1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

một số giải pháp tăng cường quản lý thuế gtgt đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện chương mỹ

65 725 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 120,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Thuế GTGT đầu vào bằng tổng số thuế GTGT ghi trên hóa đơn GTGT mua hàng hóa, dịch vụ bao gồm cả tài sản cố định dùng cho sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT.- Phương p

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn tốt nghiệp là trung thực xuất phát từ tình hình thực

Trang 2

MỤC LỤC

Mở đầu

63

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CNTT: Công nghệ thông tin

GTGT: Giá trị gia tăng

GTVT: Giao thông vận tải

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ khi áp dụng đến nay, thuế GTGT đã góp phần khắc phục những hạn chế của thuế doanh thu, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển và mang lại

số thu lớn và ổn định cho NSNN Công tác quản lý thuế GTGT đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh cũng có nhiều chuyển biến tích cực góp phần mang lại thành công cho việc áp dụng thuế GTGT

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, công tác quản lý thuế GTGT cũng còn không ít hạn chế Đây là khoản thu bị thất thu cao và gian lận thuế diễn ra phổ biến Vì vậy, vấn đề mang tính cấp thiết đặt ra cho ngành Thuế là phải tìm

ra các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý thu thuế GTGT đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Cùng với sự đổi thay của nền kinh tế đất nước, Chương Mỹ là một huyện mới được sát nhập vào thủ đô Hà Nội cũng đang từng bước phát triển Những năm gần đây, số lượng các doanh nghiệp trên địa bàn huyện không ngừng tăng lên tạo ra số thu lớn Tuy nhiên, sự phức tạp trong quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh là điều không thể tránh khỏi Vì vậy, nhiệm vụ quan trọng của chi cục thuế Chương Mỹ là cần có biện pháp tăng cường quản lý thu thuế, trong đó quản lý thu thuế GTGT đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là một mảng nhiệm vụ quan trọng và khó khăn để đảm bảo cho nguồn thu NSNN

Vì những lý do trên đề tài “Một số giải pháp tăng cường quản lý thuế GTGT đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Chương Mỹ” có ý nghĩa cấp thiết đối với thực tiễn.

Trang 6

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý thuế GTGT đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh

- Phạm vi nghiên cứu là công tác quản lý thuế GTGT đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Chi cục thuế Huyện Chương Mỹ giai đoạn 2010-2012

3 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận và những quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sửa, kết hợp với các phương pháp cụ thể như: So sánh, đối chiếu, phỏng vấn chuyên gia, mô hình hóa…

4 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được trình bày thành 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thuế GTGT và quản lý thuế GTGT

đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thuế GTGT đối với các doanh

nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Chương Mỹ

Chương 3: Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý thuế GTGT đối

với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Chương Mỹ

Trang 7

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ GTGT VÀ QUẢN LÝ THUẾ GTGT

ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1.1 Khái niệm, đặc điểm thuế GTGT

1.1.1 Khái niệm thuế GTGT

Hiện nay, khái niệm thuế GTGT có nhiều cách tiếp cận khác nhau, mỗi khái niệm đưa ra đều được nhìn nhận trên một góc độ, một khía cạnh nào đó của thuế GTGT Về cơ bản có thể hiểu: “Thuế GTGT là sắc thuế đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh ở từng khâu trong quá trình luân chuyển từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng” [7, tr43]

1.1.2 Đặc điểm của thuế GTGT

Thuế GTGT là sắc thuế thuộc loại thuế gián thu Đối tượng nộp thuế GTGT là người bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ, còn người chịu thuế là người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ, bởi vì thuế GTGT ẩn trong giá bán ra của hàng hóa, dịch vụ Nói cách khác Nhà nước gián tiếp thu khoản thuế này của người tiêu dùng thông qua người bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ

Thuế GTGT có tính lũy thoái so với thu nhập Thuế GTGT đánh vào hàng hóa, dịch vụ, người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ là người phải trả khoản thuế

đó, không phân biệt thu nhập cao hay thấp đều phải trả số thuế như nhau Như vậy, nếu so sánh giữa số thuế phải trả so với thu nhập thì người nào có thu nhập cao hơn thì tỉ lệ thấp hơn và ngược lại

Thuế GTGT có khả năng đem lại số thu thường xuyên và ổn định cho NSNN Đồng thời số thuế GTGT cao hay thấp phụ thuộc vào mức tiêu dùng của xã hội, mà con người muốn tồn tại thì tất yếu phải tiêu dùng

Thuế GTGT là sắc thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn không trùng lắp Thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh nhưng

Trang 8

chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của mỗi giai đoạn Tổng số thuế thu được của tất cả các giai đoạn đúng bằng số thuế tính trên giá bán của người tiêu dùng cuối cùng.

Thuế GTGT có tính trung lập về kinh tế cao Thuế GTGT không phải là yếu tố chi phí mà đơn thuần là yếu tố cộng thêm ngoài giá bán của người cung cấp hàng hóa, dịch vụ Thuế GTGT không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế, bởi quá trình tổ chức và phân chia các chu trình kinh tế, sản phẩm được luân chuyển qua nhiều hay ít giai đoạn thì tổng số thuế GTGT phải nộp của tất cả các giai đoạn không thay đổi

Thuế GTGT thường được đánh theo nguyên tắc “điểm đến”, quyền đánh thuế thuộc về quốc gia nơi hàng hóa, dịch vụ được tiêu dùng, bất kể nó được sản xuất ở đâu

1.2 Nội dung cơ bản của thuế GTGT hiện hành ở Việt Nam

Thuế GTGT hiện hành của Việt Nam được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật sau: Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 ngày 03/06/2008; Nghị định số 123/2008/NĐ – CP ngày 08/12/2008; Thông tư số 06/2012/TT – BTC ngày 11/01/2012

Nội dung cơ bản của thuế GTGT được quy định trong các văn bản trên bao gồm:

Phạm vi áp dụng

- Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài), trừ các đối tượng không chịu thuế GTGT

- Đối tượng thuộc diện không chịu thuế GTGT: Tại các văn bản pháp luật về thuế GTGT quy định một số nhóm hàng hóa, dịch vụ thuộc diện không chịu thuế GTGT Nhìn chung, các hàng hóa, dịch vụ này thường có một trong các tính chất cơ bản sau:

Trang 9

+ Là các hàng hóa, dịch vụ mang tính chất thiết yếu phục vụ nhu cầu đời sống sản xuất cộng đồng, không đặt vấn đề điều tiết tiêu dùng như dịch vụ y tế, giáo dục

+ Là các hàng hóa, dịch vụ thuộc các hoạt động được ưu đãi vì mục tiêu xã hội, nhân đạo, hoặc không mang tính chất kinh doanh

+ Các hàng hóa, dịch vụ của một số ngành, lĩnh vực cần khuyến khích

+ Hàng hóa nhập khẩu nhưng thực chất không phục vụ cho sản xuất kinh doanh

và tiêu dùng tại Việt Nam

+ Một số loại hàng hóa, dịch vụ khó xác định giá trị tăng thêm như dịch vụ tài chính

+ Hàng hóa, dịch vụ của cá nhân kinh doanh có mức thu nhập bình quân tháng thấp hơn mức lương tối thiểu chung áp dụng đối với tổ chức, doanh nghiệp trong nước theo quy định của Chính phủ

- Người nộp thuế GTGT là các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức,

tổ chức kinh doanh và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa, mua dịch vụ từ nước ngoài chịu thuế GTGT

- Thuế suất thuế GTGT

Thuế suất thuế GTGT được áp dụng thống nhất theo loại hàng hóa, dịch

vụ ở các khâu nhập khẩu, sản xuất gia công hay kinh doanh thương mại Hiện hành các mức thuế suất thuế GTGT gồm có 0%, 5% và 10%

Trang 10

Phương pháp tính thuế GTGT

Thuế GTGT cơ sở kinh doanh phải nộp được tính theo một trong hai phương pháp: phương pháp khấu trừ thuế và phương pháp tính trực tiếp trên GTGT

Thuế giá trị gia tăng Số thuế GTGT Thuế GTGT

phải nộp = đầu ra - đầu vào được khấu trừ Trong đó:

+ Số thuế GTGT đầu ra bằng tổng số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ bán ra ghi trên hóa đơn GTGT

Thuế GTGT ghi trên hóa đơn GTGT bằng giá tính thuế của hàng hóa, dịch

vụ chịu thuế bán ra nhân với thuế suất thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ đó

Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế khi bán hàng hóa, dịch vụ phải tính và thu thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ bán ra Khi lập hóa đơn cơ sở sản xuất kinh doanh phải ghi rõ giá bán chưa có thuế GTGT, thuế GTGT và tổng số tiền người mua phải thanh toán Nếu trường hợp hóa đơn chỉ ghi giá thanh toán thì thuế GTGT phải tính trên giá thanh toán ghi trên hóa đơn, chứng từ

Trang 11

+ Thuế GTGT đầu vào bằng tổng số thuế GTGT ghi trên hóa đơn GTGT mua hàng hóa, dịch vụ (bao gồm cả tài sản cố định) dùng cho sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT.

- Phương pháp trực tiếp

Đối tượng áp dụng: Cá nhân các hộ kinh doanh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh không theo Luật đầu tư và các

tổ chức khác không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn chứng từ theo quy định của pháp luật Hoạt động kinh doanh mua bán vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ

Cách tính thuế GTGT phải nộp:

Thuế GTGT GTGT của hàng hóa, Thuế suất thuế phải nộp = dịch vụ chịu thuế x GTGT tương ứngGTGT của hàng Giá thanh toán của hàng Giá thanh toán của hàng hóa, hóa, dịch vụ = hóa, dịch vụ bán ra - dịch vụ mua vào tương ứngGiá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ bán ra là giá thực tế bán ghi trên hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ bao gồm cả thuế GTGT và các khoản phụ, phí thu thêm mà bên bán được hưởng, không phân biệt đã thu tiền hay chưa thu tiền.Giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ mua vào được xác định bằng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào hoặc nhập khẩu, đã có thuế GTGT dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT bán ra tương ứng

Đối với cơ sở kinh doanh bán hàng hóa, dịch vụ có đầy đủ hóa đơn, chứng

từ của hàng hóa, dịch vụ bán ra theo chế độ quy định hoặc có đủ điều kiện xác định được đúng doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ như hợp đồng và chứng từ thanh toán nhưng không có đủ hóa đơn, chứng từ mua hàng hóa, dịch vụ đầu

Trang 12

vào thì GTGT được xác định bằng doanh thu nhân với tỷ lệ (%) GTGT tính trên doanh thu.

Đối với hoạt động kinh doanh, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật thì nộp thuế theo tỷ lệ (%) GTGT do Bộ Tài chính quy định

Khai thuế, nộp thuế

- Khai thuế GTGT

Kê khai thuế đối với hoạt động sản xuất kinh doanh: Các cơ sở sản xuất kinh doanh có trách nhiệm kê khai và nộp hồ sơ khai thuế GTGT đầy đủ, đúng hạn cho cơ quan thuế

Người nộp thuế phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp cho cơ quan thuế có sai sót, nhầm lẫn gây ảnh hưởng đến số thuế phải nộp thì được khai bổ sung hồ

sơ khai thuế Hồ sơ khai thuế bổ sung được nộp cho cơ quan thuế vào bất cứ ngày làm việc nào, nhưng phải trước khi cơ quan thuế công bố quyết định thanh tra, kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế

Kê khai thuế đối với hàng nhập khẩu: Cơ sở kinh doanh, người nhập khẩu

có nhập khẩu hàng hóa chịu thuế GTGT phải kê khai và nộp tờ khai thuế GTGT theo từng lần nhập khẩu cùng với việc kê khai thuế nhập khẩu với cơ quan hải quan thu thuế nhập khẩu

∗ Nộp thuế GTGT

Người nộp thuế GTGT có trách nhiệm nộp thuế GTGT đầy đủ, đúng hạn vào NSNN Đồng tiền nộp thuế, thuế GTGT nộp vào NSNN bằng Đồng Việt Nam Trường hợp nộp thuế bằng ngoại tệ thì chỉ được nộp thuế bằng các loại ngoại tệ tự do chuyển đổi theo quy định của Ngân hàng Nhà nước

Trang 13

1.3 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh và công tác quản lý thuế GTGT đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh

1.3.1 Khái niệm, đặc điểm của doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Khái niệm doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Doanh nghiệp NQD là một bộ phận của nền kinh tế ngoài quốc doanh Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước thông qua những chính sách, chiến lược phát triển cụ thể đã tạo ra những biến đổi lớn trong nền kinh tế xã hội Đối với các doanh nghiệp NQD trong quá trình đổi mới, Nhà nước đã ban hành các chính sách kinh tế nhằm tạo điều kiện cho thành phần kinh tế về lĩnh vực này phát triển như việc ban hành Luật Hợp tác

xã, Luật Doanh nghiệp, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp…

Để đi sâu tìm hiểu về doanh nghiệp NQD trước hết cần tìm hiểu khái niệm doanh nghiệp: “Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” (Điều 3 – Luật Doanh nghiệp năm 2005)

Qua đó, có thể hiểu doanh nghiệp NQD là hình thức doanh nghiệp mà toàn bộ vốn, tài sản, lợi nhuận đều thuộc sở hữu tư nhân hay tập thể người lao động, chủ doanh nghiệp hay chủ cơ sở sản xuất kinh doanh chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạt động sản xuất kinh doanh và toàn quyền quyết định phương thức phân phối lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế

Doanh nghiệp NQD (No State Enterprise) được xác định gồm các doanh nghiệp vốn trong nước, mà nguồn vốn thuộc sở hữu tập thể, tư nhân của một người hoặc nhóm người hoặc sở hữa Nhà nước nhưng chiếm 50% vốn điều lệ trở xuống Doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế NQD gồm: các hợp tác xã, các doanh nghiệp tư nhân, các công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân, các công

Trang 14

ty hợp danh, các công ty cổ phần tư nhân, các công ty có vốn Nhà nước từ 50% vốn điều lệ trở xuống.

Đặc điểm của doanh nghiệp NQD

Có thể thấy các doanh nghiệp dù là thuộc khu vực ngoài quốc doanh hay Nhà nước đều lấy lợi nhuận là mục tiêu, là thước đo hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh, cùng hoạt động theo cơ chế thị trường có sự định hướng của Nhà nước, cùng tồn tại và cạnh tranh trong môi trường pháp lý Tuy nhiên, xét trên góc độ quản lý, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý thuế, các doanh nghiệp NQD có những đặc điểm riêng ảnh hưởng tới công tác quản lý thu thuế

Thứ nhất, đặc điểm về sở hữu Đây là đặc điểm khác biệt nhất, đối với

doanh nghiệp NQD toàn bộ vốn, tài sản, lợi nhuận đều thuộc sở hữu tư nhân Chủ doanh nghiệp hoặc chủ sở hữu chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạt động sản xuất kinh doanh và toàn quyền quyết định phương thức phân phối lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế mà không chịu sự chi phối nào từ các quy định của cơ quan Nhà nước hoặc cơ quan quản lý, do vậy họ luôn tìm mọi cách để có thể đạt được lợi nhuận cao nhất, kể cả việc trốn lậu thuế

Thứ hai, đặc điểm về trình độ văn hóa, trình độ quản lý, chuyên môn

nghiệp vụ So với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế Nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thì phần lớn những người chủ các doanh nghiệp NQD có trình độ văn hóa chưa cao, chưa được đào tạo chính quy về các nghiệp vụ quản lý, trình độ chuyên môn chủ yếu là tự học hoặc theo kinh nghiệm Vì vậy, nhìn chung hiệu quả SXKD của các doanh nghiệp NQD còn thấp, số đông các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại và dịch

vụ có mục đích chính là mua đi bán lại để kiếm chênh lệch giá, còn một số lượng nhỏ hoạt động ở lĩnh vực sản xuất thì trình độ công nghệ thấp, trình độ

Trang 15

quản lý không cao, do đó năng suất lao động và chất lượng hàng hóa đạt được

là không cao

Thứ ba, đặc điểm về ý thức tuân thủ pháp luật Xuất phát từ trình độ còn

hạn chế nêu trên, cho nên phần lớn các chủ doanh nghiệp có trình độ nhận thức về pháp luật nói chung và pháp luật thuế nói riêng là rất thấp, biểu hiện

rõ nhất là số đông các cơ sở kinh doanh không lập và giữ sổ sách kế toán theo quy định

Thứ tư, đặc điểm về số lượng đối tượng Số lượng các cơ sở kinh doanh

rất lớn, hoạt động sản xuất kinh doanh ở tất cả mọi lĩnh vực của nền kinh tế, nhưng chủ yếu tập trung vào kinh doanh thương mại, dịch vụ, xây dựng, giao thông… đặc biệt là dịch vụ Hiện nay ở Việt Nam, thị trường chứng khoán và thị trường tài chính đang phát triển do đó các doanh nghiệp NQD cũng bắt đầu xâm nhập vào thị trường này với sự xuất hiện của các ngân hàng cổ phần

tư nhân ra đời và hoạt động có hiệu quả

1.3.2 Quản lý thuế GTGT đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh

1.3.2.1 Nội dung quản lý thuế GTGT đối với doanh nghiệp NQD

- Quản lý kê khai thuế

Để đảm bảo số thuế kê khai là đúng, chính xác và phù hợp với hệ thống chính sách thuế cũng như pháp luật có liên quan thì nội dung công tác kê khai thuế bao gồm những vấn đề chủ yếu: quản lý người khai thuế, quản lý hồ sơ khai thuế, quản lý thời hạn kê khai thuế

- Quản lý căn cứ tính thuế

Nội dung công tác quản lý căn cứ tính thuế cần đảm bảo thực hiện tốt việc quản lý kê khai thuế GTGT đầu ra, thuế GTGT đầu vào được khấu trừ

- Đôn đốc thu nộp và quản lý nợ thuế

Trang 16

Để thực hiện tốt công tác đôn đốc thu nộp và quản lý nợ thuế cần có sự phối hợp với kho bạc, ngân hàng, thường xuyên thống kê nắm bắt đầy đủ tình hình thu nộp và nợ thuế của người nộp thuế, phân tích và đánh giá thực trạng của người nộp thuế, thực hiện các biện pháp nhắc nhở, đôn đốc nộp tiền thuế

và các khoản thu khác do cơ quan thuế quản lý

- Quản lý hoàn thuế GTGT

Hoàn thuế GTGT là một trong những nội dung quan trọng của Luật thuế GTGT, công tác hoàn thuế GTGT phải được thực hiện chặt chẽ, đảm bảo vừa hoàn thuế đúng, kịp thời cho các đối tượng được hoàn, vừa kiểm tra kiểm soát phát hiện và ngăn ngừa sự chiếm đoạt tiền thuế của NSNN

1.3.2.2 Quy trình quản lý thuế GTGT đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh

• Quy trình xử lý kê khai nộp thuế và kế toán thuế

Quy trình này hiện hành được ban hành kèm theo Quyết định số 1864/QĐ -TCT ngày 21/12/2011 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế

∗ Quy trình quản lý khai thuế:

- Quản lý tình trạng kê khai thuế của NNT

- Xử lý hồ sơ khai thuế

- Xử lý vi phạm về việc nộp hồ sơ khai thuế

∗ Quy trình kế toán thuế:

- Kế toán thu NSNN

- Kế toán theo dõi thu nộp thuế của NNT

Quản lý kê khai thuế là công tác hết sức quan trọng, nhằm có thể quản lý chặt chẽ việc nộp tờ khai, kê khai thuế của các doanh nghiệp NQD, tránh tình trạng nộp tờ khai hoặc kê khai sai số thuế phải nộp gây thất thu cho NSNN Công tác này cần được đặc biệt chú trọng nhất là trong giai đoạn thực hiện cơ chế NNT tự tính, tự khai, tự nộp như hiện nay

Trang 17

• Quy trình miễn giảm thuế

Quy trình này hiện hành được ban hành kèm theo Quyết định số 14 444/QĐ-TCT ngày 24/10/2011 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế

Quy trình miễn giảm thuế bao gồm các bước:

- Tiếp nhận hồ sơ miễn, giảm thuế

- Giải quyết hồ sơ miễn, giảm thuế

- Thẩm định quyết định miễn, giảm thuế

- Quyết định miễn, giảm thuế và thực hiện miễn, giảm thuế

- Báo cáo, lưu trữ hồ sơ miễn, giảm thuế

Miễn giảm thuế đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý thu thuế GTGT, quy trình này được ban hành nhằm xác định rõ trách nhiệm của cơ quan thuế và người nộp thuế trong quá trình thực hiện và xác định số thuế được miễn giảm theo các quy định pháp luật thuế và Luật quản lý thuế

• Quy trình giải quyết hoàn thuế

Quy trình này hiện hành được ban hành kèm theo Quyết định số TCT ngày 01/07/2011 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế

905/QĐ-Quy trình hoàn thuế bao gồm những bước sau:

- Tiếp nhận hồ sơ hoàn thuế

- Phân loại hồ sơ hoàn thuế

- Giải quyết hồ sơ hoàn thuế

- Thẩm định pháp chế

- Quyết định hoàn thuế

Hoàn thuế là một thuộc tính ưu việt của thuế GTGT Quy trình giải quyết hoàn thuế nhằm hướng dẫn NNT thực hiện đúng các thủ tục hành chính và các quy định của pháp luật thuế, Luật quản lý thuế về hoàn thuế, cơ quan thuế thực hiện kiểm tra hồ sơ theo trình tự và nội dung quy định

• Quy trình kiểm tra thuế

Trang 18

Quy trình này hiện hành được ban hành kèm theo Quyết định số 528/QĐ – TCT ngày 29/05/2008 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế.

Quy trình kiểm tra thuế được tiến hành theo hai bước:

- Kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan quản lý thuế

- Kiểm tra thuế tại trụ sở NNT

Công tác kiểm tra thuế nhằm mục đích tăng cường kiểm tra giám sát hồ sơ khai thuế của NNT nhằm chống thất thu thuế qua việc kê khai thuế, ngăn chặn

và xử lý kịp thời những vi phạm thuế Bên cạnh đó, kiểm tra thuế giúp nâng cao tính tự giác tuân thủ pháp luật thuế của NNT

1.3.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thu thuế GTGT đối với doanh

nghiệp NQD

Luật thuế GTGT ra đời đã đánh giấu một bước ngoặt lớn trong việc cải cách cơ chế quản lý kinh tế tài chính đặc biệt là chính sách thuế của Nhà nước, Luật thuế GTGT đã góp phần to lớn vào sự phát triển kinh tế của đất nước, khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh, khuyến khích xuất khẩu

và đầu tư, tạo nguồn thu lớn và ổn định cho NSNN Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được trong quá trình thực hiện đã phát sinh nhiều vướng mắc làm giảm hiệu ứng tích cực của thuế GTGT Công tác quản lý thuế gặp không ít khó khăn, có thể đề cập đến một số nhân tố sau đây ảnh hưởng tiêu cực tới công tác quản lý thuế GTGT đối với doanh nghiệp NQD

Thứ nhất, hệ thống chính sách pháp luật còn thiếu tính đồng bộ, thống

nhất Ban hành quá nhiều văn bản thi hành luật nhưng lại chưa sát với thực tế, còn sơ hở, chưa lường hết các phát sinh có thể xảy ra khi thực hiện đã gây khó khăn cho cán bộ quản lý cũng như các đối tượng nộp thuế

Thứ hai, trình độ dân trí của nước ta còn chưa cao, do đó việc tiếp thu các

luật thuế mới còn hạn chế, người dân chưa có thói quen lấy hóa đơn khi đi

Trang 19

mua hàng trong khi hóa đơn, chứng từ là một trong những điều kiện tiên quyết thực hiện thành công sắc thuế này.

Thứ ba, ý thức chấp hành pháp luật và tính tự giác trong kê khai nộp thuế

của các cơ sở kinh doanh còn chưa cao Họ luôn quan niệm rằng đóng thuế cho Nhà nước là lấy tiền của mình ra để nộp, là khoản làm tăng chi phí, giảm lợi nhuận, do đó họ tìm mọi cách để trốn, tránh thuế

Thứ tư, trình độ quản lý thu thuế GTGT của các cán bộ còn thấp, thậm

chí có những cán bộ thuế chưa biết đọc quyết toán thuế của doanh nghiệp, chưa biết tính khấu hao… Việc phân bố trình độ của cán bộ thuế chưa đồng

bộ trong cả nước

Tóm lại, thuế GTGT chỉ có thể được quản lý một cách chặt chẽ khi các nhân tố trên được điều chỉnh theo hướng hoàn thiện hơn Trong phần tiếp theo của bài viết sẽ đề cập đến thực trạng quản lý công tác thu thuế GTGT đối với doanh nghiệp NQD trên địa bàn huyện Chương Mỹ Từ đó tìm ra nguyên nhân của những hạn chế, cũng như ưu điểm của mặt mạnh để đưa ra một số biện pháp tăng cường công tác quản lý thu thuế GTGT ngày càng có hiệu quả hơn

Trang 20

Chương 2

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ GTGT ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHƯƠNG MỸ 2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội, đặc điểm các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và cơ cấu tổ chức bộ máy chi cục thuế Chương Mỹ

2.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Chương Mỹ

Theo số liệu thống kê tính đến năm 2012, huyện Chương Mỹ có diện tích

tự nhiên: 232,9 km2 rộng thứ ba toàn thành phố, dân số: 291.324 người, mật

độ dân số: 1.120 người/km2

Về kinh tế xã hội

Trong những năm qua, kinh tế huyện Chương Mỹ có mức tăng trưởng khá, năm sau cao hơn năm trước Kinh tế của huyện trước đây chủ yếu là nông nghiệp, những năm gần đây do ảnh hưởng của thiên tai nên huyện đang dần chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa Cơ cấu kinh tế huyện năm 2012: công nghiệp chiếm 40%, tiểu thủ công nghiệp – dịch

vụ thương mại chiếm 33%, nông lâm ngư nghiệp chiếm 27%

Phát huy lợi thế nằm gần Hà Đông và trung tâm thành phố Hà Nội, Chương Mỹ đang thu hút nhiều doanh nghiệp đến sản xuất kinh doanh Những năm qua, kinh tế huyện luôn phát triển mạnh, mức tăng trưởng ở 2 con

số Bên cạnh việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, Chương Mỹ rất

Trang 21

quan tâm phát triển ngành nghề trên quy mô toàn diện Sản xuất công nghiệp dần đi vào thế ổn định với tốc độ tăng trưởng bình quân 15% / năm, các ngành nghề tiểu thủ công cũng từng bước được phục hồi, huyện có khoảng

114 làng nghề trong đó nghề đan mây, tre, giang xuất khẩu là thế mạnh của huyện

Trong những năm qua đời sống của người dân cũng từng bước được nâng cao, huyện Chương Mỹ là địa phương rất coi trọng nhân tố con người nên đã

có những đầu tư hợp lý cho việc xây dựng, đổi mới hạ tầng và trang thiết bị cho ngành giáo dục – đào tạo

Với những kết quả như trên, huyện Chương Mỹ đang phát triển theo hướng nông nghiệp kết hợp với sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ thương mại và đầu tư cho tương lai bằng việc chăm lo cho công tác giáo dục đào tạo thế hệ trẻ Tất cả đều hướng tới mục tiêu xây dựng một Chương Mỹ giàu đẹp và vững bước trong tiến trình hội nhập

2.1.2 Đặc điểm của các doanh nghiệp NQD trên địa bàn huyện Chương

Mỹ

Trong thời gian qua, các doanh nghiệp NQD trên địa bàn huyện Chương

Mỹ đã phát triển mạnh mẽ về số lượng, đa dạng về loại hình kinh doanh, đa dạng về ngành nghề và đã có những đóng góp quan trọng cho tăng trưởng kinh tế, góp phần xóa đói giảm nghèo, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu cho ngân sách trên địa bàn huyện Có thể thấy đặc điểm và tình hình phát triển của các doanh nghiệp NQD qua những mặt sau:

Về cơ cấu ngành nghề

Với đặc điểm quy mô nhỏ, vốn ít dễ thích nghi trong cơ chế thị trường các doanh nghiệp NQD đã tạo nên sự phong phú, đa dạng về ngành nghề kinh doanh ở Chương Mỹ Song có thể thấy việc điều tra, phân loại đánh giá một

Trang 22

cách chính xác, chi tiết cơ cấu từng nhóm ngành nghề là một công việc phức tạp Bởi vì, trong cơ chế thị trường hầu hết các cơ sở kinh doanh đều thực hiện kinh doanh tổng hợp, đăng ký kinh doanh cùng lúc nhiều ngành nghề, sản xuất chủ yếu chạy theo sự khan hiếm của thị trường do đó mang nhiều yếu tố tự phát và ngành nghề có sự thay đổi.

Theo số liệu thống kê, trên 75% các doanh nghiệp NQD trên địa bàn huyện Chương Mỹ tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực nông sản, CN – tiểu thủ

CN và thương mại – dịch vụ, các ngành như GTVT, xây dựng và một số ngành nghề khác chiếm không quá 25% Số các doanh nghiệp NQD phân bố không đồng đều giữa các ngành, các lĩnh vực

Về số lượng

BẢNG 2.1 SỐ LƯỢNG CÁC DOANH NGHIỆP NQD TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN CHƯƠNG MỸ TỪ NĂM 2010 - 2012

Đơn vị: Doanh nghiệp

phần

Cty TNHH

[Nguồn: Chi cục thuế Chương Mỹ]

Do có sự thuận lợi về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và chính sách có nhiều thay đổi tích cực đã tạo động lực phát triển cho các doanh nghiệp NQD Qua bảng số liệu ta thấy, tổng số doanh nghiệp NQD trên địa bàn huyện Chương Mỹ năm 2012 đã tăng 185 doanh nghiệp so với năm 2010, trong đó chủ yếu là sự gia tăng của các công ty cổ phần và công ty TNHH (năm 2012

đã tăng 66 công ty cổ phần và 98 công ty TNHH so với năm 2010) Quy mô

Trang 23

các doanh nghiệp NQD trên địa bàn huyện Chương Mỹ chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Số lượng các doanh nghiệp NQD trên địa bàn huyện Chương Mỹ đã phát triển nhanh trong những năm vừa qua, tuy nhiên tỷ lệ đóng góp vào ngân sách tăng chưa tương xứng với tiềm năng Số thuế CTN – NQD năm 2012 đạt 204.168 triệu đồng, bằng 92% dự toán pháp lệnh và 90% dự toán phấn đấu Nguyên nhân là do công tác quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp NQD trên địa bàn huyện còn gặp nhiều khó khăn bất cập, chưa đồng bộ, trình độ và kinh nghiệm quản lý của chủ doanh nghiệp còn thấp, ý thức tuân thủ chấp hành pháp luật thuế của một số doanh nghiệp còn chưa cao, và do ảnh hưởng của nền kinh tế suy giảm trong năm vừa qua khiến các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, một số doanh nghiệp đã phải xin tạm dừng hoạt động kinh doanh hoặc giải thể doanh nghiệp

Tuy còn nhiều khó khăn, nhưng với mục tiêu xác định phát triển doanh nghiệp NQD là chiến lược, mang lại nguồn thu chủ yếu, xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội huyện, nên khu vực kinh tế này luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của các cấp, các ngành trong toàn huyện

2.1.3 Tổ chức bộ máy Chi cục thuế Chương Mỹ

Cơ cấu tổ chức bộ máy Chi cục thuế Chương Mỹ

Chi cục thuế Huyện Chương Mỹ được thành lập theo Quyết định số 339TC/QĐ/TCCB ngày 06/09/1998 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc thành lập Cục thuế tỉnh Hòa Bình và tỉnh Hà Tây

Ngày 01/8/2008 sát nhập tỉnh Hà Tây về thành phố Hà Nội, Chi cục thuế huyện Chương Mỹ được đổi tên tại Quyết định số 1657/QĐ-BTC ngày 28/7/2008 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc đổi tên Chi cục thuế huyện

Trang 24

Chương Mỹ trực thuộc Cục thuế tỉnh Hà Tây thành Chi cục thuế huyện Chương Mỹ trực thuộc Cục thuế thành phố Hà Nội.

Chi cục được giao quản lý thu các loại thuế, phí, lệ phí theo phân cấp trên địa bàn huyện Chương Mỹ gồm 30 xã và 2 thị trấn Tổ chức bộ máy của Chi cục thuế Chương Mỹ được Cục thuế TP Hà Nội phê duyệt gồm 01 chi cục trưởng, 03 phó chi cục trưởng và 10 Đội với tổng số cán bộ, công chức là 81 người

Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Chi cục thuế huyện Chương Mỹ

CHI CỤC PHÓ

CHI CỤC TRƯỞNG

Đội Nghiệp vụ - Dự toán - Kê khai - Kế toán thuế & Tin học

Đội thuế liên xã Đội Kiểm tra Nội bộ Quản lý nợ & cưỡng chế thuế

Đội Tuyên truyền- hỗ trợ NNT & Ấn chỉ Đội Hành chính -nhân sự - tài vụ

Đội Kiểm tra thuế

CHI CỤC PHÓCHI CỤC PHÓ

Đội quản lý thu lệ phí Trước bạ - Thu khác

Chức năng, nhiệm vụ của từng đội thuế thuộc Chi cục thuế Chương Mỹ

Trang 25

- Đội tuyên truyền – Hỗ trợ NNT & Ấn chỉ: Giúp Chi cục trưởng Chi cục thuế

thực hiện công tác tuyên truyền phổ biến chính sách pháp luật thuế; hỗ trợ NNT trong phạm vi Chi cục thuế quản lý; quản lý ấn chỉ trong nội bộ Chi cục thuế quản lý

- Đội hành chính – nhân sự - tài vụ: Giúp Chi cục trưởng Chi cục thuế thực

hiện công tác hành chính, văn thư lưu trữ; công tác quản lý nhân sự; quản lý tài chính

- Đội tổng hợp – nghiệp vụ - dự toán - kê khai – kế toán thuế & tin học:

Giúp Chi cục trưởng Chi cục thuế hướng dẫn về nghiệp vụ quản lý thuế chính sách pháp luật thuế cho cán bộ công chức thuế trong Chi cục thuế; xây dựng và tổ chức thực hiện dự toán thu NSNN được giao của Chi cục thuế; thực hiện công tác xử lý hồ sơ khai thuế, kế toán thuế, thống kê thuế theo phân cấp quản lý; quản lý và vận hành hệ thống trang thiết bị tin học; triển khai, cài đặt, hướng dẫn sử dụng các phần mềm ứng dụng tin học phục vụ công tác quản lý thuế

- Đội kiểm tra nội bộ - quản lý nợ và cưỡng chế thuế:

Giúp Chi cục trưởng Chi cục thuế thực hiện công tác kiểm tra việc tuân thủ quy trình trong cơ quan thuế, tính liêm chính của cơ quan thuế, công chức thuế; giải quyết khiếu nại (bao gồm cả khiếu nại các quyết định xử lý về thuế của cơ quan thuế và khiếu nại liên quan trong nội bộ cơ quan thuế, công chức thuế), tố cáo liên quan đến việc chấp hành công vụ và bảo vệ sự liêm chính của cơ quan thuế, công chức thuế thuộc thẩm quyền của Chi cục trưởng Chi cục thuế; thực hiện công tác quản lý nợ thuế, cưỡng chế thu tiền thuế nợ, tiền phạt đối với người nộp thuế thuộc phạm vi quản lý của Chi cục thuế

- Đội kiểm tra thuế: Giúp Chi cục trưởng Chi cục thuế thực hiện công tác kiểm

tra tính tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế

Trang 26

- Đội quản lý thu lệ phí trước bạ - Thu khác: Giúp Chi cục trưởng Chi cục

Thuế quản lý thu lệ phí trước bạ, thuế chuyển quyền sử dụng đất, tiền cấp quyền sử dụng đất, các khoản đấu giá về đất, tài sản, tiền thuê đất, thuế tài sản (sau này), phí, lệ phí và các khoản thu khác phát sinh trên địa bàn thuộc phạm

vi Chi cục thuế quản lý

- Đội thuế liên xã (bao gồm đội thuế liên xã miền Chúc Sơn, miền Quảng Bị,

miền Gốt): Giúp Chi cục trưởng Chi cục thuế quản lý thu thuế các tổ chức (nếu có), cá nhân nộp thuế trên địa bàn xã, phường được phân công, bao gồm các hộ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp và dịch vụ, kể cả hộ nộp thuế thu nhập cá nhân, thuế nhà đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế tài nguyên…

Trên cơ sở nhiệm vụ quản lý thuế của từng phòng, đội trên địa bàn được giao, căn cứ vào năng lực của từng cán bộ thuế, bộ máy lãnh đạo, cơ cấu tổ chức bộ máy của Chi cục thuế đã và đang ngày càng được hoàn thiện Giữa lãnh đạo và các cán bộ công nhân viên chức, giữa Chi cục và các ban ngành

cơ quan huyện đã phối hợp chặt chẽ, giải quyết kịp thời nhiệm vụ được giao, phấn đấu hoàn thành kế hoạch thuế, từng bước hoàn thiện công tác quản lý thuế, nâng cao ý thức chấp hành luật thuế trên địa bàn

2.2 Thực trạng công tác quản lý thuế GTGT đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Chương Mỹ

Chi cục thuế Chương Mỹ được giao nhiệm vụ quản lý thu thuế tất cả các nguồn thu thuế, phí, lệ phí phát sinh trên địa bàn Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Chi cục thuế đã áp dụng theo đúng các quy định trong Luật quản lý thuế, Luật thuế GTGT, các quy định về quy trình quản lý thuế hiện hành

Quản lý thu thuế nói chung và quản lý thuế GTGT đối với các doanh nghiệp NQD nói riêng là một lĩnh vực khó và nhạy cảm, trong quá trình thực hiện Chi cục gặp không ít khó khăn vướng mắc cả về khách quan và chủ quan

Trang 27

nhưng với sự nỗ lực của cán bộ, công chức thuế trong Chi cục nên những năm qua số thu từ các doanh nghiệp NQD đều cho kết quả khả quan Kết quả thu ngân sách năm 2012, số thuế GTGT đã nộp khối doanh nghiệp NQD 162.560 triệu đồng bằng 123% so với cùng kỳ Từ kết quả đạt được cho thấy công tác quản lý thuế của Chi cục ngày càng hoàn thiện, hiệu quả và mang tính chủ động cao hơn Để thấy rõ hơn thực trạng công tác quản lý thuế GTGT đối với doanh nghiệp NQD trên địa bàn huyện Chương Mỹ ta đi tìm hiểu những nội dung quản lý cụ thể.

2.2.1 Công tác quản lý đối tượng nộp thuế

Quản lý đối tượng nộp thuế là công việc quan trọng, thực hiện tốt công tác quản lý đối tượng nộp thuế góp phần chống thất thu thuế, đồng thời đảm bảo

sự đóng góp công bằng giữa các doanh nghiệp

Trong những năm vừa qua, số lượng các doanh nghiệp NQD trên địa bàn huyện Chương Mỹ không ngừng tăng lên, lĩnh vực hoạt động kinh doanh đa dạng đó là một thách thức đối với công tác quản lý đối tượng nộp thuế Để đáp ứng yêu cầu ngày càng phức tạp trong công tác quản lý, đảm bảo khai thác triệt để đối tượng nộp thuế, không bỏ sót nguồn thu, Chi cục Thuế Chương Mỹ đã xây dựng những kế hoạch, biện pháp quản lý phù hợp và triển khai thực hiện đem lại hiệu quả khá tốt

Ứng dụng CNTT trong công tác quản lý thông tin và hồ sơ NNT Việc ứng

dụng tin học vào công tác quản lý thuế đã đem lại nhiều tác động tích cực.Thực hiện áp dụng Nghị định số 43/2010/NĐ-CP được ban hành ngày 15/4/2010 quy định hợp nhất mã số đăng ký kinh doanh và mã số thuế Mỗi doanh nghiệp được cấp một mã số duy nhất gọi là mã số doanh nghiệp, mã số này đồng thời là mã số đăng ký kinh doanh và mã số thuế của doanh nghiệp

Mã số doanh nghiệp tồn tại trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp,

Trang 28

khi doanh nghiệp không còn tồn tại thì mã số doanh nghiệp chấm dứt hiệu lực

và không được sử dụng lại Theo đó, doanh nghiệp sẽ không cần đến cơ quan thuế thực hiện đăng ký thuế như trước đây, mà thông tin tài liệu trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp sẽ được phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh thực hiện việc số hóa và lưu trữ đầy đủ vào cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.Việc thực hiện áp dụng quy định này giúp khối lượng công việc của Chi cục thuế được giảm bớt rất nhiều, đồng thời cũng đảm bảo thông tin đăng

ký của doanh nghiệp được quản lý thống nhất, đồng bộ và chính xác hơn

Hồ sơ NNT được Chi cục thuế thực hiện quản lý bằng phần mềm tin học, việc thực hiện in và lưu trữ thông tin về NNT đã được phòng KK-KTT &TH phối hợp làm việc Toàn bộ việc tiếp nhận hồ sơ về NNT đều được cập nhật vào phần mềm hệ thống quản lý hồ sơ (QHS), phần mềm ứng dụng quản lý thuế (QLT), hệ thống phân tích tình trạng thuế (QTT), hệ thống tra cứu mã số thuế (TINC), quản lý trước bạ (QLTB)… Đây là những phần mềm cho phép nhận hồ sơ của các đơn vị, cho ra kết quả và xử lý hồ sơ của NNT

Hiện nay, Chi cục thuế Chương Mỹ tiến hành lập và quản lý hồ sơ NNT tương đối tốt Nhờ vào việc ứng dụng các phần mềm trên, hồ sơ được lưu trữ

và bảo quản tại phòng KK - KTT & TH Nhờ đó, công tác quản lý cũng như cung cấp thông tin cho lãnh đạo được đảm bảo nhanh chóng, hiệu quả và kịp thời

Thực tế, việc triển khai chương trình tin học đã được đẩy mạnh, mức độ ứng dụng đã được nâng cao tuy nhiên hệ thống thông tin lại hay xảy ra sự cố, các phần mềm đôi khi còn có sai sót, tốc độ xử lý thông tin còn chậm…Song ngành thuế đã có những sửa đổi, nâng cấp phần mềm, nên cũng khắc phục được khó khăn để các cán bộ thuế hoàn thành tốt công việc của mình

Trang 29

Công tác kiểm tra trong việc quản lý tình hình hoạt động của đối tượng nộp thuế.

Việc quản lý tình hình hoạt động của các doanh nghiệp NQD chủ yếu là nhiệm vụ của đội kiểm tra Nhiệm vụ cụ thể của công tác quản lý là theo dõi tình hình biến động về số đối tượng nộp thuế trên địa bàn huyện Hiện nay, công tác quản lý tại Chi cục thuế Chương Mỹ được thực hiện kết hợp giữa quản lý thuế theo chức năng và quản lý theo người nộp thuế, mỗi cán bộ ở đội kiểm tra được giao phụ trách một số doanh nghiệp nhất định Nhờ vậy sự theo dõi đối với các doanh nghiệp trở nên sâu sát, chặt chẽ, có hiệu quả hơn, dễ kiểm soát tình hình hoạt động kinh doanh và kịp thời phát hiện biến động bất thường của doanh nghiệp để có biện pháp xử lý

Đội kiểm tra thực hiện theo dõi thường xuyên, chặt chẽ đối với các doanh nghiệp, mở sổ theo dõi tình hình biến động của các doanh nghiệp mang tính liên tục Hàng tháng, cán bộ quản lý từng doanh nghiệp kiểm tra tài liệu kê khai của các đơn vị để phân loại doanh nghiệp và xếp vào từng nhóm đối tượng quản lý, khi phát hiện ra những dấu hiệu sai phạm, những trường hợp doanh nghiệp không nộp tờ khai theo đúng quy định, cán bộ quản lý lập danh sách, tiến hành xác minh thực tế với những trường hợp cần thiết và có những biện pháp xử lý phù hợp Thông qua công tác kiểm tra cán bộ thuế đã phát hiện ra một số vi phạm của các doanh nghiệp NQD trên địa bàn huyện như còn tồn tại một số doanh nghiệp ảo, thành lập nhưng thực chất không hoạt động sản xuất kinh doanh mà chỉ nhằm mục đích mua bán hóa đơn khống, nhiều trường hợp doanh nghiệp đã xin tạm nghỉ nhưng thực tế vẫn hoạt động sản xuất kinh doanh làm thất thu thuế cho NSNN, hoặc còn có những doanh nghiệp tạm nghỉ kinh doanh nhưng không thông báo…

Tại Chi cục thuế Chương Mỹ, tính đến hết năm 2012 có 1.374 doanh nghiệp NQD đang hoạt động, 186 doanh nghiệp tạm nghỉ kinh doanh, 118

Trang 30

doanh nghiệp bỏ trốn mất tích, giải thể phá sản Số liệu cụ thể được thể hiện qua bảng sau:

BẢNG 2.2 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHƯƠNG MỸ GIAI ĐOẠN 2010-

2012

Đơn vị: Doanh nghiệp

Năm

DN đang hoạt động

DN đang hoạt động thực hiện nộp hồ sơ khai thuế đúng quy định

DN tạm nghỉ kinh doanh

DN bỏ trốn mất tích

DN giải thể, phá sản

[Nguồn: Chi cục thuế Chương Mỹ]

Qua bảng số liệu trên ta thấy, số lượng doanh nghiệp NQD đang hoạt động trên địa bàn huyện Chương Mỹ tăng chậm, từ năm 2010 đến năm 2012 tăng 39 doanh nghiệp, trong khi đó số lượng doanh nghiệp tạm nghỉ kinh và ngừng hoạt động có xu hướng tăng nhanh hơn, năm 2012 so với năm 2010 số doanh nghiệp tạm nghỉ kinh doanh tăng 66 doanh nghiệp, số doanh nghiệp bỏ trốn mất tích tăng 36 doanh nghiệp và số doanh nghiệp giải thể phá sản tăng 3 doanh nghiệp, nguyên nhân dẫn đến việc các doanh nghiệp tạm nghỉ hoặc ngừng kinh doanh là do tình hình kinh tế thế giới cũng như trong nước suy giảm trong năm qua khiến cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, ngành nghề sản xuất mây tre xuất khẩu vốn là thế mạnh của huyện trong năm 2012 cũng suy giảm do yếu tố thị trường, nguồn hàng đầu ra gặp rất nhiều khó khăn trong việc cạnh tranh các mặt hàng thủ

Trang 31

công mỹ nghệ khác, doanh thu đối với doanh nghiệp sản xuất sữa cũng giảm nhiều so với cùng kỳ năm trước, hàng nông sản thì giá cả không ổn định doanh nghiệp thua lỗ nhiều.

Công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế

Dịch vụ hỗ trợ NNT và tuyên truyền pháp luật thuế nhằm nâng cao nhận thức pháp luật về thuế, làm tăng tính tuân thủ tự nguyện của NNT trong việc thực hiện pháp luật thuế

Công tác tuyên truyền NNT: Chi cục thuế Chương Mỹ không ngừng kiện toàn bộ máy chuyên trách cũng như cơ sở vật chất để giúp NNT tìm hiểu luật, tiếp nhận các chính sách thuế mới một cách dễ dàng Chi cục đã chú trọng đổi mới, đa dạng hóa các hình thức, phương tiện tuyên truyền, tính trong năm

2012 công tác tuyên truyền được đánh giá là khá thành công khi đã tổ chức được 17 lớp tập huấn, 05 cuộc hội nghị đối thoại doanh nghiệp, tổ chức phát hành 2.305 đĩa CD, băng rôn, khẩu hiệu, tuyên truyền qua đài phát thanh xã, huyện 55 buổi Đánh giá sơ bộ hiệu quả công tác tuyên truyền 100% người nộp thuế đã được tiếp cận với chính sách thuế, ý thức tự giác chấp hành pháp luật thuế của các doanh nghiệp ngày càng được nâng cao

Công tác hỗ trợ NNT: Trong những năm gần đây công tác hỗ trợ đối với NNT nói chung và các doanh nghiệp NQD nói riêng đã đạt nhiều tiến bộ đáng

kể Với mục tiêu duy trì thực hiện cơ chế “một cửa” đối với các hoạt động hướng dẫn, tiếp nhận, xử lý hồ sơ thuế tạo thuận lợi, giảm chi phí, tiết kiệm thời gian đi lại của NNT, kết quả hỗ trợ người nộp thuế năm 2012, giải đáp trực tiếp tại cơ quan thuế 58 lượt, hướng dẫn qua điện thoại 188 lượt, trả lời chính sách thuế bằng văn bản 29 lượt

Nhìn chung trong những năm qua, Chi cục thuế Chương Mỹ đã thực hiện khá tốt công tác quản lý đối tượng nộp thuế, các cán bộ đã bám sát, theo dõi

Trang 32

được tình hình hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn, kịp thời đưa vào danh sách quản lý đối với các doanh nghiệp mới thành lập, các doanh nghiệp mới phát sinh đều được hướng dẫn đôn đốc kê khai, nộp thuế kịp thời Tuy nhiên, công tác quản lý người nộp thuế vẫn còn tồn tại những hạn chế:

Số lượng các doanh nghiệp NQD ngày càng tăng, trong khi số lượng cán

bộ thuế còn hạn chế khiến khối lượng công việc ngày càng gia tăng Hơn nữa,

cơ sở vật chất, ứng dụng tin học vào công tác quản lý người nộp thuế tuy đã được áp dụng từ lâu nhưng vẫn chưa được hoàn thiện

Đa số các doanh nghiệp có trình độ nhận thức về quyền lợi và nghĩa vụ thuế chưa cao Mặc dù, Chi cục thuế cũng thường xuyên tổ chức hội nghị đối thoại với doanh nghiệp, tập huấn chính sách thuế mới nhưng số doanh nghiệp được mời vẫn chưa tham gia một cách đầy đủ

Nguyên nhân của những hạn chế nêu trên là do sự thông thoáng trong việc thành lập doanh nghiệp, hiện nay nhiều doanh nghiệp được thành lập từ những cá nhân sản xuất kinh doanh do nhu cầu của nền kinh tế đòi hỏi các doanh nghiệp phải có tư cách pháp nhân và cung cấp hóa đơn dịch vụ khi bán hàng, chính những điều này đã dẫn tới số lượng các doanh nghiệp NQD ngày càng tăng lên nhưng tỷ lệ hoạt động có hiệu quả rất thấp nhiều doanh nghiệp còn hạn chế về tính tuân thủ pháp luật gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý

Bên cạnh đó, công tác quản lý NNT bằng hệ thống thông tin tại Chi cục chưa thực sự được chú trọng Vấn đề này đòi hỏi sự quan tâm và biện pháp khắc phục kịp thời của các cấp lãnh đạo để công tác quản lý người nộp thuế nói chung và các doanh nghiệp NQD nói riêng được thực hiện chặt chẽ, có hiệu quả hơn

Ngày đăng: 03/11/2014, 18:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG 2.1. SỐ LƯỢNG CÁC DOANH NGHIỆP NQD TRÊN ĐỊA BÀN - một số giải pháp tăng cường quản lý thuế gtgt đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện chương mỹ
BẢNG 2.1. SỐ LƯỢNG CÁC DOANH NGHIỆP NQD TRÊN ĐỊA BÀN (Trang 22)
BẢNG 2.2. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI  QUỐC DOANH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHƯƠNG MỸ GIAI ĐOẠN - một số giải pháp tăng cường quản lý thuế gtgt đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện chương mỹ
BẢNG 2.2. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHƯƠNG MỸ GIAI ĐOẠN (Trang 30)
BẢNG 2.3. KẾT QUẢ CÔNG TÁC THANH TRA KIỂM TRA TẠI BÀN - một số giải pháp tăng cường quản lý thuế gtgt đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện chương mỹ
BẢNG 2.3. KẾT QUẢ CÔNG TÁC THANH TRA KIỂM TRA TẠI BÀN (Trang 35)
BẢNG 2.4. KẾT QUẢ CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA TẠI TRỤ SỞ - một số giải pháp tăng cường quản lý thuế gtgt đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện chương mỹ
BẢNG 2.4. KẾT QUẢ CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA TẠI TRỤ SỞ (Trang 35)
BẢNG 2.5. TÌNH HÌNH THU THUẾ GTGT ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP - một số giải pháp tăng cường quản lý thuế gtgt đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện chương mỹ
BẢNG 2.5. TÌNH HÌNH THU THUẾ GTGT ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP (Trang 40)
BẢNG 2.6. TÌNH HÌNH NỢ ĐỌNG THUẾ GTGT CỦA CÁC DOANH  NGHIỆP NQD TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHƯƠNG MỸ QUA CÁC NĂM 2010 - - một số giải pháp tăng cường quản lý thuế gtgt đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện chương mỹ
BẢNG 2.6. TÌNH HÌNH NỢ ĐỌNG THUẾ GTGT CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NQD TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHƯƠNG MỸ QUA CÁC NĂM 2010 - (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w