các chương trình tài trợ
mà các tổ chức tài chính quốc tế dành cho Hy Lạp chỉ đơn thuần là tài chính chứkhông đưa ra những giải pháp đầy đủ và đáng tin cậy đồng thời vai trò của khu vực tưnhân trong các chương trình cải cách tại Hy Lạp cũng chưa thực sự rõ ràng, trong khitriển vọng kinh tế vĩ mô không lấy làm chắc chắn Chính vì vậy, mức xếp hạng CCC
Trang 25Ti u lu n môn tài chính ti n t ểu luận môn tài chính tiền tệ ật ền tệ ệp Gia GVHD: TS Di p Gia Lu t ệp Gia ật
Vào ngày 28/07/2011 Standard & Poor’s (S&P) nhận định rằng Hy lạp sẽ phásản một phần sau khi các quan chức châu âu thúc đẩy kế hoạch tái cơ cấu nợ trong góicứu trợ 2 Chính vì vậy S&P đã hạ tiếp hạng tín dụng của Hy Lạp từ CCC xuống CCchỉ trên mức vỡ nợ 2 bậc với đánh giá triển vọng tiêu cực S&P cho biết, việc cơ cấulại nợ của Chính phủ Hy Lạp có thế nói là một trao đổi gây ra hậu quả tiêu cực vì nó
có nguy cơ gây thiệt hại cho chủ nợ
2.2.3.5 Thất nghiệp tăng
Khi nền kinh tế toàn cầu mới thoát khỏi khủng hoảng, bắt đầu có dấu hiệu phụchồi do kết quả của các gói kích thích kinh tế mà chính phủ các nước đã chi ra trongnhững năm gần đây, thì việc cắt giảm chi tiêu, tăng thuế sẽ làm giảm đầu tư, kìm hãm
sự phục hồi kinh tế, làm chậm tốc độ tăng trưởng sẽ dẫn đến tình trạng việc làm giảm,thất nghiệp gia tăng Đồng thời với chính sách “thắt lưng buộc bụng”, đã khiến chotình trạng thất nghiệp ở nước này càng thêm nghiêm trọng
Từ năm 2000 đến năm 2008, tỷ lệ thất nghiệp của Hy Lạp trung bình 9.5%, tỷ lệnày đang gia tăng nhanh trong những năm gần đây và đạt mức cao nhất ở mức xấp xĩ18% trong năm 2011
Hình 2.4 Tỷ lệ thất nghiệp của Hi Lạp
2.2.3.6 Lạm phát tăng
Nhóm 5_CHĐ 11_K 23_UEH Trang 25
Trang 26Ngày 14/6/2010, phái đoàn các nhà kiểm toán Ủy ban châu Âu, Ngân hàngTrung ương châu Âu và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đã đưa ra cảnh báo Hy Lạp cầncảnh giác trước nguy cơ lạm phát tăng cao và suy thoái lâu dài Tỷ lệ lạm phát Hy Lạptăng dần từ 2008-2011, và tháng 1 năm 2011 là 5.2%.
Hình 2.5 Tỷ lệ lạm phát của Hi Lạp
2.2.4 Một số giải pháp
2.2.4.1 Nhận gói cứu trợ từ EU, IMF và hỗ trợ từ ECB
Sau khi trải qua nhiều vòng đàm phán và tranh cãi giữa các nước thành viên Liênminh châu Âu (EU), tháng 5/2010, các nhà lãnh đạo Eurozone và Quỹ Tiền tệ Quốc tế(IMF) công bố gói cứu trợ kỳ hạn 3 năm trị giá 110 tỷ EUR dành cho Hy Lạp Góicứu trợ 110 tỷ Euro (tương đương 136 tỷ USD) cũng đã được thông qua Trong đó,
EU sẽ chi 80 tỷ USD trong tổng kinh phí, trong khi số còn lại sẽ được IMF trang trải.Đây là một quyết định khá táo bạo nhưng hết sức cần thiết bởi vì cứu các nước đangkhủng hoảng nợ công cũng là cách để các nước EU tự cứu chính mình
Sau đó, vào tháng 10/2010 IMF cho Hy Lạp vay thêm 2,5 tỷ EUR (3,3 tỷ USD),nâng tổng giá trị các khoản vay khẩn cấp mà IMF dành để ngăn chặn khả năng vỡ nợcủa nước này lên 10,58 tỷ EUR (tương đương 13,98 tỷ USD)
Trong khoảng thời gian từ tháng 5/2010 và 6/2011, Ngân hàng Trung ương Châu
Âu đã mua khoảng 45 tỷ EUR trái phiếu chính phủ Hy Lạp Ngoài ra, các khoản hỗ
Trang 27Ti u lu n môn tài chính ti n t ểu luận môn tài chính tiền tệ ật ền tệ ệp Gia GVHD: TS Di p Gia Lu t ệp Gia ật
trợ thanh khoản mà ECB dành cho các ngân hàng Hy Lạp đã tăng từ mức 47 tỷ EURvào tháng 1/2010 lên mức 98 tỷ EUR vào tháng 5/2011
Vào ngày 18/05/2010, tức là trước 1 ngày Hy Lạp phải trả nợ trái phiếu đáo hạn,ECB đã cấp cho Hy Lạp khoản vốn vay 14.5 tỷ Euro Chính phủ Hy Lạp sẽ sử dụngkhoản tiền cứu trợ này để trả 8.5 tỷ Euro nợ trái phiếu đáo hạn vào ngày19/05/2010.Sau đợt này, đợt trả nợ kế tiếp sẽ diễn ra vào tháng 3/2011, với số tiền 8.6
tỷ Euro
2.2.4.2 Giảm chi tiêu công, tăng thuế
Để nhận được khoản cứu trợ từ EU và IMF, đất nước gần 11 triệu dân này đànhphải vượt lên hoàn cảnh bằng chính sách “thắt lưng buộc bụng đau đớn nhất” màtrước đây chưa từng thực hiện để giảm thâm hụt ngân sách từ 13.6% xuống còn dưới3% trong vòng ít nhất 3 năm tới, cụ thể, Hy Lạp sẽ phải thực hiện khá nhiều quy tắc
hà khắc như: Khu vực công phải cắt giảm tối thiểu 1,000 Euro các khoản thưởng nửanăm, và cắt giảm hoàn toàn đối với những người có thu nhập 3,000 Euro mỗi tháng;Cắt giảm 8% trợ cấp và 3% chi tiêu cho khu vực công; không tăng lương cho khu vựccông trong vòng 3 năm; Chi trả tối đa 800 Euro cho khoản thưởng tháng 13 và 14 đốivới những người về hưu Ngoài ra, Chính phủ Hy Lạp cũng phải nâng thuế VAT, thuếđánh vào các mặt hàng xa xỉ và các mặt hàng không khuyến khích tiêu dung để tăngnguồn thu cho ngân sách
Nhưng điều kiện hà khắc kèm theo gói cứu trợ của IMF và EU đang gặp phải sựchống đối khá quyết liệt từ người dân Hy Lạp Đây là một bước cản không nhỏ choviệc giải quyết khủng hoảng nợ công của Hy Lạp Những khoản cắt giảm này sẽ ảnhhưởng nặng nề lên một bộ phận khá lớn người dân Hy Lạp, nên việc phản đối làkhông thể tránh khỏi Ngoài ra, kinh tế Hy Lạp cũng có thể chìm sâu vào suy thoáinếu cùng một lúc phải chịu các gánh nặng này.Tuy vậy, Hy Lạp cũng không có nhiều
sự lựa chọn để giải quyết vấn đề yếu kém của nội tại ngành kinh tế
2.2.4.3 Phát hành trái phiếu
Ngày 4/3/2010, Cơ quan quản lý nợ nhà nước của Hy Lạp đã phát hành tráiphiếu thời hạn 10 năm như một biện pháp để giải quyết cuộc khủng hoảng nợ côngđang làm suy yếu vị thế của Hy Lạp trên thị trường tài chính quốc tế và gây chấn độngkhu vực đồng tiền chung châu Âu
Nhóm 5_CHĐ 11_K 23_UEH Trang 27
Trang 282.2.5 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Khi xem xét bản chất của vấn đề nợ công, nếu chỉ xét tỷ lệ nợ công /GDP thìchưa đủ bởi tỷ lệ nợ công/GDP chỉ phản ảnh một phần nào đó về mức độ an toàn hayrủi ro của nợ công Nếu xem xét tỷ lệ đó mà khẳng định nợ công an toàn thì chưa có
cơ sở Nợ công khoảng 100%GDP đủ để một nước như Hy Lạp rơi vào tình trạng phásản, trong khi đó nợ công lên tới hơn 200% như Nhật Bản vẫn được coi là an toàn bởi
vì nợ công của Nhật Bản chủ yếu là nợ vay trong nước Vì vậy, khi xét đến nợ công,điều cốt lõi không chỉ cần quan tâm tới tổng nợ, nợ hàng năm phải trả mà phải quantâm tới rủi ro và cơ cấu nợ.Nghĩa là phải tính tới khả năng trả nợ và rủi ro trong tươnglai, chứ không chỉ là con số tổng nợ trên GDP Mức độ an toàn hay nguy hiểm của nợcông không chỉ phụ thuộc vào tỷ lệ nợ/GDP mà quan trọng hơn, phụ thuộc vào tìnhtrạng phát triển của nền kinh tế
2.2.5.1 Mô hình phát triển kinh tế
Việt Nam là 1 nước đang phát triển, nên có 1 tỷ lệ cao về đầu tư là 40% GDPtrong khi chỉ có 27~30% GDP là nguồn vốn tiết kiệm của các hộ gia đình, nhiều hơn10% những nguồn vốn từ bên ngoài (FDI, ODA, những khoản vay khác) Đây là một
tỷ lệ rất cao so với trung bình các nước trong khu vực và trên thế giới Mô hình tăngtrưởng dựa quá nhiều vào nguồn vốn đầu tư bên ngoài sẽ dễ bị tổn thương nếu kinh tếthế giới ngưng trệ Do đó, giảm lượng vốn đầu tư từ bên ngoài trong cấu trúc vốnnhằm giảm sự phụ thuộc vào nguồn vốn nước ngoài và thúc đẩy phát triển dựa trênđầu tư có hiệu quả là cần thiết trong mô hình phát triển kinh tế của Việt Nam
2.2.5.2 Về hoạch định chính sách tài khoá và quản lý nợ công
Mức thâm hụt ngân sách của ta tăng tương đối cao trong năm 2009 do việc thựchiện chính sách kích cầu, do đó cần phải có các biện pháp thắt chặt tài khoá, quản lýchi tiêu tiết kiệm và hợp lý hơn nữa trong thời gian tới để kiềm chế thâm hụt ngânsách Tương tự như vậy, chính sách quản lý nợ công và kế hoạch vay để bù đắp thâmhụt ngân sách cần phải được tính toán cẩn trọng và phù hợp
Về cơ cấu nợ công, Việt Nam có điểm thuận lợi là hiện các khoản vay trongnước, mặc dù chi phí vay có cao hơn, nhưng đang chiếm tỷ trọng nhiều hơn so với cáckhoản vay nước ngoài Tuy nhiên, về lâu dài, việc khai thác thị trường vốn quốc tế là
Trang 29Ti u lu n môn tài chính ti n t ểu luận môn tài chính tiền tệ ật ền tệ ệp Gia GVHD: TS Di p Gia Lu t ệp Gia ật
việc khó tránh khỏi Do đó, ta cần phải hết sức cẩn trọng trong việc xây dựng kếhoạch vay nợ, cơ cấu nợ hợp lý để tài trợ thâm hụt ngân sách
2.2.5.3 Về công tác công bố thông tin và minh bạch chính sách
Việc công bố thông tin và minh bạch chính sách liên quan đến ngân sách và nợcông là hết sức cần thiết và quan trọng Đây là xu hướng tất yếu mà Chính phủViệtNam, và cụ thể là Bộ Tài chính phải thực hiện Tuy nhiên, công bố thông tinkhông nhất quán cũng có thể trở thành con dao hai lưỡi, gây ra tâm lý nghi ngờ và bất
ổn cho các nhà đầu tư cũng như thị trường Trường hợp của Hy Lạp là điển hình choviệc công bố thông tin không nhất quán, sai lệch trong bối cảnh đã đầy các bất ổn vànghi ngờ, làm cho khủng hoảng ở nước này càng trở nên trầm trọng Về phíaViệtNam, vấn đề nợ công hiện đang được bàn đến tương đối nhiều trong thời gian vừaqua trên các diễn đàn báo chí, trong thảo luận của các tổ chức quốc tế và các tổ chứcđịnh mức tín nhiệm với Bộ Tài chính Đặc biệt là trong kỳ họp thứ 7 của Quốc hộikhoá XII từ ngày 20/5 sẽ thảo luận về huy động vốn để triển khai dự án đường cao tốcBắc –Nam Một trong những nguyên nhân chính của mối quan tâm đặc biệt này chính
là tác động của cuộc khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp và một số nước châu Âu khác đãđưa ra tín hiệu cảnh báo đối với tình trạng nợ công trên toàn cầu Do vậy, trong thờigian tới, Bộ Tài chính cần phải đưa ra những thông điệp nhất quán, rõ ràng, có cơ sở
hỗ trợ giải thích phù hợp (với thông lệ quốc tế và tiêu chuẩn thị trường) về vấn đề nợcông, thâm hụt ngân sách, và các chính sách tài chính có liên quan của Việt Nam đểtránh gây tâm lý bất ổn và nghi ngờ cho thị trường
2.3.1 Thực trạng khủng hoảng nợ công Ireland
2.3.1.1 Tỷ lệ nợ công trên GDP
Ireland từng là nước có tốc độ tăng trưởng cao nhất châu Âu Tuy nhiên, saucuộc suy thoái toàn cầu, điều này đã thay đổi Năm 2009 trở về trước, quản lý nợ côngcủa Ireland tương đối khá hơn một số nước khác với mức nợ chính phủ trên GDP là64,8% (năm 2009) Nhưng con số này đã tăng lên 96,2% năm 2010 Nguyên nhân là
do chính phủ nước này phải bỏ tiền ra cứu trợ ngành ngân hàng, bao gồm quốc hữuhóa ngân hàng và chi tiền để tái cấp vốn cho một số ngân hàng trong nước đang ngàycàng gánh nhiều nợ xấu và đứng trước nguy cơ sụp đổ
Nhóm 5_CHĐ 11_K 23_UEH Trang 29
Trang 30Hình 2.6 Tỉ lệ nợ công trên GDP của Ireland trong những năm 2005 – 2012
Nguồn: kinhdoanh.vnexpress.net
2.3.1.2 Tình trạng thâm hụt ngân sách
Trước quý 1 năm 2008, ngân sách của chính phủ Ireland luôn ở trạng thái thặng
dư Tuy nhiên từ thời điểm đó tới nay, tình trạng ngân sách của nước này ngày càngxấu đi, theo báo cáo năm 2010 mức thâm hụt ngân sách đã lên đến con số 31,3%GDP, Ireland là nước có thâm hụt ngân sách cao nhất khu vực Eurozone
Trong suốt 3 năm tiếp theo, giá nhà giảm 50-60% khiến cho tỷ lệ nợ xấu (đặcbiệt là nợ của các công ty phát triển bất động sản) tăng đến mức báo động Hệ thốngngân hàng, theo đó bị đặt trước nguy cơ đổ vỡ khiến Chính phủ phải ra tay can thiệp,cho dù cái giá phải trả là nợ công tăng cao Khi xảy ra khủng hoảng tài chính toàn cầu,bong bóng bất động sản vỡ khiến giá trị bất động sản Ireland sụt giảm 47% trong giaiđoạn từ tháng 9-2007 đến tháng 12-2011 Giá trị tài sản thế chấp giảm, ngân hàngkhông thu hồi được nợ, dẫn đến hệ quả các ngân hàng lớn chịu thua lỗ, kéo toàn bộnền kinh tế rơi vào khủng hoảng từ năm 2008 Cùng với đó, trong đề xuất về gói hỗ
Trang 31Ti u lu n môn tài chính ti n t ểu luận môn tài chính tiền tệ ật ền tệ ệp Gia GVHD: TS Di p Gia Lu t ệp Gia ật
trợ từ EU và IMF, Chính phủ Ireland còn tiếp tục dùng một phần trong khoản tiền đó
để quốc hữu hóa hai ngân hàng lớn của nước này là Bank of Ireland và Allied IrishBank, tiếp tục bơm tiền để tái cấp vốn cho nhiều ngân hàng để tăng tỷ lệ an toàn vốncủa các tổ chức này Nợ xấu từ khu vực ngân hàng tạo thành gánh nặng nợ nần củachính phủ, nợ tư chuyển hóa thành nợ công: năm 2009 tỷ lệ nợ xấu ngân hàng là 9%GDP; năm 2010 là 8,6% và năm 2011 là 9,2%
2.3.1.3 Thâm hụt cán cân vãng lai
Ireland báo cáo thặng dư thương mại tương đương với 4.113 triệu EUR vào9/2011 Xuất khẩu vẫn là động cơ chính cho sự tăng trưởng của Ireland, Ireland đã đạtđược thặng dư thương mại tương đối cao nhất so với GDP của EU Trong thời kìkhủng hoảng nợ công hoành hành, tình hình xuất khẩu của Ireland giảm mạnh, tuynhiên cán cân thương mại vẫn ở trạng thái thặng dư Trong năm 2010 và 2011 tìnhhình đã có phần cải thiện do những nỗ lực từ phía chính phủ nước này, xuất khẩu tăngtrong năm thứ ba liên tiếp và tiếp tục giúp thúc đẩy nền kinh tế nước này trong năm
2012, đạt mức tăng cao 4,4 tỷ euro (5,68 tỷ USD)
Tuy vậy, cán cân vãng lai của Ireland vẫn thâm hụt dài hạn Cán cân vãng laithâm hụt nặng nhất vào quý I/2008, ở mức 4000 triệu EUR Đến quý I/2011 mức thâmhụt đã giảm xuống tương đương với 1031 triệu EUR Những chuyển biến xấu trongcán cân dịch vụ, cán cân thu nhập và chuyển giao vãng lai một chiều đã gây nên tìnhtrạng thâm hụt cán cân vãng lai bất chấp cán cân thương mại thặng dư
2.3.2 Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng nợ công
Nguyên nhân đầu tiên đến từ sự tăng trưởng trong giai đoạn trước 2008 củaIreland là tăng trưởng không bền vững, điển hình là việc năng suất lao động bất ngờsụt giảm thê thảm sau năm 2002
Nguyên nhân chính là sự mở rộng quá nhanh trong tín dụng của Ireland đã tạonên bong bóng tài sản, đẩy danh mục đầu tư quốc gia vượt quá quy mô của nền kinh
tế Từ năm 2003 đến nay, nợ nước ngoài của Ireland tăng nhanh liên tục Trong cơ cấu
nợ của Ireland, nợ của các tổ chức tài chính tiền tệ luôn chiếm tỉ trọng lớn nhất, nhữngkhoản nợ này cũng tăng rất nhanh trong giai đoạn 2003-2008 do hệ thống ngân hàngcủa nước này quá dễ giải trong việc phát hành các khoản cho vay (nhất là trong lĩnhvực bất động sản.) Khi thị trường BĐS sụp đổ, các ngân hàng lâm vào tình trạng khó
Nhóm 5_CHĐ 11_K 23_UEH Trang 31