1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

biện pháp giảm giá thành điện năng tại công ty cổ phần nhiệt điện phả lại

77 305 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sản phẩm điện năng là loại sản phẩm đặc biệt, không có sản phẩm dởdang, lại được nhà nước quy định giá bán đầu ra, nên việc giảm bớt chi phí hạgiá thành sản phẩm trong quá trình sản xuất

Trang 1

Sản phẩm điện năng là loại sản phẩm đặc biệt, không có sản phẩm dởdang, lại được nhà nước quy định giá bán đầu ra, nên việc giảm bớt chi phí hạgiá thành sản phẩm trong quá trình sản xuất kinh doanh là điều quan trọng cầnthiết được coi là nền tảng cơ bản để đứng vững trong cơ chế thị trường, đảmbảo cho ngành điện đạt lợi nhuận cao

Trong đồ án này, đề tài của em là “Biện pháp giảm giá thành điện năngtại Công ty Cổ phần Nhiệt điện Phả Lại” Đó chính là một trong những mụctiêu phát triển của ngành điện trong giai đoạn này

Để đưa ra những biện pháp giảm giá thành thì trước hết ta cần phảinắm được những vấn đề cơ bản về giá thành cũng như việc hạch toán giáthành của bất kỳ một loại sản phẩm nào đó mà ở đây điện năng là mộttrong những sản phẩm quan trọng của ngành công nghiệp Vì vậy ta cầnphải so sánh cũng như việc tìm hiểu sự biến động của giá thành để có thể

Trang 2

đưa ra được những yếu tố chính làm cho giá thành tăng để từ đó có biệnpháp khắc phục cũng như hạn chế.

Nội dung của Đồ án gồm 3 phần chính :

Phần 1 : Cơ sở phương pháp luận về chi phí sản xuất - giá thành sản

phẩm và các biện pháp hạ giá thành điện năng

Phần 2 : Phân tích sự biến động của giá thành và các nhân tố ảnh

hưởng đến giá thành điện năng tại Công ty cổ phần Nhiệt điệnPhả Lại

Phần 3 : Đề xuất các biện pháp hạ giá thành điện năng tại Công ty Cổ

phần Nhiệt điện Phả Lại

Do thời gian cũng như trình độ còn hạn chế, nên đề tài không tránhkhỏi những thiếu sót, em xin chân thành cảm ơn Thầy giáo hướng dẫn chính

cho bản đồ án này TS Phạm Cảnh Huy cùng toàn thể các thầy, cô giáo trong

khoa và các cán bộ thuộc Công ty Cổ phần Nhiệt điện Phả Lại để hoàn thànhbản đồ án tốt nghiệp này

Em cũng mong được sự giúp đỡ và góp ý của các thầy, cơ và các cán

bộ công nhân viên trong Công ty Cổ phần Nhiệt điện Phả Lại để chất lượngbản đồ án được nâng cao cả về mặt lý luận và thực tiễn

Sinh viên

Trịnh Mạnh Hùng

Trang 3

PHẦN I

CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VỀ CHI PHÍ – GIÁ THÀNH

VÀ CÁC BIỆN PHÁP HẠ GIÁ THÀNH ĐIỆN NĂNG

I Các khái niệm cơ bản về chi phí sản xuất – giá thành sản phẩm và

phân tích sự biến động của giá thành sản phẩm

I.1 Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

I.1.1 Chi phí sản xuất

a Khái niệm

Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao độngsống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã chi ra để tiến hành các hoạtđộng sản xuất trong thời kỳ nhất định

Để tiến hành các hoạt động sản xuất, doanh nghiệp cần phải có 3 yếu tố

cơ bản

- Tư liệu lao động như nhà xưởng, máy móc, thiết bị và những TSCĐkhác.

- Đối tượng lao động như nguyên vật liệu, nhiên liệu

- Lao động của con người

Quá trình sử dụng các yếu tố cơ bản trong quá trình sản xuất cũng đồngthời là quá trình doanh nghiệp phải chi ra những chi phí sản xuất tương

ứng Tương ứng với việc sử dụng tài sản cố định là chi phí về khấu hao tài sản

cố định, tương ứng với việc sử dụng nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu lànhững chi phí về nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, tương ứng với việc sử dụnglao động là chi phí về tiền công, tiền trích bảo hiểm xã hội, tiền trích bảo hiểm

y tế Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá và cơ chế hạch toán kinh doanh,

Trang 4

mọi chi phí đều được thực biểu hiện bằng tiền, trong đó chi phí về tiền công,tiền trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế là biểu bằng tiền của hao phí về laođộng sống, còn chi phí về khấu hao tài sản cố định, chi phí về nguyên liệu, vậtliệu, nhiên liệu là biểu hiện bằng tiền của hao phí về lao động vật hoá.

Một doanh nghiệp sản xuất ngoài những hoạt động có liên quan đếnhoạt động sản xuất ra sản phẩm hoặc lao vụ, còn có những hoạt động kinhdoanh và hoạt động khác không có tính chất sản xuất như hoạt động bán hàng,hoạt động quản lý, các hoạt động mang tính chất sự nghiệp chỉ những chiphí để tiến hành các hoạt động sản xuất mới coi là chi phí sản xuất

Chi phí sản xuất của doanh nghiệp phát sinh thường xuyên trong suốtquá trình tồn tại và hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, nhưng để phục vụcho quản lý và hạch toán kinh doanh, chi phí sản xuất được tính toán theotừng thời kỳ: hàng tháng, hàng quý, hàng năm phù hợp với kỳ báo cáo Chỉnhững chi phí sản xuất mà doanh nghiệp phải bỏ ra trong kỳ mới được tínhvào chi phí sản xuất trong kỳ

I.1.2 Phân loại chi phí sản xuất

Tùy vào mục đích nghiên cứu về chi phí mà có những quan điểm tiếpcận khác nhau trong việc nhận dạng các chi phí phát sinh, Các quan điểm tiếpcận này hoàn toàn phụ thuộc vào mục tiêu của đối tượng tiếp cận mà dẫn tớicách nhìn nhận chi phí không hoàn toàn giống nhau Mặt khác, chi phí hoạtđộng của doanh nghiệp trong thời kỳ xem xét không tính tới chi phí đầu tưliên quan tới chi phí mua sắm các tài sản cố định mới

a Phân loại theo yếu tố chi phí

Việc phân loại theo yếu tố chi phí căn cứ vào nội dung kinh tế của chiphí, tức là căn cứ vào chi phí phát sinh tương ứng với bản chất nguồn lực sửdụng Theo chế độ kế toán hiện hành, cách phân loại này có 5 yếu tố chi phínhư sau :

Trang 5

oChi phí nguyên vật liệu

Là toàn bộ các chi phí phát sinh để mua sắm các đối tượng lao động cầnthiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ xem xét

oChi phí nhân công

Là các chi phí liên quan đến nguồn lực lao động mà doanh nghiệp sửdụng trong kỳ xem xét bao gồm lương và các khoản kèm theo lương (thưởng,bảo hiểm…)

oChi phí khấu hao tài sản cố định

Là khoản chi phí liên quan đến việc sử dụng các TSCĐ của doanh nghiệptrong kỳ xem xét Khoản này được khấu trừ khỏi thu nhập trước khi tính thuếthu nhập nhưng là khoản chi phí “ảo” Lý do là khoản này không phải làkhoản thực chi của doanh nghiệp và được xem như một phần tạo ra tích lũycủa doanh nghiệp

oChi phí dịch vụ mua ngoài

Bao gồm các khoản thanh toán cho các yếu tố mua ngoài mà doanhnghiệp thực hiện như chi phí nhiên liệu – năng lượng, thuê ngoài sửa chữa,kiểm toán…

b Phân loại theo khoản mục chi phí

Cách phân lọai này căn cứ vào công dụng thực tế của chi phí tương ứngvới quán trình phát sinh Cách phân loại được áp dụng trong hệ thống kế toán

Trang 6

tài chính Theo đó có 5 khoản mục liên quan đến hoạt động sản xuất kinhdoanh được xem xét là :

o Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Là toàn bộ các chi phí phát sinh để mua sắm các đối tượng lao động cầnthiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ xem xét

o Chi phí nhân công trực tiếp

Là chi phí cho lao động tham gia trực tiếp vào quá trình tạo ra sản phẩm

o Chi phí sản xuất chung

Bao gồm chi phí nhiên liệu – năng lượng dùng trong sản xuất, lương vàcác khoản kèm theo của cán bộ quản lý trực tiếp, khấu hao TSCĐ dùng trongsản xuất…, phát sinh tại các bộ phận sản xuất

o Chi phí bán hàng

Gồm lương của nhân viên bán hàng, chi phí marketing, khấu hao TSCĐdùng trong bán hàng (cửa hàng, phương tiện vận tải…) và các yếu tố muangoài liên quan

o Chi phí quản lý doanh nghiệp

Gồm lương của cán bộ quản lý doanh nghiệp, khấu hao TSCĐ dùngtrong quản lý (nhà văn phòng, máy tính…) và các yếu tố mua ngoài liênquan…

Tổng các khoản mục từ 1 đến 3 ứng với số sản phẩm đã hoàn thành vànhập kho (hoặc tiêu thụ) được gọi là giá thành sản xuất Giá thành sản xuấtcủa một sản phẩm đã bán được gọi là giá vốn bán hàng Còn các khoản mục 4

và 5 được gọi là chi phí giai đoạn Sự phân biệt này liên quan đến quá trìnhhach toán chi phí và xác định kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳxem xét

c Các cách phân loại khác

o Phân loại theo mối quan hệ với quy mô sản xuất

Trang 7

Trong mối quan hệ với quy mô, các chi phí hoạt động của doanhnghiệp được chia làm 2 loại :

Chi phí biến đổi là các chi phí mà tổng giá trị của nó biến động tỷ lệ với

sự thay đổi quy mô sản xuất

Chi phí cố định là các chi phí mà tổng giá trị của nó có tính ổn địnhtương đối khi quy mô sản xuất thay đổi trong một phạm vi nhất định

Theo cách phân loại này, có thể thực hiện được việc dự báo về sự biếnđộng của chi phí khi quy mô hoạt động thay đổi Cách phân loại này tạo ramột công cụ rất tốt cho việc kiểm soát chi phí và thực hiện các hoạch định tàichính của doanh nghiệp

o Phân loại theo quan hệ với sự tồn tại của sản phẩm (hoặc theo phương

pháp tính chi phí và giá thành)

 Người ta chia làm hai loại chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp:

Chi phí trực tiếp: là những chi phí phát sinh một cách riêng biệt cho một

hoạt động cụ thể của doanh nghiệp Các chi phí này có thể tính thẳng vào giáthành một cách trực tiếp mà không ảnh hưởng đến việc sản xuất sản phẩm khác

Chi phí gián tiếp: (còn gọi là chi phí chung hay chi phí tổng hợp) là

những chi phí có liên quan đến việc sản xuất nhiều loại sản phẩm dịch vụ Chiphí gián tiếp được tính vào giá mỗi loại sản phẩm, dịch vụ một cách gián tiêpbằng phương pháp phân bổ

Trên góc độ của nhà quản lý, chi phí trực tiếp thường phát sinh và mất

đi của một hoạt động sản xuất_kinh doanh cụ thể Trái lại,các chi phí giántiếp,không phát sinh và mất đi cùng với sự phát sinh và mất đi của một hoạtđộng sản xuất_kinh doanh cụ thể (ví dụ: chi phí khấu hao tài sản cố định, chiphí quản lý doanh nghiệp….)

o Phân loại chi phí theo lĩnh vực hoạt động kinh doanh

Trang 8

Căn cứ vào việc tham gia của chi phí vào hoạt động kinh doanh, toàn

bộ hao phí được chia làm 3 loại:

 Chi phí sản xuất kinh doanh: bao gồm những chi phí liên quan đếnhoạt động sản xuất, tiêu thụ và quản lý hành chính, quản trị kinh doanh

 Chi phí hoạt động tài chính: gồm những chi phí liên quan đến hoạtđộng về vốn và đầu tư tài chính

 Chi phí bất thường: gồm những chi phí ngoài dự kiến có thể do chủquan hay khách quan mang lại:

Cách phân loại này giúp cho việc phân định chi phí được chính xác,phục vụ cho việc tính giá thành, xác định chi phí và kết quả của từng hoạtđộng kinh doanh đúng đắn

o Phân loại chi phí theo chức năng trong sản xuất kinh doanh:

Dựa vào chức năng hoạt động trong qúa trình kinh doanh và chi phíliên quan đến việc thực hiện các chức năng mà chia chi phí sản xuất - kinhdoanh làm 3 loại:

 Chi phí thực hiện chức năng sản xuất: gồm những chi phí phát sinhliên quan đến việc chế tạo sản phẩm hay thực hiện các lao vụ, dịch vụ trongphạm vi phân xưởng

 Chi phí thực hiện chức năng tiêu thụ: gồm tất cả những chi phí phátsinh liên quan đến việc chế tạo sản phẩm hay thực hiện các lao vụ, dịch vụtrong phạm vi phân xưởng

 Chi phí thực hiện chức năng tiêu thụ: gồm tất cả những chi phí quản

lý kinh doanh, hành chính và những chi phí chung phát sinh liên quan đếnhoạt động của doanh nghiệp

Trang 9

Cách phân loại này là cơ sở để xác định giá thành công xưởng, giáthành toàn bộ, xác định trị giá hàng tồn kho, phân biệt được chi phí theo từngchức năng cũng như làm căn cứ để kiểm soát và quản lý chi phí.

d Mối quan hệ của các cách phân loại chi phí

Giữa khoản mục và theo yếu tố chi phí:

Bảng 1-1: Quan hệ giữa các khoản mục và yếu tố chi phí

Giữa khoản mục và quan hệ với quy mô sản xuất:

Bảng 1-2: Quan hệ giữa khoản mục và quy mô sản xuất.

Giữa quy mô và quan hệ với sự tồn tại của sản phẩm

Bảng 1-3: Quan hệ giữa quy mô và sự tồn tại của sản phẩm

Trang 10

Chi phí biến đổi chi phí cố định

Cần nhớ là chi phí phát sinh trong một thời kỳ hoạt động của doanhnghiệp là một giá trị duy nhất Các cách tiếp cân khác nhau sẽ cho các loại chiphí khác nhau nhưng tổng số các loại chi phí theo cách phân loại thì như nhau

và bằng với chi phí phát sinh trong thời kỳ

1.2 Giá thành sản phẩm

a Khái niệm

Giá thành sản phẩm, dịch vụ là toàn bộ những chi phí tính bằng tiền để sảnxuất và tiêu thụ một khối lượng sản phẩm hoặc dịch vụ nhất định.Đây là một chỉtiêu phản ánh toàn diện chất lượng công tác của doanh nghiệp bao gồm các mặt:trình độ công nghệ,trình độ tổ chức sản xuất,trình độ quản lý v.v…

Đối tượng tính giá thành có thể là sản phẩm, dịch vụ hoàn thành, cũng

có thể là bán thành phẩm, là chi tiết, cụm chi tiết sản phẩm, nhóm sản phẩm,

đơn đặt hàng v.v…Nói tóm lại, đó là loại sản phẩm sản xuất cụ thể mà yêu

cầu quản lý cần xác định được giá thành và giá đơn vị sản phẩm để định giá

bán và tính toán ra kết quả kinh doanh hoặc đánh giá được kết quả hoạt độngcủa bôj phận sản xuất

Kỳ tính giá thành là khoảng thời gian kế toán hệ thống số liệu về chi phí sản xuất và khối lượng sản phẩm, dịch vụ hoàn thành và tiến hành tính toán giá thành cho khối lượng sản phẩm, dịch vụ đó Kỳ tính giá có thể định

kỳ: hàng tháng, hàng quý, nửa năm một lần hoặc hàng năm (đối với doanhnghiệp sản xuất liên tục, mặt hàng ổn định) mà cũng có thể không định kỳ(khi nào chu kỳ sản xuất kết thúc thì kế toán tiến hành tính giá thành nhưtrường hợp sản xuất theo đơn đặt hàng, sản xuất đơn chiếc, hàng loạt ít, sảnxuất không liên tục, mặt hàng thay đổi)

b Ý nghĩa của giá thành sản phẩm

Trang 11

Trong hoạt động kinh tế, giá thành sản phẩm là một trong những chỉtiêu chất lượng chủ yếu, đánh giá trình độ hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp.

Trong phạm vi xã hội, giá thành hạ là cơ sở để giá bán sản phẩm rẻhơn Đời sống văn hoá tinh thần của các thành viên trong xã hội được tănglên, tích luỹ tăng

Trong phạm vi doanh nghiệp, giá thành sản phẩm càng hạ thì hiệu quảhoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp càng cao, đem lại mọt nguồnlợi nhuận đáng kể cho doanh nghiệp Chính nguồn lợi nhuận đáng kể đó là cơ

sở cho các doanh nghiệp mới đưa vào hoạt động thu hồi vốn nhanh chóng.Giá thành hạ lợi nhuận cao đối với các doanh nghiệp đã thu hồi xong vốn, lợinhuận còn là nguồn để các doanh nghiệp trích lập các quỹ doanh nghiệp,không ngừng mở rộng quy mô sản xuất, khuyến khích đời sống vật chất, vănhoá tinh thần cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp

Giá thành sản phẩm có quan hệ chủ yếu với giá bán sản phẩm Việctính đúng, tính đủ các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm

là điều cần thiết quan trọng đối với doanh nghiệp Quá trình tính toán giáthành sản phẩm không đủ sẽ làm doanh nghiệp bị thâm hụt vốn Việc tính giáthành sai lệch quá cao so với thực tế, dẫn đến giá bán sản phẩm phải cao theo,như vậy sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất ra không cạnh tranh được trênthị trường tiêu thụ hoặc tiêu thụ rất chậm

Vì vậy giá thành sản phẩm là cơ sở cần thiết, quan trọng, giúp chodoanh nghiệp định giá hàng bán và là cơ sở để hoạch định chiến lược giá

Tính đúng, tính đủ chi phí sản xuất vào giá thành sản phẩm, trên cơ sởkhông nhừng áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật, hoàn thiện, tinh giảm

bộ máy quản lý tổ chức sản xuất, động lực chi phối giá bán sản phẩm trên thịtrường giảm xuống, là nhân tố quan trọng thúc đẩy việc tăng sản lượng tiêuthụ trên thị trường, thông qua nhân tố giá cả

c Các loại giá thành sản phẩm

Trang 12

Để phục vụ công tác quản lý giá thành, đáp ứng các yêu cầu về công tác

kế hoạch và xây dựng giá cả sản phẩm và hạch toán kinh tế, trong các cơ sởsản xuất đã hình thành các loại giá thành sản phẩm khác nhau

*Phân loại giá thành theo thời gian và cơ sở số liệu tính giá thành

Giá thành sản xuất

Bao gồm:

- Chi phí nguyên liệu trực tiếp

- Chi phí nhân công trực tiếp

- Chi phí sản xuất chung tính cho những sản phẩm, công việc đã hoànthành

Giá thành sản xuất được sử dụng ghi sổ cho sản phẩm đã hoàn thành,nhập kho hoặc giao cho khách hàng.Giá thành sản xuất sản phẩm cũng là căn

cứ để tính toán giá trị hàng tồn kho, giá vốn hàng bán và lãi gộp ở doanhnghiệp sản xuất

Giá thành phân xưởng, giá thành công xưởng và giá thành toàn bộ

Giá thành phân xưởng là tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhân

công trực tiếp và chi phí sản xuất chung Đó cũng chính là giá thành sản xuất

Giá thành công xưởng là giá thành phân xưởng cộng với chi phí quản lý Giá thành toàn bộ bao gồm giá thành công xưởng và chi phí tiêu thụ sản

phẩm

Giá thành kế hoạch và giá thành thực tế

Giá thành kế hoạch: là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở chi phí

sản xuất kế hoạch và sản lượng kế hoạch Việc tính giá thành kế hoạch do bộphận kế hoạch doanh nghiệp thực hiện và được tiến hành trước khi bắt đầuquá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm Giá thành kế hoạch của sản phẩm làmục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là căn cứ để so sánh, phân tích, đánh giátình hình thực hiện kế hoạch giá thành và kế hoạch hạ giá thành của sản phẩm

Trang 13

Giá thành thực tế: là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở số liệu

chi phí sản xuất thực tế đã phát sinh và tập hợp được trong thời kỳ và sảnlượng sản phẩm thực tế đã sản xuất ra trong kỳ Giá thành sản phẩm thực tếchỉ có thể tính toán được sau khi kết thúc quá trình sản xuất, chế tạo sảnphẩm Giá thành sản phẩm thực tế là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kếtquả phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tổ chức và sử dụng các giải pháp

về tổ chức, kinh tế, kỹ thuật để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm, là cơ

sở để xác định kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Giá thành định mức

Giá thành định mức là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở các định

mức chi phí hiện hành và chỉ tính cho một đơn vị sản phẩm Việc tính giáthành định mức cũng được thực hiện trước khi tiến hành quá trình sản xuấtnhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

* Phân loại giá thành theo phạm vi tính toán

Theo phạm vi tính toán giá thành được phân loại theo các loại như sau:

- Giá thành sản xuất: bao gồm các chi phí sản xuất như nguyên, nhiênvật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung tính cho nhữngsản phẩm công việc lao vụ đã hoàn thành Giá thành sản xuất của sản phẩmcông việc lao vụ đã hoàn thành Giá thành sản xuất của sản phẩm được ghi sổcho những sản phẩm đã hoàn thành nhập kho hoặc giao cho khách hàng Giáthành sản xuất của sản phẩm là căn cứ để tính giá vốn hàng bán và lãi gộp ởcác doanh nghiệp sản xuất

- Giá thành công đoạn: khi quá trình sản xuất sản phẩm phải trải quanhiều công đoạn nối tiếp nhau, thì việc tính giá thành sản xuất trong phạm vitừng công đoạn nhằm quản lý giá thành cho từng bộ phận, từng công đoạn sảnxuất nhất định

Trang 14

- Giá thành toàn bộ: bao gồm giá thành sản xuất sản phẩm, chi phí tiêuthụ, chi phí quản lý doanh nghiệp.

Giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hoá chỉ được tính khi sản phẩm đó đãđược tiêu thụ Giá thành toàn bộ sản phẩm là căn cứ để xác định kết quả sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp

*Phân loại giá thành theo quy mô tính giá thành

Giá thành đơn vị là giá thành tính cho một loại sản phẩm nhất định,theo

một đơn vị nhất định Giá thành đơn vị sản phẩm dựng để so sánh,đối chiếugiữa giá thành kế hoạch với giá thành thực tế, hoặc đối chiếu giữa giá thànhcủa doanh nghiệp với giá thành cùng loại sản phẩm của các doanh nghiệp khác,hoặc đối chiếu giữa kỳ kế hoạch với kỳ báo cáo Trên cơ sở đó, tiến hành phântích, tìm ra những nhân tố ảnh hưởng đến việc hạ giá thành sản phẩm

Tổng giá thành sản lượng hàng hóa là toàn bộ chi phí bỏ ra để tiến hành

sản xuất, tiêu thụ sản phẩm tính cho toàn bộ sản lượng hàng hóa sản xuấttrong kỳ Tổng giá thành cho biết toàn bộ chi phí bỏ ra trong kỳ và tỷ trọngcủa từng loại chi phí có căn cứ để phân tích, tìm ra các biện pháp hạ giá thànhsản phẩm

Tóm lại, giá thành sản phẩm là chỉ tiêu quan trọng quyết định hiệu quảsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

1.2.1 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai khái niệm riêng biệt cónhững mặt khác nhau:

- Chi phí sản xuất luôn gắn liền với từng thời kỳ đã phát sinh ra chúng, còngiá thành sản phẩm lại gắn với một khối lượng sản phẩm, dịch vụ đã hoàn thành

- Chi phí phát sinh trong doanh nghiệp được phân thành các yếu tố chiphí, có cùng một nội dung kinh tế Chúng không nói rõ địa điểm và mục đích

bỏ ra chi phí Còn những chi phí nào phát sinh, nói rõ địa điểm và mục đích

Trang 15

bỏ ra chi phí đó thì chúng được tập hợp lại thành các khoản mục để tính toángiá thành sản phẩm, dịch vụ.

- Chi phí sản xuất trong kỳ bao gồm cả những chi phí đã trả trước của kỳnhưng chưa phân bổ cho kỳ này và những chi phí phải trả kỳ trước, nhưng kỳnày mới phát sinh thực tế, nhưng không bao gồm chi phí trả trước của kỳtrước phân bổ cho kỳ này và những chi phí phải trả cho kỳ này nhưng thực tếchưa phát sinh Ngược lại, giá thành sản phẩm lại chỉ liên quan đến chi phíphải trả trong kỳ và chi phí trả trước được phân bổ trong kỳ

- Chi phí sản xuất trong kỳ không chỉ liên quan đến những sản phẩm đãhoàn thành mà còn liên quan đến cả sản phẩm còn đang dở dang cuối kỳ vàsản phẩm hỏng nhưng lại liên quan đến chi phí sản xuất của sản phẩm dởdang kỳ trước chuyển sang

Tuy nhiên chi phí sản phẩm và giá thành sản phẩm có mối quan hệ rấtmật thiết với nhau vì nội dung cơ bản của chúng đều là biểu diễn những chiphí doanh nghiệp đã bỏ ra cho hoạt động sản xuất kinh doanh Chi phí sảnxuất trong kỳ là căn cứ là cơ sở để tính giá thành sản phẩm, dịch vụ, đã hoànthành, sự tiết kiệm hoặc lãng phí của doanh nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp đếngiá thành sản phẩm Vì vậy,quản lý giá thành phải gắn liền với quản lý chi phísản xuất kinh doanh

Trang 16

Tuỳ theo đặc điểm tổ chức sản xuất, quy trình công nghệ mà mỗi doanhnghiệp có thể áp dụng phương pháp tính giá thành trực tiếp hoặc phân bước.

* Phương pháp tính giá thành trực tiếp:

Phương pháp này còn được gọi là phương pháp tính giá thành giản đơn.Phương pháp này được áp dụng thích hợp với những sản phẩm, công việc cóquy trình công nghệ sản xuất giản đơn khép kín, tổ chức sản xuất nhiều, chu

kỳ sản xuất ngắn và xen kẽ liên tục, đối tượng tính giá thành phù hợp với đốitượng tập hợp chi phí

Nếu doanh nghiệp chỉ sản xuất một loại sản phẩm, sản phảm sản xuất

ra không có sản phẩm dở dang hoặc sản phẩm dở dang quá ít không cần đánhgiá sản phẩm dở dang thì toàn bộ chi phí sản xuất đã được tập hợp trong kỳ làtổng giá thành sản phẩm sản xuất của kỳ đó

Công thức tính giá thành toàn bộ và giá thành đơn vị như sau:

Z = C

 Giá thành đơn vị sản phẩm là:

z = Trong đó:

Z: Giá thành toàn bộ sản phẩmC: Tổng chi phí sản xuất được tập hợp theo đối tượng tương ứngQ: Số lượng sản phẩm sản xuất ra

z: Giá thành đơn vị sản phẩm

Trang 17

Trong trường hợp sản phẩm dở dang chênh lệch đáng kể giữa đầu kỳ vàcuối kỳ thì giá thành toàn bộ sản phẩm được tính theo công thức sau:

Z = C + Dđk - Dck

Giá thành đơn vị sản phẩm được tính theo công thức:

z = Trong đó:

Dđk: Chi phí sản phẩm dở dang đầu kỳ

Dck:Chi phí sản phẩm dở dang cuối kỳTrong trường hợp bên cạnh sản phẩm chính, đơn vị còn có sản phẩmphụ, thì khi tính giá thành sản phẩm chính phải trừ bớt đi giá trị sản phẩmphụ, lúc này giá thành toàn bộ sản phẩm được tính theo công thức:

Z = C + Dđk - Dck - Cp

Giá thành đơn vị sản phẩm:

z = Trong đó: Cp là giá trị sản phẩm phụ

Trường hợp đơn vị sản xuất một mặt hàng, nhưng có nhiều kích cỡkhác nhau, mẫu mã khác nhau Người ta có thể chia sản phẩm thành các nhóm

và quy các nhóm ra thành sản phẩm tiêu chuẩn, tính giá thành đơn vị tiêuchuẩn cho từng nhóm, rồi quy đổi lại theo hệ số để ra giá thành đơn vị củanhóm đó

* Phương pháp tính giá thành phân bước

Trang 18

Phương pháp này được áp dụng trong trường hợp công nghệ chế biếnphức tạp kiểu liên tục, sản phẩm dở dang nhiều, địa bàn sản xuất rộng, cónhiều biến động, không ổn định.

Phương pháp tính giá thành phân bước có hai phương pháp tính đó là tínhđến giá thành bán thành phẩm và không tính đến giá thành bán thành phẩm

- Phương pháp tính giá thành phân bước có tính đến giá thành bánthành phẩm Với phương pháp này thì kế toán phải xác định được giá trị củabán thành phẩm của công đoạn trước được chuyển sang công đoạn tiếp theo,tuần tự cho đến công đoạn cuối cùng Chi phí sản xuất tập hợp được trongcông đoạn tiếp theo được dựng để tính giá trị bán thành phẩm ở công đoạnnày Việc tính toán cứ tiếp tục được thực hiện cho đến khi tổng giá thành vàgiá thành đơn vị của sản phẩm tại công đoạn cuối cùng được xác định

Mô hình tính toán giá thành của phương pháp này như sau:

=>

Giá thành BTP bước 1

+

CP chế biến bước 2

=>

Giá thành BTP bước 2

+

CP chế biến bước n

=

Giá thành toàn bộ SP

- Phương pháp tính giá thành phân bước không tính đến giá thành bánthành phẩm Phương pháp này thích hợp đối với doanh nghiệp có đối tượngtính giá thành là toàn bộ sản phẩm của công đoạn cuối cùng Kế toán khôngcần tính giá trị của bán thành phẩm trong từng công đoạn mà tính giá thànhthành phẩm bằng cách tổng hợp chi phí nguyên vật liệu chính và các chi phíchế biến khác trong các giai đoạn công nghệ Phương pháp này còn gọi làphương pháp kết chuyển tuần tự song song

Mô hính tính toán giá thành của phương pháp này như sau :

CP

nguyên

CP chế CP chế CP chế

Giá thành

Trang 19

* Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng

Đây là phương pháp thích hợp cho sản phẩm có quy trình công nghệsản xuất phức tạp kiểu liên tục hoặc song song tổ chức sản xuất đơn chiếchàng loạt theo đơn đặt hàng, chu kỳ sản xuất dài và riêng rẽ Đối tượng kếtoán tập hợp chi phí sản xuất là từng phân xưởng sản xuất và từng đơn đặthàng hoặc từng loạt hàng được sản xuất ở phân xưởng đó Đối tượng tính giáthành là thành phẩm của từng đơn đặt hàng hoặc từng loạt hàng Kỳ tính giáthành phù hợp với chu kỳ sản xuất Khi nào sản xuất hoàn thành đơn đặt hangthì kế toán mới tính giá thành cho các thành phẩm theo đơn đặt hàng

* Phương pháp định mức

Phương pháp này được áp dụng trong các doanh nghiệp đã ổn định sảnxuất, đã xây dựng được hệ thống định mức các chi phí sản xuất cho các loạisản phẩm hay chi tiết, bộ phận sản phẩm khác nhau Trên cơ sở hệ thống địnhmức tiêu hao lao động, vật tư hiện hành và dự toán về chi phí sản xuất chung,

kế toán sẽ xác định giá thành định mức của từng loại sản phẩm, đồng thời hạctoán riêng các thay đổi, các chênh lệch so với định mức phát sanh trong quátrình sản xuất sản phẩm và phân tích toàn bộ chi phí thực tế phát sinh trong kỳtheo 3 loại : theo định mức, chênh lệch do thay đổi định mức và chênh lệch sovới định mức Từ đó kế toán hiện hành xác định giá thành thực tế của sảnphẩm trên cơ sở các định mức hiện hành ngay từ đầu kỳ

đm SP

+/-Chênhlệch sovới đm

về lượngtiêu thụ

+/-Chênhlệch

so với

đm vềđơngiá

Trang 20

* Phương pháp tổng cộng chi phí

Phương pháp này thường được áp dụng trong các doanh nghiệp mà quátrình sản xuất sản phẩm được thực hiện ở nhiều bộ phận, nhiều giai đoạn côngnghệ khác nhau, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là các bộ phận, chi tiết sảnphẩm hoặc các giai đoạn công nghệ hay bộ phận sản xuất Phương pháp nàyđược áp dụng phổ biến trong các doanh nghiệp khai thác, dệt nhuộm, cơ khíchế tạo, may mặc… Theo phương pháp này, giá thành sản phẩm được xácđịnh bằng cách cộng chi phí sản xuất của các bộ phận, chi tiết sản phẩm theocông thức :

II Chi phí – Giá thành sản xuất điện năng

* Chi phí sự cố

Sự cố xảy ra khi các phương tiện bình thường không đáp ứng được nhucầu phụ tải Nhóm lại gồm có:

o Các nhà máy nhiệt điện vận hành trong điều kiện bình thường

o Các nhà máy nhiệt điện đã ngừng hoạt động nhưng vẫn được sửdụng như một bộ phận dự phòng

Trang 21

o Các nhà máy nhiệt điện ngoài hệ thống.

Sự cố có thể biểu hiện dưới hai hình thức mà mức độ thiệt hại đối vớitừng loại là khác nhau :

oSử dụng các biện pháp đặc biệt cho các nhà máy nhiệt điện làm việcquá tải, kêu gọi sự hỗ trợ của các nhà máy điện ngoài hệ thống, nhập khẩuđiện, thực hiện điều khoản có thể cắt một vài hợp đồng giảm điện áp

oNếu các biện pháp đặc biệt trên đó được áp dụng mà vẫn không đápứng được nhu cầu thì ít nhiều phải cắt điện ở một số khu vực lớn

Từ đó người ta đưa ra khái niệm “độ sâu” sự cố (ký hiệu là f) để đánh

giá mức độ sự cố của hệ thống trong một thời kỳ nhất định, f được xác địnhtheo công thức

Tổng lượng điện năng không đáp ứng được trong

Kỳ bởi các thiết bị sản xuất bình thường

f =

Tổng nhu cầu điện trong kỳNhư vậy việc đánh giá trực tiếp chi phí sự cố dựa và những thiệt hại doviệc ngưng cung cấp điện gây ra đối với người tiêu dùng Mức độ thiệt hạiphụ thuộc đồng thời vào bản chất của sự cố (sụt áp hay cắt điện), thời giankéo dài sự cố, thời điểm kéo dài sự cố và đặc điểm hộ thiêu thụ

* Chi phí và giá thành nhà máy điện

o Chi phí nhiên liệu :

C nl = B x g nl = b x E 0 x g nl

B : khối lượng nhiên liệu tiêu hao

b : là suất tiêu hao nhiên liệu để sản xuất một đơn vị điện năng

Trang 22

gnl : đơn giá nhiên liệu.

E0 : lượng điện năng sản xuất

o Chi phí khấu hao :

Ptb : công suất trang bị

n : hệ số biên chế cho một đơn vị công suất trang bị

o Chi phí khác :

C khác = C ql + C sc + C vlf

o Tổng chi phí sản xuất :

C sx = C nl + C kh + C tl + C khác

o Giá thành sản xuất ( hạch toán để định giá bán ) :

Trong sản xuất điện, không có hàng tồn kho, không có sản phẩm dởdang, vì vậy tổng giá thành sản xuất bằng tổng chi phí sản xuất

Trang 23

Esx : sản lượng điện năng sản xuất

Etd : lượng điện năng tự dựng

Ef : điện năng phát

III Phương pháp phân tích sự biến động về giá thành sản phẩm

1 Phương pháp phân tích sự biến động giá thành đơn vị.

Để nhận xét về kết quả thực hiện và kế hoạch thực hiện từ đó thấy đượcmức tăng hay giảm về giá thành đơn vị chúng ta cần phân tích một số chỉ tiêusau:

Tỷ lệ thực hiện giá thành kế hoạch tHTKH:

Trang 24

Để phân tích sự biến động này ta cần phân tích 2 chỉ tiêu sau:

3 Phương pháp phân tích kế hoạch hạ thấp giá thành.

Ta căn cứ vào các chỉ tiêu đó là mức hạ và tỷ lệ hạ

- Nhiệm vụ hạ giá thành kế hoạch

Trang 25

Trong đó: QKH, Q1 là sản lượng kế hoạch và sản lượng thực tế của Công ty.

Z1, ZKH, ZNT là giá thành đơn vị thực tế, kế hoạch và giá thành đơn vịnăm trước

Với các kết quả của phần phân tích sự biện động giá thành sản phẩm ta

có thể tìm được nguyên nhân làm cho giá thành tăng hăy giảm từ đó đề ra cácbiện pháp tương ứng thích hợp

Trong đồ án này ta sẽ áp dụng phương pháp phân tích thay thế liênhoàn để phân tích giá thành sản xuất điện năng của Công ty cổ phần Nhiệtđiện Phả Lại

Giả sử C là tổng chi phí giá thành sản phẩm, Q là tổng sản lượng

Với Ci là giá thành của yếu tố (khoản mục) i

Trang 27

Làm tương tự với các chi phí còn lại ta sẽ tính ra được ảnh hưởng củacác yếu tố (khoản mục) chi phí lên sự thay đổi giá thành đơn vị sản phẩm.

4 ý nghĩa của việc phân tích giá thành sản phẩm

Phân tích tình hình thực hiện giá thành sản phẩm nhằm mục đích cungcấp tài liệu về giá thành sản phẩm cao hay thấp so với chỉ tiêu kế hoạch là donhững nguyên nhân nào tác động và trên cơ sở đó đề ra các biện pháp thiếtthực không ngừng hạ thấp giá thành sản phẩm

Phân tích tình hình thực hiện giá thành sản phẩm năm nay là cơ sở đểlập kế hoạch giá thành sản phẩm năm tới, giúp doanh nghiệp có chính sáchphù hợp về thị trường tiêu thụ sản phẩm và quy mô sản xuất

5 Biện pháp hạ giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp nói chung.

Giá thành là một chỉ tiêu chất lượng chủ yếu phản ánh trình độ hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Hạ giá thành là cơ sở để tănghiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng lợi nhuận, mở rộng quy mô sản xuất Vìvậy doanh nghiệp không ngừng tìm mọi phương hướng và biện pháp để hạgiá thành sản phẩm Các phương hướng về biện pháp hạ giá thành sản phẩmtrong doanh nghiệp là:

- Nâng cao năng suất lao động thể hiện ở khối lượng sản phẩm làm ranhiều hơn trong một đơn vị thời gian giữa năm thực tế so với kế hoạch vàthực tế năm nay so với năm trước Bằng biện pháp này, doanh nghiệp có thể

hạ thấp chi phí thuộc các chi phí cố định như khấu hao tài sản cố định hoặc

Trang 28

tương đối cố định như chi phí phân xưởng, chi phí quản lý xí nghiệp Do sảnlượng sản phẩm tăng và với điều kiện các yếu tố trên không thay đổi, mức chiphí thuộc các yếu tố đó tính vào giá thành sản phẩm sẽ giảm bớt.

Trong thực tế để nâng cao năng suất lao động doanh nghiệp phải dựngbiện pháp đòn bẩy kinh tế để khuyến khích người lao động bằng cách nângmức lương, nâng mức tiền thưởng lấy ở trong quỹ lương Để chi phí tiềnlượng không ảnh hưởng đến mức hạ giá thành, doanh nghiệp cần phải tínhtoán để tỷ lệ % thực hiện kế hoạch quỹ lương nhỏ hơn tỷ lệ % thực hiện kếhoạch giá trị tổng sản lượng hoặc sản lượng

- Hạ mức tiêu hao các loại nhiên liệu bằng cách cải tiến phương phápchế biến nhằm giảm bớt khối lượng nguyên vật liệu, vật liệu dư thừa, phếliệu Nâng cao khối lượng sản phẩm thu được từ 1 lượt sản xuất dựa trên sửdụng kỹ thuật tiến bộ hoặc nâng cao chất lượng cuả nguyên vật liệu Tất cảcác công việc đó đều có tác dụng giảm mức tiêu hao nguyên vật liệu so vớiđịnh mức tiêu hao nguyên vật liệu cũ

- Hạ thấp định mức tiêu hao nhiên liệu, động lực trên cơ sở các biệnpháp bảo đảm cho máy móc thiết bị luôn luôn ở tình trạng kỹ thuật tốt, vậnhành máy móc thiết bị theo đúng quy trình kỹ thuật cho phép

- Nâng cao hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị bằng cách nâng cao số

ca hoạt động, giảm bớt thời gian ngừng làm việc của máy móc thiết bị phảisửa chữa bất thường Dựa vào biện pháp này có thể nâng cao được sản lượng

và có thể giảm bớt được yếu tố chi phí sử dụng cố định khiến cho khi sảnlượng tăng lên chi phí phân bổ vào giá thành một đơn vị giảm xuống

- Giảm thấp giá thành đơn vị các loại nguyên nhiên vật liệu bằng cách

sử dụng phương tiện vận chuyển hợp lý như chở hàng hai chiều, chở đúngcông suất của phương tiện, rút bớt thời gian chờ đợi để tăng thêm số chuyến

Trang 29

Tăng cường khảo sát thăm dò giá cả nguyên vật liệu cần mua, chọn địa điểmmua thích hợp ở nơi gần nơi sản xuất sản phẩm vì hiện tại đang là cơ chế thịtrường Tích cực khắc phục, giảm bớt hao hụt nguyên vật liệu trong quá trìnhvận chuyển.

- Giảm bớt chi phí quản lý ở cấp phân xưởng cũng như chi phí tiêu thụ,chi phí quản lý xí nghiệp bằng cách tinh giảm bộ máy quản lý, giảm bớt cácchi phí hội họp không cần thiết

- Khắc phục hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại về sản phẩm hỏng vàngừng sản xuất do sự cố chủ quan gây ra Doanh nghiệp cần có kế hoạch dựtrữ nguyên vật liệu một cách hợp lý để không gây ách tắc trong sản xuất vàkhông bị ứ đọng vốn lưu động quá nhiều để có thể hạn chế lãi suất vay ngânhàng không đáng cú

- Không ngừng áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào quản lý, tổchức quá trình công nghệ với mục tiêu rút ngắn chu kỳ sản xuất sản phẩm,giảm giá thành đơn vị sản phẩm

6 Những nhân tố ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm.

Trang 30

xuất, quản lý đã được CBCNV bàn bạc thống nhất chủ trương và biện pháp thực hiện, được CBCNV nhiệt tình ủng hộ và đạt kết quả tốt.

-Sự năng động trong quản lý: CBCNV cần nhận thức rõ quan điểm của Nhà nước và toàn ngành kinh doanh về vấn đề chỉ độc quyền quản lý, không độc quyền kinh doanh Đây cũng chính là một trong những bài học kinh nghiệm rút ra trong quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh

-Sử dụng vốn đầu tư đúng mục đích, có hiệu quả, ưu tiên cho việc hiện đại hoá các trang thiết bị kỹ thuật, công trình phục vụ kinh doanh điện năng, cải thiện điều kiện lao động, đảm bảo an toàn lao động

Nhân tố khách quan:

- Vấn đề chi phí cao của các dự án năng lượng tái tạo, thêm vào đó là thiếu sự thúc đẩy cũng như hỗ trợ của Chính phủ, khiến cho nhiều doanh nghiệp tin rằng năng lượng tái tạo là không khả thi hoặc sẽ có nhiều rủi ro đốivới sự đầu tư của họ

- Phụ phí gia tăng cũng là một trong những yếu tố có ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm

- Thiếu những thông tin cơ bản về thị trường, thiếu những dự bỏo chínhxác: Đây là vấn đề muôn thuở, không phải bây giờ người ta mới nhận ra điều

đó mà từ rất lâu đã xác định được điểm yếu kém nhất này của các doanh nghiệp Việt Nam

s- Chi phí đầu vào: Trong thời gian qua, những biến động thất thường trên thị trường của những loại mặt hàng (Xăng dầu, phân bón, muối, thuốc tân

dược, sắt thép, đường, lúa gạo…) không chỉ khiến doanh nghiệp, Nhà nước

mà cả người tiêu dùng bị thiệt hại nặng nề

Trước tình hình một số mặt hàng thiết yếu tăng giá mạnh, vừa qua Cục quản lý giá (Bộ Tài chính) đã đưa ra đề xuất gồm 7 nhóm giải pháp nhằm điều hành giá cả trong thời gian tới:

Trang 31

1 Đẩy mạnh sản xuất trong nước, điều hành tốt cung cầu, không để xảy ra những mất cân đối cục bộ làm tăng giá

2 Sử dụng linh hoạt, có hiệu quả chính sách tài chính - tiền tệ nhưng không quá lạm dụng biện pháp này, gây ảnh hưởng đến cam kết quốc tế

3 Tăng cường năng lực điều hành quản lý thị trường, chống đầu cơ, độc quyền hoặc liên kết độc quyền về giá

4 Điều hành giá để thúc đẩy sản xuất, bảo vệ người tiêu dùng

5 Quản lý giá thành, chi phí lưu thông, tổ chức, điều tra chi phí sản xuất, lưu thông đối với một số mặt hàng: điện, sắt thép, phân bón, xi măng, giấy, bưu chính viễn thông, cước hàng không, dịch vụ hàng hải

6 Thực hiện tốt công tác thu thập, phân tích, dự báo giá cả thị trường thế giới

và trong nước

7 Tăng cường công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng

để các doanh nghiệp và người tiêu dùng hiểu rõ điều hành giá cả của Nhà nước, quan hệ giá trong nước và nước ngoài trong hội nhập, từ đó ngăn ngừa tác động tâm lý đẩy giá lên cao

Kết luận :

Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại hoạt động có hiệu quả trong

cơ chế thị trường đều phải tìm mọi biện pháp để tăng lợi nhuận cho mình,muốn vậy thì một nhiệm vụ không thể không quan tâm là công tác quản lý giáthành và phấn đấu hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp mình Trên cơ sỏsản phẩm có chất lượng phù hợp với thị hiếu khách hang và có giá thành hạ sẽtạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc thực hiện chính sách giá

cả nhằm cạnh tranh và mởi rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh

Trang 32

nghiệp mình, mang lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp, đời sống cán bộ côngnhân viên ngày càng được cải thiện, quy mô sản xuất của doanh nghiệp ngàycàng được mở rộng, góp phần tiết kiệm chi phí xã hội, tăng tích lũy cho nềnkinh tế.

7 Vai trò của hạ giá thành ở Công ty cổ phần Nhiệt điện Phả Lại

Do đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất điện ở Công ty cổ phầnNhiệt điện Phả Lại là : Sản xuất liên tục, sản xuất bao nhiêu thì dùng hết bấynhiêu, không có sản phẩm dở dang, không có sản phẩm tồn kho Chính vì vậyđặc điểm cơ bản chi phí sản xuất của Công ty cổ phần Nhiệt điện Phả Lại là :Chi phí phát sinh liên tục đồng thời từ đầu quy trình công nghệ đến khi sảnxuất ra sản phẩm điện năng, quá trình này cứ lặp đi lặp lại trong suốt quá trìnhsản xuất ra điện năng của nhà máy

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phíchung, đều đồng thời được bỏ vào liên tục không bị ngắt quãng (trừ khi nhàmáy không sản xuất điện)

Một đặc điểm nữa là sản phẩm sản xuất ra phải qua khâu truyền tải mớiđến nơi tiêu thụ, khâu này lại do 2 thành viên khác của Tổng công ty Điện lựcViệt Nam đảm nhiệm (Công ty truyền tải và Công ty điện lực) do vậy giáthành điện tại Công ty mới là giá thành phân xưởng

Như vậy chi phí cho các yếu tố đầu vào tại Công ty Cổ phần Nhiệt điệnPhả Lại để tham gia vào giá thành chung của Tổng công ty Điện lực ViệtNam là cực lỳ quan trọng, do công suất của nhà máy lớn, sản lượng điện cao,chi phí cho sản xuất lớn nhất là nguyên vật liệu chính (than, dầu FO) nên nóảnh hưởng lớn đến giá thành cuối cùng, giá thành chung của Tổng công tyĐiện lực Việt Nam

Trang 33

Vì vậy việc phấn đấu hạ giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Nhiệtđiện Phả Lại là một điều tất yếu.

PHẦN II

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HẠ GIÁ THÀNH TẠI CÔNG TY

CỔ PHẦN NHIỆT ĐIỆN PHẢ LẠI

I Quá trình hình thành phát triển và vai trò nhiệm vụ của Công ty cổ

phần Nhiệt điện Phả Lại

1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty

Công ty cổ phần Nhiệt điện Phả Lại trước kia là thành viên trực thuộcCông ty điện lực I nay là thành viên trực thuộc Tổng Công ty Điện lực ViệtNam Công ty được xây dựng bên bờ sông Thương, cạnh quốc lộ 18, thuộcđịa phận thị trấn Phả Lại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương với tổng diện tíchmặt bằng xây dựng là 116,4 ha Trong đó mặt bằng xây dựng nhà máy 39,25 ha còn lại là các công trình phụ trợ khác

Công ty Cổ phần Nhiệt điện Phả Lại do Liên Xô (cũ) giúp ta khảo sát,thiết kế, cung cấp vật tư, thiết bị xây dựng và lắp đặt Nhà máy được khởicông xây dựng ngày 17 tháng 5 năm 1980 theo sơ đồ khối với công suất thiết

kế 440MW gồm 4 tổ máy tua bin máy phát có 8 lò hơi thiết kế hai lò cho mộtmáy và mỗi máy là 110MW

Nhiệt điện Phả Lại là nhà máy nhiệt điện lớn nhất trong hệ thống điệnmiền Bắc lúc bấy giờ có các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật tiên tiến Các tổ máy củanhà máy điện Phả Lại lần lượt xây dựng xong và đưa vào vận hành đã đápứng kịp thời tốc độ phụ tảu trong thập kỷ 80

Trang 34

Tổ máy đầu tiên được khánh thành và hòa vào lưới điện ngày 28 tháng

10 năm 1983, sau đó cứ mỗi năm các tổ máy 2, 3, 4 lần lượt được đưa vàohoạt động

Tổ máy 2 khánh thành và hòa vào lưới điện ngày 01/9/1984

Tổ máy 3 khánh thành và hòa vào lưới điện ngày 12/12/1985

Tổ máy 4 khánh thành và hòa vào lưới điện ngày 29/11/1986

Khi nhà máy được cắt băng khánh thành thì cũng là lúc sản lượng điệnsản xuất ra ≈ 4,4 tỷ KWh

Sau hơn 24 năm nhà máy đi vào sản xuất, nhà máy đã trải qua các giai đoạn ;

 Giai đoạn 1983 ÷ 1989 : Phát điện tối đa

Thời gian này do thiếu điện, hơn nữa thiết bị máy móc còn mới nên nhàmáy khai thác ở mức tối đa Năm 1988 nhà máy đạt sản lượng cao nhất là2,548 tỷ KWh điện bằng 89% sản lượng thiết kế

 Giai đoạn 1990 ÷ 1993 : Sản lượng co hẹp

Do các tổ máy của nhà máy thủy điện Hòa Bình lần lượt đi vào hoạtđộng nên sản lượng của nhà máy diảm dần, chỉ còn 0,616 tỷ KWh vào năm

1992 là 0,397 tỷ KWh, vào năm 1993 bằng 21,5% và bằng 13,8% sản lượngthiết kế, không những thế nhà máy còn phải lắp đặt thiết bị phòng mòn cho lòhơi và tua bin và thực hiện quy trình bảo dưỡng dài hạn

 Giai đoạn 1994 ÷ 1998 ; Phục hồi sản xuất

Tháng 7 năm 1994, đường dây 500KV xuyên việt được đưa vào vậnhành, cấp điện cho miền Trung , miền Nam do vậy sản lượng điện của nhàmáy tăng dần lên

 Giai đoạn 1999 đến nay :

Tháng 5 năm 1998 dây chuyền 2 được khởi công xây dựng với 2 tổmáy có tổng công suất 600MW (mỗi tổ máy 300MW) Tổ máy 1 dây chuyền

2 được đưa vào vận hành tháng 10/2001 và tổ máy 2 được đưa vào vận hành

Trang 35

chuyền sản xuất hiện đại, tự động hóa cao, thiết bị chủ yếu được chế tạo từcác nước G7.

Kể từ ngày 01 tháng 4 năm 1995 Nhà máy là đơn vị thành viên củaTổng công ty điện lực Việt Nam ( theo quyết định số 121NL/TCCB-LĐ ngày04/3/1995 của Bộ Năng lượng), hạc toán phụ thuộc

Ngày 30 tháng 3 năm 2005 Bộ Công Nghiệp cú quyết định số 16/2005/QĐ-BCN chuyển Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại thành Công ty Nhiệt điện PhảLại, hạc toán độc lập – thuộc Tổng công ty Điện lực Việt Nam ( nay là Tậpđoàn điện lực Việt Nam) Ngày 18 tháng 5 năm 2005 Tổng công ty điện lựcViệt Nam có văn bản số 2436/CV-EVNTCKT hướng dẫn bàn giao tài chínhchuyển các nhà máy điện thành Công ty hạch toán độc lập, công ty tráchnhiệm hữu hạn một thành viên, theo đó Công ty Nhuệt điện Phả Lại chínhthức chuyển sang hạch toán độc lập từ ngày 01/7/2005

Ngày 31/12/2004 Bộ Công Nghiệp có QĐ số 3537/QĐ-BCN về việc cổphần hóa Nhà máy nhiệt điện Phả Lại năm 2005

Ngày 24/10/2005 Bộ Công Nghiệp có QĐ số 3496/QĐ-BCN về việcphê duyệt phương án cổ phần hóa và chuyển Công ty Nhiệt điện Phả Lạithành Công ty cổ phần Nhiệt điện Phả Lại

Ngày 26/01/2006 Công ty cổ phần Nhiệt điện Phả Lại được Sở KếHoạch và Đầu tư tỉnh Hải Dương cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

Ngành nghề sản xuất kinh doanh chủ yếu của Công ty là sản xuất kinhdoanh điện năng, quản lý, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa, cải tạo các côngtrình nhiệt điện, công trình kiến trúc của nhà máy điện Phát huy những lợi thếsẵn có, Công ty chủ trương mở rộng một số ngành nghề sản xuất kinh doanhkhác nhằm tận dụng những nguồn lực của Công ty cũng như các phụ phẩmmchất thải sinh ra trong quá trình sản xuất điện

Ngành nghề kinh doanh

 Hoạt động sản xuất kinh doanh điện năng

Trang 36

 Thí nghiệm, điều chỉnh các thiết bị điện.

 Lập dự án đầu tư xây dựng, quản lý dự án đầu tư xây dựng

 Tư vấn giám sát thi công xây lắo các công trình điện

 Mua bán xuất nhập khẩu đầu tư thiệt bị

 Sản xuât kinh doanh vật liệu xây dựng

 Sản xuất, chế tạo các thiết bị, vật tư phụ tùng cơ – nhiệt điện

 Đầu tư các công trình nguồn và lưới điện

 Quản lý, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa, các công trình nhiệtđiện, công trình kiến trúc nhà máy điện

 Bồi dưỡng cán bộ công nhân viên về quản lý thiết bị vận hành,bảo dưỡng và sửa chữa thiết bị nhà máy điện

 Ngành nghề bổ sung trong điều lệ sửa đổi được thông qua Đạihội cổ đông thường niên ngày 18/4/2007 gồm:

 Đầu tư tài chính và môi giới chứng khoán

Xô (cũ) giúp ta khảo sát xây dựng cung cấp vật tư thiết bị So sánh về côngsuất đứng sau nhà máy điện Phú Mỹ, thủy điện Hòa Bình Nhưng trong hệthống điện nhà máy điện Phả Lại có một vai trò đặc biệt quan trọng là : Nếu

so sánh về tỷ trọng giữa nhiệt điện với thủy điện, giữa nhiệt điện chạy thanvới tua bin khí, với diesel, công suất thiết kế tính cho một tổ máy thì tươngđương với công suất thiết kế cho một tổ máy của nhà máy thủy điện HòaBình Điều muốn nói ở đây là sự tương đương của một tổ máy có thể hỗ trợ

Trang 37

ngừng hoạt động Điều này đặc biệt quan trong vận hành hệ thống điện, nếunhư công suất không được hỗ trợ kịp thời sẽ gây lên tình trạng mất cân đốigiữa phụ tải (người tiêu dùng sản phẩm) với công suất được phát ra (điênnăng) và dẫn đến nguy cơ rã lưới điện tức là toàn bộ hệ thống điện khôngđược nối với nhau nữa, lúc này các nhà máy điện khác không thể cung cấpđiện năng lên đường dây để truyền tải đi được nữa.

Ngoài ra nhà máy điện Phả Lại còn làm nhiệm vụ điều tần (duy trì tần số50Hz) cho hệ thống điện tùy theo yêu cầu của người vận hành hệ thống điện

b Nhiệm vụ :

Công ty cổ phần Nhiệt điện Phả Lại làm nhiệm vụ sản xuất ra điệnnăng, sản phẩm của công ty là KWh điện Năng lượng điện sản xuất ra đượcphát lên thanh cái qua các biến điện áp nâng điện lên tới 110KV và 220KVđưa ra trạm phân phối để cung cấp lên các đường dây tải điện cao thế đưa đicác nơi tiêu thụ Tức là cung cấp năng lượng điện lên lưới điện quốc gia Nhưvậy nhiệm vụ chính của Công ty cổ phần Nhiệt điện Phả Lại là sản xuất điệnnăng, Ngoài ra công ty còn làm nhiệm vụ điều tần cho hệ thống điện khi cóyêu cầu của hệ thống

II Cơ cấu tổ chức quản lý trong Công ty cổ phần Nhiệt điện Phả Lại

Về tổ chức

Công ty hiện có 12 đơn vị, gồm 06 phòng kỹ thuâtj nghiệp vụ & phục

vụ + 6 phân xưởng Cụ thể :

Các phòng kỹ thuật, nghiệp vụ & phục vụ :

 Văn phòng công ty

Trang 38

Các phân xưởng trực tiếp sản xuất :

 Phân xưởng cung cấp nhiên liệu

 Phân xưởng vận hành 1

 Phân xưởng vận hành 2

 Phân xưởng Vận hành Điện – Kiẻm nhiệt

 Phân xưởng hóa

 Phân xưởng sản xuất phụ

Lao Động :

 Công ty hiện có : 1512 CBCNV Trong đó :

 Đại học và trên đại học : 216 người

 Trung cấp và cao đẳng : 385 người

 Sơ cấp : 661 người

 Lao động PT : 250 người

Ngày đăng: 03/11/2014, 22:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2 : Sự biến động của giá thành điện năng tại Công ty cổ phần Nhiệt điện Phả Lại năm 2005 – 2007 - biện pháp giảm giá thành điện năng tại công ty cổ phần nhiệt điện phả lại
Bảng 2 Sự biến động của giá thành điện năng tại Công ty cổ phần Nhiệt điện Phả Lại năm 2005 – 2007 (Trang 41)
Bảng 4 : Chi tiết giá thành theo yếu tố thực hiện năm 2006 và kế hoạch năm 2007 - biện pháp giảm giá thành điện năng tại công ty cổ phần nhiệt điện phả lại
Bảng 4 Chi tiết giá thành theo yếu tố thực hiện năm 2006 và kế hoạch năm 2007 (Trang 45)
Bảng 6: Số liệu kế hoạch và thực hiện chi phí giá thành của Công ty trong năm 2007 - biện pháp giảm giá thành điện năng tại công ty cổ phần nhiệt điện phả lại
Bảng 6 Số liệu kế hoạch và thực hiện chi phí giá thành của Công ty trong năm 2007 (Trang 46)
Bảng 5 : Giá thành sản xuất đơn vị điện năng theo yếu tố thực hiện năm 2006 và kế hoạch năm 2007 - biện pháp giảm giá thành điện năng tại công ty cổ phần nhiệt điện phả lại
Bảng 5 Giá thành sản xuất đơn vị điện năng theo yếu tố thực hiện năm 2006 và kế hoạch năm 2007 (Trang 46)
Bảng 10 : Số liệu tình hình thực hiện giá thành năm 2006 và năm 2007 - biện pháp giảm giá thành điện năng tại công ty cổ phần nhiệt điện phả lại
Bảng 10 Số liệu tình hình thực hiện giá thành năm 2006 và năm 2007 (Trang 52)
Bảng 11: Giá thành điện theo yếu tố của Công ty cổ phần Nhiệt điện Phả Lại thực hiện năm 2006 và 2007 - biện pháp giảm giá thành điện năng tại công ty cổ phần nhiệt điện phả lại
Bảng 11 Giá thành điện theo yếu tố của Công ty cổ phần Nhiệt điện Phả Lại thực hiện năm 2006 và 2007 (Trang 54)
Bảng 12: Giá thành đơn vị điện năng theo yếu tố của Công ty cổ phần Nhiệt điện Phả Lại năm 2006 và 2007 - biện pháp giảm giá thành điện năng tại công ty cổ phần nhiệt điện phả lại
Bảng 12 Giá thành đơn vị điện năng theo yếu tố của Công ty cổ phần Nhiệt điện Phả Lại năm 2006 và 2007 (Trang 54)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w